Gắn liền với nội dung thứ nhất là quá trình dạy hay cung cấp cho người học những cơ chế được xây dựng bằng vật liệu ngôn ngữ như các đơn vị thuộc các cấp độ khác nhau trong cơ cấu một t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
KIM JA HYUN
BƯỚC ĐẦU NHẬN XÉT NỘI DUNG NGỮ ÂM
TRONG CÁC SÁCH DẠY TIẾNG VIỆT CỦA HÀN QUỐC
HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Hà Nội – 2010
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
BƯỚC ĐẦU NHẬN XÉT NỘI DUNG NGỮ ÂM TRONG CÁC SÁCH DẠY TIẾNG VIỆT CỦA
HÀN QUỐC HIỆN NAY
Luận văn thạc sĩ Ngành Ngôn ngữ học
Mã số : 60 22 01
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Phúc
Hà Nội – 2010
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lý do nghiên cứu 3
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
3 Mục đích nghiên cứu 6
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
5 Phương pháp và tư liệu nghiên cứu 7
6 Cấu trúc của luận văn 8
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Âm tiết và các thành phần âm tiết tiếng Việt 13
2.1.1 Âm tiết và cấu trúc âm tiết 13
2.1.2 Cấu trúc âm tiết tiếng Việt 13
2.1.3 Các thành phần âm tiết tiếng Việt 18
2.2 Các hiện tượng ngôn điệu tiếng Việt 25
2.2.1 Trọng âm 25
2.2.2 Nhịp và nhịp điệu lời nói tiếng Việt 26
2.2.3 Ngữ điệu 30
CHƯƠNG II ĐẶC ĐIỂM TRONGCUNG CẤP CÁC NỘI DUNG NGỮ ÂM 1 Cơ sở dữ liệu 33
2 Đặc điểm trong cung cấp các nội dung ngữ âm tiếng Việt 36
CHƯƠNG III ĐẶC ĐIỂM TRONGPHÁT TRIỂN KỸ NĂNG NGỮ ÂM 3.1 Nhóm một (I) 64
3.2 Nhóm hai (II) 66
3.3 Nhóm ba (III) 68
3.4 Nhóm bốn (IV) 68
KẾT LUẬN 88
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do nghiên cứu
Đất nước Việt Nam đang trong thời kì hội nhập và phát triển Đặc biệt sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), vị thế của Việt Nam ngày càng được củng cố và nâng cao trên trường quốc tế Tiếng Việt đã và đang trở thành phương tiện đắc dụng để mọi người trên thế giới tìm hiểu, tiếp cận với văn minh, văn hoá Việt Nam Đồng thời, nó cũng là một phương tiện hết sức thuận lợi để người Việt Nam có điều kiện giao lưu, hội nhập với các nước, các khu vực khác nhau trên thế giới về các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, du lịch v.v
Từ những lí do đó, việc dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ trong thời gian gần đây đã không ngừng được đẩy mạnh Để đáp ứng nhu cầu xã hội và yêu cầu của việc học tiếng Việt cho nhiều đối tượng khác nhau, nhiều khoa, nhiều trung tâm giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài liên tục được hình thành và sự phát triển khá mạnh Nhiều hội nghị, hội thảo khoa học về dạy và học “Tiếng Việt như một ngoại ngữ”, “Tiếng Việt cho người nước ngoài”,
"Việt Nam học và Tiếng Việt cho người nước ngoài", "Nghiên cứu về nội dung và phương pháp dạy tiếng Việt"…v.v đã được tổ chức ở trong nước cũng như ở nhiều nước trên thế giới Nhiều báo cáo trình bày tại các hội thảo, hội nghị về vấn đề “Dạy và học tiếng Việt cho người nước ngoài” đã đề cập đến nhiều nội dung chuyên sâu của ngôn ngữ học dạy tiếng và cũng đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ Vấn đề “Tiếng Việt như một ngoại ngữ" càng ngày càng thu hút được một số lượng đông đảo các nhà nghiên cứu, các nhà
sư phạm quan tâm và hơn hết là trong thời gian gần đây, nó đã được coi như một ngành khoa học riêng biệt
Ở Hàn Quốc, việc dạy và học tiếng Việt đã có một quá trình lịch sử tương đối dài, hơn 40 năm (từ 1967) Đặc biệt là trong những thập niên gần
Trang 5đây do nhu cầu về chính trị cũng như nhu cầu về kinh tế, xã hội, sự giao lưu văn hoá của hai quốc gia, việc dạy và học tiếng Việt ở Hàn Quốc, đã có những bước phát triển vượt bậc, nhu cầu học tiếng Việt được đẩy mạnh đáng kể Hiện nay, tiếng Việt đã được đào tạo một cách chính thức tại bốn trường Đại học và Cao đẳng của Hàn Quốc, trong đó Khoa Tiếng Việt của Đại học Ngoại ngữ Hàn Quốc được coi là cơ sở đào tạo có bề dày kinh nghiệm nhất
Bên cạnh những thành tựu to lớn trong giảng dạy và học tập tiếng Việt tại Hàn Quốc, một nội dung khác cần phải được kể đến, đó là những thành tựu đáng kể trong việc biên soạn các loại giáo trình, sách công cụ phục vụ cho tiến trình dạy và học Nhìn chung, các giáo trình, sách công cụ về cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu của đông đảo sinh viên, những người muốn học hỏi, và tìm hiểu về tiếng Việt và Việt Nam Tuy nhiên, trước những đòi hỏi của thực tế cũng như sự phát triển của khoa học dạy tiếng trong những năm gần đây, việc nhìn lại các giáo trình, tài liệu, sách công cụ dạy tiếng cả về mặt nội dung lẫn phương pháp là hết sức cần thiết và cũng là một đòi hỏi của thực tế khách quan
Trong luận văn này, chúng tôi có ý định khảo sát việc cung cấp và phương pháp luyện tập nội dung ngữ âm (bình diện phát âm) trong một số giáo trình dạy và học tiếng Việt tiêu biểu hiện đã và đang được sử dụng tại Hàn Quốc Từ đó, chúng tôi cố gắng tìm hiểu và hi vọng đưa ra được một vài đặc điểm quan trọng nhằm góp thêm một ý tưởng cùng các nhà chuyên môn, nhà sư phạm dạy tiếng trong quá trình hiệu chỉnh, bổ sung và biên soạn các giáo trình dạy tiếng Việt tại Hàn Quốc (phần phát âm) ngày càng hoàn thiện hơn
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Trong luận văn này, chúng tôi tập trung nghiên cứu bình diện ngữ âm (phần dạy và luyện phát âm) trong các giáo trình dạy tiếng Việt được xuất bản
Trang 6và sử dụng tại Hàn Quốc từ năm 1970 đến nay Quá trình khảo sát được tiến hành và thực hiện trên cả hai lĩnh vực: lĩnh vực cung cấp cứ liệu ngữ âm (mặt chất liệu) và lĩnh vực kĩ năng, bao gồm cả những thủ pháp luyện phát âm tiếng Việt đã được các tác giả giới thiệu trong mỗi giáo trình, sách công cụ
- Trong tình hình thực tế của việc dạy tiếng Việt ở Hàn Quốc hiện nay, giáo trình là một vấn đề quan trọng vì nó đóng vai trò là cầu nối, có tính chất công cụ đối với người dạy và người học Thông qua giáo trình, sách công cụ, chúng ta có thể tìm hiểu về phương pháp, kĩ năng mà các nhà soạn thảo gửi gắm trong đó Hiện nay, có rất nhiều giáo trình dạy tiếng Việt cho người Hàn Quốc, phong phú về chủng loại và đa dạng về hình thức Đã có nhiều tác giả tham gia vào công việc này với những định hướng khác nhau Chính vì vậy có một tình trạng phổ biến là giữa các giáo trình, sách công cụ, danh sách phần ngữ âm học có số lượng khác nhau và tên gọi của các phần ngữ âm được đưa
ra là không đồng nhất Trong đó nổi lên một vấn đề: đó là tính thống nhất và tính chuẩn mực cho các giáo trình dạy tiếng Điều này gây rất nhiều khó khăn cho người dạy và người học đối với phần ngữ âm Vì vậy, luận văn này thực hiện khảo sát phần ngữ âm được cung cấp trong các giáo trình dạy tiếng Việt tại Hàn Quốc ở các phần như sau:
- Danh sách các giáo trình có phần dạy ngữ âm tiếng Việt và phân loại nhóm giáo trình dựa vào mức độ cung cấp phần ngữ âm tiếng Việt từ đơn giản đến đầy đủ, chi tiết
- Thống kê các phần ngữ âm được đưa ra ở mỗi giáo trình, dung lượng dành cho phần ngữ âm trong mỗi giáo trình, rút ra đặc điểm
Từ đó, luận văn rút ra những đặc điểm để nhận xét, đánh giá về phần ngữ âm trong các giáo trình đó và đưa ra những ý kiến của cá nhân, đóng góp vào việc củng cố và hoàn thiện việc xây dựng phần dạy ngữ âm tiếng Việt một cách đầy đủ, chi tiết và dễ hiểu để đưa vào các giáo trình dạy tiếng Việt ở Hàn
Trang 7Quốc nhằm tạo hiệu quả cao trong việc dạy và học tiếng Việt cho người Hàn Quốc nói riêng
3 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi nhằm mục đích góp phần hiệu chỉnh
và cải tiến chất lượng của việc biên soạn giáo trình dạy tiếng Việt ở Hàn Quốc, đặc biệt ở phần ngữ âm, một trong ba phần cơ bản của việc cung cấp ngữ liệu đối với mục đích dạy tiếng Đồng thời, thông qua việc so sánh các phần ngữ âm được đưa ra trong các giáo trình, luận văn chỉ ra những đặc điểm cũng như thực trạng dạy ngữ âm trong các giáo trình dạy tiếng Việt ở Hàn Quốc
- Mục đích lớn nhất của luận văn là đưa ra những kiến giải cần thiết cho việc biên soạn giáo trình và cung cấp vốn kiến thức ngữ âm cần thiết đối với việc học tiếng Việt của người nước ngoài mà cụ thể ở đây là việc dạy và học tiếng Việt của người Hàn Quốc Tuy nhiên, với hạn chế của chuyên môn cũng như sự hạn hẹp của luận văn, chúng tôi chỉ hy vọng đưa ra những ý kiến nhỏ nhằm đóng góp sự hoàn thiện của ngữ âm tiếng Việt trong các giáo trình dạy tiếng Việt ở Hàn Quốc
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận văn thực hiện xác định khái niệm về ngữ âm tiếng Việt và hệ thống ngữ âm tiếng Việt hoàn chỉnh nhất hiện nay đã được đưa ra trong Âm vị học tiếng Việt mở rộng của TS Hoàng Cao Cương
- Thống kê phần ngữ âm được cung cấp và số lượng trang sách dành cho phần ngữ âm trong mỗi giáo trình, đưa ra bảng biểu về tình hình dạy ngữ
âm trong các giáo trình dạy tiếng Việt ở Hàn Quốc
- Dựa trên những kết quả thống kê được, luận văn nêu lên những đặc điểm của việc dạy ngữ âm trong các giáo trình đó
Trang 85 Phương pháp và tư liệu nghiên cứu
- Trong luận văn, chúng tôi chủ yếu áp dụng phương pháp thống kê (số lượng các đơn vị ngữ âm, danh mục các giáo trình, sách công cụ ), phương pháp miêu tả, phương pháp phân tích, và phương pháp so sánh - đối chiếu để tìm hiểu những đặc trưng cơ bản của nội dung ngữ âm trong các giáo trình đó Mặt khác, chúng tôi cũng phân tích, so sánh giữa các giáo trình để tìm ra những nét tương đồng hay khác biệt
- Danh sách các giáo trình, sách công cụ được xác lập phục vụ cho quá trình khảo sát và nghiên cứu trong khuôn khổ luận văn gồm:
1 Tiếng Việt cơ sở, Kim Ki Tae, 1970, Nxb Trường Đại học ngoại ngữ
8 Tiếng Việt hội thoại thiên niên kỳ, Moon Jong Ryung, Sung Ji Eun,
Oh Mi Kyung/Hoang Tuy Phung, 2001, Nxb Donginrang, Hàn Quốc
9 Hội thoại tiếng Việt dễ dàng, Kim Jong-wook, Park Yeon-kwan,
Nguyễn Bá Thành, 2002, Nxb trường đại học ChungWoon, Hàn Quốc
Trang 910 Ngữ pháp Tiếng Việt, Kim Ki Tea - Đoàn Thiện Thuật, 2002, Nxb
13 Tiếng Việt du lịch, Kim Ki Tae, 2007, Nxb Samjisa, Hàn Quốc
14 Nói tiếng Việt: Bước đầu học tiếng Việt, Lee Kang Woo, 2007,
20 Tiếng Việt cho người Hàn, Song Jung Nam, 2010, Nxb Trường
Đại học Ngoại Ngữ Hàn Quốc
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương một: Những cơ sở lí thuyết
Chương hai: Đặc điểm ngữ âm tiếng Việt (bình diện nội dung)
Chương ba: Đặc điểm ngữ âm tiếng Việt (bình diện phương pháp)
Trang 10CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1 Quá trình dạy tiếng thực chất bao gồm hai nội dung cơ bản, một là
truyền thụ hay cung cấp cho người học những tri thức ngôn ngữ đích (target
language) và hai là, hướng dẫn và luyện tập để người học hình thành và phát
triển đến thuần thục thói quen sử dụng các tri thức ấy trong các trạng huống giao tiếp khác nhau Nói cách khác, nếu đứng từ phía người học, kết quả tiếp
thu một ngôn ngữ nước ngoài là được thể hiện ra trên hai mặt: vốn tri thức và mặt kĩ năng Gắn liền với nội dung thứ nhất là quá trình dạy (hay cung cấp)
cho người học những cơ chế được xây dựng bằng vật liệu ngôn ngữ như các
đơn vị thuộc các cấp độ khác nhau trong cơ cấu một thứ tiếng, bao gồm ngữ
âm, từ vựng, ngữ pháp, tu từ Còn, gắn liền với nội dung thứ hai là việc
hướng dẫn và rèn luyện cho người học các dạng hoạt động trong nói năng của các đơn vị thuộc các cấp độ đó, như: cách thức tổ chức các đơn vị theo kiểu đặc trưng riêng cho thứ tiếng đang tiếp nhận, các biến thể xuất hiện khi hành chức hay hoạt động trong thực tiễn lời nói ; bao gồm cả việc phục hồi và khắc phục những khiếm khuyết mà ở nội dung thứ nhất người học chưa có điều kiện để hoàn thiện Thái độ xử lí đối với hai nội dung cơ bản trên đây là xuất
phát điểm để hình thành nên các khuynh hướng trong tâm lí học giảng dạy và
phương pháp luận dạy tiếng nói chung
Hai nội dung được chia tách trên chỉ mang tính lí thuyết Còn trong thực
tế, chúng thường lại đặt điều kiện cho nhau, không phân biệt rạch ròi Vốn tri thức ngôn ngữ luôn được thâu nhập và củng cố qua sử dụng thông qua những
kĩ năng như: nghe - nói - đọc và viết Và ngược lại, kĩ năng chỉ có thể được
nhận ra và nâng cao khi thật sự có đủ vốn tri thức về các yếu tố ngôn ngữ đang dùng Trong thực tế, khi nói người học tiếng nước ngoài có một tri thức ngôn ngữ nào đó, là hàm ý rằng anh ta đã đưa được cái tri thức ấy vào guồng quay
Trang 11của thực tiễn hoạt động ngôn từ chứ không hàm ý chỉ là khối kiến thức ngôn ngữ học thuần tuý, xơ cứng, chưa qua sử dụng Trong lĩnh vực ngôn ngữ học dạy tiếng, tri thức ngôn ngữ chỉ có giá trị, được nhận biết khi chúng được đặt trong trạng thái hoạt động Đó cũng chính là đặc trưng tạo ra sự khác nhau cơ
bản giữa một ngành ngôn ngữ lí thuyết với một ngành ngôn ngữ ứng dụng,
dẫu cả hai đều xử lí và tận dụng các ngữ liệu có trong tiếng Việt
2 Hệ thống âm thanh tiếng Việt, từ trước tới nay đã được nhiều nhà
nghiên cứu chú ý đến Tuy nhiên, cách hiểu hệ thống âm thanh tiếng Việt dưới
góc độ ngữ dụng học có lẽ phải coi A de Rhodes là người đầu tiên Với nhiệm
vụ chính là truyền đạo, mang những âm thanh của Chúa đến với các cư dân Việt, cũng như các nhà truyền đạo khác, A de Rhodes đã tự đặt ra cho mình một nhiệm vụ, đó là phải thông thạo tiếng Việt, tiếng nói của người bản địa
Có điều, khi tới Việt Nam, chính ông cũng đã không ngờ vì đã gặp phải một vài khó khăn nhất định Trước hết, đó là hệ thống âm thanh và ngữ pháp của tiếng Việt, một thứ tiếng mà với ông nó vô cùng xa lạ và hoàn toàn khác hẳn với tiếng mẹ đẻ của mình Và, hai là thế kỉ XVII, với sự nghèo nàn về tư tưởng ngôn ngữ học (chủ yếu nghiên cứu về từ nguyên học lịch sử) nên việc gán cho âm thanh Việt một kí tự kiểu phương Tây để phát lại âm thanh đó theo kiểu Việt là một cố gắng rất lớn và không có gì là khó hiểu của A de Rhodes Bằng cảm nhận của một người phương Tây, ông đã chia cắt khá máy
móc từng thực thể âm tiết Việt theo các phạm trù âm thanh - chữ viết, một
phương thức hết sức phổ biến trong tiếng mẹ đẻ của mình Kết quả là, theo A
de Rhodes, một chỉnh thể âm tiết Việt sẽ bao gồm hai phần: một phần âm thanh tương tự và một phần khác, hoàn toàn xa lạ với tập quán âm thanh của nước ông Phần mà ông cho là tương tự chính là những chuỗi kết dính các âm đoạn như phụ âm và nguyên âm, còn phần xa lạ là những đặc trưng về nhạc tính, thanh điệu có trong từng âm tiết Quan niệm này của A de Rhodes, đã được ông ứng dụng khá nhuần nhuyễn trong cuốn từ điển do ông đứng tên và
Trang 12về sau được coi là cách tiếp cận âm vị học đoạn tính (segmental) theo kiểu
phương Tây [20]
Thực ra, trước, cùng và sau A de Rhodes, ở Việt Nam cũng đã xuất hiện một cách xử lí khác đối với hệ âm thanh tiếng Việt Đó là lối cấu tạo chữ
theo kiểu phiên thiết của các nhà Nho Việt Nam Phiên thiết là nguyên tắc
cấu tạo chủ yếu của chữ Nôm dựa trên chất liệu văn tự tượng hình của người Hán để ghi các âm thanh tiếng Việt Khác với A de Rhodes, các nhà Nho với trực cảm của một người Việt, họ đã nhận ra một âm tiết Việt ít nhất phải bao
chứa: một phần đầu và một phần đi theo sau, gọi là vần Theo cái trực cảm
này, âm tiết Việt được quan niệm là một khối trọn vẹn không chia cắt tuyến tính như A de Rhodes đã hình dung Cách tiếp cận này, về sau cũng đã tìm
thấy cơ sở khoa học của nó ngay trong quan niệm về âm vị học siêu đoạn tính
(suprasegmental) của người phương Tây, J Firth [17]
Như vậy, về mặt lịch sử, có thể thấy rằng hệ thống âm thanh tiếng Việt
đã từng được tri giác và ứng dụng theo cả hai cách tiếp cận khác nhau: đoạn
tính và siêu đoạn tính Chúng tôi cho rằng, ở mỗi tiếp cận đã trình bày đều có
những mặt mạnh và yếu của mình Chúng nên bổ sung cho nhau hơn là loại trừ nhau Hơn nữa, cũng nên lưu ý là cả hai cách này đều đã tồn tại và đã được thực tiễn xã hội Việt Nam chấp nhận Chúng có khả năng ứng dụng ngang nhau nếu xét trên quan điểm thực dụng Do đó, một hình dung đầy đủ về hệ thống âm thanh tiếng Việt, rõ ràng hệ thống đó phải bao chứa cả những hiện tượng âm thanh đoạn tính (segmental facts) lẫn những hiện tượng ngôn điệu (prosodies) hay siêu đoạn tính (suprasegmental facts) Các hiện tượng âm
thanh đoạn tính gồm âm tiết, cấu trúc và các thành tố cấu thành âm tiết; còn thuộc về những hiện tượng ngôn điệu tiếng Việt có thể kể đến thanh điệu, nhịp
điệu, trọng âm và ngữ điệu v.v
Ở một khía cạnh khác, ngôn ngữ của con người trong quá trình hành
chức, như chúng ta đã thấy luôn được tồn tại theo hai dạng cơ bản: ngôn ngữ
Trang 13nói và ngôn ngữ viết Song hai dạng tồn tại này không xuất hiện đồng thời
Ngôn ngữ nói cổ xưa hơn rất nhiều so với ngôn ngữ viết Tuy nhiên, sự ra đời của ngôn ngữ viết lại được coi như là một sự cách tân trong quá trình phát triển của ngôn ngữ: giao tiếp thông qua chữ viết là hình thức giao tiếp vượt không gian và thời gian "Lời nói gió bay" nhưng ngôn ngữ viết thì "còn mãi với thời gian" và được truyền đạt từ thế hệ này đến thế hệ khác Mặt khác, xét về chức năng, chữ viết là đại diện cho lời nói, cố định hoá lời nói Mỗi ngôn ngữ có một phương thức ghi lại ngôn ngữ nói của mình Có nhiều loại chữ viết nhưng chữ viết ghi âm được coi là tiến bộ nhất Hệ thống chữ viết của tiếng Việt hiện nay thuộc loại chữ viết ghi âm Còn trên quan niệm về kí hiệu học thì mối quan hệ giữa chữ viết và ngữ âm là mối quan hệ giữa hai mặt của một kí hiệu Nếu hệ thống ngữ âm của một ngôn ngữ bao gồm các âm vị nhất định thì hệ thống chữ viết cũng bao gồm các chữ cái Mỗi âm vị có một hình thức biểu đạt tương ứng trong chữ viết Mối quan hệ âm - chữ này ở dạng lí tưởng là 1:1 Vì vậy, quá trình cung cấp và hướng dẫn cho người học hệ thống
âm thanh tiếng Việt bao gồm cả sự giới thiệu và luyên tập đến mức thành thạo
hệ thống chữ viết tiếng Việt Âm bao giờ cũng gắn liền với chữ
Trong luận văn này, đối với khu vực thứ nhất, tức gồm những hiện tượng âm thanh đoạn tính, trong quá trình xử lí, chúng tôi chấp nhận một phần lớn quan niệm về cấu trúc âm tiết của Đoàn Thiện Thuật trong "Ngữ âm học tiếng Việt" [15] và phần còn lại quan niệm của Hoàng Cao Cương trong "Thử tìm một tiếp cận động cho âm vị tiếng Việt" [4], [7] đã đề nghị cách đây hơn chục năm Còn đối với khu vực thứ hai, những hiện tượng ngôn điệu tiếng Việt, chúng tôi sẽ tận dụng thành quả nghiên cứu của nhiều nhà Việt ngữ về lĩnh vực này, trong đó chủ yếu của Hoàng Cao Cương trong chuyên đề "Âm vị học tiếng Việt mở rộng"[2], của Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến trong "Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt" [8], đặc biệt là của Cao
Trang 142.1 Âm tiết và các thành phần âm tiết tiếng Việt
2.1.1 Âm tiết và cấu trúc âm tiết
Như chúng ta đã biết, tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập Trong tiếng Việt, âm tiết là đơn vị ngôn ngữ hết sức đặc biệt, có tính độc lập cao Nó là đơn vị rất dễ nhận diện trong phát âm (âm thanh hoá) lẫn trong cách viết (kí tự hoá) Khi phát âm, mỗi âm tiết bao giờ cũng được thể hiện rất
rõ ràng và được phát âm tách rời với những tiếng đi cạnh nó Khi viết, mỗi âm
tiết được ghi thành một chữ rời với các chữ khác Ví dụ, trong câu: "Mẹ vừa
mới đi làm về", bất kì người Việt nào cũng nhận ra 6 tiếng tách rời nhau,
tương ứng với 6 khối chữ tách rời nhau được thể hiện khi viết Đó là: "mẹ",
"vừa", "mới", "đi", "làm", "về"
2.1.2 Cấu trúc âm tiết tiếng Việt
Âm tiết là đơn vị phát âm nhỏ nhất Nó là khúc đoạn âm thanh nhỏ nhất có thể phân cắt được trong chuỗi lời nói được con người phát ra Tuy nhiên, nhờ vào các thủ tục phân xuất âm vị học và hình thái học, mỗi âm tiết tiếng Việt còn có thể được chia tách thành các bộ phận nhỏ hơn âm tiết Các
bộ phận này được gọi là các thành phần (hay thành tố) âm tiết Theo Đoàn Thiện Thuật trong "Ngữ âm học tiếng Việt", việc chia tách này được tiến hành theo hai bậc như mô hình sau:
T H A N H Đ I Ệ U
ÂM ĐẦU
V Ầ N
Bảng 1.1 Mô hình hai bậc âm tiết tiếng Việt
Trang 15Ví dụ: một âm tiết "hoàn" có cấu trúc gồm 5 yếu tố như sau:
1 Thanh điệu 2 (thanh huyền) là thành tố có chức năng phân biệt với các âm tiết khác về cao độ
2 Âm đầu /h-/: là thành tố có chức năng mở đầu âm tiết
3 Âm đệm/-w-/: là thành tố có chức năng thay đổi âm sắc của âm tiết sau lúc mở đầu
4 Âm chính /-a-/: là thành tố quyết định âm sắc chủ yếu của âm tiết, là hạt nhân của âm tiết
5 Âm cuối /-n/ : là thành phần đảm nhiệm chức năng kết thúc âm tiết
Trong thực tế, không phải âm tiết tiếng Việt nào cũng bao gồm
đủ cả 5 thành phần cấu tạo như trình bày ở ví dụ trên Sự vắng mặt các thành phần âm tiết trên bình diện phát âm và chữ viết là không đều đặn và như nhau Chẳng hạn, trên hình thức chữ viết thì chỉ có 5 kí hiệu (dấu thanh) biểu diễn 5 thanh điệu (từ thanh 2 đến thanh 6: huyền, hỏi, ngã, sắc, nặng) còn thanh điệu
1 không có hình thức biểu hiện, song trên bình diện âm thanh thì nó vẫn tồn tại Hay, bất cứ âm tiết tiếng Việt nào cũng có sự mở đầu của mình song trên hình thức chữ viết cũng có một âm vị làm âm đầu không được kí hiệu hoá, đó
là âm vị /?-/ Trên thực tế, chỉ có âm chính là thành phần không thể thiếu của bất cứ âm tiết tiếng Việt nào trên cả hai bình diện: phát âm và chữ viết Một
âm tiết có thể có hoặc không có âm đệm và âm cuối trên bình diện phát âm
Sự vắng mặt của âm đệm và âm cuối trên bình diện phát âm được thể hiện bằng sự vắng mặt hình thức biểu hiện trên chữ viết
Âm tiết tiếng Việt bao gồm nhiều thành phần khác nhau và đường phân chia các thành phần này cũng đậm nhạt khác nhau hay nói chính xác hơn thì chúng thuộc vào các tầng bậc cấu trúc khác nhau Đường ranh giới phân chia giữa âm đầu, vần và thanh điệu là rất rõ ràng, còn đường ranh giới phân
Trang 16nhạt Tuỳ thuộc vào mức độ đậm nhạt hay khả năng độc lập của các yếu tố,
âm tiết tiếng Việt được chia thành hai bậc cấu trúc:
- Bậc 1 gồm thanh điệu, âm đầu và vần là các yếu tố có tính độc lập cao, kết hợp lỏng
- Bậc hai gồm các thành tố của vần: âm đệm, âm chính và âm cuối là các yếu tố có tính độc lập thấp, kết hợp khá chặt
Có thể hình dung cấu trúc hai bậc của âm tiết tiếng Việt dựa trên đặc trưng phân giới đậm/nhạt qua sơ đồ sau:
Âm tiết
Bậc 1
Bậc 2
Âm đệm Âm chính Âm cuối
Âm vị học hiện đại đi sâu vào nghiên cứu các thuộc tính có bên trong từng âm vị và mối liên kết của chúng để cấu trúc nên các đơn vị âm vị học lớn hơn một âm vị hoặc tiết vị Trong quan niệm này, âm tiết được coi là sự cố kết của hai đường phân bố của các nét siêu đoạn và chiết đoạn vốn có trong từng cấu trúc tiết vị (đối với các ngôn ngữ phương Đông, nhất là các ngôn ngữ có thanh điệu) Nói một cách khác, âm tiết tiếng Việt ở một hướng tiếp cận khác,
có thể được phân chia làm hai cấu trúc nhỏ, đó là cấu trúc chiết đoạn và cấu trúc siêu đoạn Hai tiểu cấu trúc này liên hệ chặt với nhau đến mức không thể nghiên cứu hay học tập chúng một cách tách biệt Sự cố kết chặt chẽ ấy tạo nên đặc thù âm thanh của tiếng Việt, nói rộng hơn là của các ngôn ngữ đơn lập phân tiết tính Cấu trúc chiết đoạn là cấu trúc phổ niệm cho bất kì một ngôn ngữ nào trên thế giới Còn cấu trúc siêu đoạn thì mang tính đặc thù cho từng
Trang 17ngôn ngữ cụ thể Cấu trúc chiết đoạn trong âm tiết bao gồm các thành tố: Âm
đầu, âm chính, âm cuối Những loại âm vị này là thông thường trong danh
sách các âm vị trên thế giới Còn cấu trúc siêu đoạn ở một số ngôn ngữ có thể
bao gồm: các thanh vị và các điệu vị ngoài thanh vị Đối với tiếng Việt, cấu
trúc siêu đoạn gồm: thanh vị và các kết nối Các nội dung âm vị học của kết
nối nằm trong các kết hợp giữa các "đoạn" âm đầu với vần và âm chính với
âm cuối Như vậy, khái niệm âm đệm trong cấu trúc âm tiết hai bậc sẽ tương
ứng với kết nối 1 (J1) và các thể "dài/ngắn" của âm vị chính âm tương ứng với kết nối 2 (J2)
Sơ đồ cấu trúc âm tiết (tiết vị) tiếng Việt được hình dung như sau:
Sơ đồ 1: Cấu trúc tiết vị tiếng Việt Chú thích: C1: âm đầu R: vần
V: nguyên âm C2: âm cuối T: thanh vị J: các điệu vị (gồm: J1: "tròn môi hoá" và J2: sức"căng" hay đối lập ngắn / dài ở nguyên âm)
ÂM TIẾT
Trang 18Ví dụ 1 Phân tích cấu trúc của các âm tiết: "thiền" và "thuyền"
Trang 19Ví dụ 2 Phân tích cấu trúc của các âm tiết: "tan" và "tăn"
Nói một cách khác, kết nối 1 (J1) cho phép âm tiết mang màu sắc tối
và trầm hơn hay còn có tên [Flat] / [Plain] ([Giáng] / [không Giáng] [21] Còn kết nối 2 (J2) có tác dụng làm cho âm tiết căng hơn và phụ âm kết thúc âm tiết dài hơn Chúng ta có thể gọi đó là nét [+Căng] theo quan niệm của R Jakobson và M Halle trong"Tenseness and Laxeness" (Căng và Lơi) [18]
2.1.3 Các thành phần âm tiết tiếng Việt
2.1.3.1 Âm đầu
Đặc trưng quan trọng nhất của tiểu hệ phụ âm đầu là nét [+PÂT] (phụ
âm tính) Nét [+PÂT] là nét âm vị học được bộc lộ qua những đặc điểm sau đây:
Trang 20thanh hầu bẹt quặt
TẮC
ồn
không bật hơi
Trang 21Ví dụ: Biểu diễn hệ nét khu biệt của các âm đầu: /f, m, ʈ/
+ PÂT + PÂT + PÂT
/f-/ - tắc /m-/ - tắc /ʈ-/ + tắc
+ môi + môi + quặt lưỡi
- hữu thanh + mũi
Sự thể hiện các âm vị phụ âm đầu tiếng Việt hiện đại bằng chữ viết có thể trình bày tóm tắt trong bảng dưới đây:
Trang 224 âm vị nguyên âm [dài] tương ứng về mặt phẩm chất, đó là: ə/ ə; ɛ/ ɛ; a/ă;
chủ yếu dựa vào: a) đặc điểm về vị trí và b) độ nâng của lưỡi Có thể hình dung hệ thống nguyên âm tiếng Việt được thể hiện ở bảng sau :
Bảng 1.4 Sự phân bố của các nguyên âm - âm chính tiếng Việt
Về mặt âm vị học, hệ nét khu biệt của hệ thống các nguyên âm - âm chính gồm:
2 [± đơn] 5 [± cao]
3 [± trước] 6 [± thấp]
Ví dụ: Biểu diễn hệ nét khu biệt của các âm chính: / ɔ, i, uo /
+ NÂT + NÂT +NÂT
/-ɔ-/ + thấp /-i-/ + cao /-uo-/ + sau
+ sau + trước - đơn
- dài
Trang 23Sự thể hiện bằng chữ viết của các âm vị nguyên âm tiếng Việt được thể hiện trong bảng dưới đây:
Đảm nhiệm vai trò âm cuối trong tiếng Việt gồm 6 phụ âm, 2 bán phụ
âm và 1 âm vị zê-rô [-ø] Danh sách và chân dung các âm cuối tiếng Việt được
biểu diễn trong bảng dưới đây:
Trang 24Về mặt âm vị học, các phụ âm cuối khu biệt nhau bởi những nét sau:
1 [±PÂT] [±NÂT] 3 [± trước]
Ví dụ: Biểu diễn hệ nét khu biệt của các âm cuối: /p; n; j/
+PÂT
+PÂT - NÂT +PÂT
/-p/ -NÂT /-n/ + mũi /-j/ +NÂT
- mũi -trước +trước
Bảng 1.7 Âm cuối tiếng Việt
2.1.3.4 Các điệu vị trong nội bộ âm tiết
Các điệu vị có chung một đặc điểm là vùng chức năng không nằm trọn trong một chiết đoạn âm vị học Điệu vị ở khu vực nội bộ âm tiết tiếng Việt
gồm: thanh điệu, tròn môi hoá và căng âm tiết hoá Tuy nhiên, dưới góc độ dạy tiếng, một cái nhìn giản tiện hơn là nên trả lại sự đối lập về trường độ
nguyên âm cho khu vực chiết đoạn Bởi vì, trong quá trình tiếp nhận hệ thống
Trang 25âm thanh Việt, đồng thời người học cũng tiếp nhận và hoàn thiện luôn cả hệ thống chữ viết (kí tự hoá) Trong khi, với tiếng Việt, như chúng ta đã biết,
"điệu vị căng âm tiết hoá" vốn đã được thể hiện bằng những kí tự hết sức rõ ràng Do đó, biểu diễn âm vị học các điệu vị tiếng Việt ở khu vực này chỉ quan tâm đến 2 điệu vị quan trọng nhất trong âm tiết tiếng Việt, là thanh điệu
và tròn môi âm tiết hoá
a Thanh điệu
Tiếng Việt là ngôn ngữ có hệ thống thanh điệu tương đối phức tạp, về
số lượng, gồm 6 đơn vị Chúng khu biệt nhau theo 2 đặc trưng chủ yếu: cao độ
và đường nét cao độ Dưới đây là danh sách và sự thể hiện bằng các dấu thanh của hệ thống các thanh điệu tiếng Việt:
1 Thanh không dấu 1 a (khuyết) ta, lang, nam
Bảng 1.8 Hệ thống các thanh điệu tiếng Việt
Về mặt âm vị học, các thanh điệu tiếng Việt khu biệt nhau bởi những nét sau:
1 [+TĐ] (thanh điệu) 3.[±bằng]
Trang 26Ví dụ: Biểu diễn hệ nét khu biệt của các thanh: thanh huyền, thanh nặng và thanh hỏi
+TĐ +TĐ +TĐ
/2/ -cao /6/ -cao /4/ +cao
+bằng -bằng -bằng
-uốn +uốn
b Tròn môi hoá âm tiết
Điệu vị tròn môi âm tiết hoá làm cho âm tiết mang màu sắc [tối] và
[trầm] hơn Có thể hình dung toàn bộ chân dung của điệu vị này trong tiếng Việt ở bảng dưới đây:
Ví dụ:
lan tán can
loan toán quan
"o, u"
2.2 Các hiện tượng ngôn điệu tiếng Việt
Ngôn điệu (prosodies) là khái niệm ngữ âm được dùng để chỉ những hiện tượng âm thanh ngôn ngữ thường xảy ra đồng thời với các chiết đoạn, và trên một phạm vi lớn hơn một chiết đoạn Đó là thanh điệu, trọng âm, nhịp điệu và ngữ điệu" [9]
2.2.1 Trọng âm
"Trọng âm là biện pháp âm thanh làm nổi bật một đơn vị ngôn ngữ lớn hơn âm tố (như âm tiết, từ, ngữ đoạn, câu) để phân biệt với những đơn vị khác cùng cấp độ" [22] Trọng âm có chức năng phân giới và khu biệt
Các biện pháp âm thanh thường được sử dụng để thể hiện gồm: nhấn
mạnh, tức âm tiết mang trọng âm được phát ra mạnh hơn các âm tiết khác
Trang 27(trọng âm kiểu này được gọi là trọng âm lực hay trọng âm cường độ); kéo dài,
nghĩa là âm tiết mang trọng âm được phát ra dài hơn các âm tiết khác (gọi là
trọng âm lượng); tăng hoặc giảm cao độ, tức là tăng hoặc giảm tần số dao
động của dây thanh làm cho âm tiết được phát ra cao hơn hoặc thấp hơn các
âm tiết khác (gọi là trọng âm nhạc tính) Ngoài ra, còn kiểu trọng âm đặc biệt,
trọng âm lô-gic Trong một phát ngôn, tuỳ vào mục đích nói năng, người nói
cố tình nêu bật một từ nào đó bằng một cách nào đó
Việt" cho rằng "sự đối lập về trọng âm trong tiếng Việt được thể hiện nhờ sự
tương phản giữa các âm tiết kế tiếp nhau về độ dài, độ mạnh và tính trọn vẹn
về đường nét thanh điệu" [11] Theo ông, trọng âm tiếng Việt tồn tại cả trong
các tổ hợp gồm hai tiếng (từ ghép đôi) lẫn trong chức năng phân giới các đơn
vị tiết nhịp trong phát ngôn tiếng Việt Theo đó, một tổ hợp gồm hai tiếng thực từ tiếng Việt sẽ có mô hình trọng âm [1:1]; còn các tổ hợp ghép chính phụ sẽ có mô hình trọng âm [0:1] Ví dụ:
nhà cửa [1:1] và nhà máy [0:1]
lạnh nhạt [1:1] và lạnh ngắt [0:1]
2.2.2 Nhịp và nhịp điệu lời nói tiếng Việt
Theo cách hiểu đơn giản nhất, nhịp điệu là sự lặp lại đều đặn, nhịp nhàng của một sự kiện, hiện tượng hoặc một thuộc tính nào đó của lời nói theo
Trang 28định kì Cách hiểu này có hai đặc tính quan trọng: a) lời nói (ngôn ngữ hành chức) bao gồm các sự kiện, hiện tượng, thuộc tính nhất định và b) tính thời gian (theo chu kì hay định kì) của những sự kiện, hiện tượng, thuộc tính đó
Và do đó, ngôn ngữ hành chức với hai dạng thức tồn tại của mình cũng mang trong nó tính nhịp điệu Trên thực tế, một thực thể âm thanh là một cấu trúc trọn vẹn với sự kết hợp chặt chẽ giữa các yếu tố chiết đoạn và siêu đoạn Nó là hình thức ngữ âm của một chỉnh thể ngữ nghĩa nào đó (một âm tiết, một từ, một ngữ đoạn, một câu ) Trong đó các hiện tượng siêu đoạn (như thanh điệu, trọng âm ngữ điệu ) thường xảy ra đồng thời với các hiện tượng chiết đoạn
và trên một phạm vi lớn hơn một chiết đoạn
Trong chuỗi âm thanh liên tục của lời nói, những yếu tố, thuộc tính chiết đoạn bao giờ cũng được lấp đầy vào các khuôn có sẵn; còn những yếu tố, thuộc tính siêu đoạn thường bao trùm, choán lên trên và vượt ra ngoài ranh giới của các chiết đoạn Vì vậy, trong lời nói con người, chúng ta thấy bao gồm hai quá trình trái ngược nhau, một là quá trình làm nổi bật và hai là quá trình hoà kết Thanh điệu (tone), ngữ điệu (intonation) là những yếu tố thuộc quá trình hoà kết, còn chỗ ngừng (pause) trọng âm (stress) thuộc quá trình làm nổi bật Đơn vị cơ bản của cả hai quá trình này là tiết nhịp Sự thể hiện chính xác mỗi tiết nhịp tạo nên tính hài hoà của lời nói và hình thành nên tính nhịp điệu (rhythm) trong ngữ lưu
Ví dụ:
# Chào anh Anh có khoẻ không ? # (a)
# Cám ơn anh, tôi vẫn khoẻ # (b) Xét các ví dụ trên, ta thấy quá trình hoà kết đã xảy ra với âm tiết
"chào" và âm tiết "có" trong (a) Cả hai âm tiết đã có một sự biến đổi nhất định về thanh điệu do áp lực của lời nói tự nhiên trong ngữ lưu Đồng thời chúng ta cũng rất dễ nhận ra sự nổi trội của 2 âm tiết "anh" và "khoẻ" trong ví
dụ (b) Rõ ràng, cả hai đã được phát âm mạnh và rõ hơn Bởi vì, quá trình làm
Trang 29nổi bật đã xảy ra trong đó có sự tham gia quan trọng của chỗ ngừng (pause) và vai trò của trọng âm (stress)
a Chỗ ngừng
Trong lời nói hiện thực (khi nói, đọc hay thể hiện văn bản) thì việc ngừng, nghỉ là hiện tượng hết sức tự nhiên, cần thiết Vấn đề là ngừng, nghỉ ở đâu và thời lượng bao nhiêu là đủ Mỗi ngôn ngữ đều qui định những cách ngừng, chỗ nghỉ khác nhau do đặc trưng loại hình qui định Hiện tượng ngừng, nghỉ có 2 mục đích rõ ràng: a) nghỉ để lấy hơi, tích thêm năng lượng (do nhu cầu sinh lí) và b) nghỉ để tách biệt các đoạn của phát ngôn (do qui định của ngôn ngữ) nhằm tạo hiệu quả nghệ thuật nói năng, thu hút người nghe Bởi lẽ, khi tiếp nhận lời nói, người nghe không chỉ muốn tiếp nhận thông tin mà hơn thế nữa họ còn muốn lời nói đó chứa đựng sự mượt mà, dễ vào
Do vậy, chỗ ngừng, nghỉ không phải do người sử dụng tuỳ thích đặt ra
mà do loại hình và cấu trúc ngôn ngữ qui định Chỗ ngừng đúng là chỗ ngừng đảm bảo được các yếu tố nằm giữa hai chỗ ngừng ứng với một tổ hợp ngữ nghĩa trọn vẹn, có thể là một ý biểu thị đầy đủ nội dung của một hiện tượng, khái niệm hoặc một ý nghĩa ngữ pháp nào đó Trong giao tiếp khẩu ngữ, chỉ
có người bản ngữ mới có khả năng thể hiện chính xác chỗ ngừng, nghỉ Còn đối với những cá thể sử dụng ngoại ngữ, trừ một số ít người có khả năng bắt chước giỏi, còn lại đa phần là rất khó trong việc phân chia, xử lí và thể hiện chỗ ngừng
Những đoạn lời nói được phân cách ra bởi các chỗ ngừng như vậy được xác lập là một tiết nhịp Như vậy, có thể coi chỗ ngừng là dấu hiệu hình thức để xác định số lượng các tiết nhịp trong một phát ngôn
Ví dụ:
- # Có thể nói// chỉ có mảnh đất này// mới sinh ra được chủ tịch Hồ
Chí Minh// và chính Người// đã làm rạng rỡ mảnh đất này #
Trang 30- # Tám giờ sáng mai// họ sẽ lên ô tô// về thăm lại chiến trường xưa#
(có 3 tiết nhịp)
b Trọng âm tiết nhịp
Bên cạnh chỗ ngừng, nghỉ, trọng âm cũng được coi là một phương
tiện siêu đoạn trong việc thể hiện nhịp điệu lời nói Như đã trình bày ở [2.2.1], với tư cách thể hiện nhịp, trọng âm tiết nhịp tiếng Việt có chức năng giữ cho các âm tiết trong một tiết nhịp kết dính với nhau thành một khối Mỗi một tiết nhịp gồm một trọng âm tiết nhịp (hay còn gọi trọng âm nhóm) và thường rơi vào âm tiết cuối của tiết nhịp
Ví dụ:
- # ở nước ta// có thể nói// năm mươi tư dân tộc anh em// dân tộc
nào// cũng có công chiêng #
- # Lan// đi mua cá// mí lại khế// về nấu canh # [23]
(các âm tiết in đậm là âm tiết mang trọng âm) Tiếng Việt là một ngôn ngữ có thanh điệu, đồng thời là ngôn ngữ thuộc loại hình phân tiết tính, do vậy, trọng âm của tiết nhịp chính là sự thể hiện thanh điệu một cách đầy đủ và trọn vẹn nhất
Tóm lại, ngôn ngữ nào cũng có một cấu trúc tiết nhịp Đối với tiếng Việt, khung tiết nhịp hết sức linh hoạt và mềm dẻo Chính tính mềm dẻo này tạo điều kiện cho lời nói hiện thực hoạt động Tuỳ thuộc vào từng hoàn cảnh giao tiếp, phương thức giao tiếp, đề tài, thể loại phong cách mà người nói có nhiều cách khác nhau để cố định tiết nhịp theo phong cách riêng Những yếu
tố có thể tạo nên tính linh hoạt này của tiết nhịp tiếng Việt từ phương diện ngữ
âm là: đặc điểm vị trí chỗ ngừng, đặc điểm và biện pháp âm thanh tạo điểm nhấn (trọng âm), số lượng âm tiết và cách rải âm tiết trong tiết nhịp v.v
Trang 312.2.3 Ngữ điệu
Ngữ điệu (intonation) là sự nâng cao hoặc hạ thấp giọng nói diễn ra trong một chuỗi âm thanh lớn hơn từ, có thể là tổ hợp từ, phát ngôn hay câu
Trong lời nói, ngữ điệu có nhiều chức năng:
a Cùng với chỗ ngừng, ngữ điệu cũng là một phương tiện phân
đoạn lời nói Ví dụ:
#Tôi có ngờ đâu rằng nó khoẻ đến như thế mà cũng bị nốc ao#
b Chức năng chính của ngữ điệu là liên kết: nhờ ngữ điệu, các từ trong phát ngôn liên kết được với nhau chặt chẽ, làm cho lời nói trở nên liền mạch, chứ không rời rạc Nó được ví như "chất keo" nối gắn các từ, nối liền các bộ phận của lời nói lại với nhau Chức năng quan trọng này, vì thế được
gọi là chức năng liên kết ngôn bản
c Một chức năng quan trọng khác của ngữ điệu mà hầu như ai cũng sử dụng, đó là biểu thị tất cả mọi sắc thái cảm xúc đa dạng của lời nói ,
chức năng biểu cảm Qua ngữ điệu, người nghe có thể nhận ra được thái độ,
tình cảm của người nói: vui vẻ, buồn phiền, lo lắng, hờn dỗi, phẫn nộ, căm ghét, khinh bỉ, nịnh hót .v.v Với chức năng này, ngữ điệu có thể làm thay
đổi hoàn toàn ý nghĩa ban đầu của các từ ngữ Chẳng hạn, với phát ngôn "Xin
lỗi chị" nếu chúng ta thể hiện với những kiểu ngữ điệu khác nhau sẽ cho
những ý nghĩa khác nhau: có thể là "chân thành", nhưng cũng dễ dàng trở thành "mỉa mai" hay "một thái độ phản đối quyết liệt" Nhờ ngữ điệu, những
cách nói đại loại như:
- #Vâng, cô tài, cô giỏi!# hay
- #Mày hiếu thảo lắm đấy, con ạ!#
Trang 32- #Nó thiếu gì !# .v.v, đều được người nghe hiểu với ý nghĩa khác hẳn với nghĩa vốn có của các từ: "tài, giỏi, hiếu thảo, thiếu" Với tiếng Việt, ngữ điệu thường được sử dụng đồng thời với những từ tình thái như: "à, ạ, ư,
nhỉ, nhé, chứ " "Sử dụng tốt các phương tiện này sẽ làm cho lời nói trở nên sinh động, có "hồn" và nâng cao hiệu quả giao tiếp" [4]
d Xét từ góc độ ngữ pháp, nhờ ngữ điệu chúng ta có thể phân biệt được các kiểu câu khác nhau: câu trần thuật, câu hỏi, câu cảm thán Nói cách
khác, ngữ điệu còn có chức năng cú pháp
Tuy nhiên, trong tiếng Việt, ngữ điệu câu hỏi có nhiều đặc điểm
không giống như cách thể hiện của nó trong những ngôn ngữ khác Ngữ điệu hỏi trong tiếng Việt thường gắn liền với những từ để hỏi và liên quan mật thiết với cao độ của thanh điệu chứa đựng trong những từ ấy Ngữ điệu câu hỏi, vì vậy lên cao hay xuống thấp phụ thuộc vào thanh điệu
Ví dụ:
- # Anh đi chứ ? # (ngữ điệu hơi đi lên là do "chứ" có âm vực cao)
- # Chị ở nhà à ? # (ngữ điệu hơi đi xuống là do "à" có âm vực thấp) Còn đối với ngữ điệu trong những câu, phát ngôn cảm thán thì tiếng Việt thường nhấn mạnh và làm nổi bật vào những từ: quá, vô cùng, cực kì,
tuyệt vời, biết bao, ôi, chao ôi, ơi v.v
Tiểu kết: Tóm lại, dưới góc độ ngôn ngữ học ứng dụng, cụ thể ở đây là
quá trình dạy và học tiếng thực hành, nội dung ngữ âm tiếng Việt được chú ý đến trên cả hai khu vực: a) trong phạm vi nội bộ âm tiết và b) ở phạm vi trên
âm tiết Các sự kiện, hiện tượng ngữ âm thuộc phạm vi nội bộ âm tiết gồm:
Trang 331 Hệ thống các âm đầu và sự thể hiện của chúng trên chữ viết
2 Hệ thống các âm chính và sự thể hiện của chúng trên chữ viết
3 Hệ thống các âm cuối và sự thể hiện của chúng trên chữ viết
4 Hệ thống thanh điệu tiếng Việt và sự thể hiện trên dấu thanh
5 Hệ thống âm đệm (kết nối) tiếng Việt và sự thể hiện trên chữ viết
Còn ở phạm vi trên âm tiết, bao gồm những sự kiện, hiện tượng ngữ
âm chính sau đây:
6 Trọng âm trong các từ hai âm tiết tiếng Việt
7 Nhịp điệu và các yếu tố nhịp điệu tiếng Việt
8 Ngữ điệu tiếng Việt
Trang 34CHƯƠNG II ĐẶC ĐIỂM TRONG CUNG CẤP CÁC NỘI DUNG NGỮ ÂM
1 Cơ sở dữ liệu
1.1 Theo thống kê của chúng tôi từ cuối những năm 60 thế kỉ trước đến nay, ở Hàn Quốc có khoảng trên năm mươi (50) giáo trình dạy và học tiếng Việt được biên soạn, xuất bản và đưa vào sử dụng Trong số giáo trình này, có khoảng ba mươi (30) giáo trình có giới thiệu về hệ thống ngữ âm tiếng Việt, chiếm tỉ lệ khoảng 60% Phần giới thiệu về hệ thống ngữ âm tiếng Việt có tên
là phần phát âm hoặc luyện tập phát âm và thường được bố trí ở vào những
trang đầu tiên của giáo trình
Tuy nhiên, trong số hơn ba mươi giáo trình có phần giới thiệu về hệ thống ngữ âm tiếng Việt, nếu nhìn nhận một cách chặt chẽ thì chỉ có khoảng
20 giáo trình (chiếm 40%) là có phần giới thiệu hệ thống ngữ âm tiếng Việt một cách tương đối đầy đủ Số còn lại, khoảng hơn một chục giáo trình chỉ dừng lại ở mức độ giới thiệu một cách hết sức sơ lược và đơn giản tên gọi của
hệ thống nguyên âm, phụ âm tiếng Việt cùng cách đọc và sự thể hiện của chúng trên chữ viết
Trong số hai mươi (20) giáo trình được tuyển chọn làm cơ sở dữ liệu cho quá trình khảo sát, chúng tôi thấy có một số đặc điểm chung và riêng sau đây:
a Hầu hết các giáo trình đều có một bố cục tương đối giống nhau trong trình tự giới thiệu các đơn vị (hay yếu tố) thuộc hệ thống ngữ âm tiếng Việt:
Bước 1: giới thiệu các nguyên âm (hoặc phụ âm)
Bước 2: giới thiệu các phụ âm (hoặc nguyên âm)
Bước 3: giới thiệu các thanh điệu
Trang 35Chỉ một số rất ít giáo trình có giới thiệu thêm về trọng âm và ngữ điệu
Nên nhìn chung, phần ngữ âm được giới thiệu trong các giáo trình dạy tiếng Việt tại Hàn Quốc là khá đơn giản
b Giữa các giáo trình không có sự khác biệt lớn Bức tranh đa dạng tạo nên sự khác nhau giữa giáo trình này với giáo trình khác, có chăng chỉ nằm ở
tính mức độ và số lượng các bài tập kĩ năng được đưa ra và sử dụng trong quá
trình luyện phát âm cho người học Trong số 20 giáo trình được sử dụng làm
cơ sở dữ liệu, chúng tôi thấy có đến phân nửa chỉ dừng lại ở mức độ giới thiệu
tên gọi của các nguyên âm, phụ âm và thanh điệu tiếng Việt cùng một vài kĩ năng luyện tập đơn giản
1.2 Do đó, để tiện cho việc khảo sát, tìm hiểu và nhận xét từng giáo trình một, chúng tôi cố gắng phân chia các giáo trình thành những tiểu nhóm
khác nhau Nguyên tắc phân loại chủ yếu dựa trên: a) trình độ ứng dụng của các giáo trình: sơ cấp/ trung cấp/ hay cao cấp; b) số lượng các hiện tượng (hay
sự kiện) ngữ âm tiếng Việt được đưa vào giới thiệu trong giáo trình và c) kĩ
năng luyện phát âm được thể hiện qua các kiểu loại bài tập và tính đơn giản
hay chi tiết ở mỗi kiểu loại bài luyện phát âm trong mỗi giáo trình Cụ thể, có bốn (4) tiểu nhóm dưới đây:
Nhóm một (I)
(xếp theo thứ tự thời gian)
Trình độ Số
hoá
1 "Tiếng Việt thực dùng", Hội nghiên cứu ngoại ngữ
2 "Bước đầu học tiếng Việt", Hội nghiên cứu truyền
3 "Tiếng Việt hội thoại thiên niên kỷ", Moon Jong
Ryung, Sung Ji Eun, Oh Mi Kyung và Hoang Tuy cơ sở 3
Trang 364 "Hội thoại tiếng Việt dễ dàng" (tập 1), Kim Jong
Wook, Park Yeon Kwan, Nguyễn Bá Thành, Nxb
Trường đại học ChungWoon, 2002
5 "Tiếng Việt step by step", Hội nghiên cứu truyền
6 "Tiếng Việt du lịch", Kim Ki Tae, Nxb Samjisa,
7 "Nói tiếng Việt: Bước đầu học tiếng Việt", Lee
8 "Tiếng Việt cho mọi người", Nguyen Thi Thu
Hang/ Luu Tuan Anh (biên tập), Nxb Digis, 2007 cơ sở 8
9 "Hội thoại tiếng Việt – tiếng Hàn ứng dụng", Jun
10 "Phát âm tiếng Việt", Shin Han Young, Nxb
Nhóm hai (II)
(xếp theo thứ tự thời gian)
Trình độ Số
hoá
1 "Tiếng Việt cơ sở", Kim Ki Tea, Nxb Trường Đại
2 "Tiếng Việt cơ sở", Hội nghiên cứu Ngoại ngữ,
3 "Tiếng Việt Trung cấp", Kim Ki Tea, Nxb
4 "Tiếng Việt hội thoại" (tập 1), Jun Hye Kyung và
Trần Văn Tiếng, Nxb Moonyerim, 2004 cơ sở 14
5 "Hội thoại tiếng Việt bằng tiếng Hàn", Ly Kien
Trang 37Hien, Nxb Donginrang, 2009 cơ sở 15
6 "Tiếng Việt cho người Hàn", Song Jung Nam,
Nxb Trường đại học Ngoại Ngữ Hàn Quốc, 2010 cơ sở 16
Nhóm ba (III)
(xếp theo thứ tự thời gian)
(xếp theo thứ tự thời gian)
Trình độ Số
hoá
1 "Luyện phát âm tiếng Việt", Kim Ki Tae, Nxb
Trường Đại học ngoại ngữ Hàn Quốc, 1994
cơ sở và trung cấp 20
2 Đặc điểm trong cung cấp các nội dung ngữ âm tiếng Việt
2.1 Như đã trình bày ở chương 1, trong phần cơ sở lí thuyết của luận văn, chúng tôi đã đưa ra một sơ đồ cấu trúc âm tiết tiếng Việt Theo đó, dưới góc độ thực hành tiếng, âm tiết tiếng Việt được xác lập bao gồm hai loại cấu
trúc: cấu trúc chiết đoạn (âm đầu và phần vần) và cấu trúc siêu đoạn (bao
gồm thanh vị và các điệu vị) Trong cấu trúc chiết đoạn, người ta thường tiếp
cận theo hướng một âm tiết Việt gồm 5 thành phần Cụ thể, phụ âm đầu (gồm các phụ âm) - âm chính (gồm các nguyên âm) - âm cuối (phụ âm và bán nguyên âm) và âm đệm (các bán nguyên âm) Còn đối với cấu trúc siêu đoạn,
Trang 38ở phạm vi âm tiết có thanh điệu (gồm sáu thanh) và phạm vi trên âm tiết là các điệu vị: trọng âm trong các từ hai âm tiết, nhịp và các thành phần thuộc cấu trúc nhịp và ngữ điệu tiếng Việt Mỗi một thành phần vừa nêu cũng có thể
được coi tương đương với một nội dung ngữ âm mà người dạy cần truyền đạt (hay cung cấp) và rèn luyện đến mức thành thục cho người học Trong 20 giáo trình được khảo sát, chúng tôi thấy nổi lên một số đặc điểm dưới đây:
2.1.1 Các thành phần ngữ âm tiếng Việt
∙ Về cơ bản, các thành phần ngữ âm tiếng Việt được đưa vào trong các giáo trình dạy tiếng ở Hàn Quốc từ trước tới nay chủ yếu bao gồm 3 thành
phần chính là các nguyên âm, phụ âm và thanh điệu Đặc điểm này chiếm tới
80% số lượng các giáo trình khảo sát (16 giáo trình) Chỉ có 4 giáo trình có đề cập đến ngữ điệu tiếng Việt, chiếm 20% Tuy nhiên, trong 4 giáo trình này thì chỉ có 1 giáo trình có nói đến một cách tương đối đầy đủ những nội dung ngữ
âm liên quan đến điệu vị tiếng Việt, chiếm 5%
∙ Trong quá trình cung cấp các thành phần ngữ âm tiếng Việt, các
nguyên âm được chia thành hai loại: nguyên âm đơn và nguyên âm đôi Còn phụ âm thì phần lớn các giáo trình phân chia thành: phụ âm đầu và phụ âm
cuối; một số khác lại chia thành phụ âm đơn và phụ âm kép Có 5 giáo trình,
chiếm 25% chia phụ âm theo cả hai cách trên Về thanh điệu, cả 20 giáo trình, chiếm 100% giới thiệu đầy đủ 6 thanh điệu cơ bản của tiếng Việt Có 12 giáo trình, chiếm 60% mô tả đặc điểm về cả cao độ lẫn đường nét của hệ thống thanh điệu tiếng Việt Ngoài ra, có một số giáo trình có thể giới thiệu các thành phần ngữ âm khác nữa nhưng không đáng kể Các thành phần thuộc điệu vị tiếng Việt, như đã nói chỉ thấy xuất hiện trong 4 giáo trình, là những giáo trình 13, 17, 18 và 20 Tuy nhiên, các giáo trình này chủ yếu là đề cập đến ngữ điệu tiếng Việt và cũng mới chỉ dừng lại ở mức độ hết sức đơn giản
Để có một hình dung đầy đủ về các nội dung ngữ âm tiếng việt trong các giáo
Trang 39trình cụ thể, sau đây, chúng tôi tiến hành khảo sát từng nhóm và từng giáo trình một
∙ Nhóm một (I)
- Giáo trình 1, 6, bao gồm nguyên âm, phụ âm và 6 thanh điệu Trong
đó, nguyên âm được chia thành nguyên âm đơn và nguyên âm đôi Phụ âm được chia thành phụ âm đầu và phụ âm cuối
- Giáo trình 2, 3, 4, 7, 10, các tác giả đưa ra các thành phần trong cấu
trúc âm tiết tiếng Việt bao gồm nguyên âm (nguyên âm đơn và nguyên âm đôi), nhưng phụ âm thì lại được tác giả phân chia thành phụ âm đơn và phụ
âm kép chứ không phải phân chia thành phụ âm đầu và phụ âm cuối như ở giáo trình 1 và 6 Còn phần thanh điệu đưa vào giáo trình là 6 thanh điệu cơ bản của tiếng Việt
- Giáo trình 5, khác với 4 giáo trình trước, ở giáo trình 5 thì tác giả chỉ
giới thiệu chung về nguyên âm tiếng Việt mà không có sự phân chia thành nguyên âm đơn và nguyên âm đôi Phần phụ âm tác giả đưa vào giáo trình cũng giống như ở giáo trình 1, phụ âm được chia thành phụ âm đầu và phụ âm cuối Thanh điệu đưa vào giáo trình cũng là 6 thanh điệu cơ bản của tiếng Việt
- Giáo trình 8, các tác giả đưa ra các thành phần trong cấu trúc âm tiết
tiếng Việt bao gồm nguyên âm (nguyên âm đơn và nguyên âm đôi), nhưng phụ âm thì lại được tác giả phân chia thành phụ âm đơn và phụ âm kép, cùng với hệ thống 6 thanh điệu tiếng Việt Bên cạnh đó, tác giả còn giới thiệu về cấu trúc của âm tiết tiếng Việt bao gồm âm đầu và phần vần
- Giáo trình 9, ngoài việc phân chia nguyên âm thành nguyên âm đơn
và nguyên âm đôi, phụ âm thành phụ âm đầu và phụ âm cuối cùng 6 thanh điệu tiếng Việt, ở giáo trình này, tác giả còn chia phụ âm thành phụ âm đơn và phụ âm kép
Trang 40∙ Nhóm hai (II)
- Giáo trình 11, cũng như giáo trình 9, ở giáo trình 11, tác giả cũng
phân chia nguyên âm thành nguyên âm đơn và nguyên âm đôi, phụ âm thành phụ âm đầu và phụ âm cuối, phụ âm đơn và phụ âm kép cùng 6 thanh điệu Ngoài ra, ở giáo trình này tác giả còn đưa ra phương thức cấu âm của nguyên
âm và phụ âm tiếng Việt
- Giáo trình 12, tác giả đưa vào phần dạy ngữ âm tiếng Việt bao gồm
nguyên âm (nguyên âm đơn và nguyên âm đôi), phụ âm (phụ âm đầu và phụ
âm cuối) cùng với phương thức cấu âm của cả nguyên âm và phụ âm với 6 thanh điệu
- Giáo trình 13, tác giả đưa ra nguyên âm (nguyên âm đơn và nguyên
âm đôi), phụ âm (phụ âm đầu và phụ âm cuối) bao gồm phương thức cấu âm của cả nguyên âm và phụ âm, 6 thanh điệu Ngoài ra, ở giáo trình 13 này, tác giả còn giới thiệu về trọng âm và ngữ điệu tiếng Việt nhưng lại chưa có sự phân tách thành hai phần khác nhau
- Giáo trình 14, 16 đưa ra hệ thống nguyên âm tiếng Việt bao gồm
nguyên âm đơn và nguyên âm đôi, phụ âm chia thành phụ âm đầu và phụ âm cuối, 6 thanh điệu Tuy nhiên, ở đây, tác giả chỉ giới thiệu về phương thức cấu
âm của nguyên âm mà không giới thiệu về phương thức cấu âm của phụ âm
- Giáo trình 15, tác giả đưa ra các thành phần trong cấu trúc âm tiết
tiếng Việt bao gồm nguyên âm (nguyên âm đơn và nguyên âm đôi), nhưng phụ âm thì lại được tác giả phân chia thành phụ âm đơn và phụ âm kép chứ không phải phân chia thành phụ âm đầu và phụ âm cuối Và phần thanh điệu đưa vào giáo trình là 6 thanh điệu cơ bản của tiếng Việt
∙ Nhóm ba (III)
- Giáo trình 17, tác giả đưa hệ thống ngữ âm tiếng Việt vào giáo trình
theo cấu trúc âm tiết tiếng Việt bao gồm âm đầu, vần, thanh điệu chứ không