1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bước đầu khảo sát phạm trù có thể trên bình diện tình thái nhận thức và tình thái căn bản

146 534 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 146
Dung lượng 1,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Không chỉ quan tâm đến hiện tượng này, chúng tôi còn muốn được nghiên cứu sâu về nó và biết rằng trong ngôn ngữ, có một phạm trù ngữ nghĩa thể hiện thái độ hoặc ý kiến của người nói đối

Trang 1

Đại học quốc gia Hà Nội Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

*****

Nguyễn Thị Phương Trà

Bước đầu khảo sát phạm trù "có thể"

trên bình diện tình thái nhận thức và tình thái căn bản (qua cứ liệu tiếng Pháp, so sánh với tiếng việt)

Luận văn thạc sĩ khoa học ngữ văn

Hà Nội – 2005

Trang 2

Đại học quốc gia Hà Nội Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

*****

Nguyễn Thị Phương Trà

Bước đầu khảo sát phạm trù "có thể"

trên bình diện tình thái nhận thức và tình thái căn bản (qua cứ liệu tiếng Pháp, so sánh với tiếng việt)

Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học

Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ

Mã số: 5.04.08

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS Nguyễn Văn Hiệp

Hà Nội – 2005

Trang 3

Mục lục

Phần mở đầu 1

I Lí do chọn đề tài 1

II Lịch sử vấn đề 2

III Phạm vi nghiên cứu 4

IV Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu 4

V Bố cục luận văn 5

Chương 1 Xác định cách hiểu phạm trù “có thể” với tư cách là một nội dung của tình thái nhận thức và tình thái căn bản cùng các vấn đề liên quan 6

1.1 Phân biệt tình thái và nội dung mệnh đề 6

1.2 Tình thái của hành động phát ngôn và tình thái của lời phát ngôn 9

1.2.1 Tình thái của hành động phát ngôn 9

1.2.2 Tình thái của lời phát ngôn 10

1.3 Tình thái khách quan và tình thái chủ quan 11

1.3.1 Tình thái khách quan 11

1.3.2 Tình thái chủ quan 13

1.4 Tình thái căn bản và tình thái nhận thức 17

1.4.1 Tình thái căn bản 17

1.4.2 Tình thái nhận thức 19

1.5 Phạm trù ”có thể” trong tình thái nhận thức và tình thái căn bản 21

1.6 Hiện tượng mơ hồ về tình thái 22

1.7 Các phương tiện ngôn ngữ biểu đạt tình thái 26

1.7.1 Các phương tiện biểu đạt tình thái trong tiếng Pháp 26

1.7.2 Các phương tiện biểu đạt tình thái trong tiếng Việt 29

Trang 4

1.7.3 Sự ảnh hưởng của các đặc điểm loại hình đến việc lựa chọn các

phương tiện biểu hiện 30

1.8 Tiểu kết 31

Chương 2 Các phương tiện biểu thị phạm trù “có thể” trong tiếng Pháp và các cách biểu đạt tương ứng trong tiếng Việt 32

2.1 Về định hướng đối chiếu 32

2.2 Các phương tiện biểu thị phạm trù “có thể” trong tình thái nhận thức 32 2.2.1 Các thức của động từ 32

2.2.1.1 Thức trực thái – indicatif 33

2.2.1.2 Thức điều kiện – conditionnel 34

2.2.1.3 Thức giả định – subjonctif 36

2.2.2 Một số động từ tình thái (không đi cùng với thức giả định): sembler, paraợtre, devoir, penser, croire 38

2.2.2.1 Sembler 38

2.2.2.2 Paraợtre 39

2.2.2.3 Devoir 41

2.2.2.4 Penser và croire 42

2.2.3 Các trạng từ: peut-être, sans doute 43

2.2.3.1 Peut-être 43

2.2.3.2 Sans doute 45

2.2.4 Các tính từ trong cấu trúc vô nhân xưng :Il est possible que, il est probable que 46

2.2.5 Một số danh từ trong các cấu trúc câu 47

2.2.5.1 Avoir l’air 47

2.2.5.2 Avoir l’impression 48

Trang 5

2.2.6.1 Qui sait 48

2.2.6.2 N’est-ce pas 49

2.2.6.3 Câu nghi vấn 49

2.2.6.4 On dirait que, on eÛt dit que 50

2.2.6.4 Comme 51

2.3 Các phương tiện biểu thị phạm trù “có thể” trong tình thái căn bản 52

2.3.1 Phương tiện hiển ngôn 52

2.3.2 Phương tiện hàm ngôn 53

2.4 Động từ pouvoir và hiện tượng mơ hồ tình thái 54

2.4.1 Động từ pouvoir trong tình thái căn bản và tình thái nhận thức 54

2.4.2 Một số tiêu chí phân biệt pouvoir trong tình thái căn bản và pouvoir trong tình thái nhận thức 57

2.4.2.1 Câu phủ định 57

2.4.2.2 Câu hỏi 58

2.4.2.3 Câu nguyên thể 59

2.4.2.4 Tính chất động – tĩnh của sự việc 59

2.4.2.5 Ngữ cảnh 60

2.4.3 Phân tích ví dụ dựa trên các tiêu chí và một vài nhận xét về cách chuyển dịch sang tiếng Việt 61

2.5 Tổng kết và nhận xét về các phương tiện biểu thị phạm trù “có thể” 67

2.5.1 Bảng tổng kết 67

2.5.2 Một số nhận xét 69

2.6 Tiểu kết 70

Chương 3 Một số ứng dụng vào giảng dạy tiếng Pháp 72

3.1 ứng dụng vào giảng dạy 72

Trang 6

3.1.1 Hiện trạng dạy và học các phương tiện biểu thị phạm trù “có

thể” trong tiếng Pháp 72

3.1.1.1 Về giáo viên 72

3.1.1.2 Về học sinh 76

3.1.1.3 Về giáo trình 78

3.1.2 Đề xuất một số giải pháp 81

3.1.2.1 Một số đề xuất về người dạy và người học 81

3.1.2.2 Một số kiểu bài tập đề nghị 83

3.2 Tiểu kết 86

Phần kết luận 88

Danh mục tài liệu tham khảo 91

Danh mục nguồn tư liệu trích dẫn 97

Phụ lục 102

Trang 7

Phần Mở đầu

I Lí do chọn đề tài

Khi giao tiếp, người ta không chỉ truyền cho nhau thông tin miêu tả

mà còn muốn bày tỏ quan điểm, thái độ của mình trước thông tin đó Trước một sự việc nào đó, người này còn nghi ngờ về tính hiện thực của nó, người kia lại hoàn toàn có thể tin chắc là nó tồn tại Không chỉ quan tâm đến hiện tượng này, chúng tôi còn muốn được nghiên cứu sâu về nó và biết rằng trong ngôn ngữ, có một phạm trù ngữ nghĩa thể hiện thái độ hoặc ý kiến

của người nói đối với điều được nói đến trong câu, gọi là tình thái

Trong quá trình học tập và giảng dạy hai ngôn ngữ là tiếng Việt và

tiếng Pháp, chúng tôi lại nhận thấy rằng "có thể" là một phạm trù tình thái

rất thú vị, ở chỗ nó có mặt trong cả hai loại tình thái là tình thái nhận thức

và tình thái căn bản1 nhưng lại có nội dung biểu đạt không giống nhau Nếu

như "có thể" trong tình thái nhận thức là phạm trù tình thái thể hiện thái độ

không cam kết tuyệt đối của người nói đối với tính chân thực của điều mình

nói ra thì trong tình thái căn bản, "có thể" lại được hiểu là một sự cho phép

người nghe quyền thực hiện hành động được nêu trong phát ngôn Hơn nữa, chúng tôi còn thấy rằng phạm trù này được hai ngôn ngữ thể hiện bằng những phương tiện đặc trưng của từng ngôn ngữ Vì vậy, chúng tôi quyết định chọn đề tài này để nghiên cứu, với mong muốn nó sẽ có ý nghĩa khoa học về lí luận và thực tiễn

chương cơ sở lí thuyết

Trang 8

là tình thái nhận thức và tình thái căn bản Tình thái nhận thức đã từng được nghiên cứu ở một số công trình gần đây, còn tình thái căn bản thì được biết đến chưa nhiều Vì vậy, chúng tôi càng cố gắng tìm hiểu về nó sao cho có thể phát hiện được điều gì đấy mới mẻ

Sau nữa, luận văn cũng muốn góp phần làm thấy rõ những khác biệt

về loại hình của hai ngôn ngữ trên Những khác biệt này thể hiện ở các kiểu

phương tiện biểu đạt phạm trù "có thể" Chẳng hạn, ở tiếng Pháp, thời và

thức của động từ là những phương tiện đắc lực, trong khi đó, ở tiếng Việt,

vai trò này lại phải nhường cho các phương tiện từ vựng

b Giá trị về thực tiễn:

Là giáo viên dạy tiếng Pháp, chúng tôi nhận thấy rằng học sinh khi giao tiếp thường quan tâm đến nội dung thông tin được truyền đạt mà nhiều khi bỏ quên yếu tố quan điểm, thái độ của người nói trước thông tin ấy Hiện tượng này xuất phát từ việc các em ít được học các kiến thức về tình thái và các phương tiện biểu đạt tình thái Vậy thì người giáo viên lại càng phải nắm vững những kiến thức này để kịp thời trang bị cho học sinh, giúp các em tự tin và thành công hơn trong giao tiếp bằng ngoại ngữ nói chung, bằng tiếng Pháp nói riêng Chính vì vậy, qua nghiên cứu của luận văn, chúng tôi còn mong muốn những kiến thức thu được sẽ giúp ích cho công tác giảng dạy tiếng Việt và tiếng Pháp, công tác biên soạn giáo trình Ngoài

ra, nó còn hữu ích cho hoạt động dịch thuật Pháp - Việt và Việt - Pháp bởi người dịch luôn phải nắm bắt được thái độ của các chủ ngôn trước các sự kiện đặng có thể tìm cách chuyển dịch sang thứ tiếng khác sao cho phù hợp nhất

II Lịch sử vấn đề

Trong các thập niên trước đây, các nhà ngôn ngữ học quan tâm nhiều đến ngôn ngữ ở phương diện cấu trúc tĩnh, họ chỉ chú ý đến hình thức mà

Trang 9

những sự kiện lời nói Gần đây, các nhà ngôn ngữ học đã và đang có những nghiên cứu nhằm bổ khuyết những thiếu sót đó Có thể nói, chưa bao giờ vấn đề ngữ nghĩa, ngữ dụng lại lôi kéo sự chú ý của giới ngôn ngữ học như hiện nay Nghiên cứu những hiện tượng tình thái và các phương tiện biểu hiện chúng chính là nằm trong xu hướng chung này

ở Việt Nam, bắt đầu từ Cao Xuân Hạo với cuốn sách Tiếng Việt -

Sơ thảo ngữ pháp chức năng, Quyển 1 (1991), một số nhà Việt ngữ học

cũng chọn con đường đi mới mẻ này để nghiên cứu Tuy nhiên, hiện vẫn có chưa nhiều các công trình chuyên sâu về ngữ nghĩa, tình thái, đặc biệt là các công trình nghiên cứu so sánh đối chiếu giữa các ngôn ngữ, nhất là giữa các ngôn ngữ khác xa nhau về loại hình

Xét riêng về các công trình so sánh đối chiếu hai ngôn ngữ, trong những năm gần đầy, đã có một số công trình nghiên cứu về tình thái nhận thức trong tiếng Anh và tiếng Việt Đó là Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Cẩm Thanh khảo sát các phương tiện từ vựng, ngữ pháp biểu thị tình thái không thực hữu; là Luận án Tiến sĩ của Ngũ Thiện Hùng tìm hiểu các phương tiện từ vựng, ngữ pháp biểu đạt tính tình thái nhận thức, Luận án Tiến sĩ của Phạm Thị Ly nghiên cứu thức trong tiếng Anh và các tiểu từ tình thái trong tiếng Việt

Về tiếng Pháp, các công trình nghiên cứu tình thái còn thưa thớt hơn Hiện chúng tôi mới biết đến Luận án Tiến sĩ của Trần Thị Mỹ đi sâu tìm hiểu các yếu tố biểu thị tình thái nhận thức trong câu tiếng Pháp, có so sánh với tiếng Việt

Có thể thấy rằng hướng nghiên cứu về tình thái nói chung trong sự so sánh với hai thứ tiếng là một hướng đi với nhiều cái mới để khám phá, nhưng cũng chính vì thế mà lại đặt ra nhiều thử thách cần phải vượt qua Công trình của chúng tôi, bên cạnh việc nghiên cứu ý nghĩa tình thái nhận

Trang 10

thức, còn phải tìm hiểu về tình thái căn bản Đây chính là thử thách mà chúng tôi đặt ra trong luận văn của mình

III Phạm vi nghiên cứu

Trong khuôn khổ một luận văn cao học, chúng tôi không có điều

kiện khảo sát chi tiết đầy đủ các phương tiện biểu thị phạm trù có thể trong

tình thái nhận thức và tình thái căn bản Công trình của chúng tôi chỉ dừng lại ở giới hạn "bước đầu khảo sát" mà thôi Bên cạnh đó, do điều kiện làm việc cụ thể (là một giáo viên tiếng Pháp) chúng tôi chú trọng nhiều đến việc khảo sát các phương tiện bằng tiếng Pháp hơn là các phương tiện bằng tiếng Việt Các phương tiện bằng tiếng Việt chỉ được đưa ra trong sự so sánh với các phương tiện bằng tiếng Pháp

IV Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu

1 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đầu tiên, luận văn tìm hiểu những vấn đề lí thuyết chung về tình thái,

về tình thái nhận thức, tình thái căn bản, đặc biệt về phạm trù "có thể" trong

hai loại tình thái trên Trên cơ sở những lí thuyết chung đó, luận văn tìm hiểu một số phương tiện biểu đạt phạm trù "có thể" trong tiếng Pháp, có so sánh với tiếng Việt Từ đó, luận văn có một số phân tích ứng dụng trong dịch thuật và dạy học tiếng Pháp, đặc biệt trong việc xử lí những trường hợp mơ hồ tình thái có liên quan đến phạm trù "có thể"

2 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết những nhiệm vụ trên, luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:

a Phương pháp chung: diễn dịch và quy nạp

Trang 11

+ Diễn dịch: xuất phát từ một phạm trù ngữ nghĩa chung thuộc tình thái nhận thức và tình thái căn bản để đi đến phân tích hiện tượng cụ thể là các cách biểu đạt phạm trù "có thể"

+ Quy nạp: từ những biểu hiện cụ thể trong tiếng Pháp (có so sánh với tiếng Việt), xây dựng các mô hình, cấu trúc và tiến hành các thao tác phân loại, đối chiếu

b Phương pháp đặc thù: so sánh đối chiếu

Do đối tượng nghiên cứu liên quan đến cả hai thứ tiếng nên cần sử dụng phương pháp này để rút ra các nét tương đồng và dị biệt về cách thể hiện phạm trù "có thể"

c Các thủ pháp ngôn ngữ học: những thủ pháp ngôn ngữ học quen

thuộc như khúc giải, miêu tả, phân tích ngữ cảnh cũng sẽ được vận dụng một cách linh hoạt để làm sáng rõ nội dung của các hiện tượng ngôn ngữ

V Bố cục luận văn

Ngoài phần Mở đầu (5 trang), Kết luận (3 trang), luận văn được

chia thành ba chương như sau:

+ Chương 1: Xác định cách hiểu phạm trù "có thể"với tư cách là một nội dung của tình thái nhận thức và tình thái căn bản cùng các vấn đề liên quan

+ Chương 2: Các phương tiện biểu thị phạm trù "có thể" trong tiếng

Pháp và các cách biểu đạt tương ứng trong tiếng Việt

+ Chương 3: Một số ứng dụng vào giảng dạy tiếng Pháp

Bên cạnh đó, luận văn cũng cung cấp một danh mục Tài liệu tham khảo gồm 67 đơn vị, một danh mục Nguồn tư liệu trích dẫn gồm 54 đơn

vị và ba Phụ lục gồm 34 trang

Trang 12

Chương 1

Xác định cách hiểu phạm trù "có thể" với tư cách là một nội

dung của tình thái nhận thức và tình thái căn bản cùng các vấn đề liên quan

1.1 Phân biệt tình thái và nội dung mệnh đề

Tình thái và nội dung mệnh đề là hai thành phần cơ bản trong cấu trúc ngữ nghĩa của phát ngôn Sự đối lập giữa hai thành phần này là một trong những đối lập cơ bản, làm cơ sở cho lý thuyết tình thái và được thừa nhận rộng rãi trong ngôn ngữ học Vậy tình thái và nội dung mệnh đề là gì?

Trong ngôn ngữ học, có lẽ Charles Bally được coi là người đầu tiên chủ trưong phân biệt hai thành phần này Theo ông, trong câu có hai yếu tố

cần được phân biệt là dictum và modus Dictum là bộ phận biểu hiện một nội dung sự tình ở dạng tiềm năng nào đó Do đó, dictum tương ứng với chức năng thông tin, miêu tả, giao tiếp của ngôn ngữ Trong lúc đó, modus

lại hướng đến sự phân tích, mổ xẻ về mặt tâm lí, thể hiện những nhân tố thuộc phạm vi cảm xúc, ý chí, thái độ, sự đánh giá của người nói đối với điều được nói ra, xét trong mối quan hệ với thực tế, với người đối thoại và

với hoàn cảnh giao tiếp Modus tham gia vào quá trình thực tại hóa, biến

nội dung sự tình còn ở dạng tiềm năng thành phát ngôn hiện thực Nó cho biết, chẳng hạn, sự tình nêu trong phát ngôn là khả năng hay hiện thực, khẳng định hay phủ định, mức độ cam kết của người nói đối với độ tin cậy của thông tin đến đâu, sự đánh giá, tình cảm, ý chí, mong muốn, ý đồ của người nói khi phát ngôn là thế nào v.v Xét các phát ngôn sau:

(1a) An đi du học nước ngoài

(1b) An không đi du học nước ngoài

(1c) Nghe đâu An đi du học nước ngoài

(1d) Có lẽ An đi du học nước ngoài rồi

Trang 13

(1e) Té ra là An đi du học nước ngoài

(1g) Làm như thể An đi du học nước ngoài ấy!

(1h) Mừng một cái là An lại đi du học nước ngoài

Các phát ngôn trên đây đều có chung một nội dung mệnh đề là nói về việc An đi du học nước ngoài Nhưng các phát ngôn này lại không giống nhau về các khía cạnh của tình thái Nếu như phát ngôn (1a) khẳng định việc An đi du học nước ngoài là có thật, là chính xác, thì phát ngôn (1b) lại phủ nhận điều đó, tức đối với người nói, An chắc chắn không đi du học ở nước ngoài ở phát ngôn (1c), (1d), người nói lại không khẳng đinh hay phủ định hoàn toàn sự tình trên, mà chỉ "dám" đưa ra một lời đoán định không chắc chắn, hoặc là dựa trên sự suy lí của bản thân (phát ngôn 1d), hoặc là dựa trên tin đồn (phát ngôn 1c) Như vậy, sự tình được truyền đạt là có thể đúng, có thể sai và người nói không đảm bảo về tính chân thực của nó Phát ngôn (1e) cho thấy người nói nghĩ là sự tình này đã xảy ra, đã là hiện thực, chỉ có điều bây giờ anh ta mới biết, mới vỡ lẽ Phát ngôn (1g), cũng giống (1b) ở chỗ người nói quả quyết rằng An không đi du học, nhưng sự quả quyết này dường như không trung tính như (1b), mà còn kèm theo sự đánh giá của người nói Phát ngôn (1h) biểu thị sự đánh giá tích cực của người nói đối với một sự tình hiện thực, xem đó là một điều đáng mong muốn

Hai thành phần dictum và modus trong cấu trúc ngữ nghĩa của phát

ngôn còn được quan tâm bởi nhiều nhà ngôn ngữ học khác Palmer phân biệt trong câu "những yếu tố biểu thị tình thái và những yếu tố biểu thị mệnh đề" Còn theo Searle, sự phân biệt giữa nội dung mệnh đề và tình thái rất gần gũi với sự khác biệt giữa hành vi tạo lời và hành vi tại lời Cao

Xuân Hạo cho rằng, dictum là một tập hợp gồm sở thuyết (vị ngữ lô gích)

và các tham tố của nó, được xem xét như một mối liên hệ tiềm năng, còn

modus là cách thực hiện mối liên hệ ấy, cho biết mối liên hệ ấy là có thật

(hiện thực) hay là không có thật (phủ định nó, coi nó là phi hiện thực), là tất

Trang 14

yếu hay là không tất yếu, là có thể hay là không thể có được Ch.Bally nhận

thấy rằng modus là thành phần luôn có mặt trong câu, có thể hòa trộn với

nội dung mệnh đề, và trong một số trường hợp là không được đánh dấu

(unmarked) Chẳng hạn Trời mưa trên thực tế là tương ứng với khúc giải :

(Tôi nhận thấy là) trời mưa

Hai thành phần này còn được gọi tên bằng những thuật ngữ khác

nhau, tùy theo từng tác giả Ngoài modus / dictum, người ta còn thấy các

cặp thuật ngữ khác như tình thái / ngôn liệu, tình thái / cơ sở mệnh đề, tình thái / mệnh đề, tình thái / propo Chúng ta có thể tìm hiểu kĩ hơn quan niệm của một số tác giả trong việc lựa chọn các cặp thuật ngữ như vậy

Theo Fillmore (1968, tr 23 Dẫn theo 9:15), cấu trúc nghĩa của câu

bao gồm hai thành phần: "mệnh đề" đối lập với "tình thái" Mệnh đề được

hiểu như là tập hợp những quan hệ có tính phi thời (tenseless) giữa các động từ và danh từ, còn tình thái gồm các loại ý nghĩa có liên quan đến toàn

bộ câu (the sentence - as - a - whole) như phủ định, thì, thức và thể Công

thức Câu = tình thái + mệnh đề được thể hiện như sau: S = M + P

Culioli không dùng thuật ngữ "mệnh đề" (proposition), bởi theo ông, thuật ngữ này khiến người ta băn khoăn, không biết nên hiểu nó theo nghĩa

lô gích hay theo một nghĩa nào khác Thêm nữa, thuật ngữ mode / mood

(thức) có thể được hiểu theo nghĩa rất hẹp, chỉ như là một phạm trù ngữ pháp gắn với động từ trong những ngôn ngữ biến hình Trong khi đó, tình

thái không chỉ được thể hiện bằng thức và không đồng nhất với thức theo

nghĩa hẹp, mặc dù trong ngôn ngữ học, cũng có những tác giả gắn tình thái

với phạm trù thức của động từ, chẳng hạn như thức subjonctif - một cách

thức biểu thị sự không chắc chắn Chính vì vậy, Culioli chọn thuật ngữ

ngôn liệu (lexis) với mục đích nhấn mạnh tính chất nguyên liệu, tiềm tàng,

phi tình thái, chưa có tư cách là một phát ngôn về một sự tình nào đó Về

thực chất, ngôn liệu tương đương với dictum của Ch Bally Như vậy, với

Trang 15

Culioli, sự đối lập giữa hai thành phần nội dung cơ bản trong câu là sự phân biệt giữa tình thái và ngôn liệu

Cặp thuật ngữ propo (viết tắt của proposition) và tình thái được

Pottier chọn dùng cũng với tinh thần như vậy

Theo quan sát của chúng tôi, trong số các thuật ngữ được sử dụng, cặp thuật ngữ tình thái / nội dung mệnh đề là phổ biến và hợp lí hơn cả

Không nghi ngờ gì nữa, đó là vì thuật ngữ tình thái tỏ ra bao quát hơn và quen thuộc hơn các thuật ngữ khác Còn thuật ngữ nội dung mệnh đề , một

mặt cho thấy tính tiềm năng của sự tình được biểu hiện, mặt khác lại không hoàn toàn trùng với cách hiểu của lô gich học Cặp thuật ngữ này cũng tạo

điều kiện cho việc cấu tạo các thuật ngữ khác như khung tình thái (theo cái

nghĩa, trong câu có thể có nhiều yếu tố tham gia biểu thị tình thái, cùng tương tác với nội dung mệnh đề), nội dung mệnh đề của hành vi ngôn ngữ

v.v

Như vậy, khái niệm tình thái được định nghĩa xuất phát từ sự đối lập giữa hai thành phần cơ bản trong cấu trúc ngữ nghĩa của câu (là tình thái và nội dung mệnh đề) Đây là một phạm trù rất cơ bản, có mặt trong tất cả các ngôn ngữ và hiện diện ở mọi câu nói Về vai trò của nó trong câu, đã có một cách diễn đạt rất chính xác và sinh động “Tình thái là linh hồn của câu nói” (Ch Bally, dẫn theo 28) Tuy nhiên, khái niệm tình thái là một khái niệm rất phức tạp, trong những mục tiếp theo, chúng tôi sẽ tiếp tục làm rõ nội hàm của khái niệm này Theo đó, tình thái của câu nói được chia ra thành hai phạm trù lớn, đó là tình thái của hành động phát ngôn (về cơ bản, thuộc về dụng học) và tình thái của lời phát ngôn (về cơ bản, thuộc nghĩa học)

1.2 Tình thái của hành động phát ngôn và tình thái của lời

phát ngôn

Trang 16

1.2.1 Tình thái của hành động phát ngôn

Tình thái của hành động phát ngôn (modalité d'énonciation) liên

quan đến chủ thể của hành động phát ngôn, thể hiện thái độ tường thuật của chủ thể trong mối quan hệ với người nghe (57: 580) Tình thái này được thể hiện bằng nhiều kiểu câu: trần thuật (khẳng định hoặc phủ đinh), nghi vấn, cầu khiến, cảm thán Chẳng hạn cùng một nội dung sự việc (việc Mai đến), có thể có các kiểu tình thái khác nhau được thể hiện bằng những kiểu

câu khác nhau: khẳng định (Mai đến.), phủ định (Mai không đến), cầu khiến (Đến đi Mai!), nghi vấn (Mai đến phải không?)

1.2.2 Tình thái của lời phát ngôn

Tình thái của lời phát ngôn (modalité d'énoncé) cũng liên quan đến

chủ thể của hành động phát ngôn, nhưng là sự thể hiện thái độ của người nói đối với nội dung phát ngôn (kiểu tình thái này thực hiện chức năng biểu

cảm (fonction expressive) trong số sáu chức năng của lời nói (fonctions du

langage) mà Jakobson phân biệt) Nó thể hiện cách người phát ngôn đánh

giá khả năng chân thực của nội dung phát ngôn Bên cạnh những đánh giá

của lô gich học cổ điển - giới hạn ở tính chân thực (la vérité), tính có thể (la

possibilité), tính cần thiết (la nécessité) và ngược lại - còn có nhiều kiểu

đánh giá khác: mệnh đề phát ngôn có thể là chắc chắn (certaine), bắt buộc (obligatoire), cho phép (permis), hoặc là được đánh giá từ góc độ tình cảm:

có ích (utile), sung sướng (heureuse), dễ chịu, thoải mái (agréable), mong muốn (souhaitable) Theo cách hiểu như vậy, nói đến tình thái cũng là nói

đến tính chủ quan trong phát ngôn

Theo C Kerbrat - Orecchioni (50:120), tính chủ quan (la

subjectivité) được chia ra làm hai mặt:

+ Khía cạnh tình cảm (l'affectif): liên quan đến tất cả các cách biểu

đạt tình cảm của người nói

Trang 17

+ Khía cạnh đánh giá (l'évaluatif): tương ứng với tất cả các kiểu đánh giá, nhận định của người nói Sự đánh giá theo cái tốt (le bon), cái xấu (le

mauvais) (thuộc về đạo nghĩa: axiologique) và sự đánh giá theo cái đúng

(le vrai), cái sai (le faux) và cái không chắc chắn (l'incertain) (thuộc về

nhận thức: épistémique)

D Maingueneau (55:112) chỉ ra rằng tình thái của lời phát ngôn không liên quan đến mối quan hệ giữa người nói và người nghe, mà đặc trưng cho cách thức mà người nói đặt phát ngôn trong sự so sánh với cái đúng, cái sai, cái khả năng, cái chắc chắn, hoặc so với những đánh giá như điều sung sướng, điều buồn bã

Trong cuốn Tiếng Việt - sơ thảo ngữ pháp chức năng, quyển 1 , Cao

Xuân Hạo cũng đề cập đến tình thái của lời phát ngôn khi nói rằng cấp độ tình thái này liên quan đến thái độ của người nói đối với điều được nói ra Tác giả còn nói thêm, trong câu trần thuật, tình thái được phân ra thành hai

loại: a) Tình thái của câu nói (modalité de la phrase): phản ánh thái độ của người nói đối với điều mình nói ra Và b) Tình thái của cấu trúc vị ngữ hạt

nhân (modalité de la prédiction): phản ánh những dạng thức thể hiện của

hành động, quá trình, trạng thái hay tình cảm do phần thuyết hay vị ngữ biểu thị

Đề tài của chúng tôi không đi sâu nghiên cứu cấp độ tình thái của hành động phát ngôn (vốn là địa hạt riêng của dụng học), mà tập trung vào tình thái của lời phát ngôn bằng cách tiếp tục phân biệt trong cấp độ này hai loại tình thái khách quan và tình thái chủ quan, tức chủ yếu dừng lại trên địa hạt nghĩa học và cú pháp

1.3 Tình thái khách quan và tình thái chủ quan

1.3.1 Tình thái khách quan

Trang 18

Các nhà ngôn ngữ học trong và ngoài nước đều có chung quan điểm coi đây là phạm trù tình thái thể hiện những mối quan hệ giữa nội dung được miêu tả trong phát ngôn với hiện thực cuộc sống

Con người nhận thức về thế giới khách quan thông qua các phán đoán Mỗi đối tượng trong thế giới khách quan đều có những thuộc tính nhất định Chúng ta nhận thức được rằng đối tượng S có thuộc tính P khi nghĩ rằng "S thì P" Và khi nhận thức ấy được thể hiện ra bằng ngôn từ thì

nó sẽ là, chẳng hạn, "Con đường này rộng" hay "Cái bút này không viết được" Đó là những phán đoán Trong lô gích, người ta thường quan tâm tới giá trị chân lí của các phán đoán, tới mức độ phù hợp của phán đoán với thực tế Từ đó, các phán đoán được phân loại thành ba nhóm lớn: khả năng,

tất yếu và hiện thực Phán đoán khả năng phản ánh xác suất có mặt hay

vắng mặt của một đặc trưng nào đó ở đối tượng (tức là đối tượng có thể mang đặc trưng đó ít nhất là trong một thế giới khả năng (possible world)

nào đó), khi đó cấu trúc của phán đoán là S có lẽ là P (Hôm nay có lẽ là

trời nắng to) Phán đoán tất yếu thể hiện những nội dung nhận thức mà đặc

trưng nêu ở vị từ có ở đối tượng trong mọi điều kiện (đối tượng mang đặc

trưng được nêu trong mọi thê giới khả năng): S tất yếu là P (Trái đất tất

nhiên quay quanh mặt trời) Còn phán đoán hiện thực thì xác nhận sự có

mặt hay vắng mặt của đặc trưng nào đó ở đối tượng như là một hiện thực

(Ngày mai là mồng 1 Tết) Trong lô gic học, các phán đoán có thể được

phân loại theo các tiêu chí khác nhau, cách phân loại phán đoán trên đây là dựa theo các tham số tình thái (hay là theo mức độ nhận thức) Trong lô gích học truyền thống, khái niệm tình thái, hay modus, được sử dụng từ rất lâu, gắn với sự phân loại các phán đoán, các mệnh đề lô gích dựa trên những đặc trưng cơ bản của mối liên hệ giữa hai thành phần chủ từ và vị từ Như vậy, đúng như nhiều nhà ngôn ngữ học đã nhận xét, khái niệm tình thái của lô gích chỉ nhằm vào một số kiểu quan hệ chung nhất của phán

Trang 19

một đặc trưng nội tại của bản thân cấu trúc chủ từ - vị từ lô gích Tình thái, hiểu theo nghĩa như vậy, tách khỏi những nhân tố thuộc về thái độ, tình cảm, đánh giá, mục đích, nhu cầu, ý chí của con người nói chung và của từng chủ thể phát ngôn nói riêng Người ta gọi tình thái của lô gích là tình thái khách quan chính là vì lí do như vậy

1.3.2 Tình thái chủ quan

Đối lập với tình thái khách quan là tình thái chủ quan, là loại tình thái được ngôn ngữ học quan tâm và coi đó là một bộ phận thuộc nội dung ngữ nghĩa của câu

Tình thái là một phạm trù cơ bản của ngôn ngữ, tập hợp những hiện tượng ngữ nghĩa - chức năng mà đặc trưng của chúng là thể hiện không chỉ những mối quan hệ giữa nội dung được miêu tả trong phát ngôn với hiện thực cuộc sống (là đặc trưng của tình thái khách quan, như đã nói ở trên)

mà còn thể hiện những thái độ, quan điểm đánh giá của người nói đối với nội dung miêu tả trong câu Đặc trưng này chính là thuộc về tình thái chủ quan

Nhiều nhà ngôn ngữ học đã đưa ra các định nghĩa về tình thái nói chung và tình thái chủ quan nói riêng Vinogradov (1977) cho rằng tính tình thái được xác lập theo quan điểm của người nói, nhưng quan điểm đó lại được xác định bởi vị trí của người nói vào thời điểm phát ngôn đối với người đối thoại và với cái phân đoạn thực tế được phản ánh, được thể hiện trong câu

Phạm trù tính tình thái phản ánh mối quan hệ của người nói đối với nội dung phát ngôn và nội dung phát ngôn đối với thực tế Đó là cách định nghĩa của Gak (1986)

Benveniste không đưa ra một lời định nghĩa cụ thể về tính tình thái, nhưng theo các nhận xét của ông, có thể hiểu phạm trù này gắn với những chờ đợi, mong muốn, đánh giá, thái độ của người nói đối với nội dung phát

Trang 20

ngôn, với người đối thoại, với những kiểu mục đích phát ngôn và được thể hiện bằng nhiều loại phương tiện (1966)

Liapol (1990) thì định nghĩa tình thái là phạm trù ngữ nghĩa chức năng thể hiện các dạng quan hệ khác nhau của phát ngôn với thực tế cũng như các dạng đánh giá chủ quan khác nhau đối với điều được thông báo

Theo Lyons (1977), tình thái là thái độ của người nói đối với nội dung mệnh đề mà câu biểu thị hay cái sự tình mà mệnh đề đó miêu tả

J.Gardes-Tamine, M-A Pelliza (1998) cũng đưa ra quan điểm của mình về phạm trù này khi nói rằng tình thái là phạm trù đánh dấu thái độ của người nói đối với phát ngôn và đối với hành động phát ngôn của anh ta

Khái niệm tình thái trong quan điểm của Palmer (1986) là thông tin ngữ nghĩa của câu, nó thể hiện thái độ hoặc ý kiến của người nói đối với điều được nói đến trong câu

Còn Bybee lại hiểu tình thái theo một nghĩa rộng hơn, là tất cả những

gì mà người nói thực hiện cùng với toàn bộ nội dung mệnh đề

ở Việt Nam, các nhà ngôn ngữ học cũng đã có sự quan tâm đến phạm trù này Cao Xuân Hạo (10:50), khi so sánh với tình thái trong lô gích học, cho rằng "các tình thái của phát ngôn làm thành một bảng màu cực kỳ đa dạng, trong đó phần lớn đều có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến tính hiện thực, tính tất yếu và tính khả năng, nhưng dưới nhiều sắc thái khác nhau và có nhiều cách biểu hiện khác nhau"

Hoàng Trọng Phiến (20:30), đề nghị một cách hiểu về tính tình thái như là một phạm trù ngữ pháp của câu "Nó có tác dụng thông báo một điều

gì mới mẻ Qua câu người nhận hiểu rõ người nói có thái độ như thế nào đối với hiện thực, người nói trình bày hiện thực với sự đánh giá của mình"

Hoàng Tuệ (28:742) lại gắn tình thái với sự phân tích về mặt ngữ nghĩa của câu, "sự phân tích theo cách nhìn tìm đến thái độ của người nói

Trang 21

trong hoạt động phát ngôn, tức cũng là tìm đến tác động ngữ dụng, tác

động mà người nói muốn tạo ra ở người nghe trong thực tiễn hoạt động ngôn ngữ"

Đỗ Hữu Châu (2) cũng từ góc độ dụng học mà nói rằng "tình thái bao gồm toàn bộ những ý nghĩa thuộc phạm vi dụng học và hợp lại thành thông điệp bộc lộ kèm lõi P của câu"

Theo định nghĩa của Từ điển Giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học (34:296), tính tình thái được hiểu là Phạm trù ngữ pháp - ngữ nghĩa biểu

thị quan hệ của người nói với phát ngôn và quan hệ của nội dung phát ngôn với hiện thực khách quan

Dựa theo các định nghĩa trên đây, chúng ta có thể nhận thấy rằng khái niệm tình thái trong ngôn ngữ học luôn gắn với con người, với chủ thể phát ngôn, mà cụ thể ở đây là thái độ, tình cảm của người đó trong mối quan hệ với nội dung được thông báo trong câu và với thực tế Đây chính là điều phân biệt tình thái trong ngôn ngữ, hay còn gọi là tình thái chủ quan, với tình thái khách quan trong lô gich học

Đến đây, có thể tổng hợp lại các cách phân loại các ý nghĩa tình thái khác nhau:

* 3 loại ý nghĩa tình thái của Lyons:

- Tình thái tất suy (tất yếu và khả năng theo lôgích)

- Tình thái nhận thức

- Tình thái đạo nghĩa

* 4 thái của Von Wright:

- Thái khách quan lô gích (alethic modes), hay thái chân thực

- Thái nhận thức (epistemic modes) hay thái của sự hiểu biết

- Thái đạo nghĩa (deontic modes), hay thái của sự bắt buộc

- Thái tồn tại (existential modes), hay thái của sự hiện hữu

* 3 loại tình thái theo quan điểm của J.G Tamine và M.A Pelliza:

Trang 22

- Tình thái lô gích: được chia ra làm ba loại nhỏ:

+ Tình thái chân thực lô gích (modalités alétiques)

+ Tình thái nhận thức (modalités épistémiques)

+ Tình thái đạo nghĩa (modalités déontiques)

- Tình thái tình cảm (modalités affectives)

- Tình thái ngôn ngữ (modalités linguistiques)

* 3 loại tình thái theo quan điểm của Paul Laurendeau:

- Tình thái khách quan: bao gồm tình thái ontique, và tình thái chân

* 4 loại tình thái theo quan điểm của Antoine Culioli:

- Tình thái loại 1, được gọi là "xác nhận" (assertive): liên quan đến giá trị của sự thật

- Tình thái loại 2, được gọi là "nhận thức" (épistémique) (gồm tình thái chân thực khách quan và tình thái nhận thức): liên quan đến cái được coi là ít nhiều chắc chắn, thuộc phạm trù của khả năng

- Tình thái loại 3, được gọi là "căn bản" (radicale): bao gồm quyền sở hữu (propriétés), ý chí, mong muốn (volonté) của chủ thể hành động phát ngôn trong phát ngôn, gồm áp lực, yêu cầu của chủ thể phát ngôn dành cho chủ thể hành động trong phát ngôn, gồm sự cho phép - tức thuộc về đạo nghĩa

* Sơ đồ các loại ý nghĩa tình thái của Gak:

Tình thái Chân thực lô gích nhận thức đạo nghĩa

(aletique)

Trang 23

có thể có tính xác suất cho phép

không thể bị gạt bỏ cấm đoán

Những cách phân loại trên đây phần lớn đều có đặc điểm chung là phân biệt tình thái nhận thức và tình thái đạo nghĩa Hai loại tình thái này được coi là hai phạm trù cơ bản của tình thái chủ quan Luận văn của chúng tôi dựa trên một sự phân biệt khác hơn một chút, đó là sự phân biệt giữa tình thái nhận thức (modalités épistémiques) và tình thái căn bản (modalités radicales) Như đã đề cập trên đây, Antoine Culioli phân chia tình thái ra thành bốn loại, trong đó cũng có sự đối lập giữa tình thái loại 2 - tình thái nhận thức và tình thái loại 3 - tình thái căn bản Có thể nói đây là cách phân biệt chung nhất và có lẽ là sự đối lập được chấp nhận rộng rãi hiện nay Ngoài ra, sở dĩ chúng tôi chọn cách phân biệt này là vì sự đối lập giữa tình thái căn bản và tình thái nhận thức chính là nguyên nhân sinh ra sự mơ

hồ tình thái theo những phổ rất rộng, tức làm nảy sinh hai cách hiểu khác nhau trong phạm trù "có thể" (44: 88), mà nội dung của nó sẽ được chúng tôi đề cập đến ở phần tiếp theo

1.4 Tình thái căn bản (TTCB) và Tình thái nhận thức

(TTNT)

1.4.1 Tình thái căn bản

TTCB có thể được định nghĩa như là tình thái của hành động

(modalités de l'action) Cách gọi tình thái căn bản được sử dụng khá rộng

rãi từ khi Hofmann (1966) đề xuất sự phân biệt giữa thái căn bản (root

modals) và thái nhận thức (epistemic modals) Còn các cách gọi tình thái

đạo nghĩa, tình thái nhận thức và tình thái trạng huống thì được mượn của

Von Wright (1951)

TTCB được chia ra thành hai loại: một loại là tình thái đạo nghĩa và loại kia, theo cách gọi của Palmer (1979a) là tình thái trạng huống

Trang 24

Trong tình thái đạo nghĩa, có ba kiểu tình thái là bắt buộc, cấm đoán

và cho phép Tình thái đạo nghĩa "liên quan đến tính tất yếu hay tính khả năng của những hành động được thực hiện bởi những hoạt động có trách nhiệm về phương diện đạo đức" (Lyons, 1977) Ví dụ:

(2) Nó phải ở lại đây!, Cậu có thể mượn xe của tớ nếu cậu muốn

Như vậy, tình thái đạo nghĩa thuộc phương diện đạo đức (morale), được đặc trưng bởi ý chí, ý muốn của người yêu cầu cho thực hiện hành động (Tôi yêu cầu nó phải ở lại, tôi cho phép cậu mượn xe của tôi) Còn tình thái trạng huống lại liên quan đến các yếu tố thuần túy thuộc về thế giới vật chất (physique) mà không có sự can thiệp của người yêu cầu thực hiện hành động, ví dụ như:

(3) Đường bị tắc và họ phải dừng lại ; Bây giờ họ có thể đi được rồi,

đường đã thông suốt (Việc đi lại của họ không do một ai khác quyết định,

mà chỉ phụ thuộc vào việc đường tắc hay thông mà thôi)

Theo Paul Larreya (53:101), ranh giới giữa hai phạm trù tình thái này không phải lúc nào cũng rõ nét và, những điểm giống nhau giữa chúng (đặc

biệt là sự có mặt yếu tố ý chí (volonté) của người thực hiện hành động được

yêu cầu) lại còn nhiều hơn những điểm khác nhau

Paul Larreya (53:104) cho rằng hệ thống TTCB dựa chủ yếu trên giá trị "Nhân quả và/hoặc ý muốn" (causation et/ou volition)

Chúng ta có thể định nghĩa "ý muốn" như là một vị ngữ (prédicat)

mang nghĩa của các động từ vouloir > muốn, désirer > ao ước, souhaiter > mong ước (trong tiếng Pháp) hay want > muốn, wish > mong ước (trong

tiếng Anh)v.v trong các câu kiểu như :

(4) Nam veut / désire / souhaite que Mai vienne > Nam muốn / ao ước / ước mong là Mai sẽ đến

Các động từ này có thể biểu hiện nhiều sắc thái đa dạng của ý muốn,

từ một thang độ thấp, ở mức độ khiêm tốn, dè dặt nhất là J'aimerais que >

Trang 25

như Je tiens absolument à ce que > tôi muốn được Và dường như mức

độ mạnh mẽ nhất của sự mong muốn này là gần với ý niệm "nhân quả" (causative)

Nhân quả là mối quan hệ được xác lập giữa hai sự kiện được biểu đạt trong hai mệnh đề Vị ngữ "nhân quả" chỉ mối quan hệ của hai mệnh đề, mệnh đề này là nguyên nhân của mệnh đề kia Nó có mặt trong kiểu câu có hai mệnh đề như:

(5) Le vent a fait tomber l'arbre > Gió làm đổ cây

Mối quan hệ nhân quả trong câu này được thiết lập bởi sự việc

nguyên nhân (fait causateur) là gió, và sự việc hậu quả (fait causé) là cây bị

đổ

Đối với "nhân quả", không như với "ý muốn", thật khó mà thiết lập các mức độ của nó Có thể nói rằng, nhân quả là một khái niệm có hai trạng thái là "thật" (vrai) hoặc "giả" (faux), còn ý muốn lại có rất nhiều trạng thái Điều đó còn bao hàm một điều là nghĩa của vị ngữ chỉ nhân quả là xác định, còn ý nghĩa của vị ngữ chỉ ý muốn có thể thay đổi (53: 81)

Khi nói về TTCB, Culioli không phân biệt thành hai phạm trù tình thái như trên, nhưng cũng có quan điểm tương tự Ông cho rằng TTCB bao gồm quyền sở hữu (les propriétés), ý chí, mong muốn (la volonté) của chủ thể hành động trong phát ngôn, gồm áp lực, yêu cầu của chủ thể phát ngôn dành cho chủ thể hành động trong phát ngôn, và gồm cả sự cho phép - tức thuộc về đạo nghĩa

1.4.2 Tình thái nhận thức

Đối lập với TTCB, TTNT là tình thái của sự hiểu biết (modalités de

la connaissance), nó cho biết tình trạng hiểu biết của người nói, đó là sự xác nhận, cũng như những đảm bảo, cam kết cá nhân của người nói đối với điều anh ta nói ra Lyons (1981) nói rằng TTNT là cách trình bày thế giới theo quan điểm ý kiến của người nói có liên quan đến hiện thực, nhưng đó là

Trang 26

hiện thực phụ thuộc vào những hiểu biết của người nói, thông qua những bằng chứng và suy luận cá nhân

Người ta chia TTNT thành ba loại: Tình thái thực hữu (modalité factive), tình thái không thực hữu (modalité non-factive) và tình thái phản thực hữu (modalité contre-factive) Tình thái thực hữu được đặc trưng bởi việc người nói cam kết vào tính hiện thực của sự tình được truyền đạt trong câu: Té ra nó mới học hết cấp II Trong câu chứa tình thái không thực hữu, người nói chỉ đưa ra nhận định chủ quan chứ không chắc chắn vào tính hiện

thực hay không hiện thực của sự việc được nêu: Hình như nó mới học hết

cấp II Còn tình thái phản thực hữu là loại tình thái mà ở đó người nói xác

quyết rằng sự tình được truyền đạt trong câu là không chân thực: Làm như thể nó mới học hết cấp II ấy ! Như vậy, cùng một sự tình là nó học hết cấp II, người nói đã thể hiện ba thái độ, ba quan điểm khác nhau trong các

ví dụ vừa nêu trên đây

Paul Larreya cho rằng "suy diễn" (inférence) giữ một vị trí trung tâm trong hệ thống TTNT (53:144), cũng giống như vị trí của "ý muốn" và

"nhân quả" trong hệ thống TTCB

Suy diễn là một thao tác trí tuệ, một sự phân tích về mặt tâm lý (opération mentale), có thể tồn tại độc lập với lời nói, và có thể được thực hiện trước thời điểm phát ngôn Giữa suy diễn và nhân quả tồn tại một mối liên hệ chặt chẽ:

(6) Le brouillard provoque le retard des trains > Sương mù làm cho tàu đến chậm

(7) Il fait brouillard, donc, les trains ont du retard > Trời có nhiều sương mù, vì vậy, tàu đến chậm

Câu (6) thể hiện mối quan hệ nhân quả (được biểu thị bằng động từ

provoque) Trong câu này, người nói biết rằng trời có nhiều sương mù là có

thật, rằng tàu đến chậm cũng có thật, và rằng có một mối liên hệ nhân quả

Trang 27

giữa hai sự việc này Còn câu (7) là một sự suy diễn (được biểu thị bằng từ

nối donc) (thực ra, tính chất của mối quan hệ giữa hai mệnh đề có thể được thay đổi tùy thuộc ngữ cảnh, nhưng ở đây chúng tôi chỉ coi donc biểu thị thuần túy ý suy diễn) Lúc này, người nói biết rằng trời có nhiều sương mù

là có thật, nhưng lại không biết rằng trên thực tế là tàu đến chậm Như vậy,

nhân quả và suy diễn khác nhau ở chỗ người nói biết hay không biết trước

về sự thật của hậu quả Trong câu (6) - chỉ quan hệ "nhân quả", người nói truyền đạt lại một cách khách quan sự tình mà anh ta biết rõ Ngược lại, trong "suy diễn" có sự đánh giá chủ quan của người nói, dựa trên thực tế tri nhận được mà đi đến quyết định có tính chất chủ quan của bản thân: trong

câu (7), donc > vì vậy tương đương với (có thể được khúc giải là) „từ đó

(từ việc trời nhiều sương mù), tôi kết luận rằng

1.5 Phạm trù "có thể" trong TTNT và TTCB

Phạm trù "có thể" là một phạm trù rất quan trọng của tình thái, nó có mặt trong cả TTNT và TTCB Khi thuộc TTNT, phạm trù này thể hiện sự không chắc chắn của người nói đối với điều mình nói ra

(8) Mais peut-être que D arrivera à savoir quelque chose (10 : 60) > Nhưng có thể là D sẽ biết được tin tức gì chăng (45 : 61)

ở đây, người nói không cam kết vào tính hiện thực hay không hiện thực của mệnh đề được nêu trong phát ngôn (D sẽ biết được tin tức gì đấy),

mà chỉ đưa ra sự đoán định của mình Phạm trù "có thể" trong TTNT chính

là nội dung của tình thái không thực hữu

P Charaudeau (41: 602) nói về độ biến thiên trong quan điểm của người nói (variantes à l'intérieur de l'opinion de l'énonciateur) như sau: ý kiến của người nói có thể chia thành hai thái độ: niềm tin (conviction) và sự giả định (supposition) Sự giả định cho thấy thái độ không hoàn toàn chắc chắn vào sự tình của phát ngôn Bởi vậy, người nói có thể diễn đạt quan

Trang 28

điểm của mình theo thang độ của sự chắc chắn Do đó, người ta cho rằng sự giả định biến thiên trên một trục đi từ độ chắc chắn cao (certitude forte) (nhưng không chắc chắn hoàn toàn) cho đến mức độ linh cảm (pressentiment)

- Độ chắc chắn cao (certitude forte): người nói thể hiện thái độ chắc

chắn dựa trên một lí lẽ nào đó: Je me doute qu'il ne viendra pas sans sa

femme > Tôi nghĩ là anh ấy sẽ không đến nếu như không có vợ đi cùng

- Độ chắc chắn trung bình (certitude moyenne): người nói đưa ra một

giả định mà không đảm bảo độ chắc chắn của nó: Je crois qu'il viendra,

mais n'en suis pas sỷr > Tôi nghĩ là anh ấy sẽ đến, nhưng tôi không chắc lắm

- Độ chắc chắn thấp (certitude faible): người nói nghi ngờ về độ chân

thực của sự tình: Je ne pense pas qu'on puisse venir à bout > Tôi không tin

là người ta có thể đi đến tận cùng sự việc

- Linh cảm (pressentiment): không thể dựa trên những lí lẽ rõ ràng, người nói biểu thị một cảm giác (sensation), một sự tri nhận bằng trực cảm

(connaissance intuitive) về một sự kiện: J'ai l'idée qu'il va se produire

quelque chose > Tôi có linh cảm sắp có chuyện gì đó xảy ra

Có thể nói, phạm trù "có thể" nằm trên vùng biến thiên từ độ chắc chắn trung bình đến linh cảm

Phạm trù "có thể" trong TTCB có thể diễn giải một cách khác, liên quan đến năng lực của chủ thể được nói đến và liên quan đến khía cạnh đạo nghĩa "Có thể" - nghĩa là người nói đánh giá rằng người nghe có đủ khả năng thực hiện hành động và cho rằng các điều kiện ngữ cảnh là thích hợp; thêm nữa, người nói cho người nghe quyền được thực hiện hành động (41: 585) Tóm lại, phạm trù "có thể" trong tình thái đạo nghĩa chính là sự cho phép

(9) Je vous donne la permission de sortir > Tôi cho phép anh ra

Trang 29

Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng rõ ràng, đơn giản khi tách bạch đâu là "có thể" của TTNT, đâu là "có thể" của TTCB Bởi Panfilov (1977, tr.37-38- dẫn theo 7:19) đã từng nói: "không có phạm trù nào mà bản chất ngôn ngữ học và thành phần các ý nghĩa bộ phận lại gây ra nhiều ý kiến khác biệt và đối lập nhau như phạm trù tình thái" Thật vậy, có những lúc, thật khó mà khẳng định rằng trong phát ngôn này, người nói cho phép người nghe thực hiện một hành động, trong phát ngôn kia thì người nói lại không dám chắc về điều mình nói ra ấy là khi ta rơi vào một hiện tượng phức tạp của tình thái: hiện tượng mơ hồ tình thái

1.6 Hiện tượng mơ hồ về tình thái

Như trên đã nói, bản thân khái niệm tình thái là rất phức tạp (xét theo khía cạnh các thành tố nội dung, quan điểm rộng hẹp khác nhau của người nghiên cứu) Sự phức tạp này còn tăng lên bởi hiện tượng mơ hồ về tình thái Hiện tượng này đặc biệt khiến người nghe gặp khó khăn trong việc xác định một cách hiểu đúng đắn nhất về nội dung phát ngôn, khi mà yếu tố tình thái có mặt, còn yếu tố ngữ cảnh lại không đủ rõ

Các tín hiệu ngôn ngữ (marques linguistiques) thường không đơn nghĩa, mà có thể mang nhiều nghĩa, tùy thuộc vào đặc trưng ngữ cảnh mà

tín hiệu được đặt vào Chẳng hạn, động từ vouloir > muốn có thể diễn đạt:

- một điều mong muốn: (10) Je veux partir > Tôi muốn đi

- một mệnh lệnh : (11) Je veux que tu partes! > Tao muốn mày đi đi!

- một ước ao: (12) Je voudrais tellement partir > Tôi ước được ra đi biết bao

- một lời đề nghị: (13) Veux-tu venir avec moi? > Em có muốn đi cùng anh không?

Tương tự, động từ devoir > phải cũng gặp phải tính đa nghĩa như

vậy khi nó thể hiện lúc thì một cưỡng bức chủ quan:

Trang 30

(14) Je dois l'aider, sinon il ne le fera pas tout seul.> Tôi phải giúp

nó, nếu không nó sẽ không làm được việc đó một mình

Lúc thì một cưỡng bức khách quan:

(15) Je dois partir à 5h, pour ne pas être en retard > Tôi phải đi lúc 5h để không bị muộn

Tính tất yếu trong câu (15) thuộc về lôgich đạo nghĩa Nhưng cũng

có lúc, tính tất yếu trong phát ngôn có chứa động từ devoir là một tất yếu

chủ quan, thể hiện một nhận thức chủ quan:

(16) Vu sa taille, il doit avoir 7 ans > Nhìn vóc dáng của cậu bé, (tôi đoán) chắc là nó phải 7 tuổi

P Charaudeau (41: 577) có nói rằng thật khó mà nhận biết loại tình thái nào được nói đến, bởi vì tình thái trong trường hợp này thuộc về phạm trù hàm ngôn, nó phụ thuộc vào cách diễn giải các yếu tố của tình huống

giao tiếp Tác giả cũng đã phân tích trường hợp C'est beau, có thể tương

ứng với hai cách diễn giải:

(17) Il est vrai que c'est beau > Thật sự là nó đẹp đấy

Câu này thuộc về tình thái thực hữu Hoặc là

(18) Je trouve, personnellement que c'est beau > Cá nhân tôi thấy là

nó đẹp

Trường hợp thứ hai này lại thuộc tình thái không thực hữu Theo tác

giả, c'est thiên về tính khách quan (objectivité) còn beau thiên về tính chủ

quan (subjectivité)

Khi nghiên cứu phạm trù "có thể" trong TTNT và TTCB, chúng tôi đã nhiều lần gặp phải hiện tượng mơ hồ về tình thái Hiện tượng

này thể hiện đặc biệt rõ nét qua động từ pouvoir - một động từ có thể biểu

đạt được cả hai phạm trù tình thái nói trên Lấy một phát ngôn ngoài ngữ

cảnh, chứa động từ pouvoir , chúng ta sẽ hình dung rõ hơn sự phức tạp này

Cho câu (19) như sau:

Trang 31

Câu này phức tạp là bởi lẽ nó chấp nhận nhiều cách hiểu khác nhau:

(19a) Le professeur permet à Pierre de chanter (permission) > Thầy giáo cho phép Pierre hát (động từ pouvoir thể hiện sự cho phép)

(19b) Les moyens mis à sa disposition permettent à Pierre de chanter

( possibilité) > Các điều kiện khách quan đầy đủ, sẵn sàng (loa, đài ) cho phép Pierre hát (pouvoir diễn đạt một khả năng do hoàn cảnh quy định)

(19c) Ses capacités physiques (sa santé, la qualité de sa voix )

permettent à Pierre de chanter (capacité) > Các khả năng nội tại của bản thân Pierre (sức khỏe, chất giọng, ) cho phép Pierre hát (pouvoir biểu thị

khả năng nội tại)

(19d) Pierre est peut-être en train de chanter (éventualité

épistémique) >Có thể là Pierre đang hát (pouvoir biểu đạt một tình huống

có thể xảy ra)

Các ý nghĩa "cho phép", "khả năng do hoàn cảnh chi phối", "khả

năng nội tại" và "tình huống có thể xảy ra" mà pouvoir biểu đạt trong các

cách hiểu (19a), (19b), (19c) và (19d) là các ý nghĩa tình thái thuộc phạm trù tình thái nào? Khi nào người nghe, người đọc có thể nói rằng trong

trường hợp này pouvoir biểu thị TTCB, trong trường hợp kia, pouvoi đánh

dấu TTNT? Theo C Fuchs (43:4), có bao nhiêu ý nghĩa gắn vào ngữ cảnh

thì có bấy nhiêu nghĩa khác nhau được gán cho đơn vị từ vựng pouvoir (

autant de significations différentes épinglées en contexte, autant de sens

étrangers les uns aux autres assignés à l'unité lexicale pouvoir.) Hiện tượng

phức tạp này đòi hỏi các nhà nghiên cứu phải tìm ra các tiêu chí giúp cho

việc phân biệt các ý nghĩa tình thái của động từ pouvoir

Trong tiếng Việt, cũng có một lớp từ mang tính đa nghĩa như có thể,

phải, nên, muốn, định Nguyễn Đức Dân (4:96) cũng đề cập đến hiện

tượng mơ hồ tình thái này khi nói rằng, lớp từ tình thái có tính đa nghĩa, vì thế, đã có nhiều giả thuyết khác nhau về lớp từ này: giả thuyết cú pháp, giả thuyết ngữ nghĩa và giả thuyết ngữ dụng

Trang 32

Giả thuyết cú pháp cho rằng lớp từ tình thái nhận thức có chức năng

cú pháp khác với lớp từ tình thái đạo nghĩa và cũng theo đó, lớp từ tình thái đạo nghĩa là cơ bản, Nhưng giả thuyết này không đủ sức giải thích nhiều hiện tượng tình thái khác nhau, do đó đã đẩy các nhà nghiên cứu tìm tới giả thuyết ngữ nghĩa về từ tình thái

Giả thuyết ngữ nghĩa cho rằng mỗi cách dùng tình thái có một cấu trúc ngữ nghĩa riêng biệt Trong hướng này, có các cách tiếp cận ngữ vi-ngữ nghĩa, cú pháp-ngữ nghĩa và lôgích- ngữ nghĩa Chẳng hạn, theo cách tiếp cận lôgích - ngữ nghĩa người ta chỉ ra con đường chuyển từ nghĩa tình thái lôgích sang nghĩa tình thái nhận thức

Giả thuyết ngữ vi cho rằng có sự tương ứng giữa các tình thái với các động từ ngữ vi Mỗi nghĩa của một từ tình thái ứng với một hành vi ngôn

ngữ cụ thể Chẳng hạn, có sự tương ứng giữa nghĩa cần phải (có bổn phận) với hành vi mệnh lệnh Trong khi đó, nếu dùng phải trong câu hỏi thì nó lại

là một tình thái nhận thức

Chúng tôi cho rằng các giả thuyết trên đây, phối hợp với nhau, đã góp phần làm sáng tỏ những phương diện của lớp từ tình thái trong ngôn ngữ Luận văn của chúng tôi cũng chính là một cố gắng trong định hướng này

1.7 Các phương tiện ngôn ngữ biểu đạt tình thái

1.7.1 Các phương tiện biểu đạt tình thái trong tiếng Pháp

Có hai cách phân loại các phương tiện như sau:

Cách phân loại 1:

* Các phương tiện hiển ngôn (moyens explicites)

Sở dĩ gọi là hiển ngôn là bởi vì phần đánh dấu tình thái trong phát ngôn được phân biệt rõ với nội dung mệnh đề (la modalité est distincte du dictum) Nói cách khác, tình thái và nội dung mệnh đề trong phát ngôn được biểu thị tách bạch thành hai phần:

Trang 33

modus dictum Theo ví dụ trên, ta thấy tình thái nằm ở đầu câu (Je crois), còn nội dung mệnh đề nằm ở cuối câu (il est malade) Đây là trường hợp có chủ

ngữ tình thái (sujet modal) là je

(21) Il faut que tu la comprennes > Anh cần phải hiểu cô ấy

Modus dictum

ở ví dụ (21), tình thái được biểu đạt ở dạng thức vô nhân xưng, không có chủ ngữ tình thái và cũng được phân biệt với nội dung mệnh đề

* Các phương tiện hàm ngôn (moyens implicites):

Lúc này, tình thái không tách bạch với nội dung mệnh đề mà dung hợp, đan xen theo một cách nào đó với các thành phần biểu thị nội dung mệnh đề (la modalité est incorporée au dictum), tuy nhiên vẫn có thể thấy rằng tình thái thường được đánh dấu bằng nhiều hình thức khác nhau, chẳng hạn, trong tiếng Pháp là:

- Trợ động từ tình thái: devoir, pouvoir, savoir, désirer, espérer

- Trạng từ tình thái: sans doute, peut-être, certainement

- Tính từ đánh giá: délicieux, vrai, faux

- Danh từ trong một số cấu trúc câu: donner un ordre, faire une suggestion,

avoir l'air

- Thức của động từ: impératif, indicatif, conditionnel, subjonctif

- Thì của động từ: imparfait, futur simple, présent

- Cấu trúc câu: chẳng hạn như Est-il si occupé?> Nó bận đến thế cơ à?

- Một vài kiểu ngữ điệu (châm biếm, tức giận )

- Các thán từ: hélas

Cách phân loại 2:

* Phương tiện ngữ âm: Trong tiếng Pháp, ngữ điệu cũng là một phương

tiện để thể hiện thái độ, tình cảm của người nói Ví dụ, câu nói Il est parti

sẽ là một lời khẳng định của người nói khi ngữ điệu đi xuống ở cuối câu:

Il est parti > Cậu ta đã đi rồi

Trang 34

Câu này sẽ thể hiện một sự nghi ngờ hoặc một điều không chắc chắn của người nói khi ngữ điệu của nó đi lên ở cuối câu:

Il est parti ? > Cậu ta đã đi rồi ư?

* Phương tiện ngữ pháp:

- Thức của động từ: bao gồm thức trực thái (indicatif), chỉ tình thái xác nhận, tình thái hiện thực, thức giả định (subjonctif), đánh dấu tình thái có khả năng xảy ra hoặc không, thức nguyên thể (infinitif), thức điều kiện (conditionnel), diễn đạt tình thái có khả năng xảy ra

- Thì của động từ: bao gồm thì quá khứ tiếp diễn (imparfait), thì tương lai đơn giản (futur simple), thì hiện tại Ví dụ, thì quá khứ tiếp diễn có thể diễn

(23) La reine se rendrait visite à Saigon > Có thể là hoàng hậu sẽ đi

sự đánh giá, nhận định về sự thực: avouer, prétendre Các động từ này

thường được dùng ở ngôi thứ nhất và kết hợp với thức trực thái hoặc thức

giả định trong các cấu trúc kiểu như: j'aime que, je pense que

(24) Moi, je crois qu'il ne l'ont pas reconnu (10: 138) > Tôi thì tôi tin

rằng là họ không nhận ra anh ấy đâu (45: 139)

Trang 35

(25) Il regardait ailleurs et semblait s'ennuyer des vers latins (14:

19) > Người nhìn đi chỗ khác, có vẻ ngán ngẩm (28: 18)

- Các trợ động từ tình thái: devoir, pouvoir, vouloir

(26) Il pourrait revenir avec les juifs (10: 74) > Anh ấy có thể trở về

cùng những người Do Thái (45: 75)

- Các trạng từ, trạng ngữ bổ nghĩa cho cả câu: évidemment, certainement,

peut-être, sans doute, à mon avis

(27) Il est peut-être mort (6: 133) > Có thể hắn đã chết (53: 132)

- Các tính từ: tính từ chỉ cảm xúc: drôle, effrayant , tính từ đánh giá (về đạo đức, thẩm mĩ): bon, beau , một số tính từ được dùng trong các cấu trúc vô nhân xưng: il est possible / nécessaire / utile que

(28) Il est évident que Christophe viendra > Hiển nhiên là

1.7.2 Các phương tiện biểu đạt tình thái trong tiếng Việt

Tiếng Việt dùng rất nhiều loại phương tiện để biểu thị tình thái Đúc kết những nghiên cứu đi trước, chúng tôi xin nêu ra những loại phương tiện như sau:

* Phương tiện ngữ âm: để thể hiện thái độ, tình cảm của mình, người nói có thể dùng ngữ điệu

Trang 36

* Phương tiện ngữ pháp: đảo trật tự từ, thay đổi cấu trúc câu để thể hiện ý định của người nói

* Phương tiện từ vựng

- Động từ tình thái: muốn, định, nỡ , dám

- Các động từ chỉ thái độ mệnh đề: gắn với cấu trúc câu phức, nằm trong

mệnh đề chính có chủ ngữ ở ngôi thứ nhất: tôi sợ (rằng) , tôi nghĩ (là), tôi

lo (rằng)

- Các động từ ngữ vi: yêu cầu, đề nghị, hỏi, hứa, mời

- Phụ từ: đã, sẽ, vẫn, cũng

- Thán từ: ôi, chà, chao

Tiếng Việt còn có một số phương tiện đặc trưng để biểu thị tình thái:

- Tiểu từ tình thái: thường đúng ở cuối câu, chuyên dùng để biểu thị thái độ

của người nói: à, ư, nhỉ, nhé, chăng, sao

- Quán ngữ tình thái: là những tổ hợp từ, những cách nói có cấu trúc tương

đối ổn định và được quen dùng: nghe đâu, gì thì gì, không biết chừng, phải

biết

- Một số tổ hợp từ như: huống hồ, có lẽ, hình như Các tổ hợp này về vị

trí và ý nghĩa giống như các quán ngữ tình thái, nhưng có tính thành ngữ thấp

1.7.3 Sự ảnh hưởng của các đặc điểm loại hình đến việc lựa chọn các phương tiện biểu hiện

Như chúng ta đã biết, tiếng Pháp và tiếng Việt là hai ngôn ngữ thuộc hai loại hình khác biệt Tiếng Pháp thuộc ngôn ngữ biến hình, còn tiếng Việt thuộc nhóm ngôn ngữ đơn lập Sự khác nhau này đương nhiên sẽ kéo theo sự không giống nhau trong việc lựa chọn các phương tiện ngôn ngữ để biểu thị một nội dung ngôn ngữ nào đó nói chung và để biểu thị tình thái nói riêng

Trang 37

Trong một ngôn ngữ biến tố như tiếng Pháp, khi xem xét các phương tiện ngôn ngữ biểu thị tình thái, các nhà nghiên cứu thường phân biệt rõ các phương tiện ngữ pháp và các phương tiện từ vựng Các phương tiện ngữ pháp được chú trọng hơn, trong đó thì và thức của động từ, các động từ tình thái là các phương tiện đắc lực để biểu thị tình thái

Ngoài các trạng từ đứng độc lập, bổ nghĩa cho cả câu (sans doute,

peut-être, probablement ), các loại từ khác (động từ, tính từ, danh từ) hầu

hết đều nằm trong các cấu trúc câu kết hợp với các loại thì, thức của động

xa lạ với các khái niệm thì và thức, do đó, không có các phương tiện biểu thị tình thái liên quan đến hai khái niệm này như trong tiếng Pháp Ngược lại, tiếng Việt có cho mình những phương tiện đặc thù, chủ yếu được sử dụng để biểu thị tình thái Đó là các phương tiện từ vựng nói chung và các tiểu từ tình thái, quán ngữ tình thái nói riêng

1.8 Tiểu kết

Tình thái là một phạm trù ngữ nghĩa cơ bản của tất cả các ngôn ngữ

và được nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu Tình thái, cùng với nội dung mệnh đề, làm thành hai thành phần cơ bản trong cấu trúc ngữ nghĩa của phát ngôn Phạm trù này được phân chia ra thành nhiều loại ý nghĩa, trong đó có một cách chia gần đây được chú ý nhiều, đó là phân biệt tình thái nhận thức với tình thái căn bản Chúng tôi đã chọn cách phân biệt

Trang 38

này làm cơ sở cho những nghiên cứu của mình là bởi vì phạm trù "có thể"

có mặt trong cả hai loại tình thái này trên một diện rất rộng Và cũng chính

vì lẽ đó mà phạm trù này đã gây ra hiện tượng mơ hồ tình thái, một vấn đề

mà chúng tôi mong muốn giải quyết ở một mức độ nào đó, mở đường cho những ứng dụng trong việc thiết kế giáo trình và giảng dạy tiếng Pháp cho người Việt

Phạm trù "có thể" được biểu đạt như thế nào trong tiếng Pháp, nó được phân biệt ra sao giữa TTNT và TTCB, nó có những biểu hiện tương ứng gì trong tiếng Việt? Đó là những vấn đề mà chúng tôi quan tâm khi nghiên cứu đề tài này Chúng sẽ là những vấn đề được chúng tôi tập trung khảo sát trong các chương tiếp theo

Trang 39

Chương 2

Các phương tiện biểu thị phạm trù "có thể" trong tiếng Pháp

và các cách biểu đạt tương ứng trong tiếng Việt

2.1 Về định hướng đối chiếu

Chúng tôi chủ trương lấy tiếng Pháp làm ngôn ngữ chính để khảo sát,

từ đó đối chiếu với tiếng Việt Vì thế, chúng tôi thu thập tư liệu từ các tác phẩm văn học viết bằng tiếng Pháp và các bản dịch các tác phẩm đó sang tiếng Việt Các tác phẩm tiếng Pháp được lựa chọn là các tác phẩm truyện ngắn, tiểu thuyết và cả những trích đoạn kịch, được viết ở thế kỉ 19, thế kỉ

20 Về các bản dịch sang tiếng Việt, chúng tôi lựa chọn các bản dịch của các dịch giả khác nhau, từ những người dịch nổi tiếng như Huỳnh Lý đến những người dịch còn ít được biết đến Như thế là để tìm hiểu được tốt hơn những cái đạt và chưa đạt trong cách dịch của từng người

Chúng tôi sẽ tiến hành phân tích từng phương tiện đánh dấu phạm trù

"có thể" trong tiếng Pháp, thể hiện lần lượt qua hai loại tình thái là TTNT

và TTCB, và ngay sau đó là đưa ra các biểu hiện tương ứng trong tiếng Việt, phân tích về cách chuyển dịch các phương tiện ấy từ tiếng Pháp sang tiếng Việt

2.2 Các phương tiện biểu thị phạm trù "có thể" trong TTNT

Như đã nói, phạm trù "có thể" trong TTNT chính là tình thái không thực hữu Do đó, chúng tôi sẽ tìm hiểu các phương tiện đánh dấu tình thái không thực hữu

2.2.1 Các thức của động từ

Giới thiệu chung về thức:

Trang 40

Từ điển Le Petit Larousse illustré, 2002 định nghĩa thức như sau:

thức là cách thức động từ thể hiện tâm trạng hay hành động (manière dont

le verbe exprime l'état ou l'action)

Grévisse (dẫn theo 17: 54) định nghĩa : "Thức biểu thị thái độ của chủ ngôn đối với phát ngôn Thức được sử dụng tùy thuộc vào mục đích phát ngôn mà người nói nhắm đến Hành động của động từ được thể hiện bằng những thức khác nhau ở trong một phát ngôn thuần túy hay phát ngôn

có kèm theo một giải thích nào đó"

M Riegel, J-C Pellat, R Rioul (57: 287 ) cũng nói rằng "Thức thể hiện thái độ của chủ thể phát ngôn đối với phát ngôn của anh ta."

Về số lượng các thức của tiếng Pháp, ý kiến của các nhà nghiên cứu

là không thống nhất Có ý kiến cho rằng có sáu thức: thức Indicatif (thức trực thái), thức Subjonctif (thức giả định), thức Impératif (thức mệnh lệnh), thức Conditionnel (thức điều kiện), thức Infinitif (thức nguyên thể) và thức Participe (thức phân từ) (54: 660); có ý kiến lại nói là có năm thức: thức Indicatif, thức Subjonctif, thức Impératif, thức Infinitif và thức Participe Thức Conditionnel được coi như là một thì của thức Indicatif (57); và cũng

có ý kiến khẳng định chỉ có bốn thức chính, không có thức Participe và thức Impératif (48)

Chúng tôi đồng ý với quan điểm cho rằng Conditionnel cũng là một thức, và cùng với Subjonctif, Indicatif, nó thể hiện phạm trù tình thái không thực hữu

2.2.1.1 Thức trực thái - indicatif

Thức trực thái là thức để diễn đạt sự thật, bao gồm nhiều thì như thì

hiện tại, thì quá khứ kép trong đó thì tương lai đơn có thể biểu thị sự không chắc chắn của người nói đối với sự tình

Thì tương lai đơn

Ngày đăng: 31/03/2015, 14:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Hữu Châu. 1983. Ngữ nghĩa học hệ thống và ngữ nghĩa học hoạt động. T/c Ngôn ngữ, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa học hệ thống và ngữ nghĩa học hoạt động
2. Đỗ Hữu Châu. 1985. Các yếu tố dụng học của tiếng Việt. T/c Ngôn ngữ, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố dụng học của tiếng Việt
3. Đỗ Hữu Châu. 2001. Đại cương ngôn ngữ học - Tập 2: Ngữ dụng học. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
4. Nguyễn Đức Dân. 1996. Lô gích và tiếng Việt. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lô gích và tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
5. Lê Đông. 1991. Ngữ nghĩa - ngữ dụng của hư từ tiếng Việt: ý nghĩa đánh giá của các hư từ. T/c Ngôn ngữ, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa - ngữ dụng của hư từ tiếng Việt: ý nghĩa đánh giá của các hư từ
6. Lê Đông. Ngữ nghĩa - ngữ dụng câu hỏi chính danh (trên ngữ liệu tiếng Việt). Luận án Phó tiến sĩ khoa học ngữ văn. Đại học KHXH&NV Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa - ngữ dụng câu hỏi chính danh (trên ngữ liệu tiếng Việt)
7. Lê Đông - Nguyễn Văn Hiệp. 2003. Khái niệm tình thái trong ngôn ngữ học. T/c Ngôn ngữ, số 7 + 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm tình thái trong ngôn ngữ học
8. Đinh Văn Đức. 2001. Ngữ pháp tiếng Việt - Từ loại. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt - Từ loại
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
9. Đoàn Thị Thu Hà. 2000. Khảo sát ý nghĩa và cách dùng các quán ngữ biểu thị tình thái trong tiếng Việt. Luận văn thạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát ý nghĩa và cách dùng các quán ngữ biểu thị tình thái trong tiếng Việt
10. Cao Xuân Hạo. 1991. Tiếng Việt - Sơ thảo ngữ pháp chức năng . Quyển 1. Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt - Sơ thảo ngữ pháp chức năng
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
11. Nguyễn Quang Hồng. 2002. Âm tiết và loại hình ngôn ngữ. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: m tiết và loại hình ngôn ngữ
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
12. Nguyễn Văn Hiệp. 1994. Tình thái ngữ trong hệ thống thành phần phụ của câu tiếng Việt. T/c Khoa học, số 5, Đại học Tổng hợp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình thái ngữ trong hệ thống thành phần phụ của câu tiếng Việt
13. Nguyễn Văn Hiệp. 2001. Hướng đến một cách phân loại các tiểu từ tình thái cuối câu tiếng Việt. T/c Ngôn ngữ, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng đến một cách phân loại các tiểu từ tình thái cuối câu tiếng Việt
14. Nguyễn Văn Hiệp. 2001. Về một khía cạnh phân tích tầm tác động tình thái. T/c Ngôn ngữ, số 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một khía cạnh phân tích tầm tác động tình thái
15. Ngũ Thiện Hùng. 2003. Khảo sát các phương tiện từ vựng, ngữ pháp biểu đạt tính tình thái nhận thức trong tiếng Anh và tiếng Việt. Luận án Tiến sĩ ngữ văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát các phương tiện từ vựng, ngữ pháp biểu đạt tính tình thái nhận thức trong tiếng Anh và tiếng Việt
16. Ngô Thị Minh. 2001. Một số phương tiện biểu hiện ý nghĩa tình thái trong câu ghép tiếng Việt. Luận án Tiến sĩ ngữ văn. Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số phương tiện biểu hiện ý nghĩa tình thái trong câu ghép tiếng Việt
17. Trần Thị Mỹ. 2004. Các yếu tố biểu thị tình thái nhận thức trong câu tiếng Pháp - Những biểu đạt tương ứng trong câu tiếng Việt. Luận án Tiến sĩ ngữ văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: C"á"c yếu tố biểu thị tình thái nhận thức trong câu tiếng Pháp - Những biểu đạt tương ứng trong câu tiếng Việt
18. Bùi Trọng Ngoãn. 2002. Vai trò của động từ tình thái đối với hành vi ngôn ngữ. Kỉ yếu Ngữ học trẻ 2002. Hội Ngôn ngữ học Việt Nam. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của động từ tình th"á"i đối với hành vi ngôn ngữ. "Kỉ yếu "Ngữ học trẻ 2002
19. Hoàng Phê. 2003. Lô gích và Ngôn ngữ học. Nxb Đà Nẵng - Trung tâm Từ điển học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lô gích và Ngôn ngữ học
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng - Trung tâm Từ điển học
20. Hoàng Trọng Phiến. 1983. Ngữ pháp tiếng Việt. Câu. Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt. Câu
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp. Hà Nội

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình như đoán được ý nghĩ tôi, Duy van - Bước đầu khảo sát phạm trù có thể  trên bình diện tình thái nhận thức và tình thái căn bản
Hình nh ư đoán được ý nghĩ tôi, Duy van (Trang 112)
Hình như để thêm phần lố bịch, tôi cũng - Bước đầu khảo sát phạm trù có thể  trên bình diện tình thái nhận thức và tình thái căn bản
Hình nh ư để thêm phần lố bịch, tôi cũng (Trang 122)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w