1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát một số đặc trưng ngôn ngữ thơ lục bát hiện đại ( trên tác phẩm của một số nhà thơ

206 2,3K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 206
Dung lượng 1,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, dù thành công ở mức độ nào, một chuyên luận nghiên cứu về ngôn ngữ lục bát cũng đều có ý nghĩa to lớn không những đối với ngôn ngữ học, văn học mà còn đối với các khoa học khác n

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

HỒ VĂN HẢI

KHẢO SÁT MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ THƠ

LỤC BÁT HIỆN ĐẠI

(TRÊN TÁC PHẨM CỦA MỘT SỐ NHÀ THƠ)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

HÀ NỘI - 2004

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

HỒ VĂN HẢI

KHẢO SÁT MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ

THƠ LỤC BÁT HIỆN ĐẠI

(TRÊN TÁC PHẨM CỦA MỘT SỐ NHÀ THƠ)

Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ

Mã số: 5.04.08

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

PGS-TS Trần Trí Dõi

HÀ NỘI - 2004

Trang 3

Mục lục

Trang Mở đầu 2

1 Lí do chọn đề tài 2

2 Lịch sử vấn đề 4

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 8

4 Phương pháp nghiên cứu 8

5 Đóng góp mới của luận án 9

CHƯƠNG 1: Một số vấn đề chung về ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ thơ lục bát hiện đại 10

1.1 Các bình diện của ngôn ngữ thơ 10

1.2 Ngôn ngữ thơ trong vận động tạo lập đặc trưng thể loại 19

1.3 Vai trò và vị trí của thơ lục bát trong nền thi ca dân tộc 25

1.4 Các xu hướng và những thành tựu lục bát hiện đại tiêu biểu 27

1.5 Tiểu kết 38

CHƯƠNG 2: Một số biểu hiện ngữ âm mang tính đặc trưng trong âm luật thơ lục bát hiện đại 40

2.1 Mặt ngữ âm trong thơ 40

2.2 Âm điệu, vần điệu và nhịp điệu thơ lục bát 42

2.3 Một số biểu hiện ngữ âm mang tính đặc trưng trong âm luật thơ lục bát hiện đại nhìn từ lục bát Nguyễn Bính, Huy Cận, Tố Hữu, Nguyễn Duy

53 2.4 Tiểu kết 104

CHƯƠNG 3: Một số phương thức, phương tiện tạo nghĩa đặc trưng trong thơ lục bát hiện đại 107

3.1 Tiếp thu chất liệu ngôn ngữ dân gian 109

3.2 Tìm kiếm ngữ liệu và phương thức biểu hiện mới 156

3.3 “Định ngữ nghệ thuật” như một loại cấu trúc tu từ 177

Trang 4

3.4 Tiểu kết 182

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Những đặc trưng ngôn ngữ của một thể loại thơ ca thể hiện tập trung nhất đặc điểm tâm lí - thẩm mỹ trong đời sống tinh thần của một dân tộc Thể thơ không

phải là kết quả của một tác động cơ học mà là một sự chọn lọc tự nhiên của cảm

xúc con người trước hiện thực Thơ lục bát là một trong những biểu tượng văn hóa

có vai trò đặc biệt quan trọng đối với thi ca và đời sống tinh thần dân tộc Trong

chuyên luận về thơ, Nguyễn Phan Cảnh khẳng định, sự chọn lọc tự nhiên đã kết

tinh thơ Việt ở những thể từ 5 đến 8 tiếng [10, 182] Lục bát là trung tâm của quá

trình này Trong một cặp dòng (lục và bát), sự phân bố thanh điệu, hiệp vần, ngắt

nhịp một cách hài hoà đã hàm chứa các tham số của quá trình chọn lọc tự nhiên

kia Các nhà nghiên cứu sau một thời gian dài đã thống nhất nhận định: lục bát là

thể thơ thuần túy Việt Nam có thể sánh ngang với thơ Đường Trung Hoa, hay các thể thơ khác của một số dân tộc châu Âu Câu thơ Sáu-Tám đã được thử thách qua thời gian và chứng tỏ sức sống mãnh liệt của mình Là "nhịp thở giống nòi", người

ta có thể dùng lục bát để đọc, để ngâm, để ví, để hát ru hay hát giao duyên Đây là một thể thơ song hành với sự phát triển của ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam

1.2 Vốn là một thể thơ bình dân, ra đời từ rất sớm, thoát thai từ ca dao, từ những giai điệu đồng quê đã được tinh luyện đến độ tinh khiết, lục bát đã không ngừng phát triển để tồn tại, chiếm lĩnh thi hứng chính thống và khẳng định vị trí không thể thay thế của mình trong tiến trình văn học Tính đến nay lục bát đã trở nên phong phú và đa dạng nhờ những đóng góp của các tác giả tên tuổi như Nguyễn Du, Tản Đà, Huy Cận, Nguyễn Bính, Tố Hữu, Nguyễn Duy Khi một thể thơ đồng hành cùng với tiến trình lịch sử - văn hóa dân tộc thì nó cũng đồng thời trở thành một giá trị văn hóa có giá trị ổn định và có thể được xem như là thực chứng cho sự tồn tại hay tiêu vong của cộng đồng dân tộc ấy Vì vậy, phát triển lục bát là trau dồi bản sắc và phát triển văn hóa dân tộc

Trang 6

1.3 Khi một thể loại thơ được xác định là linh hồn dân tộc, nó trở thành đối

tượng hấp dẫn nhiều nhà nghiên cứu Dù đứng trên những điểm nhìn khác nhau nhưng chung quy lại họ vẫn có cùng một điểm xuất phát đó là ngôn ngữ - chất liệu

cơ bản làm nên tác phẩm văn chương Ngôn từ tự thân nó đã là chất liệu nhưng lại chứa đựng những phương thức tư duy nghệ thuật và các giá trị văn hóa tinh thần

Vì vậy, dù thành công ở mức độ nào, một chuyên luận nghiên cứu về ngôn ngữ lục bát cũng đều có ý nghĩa to lớn không những đối với ngôn ngữ học, văn học mà còn đối với các khoa học khác như tâm lí học, lịch sử học, văn hóa học, xã hội học 1.4 Trong tiến trình phát triển, lục bát ở mỗi một giai đoạn đều có những đặc điểm riêng Có ý kiến cho rằng thể loại thơ ca này chỉ phát triển rực rỡ trong văn

học dân gian nên đến khi Truyện Kiều ra đời thì nó đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử

và nhường chỗ cho những thể loại thơ ca khác Vì vậy lục bát hiện đại trong một thời gian dài chưa được quan tâm nghiên cứu một cách thỏa đáng Bên cạnh đó trong khi có rất nhiều công trình nghiên cứu về lục bát, nhưng đa số lại tập trung vào ca dao và xem xét nó từ bình diện lí luận phê bình Chỉ có một số ít tác giả chú trọng đến tiến trình thể loại và cấu trúc hình thức âm luật Cho đến nay, lục bát hiện đại với thành tựu to lớn của nó vẫn chưa có được một chuyên luận nghiên cứu từ góc độ ngôn ngữ với cái nhìn xuyên suốt hai chiều đồng đại và lịch đại Tzvetan

Todorov đã viết "Trên suốt chiều dài lịch sử của mình, nghiên cứu văn học nghiêng

hẳn về giải thích Cần đấu tranh với sự thiên lệch này, nhƣng tức là với chính sự thiên lệch chứ không phải với bản thân nguyên tắc giải thích" [112, 184] Đó cũng

là thực trạng của tình hình nghiên cứu văn học ở nước ta

Những thực tế trên đặt ra vấn đề cần phải chọn những tác phẩm lục bát hiện đại tiêu biểu làm trung tâm hệ quy chiếu và xem xét chúng trên góc độ ngôn ngữ (là cách tiếp cận tỏ ra hiệu quả và mang tính thuyết phục cao) để đi đến những nhận thức cần thiết về thực trạng, triển vọng và nhiều vấn đề quan trọng khác Qua khảo sát sơ bộ, chúng tôi đã chọn bốn tác giả lục bát tiêu biểu là Nguyễn Bính, Huy Cận,

Tố Hữu, Nguyễn Duy làm dẫn liệu chủ yếu Từ đó đối sánh với lục bát ca dao, lục bát Truyện Kiều để chỉ ra những đặc trưng ngôn ngữ lục bát hiện đại

Trang 7

Thơ lục bát được giới nghiên cứu quan tâm tìm hiểu trên nhiều phương diện khác nhau, riêng bình diện ngôn ngữ, nó có thể thuộc đối tượng nghiên cứu của nhiều phân ngành khoa học như phong cách học, thi pháp học, ngữ dụng học Do tầm quan trọng của ngôn ngữ với tư cách là phương tiện, chất liệu tư duy và phản ánh của thi phẩm, hướng tiếp cận này tỏ ra thiết thực và lí thú

2 Lịch sử vấn đề

Thi ca nói chung từ lâu đã là đối tượng nghiên cứu của rất nhiều người trên khắp thế giới, nhưng những thành tựu đã đạt được hay vừa mới đạt được lại không bao giờ làm cho họ thỏa mãn hoàn toàn Những nghiên cứu về nó từ trước đến nay

có thể đứng trên các bình diện khác nhau Trên mỗi bình diện ta thu được những kết quả đặc thù

2.1 Từ góc độ lí luận và phê bình

ở bình diện này tập trung số đông các nhà nghiên cứu Arixtote và Lưu Hiệp

đã đặt những viên gạch đầu tiên cho việc xây dựng những nguyên lí khám phá thơ

ca như một nghệ thuật trong đời sống tinh thần [1] Dương Quảng Hàm với tác

phẩm Việt Nam văn học sử yếu (1943) đã đề cập đến một cách căn bản lịch sử của các thể loại thi ca tiếng Việt [41] Trong "Thơ ca Việt Nam - Hình thức và thể loại"

(1971) hai tác giả Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức đã thừa kế những kết quả

nghiên cứu về các hình thức thơ ca dân tộc của các tác giả trước đó như Phan Kế

Bính (Việt Hán văn khảo - 1918), Bùi Kỉ (Quốc văn cụ thể - 1932), Dương Quảng Hàm (Việt Nam văn học sử yếu - 1943) để chỉ ra cấu trúc hình thức phổ quát và

giản yếu về lịch sử phát triển của các thể thơ nói chung (trong đó có thơ lục bát) Công trình này được xem như là một bước tiến quan trọng đặt nền tảng cho vấn đề nghiên cứu thể loại thơ ca nói chung, ngôn ngữ thi ca nói riêng Như là cái gạch nối giữa hai xu hướng lí luận phê bình và ngôn ngữ học, Trần Đình Sử với chuyên luận

Thi pháp thơ Tố Hữu (1995) và Những thế giới nghệ thuật thơ (1997) đã nghiên

cứu thi pháp thơ và loại hình thơ dựa trên sự phân tích những cứ liệu cụ thể của tác phẩm văn chương [97]

Trang 8

Nhìn chung trên bình diện lí luận phê bình đã có một số thành tựu được ghi nhận về sự đóng góp công lao to lớn trong công cuộc khám phá thi ca nước nhà Tuy nhiên một thực thể phải được nhìn nhận từ nhiều phía mới đảm bảo tính khách quan và toàn diện Vì vậy, bình diện ngôn ngữ sẽ là một góc nhìn khác có thể làm đối trọng để sự đánh giá tác phẩm văn chương ngày càng khoa học và chính xác hơn

2.2 Từ góc độ ngôn ngữ

Vào đầu thế kỉ XX, trường phái hình thức Nga đã đưa ra những cách tiếp cận

mới về nghệ thuật thi ca Con đường khám phá của họ là dựa vào kết cấu hình thức

để lí giải nội dung ý nghĩa Đây có thể coi là một bước nhảy vọt rất đáng ghi nhận

về quan điểm và nhận thức của giới nghiên cứu văn học Lấy những yếu tố mang tính phân biệt về hình thức giữa thơ và văn xuôi như âm luật, vần, câu thơ, đoạn

thơ làm đơn vị khảo sát, trường phái này thực sự đã coi văn học là nghệ thuật của

ngôn ngữ Đó là sự cụ thể hóa cái cơ bản nhất của các loại hình văn chương nằm

trong định nghĩa mang tính khái quát: "văn học là nhân học" (văn học là khoa học

về tính "người") của M Gooki [4]

Các nhà hình thức Nga như R Jacobson, V Girmunxki đã đi sâu nghiên cứu các yếu tố ngôn ngữ cấu thành nhịp điệu thơ, phân tích chức năng ngôn ngữ thông qua các đơn vị cấu trúc hệ thống Những quan điểm nghiên cứu của trường phái

này thể hiện rõ nét và tập trung nhất trong bài viết về "Những con mèo" của Ch

Baudelaire [59, 69-75] Các công trình nghiên cứu theo hướng cấu trúc - chức năng

mặc dù chưa làm cho những người quan tâm đến lĩnh vực thi ca thỏa mãn hoàn toàn, song nó cũng đã tạo ra được những tiền đề quan trọng cho việc xây dựng một

lí thuyết vững chắc giúp các nhà nghiên cứu ngôn ngữ thơ có thể thực hiện tốt những mục tiêu chưa hoàn thiện và các mục tiêu nghiên cứu mới

Một số công trình nghiên cứu về thi ca tiếng Việt từ góc độ ngôn ngữ có giá trị đã khởi động hướng tiếp cận văn chương từ góc độ ngôn ngữ Tiêu biểu là

chuyên luận Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều (1985) Với

những thao tác định lượng, định tính trong nghiên cứu ngôn ngữ, Phan Ngọc đã

Trang 9

không sa vào sự lí giải chung chung mà tập trung thỏa đáng cho những mặt nổi trội

về ngôn ngữ đã làm cho Truyện Kiều trở nên nổi tiếng Đây là một hướng đi hợp lí

trong việc đánh giá một tác phẩm thơ

Tiếp thu những luận điểm trong tư tưởng của R Jacobson về chức năng của

ngôn ngữ thi ca, Nguyễn Phan Cảnh đã đề cập vấn đề này một cách trực diện hơn

trong chuyên luận: Ngôn ngữ thơ (1987) Trong phần viết về thể lục bát, ông đã có

được những nhận định khái quát rất quan trọng Ngoài việc đề cập đến cách thức phát sinh thể loại lục bát, Nguyễn Phan Cảnh cũng đã có được những lập luận thuyết phục cho vấn đề khả năng tồn tại của thể thơ truyền thống cách luật này Bên cạnh đó tác giả đã chú trọng đi vào một số bình diện của ngôn ngữ thơ như tính đa trị của tín hiệu ngôn ngữ (nhờ phương thức tổ chức kép các lượng ngữ nghĩa), nhạc thơ, mức độ và cách thức hoạt động của trường nét dư trong vận động tạo thể [10,165] Có thể nói đây là một công trình nghiên cứu rất có ý nghĩa, đặt nền móng cho lí thuyết nghiên cứu ngôn ngữ một thể loại văn học đặc thù (trong cái nhìn phân biệt giữa ngôn ngữ thơ với ngôn ngữ văn xuôi)

Năm 1983 Bùi Công Hùng đã cho ra mắt cuốn Góp phần tìm hiểu nghệ thuật

thơ ca Trong đó tác giả đã rất cố gắng để đưa ra tập hợp những nguyên tắc chung

về thi ca dưới ánh sáng của những luận điểm đã được tổng kết trước đó về kết cấu hình thức và lí thuyết hệ thống Bùi Công Hùng đã chỉ ra các bình diện, cấp độ, các cấu trúc trong thơ, tuyệt đối hóa mặt hình thức, tạm thời không quan tâm đến cơ chế sản sinh và cơ chế vận động để lí giải các biểu hiện của ngôn ngữ thơ

Với chuyên luận Ngôn ngữ thơ Việt Nam (1998), Hữu Đạt đã sử dụng các lí

thuyết quan hệ hệ hình, quan hệ cú đoạn để chỉ ra những đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ thơ tiếng Việt Trong đó tác giả đã đưa ra được những luận điểm quan trọng như kết cấu mảng miếng, nhạc thơ, một số đặc trưng của thơ lục bát [33]

Một công trình nghiên cứu chuyên sâu về thể loại đầu tiên phải kể đến là Lục

bát và song thất lục bát (1998) của Phan Diễm Phương Trong chuyên luận này tác

giả đã tập trung giải quyết tương đối triệt để những vấn đề chung về thể loại thơ như quá trình ra đời và phát triển của hai thể thơ lục bát và song thất lục bát từ

Trang 10

điểm nhìn cấu trúc âm luật thể loại Đây là một bước tiến đáng ghi nhận trong việc

phân định hình thức chính thống của thể thơ truyền thống cách luật Công trình này cũng cùng xu hướng với chuyên luận Thơ và các vấn đề trong thơ Việt Nam hiện

đại của Hà Minh Đức (1974) Tuy nhiên tác giả Phan Diễm Phương đã đưa ra và

giải quyết vấn đề này một cách tập trung và toàn diện hơn

Những năm gần đây thơ lục bát được nhiều người quan tâm nghiên cứu, sưu tầm, biên soạn Trước đó trong một thời gian khá dài, người ta chỉ chú trọng vào lục bát dân gian Điều này cũng dễ hiểu vì lục bát ca dao, một bộ phận hợp thành của thơ ca dân gian, chiếm vị trí chủ đạo không phải vì số lượng mà vì nó là một loại hình thơ truyền thống có tính ổn định cao Những tác giả có công biên soạn, phê bình, giới thiệu lục bát dân gian phải kể đến là Đinh Gia khánh, Ninh Viết Giao, Hoàng Tiến Tựu Trong số đó có người đã đi sâu nghiên cứu lục bát ca dao

như Nguyễn Xuân Kính (với chuyên luận Thi pháp ca dao - 1992), Bùi Mạnh Nhị (với Công thức truyền thống và đặc trƣng cấu trúc của ca dao dân ca trữ tình -

1997) Khi thơ lục bát thu hút được sự chú ý của giới nghiên cứu và công chúng rộng rãi một cách đặc biệt thì cũng là lúc các tuyển tập lục bát ra đời Mặc dù còn

nhiều ý kiến (dư luận) chưa thống nhất song 2 tuyển tập về lục bát (Tuyển tập lục

bát Việt Nam do Nxb VH ấn hành năm 1994 và Thơ lục bát mới do Hà Quảng

tuyển chọn và giới thiệu, Nxb Hội LHVHNT Hà Tĩnh ấn hành năm 1999) này cũng

đã gián tiếp khẳng định rằng cho đến nay vai trò to lớn của lục bát trong đời sống tinh thần của người Việt Nam vẫn còn nguyên giá trị Một số bài viết khác như

Tiếng Việt và thể thơ lục bát (Nguyễn Thái Hoà) [55, 37-42]; Nhịp chẵn, nhịp lẻ trong thơ lục bát [102, 160-169]; Lục bát Huy Cận: Ngậm ngùi (Lý Toàn Thắng)

[107, 49-54]; Ngày tết đọc 5 bài thơ lục bát (Trần Đăng Khoa) [64]; Một số chứng

tích về ngôn ngữ, văn tự và văn hoá (Nguyễn Tài Cẩn) [18] cũng góp phần cổ

động cho phong trào nghiên cứu lục bát đang ngày càng trở nên sôi nổi

2.3 Thành tựu và những vấn đề đặt ra

Trang 11

Về thành tựu Xung quanh vấn đề ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ thơ lục bát, các

nhà nghiên cứu đã đạt được những thành tựu to lớn, tập trung trên một số hướng sau:

* Ngôn ngữ thơ ca trong sự so sánh với ngôn ngữ văn xuôi

* Tiến trình thể loại thơ ca và tiến trình thể loại lục bát

* Cấu trúc hình thức (âm luật) của lục bát

Những vấn đề đặt ra Trong khi đã có khá nhiều chuyên luận nghiên cứu thi

ca hiện đại nói chung, thơ lục bát hiện đại nói riêng từ góc độ thi pháp, lí luận và phê bình thì vẫn còn quá ít các chuyên luận tiếp cận chúng từ góc độ ngôn ngữ Hệ quả là đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về ngôn ngữ lục bát hiện đại một cách quy mô và hệ thống trên bình diện ngữ âm và phương thức, phương tiện tạo nghĩa (nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ lục bát hiện đại từ thao tác so sánh lịch đại) Vì vậy, trong phạm vi có thể, một công trình nghiên cứu hướng tới một sự đánh giá nhất định về triển vọng và tương lai của thể lục bát từ góc nhìn ngôn ngữ

là hết sức cần thiết Thực hiện được mục tiêu này sẽ góp phần vào việc từng bước làm rõ hơn triển vọng, cách thức vận động và phát triển của thơ lục bát Việt Nam

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Trên cơ sở những nguyên tắc và lí thuyết ngôn ngữ học về ngôn ngữ thơ

và ngôn ngữ thơ lục bát, luận án phải chỉ ra được các đặc trưng ngôn ngữ của lục bát hiện đại trên hai bình diện, đặc trưng hình thức ngữ âm và đặc trưng phương thức, phương tiện tạo nghĩa trong sự so sánh lịch đại với các thành tựu lục bát tiêu biểu từ trước đến nay Cụ thể là:

*Từ lí thuyết về ngữ âm, luận án phải chỉ ra được đặc trưng hình thức ngữ âm của lục bát hiện đại

* Từ lí thuyết về phương thức, phương tiện tạo nghĩa, luận án phải chỉ ra được những đặc trưng về việc lựa chọn, xây dựng các cấu trúc ngữ nghĩa có tính tu

từ cao trong thơ lục bát hiện đại

Tóm lại, đi tìm những đặc trưng ngôn ngữ lục bát hiện đại cũng là cách định

nghĩa một cách có cơ sở khái niệm Thơ lục bát hiện đại là gì?

Trang 12

3.2 Từ chỗ chỉ ra những đặc trưng hình thức ngữ âm và phương thức, phương tiện tạo nghĩa, luận án góp phần xây dựng và hoàn chỉnh thêm những nguyên tắc và

lí thuyết ngôn ngữ học nghiên cứu thi ca nói chung, ngôn ngữ lục bát nói riêng

4 Phương pháp nghiên cứu

Trên nguyên lý chung là quy nạp, luận án sử dụng các phương pháp và các thao tác nghiên cứu sau:

Thao tác thống kê, phân loại nhằm định lượng hóa một số đặc trưng ngôn ngữ

cơ bản và khái quát của các tác phẩm lục bát hiện đại được lựa chọn khảo sát

Thao tác phân tích, tổng hợp nhằm định tính hóa một số đặc trưng ngôn ngữ

cụ thể của một số phương thức và phương tiện ngôn ngữ tiêu biểu

Phương pháp đối chiếu nhằm làm rõ các đặc trưng ngôn ngữ của lục bát hiện

đại trong cái nhìn hệ thống, lịch sử và biện chứng

5 Đóng góp mới của luận án

5.1 Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu đặc trưng ngôn ngữ thơ lục bát hiện đại trên cả hai bình diện cấu trúc âm luật và phương thức, phương tiện tạo nghĩa Luận án đặc biệt vận dụng các thao tác định lượng, định tính trong cái nhìn đồng đại và lịch đại để chỉ ra các đặc trưng ngôn ngữ của một thể thơ truyền thống cách luật thông qua tâm điểm của hệ quy chiếu là ngôn ngữ thơ lục bát hiện đại 5.2 Luận án không dừng lại ở việc chỉ ra các đặc trưng ngôn ngữ mà thông

qua đó để phát hiện cái bất biến, cái khả biến, cái độc tôn trong ngôn ngữ nhằm lí

giải cách thức tồn tại, khuynh hướng vận động của thơ lục bát hiện đại cũng như vai trò và vị trí của nó trong nền thi ca dân tộc

5.3 Một vấn đề không kém phần quan trọng khác là phải đưa ra những dự báo

về thể thơ này: khả năng tồn tại và xu hướng phát triển

Trang 13

Chương 2: Một số biểu hiện ngữ âm mang tính đặc trưng trong âm luật thơ lục

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGÔN NGỮ THƠ VÀ NGÔN NGỮ

THƠ LỤC BÁT HIỆN ĐẠI

Nguyên lí tính võ đoán mà F de Saussure đưa ra đã đặt nền móng cho lí

thuyết phân tích ngôn ngữ Theo ông, hình thức và nội dung của tín hiệu ngôn ngữ

có mối quan hệ với nhau nhưng không quy định lẫn nhau (mang tính võ đoán) Tuy

nhiên lí thuyết này cũng chỉ dừng lại ở nguyên lí chung Những nguyên tắc phân

tích ngôn ngữ văn chương sau đó vẫn phải được nghiên cứu để đáp ứng yêu cầu

thực tế đặt ra Cho đến nay, cơ bản chúng ta đã có được hệ thống lí thuyết về những

nét khu biệt của ngôn ngữ nghệ thuật và ngôn ngữ giao tiếp thông thường, ngôn

ngữ văn xuôi và ngôn ngữ thơ Tìm hiểu ngôn ngữ thơ lục bát của một thời đại,

không thể tách chúng khỏi những đặc trưng ngôn ngữ thể loại và ngôn ngữ thi ca

1.1 Các bình diện của ngôn ngữ thơ

Có rất nhiều công trình nghiên cứu cùng hướng vào mục đích lí giải và chỉ ra

các đặc trưng của ngôn ngữ thơ Mặc dù cách tiếp cận có những điểm phân biệt,

song các tác giả đều dựa vào những bình diện khách quan của khách thể (tác phẩm

thơ như là một cấu trúc vật chất hoàn chỉnh và đặc thù) như ngôn ngữ thơ với tư

duy thơ, âm luật thơ với phương thức tạo nghĩa trong ngôn ngữ thơ để khám phá

Trang 14

và lí giải nó Thơ có thể được xem xét từ góc độ lí luận - phê bình văn học Xu

hướng này có những ưu điểm riêng mà các hướng tiếp cận khác nhiều khi không có được Thực tế đó được chứng minh bằng bề dày thành tích của nó Tuy nhiên do tính đặc thù của khuynh hướng tiếp cận, sự chi phối mạnh mẽ của cảm nhận chủ quan, nên nhiều khi kết quả đánh giá vẫn không tránh khỏi ít nhiều tính áp đặt của người nghiên cứu Nhà ngôn ngữ học F de Saussure khẳng định rằng ngôn ngữ và

tư duy là hai mặt của một thực thể thống nhất không thể tách rời [93] Ngôn ngữ là hình thức của tư duy, vì vậy khi tư duy là tư duy nghệ thuật thì ngôn ngữ đồng thời cũng là thứ chất liệu đặc trưng của loại hình nghệ thuật ấy Do đó, đối tượng chính của nghiên cứu tác phẩm văn học là nghiên cứu nghệ thuật ngôn từ Tiếp cận tác phẩm văn chương từ góc độ ngôn ngữ là đi vào chính cấu trúc của chất liệu Cách tiếp cận này dựa vào những căn cứ cụ thể sẽ thoát ra khỏi những cảm nhận nhiều khi đậm màu sắc chủ quan Bản thể của thơ là một phức thể đòi hỏi người tiếp nhận phải thực hiện rất nhiều thao tác tư duy mới nắm bắt được Trong chuyên luận

Cuộc sống ở trong ngôn ngữ (1984), Hoàng Tuệ cũng đã đề cập tương đối sâu sắc

vấn đề đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật trong sự so sánh với ngôn ngữ chung (ngôn ngữ phi nghệ thuật) Trong đó ông đặc biệt nhấn mạnh tính nghệ thuật của ngôn

ngữ thơ và cơ chế hình thành những thuộc tính đó Tác giả của chuyên luận Cuộc

sống ở trong ngôn ngữ cho rằng, sau khi phát hiện ra những điểm hạn chế trong lí

thuyết ngôn ngữ học của F Saussure và L Bloomfield, N Chomsky đã đưa ra nhận định về mối quan hệ sâu giữa ngôn ngữ và ý thức Theo đó ý nghĩa của ngôn ngữ phụ thuộc rất lớn vào sự nhận thức đối tượng phản ánh của chủ thể phát ngôn Đối với ngôn ngữ nghệ thuật, ý thức chủ quan càng chi phối mặt ý nghĩa nhiều hơn Vì vậy ngôn ngữ thơ (thứ ngôn ngữ được coi là có tính biểu trưng cao) lại càng phải

có những tiêu chí xem xét đặc thù (Dẫn theo[119, 15] (Hoàng Tuệ) Nhìn chung, thuộc tính nghệ thuật của ngôn ngữ văn chương nói chung, ngôn ngữ thơ nói riêng, đối tượng chính của quá trình phân tích tác phẩm văn chương, đã được các nhà ngôn ngữ học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu và đã đạt được những thành tựu nhất định

Trang 15

Luận về vấn đề thơ là gì có lẽ không cần thiết cho một công trình nghiên cứu

thơ trong giai đoạn hiện nay Tuy nhiên để xác định được các bình diện nghiên cứu

cụ thể về ngôn ngữ thơ thì việc đề cập tới các quan niệm tiêu biểu về thơ là cần thiết Công trình lí luận về thi ca sớm nhất của phương Đông ra đời cách đây 1500

năm là Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp đã chỉ ra 3 phương diện cơ bản cấu thành tác phẩm thơ là hình văn, thanh văn và tình văn Ngôn từ thơ có họa (hình văn),

nhạc (thanh văn) và cảm xúc (tình văn) Đến đời Đường, trong quan niệm về thơ

của Bạch Cư Dị, các yếu tố cấu thành thơ ca được cụ thể hóa thêm một bước: "cái

cảm hóa được lòng người chẳng gì trọng yếu bằng tình cảm, chẳng gì đi trước được ngôn ngữ, chẳng gì gần gũi bằng âm thanh, chẳng gì sâu sắc bằng ý nghĩa Với thơ gốc là tình cảm, mầm lá là ngôn ngữ, hoa là âm thanh, quả là ý nghĩa"

[24] Trong quan niệm của Bạch Cư Dị, nhiều bình diện ngôn ngữ thơ được làm

sáng tỏ Cái "chẳng gì đi trước được ngôn ngữ" hàm ý rằng cảm xúc, âm thanh và ý

nghĩa đều được chứa đựng trong những kết cấu ngôn ngữ thuộc từng hệ thống hữu

cơ của mỗi bài thơ Nhờ những điều kiện khách quan của thời đại mà Bạch Cư Dị

đã cụ thể hóa tư tưởng của Lưu Hiệp trong việc chỉ ra mối quan hệ của các mặt cấu thành một tác phẩm thơ từ cái nhìn hệ thống và cấu trúc chiều sâu Trong bài tựa

Kinh Thi, Chu Hi cũng cho rằng "thơ là cái dư âm của lời nói, trong khi lòng người

cảm xúc với sự vật mà thể hiện ra ngoài" (Dẫn theo [89] Với một nhận định ngắn

gọn, tác giả đã thể hiện được cái nhìn sắc sảo của mình rằng cái "tình văn" không phải đơn giản được chứa đựng trong hình thức "trần trụi" bên ngoài của ngôn ngữ

mà là cái "dư âm" thoát ra từ những cấu trúc lời nói rất riêng của từng con người cụ thể khi họ "cảm xúc" với "sự vật" xung quanh Đây chính là cơ sở cho những cách

nhìn nhận về thơ hiện nay Đến giai đoạn hiện đại, M Gooki đã đưa ra một định

nghĩa về văn học: "Văn học là nhân học" (văn học là khoa học về tính người) Một

định nghĩa có tầm khái quát như thế là rất cần thiết đối với mọi đối tượng nhận thức văn chương Tuy nhiên, với các nhà nghiên cứu thì nhận định đó chỉ mới giúp họ

trả lời câu hỏi "văn chương thể hiện nội dung gì?", mà chưa giải quyết được một vấn đề cũng hết sức quan trọng: "nội dung đó được tạo ra như thế nào?" Trên thực

Trang 16

tế, bản chất của sự vật bị quy định bởi cách thức mà người ta tạo ra nó Vì vậy, đứng trên góc độ sáng tạo mà xét, một định nghĩa về văn học cần phải nhắm vào hai bình diện nói trên Khi lí luận phê bình phát triển, người ta mới chú trọng đến

mặt thứ hai của vấn đề này một cách toàn diện hơn "Văn học là nghệ thuật ngôn

từ" [99, 162] Văn chương không chỉ là những khám phá cái chưa biết trong đời

sống con người một cách thông thường mà nó là một hành động sáng tạo mang tính

nghệ thuật Văn học là một ngành nghệ thuật lấy ngôn từ làm phương tiện và

phương thức phản ánh Theo đó, một tác phẩm nghệ thuật phải được khám phá

bằng những tiêu chí của nghệ thuật Tức là không dừng lại ở việc trả lời câu hỏi nó

là cái gì?, mà là nó được tạo ra như thế nào? Như vậy, ngôn ngữ văn chương vừa

là chất liệu vừa là phương thức biểu hiện của tác phẩm nghệ thuật Nó chính là đối tượng đích thực và cụ thể của ngôn ngữ học nghệ thuật Những căn cứ nêu trên đã giúp chúng tôi xác định được các bình diện ngôn ngữ cơ bản làm đối tượng nghiên cứu

Các nhà nghiên cứu theo trường phái hình thức đã chỉ ra sự đối lập giữa ngôn ngữ chung hay ngôn ngữ văn xuôi với ngôn ngữ thơ Tác giả tiêu biểu nhất của

trường phái này là R Jakobson Trong tiểu luận Ngôn ngữ và thi ca, R Jakobson

đã nhấn mạnh đến cơ chế hoạt động của ngôn ngữ thơ là cơ chế lựa chọn và cơ chế

kết hợp Đây là sự cụ thể hóa các nguyên lí về sự hoạt động của ngôn ngữ mà F de

Saussure đã trình bày trong Giáo trình ngôn ngữ học đại cương: quan hệ hệ hình

và quan hệ cú đoạn Từ những nguyên lí phổ quát này, R Jakobson và những

người cùng quan điểm với ông đã chỉ ra rằng, trong thơ, hình thức ngữ âm là vô cùng quan trọng Họ nhấn mạnh đến các yếu tố âm thanh như âm vận, điệp âm, điệp vần, khổ thơ là những đơn vị thuộc bình diện hình thức Từ những nguyên lí này, ngôn ngữ thơ dần dần được nhận ra một cách rõ nét hơn và toàn diện hơn Đây

là những nguyên lí đã được các nhà Việt ngữ học ứng dụng vào việc xem xét thơ ca tiếng Việt một cách hiệu quả Những năm cuối thế kỷ xx, ở trong nước, trong

chuyên luận Cách giải thích văn học bằng ngôn ngữ học, Phan Ngọc đã đưa ra một định nghĩa về thơ: "Thơ là một cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt

Trang 17

người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc do chính hình thức ngôn ngữ này" [80,

30] Có thể một quan niệm như thế về thơ là chưa toàn diện (chữ quái đản trong trường hợp này được Phan Ngọc giải thích là khác lạ so với thông thường Về mặt

này, Phan Ngọc đã có cùng quan điểm với Hoàng Tuệ), song qua đó cũng cho thấy ngôn ngữ không những là chất liệu cơ bản xây dựng nên bài thơ mà nó còn chứa đựng những phương thức thể hiện rất đặc trưng của nghệ thuật thi ca Những

phương thức kết hợp "quái đản" của ngôn ngữ thơ thực chất là những cấu trúc ngôn

ngữ xa lạ so với cấu trúc ngôn ngữ phi nghệ thuật (hay nói cách khác ngôn ngữ phi nghệ thuật có những giới hạn nhất định không thể vượt qua được để đảm nhận những chức năng biểu đạt mang tính thẩm mỹ) Một tác giả khác cũng đi theo hướng này là Nguyễn Phan Cảnh Ông đã tiếp thu các luận thuyết về thi ca trong và

ngoài nước để đưa ra một vấn đề rất thiết thực song không kém phần nan giải: Các

nhà thơ tư duy trên chất liệu ngôn ngữ như thế nào? Lí thuyết hệ hình mà Nguyễn

Phan Cảnh đưa ra không mới song qua đó một lần nữa việc xem xét thơ từ phương thức lựa chọn ngôn từ trong các hệ hình để tạo ra hiệu quả biểu đạt cao nhất được khẳng định là đúng và có sức thuyết phục cao [10, 51-70] Nguyễn Phan Cảnh không dừng lại ở đó mà mở rộng vấn đề sang cả cấu trúc phổ biến trong ngôn ngữ thơ để giải thích nguồn gốc của các biện pháp tu từ [10, 71-77] Điểm nổi bật thứ

ba trong chuyên luận của ông là lí thuyết về trường nét dư Trong đó tác giả đã chỉ

ra rằng để thiết lập nên các tổ chức ngôn ngữ trên trục lựa chọn và trục kết hợp

(đặc biệt là trục kết hợp), nhà thơ phải sử dụng đến các thao tác loại bỏ trường nét

dư theo cảm quan tư duy nghệ thuật rất riêng của mình Cách thức loại bỏ trường nét dư chính là quá trình hình thành thể thơ Nét dư được loại bỏ càng nhiều thì hàm lượng thông tin càng cao và càng đòi hỏi ở người tiếp nhận năng lực tiếp nhận

các kết cấu "lạ" do việc loại bỏ các yếu tố ngôn ngữ có hàm lượng thông tin thấp

mà ra Đi ngược quá trình này hay sự khôi phục nét dư, chúng ta sẽ được một văn bản thơ có hình thức ngữ âm gần với văn xuôi hơn Chính các đơn vị ngôn ngữ này khi nét dư bị loại bỏ một cách có chọn lọc, thao tác lựa chọn đạt đến độ nào đấy thì chúng trở thành các phương tiện tu từ

Trang 18

Như vậy, quá trình nghiên cứu ngôn ngữ thơ tiếng Việt cho đến Nguyễn Phan Cảnh, Hữu Đạt đã đạt được những thành tựu đáng trân trọng Các tác giả đã từng bước cụ thể hóa và nhất trí trên những điểm rất căn bản về sự phân biệt ngôn ngữ thơ (là ngôn ngữ của thế giới chủ thể với những sáng tạo độc đáo mang tính cá nhân) với ngôn ngữ văn xuôi (là ngôn ngữ miêu tả thế giới khách thể mang nặng tính lô gíc) Các bình diện của ngôn ngữ thơ được chọn làm cơ sở để xác định đối tượng nghiên cứu ngôn ngữ lục bát hiện đại bao gồm:

1, Hình thức ngữ âm, gồm âm điệu, vần điệu và nhịp điệu Những yếu tố này được tạo ra từ sự loại bỏ các nét dư và đi vào chuỗi kết hợp dưới áp lực hệ thống để làm thành một thứ ngữ điệu đặc trưng còn gọi là nhạc điệu thể loại

2, Các phương tiện và phương thức tạo nghĩa trong thơ Các đơn vị ngôn ngữ

thuộc đối tượng nghiên cứu là các đơn vị ngôn ngữ có tính tu từ cao (tính tu từ được hiểu là màu sắc tu từ, một khái niệm của Phong cách học tiếng Việt) Chúng

được hình thành từ các thao tác lựa chọn và thao tác kết hợp

Xem xét các bình diện nghiên cứu ngôn ngữ thơ, chúng ta rút ra được các vấn

đề sau đây:

Thứ nhất, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ thơ ca đã chỉ ra được các đơn vị, các

bình diện làm đối tượng nghiên cứu

Thứ hai, các công trình nghiên cứu ngôn ngữ thi ca thuộc các trường phái đã

chỉ ra rằng thơ không phải là một hiện tượng ngôn ngữ học thuần túy mà là một nghệ thuật đặc thù lấy ngôn từ làm chất liệu (trong đó ngôn ngữ vừa là chất liệu, vừa chứa đựng những phương thức phản ánh) Một yếu tố nghệ thuật phải được xem xét trong một chỉnh thể nghệ thuật; giá trị của ngôn ngữ thơ là tính nghệ thuật của nó chứ không phải là những giá trị phổ quát của ngôn ngữ chung

Thứ ba, mặc dù đã có nhiều cố gắng song dường như các nhà nghiên cứu vẫn

chưa thực sự thiết lập được mối quan hệ chắc chắn giữa cách tiếp cận thi ca từ góc

độ lí luận phê bình với cách tiếp cận từ góc độ ngôn ngữ Thực tế là rất nhiều luận

đề trong thi ca được giới nghiên cứu lí luận văn học đưa ra nhưng khi giải thích nó

từ góc độ ngôn ngữ vẫn chưa thật thành công Lý luận phê bình văn học phải bao

Trang 19

trùm lên toàn bộ các khuynh hướng tiếp cận tác phẩm Về điểm này nó vẫn còn hạn chế Bên cạnh đó cũng có tình trạng người nghiên cứu ngôn ngữ văn chương miễn cưỡng với những nguyên lý căn bản của phản ánh luận trong văn học Ví dụ, lí luận

- phê bình đưa ra lí thuyết về tứ thơ, song lí luận ngôn ngữ lại không đề cập đến

vấn đề này, cho dù tứ thơ hay bất kì thứ gì có trong bài thơ cũng đều được thể hiện

bằng ngôn ngữ Hay một vấn đề khác như khái niệm giọng điệu lại chỉ được nói

đến trong lí luận văn học nhưng thực tế sự biểu hiện của nó cơ bản và rất rõ nét trên hình thức của ngôn từ

Cho đến nay việc nghiên cứu theo phương thức định lượng, định tính các yếu

tố ngữ âm trong ngôn ngữ thơ đã đạt được những thành công nhất định nhờ ứng dụng các thành tựu ngữ âm học thực nghiệm Điều băn khoăn hiện nay là giá trị biểu đạt của các yếu tố ngữ âm vẫn là một cái gì đó hết sức mơ hồ Giá trị biểu đạt của nó phải được xem xét trong những bối cảnh hẹp Tuy vậy, việc phân tích giá trị ngữ âm trong một dòng thơ, đoạn thơ, bài thơ, thể thơ của một tác giả, một giai đoạn vẫn còn rất cần thiết Bên cạnh đó quá trình này cũng phải được đặt trong mối tương quan với các phương tiện và các phương thức tạo nghĩa Hãy thử xem

xét bài thơ Tre Việt Nam để minh chứng cho các vấn đề này

Về mặt ngữ âm, bài thơ chứa đựng mặt thuần nhất và mặt dị biệt của âm luật thể loại trên ba mặt cấu thành nhạc điệu là âm điệu, vần điệu, nhịp điệu Xét mặt thuần nhất trong nhạc điệu, ta thấy âm điệu (theo mô hình âm luật lục bát (bằng,

trắc và bất luận) bài thơ cơ bản tuân thủ tính cách luật của thể loại (trừ một dòng

thơ duy nhất có sự biến đổi t4  b4: Thương nhau tre không ở riêng) Những vị trí

không bắt buộc (1,3,5,7) cũng không có một sự biểu hiện “thiên lệch” nào đáng kể

Về vần điệu, các yếu tố cấu thành vần điệu như vị trí, độ hòa âm, độ vang, cao độ

của âm tiết hiệp vần cũng không có gì đặc biệt Ví dụ, về vị trí hiệp vần chẳng

hạn, các vần đều được "bố trí" đúng các vị trí thứ 6 dòng lục-thứ 6 dòng bát; thứ 8

dòng bát với thứ 6 dòng lục Vần chính chiếm phần cơ bản đã làm cho vần điệu bài

thơ đạt được tính hài âm cao Về nhịp điệu, nhịp đôi (là nhịp phổ biến của lục bát

tạo nên giai điệu cho thể loại) chiếm ưu thế trong bài thơ (24/30 dòng thuần túy

Trang 20

nhịp đôi) khiến cho "trạng thái" của nó hòa nhập cùng "trạng thái" của lục bát dân

gian, nhuần nhị bởi giai điệu đều đều của một khúc tâm tình trong giọng kể thiết

tha, sâu lắng Tre xanh nhưng màu xanh đó có tự bao giờ? Chỉ biết rằng nó đã được truyền tụng là có tự ngày xưa Dòng chảy nhịp điệu biểu hiện tính "thuần khiết"

của âm luật đã khiến cho nhạc điệu bài thơ phảng phất khí vị của ca dao, đằm thắm,

lắng đọng một niềm tâm tư sâu thẳm Xét mặt khả biến trong nhạc điệu thể loại, chúng ta thấy rằng dựa trên nền tảng ngữ âm cơ bản, những "dị hóa" của vần điệu

và nhịp điệu cùng sự luân phiên về độ hòa âm vần chính và độ hòa âm vần thông, không gò ép nhưng vẫn nằm trong "khuôn phép" và cách hiệp vần của thể lục bát:

Tre xanh giờ bờ//Xanh manh thành (vần chính); ơi tươi vôi//màu đâu

(vần thông); đâu lâu (vần chính)// nhiều nghèo nhiêu (vần thông) Như

vậy, dù sự biến thiên này nảy sinh từ tâm thức hay từ một sự tính toán chủ định thì chúng ta cũng phải thừa nhận rằng tác động vào nhịp của âm luật thể loại sẽ đưa lại hiệu quả cao nhất Thông thường, nhịp thơ của thể lục bát là nhịp đôi (2/2/2 và 2/2/2/2) ở bài thơ này, trong 30 dòng thơ, có 6 dòng xuất hiện nhịp biến 3/3 và 3/3/2 (trong thể lục bát, nhịp lẻ được coi là nhịp biến):

- Thân gầy guộc / lá mong manh

- Có gì đâu / có gì đâu

- Năm qua đi / tháng qua đi

- Chuyện ngày xưa / đã có bờ / tre xanh

- Mỡ màu ít / chắt dồn lâu / hóa nhiều

- Cây kham khổ / vẫn hát ru / lá cành

Về tổng thể, bài thơ có xu hướng sử dụng nhạc điệu của ca dao Vì vậy, khi nhịp biến xuất hiện (theo lối cân xứng 3/3 và không cân xứng 3/3/2) dòng thơ trở nên rắn rỏi, bùng phát, tạo được ấn tượng mạnh trong lòng người đọc, người nghe Lời tự vấn mở đầu bài thơ khiến người nghe ngỡ ngàng mà nhận ra rằng một điều tưởng như bình dị và hiển nhiên như thế nhưng đến nay ta dường như vẫn chưa hề hay biết:

Tre xanh

Trang 21

Xanh tự bao giờ?

Rồi dòng suy tưởng kéo ta vào chiều sâu ý tứ của bài thơ:

Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh

Màu xanh ấy trở đi trở lại khắc khoải như chính nhịp điệu của câu thơ: 2( )/4-3/3/2 bị gián đoạn bởi sự ngắt dòng và phép lặng Đây là khúc dạo đầu hiếm thấy trong lục bát hiện đại Hai câu tiếp theo đã có sự tăng cường năng lượng ngữ nghĩa thông qua việc sử dụng tiểu đối ở dòng lục và quay trở lại lối tự vấn (qua

việc sử dụng câu hỏi tu từ ở dòng bát), lời thơ cũng thiết tha hơn so với câu hỏi ban

đầu:

Thân gầy guộc/ lá mong manh

Mà sao nên lũy nên thành tre ơi (?!)

Những dòng thơ tiếp theo cho đến hết bài đều theo lối đột phá được xây dựng

trên phương thức đối lập Về nội dung: đối lập thuộc tính giữa sự mảnh mai, yếu

ớt của thân, lá với sự dày dặn, chắc chắn của luỹ, thành; giữa cái ít sản sinh ra cái nhiều (Mỡ màu ít chắt dồn lâu hóa nhiều) Về mặt hình thức: đối lập nhịp điệu lẻ, chẵn giữa hai dòng 6 và 8 (Thân gầy guộc/ lá mong manh - Mà sao/ nên lũy/ nên thành/ tre ơi và Năm qua đi/ tháng qua đi - Tre già/ măng mọc/ có gì/ lạ đâu) và lối

đối ứng: bao nhiêu bấy nhiêu (Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù) - một cấu

trúc hình thức phổ biến trong ca dao

Về mặt phương tiện, phương thức tạo ngữ nghĩa Từ ngữ trong bài thơ thể

hiện cá tính sáng tạo của phong cách lục bát đậm chất dân gian Bài thơ gợi một cảm giác quen thuộc, hình như mỗi ý thơ đã ngự trị đâu đó trong ta từ lâu rồi Xét

về phương thức, phương tiện tạo nghĩa, nhịp thơ mở đầu như một sự ngập ngừng, phép lặng giữa dòng thơ dẫn ta đi theo miền hồi tưởng về hình tượng cây tre từ trong quá khứ xa xăm đến hiện tại Tứ thơ đi dần vào chiều sâu suy tưởng của triết

lí dân gian: (Mặc dù) thân gầy guộc, lá mong manh; (nhưng vẫn) nên lũy nên

thành; ít nhiều (mỡ màu ít chắt dồn lâu hóa nhiều); bao nhiêu bấy nhiêu (tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù) Đây là những câu thơ có phương thức tư duy

Trang 22

tương đồng với rất nhiều thành ngữ, tục ngữ, ca dao: Mưa lâu thấm đất; Năng nhặt

chặt bị; (đình/cầu ) bao nhiêu (ngói/nhịp) (thương mình) bấy nhiêu

Những lời nói cửa miệng dân gian (ca dao, tục ngữ, thành ngữ) xuất hiện một cách tự nhiên làm cho câu thơ lục bát quyện hòa hai sắc thái: tính triết lí nhân sinh (trong cảm hứng của tục ngữ, thành ngữ) và chất trữ tình đằm thắm (trong thi hứng của giai điệu ca dao) Nếu thiết lập quan hệ liên tưởng giữa câu thơ lục bát trong bài với ngôn từ dân gian ta sẽ thấy một hiện tượng tương đồng, tương sinh:

Thành ngữ: Nhường cơm sẻ áo; một nắng hai sương

Câu thơ lục bát: Lưng trần phơi nắng phơi sương - Có manh áo cộc tre

nhường cho con

Thành ngữ, tục ngữ: Giỏ nhà ai quai nhà nấy; cha nào con nấy

Câu thơ lục bát: Măng non là búp măng non - Đã mang dáng thẳng thân tròn

của tre

Kết thúc tứ thơ là một thành ngữ nguyên dạng (chứng tỏ quan hệ liên tưởng giữa lục bát và ca dao trong bài thơ là có thực) được bố trí song hành với vế đầu

câu thơ mang chức năng gợi mở vấn đề: Năm qua đi tháng qua đi - Tre già măng

mọc có gì lạ đâu Cấu trúc ngữ nghĩa theo hướng này thể hiện rõ nét kiểu tư duy triết luận của một xu hướng mới trong thi ca hiện đại Câu thơ đã đạt đến độ hoàn

mĩ cao: sự biến nhịp thể loại được cộng hưởng bởi nghĩa của từ (năm tháng ) tạo

ra ý nghĩa liệt kê tăng cấp Năm qua đi rồi tháng qua đi, thời gian vĩnh hằng trong

sự vận động tuần hoàn kéo theo sự vĩnh hằng của tre, để Mai sau / Mai sau / Mai

Trang 23

sau / Đất xanh tre mãi xanh màu tre xanh Lớp trước già đi, lớp sau thay thế, cho

ngàn vạn mai sau tre vẫn phủ màu xanh lên đất nước này

Với một số lượng lớn thành ngữ, tục ngữ dân gian được sử dụng dưới hình

thức cấu tạo lại, đến lượt nó, các dòng thơ bị "đồng hóa" để trở thành những thành ngữ, tục ngữ hiện đại Đây thực sự là một "cuộc sinh hạ" ngôn từ có "tính di

truyền" đạt mức cực đại trong một bài thơ Điều đó khiến cho nó trở thành độc đáo

Qua đây chúng ta thấy rằng khi đánh giá một bài thơ lục bát, ta không thể xem xét hai mặt ngữ âm - ngữ nghĩa một cách tách rời Về điểm này Đỗ Đức Hiểu

cũng đã nhận định: "tác phẩm văn học là một hệ thống kí hiệu lồng vào nhau, văn

bản di động trên nhiều bình diện, chồng chất nhiều hệ thống đan chéo nhau (âm thanh, cú pháp, ngữ nghĩa ) Thơ là một cấu trúc ngôn từ trùng điệp" [50, 46]

Các hệ thống, bình diện trong thơ liên kết với nhau bằng những mối quan hệ đa chiều và giá trị của mỗi thành tố cũng được sản sinh từ những mối liên hệ ấy Điều này còn cho phép ta đi đến một hệ luận khác nữa: khai thác một bình diện, yếu tố nào đó của ngôn ngữ tác phẩm thi ca cũng không thể tách chúng ra khỏi hệ thống

mà phải xem xét chúng trên các mối quan hệ khách quan để cuối cùng trả chúng về

hệ thống

1.2 Ngôn ngữ thơ trong vận động tạo lập đặc trưng thể loại

Đặc trưng thể loại quy định đặc trưng ngôn ngữ Vì vậy sự vận động tạo thể giúp ta hiểu thêm về đặc điểm ngôn ngữ của một thể thơ nào đó Khi nắm được cơ chế tạo thể của thơ, ta có thể biến một bài thơ nào đó từ thể này sang thể khác thông qua các thao tác lựa chọn và kết hợp Hình thức cuối cùng của tác phẩm là tấm gương phản chiếu tư duy mĩ cảm - ngôn ngữ của chủ thể sáng tạo Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức là hai trong số rất ít tác giả đã đưa ra vài nét lớn về đặc điểm ngôn ngữ quy định đặc trưng cảm xúc thi ca trong các thể thơ tiếng Việt Tuy nhiên hai tác giả này chưa đi sâu phân tích các biểu hiện có tính quy luật của ngôn ngữ trong các thể thơ và quy luật vận động tạo thể trong quá trình sáng tác của nhà

thơ Trong chuyên luận Ngôn ngữ thơ, Nguyễn Phan Cảnh đã nói về trường nét dư của mỗi câu thơ và cơ chế ngâm thơ Phát hiện này cho phép ta hiểu được cách

Trang 24

thức vận động của ngôn ngữ trong quá trình hình thành đặc trưng thể loại Dựa vào những biểu hiện về ngữ đoạn được đánh dấu bằng hiện tượng gieo vần, Nguyễn

Phan Cảnh cho rằng vận động tạo vần chính là khâu cơ bản nhất của quá trình

hình thành thể thơ Mỗi thể thơ có một kiểu gieo vần (trong những ngữ đoạn ngắn/

dài) đặc trưng Nhưng không phải vận động tạo vần đẻ ra thể thơ một cách cơ học,

mà hai quá trình này diễn ra đồng thời Chúng ta có thể nhận diện ra một thể thơ khi căn cứ vào các dấu hiệu vần điệu Tuy nhiên một số trường hợp việc nhận diện

thể thơ qua vần lại gặp rất nhiều khó khăn Trong bài Tiếng chổi tre của Tố Hữu (Những đêm hè/ Khi ve ve/ Đã ngủ/ Tôi lắng nghe/ Trên đường Trần Phú/ Tiếng

chổi tre/ Xao xác/ Hàng me ), Nếu chấp nhận vần lưng thì văn bản thơ sẽ là:

Những đêm hè khi ve ve đã ngủ/ Tôi lắng nghe trên đường Trần Phú/ Tiếng chổi

tre xao xác hàng me Như vậy, trong sáng tác thi ca, thể thơ hình thành không

phải như một "sự chọn lọc tự nhiên", mà là sự vận động của các quan hệ nội tại

trong những cấu trúc ngôn ngữ dưới sự điều khiển của tâm thức văn hóa - ngôn ngữ cộng đồng

Trong tiếng Việt, quá trình vận động tạo thơ đã hình thành nên các thể thơ 2

tiếng cho đến 12 tiếng Mặc dù trước đó có văn biền ngẫu song thơ văn xuôi không

trở nên phổ biến Những thể thơ quen thuộc với người Việt là lục bát, song thất lục bát, 5 tiếng, 7 tiếng Cơ chế biểu đạt của một văn bản thơ khác xa với cơ chế biểu đạt của một văn bản văn xuôi Các đơn vị trên trục ngữ đoạn có tính độc lập cao và

tự nó đối lập với các yếu tố đồng loại trên trục lựa chọn để tạo ra giá trị Chính vai trò ưu thế của quan hệ ngữ đoạn đã làm cho ngôn ngữ văn xuôi chỉ thuần túy mang giá trị thông báo (tất nhiên quan hệ ngữ đoạn của ngôn ngữ văn xuôi cũng rất khác

so với quan hệ ngữ đoạn của ngôn ngữ thơ) Dưới áp lực tạo thể (nhạc điệu), quan

hệ ngữ đoạn trong ngôn ngữ thơ được hiện thực hóa qua hai con đường chính: quan

hệ "lỏng" và quan hệ "phi lô gíc" Khi bị lược bỏ các hư từ hay các từ nghèo thông

tin, các đơn vị ngôn ngữ hiện diện trở thành yếu tố tối thiểu có tính độc lập rất cao, quan hệ ngữ đoạn trở nên lỏng ra Cũng có khi cần đến một kết hợp bất thường để

Trang 25

tạo nghĩa mới cho cấu trúc ngôn ngữ Lúc này quan hệ ngữ đoạn được thiết lập dựa trên nguyên lý phi lô gíc

Mỗi dòng thơ có thể tương đương với một phán đoán tồn tại trên một tiết tấu

và thể hiện bằng một dư âm Dư âm là "tiếng vọng" của giá trị ngữ âm được thể

hiện bằng tiết tấu Có thể có câu thơ mang dư âm đi xa, cũng có thể có câu thơ mà

dư âm chỉ là một cái gì đó rất mờ nhạt Câu thơ (trong Bài ca chim Chơ Rao) của

Thu Bồn rất gần với văn xuôi:

Ăn trái gắm (/) nhớ trái dừa tha thiết Uống vũng suối trong (/) nhớ biển biếc bao la Những đêm mƣa nguồn sấm động Nhớ làm sao (/) tiếng sóng vỗ quanh nhà

song lại có sức ngân vang rất lớn Hiệu quả đó bắt nguồn từ việc cố ý thêm vào một

số âm tiết làm cho nhịp của câu thơ dài ra trùng với đơn vị cú pháp của văn xuôi,

do đó người đọc có cảm tưởng như đang bơi trên một dòng chảy không dứt của chuỗi ngôn từ đầy ấn tượng Tình trạng trên khác xa với những câu thơ ngắn trong

bài thơ Lƣợm của Tố Hữu: Chú bé loắt choắt/ Cái xắc xinh xinh/ Cái chân thoăn

thoắt/ Cái đầu nghênh nghênh Những câu thơ trùng với một ngữ đoạn ngắn tạo ra

cảm giác nhanh, mạnh, phù hợp với sự miêu tả tính hồn nhiên trong bước chân sáo của cậu bé liên lạc

Tóm lại, sự vận động tạo thể trong ngôn ngữ thơ vừa phụ thuộc vào sự chi phối của hai loại quan hệ khách quan của ngôn ngữ (quan hệ ngữ đoạn và quan hệ liên tưởng), vừa phụ thuộc vào cảm thức nhạc điệu của tác giả Mỗi thể thơ với bản thể của mình đều tồn tại trong một giới hạn ngữ âm-ngữ nghĩa nhất định

Mỗi dân tộc đều có một nền thi ca đặc trưng gắn với những thể thơ nhất định Thơ tiếng Việt có thể 2 tiếng, 4 tiếng, 5 tiếng, 6 tiếng, 7 tiếng, lục bát, song thất lục bát, 8 tiếng, thơ tự do, thơ văn xuôi Sáng tạo một bài thơ theo một thể nào đấy

phần lớn bắt nguồn từ cảm thức ngôn ngữ Quá trình này vừa phụ thuộc vào tâm lí

lứa tuổi, vốn văn hóa, vừa phụ thuộc vào năng lực tư duy nghệ thuật Khi vốn văn hóa trở nên thứ yếu và yếu tố tâm lí đóng vai trò hướng đạo thì thơ thường nghiêng

Trang 26

hẳn về cảm xúc Ngược lại sẽ là thơ trí tuệ, thơ lô gíc Một bài thơ hay thuộc một thể nào đấy kết tinh cả ba yếu tố kể trên Trong những bài thơ hay của Trần Đăng Khoa người ta vẫn dễ dàng tìm thấy yếu tố tâm lí lứa tuổi chi phối một cách mạnh

mẽ lối tư duy ngôn ngữ Mỗi nhà thơ có một lối tư duy ngôn ngữ nhất định tương ứng với một thể thơ sở trường Xuân Quỳnh là một tác giả tiêu biểu cho thể thơ 5

tiếng: Em sẽ kể anh nghe/ Chuyện con thuyền và biển/ Tự ngày nào chẳng biết/

Thuyền nghe lời biển khơi/ Cánh hải âu sóng biếc/ Đưa thuyền đi muôn nơi (Thuyền và biển) Thể thơ này mang hình thức phổ biến của vè Tính đơn giản về

ngữ âm sẽ rất thuận lợi trong ứng tác Xuân Quỳnh đã kết hợp một kết cấu ngữ âm giản dị với giọng kể hồn nhiên đưa người đọc đi vào một câu chuyện đời thường nhưng giàu tính triết lí Các thể thơ từ 2 - 5 tiếng do số lượng các đơn vị mang nghĩa ít nên câu thơ giản dị, ý thơ mộc mạc, tư duy thơ trong sáng nên rất dễ hiểu,

dễ cảm và do vậy rất gần gũi với người bình dân Sức mạnh của thể đồng dao và vè

là sự thuận lợi trong diễn ca hóa mọi vấn đề của đời sồng cộng đồng Bằng một hình thức ít bị bó buộc bởi nhạc tính, đồng dao và vè đã đảm nhận một cách xuất sắc vai trò quần chúng hoá, bình dân hoá nghệ thuật thi ca Khác với thể đồng dao,

thơ 6 tiếng đã có tính hàn lâm hơn nhiều Khi số lượng âm tiết trong dòng thơ tăng

lên theo cấp số cộng thì các quan hệ tăng lên theo cấp số nhân Thơ 6 tiếng có hình thức ngữ âm - ngữ nghĩa tương đương với một loại thành ngữ, tục ngữ:

- Được mùa lúa (/) úa mùa cau Được mùa cau (/) đau mùa lúa

- Sông có khúc (/) người có lúc

Nguyễn Trãi là người sử dụng thể thơ này một cách thành công: Núi láng

giềng chim bầu bạn/ Mây khách khứa nguyệt anh tam/ Tào khê rửa ngàn tầm suối/ Sạch chẳng còn một chút phàm (Thuật hứng 19) Ngữ đoạn 6 âm tiết rất thích hợp

cho việc thiết lập một phán đoán đối xứng - vốn là kiểu tư duy ngôn ngữ có tính lô gíc cao Kiểu cấu trúc này xuất hiện trong tiếng nói của người bình dân đã được cố định hóa bởi các thành ngữ, quán ngữ, tục ngữ và mang đậm tính lô gíc, tính triết

lí Khi cấu trúc ngôn ngữ tương đương với các đặc ngữ (idiom) thì nó trở nên trong

Trang 27

sáng và chứa đựng dung lượng thông tin rất cao Thơ 6 tiếng có thể được xem là thể thơ hàn lâm tiếng Việt ra đời sớm nhất Cho đến khi trào lưu hiện đại có xu hướng tăng cường yếu tố cảm xúc thì nó buộc phải nhường bước cho các thể thơ có

số lượng tiếng lớn hơn Thơ hiện đại chứa đầy tác tử tình thái, trường nét dư có xu thế được khôi phục lại, cấu trúc thơ 6 tiếng không còn thích hợp nữa

Nếu cấu trúc 6 tiếng thiên về tính lô gíc thì thể 7 tiếng đã có những sự khác biệt đáng kể Thơ 7 tiếng Việt Nam có lịch sử hình thành tương đối phức tạp Đầu tiên là thơ Đường luật - thể thơ chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi thi pháp thơ Đường Thể thơ này mang tính hàn lâm rất cao, từ ngữ trong sáng và khuôn mẫu cả về mặt ngữ âm lẫn ngữ nghĩa Các nhà nghiên cứu thi ca đều nhất trí cho rằng thơ 7 tiếng

chịu ảnh hưởng bởi hình thức ngữ âm cơ bản của thơ Đường Người có công Việt

hóa nó trước hết phải kể đến Hồ Xuân Hương Nhờ tính tương đồng về loại hình

ngôn ngữ, cộng với tài năng của mình, bà đã "dân gian hóa", "Việt hóa" loại hình

"thơ quý tộc" này Hình thức thơ 7 tiếng được sử dụng phổ biến trong thơ ca hiện

đại Bài Lỡ mùa ve của Vũ Quần Phương là một ví dụ: Bố hứa bắt cho con con ve/

Ve chưa kịp bắt đã qua hè/ Mùa ve sau đến thì con lớn/ Mình bố bên bờ cây lắng nghe Với bốn câu thơ 7 tiếng nhưng sự lặp lại ngữ âm (con - con) trong một dòng

là hiện tượng hiếm thấy trong thơ Đường luật Cảm hứng hiện đại với hình thức mang tính cổ điển đã làm cho bài thơ cô đọng và đậm chất trữ tình

Khác với thơ 7 tiếng, thơ 8 tiếng gần với thơ tự do hơn Trong thơ ca hiện đại,

thể thơ này chiếm một tỉ lệ tương đối lớn (ví dụ Từ ấy của Tố Hữu có 33 bài 8

tiếng trong tổng số 71 bài) Xét trên bình diện rộng, người ta thấy thể thơ 8 tiếng ít mang tính thuần túy hơn, vì có khi ở giữa bài thơ lại xen lẫn một số dòng 7 tiếng Những bài thơ 8 tiếng của Nguyễn Duy thể hiện rất rõ đặc trưng này

Lần lữa mãi thế là ta lỡ dại (8 tiếng)

Để dành thành mất cắp cả tình yêu (8 tiếng) Thế là ta mồ côi em mãi (7 tiếng) Cái vu vơ chết đuối dưới sương chiều (8 tiếng)

Trang 28

Trong trường ca Bài ca chim Chơ Rao của Thu Bồn, tình trạng chêm xen xảy

ra từ đầu đến cuối:

Chim Chơ Rao ơi bay về buôn vắng (8 tiếng) Báo tin buồn đi khắp mọi nơi (7 tiếng) Mặt trời đã rụng hai tia nắng (7 tiếng) Rừng Tây ánh lửa đỏ sáng ngời (7 tiếng)

Sự "nhập nhằng" này phải chăng là biểu hiện của bước chuyển tiếp giữa thơ 7

tiếng với thơ tự do? Xét về mặt hiệu quả, dòng thơ 8 tiếng được tăng cường một âm tiết có thể sẽ tạo ra một điểm nhấn làm cho liên kết nội bộ rõ ràng hơn trong xu hướng khôi phục nét dư khi có điều kiện thích hợp Nguyễn Phan Cảnh khi phân

tích thể thơ 8 tiếng đã xếp chúng vào thể thơ hoành tráng [10, 151] Quả thực thơ 8

tiếng đã tiến tới một mức độ phức hợp mới trong cấu trúc ngữ âm Mỗi dòng thơ là một ngữ đoạn dài chứa đựng một lượng thông tin tương đối lớn, nhưng không vì thế mà cấu trúc ngữ âm trở nên lỏng lẻo Nhờ cách gieo vần gián cách hay liên tục như thể 7 tiếng mà thể thơ 8 tiếng vẫn có được sự mượt mà của giai điệu thơ cổ điển trong cái phảng phất hơi thở của thể thơ tự do

Có lẽ bước đột phá nổi bật nhất trong thi ca Việt Nam hiện đại là sự xuất hiện

và đứng vững của thơ tự do Sự ảnh hưởng trào lưu thơ tự do phương Tây một cách toàn diện đã nhanh chóng đưa thể thơ này du nhập vào trào lưu thi ca dân tộc Bài

Người thương của Nguyễn Viết Lãm là một ví dụ tiêu biểu:

Ơi người thương! (3)

Đó là tiếng ngày xưa cha gọi mẹ (8) Cũng là tiếng bây giờ anh lại gọi em (9) Tiếng dịu hiền trăng đêm, (5) Sương rơi thầm trên cỏ (5) Xưa cha mẹ yêu nhau nón nghiêng che trước ngõ, (10)

Mái tranh nghèo tình dẫu say mê, (7) Vẫn tiếng cành trưa gió thổi bờ tre, (8) Thoang thoảng hương đồng rơm rạ (6)

Trang 29

Chúng ta thương nhau nhớ lời cha mẹ dạy, (9) Tình đã sâu nghĩa nặng gấp bao lần! (8) Anh vẫn chiều chiều đợi tắt nắng trên sân (9)

Vẻ non xa tấm trăng gần e ấp (8) Nhưng bóng dáng thân yêu vạn trùng non che lấp (10)

Chỉ thầm nghe hai tiếng gọi: (6)

Người thương! (2)

Đây là một bài thơ tự do với đặc điểm dễ nhận thấy như không bị gò bó về niêm luật, về số tiếng trong dòng (3, 8, 9, 5, 5, 10, 7, 8, 6, 9, 8, 9, 8, 10, 6, 2), về hiệp vần (chỉ có 3 cặp hiệp vần chính trong 14 dòng thơ), về cách ngắt nhịp Vì vậy, khả năng biểu đạt ngữ nghĩa thông qua các hình thức ngữ âm hết sức to lớn Chúng ta bắt gặp trong bài thơ sự thay đổi các hình thức ngữ âm rất linh hoạt theo sát với những cung bậc tình cảm, cảm xúc của nhân vật trữ tình Mở đầu là một

tiếng gọi Người thương! rất tự nhiên và đậm chất khẩu ngữ Tiếp đến là giọng tâm tình trong lời kể làm cho câu thơ dài ra như thể tiếng người xưa vọng lại thành

tiếng bây giờ Hai dòng tiếp theo ngắn lại chỉ còn vẻn vẹn 5 tiếng tạo thành những

thanh âm lắng đọng Bốn dòng tiếp theo trở lại với giọng kể ban đầu Những dòng

thơ còn lại có một sự chuyển mình tinh vi: từ tắt nắng trên sân rất mới lạ của dòng trên đột ngột liên kết với vẻ non xa tấm trăng gần dòng dưới kết thúc bằng một âm tiết khép (ấp) tạo ra cảm giác dồn nén Cảm giác đó càng được tăng cường khi dòng thơ tiếp theo cũng kết thúc bằng một âm tiết tương tự (lấp) Tình trạng đó đạt

đến độ căng nhất định để cuối cùng buông ra lan tỏa mãi cái dư vị ngọt ngào theo

dòng thơ cuối cùng - cũng là một tiếng gọi thiết tha: Người thương! Cái độc đáo

của bài thơ là tính tự do của thể loại dẫn đến sự đa dạng về nhạc điệu Hình thức ngữ âm đó đã theo sát và hỗ trợ đắc lực cho mặt ngữ nghĩa vốn cũng rất phong phú như chính nhịp sống và cảm xúc của con người hiện đại Như vậy, thơ tự do cũng

có những ưu thế riêng so với các thể thơ khác Đó là năng lực chuyển tải các cung bậc tình cảm phong phú, đa dạng và đầy kịch tính Tóm lại, trong nền thơ hiện đại,

Trang 30

thơ tự do đang là một thách thức lớn đối với thể thơ truyền thống cách luật có hình thức ngữ âm chặt chẽ như thơ lục bát

1.3 Vai trò và vị trí của thơ lục bát trong nền thi ca dân tộc

Tiến trình lịch sử thi ca dân tộc đã chứng minh rằng thơ lục bát có một phẩm chất thẩm mĩ đặc biệt kết tinh tinh hoa văn hoá-ngôn ngữ dân tộc Lục bát thể hiện cảm thức cộng đồng ở mọi thời đại Vì thế thể thơ này đồng hành cùng với tiến trình phát triển văn hóa - xã hội Nó bền bỉ và sâu lắng Mỗi con chữ hằn rõ dấu ấn những trạng thái tâm lí tinh tế, phức tạp của mọi cá nhân trong cộng đồng xã hội Cho dù được hiện đại hóa, những câu hát ru của ca dao vẫn tái sinh từ thế hệ này

đến thế hệ khác mà chưa lúc nào bị đứt đoạn .Mẹ ru cái lẽ ở đời/ Sữa nuôi phần

xác, hát nuôi phần hồn/ Bà ru mẹ, mẹ ru con/ Liệu mai sau các con còn nhớ chăng (Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa - Nguyễn Duy) Ngôn từ lục bát bằng cách này

hay cách khác đã đi vào tâm thức cộng đồng, biến hóa và tái sinh hiển nhiên giữa

đời sống hiện thực Phạm Đình Toái đã nhận định: "tao nhân, hào khách mở miệng

thành câu, khuê phụ, điền phu buông lời đúng điệu, cho đến ngạn ngữ ca dao các câu trẻ con đùa hát mà cũng đều tự nhiên đúng thể" [56, 53] Sở dĩ có tình trạng đó

là vì hình hài lục bát đã "thường trú" trong ta tự bao giờ, một lúc nào đó hứng khởi

mà "buông lời đúng điệu" Lời và nhạc lục bát thường trực trong tiềm thức, cảm

hứng đến là bộc phát thành thơ

Một đặc điểm nổi bật dễ nhận thấy trong cấu trúc 6-8 là vần lưng Đa số ý kiến đều cho rằng nó là dấu hiệu đầu tiên về tính cổ truyền dân tộc, là chất thuần túy Việt Nam Vần lưng và vần chân xuất hiện xen kẽ nhau, dựa vào nhau để phát triển, kéo dài trục ngữ đoạn, làm nên sự liền mạch trong điệu tính, vừa dễ nhớ, dễ thuộc, vừa phù hợp với sự ngâm ngợi - vốn là cái nơi phôi thai và là nơi ẩn náu của thi ca dân tộc Vần bằng được gieo ở hai vị trí trong một dòng thơ tạo nên âm điệu

cơ bản nhẹ nhàng, uyển chuyển Vần lưng tạo nhịp chẵn sau và đồng hóa hệ thống làm cho nhịp đôi trở nên phổ biến Đây là nét đặc trưng của thơ lục bát Việt Nam

so với thơ Trung Hoa [81, 384] Những đặc điểm ngữ âm này dễ dàng diễn tả những nỗi lòng u uẩn chứa đầy niềm riêng và cả sắc âm giai điệu tâm tình của cả

Trang 31

cộng đồng Tâm tình đời tư, tâm tình thế sự ở đâu, thời đại nào cũng có những bài lục bát hay vì uẩn khúc lòng người và tài năng thi ca chẳng bao giờ vắng bóng

Thể lục bát cũng có những hạn chế nhất định Chính cơ chế sản sinh "buông

lời đúng điệu" khiến cho thể thơ này có lúc bị nhiễu (cả trong sáng tác lẫn tiếp

nhận) Khi được dùng để diễn ca, lục bát chỉ có sự hoạt động của ngữ âm (nhạc điệu) mà hầu như không có (hoặc có nhưng rất hạn chế) sự hoạt động của ngữ nghĩa Nó trở thành một bài diễn ca tuyên truyền, cổ động Sự thuận lợi về mặt nhạc tính trong sáng tác tạo nên tính phổ biến, nhưng cũng vì thế mà sinh ra tâm lí

dễ dãi Nó không còn được mọi người xem là thứ nghệ thuật tao nhã Những bài lục bát hàn lâm phải chen lấn với vô số bài thơ cùng thể loại chỉ có nhạc điệu mà nghèo

về ý nghĩa Thực tế, khi người ta không chú trọng mặt ý nghĩa thì lục bát là một thứ thơ rất dễ làm Bên cạnh đó, với một giai điệu êm ái, phần nào gợi lên sự giáo điều trong cảm xúc đã gây không ít khó khăn cho người sáng tác khi cần phải biểu lộ những trạng thái tâm lí phức tạp của người đương thời Vì vậy để có được một bài lục bát hay, tài năng và lòng kiên nhẫn của người sáng tác phải được rèn dũa trong những điều kiện hết sức khắt khe

1.4 Các xu hướng lục bát và những thành tựu lục bát hiện đại tiêu biểu

Lục bát được quần chúng lao động sáng tạo qua hàng nghìn năm và tồn tại, phát triển song hành cùng văn hóa dân tộc nên bản thân nó là một phức thể Hiện nay, trong nền văn học viết, lục bát vận động theo hai xu hướng chủ yếu Xu hướng

thứ nhất là xu hướng trở về với ca dao Xu hướng này là sự tiếp nối những thuộc

tính của lục bát khi văn tự chưa trở thành hình thức giao tiếp ngôn ngữ phổ biến

Xu hướng thứ 2 là xu hướng hiện đại hóa Trong xu hướng này, nhạc điệu phải dựa

trên nền âm luật cơ bản nhưng linh hoạt tận dụng những yếu tố khả biến để tạo ra tính đa dạng Ngôn từ phải đa trị và các phương thức biểu đạt phải đa chiều Việc xác định các khuynh hướng lục bát sẽ là cơ sở khoa học cho phép ta thiết lập các hệ thống dẫn liệu, các hệ quy chiếu trong quá trình giải quyết các vấn đề mà luận án đặt ra

Trang 32

Thơ lục bát được hình thành từ lời nói vần dân gian Nguyễn Văn Hoàn đã

nhất trí với Bùi Kỷ khi cho rằng: "Phát nguyên bởi những ca dao, phương ngôn

ngạn ngữ đời cổ: kỳ thuỷ, mỗi câu hoặc bốn, năm chữ, hoặc sáu, bảy, tám, chín chữ, không nhất định; dần dần lựa vào êm tai, đọc ra thuận miệng, thành ra một thứ âm điệu, cứ câu sáu tiếng, tiếp luôn câu dưới tám tiếng, cho nên gọi là lục bát"

[56, 45]

Trong các thể thơ dân gian, lục bát đóng một vai trò quan trọng đối với đời sống văn hóa tinh thần của người Việt [87, 62] Lục bát ca dao với hình thức ngữ

âm ổn định, ngôn từ trong sáng đã thực sự chiếm một vị trí quan trọng trong nền thi

ca dân tộc từ trước đến nay

Trên cơ sở lục bát dân gian trữ tình, lục bát diễn ca tiếp thu phần nhạc để "thơ

hóa" truyện nôm Đây chính là cái nôi để Nguyễn Du thai nghén hình thức cấu trúc

ngôn ngữ của Truyện Kiều nổi tiếng Truyện Kiều đã tiếp thu lối diễn ca của truyền

thống truyện Nôm một cách sáng tạo Đây chính là loại hình trường ca trong văn

chương Trung đại Câu thơ lục bát Truyện Kiều đã đạt đến độ tinh xảo Mỗi chữ,

mỗi dòng đều là những viên ngọc quý Khi được đặt vào mỗi tình huống cụ thể rộng, hẹp khác nhau chúng sẽ thể hiện các lớp, các khía cạnh ngữ nghĩa hết sức tinh

tế Ngôn ngữ Truyện Kiều đậm chất hàn lâm, là kết quả của lối tư duy bác học: chính xác, trong sáng và cân đối hài hòa Truyện Kiều là một bài thơ lục bát rất dài, được xây dựng trên nền tự sự, nhưng không có chữ nào, dòng nào bị đánh bật ra

khỏi âm luật thể loại

Mặc dù cấu trúc lời thoại trực tiếp xuất hiện với số lượng tương đối lớn trong suốt tác phẩm, thêm vào đó là việc sử dụng phổ biến các thành ngữ Hán - Việt, điển

tích, điển cố, song câu thơ Truyện Kiều vẫn là câu thơ lục bát thuần túy Việt Nam

Cho dù có nhiều sự biến đổi về mặt ngữ âm so với hình thức của ca dao nhưng lục

bát Truyện Kiều không vì thế mà phá vỡ nền tảng âm luật thể loại Ngược lại nó đã

làm cho hình thức ngữ âm của thể thơ này càng thêm phong phú và đa dạng, đáp ứng nhu cầu diễn tả tất cả những cung bậc tình cảm, những rung động tinh tế trong tâm hồn con người hiện đại, thậm chí với cả con người tương lai

Trang 33

Với 3254 câu thơ lục bát, "người ta có cảm tưởng Nguyễn Du đã sáng tạo ra

một thứ ngữ ngôn văn học cho cả thời đại" [120, 201] Truyện Kiều đi vào văn học

nước nhà như một thành tựu ưu tú nhất và đi vào thi đàn dân tộc như một chuẩn mực của thể loại thi ca truyền thống cách luật Người ta vẫn thường tự hỏi tại sao một tác phẩm lục bát dài như vậy, câu thơ Sáu-Tám lặp đi lặp lại cả ngàn lần mà vẫn không gây cho người đọc cảm giác nhàm chán Đó là nhờ Nguyễn Du đã sử

dụng ngôn ngữ một cách linh hoạt, tránh cho Truyện Kiều sự đơn điệu Cho đến nay, thời gian đã kiểm chứng một cách hùng hồn rằng Truyện Kiều là một trường

ca lục bát có một không hai trong lịch sử thi ca tiếng Việt Truyện Kiều đã tôn vinh

thể thơ lục bát, đưa nó lên hàng ngũ của những thể thơ hàn lâm, hay lục bát đã đưa

lại vinh quang cho Truyện Kiều? Có thể là cả hai Chính sự ngự trị vững chắc của

Truyện Kiều trên thi đàn dân tộc mà một số học giả đã có lúc bi quan nghĩ rằng, cái

tinh túy nhất của lục bát, đại thi hào dân tộc Nguyễn Du đã sử dụng đến cạn kiệt, đời sau lấy đâu ra một dòng thơ lục bát hay! Trên thực tế ý nghĩ đó đã không tồn tại

được lâu Sau Truyện Kiều, thơ lục bát vẫn phát triển không ngừng Đời sống kéo

thi ca cùng thay đổi Thời đại nào cũng có đủ điều kiện cho thi sĩ thi thố tài năng Tuy nhiên để tạo ra được một tác phẩm thơ lục bát hay thì còn phải có thêm những điều kiện riêng của nó Đó chính là khả năng thâu tóm văn hóa tinh thần dân tộc, nhuần nhuyễn ngôn ngữ nhân dân, cộng với tài năng và tâm huyết

Những năm từ 1930 về sau, khi mà diễn đàn thi ca nước nhà chuyển mình sang một xu hướng mới, thi hứng Tây Phương tràn vào mọi ngõ ngách tâm hồn, lục bát lại đứng trước một thử thách mới: vận động để tồn tại hay nhường thi đàn cho thơ tự do Từ trong những xung đột nội tại, cuối cùng lục bát đã tìm được chỗ đứng cho mình trong một bối cảnh mới, bối cảnh thi ca lãng mạn

Trong hợp tuyển Thi nhân Việt Nam, với 168 bài thì thơ lục bát chiếm 35 bài, đứng thứ 3 sau thơ thơ 7 tiếng (68 bài) và 8 tiếng (41 bài) Trong 215 bài của Hợp

tuyển thơ Việt Nam 1945 - 1985, lục bát chiếm 14,4% với 31 bài, đứng thứ 2 sau

thể thơ tự do (41,3%, với 89 bài) Như vậy trào lưu thơ lãng mạn có làm thay đổi chút ít địa vị của lục bát (xét một cách tương đối về số lượng), khi thi đàn bình lặng

Trang 34

trở lại, thể thơ này lại trở về với vị trí vốn có của nó Người nhà quê Nguyễn Bính

vẫn ngạo nghễ với những vần thơ lục bát mới, xướng những âm thanh có độ ngân vọng rất lớn vào hợp âm của dàn đồng ca lãng mạn Nhiều thi sĩ đang mải mê với thể thơ tự do bỗng giật mình nhìn Nguyễn Bính ung dung tung hứng những vần thơ

chân quê Trong một chuyên luận có tầm cỡ đầu tiên đánh giá về Thơ Mới - tác phẩm Thi nhân Việt Nam, Nguyễn Bính được Hoài Thanh - Hoài Chân dành cho những nhận xét ưu ái nhất: "Người nhà quê của Nguyễn Bính vẫn hiên ngang sống

như thường Tôi muốn nói Nguyễn Bính vẫn còn giữ được bản chất nhà quê nhiều lắm, và thơ Nguyễn Bính đã đánh thức người nhà quê vẫn ẩn náu trong lòng ta"

Đây là những đánh giá về sáng tác của Nguyễn Bính trước 1945 Mười ba tuổi bắt đầu làm thơ, cho đến những năm cách mạng tháng 8 sắp bùng nổ, thi hứng thời đại

sắp chuyển mình thì Nguyễn Bính đã có trong tay 7 tập thơ Người nhà quê trong

thi phẩm của Nguyễn Bính trước hết được bộc lộ qua cấu trúc thể loại Ngay từ tập

thơ đầu tay Lỡ bước sang ngang, có 5 bài lục bát trong tổng số 14 bài thơ, đứng thứ

2 sau thể 7 tiếng Xét về mặt chất lượng, độc giả đánh giá cao những bài thơ lục bát

như Không đề, Lỡ bước sang ngang, Tương tư Trong tập thơ này thi hứng của

Nguyễn Bính rất ổn định Ông chỉ tập trung trên 2 thể thơ lục bát và 7 tiếng Dường như thi nhân đang có xu hướng quay về với những tâm sự riêng tư đã từng xuất hiện rất nhiều trong ca dao Tên của tập thơ đã làm cho người đọc nhớ đến những câu ca dao than thân trách phận của những người con gái tình duyên lỡ dở Yêu say

đắm mà chỉ dám ngóng nhau qua nỗi niềm tương tư tuyệt vọng: Thôn Đoài ngồi

nhớ thôn Đông - Một người chín nhớ mười mong một người Để cuối cùng đành

Lỡ bước sang ngang Tâm hồn tôi là tập thơ thứ hai khẳng định thiên hướng lục

bát trong sáng tác của Nguyễn Bính Lúc này hồn thơ của Nguyễn Bính đã đạt đến

độ chín Những bài thơ lục bát của ông có một vị trí quan trọng đối với đời sống tâm hồn độc giả lúc bấy giờ Từ đây, ngẫu nhiên chắp nối tên gọi các tập thơ, bài thơ, từ thường dùng ta sẽ được một hành trình tâm trạng xuyên suốt trong lục bát

Nguyễn Bính: từ trách ai nỡ rũ bỏ cái chân quê mộc mạc chốn hoa chanh nở giữa

vườn chanh, để qua nhà không thấy bóng người xưa, ngơ ngác nhìn giàn giầu

Trang 35

không dây chẳng buồn leo vào giàn, anh lái đò vỡ mộng giấc mơ thu, hồn vấn

vương như những cánh cỏ may một chiều cả gió và tuyệt vọng với cái dậu mùng

tơi xanh rờn cách trở Nhưng rồi Hương cố nhân (tên tập thơ thứ ba) vẫn lẫn quất

đâu đây, bóng người tình xưa xa vời Thi nhân đành trở về mở toang Một nghìn

cửa sổ (tên tập thơ thứ tư) để giao hòa cùng trời đất, mong mỏi trong giấc mơ xuân

chập chờn Bóng bướm gặp được người trong mộng Thi nhân thêm tuổi nhưng mĩ nhân ở tận nơi đâu Người con gái ở lầu hoa (tên tập thơ thứ năm) chỉ thấp thoáng

ẩn hiện, mơ hồ và xa xôi Chơi vơi cùng trường tình, Nguyễn Bính bỗng da diết nhớ về một thuở xa xăm Nơi ấy bảng lảng Mây tần (tên tập thơ thứ sáu) trên cao,

khách đa tình mơ về chốn bình yên có người con gái chăn tằm dệt lụa tình tứ và ý

nhị trong lời bày tỏ: Nhà em xa cách quá chừng - Em van anh đấy anh đừng yêu

em Những tháng ngày nhà thơ sống ở xứ Huế, lạc giữa chốn kinh kì xa lạ nên Mười hai bến nước (tên tập thơ thứ bảy) rủi may là dư âm lời buồn của một đời

buồn Vài nét Huế là những nét vẽ cuối cùng cho một giai đoạn thơ (cũng có thể

gọi là một đời thơ) Nguyễn Bính Trong những tập thơ từ 8 bài trở lên, lục bát luôn chiếm một số lượng lớn Thi hứng Nguyễn Bính thực sự ưu ái cho thể thơ này

Dù đời sau có ai đó "chân quê" hơn cũng khó có thể để lại một di sản thơ lục bát đồ

dao vào thơ lục bát khá thành công Vì vậy có thể nói rằng ông chính là người mở đường cho lục bát lãng mạn Lục bát Nguyễn Bính như một sự tiếp nối con đường

mà Tản Đà đã khai phá Trong khi các nhà Thơ Mới như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Chế Lan Viên đang hào hứng tiếp nhận lối sử dụng ngôn ngữ trong

Trang 36

thơ ca phương Tây thì Nguyễn Bính đã lặng lẽ và điềm tĩnh đưa ra những lời quê

chân chất với sức truyền cảm mãnh liệt và bền bỉ Với những lối ví von đậm chất dân gian, thơ lục bát Nguyễn Bính đã đi vào lòng người một cách tự nhiên, cắm rễ, bám sâu vào cội nguồn ngôn ngữ dân tộc Tản Đà là người thử nghiệm, mở đường, đưa cảm hứng lãng mạn vào lục bát, Nguyễn Bính lại là người khẳng định khả năng thích ứng của ngôn ngữ dân gian trong trào lưu Thơ Mới Ngôn ngữ lục bát Nguyễn Bính kết tinh hai phẩm chất dân gian và hiện đại Những hình ảnh thơ

Nguyễn Bính bám sâu vào kí ức quá khứ Vì vậy khi nói về cái tương tư rất riêng

tư, cách nói và hình ảnh của ca dao vẫn hiện ra thấp thoáng Thôn Đoài ngồi nhớ

thôn Đông cũng như Một người chín nhớ mười mong một người Nguyễn Bính đã

thi vị hóa cuộc sống nông thôn Bằng cách này ông đã dễ dàng dung hợp được hai bình diện tưởng như đối lập: cảm hứng lãng mạn, hiện đại với hình thức ngôn ngữ

cổ điển, truyền thống Lê Đình Kỵ đã nhận xét rằng: "So với các nhà thơ lãng mạn

trước cách mạng, Nguyễn Bính đứng riêng một cõi Nếu có lẫn lộn thì chỉ lẫn lộn với các tác giả vô danh từ bao đời đã chung sức làm nên một kho tàng vô giá của

ca dao dân tộc" [67, 291] Bằng các phương thức và phương tiện chuyển nghĩa đặc

biệt, Nguyễn Bính đã đưa đến cho ngôn từ thơ lục bát những giá trị mới Trong trào

lưu lãng mạn, ông đã tiếp thu những tinh hoa "đặc trưng dân tộc về văn hóa đã bị

nén lại trong dạng dân gian" [10, 203] để làm nên một lục bát mới thích ứng đến

kinh ngạc với văn minh đô thị

Trong khi lục bát Nguyễn Bính đứng riêng một cõi thì lục bát Huy Cận, Xuân Diệu lại hòa điệu cùng dàn đồng ca lãng mạn Tuy nhiên Xuân Diệu, người mới

nhất trong các nhà Thơ Mới cũng rất ít làm thơ lục bát Sự thành công của ông ở

thể thơ này chỉ được ghi nhận ở bài Chiều: Hôm nay trời nhẹ lên cao,/ Tôi buồn

không hiểu vì sao tôi buồn / Lá hồng rơi lặng ngõ thuôn,/ Sương trinh rơi kín tự nguồn yêu thương./ Phấp phơ hồn của bông hường,/ Trong hơi phiêu bạt còn vương máu hồng,/ Nghe chừng gió nhớ qua sông,/ E bên lau lách thuyền không vắng bờ./ Không gian như có dây tơ,/ Bước đi sẽ đứt, động hờ sẽ tiêu Bài thơ

chứa đựng những phương thức chuyển nghĩa độc đáo Những hình ảnh ẩn dụ, so

Trang 37

sánh không còn rõ ràng, dứt khoát như trong ca dao (núi, mận, đào ) mà là một

"tập hợp mờ" được "khái quát" trong một dòng thơ: Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn Đơn giản có lẽ chỉ vì trời nhẹ lên cao đưa thi nhân bồng bềnh lãng du trên

chín tầng mây! Cả vũ trụ giăng mắc muôn sợi tơ tình mỏng tang Vũ trụ trong mắt nhà thơ bây giờ là những sự vật không có hình khối rõ ràng Vậy nên cách gọi tên

sự vật cũng trở nên khác thường: ngõ thuôn, sương trinh, nguồn yêu thương, hơi

phiêu bạt, máu hồng Đây là những cấu trúc ngôn ngữ đặc biệt có đầy đủ khả năng

để tự thiết lập một đời sống riêng Chính vì vậy khi đọc bài thơ, các hình ảnh đọng

lại trong ta hết sức lâu bền Chúng là những phương tiện cấu tứ tiêu biểu của thi ca lãng mạn nói riêng, của thơ ca hiện đại nói chung

Huy Cận có thể được xem là một lục bát lãng mạn trong thế đối trọng với lục bát Nguyễn Bính Ông sáng tác ở cả hai giai đoạn Giai đoạn trước Cách mạng

được tập hợp trong tập Lửa thiêng Đây là tập thơ rất có giá trị, nó làm nên một

phong cách thơ độc đáo phân biệt với những cây bút nổi tiếng cùng thời Cũng là

nỗi buồn trong thơ ca lãng mạn song "nỗi buồn Huy Cận" lại nhuốm màu sắc

không gian, cái không gian hiu hắt, quạnh vắng làm tê tái lòng người được ghi dấu bởi những thời điểm hết sức đặc biệt Bên cạnh cái mênh mang trời rộng sông dài được diễn tả trong thể thơ 7 tiếng là những dòng lục bát nhuần nhuyễn dư vị của

Thơ Mới, rất "mới" về cả cảm hứng, giọng điệu lẫn cấu trúc ngôn từ Trong tập Lửa

thiêng với 50 bài thì lục bát đứng thứ 3 với 7 bài Thơ Huy Cận có thể chia thành

hai mảng: mảng thơ 7 tiếng, 8 tiếng đậm tính hàn lâm và mảng thơ lục bát điêu luyện, hiện đại, nhạc điệu hài hòa, cân đối Thi sĩ nổi tiếng một thời, Bùi Giáng, rất tâm đắc với lục bát Huy Cận và cho rằng chính Huy Cận đã đưa vào lục bát cái màu sắc bí ẩn của ngôn ngữ tinh luyện Đường thi Ngôn từ thơ đã đạt đến mức

"hoằng viễn, kì ảo nhất" [14, 161] Mặc dù số lượng lục bát trong sáng tác của Huy

Cận không nhiều nhưng hầu hết bài thơ thuộc thể loại này lại thể hiện rất tập trung một phong cách lục bát mới và một khuynh hướng lục bát đầy triển vọng Một số

bài như Buồn đêm mưa, Thuyền đi, Ngậm ngùi được hun đúc bằng nhạc điệu lục

bát rất mực thuần thục và những hình ảnh mới lạ có sức hút của ma lực Trong mỗi

Trang 38

bài thơ đều có cái gì đó xa vắng mênh mông rất khó gọi thành tên Đến tận bây giờ, nhiều người làm thơ lục bát, tham gia các cuộc thi lục bát trên các báo vẫn cảm

thấy hết sức khó khăn khi muốn tái tạo một bài lục bát mang "hơi hướng Huy

Cận" Những câu thơ như Trăng lên trong lúc đang chiều/ Gió về trong lúc ngọn triều mới lên, cả về phương thức cấu tứ lẫn giọng điệu và từ ngữ đều hết sức tân kỳ

Đơn vị biểu nghĩa cơ bản không còn nằm ở từ và cụm từ hay cấu trúc so sánh

thường gặp trong lục bát dân gian và lục bát Truyện Kiều mà dòng thơ hoạt động

như là một mệnh đề độc lập ý nghĩa của từ hoà tan vào hệ thống cấu trúc câu Bằng cách này, Huy Cận đã thành công trong việc thể hiện cái mơ màng, cái bảng lảng trùm lên toàn bộ thi cảm mà những từ ngữ thông thường không đủ sức diễn tả Dường như phương thức biểu hiện trong lục bát Huy Cận đã chớm vào địa giới của

Tượng trưng và Siêu thực (Điều này đã được kiểm chứng ở thơ lục bát Bùi Giáng

sau này với nhiều điểm tương đồng rất lớn so với lục bát Huy Cận) Với một số lượng lục bát không lớn, nhờ có được các phương thức, phương tiện biểu hiện độc đáo, Huy Cận đã tạo nên một xu hướng lục bát hiện đại mang dấu ấn riêng phân biệt với các tác giả lục bát nổi tiếng đương thời như Nguyễn Bính, Tố Hữu

Nếu lục bát Huy Cận là một nét son chói lọi trên nền thơ ca lãng mạn thì lục bát Tố Hữu dường như là một sự trở về cùng những thuộc tính nguyên sơ của thể loại nhưng ở một cấp độ cao hơn Mặc dù rất rất am hiểu tính diễn ca của lục bát, song tác giả không né tránh mà chấp nhận để vượt qua Kiên nhẫn tìm tòi tiềm lực lục bát truyền thống để hóa giải lối diễn ca thành phương thức, phương tiện biểu

hiện, Tố Hữu thực sự đã làm nên một phong cách lục bát độc đáo: lục bát đại

chúng hiện đại Là một nhà thơ lớn của dân tộc, trong suốt hơn nửa thế kỉ lao động

nghệ thuật miệt mài, ông đã để lại cho đời một thành tựu thi ca khổng lồ Là người chủ trương dân tộc hóa, đại chúng hóa và hiện đại hóa thi ca, Tố Hữu thực sự trở thành thi sĩ của muôn nhà Trong cái danh dự đó có sự đóng góp không nhỏ của thể thơ này Ngay trong một bài thơ tự do rất giàu nhạc điệu, hồn thơ Tố Hữu cũng

không thoát ra khỏi sự ám ảnh của giai điệu lục bát: Sông Thao nao nức sóng dồi

- Ai về Hà Nội thì xuôi cùng thuyền (Ta đi tới) Người yêu thơ lục bát đã quen với

Trang 39

những giai điệu mượt mà, êm ái, uyển chuyển cùng với những sắc màu cảm xúc riêng tây, những nỗi lòng, những tâm sự cá nhân lại ngạc nhiên trước một lối lục

bát mang "cảm xúc mạnh": lục bát trữ tình - sử thi Nhiều người cho rằng thơ Tố Hữu thuộc loại hình trữ tình - chính trị [92] Nhưng đánh giá như vậy e rằng còn

thiệt cho ông Với tài năng của mình, Tố Hữu đã đưa tiếng nói dân gian, dân tộc, cảm xúc cộng đồng và cảm xúc thời đại vào những vần thơ lục bát một cách khéo léo Vì vậy, những câu thơ với vẻ bề ngoài diễn ca, song lại có ma lực hấp dẫn kì

lạ Dòng thác cách mạng đã nung nấu cảm hứng thơ đạt đến độ chín muồi để rồi cùng với sự nhạy bén và tinh tế trong cảm thụ ngôn ngữ dân tộc đã giúp Tố Hữu sáng tạo ra những vần thơ lục bát làm say lòng người qua bao nhiêu thế hệ Ngôn

từ lục bát Tố Hữu trong sáng, thanh tao nhưng giản dị Cũng Mình -Ta (trong Mình

về mình có nhớ ta ) quen thuộc trong lối xưng hô dân dã, nhưng cách so sánh Nhớ

gì như nhớ người yêu thì quả thực làm người nghe phải giật mình (người bình dân

thường tránh dùng chữ yêu mà hay dùng chữ thương) Sự hòa quyện hai khuynh

hướng dân gian và hiện đại trong một câu thơ, bài thơ là nét nổi bật nhất của lục bát

Tố Hữu Nếu sự nghiệp sáng tác của Tố Hữu đã làm nên một phong cách trữ tình -

sử thi độc đáo thì lục bát của ông là một biểu hiện tập trung nhất của phong cách

ấy Kể từ tập thơ mới định hình đầu tiên, Từ ấy, càng về sau lục bát càng ấn tượng

và làm thành một mảng lớn trong hồn thơ ông Tập thơ đầu tay cũng đã có được một số bài lục bát hay như Tiếng sáo ly quê, Khi con tu hú, Tiếng hát đi đày đánh

dấu cái mốc quan trọng trong hành trình thơ Tố Hữu nói chung, thơ lục bát nói

riêng như tên gọi của nó: Từ ấy Khi cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp kết thúc thì cũng là lúc tập thơ Việt Bắc hoàn thành Ngay tên gọi cũng đã phát lộ cội

nguồn cảm hứng cách mạng, quần chúng nhân dân, đất nước của một thời đại hào hùng Trải qua một thời gian thử nghiệm, lục bát Tố Hữu đến giai đoạn này đã khá

nhuần nhuyễn và thuần giọng với một số bài tiêu biểu như Bầm ơi!, Việt Bắc, Sáng

tháng năm Miền Bắc hoàn toàn giải phóng, Tố Hữu quay về với những "vần thơ tươi xanh" Trong tập Gió lộng, số lượng lục bát chiếm một tỉ lệ không lớn Nó như

cầu nối với tập Ra trận Trong tập này lục bát có một vị thế rất đáng kể và đã đi dần

Trang 40

vào thế ổn định, đạt đến độ thuần thục về hình thức thể loại Nhiều bài lục bát hay

là kết quả của sự kết hợp một cách nhuần nhuyễn chất liệu dân gian (ngôn từ, cảm hứng, giọng điệu của hò, vè) với cảm xúc trực tiếp và thi tứ hiện đại Lời thơ giản

dị nhưng ý tứ sâu sắc Tập thơ cuối cùng của con người chiến sĩ Tố Hữu là Máu và

hoa được sáng tác vào những năm 1971 - 1977 như một đóa hoa nở đúng mùa

Những vần thơ lục bát đạt đến độ chín muồi nhất Ngôn từ lục bát Nước non ngàn

dặm quyện hòa đến mức cao nhất chất trữ tình, chất diễn ca và chất hiện đại Trong

các tập thơ trước, những thuộc tính này còn chưa tập trung, nhưng đến đây chúng

đã quyện hòa vào nhau làm một Tố Hữu thực sự đã làm một thử nghiệm để vượt lên những phẩm chất của thể loại đã được dân gian khai thác triệt để Cho đến cuối

“thời kì lục bát Tố Hữu”, lục bát hiện đại đã “đổi dòng” với sự nhập cuộc của

Nguyễn Duy

Lục bát của Nguyễn Duy đi vào cuộc sống hiện đại một cách khá đặc biệt Thơ lên ngôi cùng với hình ảnh thúng mủng, những thứ lá cây quen thuộc trong vườn, trên những trang báo tết và các cuộc triển lãm Từ những năm cuối của thập

kỉ 90, Nguyễn Duy đã trở thành một hiện tượng lục bát Trong trào lưu thơ ca hiện đại, lục bát Nguyễn Duy luôn là một cõi riêng đầy quyến rũ Thơ ông thể hiện được

cá tính sáng tạo trong cách sử dụng ngôn từ Ngòi bút Nguyễn Duy đã có một sự vận động kì diệu qua 10 tập thơ được sáng tác từ những năm đầu 70 đến đầu những

năm 90 Tập thơ đầu tay, Cát trắng đã có tới 13 bài lục bát trong tổng số 50 bài Trong đó đã có được một số bài lục bát hay như Bầu trời vuông, Võng trăng, Tre

Việt Nam Đây là những bài thơ gây ấn tượng ngay từ đầu cho độc giả Tập thơ tiếp

theo, Anh trăng, gồm 8 bài lục bát trong tổng số 32 bài thơ Trong tập này nhiều bài thơ được đánh giá cao như Ca dao vọng về, Nhớ bạn, Hỏi thăm, Xuồng đầy Mẹ

và em là tập thơ thứ 3 vừa sáng tác vừa tập hợp những bài thơ trước đó theo chủ đề Đường xa là tập thơ tiếp theo được sáng tác khi nhà thơ đang ở xứ người, ở nhà

Tây, đọc thơ Tây Trong tập thơ này, bài lục bát hay nhất, Trắng và trắng lại

được xây dựng từ sự đảo lộn trật tự âm luật Dường như năng lượng đã tích lũy đủ

để nhà thơ làm một cuộc đột phá trong hành trình sáng tạo Quà tặng là tập thơ viết

Ngày đăng: 31/03/2015, 14:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Arixtote, Lưu Hiệp (1999), Nghệ thuật thi ca; Văn tâm điêu long. Nxb Văn học Tái bản. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thi ca; Văn tâm điêu long
Tác giả: Arixtote, Lưu Hiệp
Nhà XB: Nxb Văn học Tái bản. Hà Nội
Năm: 1999
[2] Dương Viết á (2000), Ca từ trong âm nhạc Việt Nam. Viện âm nhạc. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca từ trong âm nhạc Việt Nam
Tác giả: Dương Viết á
Năm: 2000
[3] Lại Nguyên Ân (1986), "Tìm giọng mới thích hợp với người thời mình". Tuần báo Văn nghệ số 15, ngày 12/4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm giọng mới thích hợp với người thời mình
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Tuần báo Văn nghệ
Năm: 1986
[4] M. Bakhtin (1992), Lí luận và thi pháp tiểu thuyết (Phạm Vĩnh Cư tuyển dịch và giới thiệu). Trường viết văn Nguyễn Du xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M. Bakhtin
Năm: 1992
[5] M. Bakhtin (1993), Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki (Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn dịch). Nxb Giáo dục. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki
Tác giả: M. Bakhtin
Nhà XB: Nxb Giáo dục. Hà Nội
Năm: 1993
[6] Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung (1996), Ngữ pháp tiếng Việt. Nxb Giáo dục. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung
Nhà XB: Nxb Giáo dục. Hà Nội
Năm: 1996
[7] Phan Kế Bính (1930), Việt Hán văn khảo. Nxb Trung Bắc Tân văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Hán văn khảo
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: Nxb Trung Bắc Tân văn
Năm: 1930
[8] Võ Bình (1975), "Bàn thêm về một số vấn đề về thơ". Tạp chí Ngôn ngữ (3) [9] Võ Bình (1984), "Bước thơ". Tạp chí Ngôn ngữ (số phụ 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn thêm về một số vấn đề về thơ
Tác giả: Võ Bình
Nhà XB: Tạp chí Ngôn ngữ
Năm: 1975
[10] Nguyễn Phan Cảnh (1987), Ngôn ngữ thơ. Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp
Năm: 1987
[11] Nguyễn Phan Cảnh (1999), Thông điệp Nguyễn Bính (Thơ Nguyễn Bính - những lời bình) Nxb Văn hoá - thông tin. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông điệp Nguyễn Bính (Thơ Nguyễn Bính - những lời bình)
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Văn hoá - thông tin. Hà Nội
Năm: 1999
[12] Huy Cận (1979), "Suy nghĩ về nghệ thuật". Báo Văn nghệ (48) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy nghĩ về nghệ thuật
Tác giả: Huy Cận
Nhà XB: Báo Văn nghệ
Năm: 1979
[13] Huy Cận - Hà Minh Đức (1997), Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca. Nxb Giáo dục. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca
Tác giả: Huy Cận - Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục. Hà Nội
Năm: 1997
[14] Huy Cận - Đời và thơ (1999), Nxb Văn học. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huy Cận - Đời và thơ
Tác giả: Huy Cận - Đời và thơ
Nhà XB: Nxb Văn học. Hà Nội
Năm: 1999
[15] Huy Cận - Về tác gia và tác phẩm (2000), Nxb Giáo dục. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huy Cận - Về tác gia và tác phẩm
Tác giả: Huy Cận - Về tác gia và tác phẩm
Nhà XB: Nxb Giáo dục. Hà Nội
Năm: 2000
[16] Nguyễn Tài Cẩn (1996), Ngữ pháp tiếng Việt. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1996
[17] Nguyễn Tài Cẩn (1997), Lịch sử ngữ âm tiếng Việt. Nxb Giáo dục. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử ngữ âm tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb Giáo dục. Hà Nội
Năm: 1997
[18] Nguyễn Tài Cẩn (2001), Một số chứng tích về ngôn ngữ, văn tự và văn hoá. Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chứng tích về ngôn ngữ, văn tự và văn hoá
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
[19] Đỗ Hữu Châu (1981), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt. Nxb Giáo dục. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1981
[20] Trương Chính (1990), "Từ ngôn ngữ đến văn chương". Tạp chí Ngôn ngữ (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ ngôn ngữ đến văn chương
Tác giả: Trương Chính
Nhà XB: Tạp chí Ngôn ngữ
Năm: 1990
[21] Mai Ngọc Chừ (1991), Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học. Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp. Hà Nội
Năm: 1991

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Phân phối thanh điệu tổng thể - Khảo sát một số đặc trưng ngôn ngữ thơ lục bát hiện đại ( trên tác phẩm của một số nhà thơ
Bảng 2.1 Phân phối thanh điệu tổng thể (Trang 59)
Bảng 2.3: Phân phối thanh điệu dòng bát (sl: số lƣợng; tl: tỉ lệ, l:loại) - Khảo sát một số đặc trưng ngôn ngữ thơ lục bát hiện đại ( trên tác phẩm của một số nhà thơ
Bảng 2.3 Phân phối thanh điệu dòng bát (sl: số lƣợng; tl: tỉ lệ, l:loại) (Trang 65)
Bảng thống kê sau: (xem bảng 2.4). - Khảo sát một số đặc trưng ngôn ngữ thơ lục bát hiện đại ( trên tác phẩm của một số nhà thơ
Bảng th ống kê sau: (xem bảng 2.4) (Trang 68)
Bảng 2.5: Mức độ đồng dạng của vần về thanh điệu - Khảo sát một số đặc trưng ngôn ngữ thơ lục bát hiện đại ( trên tác phẩm của một số nhà thơ
Bảng 2.5 Mức độ đồng dạng của vần về thanh điệu (Trang 78)
Bảng 2.8: Nhịp biến của lục bát - Khảo sát một số đặc trưng ngôn ngữ thơ lục bát hiện đại ( trên tác phẩm của một số nhà thơ
Bảng 2.8 Nhịp biến của lục bát (Trang 94)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w