1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bước đầu nghiên cứu đối chiếu chuyển dịch hệ thuật ngữ du lịch Anh - Việt

132 1,5K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 1,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có rất nhiều trường hợp các khái niệm được diễn đạt bằng những cụm từ còn mang sắc thái miêu tả, lời định nghĩa, chứ chưa phải là thuật ngữ, hoặc khi đối chiếu với thuật ngữ Du lịch- Khá

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ VIỆT NGA

BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU ĐỐI CHIẾU CHUYỂN DỊCH HỆ THUẬT NGỮ DU LỊCH ANH - VIỆT

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Chuyên ngành : Ngôn ngữ học

Mã số : 60 22 01

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS LÊ QUANG THIÊM

Hà Nội - 2009

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 5

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 5

2 ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 7

3 TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8

4 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN 9

CHƯƠNG 1: LỊCH SỬ VẤN ĐỀ VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN VĂN 10

1.1 KHÁI NIỆM VỀ THUẬT NGỮ 10

1.1.1 Những quan niệm về thuật ngữ trên thế giới 10

1.1.2 Quan niệm về thuật ngữ trong tiếng Việt 12

1.1.3 Phân biệt thuật ngữ và danh pháp 14

1.1.4 Đặc điểm chung của thuật ngữ và những yêu cầu khi xây dựng thuật ngữ 15

1.1.5 Quan niệm về thuật ngữ của luận văn 18

1.2 KHÁI NIỆM VỀ THUẬT NGỮ DU LỊCH 21

1.2.1 Vai trò của du lịch 21

1.2.2 Quan niệm và định nghĩa về du lịch của các nhà khoa học trên thế giới 22

1.2.3 Quan niệm về du lịch trong tiếng Việt 26

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO THUẬT NGỮ DU LỊCH TIẾNG ANH 35

2.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 35

2.2 THÀNH TỐ CẤU TẠO NHỎ NHẤT CỦA THUẬT NGỮ: HÌNH VỊ……… 35

2.2.1 Quan niệm theo ngữ pháp truyền thống……….……… 37

2.2.2 Phân loại hình vị theo bình diện ngữ pháp 37

2.2.3 Đặc điểm cấu tạo từ 38

Trang 3

2.3 ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC CỦA THUẬT NGỮ DU LỊCH TIẾNG ANH

XÉT TRÊN PHƯƠNG DIỆN CẤU TẠO TỪ……… 40

2.3.1 Thuật ngữ du lịch có cấu tạo là từ đơn (single terms) 40

2.3.2 Thuật ngữ xuất hiện dưới dạng từ phái sinh(derivative terms)… 44 2.3.3 Thuật ngữ xuất hiện dưới dạng từ ghép (compoun d terms ) 47

2.3.4 Thuật ngữ xuất hiện dưới dạng cụm từ (collocation terms )…… 51

2.4 ĐẶC ĐIỂM CỦA THUẬT NGỮ DU LỊCH TIẾNG ANH XÉT TRÊN BÌNH DIỆN NỘI DUNG NGỮ NGHĨA ………57

2.4.1 Các thuật ngữ là tên gọi của các cơ quan tổ chức du lịch 57

2.4.2 Các thuật ngữ chỉ hoạt động nấu ăn trong nhà hàng 57

2.4.3 Các thuật ngữ chỉ các kiểu bữa ăn trong nhà hàng 58

2.4.4 Các thuật ngữ gọi tên các đồ ăn 58

2.4.5 Các thuật ngữ gọi tên các đồ uống 58

2.4.6 Thuật ngữ chỉ các loại dịch vụ của nhà hàng 58

2.4.7 Các thuật ngữ gọi tên các bộ phận phòng ban trong khách sạn 58

2.4.8 Các thuật ngữ chỉ các loại hình khách sạn 58

2.4.9 Thuật ngữ chỉ các loại phòng trong khách sạn 59

2.4.10 Thuật ngữ chỉ các tiện nghi trong khách sạn 59

2.4.11 Các thuật ngữ chỉ chủ thể hoạt động trong ngành du lịch khách sạn 59

2.4.12 Các thuật ngữ chỉ các loại khách đến khách sạn 60

2.4.13 Các thuật ngữ chỉ các loại hình du lịch 60

2.4.14 Các thuật ngữ chỉ các loại hình kỳ nghỉ 61

2.4.15 Nhóm thuật ngữ chỉ những điểm thu hút khách du lịch 61

2.4.16 Các thuật ngữ chỉ các hoạt động đi lại 61

2.5 ĐỐI CHIẾU CẤU TẠO THUẬT NGỮ DU LỊCH GIỮA TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 62

Trang 4

2.5.2 Thuật ngữ du lịch tiếng Việt có cấu tạo là từ ghép 63

2.5.3 Thuật ngữ du lịch có cấu tạo là ngữ 64

2.6 NHỮNG TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA THUẬT NGỮ DU LỊCH TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 64

2.6.1 Tương đồng 64

2.6.2 Sự khác biệt 65

TIỂU KẾT 65

CHƯƠNG 3: CÁCH CHUYỂN DỊCH THUẬT NGỮ DU LỊCH TIẾNG ANH SANG TIẾNG VIỆT 68

3.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 64

3.2 KHÁI LƯỢC VỀ DỊCH 68

3.2.1 Khái niệm về dịch thuật 68

3.2.2 Tương đương dịch thuật 69

3.2.3 Dịch không có tương đương 73

3.3 CHIẾN LƯỢC VÀ QUY TRÌNH CHUYỂN DỊCH 76

3.3.1 Dịch nguyên văn 76

3.3.2 Dịch vay mượn nguyên dạng 76

3.3.3 Phiên âm, chuyển tự 77

3.3.4 Tương đương miêu tả- chức năng 78

3.3.5 Sao lại nguyên văn 78

3.3.6 Dịch chuyển đổi 79

3.3.7 Dịch tương đương văn hoá 80

3.4 CÁC PHƯƠNG THỨC CHUYỂN DỊCH THUẬT NGỮ DU LỊCH TỪ TIẾNG ANH SANG TIẾNG VIỆT 81

3.4.1 Dịch các thuật ngữ du lịch là từ đơn, từ phái sinh và những từ được thuật ngữ hoá 81

3.4.2 Thuật ngữ là những đơn vị đo lường của Anh 83

Trang 5

3.4.3 Phương thức chuyển dịch các từ viết tắt từ tiếng Anh sang tiếng

Việt 84

3.4.4 Phương thức dịch thuật ngữ du lịch ở cấp độ trên từ giữa tiếng Anh và tiếng Việt 85

TIỂU KẾT……… 91

KẾT LUẬN 94

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Từ xưa, du lịch được coi là một sở thích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người Ngày nay trong xu thế toàn cầu hoá, du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống nhân loại Ngành Du lịch được xem như ngành công nghiệp sau ngành công nghiệp Dầu khí và Ô tô Đây là ngành công nghiệp không khói có tác động mạnh mẽ tới quá trình chuyển đổi nhu cầu sản xuất và cả cơ cấu kinh tế xã hội ở các nước đang phát triển trong

đó có Việt Nam

Như ta đã biết, Việt Nam là một nước có vị trí lãnh thổ, lãnh hải rất thuận lợi Bộ phận lãnh hải với 200 hải lý, bộ phận lãnh thổ có đường biên giới Việt – Trung dài 1400 km, biên giới Việt- Lào dài 2067km, biên giới Cam- pu- chia 1080, có khí hậu nhiệt đới nóng, ẩm, mưa nhiều tạo cho hệ động thực vật phát triển, tài nguyên đa dạng Việt Nam nằm ở vị trí trung tâm của khu vực Đông Nam Á, trên đường giao thông quốc tế từ địa lục Á- Âu đến địa lục Úc, từ Ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương Việt Nam chịu ảnh hưởng của hai nền văn minh cổ đại nhất của loài người là Ấn Độ và Trung Quốc, nằm ở khu vực có sự giao thoa văn hoá giữa các nước trong khu vực và các nước phương Tây Việt Nam có hơn bốn nghìn năm lịch sử dựng nước và giữa nước Tất cả những yếu tố đó đã tạo nên nguồn tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn phong phú Chính vì vậy, ngày nay trong trong thời kỳ hội nhập quốc tế, Việt Nam trở thành điểm du lịch hấp dẫn nhất của nhiều nước trên thế giới, trong đó có các nước nói tiếng Anh

Quan hệ giao lưu du lịch giữa Việt Nam và các nước trên thế giới ngày càng phát triển Hiện nay, các nước trên thế giới đang có xu hướng dùng tiếng

Trang 7

Anh như một ngôn ngữ phổ quát có tính quốc tế Điều này khiến cho việc giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành Du lịch trong các trường đại học và cao đẳng nói chung, đặc biệt là việc nghiên cứu đối chiếu chuyển dịch thuật ngữ

Du lịch Khách sạn Anh- Việt nói riêng là hết sức cần thiết bởi vì ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp hữu hiệu nhất trong hoạt động du lịch Hoạt động du lịch sẽ cho phép các nước có điều kiện tiếp xúc với cá nền kinh tế thế giới với tri thức nhân loại như công nghệ mới, các thành tựu khoa học mới cũng như kinh nghiệm quản lí, góp phần thu hút đầu tư, chuyển giao công nghệ, hợp tác kinh doanh phát triển kinh tế, từng bước thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các quốc gia Việt Nam là một nước đang phát triển chắc chắn phải tập trung vào hoạt động du lịch

Tuy nhiên, ngành Du lịch Việt Nam vẫn còn mới mẻ cho nên hệ thuật ngữ Du lịch- Khách sạn trong tiếng Việt vẫn chưa được chuẩn hoá, chưa đảm bảo được tính chính xác, tính hệ thống, tính quốc tế Có rất nhiều trường hợp các khái niệm được diễn đạt bằng những cụm từ còn mang sắc thái miêu tả, lời định nghĩa, chứ chưa phải là thuật ngữ, hoặc khi đối chiếu với thuật ngữ

Du lịch- Khách sạn trong tiếng Anh cho thấy nhiều thuật ngữ du lịch- khách sạn có trong tiếng Anh nhưng không có trong tiếng Việt Điều đó đã gây không ít khó khăn khi đàm phán, trao đổi, ký kết hợp đồng trong quan hệ du lịch giữa hai nước

Hiện nay ở Việt Nam chưa có công trình khoa học nào chuyên nghiên cứu về sự đối chiếu chuyển dịch hệ thuật ngữ Du lịch một cách đầy đủ Vì vậy việc nghiên cứu đối chiếu chuyển dịch hệ thuật ngữ Du lịch Anh- Việt là điều cần thiết Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần thiết thực vào quá trình truyền

bá kiến thức và sự phát triển du lịch ở Việt Nam

Trang 8

2 ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

a/ Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các thuật ngữ Du lịch trong tiếng Anh và tiếng Việt Đó là những thuật ngữ biểu đạt các khái niệm được sử dụng trong lĩnh vực du lịch

b/ Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là đối chiếu thuật ngữ Du lịch trong tiếng Anh và tiếng Việt để làm sáng tỏ những đặc trưng của hệ thuật ngữ trong mỗi ngôn ngữ Từ đó đề xuất các phương thức chuyển dịch, chuẩn hoá

hệ thuật ngữ Du lịch trong tiếng Việt

c/ Nhiệm vụ nghiên cứu

Hệ thống hoá những quan điểm lý luận trong việc nghiên cứu thuật ngữ và thuật ngữ Du lịch của các nhà nghiên cứu thế giới và các nhà nghiên cứu Việt Nam Qua đó xác định cơ sở lý luận cho luận văn

Khảo sát đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ Du lịch tiếng Anh về mặt cấu tạo Xác định các loại mô hình kết hợp giữa các thành tố để tạo thành thuật ngữ Du lịch ở từng thứ tiếng Trên cơ sở đó tìm ra sự khác biệt và tương đồng giữa các thành tố cấu tạo nên hệ thuật ngữ giữa hai ngôn ngữ

Tìm hiểu đặc điểm định danh của thuật ngữ Du lịch trong tiếng Anh theo các con đường hình thành, kiểu ngữ nghĩa và đặc điểm cách thức biểu thị của thuật ngữ du lịch

Khảo sát các kiểu dịch tương đương và một số thủ pháp được sử dụng trong chuyển dịch tương đương và không tương đương thuật ngữ du lịch Anh

- Việt

Trang 9

3 TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

a/ Tư liệu nghiên cứu

Tư liệu nghiên cứu của luận văn gồm 570 thuật ngữ du lịch Anh được lựa chọn từ những tư liệu sau:

1) Trần Văn Chánh Từ điển kinh doanh du lịch – khách sạn – và

dịch vụ ăn uống Nxb Thanh Niên, 2004

2) Hoàng Văn Châu Từ điển quản trị khách sạn và du lịch Anh- Việt,

Nxb Thanh niên 2003

3) Nguyễn Thanh Chương English for the hotel and tourism

industry Nxb Khoa học xã hội,1997

4) Vũ Anh Dân Quản trị buồng khách sạn Khoa du lịch Viện đại

học Mở, 2004

5) D.Adamson International hotel English Prentice Hall Erope, 1997

6) Iwonna Dubicka Margaret O' Keeffe English for International

Tourism Nxb Longman, 2003

7) Hồ Tấn Mẫn Từ điển du lịch Anh- Việt thông dụng Nxb Lao động

xã hội, Hà Nội, 2004

8) Tuyết Sơn- Thu Hà Tiếng Anh trong giao tiếp khách sạn- nhà

hàng- thương mại Nxb Giao thông vận tải Hà Nội, 2002

9) Nguyễn Thị Bích Thuỷ English for the hotel and tourism Nxb

Thống kê, 2008

10) Trịnh Thanh Thuỷ Giáo trình Quản trị lễ tân văn phòng Viện đại

học Mở, 2004

11) www.vietnamtourism.com

Trang 10

b/ Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ học

thống kê, phân tích cấu trúc và phân tích ngữ nghĩa các thuật ngữ khảo sát Từ

đó xác định các đặc điểm của thuật ngữ du lịch Anh- Việt Bên cạnh đó chúng

tôi sử phương pháp so sánh đối chiếu để so sánh đối chiếu các thuật ngữ du

lịch tiếng Anh với thuật ngữ du lịch tiếng Việt

4 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được trình bày ở 3 chương sau:

Chương 1: Lịch sử vấn đề và cơ sở lý luận của luận văn

Chương 2: Đặc điểm cấu tạo thuật ngữ du lịch tiếng Anh

Chương 3: Cách chuyển dịch thuật ngữ tiếng Anh sang tiếng Việt

Trang 11

CHƯƠNG 1

LỊCH SỬ VẤN ĐỀ VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN VĂN

1.1 KHÁI NIỆM VỀ THUẬT NGỮ

Giao tiếp giữa cá nhân với cá nhân, giữa dân tộc này với dân tộc khác, giữa quốc gia nọ với quốc gia kia đều phải cần dùng đến ngôn ngữ Ngôn ngữ

là phương tiện giao tiếp hữu hiệu nhất Trong mọi lĩnh vực hoạt động nói chung, trong hoạt động du lịch nói riêng, con người đều phải dùng đến từ ngữ

để biểu đạt các khái niệm ngành, nghề nghiệp, chuyên môn… Những từ ngữ

đó người ta quen gọi là thuật ngữ Vậy để hiểu một cách đầy đủ về thuật ngữ,

ta hãy đến với những quan niệm về thuật ngữ của các nhà nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới và ở Việt Nam

1.1.1 Những quan niệm về thuật ngữ trên thế giới

Thuật ngữ ra đời vốn rất sớm ở Châu Âu và châu Mỹ, bởi ở đó có nền khoa học kỹ thuật phát triển rất sớm trên thế giới Đó là mảnh đất tốt để những thuật ngữ khoa học ra đời Thuật ngữ có từ rất lâu nhưng mãi đến thế

kỷ XX người ta mới chính thức nghiên cứu về nó như một ngành khoa học Nghiên cứu đầu tiên về thuật ngữ phải nói đến các nhà ngôn ngữ Anh, Đức,

Mỹ đặc biệt là những nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Xô Viết Khi nghiên cứu

về thuật ngữ, họ đã đi sâu vào phân tích bản chất, chức năng khái niệm và tìm

định nghĩa cho thuật ngữ khoa học Vinocua chỉ ra rằng: “Thuật ngữ- đó

không phải là một từ đặc biệt mà chỉ là từ có chức năng đặc biệt” [70, tr6]

Cu- dơ- kin lại chỉ ra rằng:“Cả hình thức và nội dung không tìm thấy

ranh giới thực nào giữa từ thông thường, từ phi chuyên môn với từ của vốn kỹ thuật Đường ranh giới hiện thực khách quan giữa hai loại từ này về thực chất là một đường ranh giới ngoài ngôn ngữ Nếu như từ thông thường, từ phi

Trang 12

ứng với đối tượng chuyên môn mà chỉ có một số lượng hạn hẹp các chuyên gia biết đến ” [72, tr45]

A X Gerd, nhà ngôn ngữ học Xô Viết đã nêu tương đối đầy đủ về khái

niệm thuật ngữ: “Thuật ngữ là một đơn vị từ vựng ngữ nghĩa có chức năng

định nghĩa và được khu biệt một cách nghiêm ngặt bởi các đặc trưng như tính

hệ thống, tính đơn nghĩa Thuật ngữ không có tính đồng nghĩa hay đồng âm trong phạm vi của một khoa học hoặc lĩnh vực tri thức cụ thể” [71, tr 3]

Trong định nghĩa này, tác giả nhấn mạnh vào đặc điểm cơ bản của thuật ngữ Thuật ngữ là đơn vị từ vựng ngữ nghĩa của một hệ thống ngôn ngữ được đặc trưng bởi tính hệ thống, tính đơn nghĩa Như vậy chức năng của thuật ngữ là định nghĩa

Các nhà nghiên cứu thuật ngữ như: E Wuster(Đức), WE.Flood, R.W.Brown (Mỹ) ngoài việc định nghĩa về thuật ngữ, nêu bản chất, khái niệm của chúng các tác giả còn nêu tiêu chuẩn cụ thể của thuật ngữ J.C.Sager (Mỹ)

viết: “Thuật ngữ phải được hình thành một cách hệ thống, chú trọng tới đặc

tính về mặt hình thái, cú pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng của ngôn ngữ tạo thành chúng Thuật ngữ phải tuân theo các quy ước chung về hình vị, chữ viết và phát âm của ngôn ngữ tạo thành chúng Một khi thuật ngữ được chấp nhận sử dụng rộng rãi thì nó không thể bị thay đổi nếu như không có lí do bắt buộc và

sự khẳng định chắc chắn rằng thuật ngữ mới thay thế nó sẽ đảm đương hoàn toàn vị trí của nó và sẽ được nhanh chóng chấp nhận Nếu thuật ngữ mới chỉ truyền đạt được phần nào đó của thuật ngữ đang dùng thì sẽ gây ra nhầm lẫn

và trong những trường hợp đó, cần sử dụng đến khái niệm đồng nghĩa Như vậy mới có thể giới thiệu thuật ngữ mới” [64, tr 89]

Cuốn từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học của tác giả O X Ac- khma- nôva

cũng đã định nghĩ về thuật ngữ như sau:“Thuật ngữ là từ hoặc cụm từ của

Trang 13

ngôn ngữ chuyên môn đựơc sáng tạo ra để biểu thị chính xác các khái niệm chuyên môn và biểu thị các đối tượng chuyên môn” [69, tr 57]

Như vậy có khá nhiều định nghĩa về thuật ngữ Qua các định nghĩa đó,

ta thấy được bức tranh toàn cảnh về thuật ngữ Nó giúp ta có cái nhìn xác đáng hơn về thuật ngữ

1.1.2 Quan niệm về thuật ngữ trong tiếng Việt

Ở Việt Nam nghiên cứu về thuật ngữ chỉ mới bắt đầu vào giữa thế kỷ

XX Đầu tiên phải kể đến cuốn “Danh từ khoa học” của Hoàng Xuân Hãn,

xuất bản 1942 Hoàng Xuân Hãn đã định nghĩa thuật ngữ như sau: “Thuật ngữ

hay danh từ khoa học là những từ ngữ biểu thị một khái niệm xác định thuộc

hệ thống những khái niệm của một ngành khoa học nhất định” Nhưng vấn đề

nghiên cứu thuật ngữ như một ngành khoa học thực sự thì phải là sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945 Năm 1965, hội nghị trưng cầu ý kiến về vấn đề xây dựng thuật ngữ khoa học do Nguyễn Khánh Toàn làm chủ tịch đã ra đời Tháng 6 năm 1966 Viện Khoa học Xã hội Việt Nam đã công bố áp dụng tạm thời bản: “Quy tắc thuật ngữ khoa học nước ngoài gốc Ấn- Âu”

Như vậy, vấn đề thuật ngữ đã trở thành đề tài lớn cho các nhà ngôn ngữ nghiên cứu Từ đó có rất nhiều nhà khoa học Việt Nam như Nguyễn Văn Tu,

Đỗ Hữu Châu, Lê Khả Kế, Lưu Văn Lăng, Như Ý, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Văn Khang… đã đi sâu nghiên cứu thuật ngữ ở Việt Nam Có thể nói, những ý kiến của các nhà nghiên cứu đưa ra về thuật ngữ là khá toàn diện, cụ thể Trong cuốn “Khái luận ngôn ngữ học” Nguyễn Văn Tu đã định

nghĩa: “Thuật ngữ là từ hoặc nhóm từ dùng trong ngành khoa học, kỹ thuật,

chính trị, ngoại giao, nghệ thuật… và có một ý nghĩa đặc biệt biểu thị chính xác các khái niệm và tên các sự vật thuộc ngành nói trên” [35, tr 176] Và

ông cũng đưa ra nhận định tiếp theo: “Thuật ngữ là những từ hoặc cụm từ cố

định để chỉ những khái niệm của một ngành khoa học nào đó, ngành sản xuất

Trang 14

và ngành văn hoá nào đó… Đặc điểm của thuật ngữ là những từ chỉ có một nghĩa, không có từ đồng nghĩa, không có sắc thái tình cảm, có thể có tính chất quốc tế tuỳ từng ngành” [36, tr 114]

Năm 1962 trong cuốn “Giáo trình Việt ngữ, tập 2” Đỗ Hữu Châu đã nhấn mạnh đặc điểm của thuật ngữ không chỉ biểu thị khoa học mà còn chỉ

tên sự vật, một hiện tượng khoa học nhất định: “Thuật ngữ là những từ

chuyên môn được sử dụng trong phạm vi một ngành khoa học, một nghề nghiệp hoặc một ngành kỹ thuật nào đấy Có thuật ngữ của ngành vật lý, ngành hoá học, toán học, thương mại, ngoại giao… Đặc tính của những từ này là phải cố gắng chỉ có một nghĩa, biểu thị một khái niệm hay chỉ tên một

sự vât, một hiện tượng khoa học nhất định” [4, tr 167]

Cũng tương tự như nhận xét trên, nhà nghiên cứu Lưu Văn Lăng,

Nguyễn Như Ý cũng đã định nghĩa về thuật ngữ như sau: “Thuật ngữ là bộ

phận ngôn ngữ (từ vựng) biểu đạt các khái niệm khoa học, kỹ thuật, chính trị, tức là ngững lĩnh vực xã hội đã được tổ chức một cách có trí tuệ” [20, tr 144]

Có thể nói quan niệm về thuật ngữ của các nhà khoa học Việt Nam cơ bản thống nhất với quan niệm về thuật ngữ của các nhà khoa học trên thế giới Đặc biệt trong ý kiến của Nguyễn Văn Tu, ông còn phát hiện ra tính quốc tế của thuật ngữ Điều đó thể hiện rất đúng trong thời đại hiện nay- thời đại toàn cầu hoá, tính quốc tế trong ngôn ngữ không thể thiếu được Tính quốc tế trong ngôn ngữ giúp cho quan hệ ngoại giao, du lịch, thương mại giữa các nước trở nên thuận tiện

Sau này các nhà nghiên cứu như Đái Xuân Ninh, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Quang và Vương Toàn đã nhấn mạnh tính chính xác của thuật ngữ:

“Thuật ngữ là một từ hoặc cụm từ biểu đạt chính xác khái niệm của một

chuyên môn nào đó Thuật ngữ nằm trong hệ thống từ vựng chung của một ngôn ngữ nhưng chỉ tồn tại trong một hệ thống thuật ngữ cụ thể, nghĩa là nó chỉ được dùng trong ngôn ngữ chuyên môn Toàn bộ các thuật ngữ của một

Trang 15

lĩnh vực sản xuất, hoạt động, tri thức tạo nên một lớp từ đặc biệt tạo thành một hệ thống thuật ngữ” [23, tr 64]

Năm 1983, Hoàng Văn Hành còn nêu thêm một đặc điểm của thuật

ngữ: “Thuật ngữ là những từ dùng để biểu thị một khái niệm xác định thuộc

hệ thống thuật ngữ của các ngành khoa học hợp thành vốn thuật ngữ của ngôn ngữ” [15, tr 26]

Ý kiến của Nguyễn Thiện Giáp cũng tương tự như trên: “Thuật ngữ là

những bộ phận từ ngữ đặc biệt của ngôn ngữ Nó bao gồm những từ và cụm

từ cố định, là tên gọi chính xác của các loại khái niệm và các đối tượng thuộc lĩnh vực chuyên môn của con người” [ 12, tr 270]

Như vậy, quan niệm về thuật ngữ của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ Việt Nam cơ bản thống nhất với quan niệm thuật ngữ của các nhà nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới Một vấn đề nữa mà các nhà nghiên cứu ngôn ngữ nói đến có liên quan đến thuật ngữ là danh pháp

1.1.3 Phân biệt thuật ngữ và danh pháp

Để phân biệt thuật ngữ và danh pháp, Vinocua, một nhà khoa học Xô

Viết đã chỉ ra rằng:“Khác với thuật ngữ, danh pháp mang tính trừu tuợng,

ước lệ, võ đoán, và công dụng duy nhất của nó là tạo ra những phương tiện thuận lợi nhất về mặt thực tiễn để biểu đạt những sự vật không có quan hệ trực tiếp với những nhu cầu của tư duy lí luận lấy sự vật làm căn cứ” [ 39, tr 8]

Một nhà khoa học nữa của Liên Xô, ông A.A.Rerformatxki cũng có

một quan niệm tương tự:“Hệ thuật ngữ trước hết gắn với một hệ thống khái

niệm của một khoa học cụ thể, còn danh pháp chỉ dán nhãn cho đối tượng của

nó và pháp danh không có quan hệ trực tiếp với khái niệm khoa học” [73, tr

47] Như vậy thuật ngữ khác với danh pháp ở chỗ nó được xây dựng trên mối

Trang 16

ngữ của một ngôn ngữ, còn danh pháp mang nặng kí hiệu, gọi tên sự vật và hiện tượng không có quan hệ trực tiếp logic với bản chất của sự vật mà nó gọi tên Ví dụ những từ: quản trị du lịch, khách sạn, bồi bàn, du lịch trọn gói, sông núi,…là thuật ngữ, còn tên của khách sạn, sông, núi là gì thì đó là danh pháp như khách sạn Đồ Sơn, khách sạn Sông Hồng thì từ khách sạn là thuật ngữ, Đồ Sơn, Sông Hồng là danh pháp

Theo Nguyễn Thiện Giáp, cần phân biệt thuật ngữ và danh pháp khoa học Hệ thuật ngữ trước hết gắn với hệ thống các khái niệm của một khoa học nhất định Còn danh pháp là toàn bộ những tên gọi được dùng trong một chuyên môn nào đó, nó không gắn trực tiếp với khái niệm của khoa học mà chỉ gọi tên các sự vật trong khoa học đó mà thôi Về bản chất danh pháp là tên riêng của các đối tượng Về mặt cấu tạo, thuật ngữ có thể được cấu tạo trên cơ

sở các từ, hoặc các hình vị có ý nghĩa sự vật cụ thể Nội dung của thuật ngữ ít nhiều tương ứng với ý nghĩa của các từ tạo ra chúng Còn pháp danh có thể được quan niệm là một chuỗi kế tiếp nhau của các chữ cái, là một chuỗi các con số hay bất kỳ cách gọi tên võ đoán nào

Tuy vậy, sự tồn tại của danh pháp ít nhiều có liên quan nhất định với hệ thuật ngữ mà nó phục vụ Và muốn hay không muốn, danh pháp còn cho người đọc, người nghe liên tưởng tới những khái niệm về các sự vật, hiện tượng được biểu đạt qua hệ thuật ngữ

1.1.4 Đặc điểm chung của thuật ngữ và những yêu cầu khi xây dựng thuật ngữ

a)Tính khoa học

+ Tính chính xác

Nói đến tính khoa học của thuật ngữ là phải nói đến tính chính xác Thuật ngữ phải phản ánh được bản chất của các khái niệm Điều này,

Trang 17

AA.Refomatski đã nói rõ trong nhận định của ông:“Các khái niệm biểu thị

trong các từ ngữ thông thường chỉ là khái niệm thông thường, còn các khái niệm biểu thị trong thuật ngữ là khái niệm chính xác của một chuyên ngành khoa học nào đó” [73, tr 49- 51] Cũng vì lẽ đó mà thuật ngữ trong các từ điển

được định nghĩa chứ không giải thích như từ ngữ thông thường khác Trong thời đại ngày nay có nhiều ngành nghề khoa học phát triển, vì thế ta phải hiểu được đặc tính cơ bản của thuật ngữ Để giúp người đọc, người nghe có được khái niệm chính xác về bất kỳ đối tượng khoa học nào, thuật ngữ phải có nhiệm vụ gọi tên, định nghĩa chính xác về khái niệm đó Có như vậy mới tránh khỏi cách hiểu sai lệch và sự nhầm lẫn

Quan điểm của Lưu Văn Lăng về tính chính xác của thuật ngữ như

sau:“Mức chính xác khoa học của thuật ngữ phải thể hiện đúng nội dung khái

niệm khoa học một cách rõ ràng, rành mạch Một thuật ngữ chính xác tuyệt đối không làm cho người nghe hiểu sai, hoặc nhầm lẫn từ khái niệm này qua khái niệm khác” [ 19, tr 40] Như vậy tính chính xác của thuật ngữ còn được

thể hiện là từ chỉ có một nghĩa, không có từ đồng nghĩa, không có sắc thái biểu cảm

+ Tính hệ thống

Thuật ngữ là một bộ phận của ngôn ngữ Mà ngôn ngữ của bất kỳ một quốc gia nào cũng mang tính hệ thống Bởi vì thuật ngữ là từ, cụm từ biểu đạt chính xác một khái niệm của một chuyên ngành nào đó Thuật ngữ phải nằm trong hệ thống từ vựng chung của một ngôn ngữ Tính hệ thống của thuật ngữ được thể hiện ở hai phương diện Đó là trường từ vựng và trường khái niệm Trường từ vựng chỉ ra mối liên hệ của thuật ngữ với các từ ngữ khác trong vốn từ vựng chung của một ngôn ngữ Trường khái niệm chỉ ra mối liên hệ giữa một thuật ngữ với các thuật ngữ khác trong cùng một chuyên ngành khoa học Bởi không có chuyên ngành khoa học nào chỉ tồn tại một khái niệm duy

Trang 18

nhất Vì vậy mỗi thuật ngữ phải thuộc về một hệ thống thuật ngữ của một chuyên ngành khoa học nhất định Và cũng không thể tách rời từng khái niệm

ra để đặt thuật ngữ mà phải hình dung, xác định vị trí của nó trong toàn bộ hệ thống khái niệm

Như vậy, khi xây dựng hoặc chuyển dịch một thuật ngữ nước ngoài sang tiếng Việt hoặc ngược lại, chúng ta cần chú ý đến tính hệ thống của thuật ngữ Chúng ta khó có thể tạo ra một cuốn sách hay một từ điển nào mà có thể chứa tất cả các thuật ngữ Quan trọng là chúng ta phải biết sắp xếp các thuật ngữ vào một hệ thống

Ví dụ trong chuyên ngành du lịch chúng tôi sắp xếp các loại hình du lịch thành một nhóm:

cultural tourism du lịch văn hóa

(văn hoá) ( du lịch )

sea tourism du lịch biển

(biển) ( du lịch)

village tourism du lịch nông thôn

(nông thôn)( du lịch)

b) Tính dân tộc

Nói về tính dân tộc của thuật ngữ, Lưu Văn Lăng nêu: “Thuật ngữ dù

thuộc lĩnh vực khoa học, chuyên môn nào cũng nhất thiết phải là một bộ phận của từ ngữ dân tộc Do đó, thuật ngữ phải có tính dân tộc và phải mang màu sắc dân tộc” [ 19, tr 58] Hơn nữa, ngôn ngữ của một dân tộc là sản phẩm

giao tiếp của dân tộc ấy Cho nên mỗi dân tộc đều có ngôn ngữ riêng của mình và phải biết vận dụng vốn từ ngữ của dân tộc để biểu thị khái niệm khoa học…

Trang 19

c) Tính quốc tế

Khoa học là tài sản trí tuệ chung của loài người Cho nên những khái niệm về các ngành khoa học kỹ thuật và nhiều ngành khác trong lĩnh vực hoạt động chung của con người là của chung nhân loại Ví dụ khái niệm trong các ngành khoa học tự nhiên như Toán, Vật lý, Hoá học… đều thống nhất giữa các quốc gia trên thế giới, không thể có khái niệm toán học ở Nga khác với khái niệm toán học ở Anh

Điều này Nguyễn Thiện Giáp viết:“Thuật ngữ là bộ phận từ vựng đặc

biệt biểu hiện những khái niệm khoa học chung cho những người nói thứ tiếng khác nhau Vì vậy sự thống nhất thuật ngữ giữa các ngôn ngữ là cần thiết và bổ ích Chính điều này đã tạo nên tính thống nhất của thuật ngữ”[12,

tr 247]

Nói đến tính quốc tế của thuật ngữ là ta nghĩ đến đến sự biểu hiện ở hình thức cấu tạo của nó Đó là các ngôn ngữ dùng các thuật ngữ giống hoặc tương tự nhau, cùng xuất phát một gốc chung Ví dụ như từ điện thoại trong tiếng Pháp: telephon, trong tiếng Anh: telephone, tiếng Đức: telephone

Tính quốc tế của thuật ngữ còn biểu hiện cả ở nội dung Bởi vì thuật ngữ biểu thị những khái niệm khoa học chung cho nên những khái niệm về khoa học khoa học, các ngành nghề khác đều giống nhau ở các quốc gia như

đã nêu trên

Trong thời kỳ hội nhập quốc tế, tính quốc tế trong thuật ngữ được xem

là yếu tố quan trọng nhất trong quan hệ ngoại giao và du lịch

1.1.5 Quan niệm về thuật ngữ của luận văn

Từ những nghiên cứu về thuật ngữ của các nhà khoa học ngôn ngữ thế giới và Việt Nam, tôi thấy được những đặc điểm của thuật ngữ như sau:

Thuật ngữ là từ hoặc cụm từ của ngôn ngữ chuyên môn để biểu thị

Trang 20

vị từ vựng ngữ nghĩa có chức năng định nghĩa và được khu biệt một cách nghiêm ngặt bởi các đặc trung như tính chính xác, tính đơn nghĩa và tính hệ thống, không có hiện tượng đồng âm, đa nghĩa trong phạm vi một khoa học hay lĩnh vực tri thức cụ thể Nó có chức năng đặc biệt là gọi tên và định nghĩa Thuật ngữ sẽ không còn chính xác nếu như nó là một từ hay cụm từ đa nghĩa Ví dụ “Du lịch biển” thì ta phải hiểu là du lịch ở vùng biển mà không

thể hiểu khác được

+ Thuật ngữ mang tính dân tộc

Ngôn ngữ của dân tộc là sản phẩm giao tiếp của dân tộc đó Bởi vậy thuật ngữ được vận dụng vốn từ quí báu, phong phú của dân tộc trong việc đặt

và dịch thuật ngữ Vì thế mỗi dân tộc phải biết sử dụng vốn từ ngữ của dân tộc mình để diễn tả các khái niệm khoa học, kỹ thuật và một số ngành nghề khác trong xã hội

+ Thuật ngữ mang tính hệ thống

Thuật ngữ là một bộ phận không thể thiếu được trong vốn từ vựng của mỗi ngôn ngữ Thuật ngữ phải được hình thành một cách hệ thống, chú trọng tới đặc tính về hình thái, cú pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng của ngôn ngữ tạo thành nó

+ Phân biệt thuật ngữ và các từ thông thường

Thuật ngữ được cấu tạo nhờ các phương thức cấu tạo ngôn ngữ và được cấu tạo từ các chất liệu ngôn ngữ cấu tạo nên từ vựng của ngôn ngữ đó Thuật ngữ không tách biệt hẳn với từ ngữ thông thường Chúng chỉ tồn tại như một thuật ngữ trong hệ thống ngôn ngữ của các ngành khoa học, tách ra khỏi hệ thống đó sẽ trở thành từ vựng thông thường Một khi ngành khoa học trở nên gần gũi đi sâu vào đời sống con người thì những từ thuật ngữ khoa học cũng

Trang 21

dần dần được sử dụng như một từ ngữ thông thường Ví dụ từ chập mạch

dùng trong ngành điện đi vào cuộc sống thì được hiểu là từ chỉ những người

có tính khí không bình thường

+ Sự vay mượn thuật ngữ giữa các liên ngành

Vốn tri thức của nhân loại ngày nay vô cùng phong phú, rộng lớn Mọi ngành, nghề, khoa học, kỹ thuật, kinh tế, ngoại giao, du lịch ngày càng phát triển không ngừng và có sự phân nhánh trong mỗi ngành nghề đó Vì vậy thuật ngữ xuất hiện ngày càng nhiều Cho nên phải có sự điều chỉnh, xử lý từ vựng hợp lý Và việc sử dụng chung thuật ngữ là điều dễ hiểu Ví dụ các thuật ngữ kinh tế, thương mại dùng trong nhiều ngành khoa học xã hội như kinh tế chính trị, mậu dịch, ngân hàng dữ liệu Do tính liên ngành và đa ngành nên sự vay mượn thuật ngữ giữa các ngành khoa học kĩ thuật là tất yếu Tuy vậy, không nên lạm dụng sự vay mượn để gây nhầm lẫn trong giao tiếp khoa học

+ Thuật ngữ mang tính quốc tế

Bên cạnh tính dân tộc, thuật ngữ còn mang tính quốc tế Như ta đã biết tri thức khoa học là tài sản chung của nhân loại mà thuật ngữ còn là bộ phận

từ vựng đặc biệt biểu hiện những khái niệm khoa học chung cho những người nói thứ tiếng khác nhau Do đó cần phải có sự thống nhất giữa các ngôn ngữ

Đó chính là tính quốc tế Ngày nay trong xu hướng toàn cầu hoá, các ngành nghề khoa học, kỹ thuật phát triển không ngừng do đó, quan hệ khoa học kỹ thuật, ngoại thương, ngoại giao, du lịch… giữa các nước càng phát triển Thuật ngữ mang tính quốc tế là cơ sở cho việc giao lưu, học hỏi, trao đổi giữa các quốc gia trên thế giới, mặt khác giúp cho việc biên soạn giáo trình, dịch thuật được thuận tiện

Trang 22

1.2 KHÁI NIỆM VỀ THUẬT NGỮ DU LỊCH

1.2.1 Vai trò của du lịch

Xã hội càng phát triển thì du lịch càng đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội của con người Trước hết du lịch đáp ứng được nhu cầu vui chơi, giải trí, tìm hiểu thiên nhiên, xã hội, nâng cao hiểu biết cho con người Nhờ có du lịch mà con người được nghỉ ngơi thư giãn, tinh thần thoải mái, do

đó sức khoẻ được nâng cao rõ rệt

Du lịch còn giúp con người tiếp xúc với các kỳ quan thiên nhiên, các công trình văn hoá, các di tích lịch sử, các nét đẹp truyền thống của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia để từ đó tăng thêm tinh thần yêu nước, tinh thần đoàn kết quốc tế, góp phần bảo vệ hoà bình thế giới

Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, du lịch đã trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng của nhiều nước công nghiệp phát triển cũng như các nước đang phát triển Có thể nói đây là ngành công nghiệp không khói, ít gây độc hại đến môi trường, nhưng lại đem lại hiệu quả kinh tế lớn cho nhiều quốc gia

Du lịch còn kích thích sự phát triển của nhiều ngành sản xuất trong nước nhất là đối với ngành thủ công mỹ nghệ Ngoài ra du lịch còn tác động đến sự phát triển công nghiệp và nông nghiệp, tạo ra nguồn thu nhập lớn, góp phần quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế quốc dân

Trong quan hệ quốc tế, du lịch được xem như một nhân tố quan trọng củng cố hoà bình, củng cố các mối giao lưu quốc tế, tìm hiểu về thiên nhiên,

xã hội, các nét văn hoá của các dân tộc, các quốc gia, từ đó giúp con ngươì hiểu nhau hơn, xích lại gần nhau hơn, góp phần giữ gìn an ninh, hoà bình thế giới, đẩy lùi các cuộc chiến tranh tàn khốc giữa các sắc tộc và giữa các quốc gia

Trang 23

1.2.2 Quan niệm và định nghĩa về du lịch của các nhà khoa học trên thế giới

Từ xưa, du lịch được coi là sở thích, là hoạt động vui chơi giải trí của con người Hoạt động du lịch buổi ban đầu chủ yếu ở vùng biển nhưng càng

về sau, biển không còn là địa điểm duy nhất của các chuyến du lịch Du khách không chỉ là một số thương gia giàu có mà tất cả những người dân bình thường cũng có thể tham gia du lịch Số người đi du lịch càng nhiều hơn, đi

xa hơn, đến nhiều miền địa danh khác nhau, với nhiều nhu cầu, mục đích khác nhau Vì vậy, du lịch không còn bó hẹp trong khái niệm nghỉ ngơi, giải trí mà

nó được mở rộng, đáp ứng mọi nhu cầu của con người Vì thế, khái niệm về

du lịch càng về sau càng phong phú và đa dạng hơn và nó đã trở thành thông dụng trong đời sống xã hội, nó trở thành vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Tuy nhiên do nhiều lý do, nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau nên mỗi người có một cách hiểu khác nhau khác nhau về thuật ngữ du lịch Đó là

lí do để có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu khái niệm và định nghĩa về du lịch

Trước hết thuật ngữ du lịch của nhiều nước bắt nguồn từ tiếng Hylạp với nghĩa là đi một vòng Thuật ngữ này được Latinh hoá thành tornus và sau

đó thành tourisme (tiếng Pháp), tourism (tiếng Anh) Theo Robert Lanquar từ tourist lần đầu tiên xuất hiện trong tiếng Anh năm 1800 Trong tiếng Việt, thuật ngữ tourism được dịch thông qua tiếng Hán “du” có nghĩa là đi chơi,

“lịch” có nghĩa là từng trải Người Trung Quốc gọi tourism là du lãm với nghĩa là đi chơi để nâng cao nhận thức

Đầu tiên, du lịch được hiểu là việc đi lại của cá nhân hoặc một nhóm người rời khỏi chỗ ở của mình trong thời gian ngắn đến những vùng đất xung quanh để nghỉ ngơi, giải trí hay chữa bệnh Điều này được thể hiện rất rõ

Trang 24

thức di chuyển tạm thời từ một vùng này sang vùng khác, từ một nước này sang một nước khác nếu không gắn với sự thay đổi nơi cư trú hay nơi làm việc”[dẫn theo 26, tr 54] Tuy nhiên khái niệm du lịch có nhiều cách hiểu

khác nhau do được tiếp cận bằng nhiều cách khác nhau

Tiếp nhận du lịch dưới góc độ nhu cầu của con người thì du lịch là một

hiện tượng Kunziker và Krapf cho rằng: “Du lịch là tổng hoà các hiện tượng

và mối quan hệ nảy sinh từ việc đi lại và lưu trú của con người ở ngoài địa phương- những người không có mục đích định cư và không liên quan tới bất

kỳ hoạt động kiếm tiền nào” [dẫn theo 28, tr 61] Như vậy du lịch được hiểu là

hiện tượng con người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên đến một nơi xa lạ vì nhiều mục đích khác nhau ngoại trừ mục đích kiếm tiền Trong thời gian đó

họ phải tiêu tiền mà họ đã kiếm được

Nhà kinh tế học người Áo Josefstander nhìn dưới góc độ du khách cho

rằng.“ Du lịch là loại khách đi theo ý thích, ngoài nơi cư trú thưòng xuyên để

thoả mãn sinh hoạt cao cấp mà không theo đuổi mục đích kinh tế”[dẫn theo

28, tr 10 ]

Ausher cho rằng du lịch là nghệ thuật đi chơi của cá nhân Còn Guer

Freuler định nghĩa:“ du lịch với ý nghĩa hiện đại là hiện tượng của thời đại

chúng ta, dựa trên sự tăng trưởng về nhu cầu khôi phục sức khoẻ và sự thay đổi môi trường xung quanh dựa vào sự phát sinh, phát triển tình cảm đối với

vẻ đẹp của thiên nhiên” [dẫn theo 28, tr 8]

Nhà kinh tế học người Anh, Ogilvie cho rằng:“tất cả nghững người

thoả mãn hai điều kiện: rời nơi ở thường xuyên trong khoảng thời gian dưới một năm và tiêu tiền bạc tại nơi họ đến thăm và không kiếm tiền ở đó” [dẫn theo 26, tr 3- 8]

Trang 25

Như vậy các quan điểm trên khẳng định đi du lịch là để thoả mãn ý thích không phải vì kinh tế

Trái ngược với ý kiến trên, nhà kinh tế học Kalfiotis lại cho rằng:“Du

lịch là sự di chuyển tạm thời của cá nhân hay tập thể từ nơi ở đến một nơi khác nhằm thoả mãn nhu cầu tinh thần, đạo đức, do đó tạo nên các hoạt động kinh tế ” [dẫn theo 28, tr 9] Như vậy khái niệm về du lịch không phải chỉ một

hiện tượng xã hội đơn thuần mà nó phải gắn chặt với hoạt động kinh tế

Cũng dưới góc độ kinh tế nhưng ở khía cạnh khác, nhà địa lý Belarus

đã định nghĩa về du lịch như sau: “Du lịch là một dạng của hoạt động dân cư

trong thời gian nhàn rỗi có liên quan đến sự di cư và lưu trú tạm thời ngoài nơi ở thường xuyên nhằm mục đích phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức văn hoá hoặc hoạt động thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế, văn hoá và dịch vụ”.[ dẫn theo 25, tr 9]

Nhìn dưới góc độ kinh tế, không chỉ các nhà kinh tế học mà cả các chuyên gia nghiên cứu về địa lý cũng thấy yếu tố kinh tế không thể thiếu được

trong khái niệm du lịch Theo nhà địa lý học Michaud:“ Du lịch là tập hợp

những hoạt động sản xuất và tiêu thụ phục vụ cho việc đi lại và ngủ lại ít nhất một đêm ngoài nơi ở thường ngày với lí do giải trí, kinh doanh, sức khoẻ, hội họp, thể thao hoặc tôn giáo” [dẫn theo 28, tr13]

Cố gắng chỉ ra khía cạnh khác của kinh tế du lịch, Picara Edmod đã đưa

ra định nghĩa về du lịch như sau: Du lịch là tổng hoà việc tổ chức và chức

năng của nó không chỉ về phương diện khách vãng lai mà chính về phương diện giá trị do khách chỉ ra và của những khách vãng lai đến với một túi tiền đầy tiêu dùng trực tiếp (hết trong khách sạn) và gián tiếp cho các chi phí của

họ nhằm thoả mãn nhu cầu hiểu biết và giải trí [dẫn theo 28, tr 8,9]

Ngoài ra các nhà kinh tế du lịch của trường đại học Kinh tế Praha coi

Trang 26

lưu trú của con người ngoài nơi cư trú nhằm nhiều mục đích ngoài mục đích kiếm tiền và viếng thăm người thân là du lịch

Ngày nay, xu thế toàn cầu hoá, khoa học, kỹ thuật cùng với bao ngành nghề khác kéo theo bao thuật ngữ du lịch ra đời Và trong mỗi khái niệm, định nghĩa về thuật ngữ du lịch đều có cơ sở lý luận của nó

Với mục đích quốc tế hoá, năm 1963, tại hội nghị liên hiệp quốc tế họp

ở Roma- Itali, các chính trị cũng đã định nghĩa về du lịch như sau: Du lịch là

tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ với mục đích hoà bình [dẫn theo 28, tr12]

Nhìn từ góc độ khách du lịch, chủ thể của ngành du lịch, các nhà Trung

Quốc cho rằng: “Hoạt động du lịch là tổng hoà hoạt động quan hệ và hiện

tượng lấy sự tồn tại và phát triển kinh tế, xã hội nhất định làm cơ sở, lấy chủ thể du lịch, khách thể du lịch và trung gian du lịch làm điều kiện” [dẫn theo

28, tr 12]

Xét theo cách tiếp cận cộng đồng Coltman đã định nghĩa “du lịch là

quan hệ tương hỗ do sự tương tác của bốn nhóm du khách, cơ quan cung ứng dịch vụ, chính quyền và dân cư địa phương tại nơi đến du lịch”[dẫn theo 28,

tr 24 ]

Xét từ góc độ sản phẩm du lịch, có ý kiến cho rằng sản phẩm đặc trưng của du lịch là các chương trình du lịch, nội dung chủ yếu của nó là sự liên kết những di tích lịch sử, di tích văn hoá và cảnh quan thiên nhiên nổi tiếng cùng với cơ sở vật chất- kỹ thuật như cơ sở lưu trú, ăn uống, vận chuyển

Nhìn dưới góc độ thị trường du lịch, một số ý kiến cho rằng: Mục đích chủ yếu của các nhà tiếp thị du lịch là tìm kiếm thị trường du lịch, tìm kiếm nhu cầu của du khách

Trang 27

Các nhà nghiên cứu của Anh cho rằng: “du lịch là ngành kinh

doanh dịch vụ đi lại, dịch vụ lưu trú và giải trí cho những người đi nghỉ”.[

67, tr 1373]

Tổ chức du lịch thế giới định nghĩa du lịch như sau: “du lịch bao gồm

các hoạt động của con người đi đến và ở lại một nơi nào đó ngoài nơi cư trú thường xuyên không quá một năm với các mục đích khác nhau như thư giãn hoặc vì công việc” [www.worldtourism.com]

Qua một số khái niệm và định nghĩa trên ta thấy cho đến nay khái niệm

về thuật ngữ du lịch chưa thống nhất Do từng thời điểm, từng góc nhìn, từng trình độ phát triển du lịch ở mỗi nước khác nhau nên nhận thức về nội dung

du lịch không hoàn toàn giống nhau Vấn đề này ta tiếp tục tìm hiểu thuật ngữ

du lịch trong tiếng Việt

1.2.3 Quan niệm về du lịch trong tiếng Việt

a) Lịch sử phát triển ngành du lịch ở Việt Nam

Việt Nam là một đất nước có nguồn tài nguyên du lịch khá phong phú

và đa dạng Ba phần tư đất nước là núi đồi với nhiều cảnh quan tuyệt đẹp, những cánh rừng nhiệt đới với nhiều loài cây cỏ, chim muông, những hệ thống sông hồ tạo nên các bức tranh thuỷ mặc sinh động Việt Nam có 54 dân tộc anh em với những phong tục tập quán khác lạ Những điều này có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với con người Việt Nam ưa khám phá Hoạt động du lịch ở nước ta đã có từ lâu, cụ thể là từ thời phong kiến Đó là những chuyến du lịch của vua chúa đi thắng cảnh, lễ hội và các chuyến đi du ngoạn của các thi sỹ như chuyến du ngoạn của Trương Hán Siêu, Hồ Xuân Hương… Các chuyến

du ngoạn đó được sử sách và thi ca ghi lại Tuy nhiên, việc khai thác tài nguyên phục vụ mục đích du lịch và nghỉ dưỡng trở nên rõ rệt hơn trong thời

kỳ đô hộ của Pháp Hàng loạt biệt thự, nhà nghỉ được xây dựng ven các bãi biển, vùng hồ hay vùng núi nơi có khí hậu dễ chịu như Sapa, Đà lạt, … Bước

Trang 28

sang thời kỳ cận đại, do Việt Nam vẫn là một nước thuộc địa của Pháp, nên

du lịch vẫn thuộc về một bộ phận nhỏ, đó là những người có địa vị và có tiền bạc Còn lại đaị bộ phận dân chúng không biết đến du lịch Sau khi giành chính quyền năm 1945, Việt Nam có xuất phát điểm là nước nông nghiệp và phải đương đầu với hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc

Mĩ Điều đó cản trở rất lớn đối với sự phát triển du lịch

Sau ngày hoà bình lập lại(1954), đất nước tạm thời chia thành hai miền Việc khai thác du lịch theo hai hướng khác nhau Ở miền Bắc, mặc dù điều kiện kinh tế còn khó khăn, song thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên thường

tổ chức chuyến đi tham quan, cắm trại và tham gia các hoạt động vui chơi ngoài trời Ở Niềm Nam, một số khách sạn lớn đã được xây dựng để đáp ứng nhu cầu của một số người thuộc tầng lớp trên của xã hội và binh sĩ, sĩ quan nước ngoài

Tuy nhiên ngành du lịch, chủ thể của du lịch ở Việt Nam mới ra đời cách đây gần 40 năm Với 40 năm hình thành và phát triển, tuy đã có nhiều cố gắng để vượt qua những khó khăn và trở ngại, như tình trạng đất nước bị chia cắt, chiến tranh và cấm vận… , nên ngành du lịch Việt Nam vẫn chưa chiếm được vị trí xứng đáng trong nền kinh tế đất nước Nhờ chính sách mở cửa của Đảng và nhà nước, đặc biệt là Nghị quyết 45/CP của Chính phủ về đổi mới và phát triển du lịch mà trong thập kỉ 90 của thế kỉ 20 du lịch Việt Nam đã có một số chuyển biến đáng kể Chỉ tiêu một triệu du khách quốc tế đã đạt được sớm hơn dự kiến, khách du lịch nội địa cũng tăng nhanh

Từ sau đại hội VI đến nay, ngành du lịch Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh, và trở thành lĩnh vực kinh doanh đầy hấp dẫn, mang lại hiệu quả kinh tế cao, là đòn bẩy phát triển của tất cả các ngành kinh tế trong nền kinh

tế quốc dân, tạo ra tích luỹ ban đầu cho nền kinh tế và là cầu nối giữa thế giới bên ngoài và trong nước

Trang 29

Sự phát triển của ngành du lịch Việt Nam được đánh dấu bằng các mốc lịch sử sau:

+ Giai đoạn từ 1960 đến Đại thắng mùa xuân 30/4/1975

Ngày 09/7/1960 Thủ tướng chính phủ ra quyết định thành lập công ty

du lịch Việt Nam trực thuộc Bộ Ngoại thương Là một công ty du lịch nhưng nhiệm vụ cơ bản của công ty là phục vụ các đoàn khách của Đảng và Chính phủ Tổ chức du lịch Việt Nam đầu tiên ra đời với cơ sở vật chất nghèo nàn, lạc hậu, đội ngũ cán bộ và công nhân viên ít ỏi, non kém về nghiệp vụ du lịch nên gặp nhiều khó khăn trong công tác đón tiếp và phục vụ khách Nhưng với trách nhiệm và lòng nhiệt tình, với truyền thống cần cù, các cán bộ, công nhân viên đầu tiên của ngành Du lịch Việt Nam đã hoàn thành tốt nhiệm vụ Và ngày 9/7 được coi là ngày thành lập ngành Du lịch Việt Nam

Do lượng khách ngày một tăng và nhu cầu tham quan, du lịch đã thực hiện nhằm giảm bớt những khó khăn về tài chính, ngày 16/3/1963, Bộ trưởng

Bộ Ngoại thương đã ra quyết định giao cho công ty Du lịch Việt Nam làm nhiệm vụ kinh doanh nhằm thu thêm ngoại tệ cho đất nước

Ngày 18/8/1969 ngành Du lịch được chuyển giao sang giai đoạn, chịu

sự quản lý trực tiếp của Phủ Thủ tướng Để đảm bảo an ninh quốc gia và an toàn cho du khách, ngày 12/9/1969 Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số

94 TTg giao cho Bộ công an nhiệm vụ tham gia quản lý ngành Du lịch

+ Giai đoạn từ 1976 đến trước năm 1990

Sau năm 1975, từ khi đất nước thống nhất, các tổ chức kinh du lịch được hình thành ở hầu hết các tỉnh và đặc khu Ngành du lịch Việt Nam vẫn

do Bộ Công an quản lý và đến ngày 27/6/1978 Tổng cục Du lịch Việt Nam được thành lập trực thuộc hội đồng Bộ trưởng Với cơ sở vật chất lớn mạnh, quyền hạn được mở rộng, Tổng cục Du lịch Việt Nam đã tiếp quản trên 30 công ty du lịch trong cả nước, cùng với hàng trăm khách sạn, nhà hàng, biệt

Trang 30

thự, có đội ngũ công nhân viên có trình độ và kinh nghiệm để phục vụ khách

du lịch trong nước và nước ngoài

Ngày 18/6/1987 Hội đồng Bộ trưởng ra Nghị định 120/ HĐBT quy định chức năng, quyền hạn của Tổng cục Du lịch Việt Nam

+ Giai đoạn từ năm 1990 đến nay:

Trong quá trình tinh giảm biên chế, rút gọn bộ máy tổ chức, ngày 31/3/1990, căn cứ avào quyết định số 224 của Hội đồng Bộ trưởng, Tổng cục

Du lịch Việt Nam được sáp nhập với một số cơ quan khác thành Bộ Văn hoá- Thông tin- Thể thao và Du lịch Năm 1990 được chọn làm năm du lịch Việt Nam đã góp phần thúc đẩy đáng kể hoạt động du lịch nước nhà

Trên cơ sở coi du lịch là ngành kinh tế dịch vụ, ngày 12/8/1991 ngành

Du lịch được tách khỏi Bộ Văn hoá- Thông tin- Thể thao và Du lịch để sáp nhập với Bộ Thương mại và Du lịch Năm 1992, Tổng cục Du lịch được tái thành lập và tồn tại cho đến ngày nay

Trong những năm gần đây, do tình hình chính trị trong nước ổn định, đời sống nhân dân được cải thiện và nâng cao nên nhu cầu phát triển du lịch phát triển; đồng thời Việt Nam có những chính sách đổi mới năng động và phù hợp, cùng với luật đầu tư thuận lợi, đặc biệt là sau khi trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế Giới (WTO), số lượng du khách trong nước và quốc tế đến Việt Nam tăng nhanh Năm 2007 có 4.171,6 du khách quốc tế, 19.200 ngàn khách nội địa, năm 2009 có 28,8 triệu lượt khách trong đó có 25 triệu lượt khách nội địa, 3,8 triệu lượt khách nước ngoài Bên cạnh đó Viện nghiên cứu Phát triển Du lịch đã kiện toàn và thực sự trở thành

cơ sở nghiên cứu du lịch lớn nhất nước Trong lĩnh vực đào tạo có rất nhiều trường cao đẳng , đại học đào tạo chuyên ngành Du lịch như trường Du lịch

Hà Nội, Trường Du lịch Vũng Tàu, trường Du lịch thành phố Hồ Chí Minh,

Trang 31

trường đại học Kinh tế Quốc dân (1988), Đại học Kinh tế Quốc dân thành phố

Hồ CHí Minh (1988), Đại học Khoa học- Xã hội và Nhân văn (1992), Đại học Văn hoá (1993, Viện Đại học Mở (1993), Đại học Thương mại (1992), Đại học Dân lập Đông Đô (1996)… cũng đã đào tạo chuyên ngành Du lịch

b) Quan niệm về du lịch trong tiếng Việt

Ngành Du lịch đã có từ lâu ở các nước phát triển, nhưng ở Việt Nam ngành này ra đời khá muộn , cách đây hơn 40 năm Nguyên nhân là do hoàn cảnh lịch sử của đất nước Vì lẽ đó mà ít người quan tâm đến du lịch Những công trình nghiên cứu lý luận cũng như thực tiễn về du lịch chưa nhiều Hệ thống thuật ngữ du lịch gần như không có trong tiếng Việt

Sau Cách mạng Tháng Tám, đặc biệt là nhờ chính sách mở cửa của Đảng và nhà nước cùng với Nghị quyết 45/CP của Chính phủ về đổi mới và phát triển du lịch, nhiều khách sạn đã được xây dựng, những kỳ quan thiên nhiên được giữ gìn và bảo vệ, khách du lịch quốc tế và trong nước ngày một tăng Người Việt Nam cảm thấy du lịch là một trong những nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống của họ Quan tâm đến du lịch tất nhiên đòi hỏi phải

có một hệ thống thuật ngữ du lịch ra đời Vì lẽ đó mà hệ thống thuật ngữ du lịch đã được một số học giả nghiên cứu xây dựng nên

Trước hết phải kể đến một số cuốn từ điển đối chiếu hay giả thích ra đời: Từ điển Anh- Việt đàm thoại du lịch của Phạm Xuân Thảo, từ điển Anh- Việt kinh doanh- khách sạn và dịch vụ ăn uống của Trần Văn Chánh (Nhà xuất bản Thanh niên, Hà Nội, 2004), từ điển du lịch Anh- Việt thông dụng của Hồ Tuấn Mẫn (Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội, 2004), từ điển Quản trị khách sạn và Du lịch Anh – Việt của Hoàng Văn Châu và Đỗ Hữu Vinh (Nhà xuất bản Thanh niên, Hà Nội 2003)

Bên cạnh đó có rất nhiều học giả nghiên cứu du lịch khác như Nguyễn

Khắc Viện Ông cho rằng: “Du lịch là sự mở rộng không gian văn hoá của

Trang 32

con người” [dẫn theo 28, tr 15] Một định nghĩa ngắn gọn nhưng đã nêu được

khía cạnh cơ bản của du lịch Còn trong từ điển tiếng Việt thì du lịch được

giải thích là: “Đi chơi cho biết xứ người”[24, tr 123]

Trần Ngạn cho rằng“Du lịch là quá trình hoạt động của con người rời

khỏi quê hương đến một nơi khác với mục đích chủ yếu là được thẩm định những giá trị vật chất và tinh thần đặc sắc và độc đáo, khác lạ với quê hương, không nhằm mục đích sinh lời được tính bằng đồng tiền” [dẫn theo 28, tr 27]

Như vậy khái niệm về du lịch ở định nghĩa trên không có yếu tố kinh tế

Lại có một số ý kiến ngược lại, trong giáo trình thống kê du lịch

Nguyễn Cao Cường và Tô Đăng Hải chỉ ra rằng: “Du lịch là ngành kinh tế xã

hội, du lịch có nhiệm vụ phục vụ tham quan, giải trí, nghỉ ngơi, có hoặc không có kết hợp với hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác” [9, tr 221] Như vậy tác giả đã khẳng định du lịch là một

ngành kinh tế

Khác với quan điểm trên, các học giả biên soạn bộ Bách khoa toàn thư

Việt Nam tách hai nội dung cơ bản của du lịch làm hai phần tách biệt “Phần

thứ nhất hoạt động tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hoá nghệ thuật Phần thứ hai, du lịch được coi là ngành kinh doanh tổng hợp, có hiệu quả cao về mọi mặt, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước, đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả kinh tế rất lớn Có thể là hình thức xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ tại chỗ” [ www Vietnamtourism]

Trong cuốn giáo trình Nhập môn khoa học Du lịch Trần Đức Thanh cùng quan điểm với các tác giả của Bộ Bách khoa toàn thư là tách thuật ngữ

du lịch thành hai phần Phần một là“ sự di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời

trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao tại chỗ nhận thức về thế giới xung quanh,

có hoặc không có kèm theo việc tiêu thụ một số giá trị tự nhiên, kinh tế, văn

Trang 33

hoá và dịch vụ do các cơ sở chuyên nghiệp cung cấp” Phần hai là“Một lĩnh vực kinh doanh dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu náy sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao tại chỗ nhận thức về thế giới xung quanh” [ 28, tr 14]

Như vậy khái niệm về thuật ngữ du lịch của các học giả thế giới và Việt Nam càng ngày càng phong phú Ban đầu khái niệm du lịch được hiểu một cách đơn giản là những chuyến đi tạm thời của con người đến nơi khác với mục đích vui chơi, giải trí Về sau nhiều người tham gia du lịch với nhiều sở thích khác nên khái niệm du lịch cũng được mở rộng hơn, không chỉ vui chơi, giải trí mà còn là nhu cầu hiểu biết thế giới xung quanh như xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, văn hoá, nghệ thuật… Sau này mọi phương tiện giao thông thuận tiện, đời sống kinh tế khá hơn, nhiều người có điều kiện đi

du lịch xa hơn thì du lịch kéo theo một nhu cầu như ăn, ngủ, nghỉ, mua sắm hàng hoá…nên khái niệm du lịch càng phong phú hơn Nó không đơn thuần

là di chuyển, là hoạt động vui chơi, giải trí mà gắn với hoạt động kinh tế

Trong xu thế toàn cầu hoá, quan hệ quốc tế càng mở rộng, con người càng có điều kiện tiếp cận với kinh tế thế giới, các công nghệ mới, các thành tựu khoa học mới, thu hút đầu tư nước ngoài, hợp tác kinh doanh thì ngành du lịch được coi là ngành kinh tế tổng hợp Vì vậy mục đích của du lịch cũng rộng hơn, không chỉ vui chơi giải trí, rèn luyện sức khoẻ, hiểu biết thế giới xung quanh, làm giàu mà còn vì mục đích hoà bình, hợp tác quốc tế

Như vậy tuỳ theo hoàn cảnh cụ thể của từng nước, từng khu vực, từng

sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, từng góc nhìn của mỗi nhà nghiên cứu

mà có những định nghĩa, khái niệm du lịch giống và khác nhau Do đó ta hiểu

vì sao hệ thống thuật ngữ du lịch được nói đến đầy đủ ở ngôn ngữ này nhưng lại thiếu hoặc chưa chính xác ở ngôn ngữ khác

c) Quan niệm về thuật ngữ du lịch của luận văn

Trang 34

Dựa vào khái niệm về du lịch, định nghĩa về thuật ngữ của các nhà nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam, luận văn coi thuật ngữ du lịch là những

từ và cụm từ cố định gọi tên các khái niệm, đối tượng dùng trong ngành du lịch như quản trị kinh doanh khách sạn, vận chuyển du lịch, lưu trú, ăn uống, các hoạt động giải trí,… Tuy nhiên ngành du lịch là một ngành có phạm vi hoạt động rộng và có liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau như văn hóa, khảo cổ… Chính vì vậy trong quá trình khảo sát, chúng tôi sẽ lựa chọn những thuật ngữ mang tính chuyên biệt cao

TIỂU KẾT

1.Trong các mục của chương 1, luận văn đã nêu lên các quan điểm khác nhau của các nhà ngôn ngữ học thế giới và Việt Nam về định nghĩa thuật ngữ và các tiêu chuẩn đối với thuật ngữ Thuật ngữ là những từ và cụm từ cố định biểu thị chính xác các khái niệm và đối tượng thuộc các lĩnh vực chuyên môn khác nhau Theo các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học, thuật ngữ phải đảm bảo các tiêu chuẩn như tính tính chính xác, tính hệ thống, tính quốc tế, tính liên ngành, tính dân tộc

Thuật ngữ khác với danh pháp ở chỗ danh pháp không gắn với hệ thống khái niệm của khoa học cụ thể như thuật ngữ mà nó chỉ gọi tên các sự vật, đối tượng trong một ngành khoa học mà thôi Thuật ngữ còn một đặc điểm nữa khác với danh pháp là thuật ngữ có thể được cấu tạo trên cơ sở các từ và các hình vị có ý nghĩa sự vật cụ thể Nội dung của thuật ngữ có ít nhiều tương ứng với ý nghĩa của các từ, các hình vị tạo ra nó Danh pháp chỉ gồm một chuỗi các từ, các con số với tư cách gọi tên các sự vật

2 Một nội dung quan trọng được đề cập đến trong chương 1 là khái niệm

du lịch của các nhà nghiên cứu thế giới và việt Nam và tình hình nghiên cứu thuật ngữ du lịch ở Việt Nam

3.Trên cơ sở những lý luận chung về thuật ngữ, khái niệm về thuật ngữ du lịch, luận văn đưa ra định nghĩa về thuật ngữ du lịch và coi đó là tiêu chí

Trang 35

quan trọng để xác định, thu thập đối tượng nghiên cứu trong luận văn Thuật

ngữ du lịch trong luận văn này được hiểu là những từ và cụm từ cố định gọi

tên các khái niệm, đối tượng được dùng trong ngành Du lịch như quản trị kinh doanh khách sạn, vận chuyển du lịch, lưu trú, ăn uống, các hoạt động giải trí…

4 Trong các chương tiếp theo, luận văn sẽ tập chung nghiên cứu những vấn đề sau:

- Nghiên cứu đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ Du lịch về mặt ngữ pháp và ngữ nghĩa, so sánh mô hình cấu tạo của thuật ngữ du lịch tiếng Anh với mô hình cấu tạo thuật ngữ du lịch tiếng Việt

- Điểm qua các lý thuyết dịch và các thủ pháp chuyển dịch, từ đó đề xuất các giải pháp chuyển dịch thuật ngữ Du lịch Anh – Việt, đặc biệt là những trường hợp chưa có thuật ngữ tương đương giữa hai ngôn ngữ

Trang 36

đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ nói chung, thuật ngữ du lịch nói riêng, chúng

ta xuất phát từ tiền đề sau: Thuật ngữ là những từ đã có Chúng tôi tiến hành phân tích để xem xét cấu trúc của nó:

- Thuật ngữ đƣợc cấu tạo nên từ thành tố nào, đặc điểm của thành tố ấy

2.2 THÀNH TỐ CẤU TẠO NHỎ NHẤT CỦA THUẬT NGỮ: HÌNH VỊ

2.2.1 Quan niệm theo ngữ pháp truyền thống

Theo ngữ pháp truyền thống, từ là đơn vị cơ sở Các nhà ngữ pháp học Anh phân loại từ theo từ loại Nhƣng chúng ta có thể dễ dàng nhận ra nhiều từ trong tiếng Anh không có cấu trúc ngữ pháp nội tại Những từ này (read, head, car, etc) có thể đƣợc phân tích thành các âm hoặc âm tiết Nhƣng các thành tố này không có nghĩa khi đứng độc lập Ngƣợc lại có nhiều từ có thể phân tích thành các thành tố, các thành tố này có nghĩa Đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ đƣợc gọi là hình vị

Trang 37

L.A Boduen de Curteney là người đầu tiên đưa ra khái niệm hình vị (morphem) Theo ông hình vị là:“Chuỗi lời nói chia ra câu hay mệnh đề, câu chia ra thực từ, từ chia ra thành hình vị” Từ đó đến nay, có rất nhiều cách hiểu, cách định nghĩa khái niệm khác nhau về khái niệm này Theo quan niệm của L Bloomfield hình vị là một nhát cắt âm thanh nhỏ nhất có sự tương ứng giữa âm với nghĩa, phân biệt được với nhát cắt khác Theo tác giả, hình vị có thể bao gồm một bộ phận của từ (căn tố, phụ tố) và khác với cách hiểu của Buđoanh đơ Cutơnây là có cả thực từ đơn và hư từ Theo quan niệm của L Bloomfield hình vị là đơn vị giới hạn cuối cùng khi phân thành tố cấu tạo của

từ nói chung và của thuật ngữ nói riêng

G Glison cho rằng những từ đơn của tiếng Anh là hình vị Như vậy có thể hiểu hình vị không chỉ bao gồm bộ phận có nghĩa nhỏ nhất của từ mà có

cả từ đơn (thực từ và hư từ)

Trong tiếng Việt, đa số các nhà nghiên cứu vận dụng khái niệm morphem theo quan điểm của L Bloomfield Nhưng có người vận dụng khái niệm này theo cách hiểu của L.A Boduen de curtene

Nguyễn Tài Cẩn viết: “Hình vị là đơn vị nhỏ nhất, đơn giản nhất về

mặt tổ chức mà lại có giá trị về mặt ngữ pháp” [ 1,11] Trong định nghĩa này,

tác giả chỉ rõ các đơn vị hai mặt này, về hình thức tương đương với âm tiết,

về mặt ý nghĩa thì có giá trị về mặt ngữ pháp Quan niệm hình vị là hình thức ngữ âm trùng với âm tiết và có nghĩa được hiểu là có giá trị về mặt ngữ pháp Bình diện “có giá trị về mặt ngữ pháp” bao gồm nhiều khía cạnh Có hình vị

có nghĩa ngữ pháp và từ vựng, ví dụ như hình vị work, lại có những hình vụ chỉ đơn thuần về mặt ngữ pháp như er trong từ worker Các hình vị thực có

nghĩa từ vựng là loại nghĩa thuộc về sự vật, hiện tượng, khái niệm, trạng thái… Các hình vị hư từ chỉ có ý nghĩa ngữ pháp, nó chỉ có vai trò chính xác

Trang 38

thực mà thôi Trong ý nghĩa ngữ pháp cần phân biệt ý nghĩa cấu tạo từ và ý nghĩa biến hình từ, kết hợp từ Ý nghĩa cấu tạo từ có vai trò tạo từ mới Các hình vị có ý nghĩa cấu tạo từ này chỉ ra phạm trù, đối tượng mang ý nghĩa phái sinh hoặc ý nghĩa phạm trù từ vựng- ngữ pháp của từ

Trong luận văn này, chúng tôi quan niệm hình vị là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ Theo cách hiểu này, hình vị bao gồm các yếu tố hợp thành từ: căn tố, thân từ, phụ tố; những từ hư: tiểu từ, giới từ, các hình thức xác định; tất cả các yếu tố có ý nghĩa ngữ pháp; những từ đơn độc lập, các căn

tố mà không có biến tố

2.2.2 Phân loại hình vị theo bình diện ngữ pháp

Căn cứ vào ý nghĩa người ta phân hình vị thành hai loại: chính tố (root) và phụ tố (affixes) Chính tố có thể đứng một mình như từ độc lập ví

dụ như care trong careful, happy trong unhappiness, order trong disorder

Phụ tố là hình vị mang ý nghĩa từ vựng bổ sung hoặc ý nghĩa ngữ pháp Nó

không thể đứng một mình , nó nằm trong kết cấu của từ, ví dụ như ful trong từ

careful, un và ness trong từ unhappiness Ý nghĩa của chính tố thì cụ thể có

liên hệ logic với đối tượng, còn ý nghĩa của phụ tố thì trừu tượng, có liên hệ logic với ngữ pháp

Trong tiếng Anh, hình vị còn được phân thành căn tố (roots), thân từ (stems), phụ tố (affixes) Căn tố là loại hình vị mà các hình vị khác có thể được đính kèm với nó Trong tiếng Anh hầu hết các căn tố là hình vị tự do, nhưng không phải là tất cả Ví dụ các từ chronology, chronic and chronograph đều chứa căn tố chron-có nghĩa thời gian Nhưng căn tố này không thể đứng độc lập mà nó phải nằm trong từ Thân từ (stem) là loại hình vị mà các hình vị khác có thể được đính kèm vào nó Nhưng nó khác với căn tố là nó có thể bao gồm nhiều hình vị Tất cả các căn tố đều là thân từ, nhưng nhiều thân từ

Trang 39

không phải là căn tố Ví dụ baby và sit là căn tố Nhưng babysit không phải là căn tố

Phụ tố có nhiều loại khác nhau Người ta phân biệt phụ tố cấu tạo và biến tố Phụ tố cấu tạo biểu thị ý nghĩa từ vựng bổ sung hoặc ý nghĩa ngữ

pháp Ví dụ phụ tố er, or, un… trong tiếng Anh là loại phụ tố tạo từ mang ý nghĩa từ vựng bổ sung Biến tố ed, s biểu thị ý nghĩa ngữ pháp của hành động

trong quá khứ, hiện tại hoặc danh từ số nhiều

Trong khuôn khổ luận văn, chúng tôi chỉ nghiên cứu loại phụ tố cấu tạo

Phụ tố gồm bốn loại: tiền tố, trung tố, hậu tố và liên tố Tiền tố là phụ

tố đặt trước chính tố Ví dụ tiền tố in trong từ inexpensive, tiền tố un trong từ unfriendly, tiền tố im trong từ impolite… của tiếng Anh Hậu tố là phụ tố đặt

sau chính tố Ví dụ hậu tố or trong từ visitor (du khách), er trong traveller (khách lữ hành), ist trong tourist (khách du lịch)… của tiếng Anh Trung tố nắm chen giữa chính tố Ví dụ như trung tố –n- trong tiếng Khmer: kouch (buộc)› khnouch (cái nút) Liên tố là phụ tố đặc biệt, có chức năng liên kết các

chính tố trong từ phức Ví dụ nguyên âm /o/ và /e/ trong tiếng Nga: мыслие (sự nhẹ dạ)

легк-о-2.2.3 Đặc điểm cấu tạo từ

Thuật ngữ là một bộ phận từ đặc biệt của ngôn ngữ Thuật ngữ được hình thành theo nhiều phương thức khác nhau Phương thức thứ nhất là vay mượn ngôn ngữ toàn dân, sau đó thuật ngữ hoá những từ ngữ đó, phương thức vay mượn tiếng nước ngoài, phương thức phái sinh và ghép từ Để làm phong phú cho vốn từ vựng chuyên ngành du lịch, các nhà chuyên môn đã áp dụng tất cả các phương thức trên để tạo thuật ngữ

+ Thuật ngữ hoá từ ngữ thông thường có nghĩa là khi từ thông thường trở thành thuật ngữ, ý nghĩa của nó bị hạn chế lại, có tính chất chuyên môn

Trang 40

hoá: tính chất trừu tượng và giá trị gợi cảm bị mất đi, những mối liên hệ mới xuất hiện Việc những từ ngữ thông thường được nạp thêm nghĩa mới dựa trên nét tương đồng giữa các từ, các khái niệm trong ngôn ngữ Ví dụ từ thông

thường function trong tiếng Anh có nghĩa là chức năng nhưng trong toán học

từ này có nghĩa là hàm số, từ bus có nghĩa là xe buýt nhưng trong chuyên ngành điện tử nó có nghĩa là thanh dẫn, market: chợ, thị trường,…

Trong chuyên ngành du lịch, hiện tượng thuật ngữ hoá không nhiều

Ví dụ:

order (ra lệnh, sắp xếp) gọi đồ ăn

+ Phương thức vay mượn thuật ngữ du lịch nước ngoài

Trong hệ thuật ngữ du lịch tiếng Anh có một số thuật ngữ được tạo ra bằng con đường vay mượn tiếng nước ngoài Việc vay mượn là con đường không thể tránh khỏi của bất kỳ ngôn ngữ nào trong quá trình phát triển và làm giàu vốn thuật ngữ của mình Tuy nhiên, theo con số thuật ngữ được khảo sát thì nhóm thuật ngữ vay mượn tiếng nước ngoài trong tiếng Anh không nhiều, chủ yếu là các từ gọi tên các đồ ăn, đồ uống, một số hoạt động trong

nhà hàng, khách sạn Ví dụ sauna (tắm hơi) có nguồn gốc từ tiếng Tây Ban Nha, từ à la carte (gọi theo từng món), table d´hôte (thực đơn có giá cố

định) là từ vay mượn tiếng Pháp

+ Các thuật ngữ được tạo nên trên cơ sở ngữ liệu vốn có Đó chính là vấn đề định danh trong khi xây dựng thuật ngữ du lịch Phương thức này là tạo tên gọi mới, vỏ vật chất mới cho các khái niệm mới xuất hiện

Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn này chúng tôi chỉ khảo sát cấu tạo thuật ngữ du lịch khách sạn theo phương diện ngữ pháp

Trong chuyên ngành du lịch, các thuật ngữ tồn tại dưới các dạng như sau: từ đơn, từ phái sinh, từ ghép và cụm từ

Ngày đăng: 31/03/2015, 14:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Tài Cẩn(2004). Ngữ pháp tiếng Việt(tiếng- từ ghép- đoản ngữ). Nxb ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt(tiếng- từ ghép- đoản ngữ)
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb ĐHQGHN
Năm: 2004
2. Nguyễn Hồng Cổn (2001).“Vấn đề tương đương trong dịch thuật”. Tạp chí Ngôn ngữ số11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vấn đề tương đương trong dịch thuật
Tác giả: Nguyễn Hồng Cổn
Năm: 2001
3. Trần Văn Chánh(2004). Từ điển kinh doanh du lịch – khách sạn – và dịch vụ ăn uống. Nxb Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển kinh doanh du lịch – khách sạn – và dịch vụ ăn uống
Tác giả: Trần Văn Chánh
Nhà XB: Nxb Thanh Niên
Năm: 2004
4. Đỗ Hữu Châu(1962). Giáo trình tiếng Việt tập 2. Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tiếng Việt tập 2
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1962
5. Đỗ Hữu Châu(1999) Các bình diện của từ và từ tiếng Việt. Nxb ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bình diện của từ và từ tiếng Việt
Nhà XB: Nxb ĐHQGHN
6. Hoàng Văn Châu(2003). Từ điển quản trị khách sạn và du lịch Anh- Việt, Nxb Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển quản trị khách sạn và du lịch Anh- Việt
Tác giả: Hoàng Văn Châu
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2003
7. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến(1997).Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt. Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
8. Nguyễn Thanh Chương(1997). English for the hotel and tourism industry. Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: English for the hotel and tourism industry
Tác giả: Nguyễn Thanh Chương
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1997
11. Hữu Đạt, Trần Trí Dõi, Đào Thanh Lan (1998). Cơ sở tiếng Việt. Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở tiếng Việt
Tác giả: Hữu Đạt, Trần Trí Dõi, Đào Thanh Lan
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
12. Nguyễn Thiện Giáp (1998). Từ vựng học tiếng Việt. Nxb Giáo dục, Hà Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
13. Nguyễn Thiện Giáp (2003). Dẫn luận ngôn ngữ. Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
14. Nguyễn Thị Bích Hà (2000). So sánh cách cấu tạo thuật ngữ kinh tế thương mại trong tiếng Nhật và tiếng Việt hiện đại. Luận án tiến sỹ ngữ văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thị Bích Hà (2000)
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hà
Năm: 2000
15. Hoàng Văn Hành (1983). “Về sự hình thành và phát triển thuật ngữ tiếng Việt”. Tạp chí ngôn ngữ số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Về sự hình thành và phát triển thuật ngữ tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Năm: 1983
16. Bùi Mạnh Hùng (2008). Ngôn ngữ học đối chiếu. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học đối chiếu
Tác giả: Bùi Mạnh Hùng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
17. Hoàng Văn Hành- Hà Quang Năng-Nguyễn Văn Khang (1998). Từ tiếng Việt- hình thái cấu trúc- từ ghép, từ láy, từ chuyển loại. Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Văn Hành- Hà Quang Năng-Nguyễn Văn Khang (1998). "Từ tiếng Việt- hình thái cấu trúc- từ ghép, từ láy, từ chuyển loại
Tác giả: Hoàng Văn Hành- Hà Quang Năng-Nguyễn Văn Khang
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1998
18. Nguyễn Văn Khang (2003). Kế hoạch hoá ngôn ngữ. Ngôn ngữ học xã hội vi mô. Nxb Khoa học và kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Văn Khang (2003). "Kế hoạch hoá ngôn ngữ. Ngôn ngữ học xã hội vi mô
Tác giả: Nguyễn Văn Khang
Nhà XB: Nxb Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2003
19. Lưu Vân Lăng (1977). “Thống nhất quan niệm về tiêu chuẩn của thuật ngữ khoa học”. Tạp chí Ngôn ngữ số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống nhất quan niệm về tiêu chuẩn của thuật ngữ khoa học”
Tác giả: Lưu Vân Lăng
Năm: 1977
20. Lưu Vân Lăng- Như Ý (1971). “ Tình hình và xu hướng phát triển thuật ngữ tiếng Việt trong mấy chục năm qua”. Tạp chí ngôn ngữ số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Tình hình và xu hướng phát triển thuật ngữ tiếng Việt trong mấy chục năm qua
Tác giả: Lưu Vân Lăng- Như Ý
Năm: 1971
21. Hồ Tấn Mẫn (2004). Từ điển du lịch Anh- Việt thông dụng. Nxb Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển du lịch Anh- Việt thông dụng
Tác giả: Hồ Tấn Mẫn
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
Năm: 2004
22. Vũ Đức Minh (2007). Giáo trình Tổng quan về du lịch. Nxb Thốngkê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tổng quan về du lịch
Tác giả: Vũ Đức Minh
Nhà XB: Nxb Thốngkê
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w