1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát lỗi sử dụng từ ngữ của học viên Trung Quốc học tiếng Việt

135 1K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 2,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiệm vụ của luận văn này là nghiên cứu những lỗi sử dụng từ ngữ, dựa trên lý thuyết so sánh đối chiếu ngôn ngữ để cung cấp một cách nhìn hệ thống đối với thực trạng các loại lỗi từ vựng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LÊ THỊ NGUYỆT MINH

KHẢO SÁT LỖI SỬ DỤNG TỪ NGỮ CỦA HỌC VIÊN TRUNG QUỐC

HỌC TIẾNG VIỆT

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Hà Nội-2012

Formatted Table Formatted: Width: 11.69", Height: 16.54"

Formatted: Vietnamese

Formatted: Vietnamese

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LÊ THỊ NGUYỆT MINH

KHẢO SÁT LỖI SỬ DỤNG TỪ NGỮ CỦA HỌC VIÊN TRUNG QUỐC

HỌC TIẾNG VIỆT

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số : 60 22 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS HOÀNG ANH THI

Hà Nội-2012

Formatted: Vietnamese

Formatted: Vietnamese

Trang 3

QUY ƢỚC VIẾT TẮT

ĐHKHXH & NV Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Trang

1 Bảng 2.1 Bảng phân loại lỗi thuộc về bình diện ngƣ̃ pháp từ 26

2 Bảng 2.2 Bảng phân loại lỗi dùng sai từ loại 34

3 Bảng 2.3 Bảng phân loại lỗi sai trật tự cụm từ 38

5 Bảng 3.1 Bảng phân loại lỗi thuộc về bình diện ngữ nghĩa của từ 60

6 Bảng 3.2 Bảng phân loại lỗi đặc thù của sinh viên Trung Quốc 70

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu liên quan đến đề tài 1

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

5 Tư liệu và phương pháp nghiên cứu 4

6 Ý nghĩa lý luận và thức tiễn của đề tài 5

7 Bố cục của luận án 5

Chương 1: CÁC LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 6

1.1 Một số quan điểm khác nhau về lỗi 6

1.1.1 Lỗi nhìn dưới góc độ cấu trúc và hành vi luận 6

1.1.2 Lỗi nhìn dưới góc độ ngôn ngữ học 7

1.1.3 Lỗi nhìn dưới góc độ giao tiếp liên văn hóa 8

1.1.4 Lỗi nhìn dưới quan điểm ngôn ngữ học ứng dụng theo quan điểm của Pit Corder

10 1.2 Khái niệm lỗi 11

1.2.1 Định nghĩa về lỗi 11

1.2.2 Phân tích lỗi và ý nghĩa của phân tích lỗi 12

1.2.2.1 Phân tích lỗi 12

1.2.2.2 Ý nghĩa của phân tích lỗi 14

1.2.3 Phương pháp tiếp cận lỗi 15

1.3 Lỗi sử dụng từ ngữ 17

1.3.1 Quan điểm về lỗi sử dụng từ ngữ 17

1.3.2 Phân loại lỗi từ ngữ 19

1.4 Tiểu kết chương 1 22

Chương 2: LỖI TỪ VỰNG XÉTSỬ DỤNG TỪ NGỮ XÉT TRÊN BÌNH 24

Trang 6

DIỆN CẤU TRÚCNGỮ PHÁP VÀ MỘT SỐ BÀI LUYỆN KHẮC PHỤC

2.1 Tình hình khảo sát lỗi từ ngữ ởvề cấu trúcbình diện ngữ pháp từ

24 2.2 Miêu tả lỗi từ ngữ xét trên bình diện cấu trúcngữ pháp

27 2.2.1 Lỗi dùng sai từ loại 27

2.2.1.1 Lỗi do nhầm giữa động từ và danh từ 27

2.2.1.2 Lỗi do nhầm giữa tính từ và danh từ 30

2.2.1.3 Lỗi do nhầm giữa tính từ và động từ 32

2.2.2 Lỗi dùng sai trật tự cụm từ 35

2.2.3 Lỗi dùng thừa từ . 39

2.2.3.1 Lỗi dùng thừa từ ngữ do lặp nghĩa 40

2.2.3.2 Lỗi thừa từ do kết hợp sai hư từ 43

2.3 Một số biện pháp khắc phục về lỗi từ ngữ xét trên bình diện cấu trúcngữ pháp

47 2.3.1 Bài tập khắc phục lỗi dùng sai từ loại 47

2.3.2 Bài tập khắc phục lỗi trật tự từ 51

2.3.3 Bài tập khắc phục lỗi thừa từ 56

2.4.Tiểu kết chương 2 57

Chương 3: LỖI TỪ VỰNGSỬ DỤNG TỪ NGỮ XÉT TRÊN BÌNH DIỆN NGỮ NGHĨA VÀ MỘT SỐ BÀI LUYỆN KHẮC PHỤC

59 3.1 Tình hình khảo sát lỗi từ ngữ về bình diện ngữ nghĩa 59

3.2 Miêu tả lỗi từ ngữ xét trên bình diện ngữ nghĩa 61

3.2.1 Lỗi chọn sai nghĩa của từ 61

3.2.2 Lỗi nhầm lẫn giữa các từ đồng nghĩa, gần nghĩa 63

3.2.3 Lỗi nhầm lẫn giữa từ mang ý nghĩa khái quát và từ mang ý nghĩa cụ thể

66

Trang 7

3.2.4 Lỗi đặc thù của sinh viên Trung Quốc 69

3.2.4.1 Lỗi do đem nghĩa của từ trong tiếng Hán gán cho từ Hán Việt trong tiếng Việt

70 3.2.4.2 Lỗi dùng các yếu tố cấu tạo từ Hán Việt như một từ đơn 72

3.2.4.3 Lỗi dùng sai từ Hán Việt do nhầm lẫn giữa những từ gần âm và gần nghĩa

74 3.2.4.4 Lỗi do phiên âm tên người, tên địa danh sang những yếu tố Hán Việt

75 3.2 Một số biện pháp khắc phục về lỗi từ ngữ lỗi từ ngữ xét trên bình diện ngữ nghĩa

78 3.2.1 Bài tập khắc phục lỗi chọn sai nghĩa của từ 79

3.2.2.Bài tập khắc phục lỗi sử dụng từ đồng nghĩa/ gần nghĩa (bao gồm cả lỗi nhầm lẫn từ mang nghĩa quát/từ mang nghĩa cụ thể)

82 3.3.3 Bài tập khắc phục lỗi đặc thù của sinh viên Trung Quốc 84

3.4.Tiểu kết chương 3 87

KẾT LUẬN 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO 92 PHỤ LỤC

Trang 8

Formatted

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, do nhu cầu hợp tác khoa học cũng như hợp tác kinh tế, ngày càng có nhiều người nước ngoài quan tâm đến Việt Nam và ngày càng có nhiều người nước ngoài học tiếng Việt Trong số đó phải kể đến đối tượng người học là sinh viên Trung Quốc tại Khoa Việt Nam học trường Đại học

Hà Nội, với số lượng chiếm tỉ lệ áp đảo tuyệt đối Mấy năm gần đây, Khoa Việt Nam học đã có vài nghìn sinh viên Trung Quốc đến học tại khoa với nhu cầu rất đa dạng Từ thực tế nhu cầu học tiếng Việt ngày càng tăng mà các nhà Việt ngữ học cũng như các nhà sư phạm cũng ngày càng quan tâm hơn đến lĩnh vực dạy và học tiếng Việt như một ngoại ngữ Theo đó, giáo trình, tài liệu dạy tiếng Việt cũng như phương pháp dạy tiếng Việt ngày càng được cải thiện Tuy nhiên, việc mắc lỗi của sinh viên Trung Quốc khi nói, viết tiếng Việt thường xảy ra do nhiều nguyên nhân rất phức tạp và đa dạng Mặc dù, tiếng Việt và tiếng Hán là hai thứ tiếng cùng loại hình ngôn ngữ đơn lập nhưng giữa hai thứ tiếng này có nhiều nét khác biệt; vì vậy nhiều sinh viên Trung Quốc gặp nhiều khó khăn trong quá trình học tiếng Việt Đặc biệt, lỗi xảy ra ở phạm vi từ vựng có một số lượng lớn, và xảy ra ở mọi trình độ Điều đáng nói là, nếu như lỗi ngữ pháp có chiều hướng giảm bớt khi sinh viên học lên trình độ cao thì lỗi từ vựng lại không như vậy Nghĩa là, lỗi từ vựng không mang tính tỉ lệ nghịch với cấp học của sinh viên: một sinh viên năm thứ tư vẫn có thể mắc nhiều lỗi từ vựng như sinh viên năm thứ nhất Việc so sánh đối chiếu, phân loại lỗi

để tìm nguyên nhân, góp phần tìm cách khắc phục là việc hết sức cần thiết Đó là lí

do chúng tôi chọn đề tài “Khảo sát lỗi sử dụng từ ngữ của học viên Trung Quốc học tiếng Việt”

2 Lịch sử nghiên cứu liên quan đến đề tài

Vấn đề nghiên cứu lỗi sử dụng từ ngữ tiếng Việt của sinh viên nước ngoài nói chung và sinh viên Trung Quốc nói riêng là một lĩnh vực học thuật vừa có ý nghĩa lý luận vừa có ý nghĩa thực tiễn Thực tế giảng dạy tiếng Việt cho người

Trang 10

nước ngoài nhiều năm qua cho thấy các vấn đề liên quan đến lỗi sử dụng từ ngữ của người học đã được ít nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến và đề cập đến trong những phạm vi nhất định Chẳng hạn như: Luận án tiến sĩ ngữ văn của Nguyễn

Thiện Nam về Khảo sát lỗi ngữ pháp tiếng Việt của người nước ngoài và những vấn đề liên quan [53], Luận án tiến sĩ ngôn ngữ học của Nguyễn Linh Chi về Lỗi ngôn ngữ của người nước ngoài học tiếng Việt (trên tư liệu từ vựng, ngữ pháp của người Anh, Mĩ) [15] Nhìn chung, những công trình này đã đưa ra những kết luận

quan trọng, đã đóng góp tích cực vào việc phân tích và đánh giá lỗi của người học

từ đó giúp ích nhiều cho công tác giảng dạy cũng như học tập tiếng Việt của sinh viên nước ngoài Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu này đều chưa đề cập đến vấn đề mắc lỗi của đối tượng học viên người Trung Quốc Cụ thể, luận án tiến sĩ của Nguyễn Thiện Nam chỉ nghiên cứu về lỗi ngữ pháp của người nói tiếng Khơme, tiếng Nhật và tiếng Anh khi học tiếng Việt Hay luận án tiến sĩ của Nguyễn Linh Chi nghiên cứu về lỗi từ vựng và lỗi ngữ pháp chỉ tập trung vào học viên người Anh và người Mĩ Cho đến nay cũng chỉ có luận văn thạc sĩ ngữ văn Lê

Xảo Bình đã đề cập đến Lỗi của người Trung Quốc học tiếng Việt nhìn từ góc độ xuyên văn hóa (xét về khía cạnh từ vựng)[10] Trong luận văn này, tác giả Lê Xảo

Bình đã khảo sát lỗi của đơn vị từ ngữ cụ thể gồm cả thực từ lẫn hư từ Thứ nhất,

lỗi về thực từ gồm có lỗi danh từ (sai một số danh từ như: con cái, con trai, con gái, thanh niên, hay nhầm lẫn giữa từ nước và quốc), lỗi động từ (sai một số động

từ như: đi, xem, thấy, rửa, gội, giặt, xin, mời), lỗi tính từ (sai một số tính từ như: tốt, hay, bạc, trắng) và lỗi từ xưng hô (sai một số đại từ xưng hô như: tôi, các anh các chị, họ, thằng ấy ) Thứ hai, lỗi về hư từ gồm có lỗi đại từ chỉ định (sai các từ: này, kia, ấy, đó), lỗi phó từ (sai một số phó từ như cũng, đều, rất, lắm, sắp sẽ), lỗi giới từ (sai giới từ như trong, ngoài, với, cho), lỗi cảm từ ( dùng sai cảm từ: vâng và ừ) và lỗi sai loại từ (sai loại từ: sự, việc) Bên cạnh những lỗi sai ở một số

từ vựng cụ thể như trên, Lê Xảo Bình đã đưa ra lỗi về thành ngữ, tục ngữ của sinh viên Trung Quốc, đây là lỗi thể hiện rõ nét về sự giao thoa xuyên văn hóa Thực tế, luận văn của mình của Lê Xảo Bình chỉ khảo sát lỗi từ vựng xét trên góc độ giao

Trang 11

thoa văn hóa Trong đó, những lỗi từ vựng (thực từ và hư từ), tác giả cũng chưa có

sự phân loại hợp lý, đặc biệt chưa đi sâu vào khảo sát để phân biệt lỗi cấu trúcngữ pháp và lỗi về ngữ nghĩa, từ đó tìm nguyên nhân, đưa ra giải pháp khắc phục cho sinh viên Trung Quốc Qua thực tiễn giảng dạy tiếng Việt nhiều năm, chúng tôi thấy rằng lỗi từ vựng xét ở hai bình diện trên cấu trúcngữ pháp và ngữ nghĩa là lỗi thường gặp của sinh viên Trung Quốc, tuy nhiên lại chưa có một công trình nào trước đây đề cập đến Vậy, quyết định đi sâu khảo sát nghiên cứu lỗi ở hai bình diện này, chính là nét mới trong luận văn của chúng tôi Do tính cấp thiết của vấn

đề và mong muốn giúp cho sinh viên Trung Quốc khắc phục những hạn chế trong

việc sử dụng từ ngữ tiếng Việt nên chúng tôi đã thực hiện nghiên cứu đề tài: “Khảo sát lỗi sử dụng từ ngữ của học viên Trung Quốc học tiếng Việt”

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Nhiệm vụ của luận văn này là nghiên cứu những lỗi sử dụng từ ngữ, dựa trên lý thuyết so sánh đối chiếu ngôn ngữ để cung cấp một cách nhìn hệ thống đối với thực trạng các loại lỗi từ vựng tiếng Việt của sinh viên Trung Quốc Lý thuyết phân tích lỗi hiện tại được áp dụng một cách triệt để trong việc xác định, phân loại

và phân tích nguyên nhân mắc lỗi của sinh viên Trung Quốc khi học và sử dụng tiếng Việt Đồng thời chúng tôi cũng vạch ra những nét tương đồng, dị biệt và tìm

ra các hiện tượng giao thoa ngôn ngữ - văn hóa giữa tiếng Việt và tiếng Hán 3.2 Từ việc khảo sát tình trạng mắc lỗi, chúng tôi mạnh dạn đề xuất một số biện pháp khắc phục lỗi sử dụng từ ngữ cho giáo viên và sinh viên để giúp nâng cao chất lượng giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, việc học tiếng Việt của người nước ngoài Kết quả nghiên cứu cũng đóng góp một phần nhỏ nhằm làm cho công tác biên soạn giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài đạt hiệu quả hơn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng của luận án là nghiên cứu các loại lỗi từ vựng tiếng Việt của sinh viên Trung Quốc

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

Trang 12

Lỗi của sinh viên Trung Quốc học tiếng Việt rất đa dạng và phong phú như lỗi thuộc về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và lỗi thuộc giao tiếp xuyên văn hóa Do khuôn khổ luận văn thạc sĩ và một số hạn chế khác, luận văn chỉ tập trung khảo sát lỗi sử dụng từ ngữ trên hai phương diện là cấu trúc ngữ pháp và ngữ nghĩa, đối tượng khảo sát là sinh viên Trung Quốc học tiếng Việt tại Khoa Việt Nam học, Trường Đại học Hà Nội Luận văn sẽ phân loại lỗi dựa trên nguyên tắc đi từ lỗi về hình thức đến lỗi về ý nghĩa, khả năng kết hợp, phạm vi sử dụng và đặc điểm chức năng của từ ngữ thông qua những bài viết và bài nói của sinh viên

5 Tư liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tư liệu là các lỗi trong nói và viết do chúng tôi tập hợp từ học viên Trung Quốc đang học tiếng Việt tại Khoa Việt Nam học trường Đại học Hà Nội Nguồn tư liệu bao gồm các bài tập về nhà và các bài luyện trên lớp, các bài kiểm tra giữa kì, bài thi học kì, các băng ghi âm tiếng nói của sinh viên và phiếu tham dò ứng xử ngôn ngữ

Tư liệu được sử dụng trong luận văn bao gồm:

+ 400 bài kiểm tra học kỳ một, 240 bài kiểm tra giữa kì của sinh viên từ năm thứ ba và năm thứ tư

+ 850 bài tập giao về nhà và bài luyện trên lớp

+ 01 đĩa CD thu âm các hội thoại và các cuộc thảo luận trên lớp và 02 đĩa

CD về cuộc thi nói giỏi tiếng Việt của Khoa Việt Nam học

+ Những tư liệu ghi chép trong quá trình giảng dạy

5.2 Luận văn phân tích lỗi theo nguyên tắc quy nạp, trên cơ sở thu thập thống kê, phân tích, xử lý tư liệu để tìm ra những lỗi cơ bản về việc sử dụng từ ngữ của sinh viên Trung Quốc trong quá trình học tiếng Việt Các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu chủ yếu đã được thực hiện là:

+ Thống kê được dùng để thống kê và phân loại lỗi thường gặp của học viên phục vụ cho việc miêu tả và phân tích lỗi

Trang 13

+ So sánh đối chiếu được sử dụng để so sánh đối chiếu những đặc điểm

tương đồng và dị biệt giữa tiếng Việt và tiếng Hán để có thể dự đoán lỗi và tìm ra

nguyên nhân mắc lỗi của người học

+ Thủ pháp phân tích lỗi được sử dụng để khảo sát lỗi, tìm nguyên nhân và

đưa ra những giải pháp để sửa lỗi

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

6.1 Ý nghĩa lý luận: những kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ đóng góp cứ

liệu cho lý thuyết giảng dạy ngôn ngữ, cụ thể là tiếng Việt với tư cách là một ngoại

ngữ Hơn nữa, kết quả nghiên cứu này có thể giúp người học và giáo viên có

phương pháp thích hợp cho việc nghiên cứu và giảng dạy ngoại ngữ

6.2 Ý nghĩa thực tế: luận văn góp phần xác định các kiểu lỗi thuộc về sử

dụng từ ngữ, giúp người học khắc phục và sửa chữa lỗi thường mắc trong quá trình

học tiếng Việt Luận văn cũng có thể dùng làm tư liệu tham khảo để biên soạn giáo

trình dạy tiếng Việt một cách hiệu quả và phù hợp cho đối tượng sinh viên Trung

Quốc nói riêng và sinh viên nước ngoài nói chung

7 Bố cục của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, cấu trúc luận án gồm có ba

chương như sau:

Mở đầu

Chương 1: Cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài

Chương 2: Lỗi từ vựngsử dụng từ ngữ xét trên bình diện cấu trúc ngữ pháp và

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.2 Một số quan điểm khác nhau về lỗi

Lỗi thường xuất hiện trong quá trình học tiếng và giao tiếp với môi trường xung quanh Đứng trên phương diện nghiên cứu khác nhau, nhiều nhà nghiên cứu đã có những quan niệm và cách xử lý khác nhau về lỗi

1.1.1 Lỗi nhìn dưới góc độ cấu trúc và hành vi luận

Quan niệm về lỗi của các nhà nghiên cứu theo thuyết hành vi và cấu trúc luận dựa trên quan điểm lý thuyết của các nhà nhà tâm lý học nổi tiếng Watson (1924), Thorndike (1932), và Skinner (1957) Theo thuyết hành vi, con người là một tổ chức có khả năng thực hiện nhiều hành vi khác nhau Các hành vi xuất hiện được phụ thuộc vào ba yếu tố quan trọng trong quá trình học; đó là kích thích để tạo

ra hành vi phản ứng, củng cố để khẳng định sự phù hợp của phản ứng và lặp lại phản ứng trong tương lai để hình thành thói quen Việc học ngoại ngữ cũng là một kiểu học của sự hình thành thói quen Theo quan điểm của thuyết này, lỗi được coi

là một điều rắc rối, không thể chấp nhận được và phải ngăn chặn bằng mọi giá Nếu chúng ta phải chấp nhận những lỗi này thì rất nguy hiểm vì ảnh hưởng không tốt đến việc học, giáo viên phải cho sinh viên tập trung bắt chước và ghi nhớ hình thức biểu đạt các mẫu sau đó cố gắng vận dụng thành thạo những mẫu đó vào trí óc của người học Lỗi cũng giống như thói quen xấu khác, lỗi là những biểu hiện không tốt làm cản trở đến việc học tiếng một cách có hiệu quả và chúng là những nhân tố ngăn cản việc hình thành thói quen sử dụng ngôn ngữ đích

Tuy vậy, thực tế cho thấy luận thuyết này, tuy có thể giải thích được phần nào về lỗi, nhưng vẫn không hoàn toàn chính xác hoặc không thể dự đoán tất cả những khó khăn mà người học gặp phải trong quá trình học vì người học thường có khuynh hướng suy luận không đúng về các quy luật của ngôn ngữ đích (target language) chứ không phải dựa hoàn toàn vào thói quen của tiếng mẹ đẻ (mother tongue)

Trang 15

1.1.2 Lỗi nhìn dưới góc độ ngôn ngữ học

Như đã nêu trên, các nghiên cứu theo thuyết hành vi và cấu trúc luận chú trọng đến việc học ngoại ngữ như là sự hình thành thói quen thì các nhà nghiên cứu theo khuynh hướng chức năng lại đề cao chức năng giao tiếp của ngôn ngữ Họ cho rằng cần phải tập trung vào việc phát triển năng lực về giao tiếp hơn là dạy cho người học nắm vững về cấu trúc Từ giữa những năm 1970, đường hướng dạy học theo quan điểm này được phát triển rộng rãi ở Anh và Mĩ Mục đích của nó là làm cho năng lực giao tiếp trở thành mục tiêu chính của việc dạy và học tiếng Ở đường hướng giao tiếp, ngôn ngữ được coi là sản phẩm cá nhân tạo ra qua thử nghiệm và mắc lỗi [9, tr 43] Việc mắc lỗi được coi là đương nhiên và nhiều khi được bỏ qua trong quá trình giao tiếp, miễn là người nói diễn đạt được cái gì mà họ muốn nói, nhờ ngữ cảnh mà các chủ thể giao tiếp vẫn có thể hiểu đúng được ý của nhau Vì vậy, những người dạy chịu ảnh hưởng theo quan điểm giao tiếp chú trọng hơn đến

sự lưu loát trong diễn đạt và sử dụng ngôn ngữ ở mức có thể chấp nhận được trong các tình huống giao tiếp cụ thể

Theo quan niệm của các nhà ngôn ngữ học tâm lý, thực tế trong quá trình học không thể chỉ có một chiều đơn giản là bắt chước, có kích thích là có phản ứng đáp lại, mà đó là quá trình chịu ảnh hưởng của cả các yếu tố bên trong lẫn các yếu

tố bên ngoài Trong quá trình nghiên cứu các nhà tâm lí học ngôn ngữ đã phát hiện

ra trẻ em trước tuổi dậy thì mắc rất nhiều lỗi sáng tạo trong quá trình học tiếng mẹ

đẻ, nghĩa là ở giai đoạn bắt đầu học tiếng mẹ đẻ, trẻ em sẽ tạo ra câu nói khác hoàn toàn với những câu nói mà người lớn muốn trẻ theo họ Trong công trình nghiên cứu của mình, Dulay và Burt (1976) đã phát hiện người học thường mắc lỗi phát triển trong quá trình học ngôn ngữ thứ hai hay ngoại ngữ Những lỗi này giống như các lỗi trẻ em thường mắc trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ nhất [9, tr.45] Các nhà nghiên cứu đã cho rằng lỗi thể hiện sự cố gắng tích cực và có ý thức của người học trong việc nắm ngữ đích và đến một giai đoạn nào đó người học tiếng có thể tự khắc phục được các lỗi của mình giống như trẻ em khắc phục lỗi trong quá trình thụ đắc tiếng mẹ đẻ

Trang 16

Các nhà ngôn ngữ học đối chiếu, tiêu biểu là Lado (1957), Stockwell (1959)

và Schachter (1959) đã tiến hành so sánh đối chiếu giữa ngôn ngữ và văn hóa của tiếng mẹ đẻ với ngôn ngữ và văn hóa của ngôn ngữ đích để dự báo trước những khó khăn hoặc các lỗi tiềm năng người học sẽ mắc phải trong quá trình học ngoại ngữ Hơn nữa, họ đã miêu tả trình tự kĩ thuật cụ thể để thực hiện các phân tích đối chiếu

về ngôn ngữ và văn hóa cần thiết cho việc chuẩn bị các bài giảng một cách khoa học nhằm giúp người học đạt hiệu quả cao trong việc học và sử dụng ngôn ngữ thứ hai Theo các nhà ngôn ngữ học đối chiếu, hiện tượng chuyển di ngôn ngữ – văn hóa là không thể tránh được trong giao tiếp liên ngôn Việc tìm hiểu và dự báo trước các lỗi của người học mắc phải và tìm cách tránh mắc lỗi cho người học là rất cần thiết đối với người biên soạn giáo trình và giáo viên dạy ngoại ngữ.Chẳng hạn, hiện tượng sinh viên Trung Quốc không sử dụng từ xưng hô khi giao tiếp với giáo viên

có thể coi là một hiện tượng mang hai bản chất: cả chuyển di ngôn ngữ lẫn chuyển

di văn hóa Chuyển di ngôn ngữ thể hiện ở chỗ, tiếng Hán, khi bối cảnh cho phép

hiểu được thì thường không dùng từ xưng hô như ông, bà, cô, chú, bác anh, chị

v.v kể cả khi giao tiếp với người lớn tuổi hơn Còn hiện tượng chuyển di văn hóa được biểu hiện ở chỗ, yếu tố xưng hô không được chú trọng trong văn hóa giao tiếp của người Trung Quốc Theo cách nhìn của người Trung Quốc, những câu giao tiếp

“không có chủ ngữ” (không dùng từ xưng hô) trong mọi bối cảnh vẫn được coi bình thường mà không phải là biểu hiển thiếu văn hóalễ độ như cách nghĩ của người Việt Như vậy, chính lỗi tư duy này đã được người Trung Quốc thể hiện thông qua giao tiếp bằng tiếng Việt và gây ra lỗi xuyên văn hóa Ví dụ, khi giao tiếp với giáo

viên Việt Nam, sinh viên Trung Quốc thường nói: “Mời ăn cơm ạ”, “Uống nước đi” hay “Hôm nay xinh thế” , mà theo văn hóa người Việt, các em phải nói là:

“Mời cô/thầy ăn cơm ạ”, “Mời cô/thầy uống nước đi” hay “Hôm nay cô xinh thế”

1.1.3 Lỗi nhìn dưới góc độ giao tiếp liên văn hóa

Trong quá trình giao tiếp, khi các bên giao tiếp có cùng một nền văn hóa chung và kĩ năng giao tiếp hoàn hảo thì ít xảy ra trục trặc trong quá trình giải mã thông tin Nếu trong quá trình giao tiếp liên ngôn, những người tham gia giao tiếp

Trang 17

cùng sử dụng một ngôn ngữ và xuất phát từ nhiều nền văn hóa khác nhau thì quá trình đó sẽ gặp nhiều trục trặc, dẫn đến hiện tượng sốc văn hóa Ví dụ: Trong văn hóa giao tiếp, người Việt thường chào hỏi và đi kèm là hỏi tuổi, hỏi nơi làm việc hay hỏi gia đình để tìm cách xưng hô cho phù hợp đối với người tham gia đối thoại Nhưng nếu áp dụng cách giao tiếp này với người Anh lại thì là một điều bất lịch sự Vậy sự sai lệch vể chuẩn mực văn hóa trong giao tiếp làm cho người Anh giải mã phát ngôn theo một nghĩa hoàn toàn khác

Yếu tố văn hóa đóng vai trò quan trọng trong giao tiếp liên ngôn Giao tiếp nhìn dưới góc độ giao thoa văn hóa không chỉ là quá trình trao đổi thông tin thông thường mà còn chịu cả sự chi phối của nhân tố văn hóa Văn hóa là nhân tố quyết định đến việc đảm bảo cho quá trình mã hóa thông tin diễn ra một cách trọn vẹn Trong quá trình giao tiếp liên ngôn cần phải có ba yếu tố chính sau: Kiến thức ngôn ngữ, kĩ năng giao tiếp, hiểu biết văn hóa

Những yếu tố này sẽ giúp cho người nói biết cách chọn mã một cách phù hợp trong các ngữ cảnh giao tiếp cụ thể và tạo điều kiện cho họ giải mã thông tin một cách chính xác trong từng tình huống giao tiếp Trong giao tiếp liên ngôn ngữ, kiến thức ngôn ngữ là yếu tố nền tảng còn kĩ năng giao tiếp và hiểu biết văn hóa có vai trò quyết định đến việc hiểu cả ý lẫn nghĩa của các thông tin nhận được Người học

sẽ mắc lỗi về ngôn ngữ nếu họ thiếu hiểu biết về ngôn ngữ đích Người học sẽ mắc lỗi khi nghe, nói, đọc, viết bằng ngữ đích nếu kĩ năng tương tác kém Sự thiếu hiểu biết về văn hóa của ngôn ngữ đích làm cho người học khó tránh mắc các lỗi dụng học giao thoa văn hóa

Hiện tượng người Trung Quốc không dùng từ xưng hô trong giao tiếp hay việc người Việt thường hỏi những thông tin cá nhân khi giao tiếp với người Anh mà chúng tôi đã dẫn ra ở trên cũng là một minh chứng cho việc thiếu hiểu biết văn hóa dẫn tới lỗi

Trang 18

1.1.4 Lỗi nhìn dưới quan điểm ngôn ngữ học ứng dụng theo quan điểm của Pit Corder

Trước đây, những nhà ngôn ngữ học nghiên cứu về cấu trúc và hành vi luận hay nghiên cứu về ngôn ngữ đối chiếu coi lỗi là một hiện tượng tiêu cực và cần phải tránh bằng mọi giá Nhưng đến nay, Pit Corder dưới góc n hìn của ngôn ngữ học

Significance of Learners‟ Errors” (Ý nghĩa của lỗi của người học) vào năm 1967, Pit Corder đã đưa ra quan điểm mới, lỗi là một hiện tượng tự nhiên trong quá trình học ngoại ngữ và đó không phải là một hiện tượng xấu cần được xóa bỏ Ngược lại, lỗi cho thấy những chiến lược tích cực cũng như sự phát triển ngôn ngữ đích (target language) của người học Corder phân biệt hai loại: lỗi do nhầm lẫn (mistake) và lỗi

do thiếu kiến thức (error) Lỗi do nhầm lẫn được tạo nên do lỡ lời (slips of tongue),

do lo sợ, xúc động (yếu tố tâm lý), hoặc do mỏi mệt, đau ốm (yếu tố thể chất); vì vậy người học có thể nhận ra và chữa lỗi nếu cần thiết Trái lại lỗi do thiếu kiến thức có tính hệ thống và được lặp đi lặp lại nhiều lần Tuy vậy, đối với loại lỗi này, người học ngoại ngữ không biết rằng họ đang mắc lỗi vì đây là một phần của “ngôn ngữ trung gian” (interlanguage) Theo Selinker (1972), loại ngôn ngữ trung gian này được hình thành do người học sử dụng những chiến lược riêng để thụ đắc ngôn ngữ thứ hai; nó không giống tiếng mẹ đẻ cũng không giống ngôn ngữ đích

Các quan niệm khác nhau về lỗi cho chúng ta thấy rõ sự khác biệt trong các cách xử lý lỗi trong quá trình dạy – học, mức độ chấp nhận lỗi trong quá trình giao tiếp và ảnh hưởng của lỗi không những trong quá trình học mà còn cả trong quá trình sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp liên ngôn, liên văn hóa Quan điểm lỗi của Pit Corder đưa ra một cách đánh giá tổng thể về lỗi và xét lỗi trên nhiều góc độ khác nhau và giúp các nhà nghiên cứu biết rõ được các loại lỗi và nguyên nhân sâu xa gây ra lỗi của người học Chúng tôi thấy rằng quan điểm lỗi của Pit Corder rất phù hợp với nội dung luận văn Chúng tôi sẽ vận dụng quan điểm lý thuyết phân tích lỗi (error analysis) do Pit Corder khởi xướng làm cơ sở lý luận để phân tích lỗi cho hai phần chương tiếp theo của luận văn này

Trang 19

1.2 Khái niệm lỗi

1.2.1 Định nghĩa về lỗi

“Từ điển ngôn ngữ học ứng dụng và dạy tiếng” (Dictionary of language

teaching and applied linguitics), định nghĩa về lỗi như sau:

“Lỗi của người học (trong khi nói hoặc viết của người học ngoại ngữ thứ hai) lvà việc sử dụng một đơn vị ngôn ngữ (chẳng hạn một từ, một đơn vị - ngữ pháp, một hoạt động nói năng ) bằng cách này mà người bản ngữ hoặc người giỏi tiếng đó cho là sai hoặc cho là chưa đầy đủ” [53, tr.7]

Về lỗi, Pit Corder cho rằng:

- Lỗi (Error/mistake) là sự lệch chuẩn so với ngữ pháp và vi phạm các quy tắc sử dụng ngôn ngữ và các quy ước văn hóa Người học không những không nhận

ra các lỗi của mình mà còn không thể tự chữa được chúng khi lưu ý Thậm chí họ còn mắc thêm lỗi khác khi làm việc đó

- Lỗi thể hiện sự khiếm khuyết về năng lực giao tiếp của người học trong cách nhìn nhận đánh giá của người bản ngữ và những người song ngữ

- Lỗi là nguyên nhân gây ra các hiện tượng trống nghĩa, mơ hồ về nghĩa và là nguyên nhân trực tiếp gây ra những sự hiểu lầm hoặc ngưng trệ giao tiếp Sự có mặt của lỗi trong giao tiếp liên ngôn nhiều khi trở thành một trong những nguyên nhân dẫn đến các xung đột hoặc sốc văn hóa [9, tr.54]

Pit Corder nhận định việc mắc lỗi không chỉ có ở người học ngoại ngữ mà cả người bản ngữ cũng mắc lỗi khi học tiếng mẹ đẻ Corder phân biệt hai loại lỗi : Thứ nhất là lỗi do nhầm lẫn (mistake) tức là và lỗi do thiếu kiến thức (error) lLỗi

hoặc do yếu tố thể chất như mỏi mệt, đau ốm Vì vậy, Đây chính là lỗi do nhẫm lẫn xuất hiện ngẫu nhiên, không thường xuyên và không theo hệ thống Thứ hai làTrái lại lỗi do thiếu kiến thức (error) lỗi do thiếu kiến thtức là lỗi ức xuất hiện do tri thức về ngôn ngữ đích (ngôn ngữ được học) còn hạn chế và được lặp đi lặp lại nhiều lần, có tính hệ thống Tuy vậy, đối với loại lỗi này, người học ngoại ngữ

Trang 20

không biết rằng họ đang mắc lỗi vì đây là một phần của “ngôn ngữ trung gian” (interlanguage) Ngôn ngữ học trung gian luôn biến đổi trong quá trình người học thụ đắc ngôn ngữ đích và tiệm cận đến ngôn ngữ đích nhưng không thể trở thành ngôn ngữ đích hoàn toàn Từ những nhận định này, khi các nhà ngôn ngữ học phân tích lỗi do người học phạm phải, họ cũng so sánh lỗi này với ngôn ngữ đích chứ không phải chỉ đối chiếu với tiếng mẹ đẻ của người học để dự đoán lỗi như những nhà ngôn ngữ học đối chiếu

Trên đây, chúng tôi đã trình bày một số nét khái quát về cách nhìn nhận lỗi của Pit Coder Để hiểu cụ thể hơn về vấn đề này, chúng tôi xin trình bày về vấn đề phân tích lỗi và cách tiếp cận lỗi của Pit Coder

1.2.2 Phân tích lỗi và ý nghĩa của phân tích lỗi

1.2.2.1 Phân tích lỗi

Theo Pit Corder, phân tích lỗi là thủ thuật do các nhà nghiên cứu và giáo viên sử dụng Nó bao gồm việc thu thập các mẫu ngôn ngữ của người học, xác định lỗi các mẫu, miêu tả lỗi, phân loại lỗi và đánh giá mức độ nghiêm trọng của lỗi [53, tr.11] Ông cho rằng việc phân tích lỗi không chỉ quan tâm đến mục đích ứng dụng của nó là chữa lỗi mà còn phải quan tâm đến mục đích lý thuyết của nó là giải thích

sự thể hiện cơ chế ngôn ngữ của người học, tức là nghiên cứu những chiến lược học

và những giả thuyết mà người học đã sử dụng để tạo ra ngôn ngữ riêng của mình – ngôn ngữ trung gian Trong quá trình phân tích lỗi, Pit Corder đã chia thành ba giai

đoạn như sau:

(1)Giai đoạn thứ nhất: Nhận diện lỗi

(2) Giai đoạn thứ hai: Miêu tả lỗi

(3) Giai đoạn thứ ba: Giải thích lỗi

(1) Giai đoạn thứ nhất– nhận diện lỗi

Pit Corder đưa ra một luật chung: tất cả các câu trong ngôn ngữ của người học đều được coi là “có thể sai” cho đến khi xác minh được chúng Ông phân ra hai loại lỗi: lỗi sai tiềm tàng và lỗi sai lộ rõ Ví dụ: câu “Cám ơn, tôi vẫn bình thường”

Trang 21

sẽ là câu sai khi dùng để trả lời cho câu hỏi: “Anh thấy thời tiết ở đây thế nào?”, những câu sai này được xem là câu sai tiềm tàng và việc giải nghĩa những loại câu sai này phải phụ thuộc vào văn cảnh Những câu sai lộ rõ, tức là một câu sai về quy tắc hình thức của ngôn ngữ đích, chúng ta phải hiểu được người học muốn nói và chúng ta phải có một “câu được tạo lại” hoặc “một câu được chữa” [53, tr.14]

Chẳng hạn như, đối với lỗi của sinh viên trong câu: “Anh ấy là hạnh phúc người”,

sinh viên đã dùng sai nguyên tắc trật tự từ tiếng Việt (chính trước phụ sau); do vậy,

câu sai trên cần được chữa lại là: “Anh ấy là người hạnh phúc.” Trong trường hợp,

chúng ta không hiểu ý người học muốn nói thì chúng ta phải dựa vào tiếng mẹ đẻ của người học Trong trường hợp không thể tin cậy được vào tiếng mẹ đẻ của người học tạm dừng câu đó lại và không phân tích nữa Nếu chúng ta có thể hiểu được người học muốn nói bằng tiếng mẹ đẻ của họ thì câu đó phải dịch sang ngôn ngữ đích một cách chính xác về nội dung và hình thức Như vậy, ta có thể so sánh với

câu gốc mà người học đã sai Chẳng hạn như, lỗi sai “Chúng ta ở bên ngoài nói.”

của sinh viên Trung Quốc, nếu không dựa vào tiếng Hán thì chúng ta không thể hiểu được sinh viên này muốn nói gì Nhưng khi đối chiếu sang tiếng Hán thì câu sai này tương đương với câu “我们在外边谈” (Chúng ta hãy nói chuyện ở bên ngoài) khi đó chúng ta thấy rằng đây là lỗi sai do chuyển di ngôn ngữ.

(2) Giai đoạn 2 – Miêu tả lỗi

Nếu giai đoạn một thành công thì chúng ta có ngữ liệu để miêu tả lỗi là một cặp câu: một câu sai và câu được chữa tức là có một câu trong ngôn ngữ trung gian

và một câu trong ngôn ngữ đích Phương pháp miêu tả chủ yếu là so sánh song ngữ giữa ngôn ngữ trung gian và ngôn ngữ đích bằng những phạm trù chung và quan hệ chung Nếu việc miêu tả các câu sai được tiến hành tốt thì sẽ đóng góp trực tiếp vào việc đo lường tri thức ngôn ngữ đích của người học tại thời điểm trong quá trình học Cụ thể như ví dụ đã nêu ở giai đoạn hai, sau khi tìm ra câu hoàn chỉnh ở tiếng

Việt (Chúng ta hãy nói chuyện ở bên ngoài.), tiến hành so sánh với câu gốc (Chúng

ta ở bên ngoài nói.), chúng ta thấy rằng ở câu gốc đã sai trật tự trạng ngữ chỉ nơi

Trang 22

chốn (bên ngoài) của tiếng Việt Theo quy tắc ngữ pháp tiếng Hán, trạng ngữ nơi

chốn (外边 - bên ngoài) thường đứng sau chủ ngữ và đứng trước động từ Ở câu gốc này, sinh viên đã kết hợp từ đúng theo quy tắc ngữ pháp của tiếng Hán Như vậy, sinh viên đã mắc lỗi do hiện tượng chuyển di ngôn ngữ

(3) Giai đoạn 3 – Giải thích lỗi

Trong phân tích lỗi, giai đoạn giải thích lỗi là giai đoạn rất quan trọng Phân tích lỗi có hai mục đích: Thứ nhất, biết được người học học cái gì và học như thế nào đối với ngôn ngữ thứ hai Thứ hai, đưa ra những giá trị ứng dụng nhằm tạo điều kiện cho người học hiệu quả hơn bằng những tri thức mà chúng ta có được về ngôn ngữ trung gian Cụ thể, hệ thống đại từ xưng hô, ở ngôi thứ nhất, số ít trong ngôn

ngữ mẹ đẻ (tiếng Anh) của người học chỉ có một đại từ xưng hô là “I ” trong ngôn ngữ đích (tiếng Việt) lại có nhiều đại từ nhân xưng là tôi, tớ, tao, mình, , và các từ thân tộc em, con, bác, ông Điều này đã khiến người học gặp khó khăn và mắc lỗi,

lỗi này có thể gọi là lỗi từ ngôn ngữ đích, cụ thể ở đây là tiếng Việt Trong trường hợp này cũng khó có thể quyết định liệu lỗi xuất hiện do sự giao thoa của tiếng mẹ

đẻ hay là do sự nhầm lẫn của các quy tắc của ngôn ngữ đích Tùy vào từng ngữ cảnh sử dụng đại từ nhân xưng mà chúng ta giải thích là lỗi giao thoa hay là lỗi tự ngữ đích Như vậy, việc giải thích các câu sai nếu tiến hành được tốt sẽ đóng góp trực tiếp vào việc đo lượng tri thức ngôn ngữ đích của người học tại thời điểm trong quá trình học

1.2.2.2 Ý nghĩa của phân tích lỗi

Việc nghiên cứu và phân tích lỗi sẽ giúp cho nhà nghiên cứu ngôn ngữ hiểu

rõ thêm về mối quan hệ chặt chẽ giữa ngôn ngữ, văn hóa và tư duy trong quá trình giao tiếp liên ngôn Đồng thời, nhà nghiên cữu có thêm bằng chứng làm sáng tỏ hơn khả năng thụ đắc ngôn ngữ của con người trong điều kiện học không có môi trường

tiếng

Phân tích lỗi cũng có ý nghĩa quan trọng đối với giáo viên dạy tiếng Bởi lẽ,

về một phương diện nào đó, lỗi chính là sự biểu hiện cụ thể về những khó khăn của

Trang 23

người học gặp phải trong quá trình học tiếng Nếu người dạy tiếng nắm bắt được những khó khăn này, rồi phân tích được nguyên nhân của nó (do khác biệt ngôn ngữ, khác biệt văn hóa hay do điều kiện dạy học và môi trường tiếng, thời điểm học tiếng hay đặc điểm tâm sinh lý ) thì sẽ chủ động hơn trong việc khắc phục, xử lý lỗi cho người học nói riêng, điều chỉnh các hoạt động giảng dạy, giáo trình, hình thức kiểm tra đánh giá nói chung

Kết quả của việc phân tích lỗi cũng rất hữu ích đối với công tác biên soạn tài liệu dạy tiếng cũng như soạn chương trình học tiếng

Ví dụ: Lỗi dùng sai từ xưng hô của tiếng Việt là lỗi rất phổ biến đối với sinh viên nước ngoài học tiếng Việt, bởi vì hệ thống từ xưng hô của tiếng Việt rất đa dạng và cách sử dụng nó cũng rất linh hoạt trong từng ngữ cảnh cụ thể và mục đích của người giao tiếp Sinh viên ở trình độ sơ cấp thường dùng sai những từ xưng hô

đơn giản như anh, chị, ông, bà, cô ấy, họ ở trường hợp giao tiếp xã giao thông

thường Nhưng khi ở trình độ cao, sinh viên vẫn mắc lỗi này đối với những từ xưng

hô khó, không phổ biến: hắn, mụ, y, lão, con, đằng ấy Việc phân biệt và sử dụng

từ xưng hô này như thế nào quả thật là vấn đề rất khó đối với người học Việc phân tích lỗi, tìm ra nguyên nhân dùng sai từ xưng hô làm cho người dạy biết được sinh viên của mình lĩnh hội kiến thức ở trình độ nào từ đó có biện pháp khắc phục cho hợp lý

1.2.3 Phương pháp tiếp cận lỗi

Trong lý thuyết phân tích lỗi, Corder đã xác định lỗi của người học là một quá trình so sánh đối chiếu giữa các phát ngôn của người học với các phát ngôn tương đương trong ngôn ngữ đích Pit Corder cho rằng không phải tất cả các lỗi đều

dễ dàng nhận ra Những lỗi sai lộ rõ dễ nhận biết về hình thức khi phân tích lỗi nghe các phát ngôn hoặc đọc các văn bản của người nước ngoài Đối với lỗi sai tiềm tàng thì có những câu về hình thức không có gì sai và chấp nhận được, nhưng nếu phân tích dựa vào ngữ cảnh thì lại không phù hợp Vậy, để nhận diện lỗi một cách thuận tiện, ông đã đưa ra phương pháp nhận diện lỗi như sau:

Trang 24

Bước 1: Đầu tiên phải xem xét về hình thức trước, sau đến xem xét về nội

dung của câu hay phát ngôn

+ Về hình thức: câu/phát ngôn có đúng với ngữ pháp của ngôn ngữ đích hay không? Nếu đúng thì câu/phát ngôn được xét tiếp về mặt nội dung Nếu không thì chuyển bước 2

+ Về nội dung: Theo đúng ngữ pháp của ngữ đích thì câu/phát ngôn có nghĩa trong ngữ cảnh không? Nếu có nghĩa sẽ không bị lỗi và không phải xem xét nữa Nếu câu không có nghĩa trong ngữ cảnh thì phải chuyển nó sang bước 2

Bước 2: Xử lý những câu sai về hình thức và nội dung ở bước 1 Câu sai về

hình thức là bị mắc lỗi sai lộ rõ (overt) Còn câu có cấu tạo ngữ pháp đúng không có nghĩa trong ngữ cảnh thì mắc lỗi sai tiềm tàng (convert) Xem xét câu có nghĩa trong ngữ cảnh khác không? Sau đó sẽ được sửa lại cho đúng với ngữ pháp của ngữ đích So sánh câu được sửa với câu nguyên gốc và chỉ rõ câu nguyên gốc và câu được ở khác nhau ở điểm nào?

Bước 3 Xử lý các câu khi đặt trong ngữ cảnh mà vẫn phù hợp Việc phân

tích này phải dựa vào tiếng mẹ đẻ của người học ngôn ngữ thứ hai Nếu người phân tích biết tiếng mẹ đẻ của người mắc lỗi thì phải dịch toàn bộ câu sang nghĩa đen của ngôn ngữ nguồn Nếu câu dịch hợp lý với ngữ cảnh thì dịch lại sang ngữ đích để câu đã sửa lại và không xem xét nữa Nếu trường hợp người phân tích không biết tiếng mẹ đẻ của người mắc lỗi và câu đã được dịch sang tiếng mẹ đẻ nhưng vẫn không hợp lý trong ngữ cảnh thì phải lưu chú lại để xem xét tiếp

Phương pháp tiếp cận lỗi của Pit Corder rất hợp lý và khá rõ ràng Các câu/phát ngôn được xem xét cả về hình thức lẫn nội dung và được xem xét trong từng ngữ cảnh cụ thể Dựa phương pháp phân tích lỗi của Corder, chúng ta thử xét một số câu để xem chúng có mắc lỗi hay không và nguyên nhân đã gây ra những lỗi này

Ví dụ:

(1) Anh ta không rửa áo sơ mi (câu đúng: Anh ta không giặt áo sơ mi.)

Trang 25

(2) Ngày mai, em không sẽ đi học (câu đúng: Ngày mai, em sẽ không đi

học.)

(3) Trăng sáng như nước (câu đúng: Trăng sáng như gương.)

Nếu đem các câu trên ra phân tích, chúng ta có thể thấy ở giai đoạn 1, hai câu (1), (2) mắc sai lỗi lộ rõ vì hai câu này đều mắc lỗi về mặt hình thức Riêng câu (3) không mắc lỗi về mặt hình thức nhưng thực tế đây là lỗi sai tiềm tàng, lỗi này rất khó phát hiện nếu người dạy không nắm được những khác biệt về văn hóa giữa ngôn ngữ đích và ngôn ngữ nguồn Sau khi sửa lại những câu sai sau đó chuyển sang giai đoạn 2 để phát hiện xem chúng mắc lỗi gì Nhưng có câu phải chuyển qua giai đoạn 3 để xem xét nhưng nhiều khi người phân tích lỗi không phải là người bản ngữ nên không thể quyết định được chúng mắc lỗi hay không (như ví dụ 3) Ở câu

3, về mặt hình thức hoàn toàn không có biểu hiện của lỗi Do ảnh hưởng của hiện tượng giao thoa ngôn ngữ và văn hóa nên người nói đã dịch nguyên văn nghĩa thành

ngữ tiếng Hán 月明如水 (nguyệt minh như thủy) sang tiếng Việt thành“Trăng sáng như nước”, mà theo thành ngữ của tiếng Việt phải diễn đạt là “Trăng sáng như gương” Như vậy, đây chính là lỗi sai tiềm tàng có liên quan đến hiện tượng giao

thoa ngôn ngữ và văn hóa của người Trung Quốc học tiếng Việt

Một trong những lỗi mà khi học ngoại ngữ rất hay gặp là lỗi từ vựng Riêng với sinh viên Trung Quốc khi học tiếng Việt, lỗi về từ vựng rất đa dạng và có số lượng lớn Trước khi khảo sát các loại lỗi đó, chúng tôi sẽ giới thiệu sơ lược một số quan điểm về lỗi sử dụng từ ngữ

1.3 Lỗi sử dụng từ ngữ

1.3.1 Quan điểm về lỗi sử dụng từ ngữ

Cho đến nay, mặc dù đã có nhiều người nghiên cứu về lỗi sử dụng từ nhưng vẫn chưa có nhà nghiên cứu ngôn ngữ nào đưa ra định nghĩa khái quát, chính xác, đầy đủ về loại lỗi này Tuy nhiên, một số nhà ngôn ngữ học đã đưa ra những quan điểm về loại lỗi này như sau:

Trang 26

Theo Phạm Đăng Bình, “người học bị coi là mắc lỗi từ vựng khi họ không nhận ra được nghĩa của các từ đã học hoặc không thấy được sự khác nhau về nghĩa giữa các từ đã được học và sử dụng sai nghĩa của chúng trong khi nói, nghe, đọc và viết ngữ đích” [9, tr 72]

Ví dụ: Học viên nước ngoài học tiếng Việt mắc lỗi từ vựng khi họ không phân biệt được những sắc thái nghĩa khác nhau giữa đồng nghĩa chỉ giới giữa con người và con vật: nam – nữ, đàn ông – đàn bà, con trai – con gái, đực – cái, trống - mái… nên đã mắc lỗi từ vựng ở những câu sau đây:

(Câu sai): *Chị ấy có một con gà nam rất đẹp

(Câu đúng): Chị ấy có một con trống rất đẹp

Hoặc

(Câu sai): * Con bò đàn bà này đẻ được 5 con

(Câu đúng): Con bò cái này đẻ được 5 con

Đối với tác giả Trịnh Đức Hiển (Từ vựng tiếng Việt thực hành), lỗi dùng từ

là lỗi người viết không sử dụng được từ có nghĩa đúng nhất trong hoàn cảnh ngôn ngữ cụ thể Vì người nói hay người viết dùng từ khi họ không hiểu hết nghĩa của từ nên lúng túng trong việc diễn đạt bằng những từ ngữ không xác thực Hơn nữa, nếu người nói hay người viết có vốn từ nghèo nàn thì khả năng vận dụng từ ngữ cũng không được linh hoạt

Theo ông, việc dùng từ không chính xác sẽ còn không gây hứng thú cho người đọc, làm giảm ý nghĩa và tác dụng của hình tượng nghệ thuật Hơn thế, nó còn gây tác hại và nhiều khi làm sai lạc ý nghĩa của câu văn [30, tr 228]

Ví dụ:

1/- Đáng lẽ viết: Trời hôm nay vừa nắng vừa mưa

Một sinh viên nước ngoài lại viết: *Trời hôm nay vừa ấm vừa mưa

2/ - Đáng lẽ viết: Em sẽ đi chơi ten-nít sau khi làm xong bài tập tiếng Việt

Một sinh viên nước ngoài lại viết: *Em sẽ đi chơi ten-nít sau đó làm xong bài tập

tiếng Việt

Trang 27

Trong cuốn Lỗi từ vựng và cách khắc phục, nhóm các tác giả Hồ Lê, Trần

Thị Ngọc Lang và Tô Đình Nghĩa đã có nhận xét như sau:

Trong câu, các đơn vị từ vựng phối hợp với nhau về nghĩa và về chức năng ngữ pháp Trong giao tiếp, việc sử dụng từ vựng còn bị chi phối bởi phong cách, ngữ huống và những quy ước về đạo đức Tuy nhiên nghĩa mới là cái chủ yếu quyết định bản chất của từ vựng Mọi lỗi từ vựng đều xuất phát từ lỗi về nghĩa hoặc ít nhiều liên quan đến lỗi về nghĩa Do đó, lỗi về nghĩa rất đa dạng và phức tạp Sự phân tích nó phải sát với hoàn cảnh của câu và rộng ra là của ngữ huống thì mới đáng tin cậy và có sức thuyết phục [48, tr 25]

Từ những quan điểm về lỗi dùng từ ngữ trên, chúng tôi có thể nhất trí với quan điểm lỗi của tác giả Phạm Đăng Bình Việc mắc lỗi từ ngữ tiếng Việt của người nước ngoài là hiện tượng người học không hiểu được nghĩa của từ hay không hiểu được sự khác nhau giữa nghĩa của các từ trong ngữ cảnh khi nói hoặc viết ngôn ngữ đích

1.3.2 Phân loại lỗi từ ngữ

Khi thu thập từ liệu và phân tích lỗi, chúng tôi tập trung thống kế các từ, cụm

từ và kết cấu ngữ pháp mà chúng tôi cho rằng đó là những sai sót trong việc thể hiện cách dùng từ Các loại lỗi được nêu ra đều được thể hiện trong một câu cụ thể qua bài viết của sinh viên Lỗi chỉ được nhận diện khi nó đặt trong ngữ cảnh cụ thể

Số lượng mục từ trong từng loại lỗi không giống nhau vì có loại lỗi xuất hiện nhiều,

có loại lỗi xuất hiện ít Nguyên tắc phân loại các loại lỗi của chúng tôi theo tiêu chí như sau: những lỗi có tần số xuất hiện lớn nghĩa là lỗi mà hầu hết người học đều mắc phải trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai; phân loại các loại lỗi cùng theo trật tự đi từ lỗi về hình thức của từ đến lỗi về nội dung ý nghĩa của từ ngữ Bên cạnh

đó, chúng tôi cũng phân loại dựa trên khả năng kết hợp nghĩa, phạm vi sử dụng và

về đặc điểm tu từ của từ ngữ

Việc phân loại lỗi sử dụng từ ngữ có nhiều quan điểm phân loại khác nhau

do phụ thuộc vào đối tượng nghiên cứu khác nhau Một số nhà nghiên cứu đã đưa ra những cách phân loại lỗi như sau:

Trang 28

Theo ý kiến của Nguyễn Văn Hiệp và Nguyễn Minh Thuyết, trong các văn bản thường mắc phải các loại lỗi sau:

+ Lỗi lặp, thừa từ

+ Lỗi thiếu từ

+ Lỗi dùng từ sai nghĩa

+ Lỗi sai về phong cách

Trong công trình nghiên cứu Lỗi từ vựng và cách khắc phục, tác giả Hồ Lê

và nhóm tác giả phân loại lỗi được xét trên phương diện nghĩa và chức năng của mỗi đơn vị từ vựng và đã chia thành 9 loại lỗi như sau:

+ Lỗi viết sai âm gây ra những sự lẫn lộn về nghĩa (ví dụ: Con đường này đã

gắng bó với em suốt năm học.)

+ Lỗi hiểu sai nghĩa của đơn vị từ vựng được sử dụng (ví dụ: Trong gian

phòng thiếu ánh sáng, chuột bò nheo nhóc.)

+ Lỗi sai chức năng ngữ pháp của nó (ví dụ: Lúc bấy giờ, ở vùng này, ác

muông còn khắp nơi.)

+ Lỗi do phối hợp nghĩa không ăn khớp với những đơn vị từ vựng khác đi

với nó (ví dụ: Tóc mẹ có nhiều nếp nhăn.)

+ Lỗi về ý – tình thái (ví dụ: Anh làm thế mà coi được nhé.)

+ Lỗi về tu từ (ví dụ: Phong cảnh vùng này đẹp, con người vùng này sống

thẳng, nhân hậu, hiền hòa)

+ Lỗi về phong cách (ví dụ: Tổng thống nước X và vợ vừa đến Hà Nội, bắt

đầu chuyến thăm chính thức tại nước ta.)

+ Lỗi về ý – tình huống (ví dụ: A: “Ồ, anh đi đâu đấy? Lâu lắm rồi không

gặp” B: lúng túng, “Tôi đi vệ sinh”.)

+ Lỗi về chuẩn đạo đức trong hành vi nói năng (ví dụ: Lão mù đấy trông

tởm quá.)

Trong cuốn Từ điển dùng từ - Viện Ngôn ngữ học do tác giả Hà Quang Năng

chủ biên, nhóm các nhà ngôn ngữ học biên soạn cuốn từ điển này đã đưa ra phân loại về lỗi dùng từ như sau:

Trang 29

+ Lỗi dùng từ sai vỏ âm thanh (ví dụ: Đoàn xe chuyển bánh và bom bom trên

quốc lộ Một.)

+ Lỗi dùng từ sai ý nghĩa (ví dụ: Em có một thân hình béo bở.)

+ Lỗi dùng lặp từ (ví dụ: Con người nhân dân Việt Nam rất giàu lòng nhân ái.) + Lỗi dùng thừa từ, thiếu từ (ví dụ: Vùng đất quê ông rất dễ hay bị lụt lội)

+ Lỗi dùng sai phong cách và sai từ loại (ví dụ: Tùng không bao giờ chửi

xằng nên ai cũng yêu)

Trong khảo sát lỗi của sinh viên Trung Quốc, chúng tôi cũng dùng tên gọi trên của các nhà Việt ngữ học để gọi tên lỗi của sinh viên Trung quốc

Qua quá trình khảo sát lỗi, chúng tôi có tổng kết được kết quả như sau: tổng

số 3000 lỗi được tìm thấy trong tổng số 1000 bài viết của sinh viên năm thứ ba có

1507 lỗi sử dụng từ ngữ Từ những tư liệu thực tế này, chúng tôi chỉ nghiên cứu những lỗi mà sinh viên Trung Quốc mắc phải với tỉ lệ cao vì thế tổng số lỗi mà chúng tôi thực hiện khảo sát là 1447 lỗi Trong tổng số này, chúng tôi chia thành hai nhóm lỗi chính: lỗi về cấu trúcngữ pháp và lỗi thuộc về ngữ nghĩa của từ Dưới đây

là sự phân loại cụ thể:

a Trong nhóm lỗi thuộc về cấu trúcngữ pháp: 778 lỗi gồm những loại lỗi sau:

(i) Lỗi dùng sai về từ loại 253 lỗi

(ii) Lỗi dùng sai trật tự từ 249 lỗi

(iii) Lỗi dùng thừa từ 216 lỗi

Trang 30

b Trong nhóm lỗi về ngữ nghĩa của từ có 729 lỗi gồm những loại lỗi sau:

(i) Lỗi dùng sai nghĩa của từ: 173 lỗi

(ii) Lỗi dùng từ đồng nghĩa: 371 lỗi

(iii) Lỗi nhầm lẫn giữa từ mang ý nghĩa khái quát và từ mang ý nghĩa cụ thể:

58 lỗi

(iiii) Lỗi đặc thù của sinh viên Trung Quốc: 127 lỗi

Một số ví dụ tiêu biểu:

Lỗi dùng sai nghĩa

Các em muốn mời thầy

ra hậu môn để ăn cơm ạ

Các em muốn mời thầy ra cửa sau để ăn cơm ạ

Lỗi sử dụng từ ngữ của sinh viên Trung Quốc mà chúng tôi đã thu thập được

có rất nhiều loại Ngoài những lỗi đã nêu ở trên, sinh viên còn mắc những lỗi như

lỗi thiếu từ, lỗi lặp từ, lỗi tạo từ mới, lỗi dùng sai phong cách hay lỗi về giao thoa

văn hóa nhưng tần số xuất hiện của những lỗi này không lớn nên chúng tôi không

thực hiện khảo sát Những lỗi mà chúng tôi đưa ra trên đây, theo chúng tôi là những

lỗi tiêu biểu mà sinh viên Trung Quốc thường mắc Do vậy, cần đi sâu vào phân

tích lỗi và tìm hiểu nguyên nhân mắc lỗi Chúng tôi sẽ trình bày cụ thể hơn vào

chương hai và chương ba của luận văn này

Trang 31

Như vậy, để sử dụng một ngôn ngữ thành thạo không chỉ là ngoại ngữ hay ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ, người học phải có vốn từ vựng phong phú và đa dạng mới có thể nói năng một cách trôi chảy và đi vào lòng người Trong quá trình học ngoại ngữ, từ vựng được xem là những viên gạch lắp ghép tạo nên sự thành công hay thất bại của việc học ngoại ngữ Muốn sử dụng từ ngữ của ngôn ngữ thứ hai một cách thành thục, khắc phục những khuyết điểm khi dùng từ ngữ, người học phải trang bị cho mình vốn từ vựng phong phú ở nhiều lĩnh vực Hơn nữa, người học cần nắm vững những kiến thức về ngôn ngữ và văn hóa, quy tắc sử dụng giữa ngữ đích và ngữ nguồn

Trong luận văn nghiên cứu về lỗi sử dụng từ ngữ của học viên Trung Quốc, chúng tôi đã vận dụng lý thuyết phân tích lỗi hiện đại của Pit Coder để tìm ra các nguyên nhân và các giải pháp khắc phục lỗi một cách hiệu quả Bởi vì, trong số các công trình nghiên cứu về lỗi, lý thuyết về lỗi và phân tích lỗi của Pit Corder được đánh giá rất cao trong nhiều năm qua Với tính hệ thống và khoa học, lý thuyết của ông được xem là một cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu và phân tích lỗi và là cơ sở

lý thuyết rất hợp lý, cần thiết cho quá trình nghiên cứu và phân tích lỗi trong giai đoạn hiện nay Xuất phát từ lý thuyết phân tích lỗi, trong những chương tiếp theo, chúng tôi sẽ chủ yếu đi vào miêu tả và phân tích các kiểu loại lỗi sử dụng từ ngữ Tiếp đến, chúng tôi đề xuất những giải pháp hữu hiệu để khắc phục lỗi cho người học một cách triệt để và toàn diện

Trang 32

Chương 2

LỖI TỪ VỰNG XÉTSỬ DỤNG TỪ NGỮ XÉT TRÊN BÌNH DIỆN CẤU TRÚCNGỮ PHÁP VÀ MỘT SỐ BÀI LUYỆN KHẮC PHỤC 2.1 Tình hình khảo sát lỗi từ ngữ ởvề cấu trúcbình diện ngữ pháp từ

Đối với việc học ngoại ngữ, bất cứ người học nào cũng mắc lỗi khi học cũng như sử dụng ngôn ngữ thứ tiếng đó Lỗi về cấu trúc được xem là lỗi lộ rõ Vì chúng

ta có thể nhận biết loại lỗi này dựa trên mặt hình thức của nó ở trên những câu có mắc lỗi Các loại lỗi này được khắc phục khi năng lực tiếng của người học ngoại ngữ được tiến bộ dần lên Việc khảo sát, phân tích lỗi để tìm nguyên nhân, từ đó có hướng khắc phục, là hết sức quan trọng, nhất là với một đối tượng người học đông đảo như học viên người Trung Quốc Tuy nhiên, từ trước đến nay, việc mắc lỗi nói chung và lỗi về cấu trúc của người Trung Quốc học tiếng Việt nói riêng chưa được nghiên cứu ở Việt Nam

Có nhiều nguyên nhân gây ra lỗi của học viên Trung Quốc, trong đó có nguyên nhân quan trọng là ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ Trong quá trình thu thập và phân tích lỗi, chúng tôi nhận thấy rằng, tiếng Việt và tiếng Hán cùng loại hình ngôn ngữ đơn lập nên có sự giống nhau về phương thức cấu tạo Trong hệ thống từ vựng của hai ngôn ngữ đều có từ đơn, từ ghép hoặc ngữ cố định được tạo thành bằng cách ghép các tiếng có nghĩa với nhau Tuy nhiên vẫn có sự khác biệt, trong tiếng Việt, yếu tố chính của từ đặt ở trước, yếu tố phụ đặt ở sau còn trong tiếng Hán thì ngược lại Vì đặc điểm khác biệt này nên sinh viên Trung Quốc thường mắc lỗi về trật tự

từ mà nguyên nhân do hiện thượng giao thoa ngôn ngữ gây nên Chẳng hạn, vì chịu ảnh hưởng tiếng mẹ đẻ, sinh viên Trung Quốc thường mắc lỗi sai trật tự từ của tiếng

Việt, như “mới áo”, “trượt thi” hay “nhạt hồng” Theo đúng quy tắc trật tự từ của tiếng Việt, những lỗi sai này của sinh viên Trung Quốc phải diễn đạt là “áo mới”,

“thi trượt” và “hồng nhạt”

Về phương thức cấu tạo của đoản ngữ và câu, ngoài điểm tương đồng, trật tự

từ và hư từ đều biểu thị ý nghĩa ngữ pháp, tiếng Hán và tiếng Việt có điểm khác biệt trong cấu trúc danh ngữ Sau đây là hai danh ngữ tương đương của hai ngôn ngữ:

Trang 33

tiếng Hán: 幸福 生活 “hạnh phúc cuộc sống”; tiếng Việt: Cuộc sống hạnh phúc Trong khi, cấu trúc danh ngữ của tiếng Hán sắp xếp theo trật tự định ngữ (hạnh phúc) + danh từ (cuộc sống) thì cấu trúc danh ngữ của tiếng Việt là danh từ (cuộc sống) + định ngữ (hạnh phúc) Trong tiếng Hán, trật tự của trạng ngữ tương đối

nghiêm ngặt hơn tiếng Việt Chẳng hạn, trạng ngữ của tiếng Hán luôn đứng trước vị

ngữ “我们晚上上课” (Chúng tôi buổi tối đi học) còn tiếng Việt thì trạng ngữ có thể

đứng tự do ở nhiều vị trí khác nhau và làm câu biểu thị những tiêu điểm thông tin

khác nhau (Chúng tôi buổi tối đi học hoặc Buổi tối chúng tôi đi học hoặc Chúng tôi

đi học buổi tối.)

Do tiếng Việt và tiếng Hán cùng loại hình ngôn ngữ đơn lập, việc xác định từ loại không có các tiêu chí rõ ràng Từ không có sự biến đổi hình thái cho nên về từ pháp và cú pháp có nhiều điểm tương đồng Cả hai ngôn ngữ đều có hư từ, thực từ

và các loại từ cụ thể Vai trò của hư từ, thực từ căn bản giống nhau, không biến hình Vị trí của từ trong câu quyết định chức năng ngữ pháp của nó nên ranh giới giữa các từ loại không rõ ràng Vì sự tương đồng về mặt từ loại giữa hai ngôn ngữ này nên một từ có thể có nhiều nghĩa, từ nghĩa trực tiếp đến nghĩa ẩn dụ bóng bảy

có thể sử dụng một cách linh hoạt Còn sự khác biệt, từ vựng tiếng Hán là nhiều từ đồng âm, một “chữ” có nhiều cách đọc khác nhau, ngược lại một “chữ” tiếng Việt chỉ có một âm đọc duy nhất Do vậy, trong quá trình học tập tiếng Việt, vì sinh viên Trung Quốc quen với sự đa nghĩa và đa từ loại của từ nên khó xác định từ loại và chuyển dịch từ tiếng Hán sang tiếng Việt và ngược lại

Trong quá trình khảo sát, chúng tôi tập trung thống kê các từ, cụm từ và kết hợp ngữ pháp mà chúng tôi cho rằng đó là những sai sót trong việc thể hiện cách dùng từ Mặc dù lỗi thuộc về cấu trúc rất đa dạng nhưng luận văn của chúng tôi chỉ tập trung khảo sát những lỗi xuất hiện với tần suất cao, nghĩa là những lỗi mà số

đông sinh viên Trung Quốc dễ mắc phải, đó là lỗi (error) chứ không phải là nhầm

(mistake) trong quá trình thụ đắc tiếng Việt Trên cơ sở thống kê phân loại, luận văn

Trang 34

đưa ra một số lượng lỗi đủ lớn để miêu tả, phân tích và xác định nguyên nhân mắc

lỗi từ đó đề xuất các giải pháp sửa lỗi

Thống kê và phân loại lỗi về cấu trúcngữ pháp của sinh viên năm thứ ba cho

thấy kết quả như sau: trong 1507 lỗi đã thu thập, có 778 trường hợp lỗi liên quan

đến cấu trúc Trong số đó có 253 lỗi từ loại (33%,), 249 lỗi về trật tự cụm từ (32%),

216 lỗi thừa từ (28%) và 60 lỗi lặp từ (8%) Cũng cần nói thêm rằng, khó có một

ranh giới thật rõ giữa các loại lỗi, bởi vì bản thân một biểu hiện sai lệch đôi khi vừa

là lỗi về kết cấu (có khi cũng trộn lẫn của những kiểu nhỏ mà chúng tôi phân loại ở

dưới), vừa là lỗi về ngữ nghĩa (có khi cũng trộn lẫn các kiểu nhỏ mà chúng tôi phân

loại ở chương 3) Tuy nhiên, để có một cái nhìn khái quát, chúng tôi tạm phân loại ở

4 kiểu như dưới đây

Theo khảo sát của chúng tôi, đối với sinh viên năm thứ ba, mức độ yêu cầu

cao hơn, vì phải học các môn chuyên ngành nên các em phải viết và đọc những câu

dài và học từ ngữ chuyên môn và trừu tượng hơn Vì thế, sinh viên ở năm thứ ba

vẫn mắc nhiều lỗi thuộc về cấu trúc Dưới đây, chúng tôi xin đưa ra bảng phân loại

thể hiện mức độ mắc lỗi của sinh viên năm thứ ba như sau:

STT Lỗi thuộc về bình diện cấu trúc từsử dụng từ

có độ chênh lệch không đáng kể Lỗi về trật tự từ chiếm tỉ lệ thấp hơn so với hai

loại lỗi trên do sinh viên đã có vốn kiến thức ngôn ngữ của tiếng Việt Cuối cùng,

Formatted Table

Trang 35

lỗi lặp từ chỉ chiếm 8% Trong phần khảo sát của chương này, chúng tôi chỉ tập trung vào khảo sát những loại lỗi thường gặp và có tần số xuất hiện lớn Do vậy, chúng tôi chọn miêu tả và phân tích những lỗi: lỗi sai về từ loại, lỗi sai trật tự cụm

từ và lỗi thừa từ

2.2 Miêu tả lỗi từ ngữ xét trên bình diện cấu trúcngữ pháp

2.2.1 Lỗi dùng sai từ loại

Theo Đinh Văn Đức (Ngữ pháp tiếng Việt – Từ loại), từ loại là những lớp từ

có cùng bản chất ngữ pháp, được phân chia theo ý nghĩa khái quát, theo khả năng kết hợp với các từ ngữ khác trong ngữ lưu và thực hiện những chức năng ngữ pháp nhất định ở trong câu.Hệ thống từ loại tiếng Việt được chia thành các tập hợp cơ bản như sau: thực từ, hư từ và tình thái từ Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi chỉ khảo sát lỗi sai ở thực từ Thực từ có ba loại tiêu biểu đó là danh từ, động từ và tính từ Danh từ, động từ, tính từ là ba từ loại quan trọng của tiếng Việt và đảm nhận chức năng ngữ pháp rất cơ bản để tạo thành câu, phát ngôn

Do tiếng Hán và tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, từ không biến đổi hình thái nên việc phân định ranh giới danh từ, động từ và tính từ không rõ ràng

Đinh Văn Đức cho rằng, sự phân định từ loại là sự phân chia vốn từ bằng bản chất

ngữ pháp thông qua ý nghĩa khái quát và hoạt động ngữ pháp của từ trong câu Chúng tôi đồng ý với ý kiến trên và dựa vào hai tiêu chí là chức vụ cú pháp và chức năng ngữ nghĩa của từ ở trong câu để xác định ba từ loại: danh từ, động từ, tính từ Trên cở sở bảng phân loại (bảng 2.1), trong tổng số 778 lỗi có 253 lỗi sai từ loại Trong đó, 138 lỗi sai do nhầm giữa động từ và danh từ, 82 lỗi sai do nhầm giữa tính

từ và danh từ và 33 lỗi do nhầm giữa động từ và tính từ Dưới đây là một số trường hợp lỗi từ loại của người Trung Quốc học tiếng Việt

2.2.1.1 Lỗi do nhầm giữa động từ và danh từ

Trong cuốn Ngữ pháp Việt Nam (2009), Diệp Quang Ban đã đưa ra quan

điểm, danh từ được dùng để chỉ người, sự vật, khái niệm và những thực thể đã được

khái niệm hóa Các danh từ có thể kết hợp với các số từ như vài, dăm, những, các,

Trang 36

một, hai…(đứng trước danh từ); và các đại từ chỉ định như này, kia, ấy, nọ (đứng

sau danh từ) Danh từ thường làm chủ ngữ hay bổ ngữ trong câu Động từ là những

từ chủ yếu được dùng để chỉ các sự kiện, các hoạt động hoặc trạng thái [5, tr 315] Động từ là từ có khả năng làm yếu tố (đầu tố) có ý nghĩa khái quát, nêu đặc trưng động hoặc đặc trưng tĩnh của sự việc được phản ánh, kết hợp được về phía trước với

các phó từ như đã, đang, sẽ, về phía sau với từ rồi, xong, động từ thường làm yếu tố

chính ở vị ngữ trong câu [5, tr.324] Trong khi học tiếng Việt, người học mắc lỗi sai này do không hiểu rõ chức năng ngữ pháp và chức năng ngữ nghĩa của động từ và danh từ Dưới đây là một số ví dụ cụ thể:

Tạm thời bỏ qua cách sử dụng thành ngữ “học tài thi phận” của sinh viên, chúng tôi cho rằng từ “thi” trong tiếng Việt có hai từ chung vỏ âm thanh, một là

danh từ (nghĩa là thơ, ví dụ thi ca), một là động từ (nghĩa là đọ sức tranh tài với người khác, ví dụ thi đấu) Nhưng xét ý nghĩa của câu, “thi” trong ví dụ (1) có vai trò làm động từ vì liên quan đến nghĩa của những từ điểm và học Như vậy, sinh viên dùng “thi” động từ, nhưng đã dùng sai tổ hợp từ *thi này, vì theo quy tắc ngữ

pháp trong tiếng Việt, những từ đứng đằng trước đại từ “này, kia, ấy, đó” là danh từ

Vì vậy, người học đã kết hợp sai giữa động từ “thi” và đại từ “này” do không nắm được cách danh từ hóa của động từ “thi” Bên cạnh đó, nếu so sánh với tiếng Hán thì từ “thi” tương đương với từ 考试 [kǎoshì] Về chức năng ngữ pháp, nó đảm

nhiệm hai chức năng làm cả động từ và danh từ Từ “考试”là động từ khi nằm trong

vị ngữ của câu còn là danh từ khi nằm ở ví trí chủ ngữ trong câu hay nằm trong cấu

trúc định ngữ + 的+ danh từ Và người Trung Quốc có thể nói: 他的考试 (cuộc thi

Trang 37

của anh ấy trong đó 考试 nghĩa là cuộc thi, 的 nghĩa là của, 他 nghĩa là anh ấy) hay 这次考试 (Cuộc thi này trong đó 这 nghĩa là này, 考试 nghĩa là cuộc thi, 次 là phụ

từ chỉ thứ tự, xếp hạng) Vậy, trong tiếng Hán, động từ “thi” hoàn toàn tương đồng

về ngữ nghĩa và chức năng ngữ pháp là “考试” Tuy nhiên “考试” cũng có thể dùng như một danh từ Tức là, cùng một từ “考试” nhưng lại có hai chức năng từ loại khác nhau Trong trường hợp này, ở tiếng Việt, “thi” chỉ có thể đảm nhiệm chức năng là động từ Do chuyển di tiếng mẹ đẻ nên sinh viên Trung Quốc cho rằng “thi”

là một danh từ và vì thế đã mắc phải lỗi như trên Để sửa đúng câu này, chúng ta

cần phải danh từ hóa động từ “thi” thành cuộc thi, bài thi, lần thi hay kỳ thi nhưng xét trên ngữ nghĩa của cả câu thì bài thi, lần thi và kì thi là phù hợp nhất

Nếu như ví dụ (1), sinh viên nhầm động từ thành danh từ thì ở ví dụ (2) thì ngược lại, sinh viên nhầm danh từ thành động từ Ở ví dụ này, sinh viên đã dùng sai

từ *cuộc hẹn Theo ngữ pháp tiếng Việt, khi trung tâm của cụm từ là động từ tình thái (nên, có thể, không thể, toan, dám, định, nỡ, thôi…) thì phần phụ sau không thể

là một danh từ nên chỉ có thể là động từ hoặc tính từ (ví dụ: có thể đúng, có thể

nói ) Xét về từ loại tiếng Việt, từ “cuộc hẹn” là danh từ Do vậy, ví dụ trên đã có

sự kết hợp sai giữa hai từ “có thể” và “cuộc hẹn” Giống như trường hợp (1), theo từ điển tiếng Hán hiện đại [88] 约会 [yuēhuì] có nghĩa là hẹn hò, hẹn gặp (động từ) hoặc là cuộc hẹn, hẹn (danh từ) Nhưng đại đa số các từ điển Việt – Hán, Hán - Việt hiện nay thường không chỉ rõ từ “cuộc hẹn” là danh từ hay động từ, do đó người học có sự nhầm lẫn khi cho rằng từ “cuộc hẹn” tương đồng hoàn toàn với từ “约会”

về cả ngữ nghĩa và chức năng ngữ pháp, tức là từ này có thể đảm nhận như động từ Phân tích những lỗi sai ở trên, chúng tôi có những được sửa câu đúng như sau:

TTL Câu sai Câu đúng

Trang 38

2.2.1.2 Lỗi do nhầm giữa tính từ và danh từ

Trong tiếng Việt, cũng như danh từ và động từ, tính từ là từ có khả năng làm yếu tố chính trong cụm từ chính phụ, có ý nghĩa khái quát là chỉ đặc trưng về tính chất của sự vật nêu ở danh từ mà nó liên quan hoặc chỉ đặc trưng của động từ hay

của tính từ khác mà nó có liên quan [5, tr 330] Giống như động từ, tính từ có thể kết hợp với một phụ từ (ngoại trừ hãy, đừng, chớ) Tính từ có thể làm vị ngữ trong câu Tính từ có thể kết hợp với rất, quá, lắm, còn động từ (trừ động từ cảm xúc) thì

không có khả năng kết hợp với các từ này Người học mắc lỗi này do không xác định được chức năng cú pháp và khả năng kết hợp giữa danh từ và tính từ Sau đây

là một số ví dụ lỗi sai cụ thể

Ở ví dụ (3), lỗi sai được thể hiện ở cách dùng từ *nỗi buồn Về chức năng từ

loại, “nỗi buồn” là danh từ Ở ví dụ này, người học đã dùng sai từ loại tiếng Việt,

“mệnh đề/động từ + đỡ + tính từ/động từ” Từ đỡ kết hợp với các tính từ hoặc động

từ cảm xúc có tính chất tiêu cực (buồn, đau, mệt, ốm, thất vọng ) để biểu thị sự

giảm xuống của một cảm giác, một trạng thái không tốt [79, tr.132] Ví dụ: ăn cho

1

Anh ấy luôn luôn lười học

nhưng thi này điểm rất cao,

đúng là học tài thi phận

Anh ấy luôn luôn lười học nhưng bài thi/ lần thi/ kì thi này điểm rất cao, đúng là học tài thi phận

4 Hiện nay, công ty Wipro có số vốn 6,7 tỉ USD, ông Premji là một

trong những giầu nhất Ấn Độ

Trang 39

đỡ đói, uống nước cho đỡ khát Trên thực tế, sinh viên nước ngoài nói chung và

sinh viên Trung Quốc rất khó để hiểu và dùng đúng cấu trúc này, do tiếng Hán

không tồn tại cách biểu đạt tương đồng Thực tế đối chiếu hai ngôn ngữ thì bao giờ

cũng có những ô trống kiểu như vậy Đây có thể được coi là phần kiến thức hoàn

toàn mới nên việc dùng sai cấu trúc “mệnh đề/động từ + đỡ+ tính từ/động từ” sinh

viên thường xuyên xảy ra đối với học viên Trung Quốc

Bên cạnh đó, cũng giống như các lỗi sai từ loại khác, ở đây, người học đã

cho tiếng Việt Thêm vào đó, cách chú thích không rõ ràng của những từ điển thông

thường hiện nay cũng là một cản trở khiến sinh viên không tìm được cách sử dụng

đúng Chúng tôi đã tham khảo từ điển Từ điển Hán – Việt do Phan Văn Các chủ

biên (2002) [12] thì quả thực có tình trạng này.Theo từ loại tiếng Hán, chỉ tồn tại từ

“难过” [nánguò] nghĩa là “buồn, không vui” [88] với tư cách là tính từ Người học,

do việc tra từ điển, thêm vào đó là không có ý thức phân biệt rõ ràng từ loại mà sử

dụng từ một cách chủ quan nên đã tạo ra những loại lỗi như trên Xét về ý nghĩa, câu

này cần được sửa bằng cách tính từ hóa danh từ có nghĩa là phải bỏ bớt loại từ “nỗi”

Như ví dụ (3) sai từ loại do nhầm lẫn từ danh từ thành tính từ thì ví dụ (4) có

điểm sai khác đó là sinh viên đã nhầm lẫn chuyển loại từ loại từ tính từ sang danh

từ Từ sai trong ví dụ (4) là tính từ *giầu Trong trường hợp này, sinh viên coi “giầu”

là danh từ nên đã kết hợp sai giữa từ “những” và “giầu”, do đó để có kết hợp đúng cần

phải danh từ hóa tính từ “giầu” thành “người giầu”

Cũng như một số lỗi đã nêu, lỗi này cũng có lí do từ chuyển di ngôn ngữ mà

ra Thực tế chứng minh rằng, một trong những nguyên nhân chính dẫn đến những

lỗi sai mà sinh viên hay mắc phải chính là áp dụng lối diễn đạt của tiếng mẹ đẻ vào

tiếng Việt Trong lỗi sai này, sinh viên đã vận dụng ngôn ngữ một cách chủ quan,

mang y nguyên quy tắc tổ chức câu và từ trong tiếng Hán dùng cho tiếng Việt

Tiếng Hán tồn tại những từ có chức năng ngữ pháp đặc biệt mà những ngôn ngữ

Formatted: Vietnamese

Formatted: Vietnamese Formatted: Vietnamese

Trang 40

khác không có, gọi là trợ từ kết cấu Trong câu ví dụ (4), cụm từ “người giàu nhất”

sẽ có cách biểu đạt như sau:

định ngữ + trợ từ kết cấu(的) + trung tâm ngữ (danh từ)

最有钱(giàu nhất) 的 (人) (người)

Cụm từ tiếng Hán trên bao gồm hai cấu trúc ngữ pháp tiếng Hán: cấu trúc trợ từ

kết cấu (định ngữ +的 + trung tâm ngữ) và cấu trúc so sánh hơn (dùng “最 + tính

từ” biểu thị sự tuyệt đối: “tính từ+nhất”) Trên thực tế, khi biểu đạt cụm từ tương tự

như người thông minh nhất, người xinh đẹp nhất… thì trung tâm ngữ 人 (người) có

thể lược bỏ trong cấu trúc trợ từ kết cấu (最聪明的 – người thông minh nhất ;最可

爱的 – người xinh đẹp nhất) Do đó, sinh viên Trung Quốc thường nhầm tưởng rằng

danh từ “người” có thể được lược bỏ trong giao tiếp mà không biết rằng,trong tiếng

Việt, danh từ làm trung tâm ngữ thường đứng trước định ngữ và không thể lược bỏ

Như vậy, do ảnh hưởng của ngữ pháp mẹ đẻ, sinh viên đã đem cách dùng cấu trúc

ngữ pháp trên vào tạo câu tiếng Việt và nghĩ rằng trong tiếng Việt cũng có cấu trúc

tương đương như tiếng Hán

Phân tích những lỗi sai ở trên, chúng tôi có những câu sửa cho đúng như sau:

2.2.1.3 Lỗi do nhầm giữa tính từ và động từ

đã đỡ nỗi buồn

Sau khi nói chuyện với bạn tôi, tôi đã

đỡ buồn.

4

Hiện nay, công ty Wipro có số

vốn 6,7 tỉ USD, ông Premji là một

trong những giầu nhất Ấn Độ

Hiện nay, công ty Wipro có số vốn 6,7 tỉ USD, ông Premji là một trong những người giầu nhất Ấn Độ

Formatted: Vietnamese

Ngày đăng: 31/03/2015, 14:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê A (2004), Dạy tiếng Việt là dạy một hành động và bằng hành động, Ngôn ngữ, (4), tr. 62 - 65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ
Tác giả: Lê A
Năm: 2004
2. Nguyễn Hoàng Anh (2004), Đặc trưng cấu trúc và ngữ nghĩa của danh ngữ tiếng Hán hiện đại (trong sự đối chiếu với tiếng Việt), Luận án tiến sĩ Ngữ Văn, Viện Ngôn ngữ học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng cấu trúc và ngữ nghĩa của danh ngữ tiếng Hán hiện đại (trong sự đối chiếu với tiếng Việt)
Tác giả: Nguyễn Hoàng Anh
Năm: 2004
3. Đào Duy Anh (2005), Hán Việt từ điển, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hán Việt từ điển
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2005
4. Bùi Hồng Ánh (2001), Khảo sát một số lỗi thường gặp của sinh viên Việt Nam nói tiếng Anh nhìn từ góc độ giao tiếp xuyên văn hóa, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, ĐHKHXH&NV, ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát một số lỗi thường gặp của sinh viên Việt Nam nói tiếng Anh nhìn từ góc độ giao tiếp xuyên văn hóa
Tác giả: Bùi Hồng Ánh
Năm: 2001
5. Diệp Quang Ban (2009), Ngữ pháp Việt Nam, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp Việt Nam
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
6. Phạm Đăng Bình (2001), Vai trò của nhân tố văn hóa trong quá trình giao tiếp bằng tiếng nước ngoài, Ngôn ngữ (4), tr. 70 -76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ
Tác giả: Phạm Đăng Bình
Năm: 2001
7. Phạm Đăng Bình (2001), Một số quan niệm khác nhau về lỗi trong quá trình dạy và học tiếng nước ngoài, Ngôn ngữ (14), tr. 61-65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ
Tác giả: Phạm Đăng Bình
Năm: 2001
8. Phạm Đăng Bình (2002), Thử đề xuất một số cách phân loại lỗi của người học ngoại ngữ nhìn từ góc độ dụng học giao thoa ngôn ngữ - văn hóa, Ngôn ngữ (9), tr. 58-72 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ
Tác giả: Phạm Đăng Bình
Năm: 2002
9. Phạm Đăng Bình (2003), Khảo sát lỗi giao thoa ngôn ngữ - văn hóa trong diễn ngôn của người Việt học tiếng Anh. Luận văn Tiến sĩ ngữ văn, Viện Ngôn ngữ học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát lỗi giao thoa ngôn ngữ - văn hóa trong diễn ngôn của người Việt học tiếng Anh
Tác giả: Phạm Đăng Bình
Năm: 2003
10. Lê Xảo Bình (2004), Lỗi của người Trung Quốc học tiếng Việt nhìn từ góc độ xuyên văn hóa (xét về khía cạnh từ vựng), Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, ĐHKHXH&NV, ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lỗi của người Trung Quốc học tiếng Việt nhìn từ góc độ xuyên văn hóa (xét về khía cạnh từ vựng)
Tác giả: Lê Xảo Bình
Năm: 2004
11. Hà Văn Bửu (2004), Lỗi về cách dùng từ, Nxb Tổng hợp TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lỗi về cách dùng từ
Tác giả: Hà Văn Bửu
Nhà XB: Nxb Tổng hợp TP Hồ Chí Minh
Năm: 2004
12. Phan Văn Các chủ biên (2002) Từ điển Hán – Việt, Trung tâm KHXHNV, Viện Ngôn ngữ học, Nxb TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán – Việt
Nhà XB: Nxb TP Hồ Chí Minh
13. Nguyễn Tài Cẩn (1979), Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt. Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1979
14. Nguyễn Tài Cẩn (1975), Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1975
15. Nguyễn Linh Chi (2009), Lỗi ngôn ngữ của người nước ngoài học tiếng Việt (trên tư liệu lỗi từ vựng, ngữ pháp của người Anh, Mỹ), Luận án Tiến sĩ Ngôn ngữ học, Viện Ngôn ngữ học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lỗi ngôn ngữ của người nước ngoài học tiếng Việt (trên tư liệu lỗi từ vựng, ngữ pháp của người Anh, Mỹ)
Tác giả: Nguyễn Linh Chi
Năm: 2009
16. Nguyễn Văn Chính (2010), Giáo trình từ pháp học tiếng Việt, Nxb ĐHGQHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình từ pháp học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Chính
Nhà XB: Nxb ĐHGQHN
Năm: 2010
17. Đỗ Hữu Châu (1986), Các bình diện của từ và từ tiếng Việt, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bình diện của từ và từ tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1986
18. Mai Ngọc Chừ; Vũ Đức Nghiệu & Hoàng Trọng Phiến (1997), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt. Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ; Vũ Đức Nghiệu & Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
19. Mai Ngọc Chừ (2009), Văn hóa và ngôn ngữ phương Đông, Nxb Phương Đông, Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và ngôn ngữ phương Đông
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: Nxb Phương Đông
Năm: 2009
20. Mai Ngọc Chừ (2002), Dạy tiếng Việt với tƣ cách một ngoại ngữ, Ngôn ngữ (5), tr. 65-69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.    Bảng 2.2  Bảng phân loại lỗi dùng sai từ loại  34 - Khảo sát lỗi sử dụng từ ngữ của học viên Trung Quốc học tiếng Việt
2. Bảng 2.2 Bảng phân loại lỗi dùng sai từ loại 34 (Trang 4)
(Bảng 2.1: Bảng phân loại lỗi thuộc xét trên về bình diện cấu trúcngƣ̃ pháp - Khảo sát lỗi sử dụng từ ngữ của học viên Trung Quốc học tiếng Việt
Bảng 2.1 Bảng phân loại lỗi thuộc xét trên về bình diện cấu trúcngƣ̃ pháp (Trang 34)
(Bảng 2.3: Bảng phân loại lỗi dùng sai trật tự cụm từ) - Khảo sát lỗi sử dụng từ ngữ của học viên Trung Quốc học tiếng Việt
Bảng 2.3 Bảng phân loại lỗi dùng sai trật tự cụm từ) (Trang 47)
(Bảng 3.1: Bảng phân loại lỗi thuộc về bình diện ngữ nghĩa của từ) - Khảo sát lỗi sử dụng từ ngữ của học viên Trung Quốc học tiếng Việt
Bảng 3.1 Bảng phân loại lỗi thuộc về bình diện ngữ nghĩa của từ) (Trang 71)
(Bảng 3.2: Bảng phân loại lỗi đặc thù của sinh viên Trung Quốc) - Khảo sát lỗi sử dụng từ ngữ của học viên Trung Quốc học tiếng Việt
Bảng 3.2 Bảng phân loại lỗi đặc thù của sinh viên Trung Quốc) (Trang 81)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w