1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bước đầu khảo sát hiện tượng tiêu điểm hóa cấu trúc chủ - vị của câu tiếng Việt

128 419 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 918,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ những câu hỏi trên, chúng tôi muốn đi sâu vào hiện tượng tiêu điểm hóa cấu trúc chủ - vị - một phương thức thể hiện sự tập trung thông tin để hy vọng những kết quả của luận

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

ĐÀO THỊ MINH NGỌC

BƯỚC ĐẦU KHẢO SÁT HIỆN TƯỢNG TIÊU ĐIỂM HOÁ CẤU TRÚC CHỦ - VỊ

CỦA CÂU TIẾNG VIỆT

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Hà Nội - 2010

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Ý nghĩa của luận văn 3

5 Phương pháp nghiên cứu và tư liệu 4

5.1 Phương pháp nghiên cứu 4

5.2 Tư liệu khảo sát 4

6 Cấu trúc của luận văn 5

CHƯƠNG 1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT 6

1.1.Tình hình nghiên cứu 6

1.1.1.Tình hình nghiên cứu cấu trúc thông tin trong ngôn ngữ học 6

1.1.1.1 Lý thuyết phân đoạn thực tại 6

1.1.1.2 Cấu trúc thông tin theo ngữ pháp chức năng 6

1.1.2 Tình hình nghiên cứu cấu trúc thông tin trong Việt ngữ học 9

1.1.2.1 Về cấu trúc cú pháp 9

1.1.2.2 Về cấu trúc thông thông tin 12

1.2 Các khái niệm liên quan đến đề tài 14

1.2.1.Cấu trúc thông tin 14

1.2.2.Các thành tố của cấu trúc thông tin 15

1.2.2.1 Cơ sở thông tin 15

1.2.2.2 Tiêu điểm thông tin 17

1.2.3 Tiêu điểm hoá và phương thức tiêu điểm hoá 20

1.2.3.1 Quan niệm về tiêu điểm hoá 20

1.2.3.2 Phương thức đánh dấu tiêu điểm 21

1.2.4 Lý thuyết đánh dấu 26

1.2.4.1 Lý thuyết đánh dấu của Jakobson 26

1.2.4.2 Ứng dụng lý thuyết đánh dấu trong ngữ pháp chức năng 27

1.3 Tiểu kết 29

CHƯƠNG 2 CÁC PHƯƠNG THỨC TIÊU ĐIỂM HOÁ 30

2.1 Cơ sở xác định tiêu điểm thông tin 30

Trang 4

2.1.2 Tiền giả định 33

2.1.3 Tỉnh lược 34

2.2 Các phương thức tiêu điểm hoá cấu trúc chủ - vị của câu tiếng Việt 35

2.2.1 Tiêu điểm hóa bằng trọng âm 35

2.2.2 Tiêu điểm hóa bằng tỉnh lược cơ sở thông tin 36

2.2.2.1 Phát ngôn tỉnh lược chủ ngữ 37

2.2.2.2 Phát ngôn tỉnh lược vị ngữ 38

2.2.2.3 Phát ngôn tỉnh lược chủ - vị 38

2.2.3 Tiêu điểm hóa bằng hư từ 39

2.2.3.1 Trợ từ tiêu điểm 39

2.2.3.2 Tiểu từ 40

2.2.3.3 Tổ hợp trợ từ…tiểu từ 40

2.2.4 Tiêu điểm hóa bằng thay đổi trật tự từ 41

2.2.4.1 Tiền đảo 41

2.2.4.2 Hậu đảo 44

2.2.4.3 Câu bị động 48

2.3 Các loại tiêu điểm thông tin 51

2.3.1 Tiêu điểm khẳng định 51

2.3.1.1 Câu trả lời gồm phần cơ sở và tiêu điểm 51

2.3.1.2 Câu trả lời chỉ có tiêu điểm 57

2.3.2 Tiêu điểm hỏi 59

2.3.2.1 Câu hỏi gồm cả phần cơ sở và tiêu điểm hỏi 60

2.3.2.2 Câu hỏi chỉ có tiêu điểm hỏi 62

2.3.2.3 Câu hỏi chỉ có phần cơ sở 62

2.3.3 Tiêu điểm tương phản 64

2.3.3.1 TĐTP thay thế: 65

2.3.3.2 TĐTP mở rộng: 66

2.3.3.3 TĐTP hạn định: 66

2.3.3.4 TĐTP lựa chọn: 66

2.3.3.5 TĐTP song song: 66

2.4 Tiểu kết 67

CHƯƠNG 3: PHẠM VI TIÊU ĐIỂM HOÁ CẤU TRÚC CHỦ - VỊ 68

3.1 Cấu trúc chủ - vị có tiêu điểm thông tin là vị từ 68

3.1.1 Điều kiện xuất hiện của tiêu điểm thông tin là vị từ 68

3.1.1.1 Đối với những câu hỏi 69

Trang 5

3.1.1.2 Đối với những phát ngôn không phải là câu hỏi 70

3.1.2 Phương tiện thể hiện tiêu điểm thông tin là vị từ 71

3.1.2.1 Khả năng hoạt động của tiêu điểm vị từ 71

3.1.2.2 Phương tiện thể hiện của tiêu điểm thông tin là vị từ 75

3.2 Cấu trúc chủ - vị có tiêu điểm thông tin là tham tố 79

3.2.1 Điều kiện xuất hiện của tiêu điểm thông tin là tham tố 79

3.2.1.1 Đối với những câu hỏi nhằm tìm kiếm thông tin 79

3.2.1.2 Đối với những câu hỏi nhằm xác nhận tính chân thực thông tin 79

3.2.2 Phương tiện thể hiện tiêu điểm thông tin là tham tố 80

3.2.2.1 Khả năng hoạt động của tiêu điểm tham tố 80

3.2.2.2 Phương tiện thể hiện của tiêu điểm thông tin tham tố 84

3.3 Cấu trúc thông tin có tiêu điểm thông tin là câu 91

3.3.1 Điều kiện xuất hiện của tiêu điểm thông tin là câu 91

3.3.1.1 Câu có TĐKĐ 91

3.3.1.2 Câu có TĐH 91

3.3.1.3 Câu có TĐTP 92

3.3.2 Phương tiện thể hiện của tiêu điểm thông tin là câu 92

3.3.2.1 Khả năng hoạt động của tiêu điểm thông tin là câu 92

3.3.2.2 Phương tiện thể hiện của tiêu điểm thông tin là câu 93

3.3 Tiểu kết 95

PHẦN KẾT LUẬN 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

PHỤ LỤC 103

CẤU TRÚC CHỦ - VỊ CÓ TIÊU ĐIỂM THÔNG TIN LÀ VỊ TỪ 103

TƯ LIỆU TRÍCH DẪN 123

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong thực tế sử dụng ngôn ngữ, chúng ta vẫn thường gặp trường hợp cùng một nội dung phát ngôn nhưng trong các ngữ cảnh khác nhau sẽ tạo ra những giá trị thông tin khác nhau (được biểu hiện qua việc đặt câu hỏi) Ví dụ:

(1) Lan mua hai cuốn sách (Ai mua hai cuốn sách?)

(2) Lan mua hai cuốn sách (Lan mua gì?)

(3) Lan mua hai cuốn sách (Lan làm gì?)

(4) Lan mua hai cuốn sách (Có chuyện gì?)

Dễ nhận thấy đây là một hiện tượng ngôn ngữ phổ biến và có vai trò quan trọng đối với hoạt động thực tiễn của tiếng Việt Giới nghiên cứu ngôn ngữ học đã chú ý đến hiện tượng này và gọi nó bằng thuật ngữ "sự phân đoạn thực tại" Tuy nhiên, khái niệm phân đoạn thực tại mãi đến năm 1939 mới bắt đầu được quan tâm nhiều mà khởi nguồn là Mathesius và các học giải thuộc trường phái Praha Sau đó, tư tưởng của nhóm ngôn ngữ học này đã được các nhà nghiên cứu tiếp thu và phát triển theo nhiều hướng khác nhau như M.A K Halliday, S.Dik, J.Firbas, R.Dooley, Li & Thompson

Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của ngữ nghĩa học và ngữ dụng học, vấn đề nghiên cứu câu đã có những bước phát triển mạnh mẽ Người ta quan tâm sâu sắc đến nhân tố con người trong ngôn ngữ, xem giao tiếp ngôn ngữ là một dạng hoạt động của con người, trong đó con người sử dụng ngôn ngữ như một chủ thể có ý thức phục vụ cho lợi ích của mình Theo cách tiếp cận như vậy, các nhà ngôn ngữ học đã chuyển trọng tâm nghiên cứu từ phân tích câu theo cấu trúc cú pháp sang phân tích câu theo cấu trúc thông tin của nó Lí thuyết về cấu trúc thông tin cũng vì thế đã có sự phát triển trong hàng loạt các công trình nghiên cứu của các tác giả (Trần Ngọc Thêm, Lý Toàn Thắng, Diệp Quang Ban, Cao Xuân Hạo, Nguyễn Hồng Cổn ) Tham khảo, tiếp thu các công trình và bài viết của những người đi trước, chúng tôi nhận thấy hầu hết các tác giả đã ít nhiều gợi mở cho người đọc hình dung về cấu trúc thông tin của câu Song, hầu hết

họ chỉ lấy bản thân cấu trúc thông tin làm đối tượng nghiên cứu chứ không nghiên cứu một cách trực tiếp và chuyên sâu Những vấn đề xung quanh một cấu trúc

Trang 7

thông tin như các thành tố của cấu trúc thông tin, các kiểu cấu trúc thông tin… được họ gợi nhắc một cách sơ lược và có phần đơn giản hóa Tìm hiểu toàn diện và

có độ sâu cần thiết thì phải nói tới tập hợp những bài viết của PGS Nguyễn Hồng Cổn trong công trình nghiên cứu của mình

Lý thuyết về cấu trúc thông tin khơi dậy một vấn đề quan trọng trong nghiên cứu các hiện tượng giao tiếp ngôn ngữ: đó là người nói muốn lưu ý đến điều gì và muốn người nghe chú ý, tiếp nhận đến phần thông tin nào được cho là quan trọng

Dễ nhận thấy sự đánh giá, lựa chọn thông tin khác nhau của người nói trong những hoàn cảnh nhận thức khác nhau có thể làm cho một sự kiện được diễn đạt bởi cùng một nội dung mệnh đề, cùng một cấu trúc cú pháp như nhau nhưng được thể hiện bằng những cấu trúc thông tin khác nhau Từ đó đã gợi mở cho chúng tôi một đề tài nghiên cứu khá thú vị: đó là người Việt đã sử dụng những đơn vị ngôn ngữ sẵn có như thế nào để truyền đạt thông tin và đặc biệt là phần thông tin được nhấn mạnh Trong cấu trúc thông tin có một bộ phận chứa đựng thông tin coi là quan trọng nhất

và được gọi là tiêu điểm thông tin Cùng một nội dung phát ngôn nhưng thông tin tiêu điểm hoá lại rơi vào các thành tố cú pháp khác nhau để tạo ra những giá trị thông tin khác nhau Chúng tôi nhận thấy điều quan trọng nhất khi tiến hành phân tích cấu trúc thông tin của một phát ngôn là phải nhận diện được giá trị thông tin nằm ở bộ phận nào của phát ngôn (nhận diện tiêu điểm thông tin) Do đó, vấn đề cấu trúc thông tin của câu nói chung và thông tin mang tính tiêu điểm hoá của câu nói riêng đã đặt ra cho chúng tôi những câu hỏi như: Tiêu điểm thông tin được nhận diện như thế nào? Phương tiện nào làm nổi bật những thông tin được cho là quan trọng đó? Cấu trúc thông tin và cấu trúc cú pháp của câu có mối quan hệ ra sao? Xuất phát từ những câu hỏi trên, chúng tôi muốn đi sâu vào hiện tượng tiêu điểm hóa cấu trúc chủ - vị - một phương thức thể hiện sự tập trung thông tin để hy vọng những kết quả của luận văn sẽ phần nào hữu ích trong việc sử dụng ngôn ngữ nhằm tạo ra những hiệu quả giao tiếp nhất định

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của chúng tôi là các hiện tượng tiêu điểm hoá cấu trúc chủ - vị tiếng Việt trong đó tập trung vào những vấn đề sau:

- Quan niệm về cấu trúc thông tin nói chung; tiêu điểm hóa và tiêu điểm thông tin

Trang 8

- Các phương thức đánh dấu và những mô hình tiêu điểm hóa trong cấu trúc thông tin của câu tiếng Việt

- Vị trí đánh dấu tiêu điểm thông tin của câu tiếng Việt trên cơ sở cấu trúc chủ - vị Tuy nhiên do khuôn khổ và trình độ hạn hẹp của một luận văn cao học nên đề tài chỉ giới hạn phạm vi là những phát ngôn đơn phần (câu đơn) mà chưa đủ khả năng

để xem xét vấn đề tiêu điểm hoá ở các phát ngôn song phần (câu ghép) của tiếng Việt

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Khi thực hiện đề tài, chúng tôi mong muốn đạt được những mục đích sau:

- Xác nhận hiện tượng tiêu điểm có vai trò quan trọng trong cấu trúc thông tin khi sử dụng câu với tư cách như 1 đơn vị thông tin trong giao tiếp

- Đề tài góp phần miêu tả, phân tích các mô hình tiêu điểm hoá của cấu trúc câu tiếng Việt nhằm rút ra những những đặc thù của cấu trúc thông tin bên cạnh cấu trúc chủ - vị và đề - thuyết

Từ đó chúng tôi cần phải giải quyết những vấn đề sau:

- Điểm lại những ý kiến về cấu trúc thông tin và tiêu điểm của các công trình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam

- Khảo sát và miêu tả các hiện tượng tiêu điểm của câu tiếng Việt

- Phân loại các kiểu cấu trúc tiêu điểm của câu qua đó thấy được sự phong phú của cấu trúc thông tin tiếng Việt

4 Ý nghĩa của luận văn

Về mặt lí luận, luận văn đã đi sâu vào việc nghiên cứu một cách tương đối

tỉ mỉ và có hệ thống về vấn đề tiêu điểm Với việc miêu tả một cách hệ thống như vậy, chúng tôi hy vọng sẽ có những đóng góp nhất định vào lí thuyết cấu trúc thông tin nói riêng và cấu trúc câu tiếng Việt nói chung

Về mặt thực tiễn, trên thực tế, như mọi người đều biết, bối cảnh ngôn ngữ

học hiện nay đang đòi hỏi phải đẩy mạnh việc nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện và có hệ thống hơn những vấn đề liên quan đến cấu trúc thông tin của câu tiếng Việt Qua khảo sát trên ngữ liệu cụ thể về hiện tượng tiêu điểm hóa, chúng tôi

đã rút ra một số nhận xét trong thực tế giao tiếp của người Việt Nam Bên cạnh đó,

là người tham gia trực tiếp công việc giảng dạy ngôn ngữ cho sinh viên khoa Ngữ văn Trường Đại học Hải Phòng, trong quá trình dạy học, chúng tôi nhận thấy nhiều

Trang 9

thắc mắc của sinh viên có liên quan đến sự nhận diện bộ phận nào trong một cấu trúc chủ - vị được đánh dấu là nổi bật về mặt thông tin Khi đó, người học đã vấp phải khó khăn trong việc phân tích và miêu tả ngữ nghĩa - ngữ dụng của phát ngôn Hơn nữa, việc chỉ ra những đặc điểm về hình thức, ngữ nghĩa, chức năng của các kiểu loại cấu trúc tiêu điểm còn nhằm phục vụ cho một số lĩnh vực liên quan đến cấu trúc tiêu điểm thông tin như báo chí, văn học…để góp phần tạo nên hiệu quả cao của các lĩnh vực đó Xuất phát từ những lí do như trên, chúng tôi thấy đây là một địa hạt cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn để có một cái nhìn toàn diện về hiện tượng này

5 Phương pháp nghiên cứu và tư liệu

5.1 Phương pháp nghiên cứu

Để tìm ra hiện tượng tiêu điểm hoá thông tin, luận văn này đã chọn cách tiếp cận khoa học là: quy nạp kết hợp với diễn dịch

Bên cạnh phương pháp nghiên cứu chủ yếu là miêu tả, chúng tôi còn áp dụng phương pháp:

- Phương pháp phân tích câu trên cơ sở lí thuyết chức năng

- Phương pháp phân tích cấu trúc thông tin của câu theo quan điểm lí thuyết

về cấu trúc thông tin

Từ những phương pháp trên, chúng tôi đã tiến hành các bước:

- Ghi chép, thu thập các phát ngôn có chứa hiện tượng tiêu điểm trong 20 tác phẩm văn học cũng như các cuộc giao tiếp hàng ngày

- Thống kê, xác lập một danh sách các hiện tượng tiêu điểm đã thu được

- Phân tích, miêu tả rồi phân loại danh sách đã thu được đó thành những nhóm có những đặc điểm chung Sau đó chúng tôi rút ra được những mô hình cấu trúc chung cho từng nhóm

Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng các thủ pháp nghiên cứu như: cải biên, so sánh, thống kê… khi cần thiết để khẳng định được độ chính xác của các kiểu loại tiêu điểm đã phân loại

5.2 Tư liệu khảo sát

Tư liệu mà chúng tôi dựa vào khảo sát là những phát ngôn đơn phần (câu

Trang 10

đại Hiện tượng tiêu điểm hoá cấu trúc chủ - vị của câu nói chung trong tiếng Việt

là phạm vi quá rộng so với đề tài nên luận văn này chúng tôi chỉ tập trung chủ yếu tìm hiểu ở ngôn ngữ đối thoại và một phần rất nhỏ là ngôn ngữ đơn thoại thuộc 20 tác phẩm kể trên Số lượng tư liệu thu thập được gồm khoảng hơn 5000 phiếu ghi lại các phát ngôn có chứa hiện tượng tiêu điểm

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài Phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chương được sắp xếp như sau:

Chương 1: Tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết của cấu trúc thông tin

Chương 2: Các phương thức tiêu điểm hoá cấu trúc chủ - vị câu tiếng Việt

Chương 3: Phạm vi tiêu điểm hoá cấu trúc chủ - vị câu tiếng Việt

Trang 11

CHƯƠNG 1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT

1.1 Tình hình nghiên cứu

1.1.1 Tình hình nghiên cứu cấu trúc thông tin trong ngôn ngữ học

1.1.1.1 Lý thuyết phân đoạn thực tại

Trong các công trình nghiên cứu những năm gần đây thường hay nói tới thuật ngữ "sự phân đoạn thực tại câu" (Actual Division of the Sentence), "phối cảnh chức năng của câu" (Functional Sentence Perspective) Tuy khác nhau về tên gọi nhưng chúng đều cùng thuộc về lý thuyết phân đoạn thực tại câu Người đặt nền móng cho lý thuyết này là A.Weil (1818 - 1909) - nhà ngôn ngữ học Pháp Những ý tưởng của ông đã được V.Mathesius (1882 - 1945) phát triển và đề xuất ra thuật ngữ "phân đoạn thực tại câu" Theo bài viết của ông, "các yếu tố cơ bản của phân đoạn thực tại câu là điểm xuất phát [hay là cơ sở], tức là cái mà, trong tình huống đã cho, là cái đã biết hoặc chí ít cũng dễ dàng hiểu được và người nói xuất phát từ đó, và hạt nhân của phát ngôn, tức là cái mà người nói thông báo về điểm xuất phát của phát ngôn." (dẫn theo Diệp Quang Ban [1, 25 - 32])

Sau V.Mathesius, một số nhà nghiên cứu mà đại diện là nhà ngôn ngữ học Tiệp Khắc J.Firbas chủ trương bổ sung thêm một thành phần thứ ba vào sự phân đoạn là "chuyển đề" (transition) với chức năng là phần chuyển tiếp từ chủ đề sang thuật đề (hoặc ngược lại)

Trái với xu hướng trên là quan điểm của R.Dooley khi tiến hành phân tích cấu trúc câu của tiếng Guarani (1982) Theo ông, phần duy nhất bắt buộc phải có trong câu là hạt nhân dụng pháp và phần này ít nhất phải chứa đựng một cái lõi hay tâm (core) Đó là một cái lõi mang tính thông báo cao độ, phần xung quanh chỉ là một cái khung (frame) mà nội dung là một tiền giả định được chia sẻ giữa người nói và người nghe (người hỏi và người trả lời) Do vậy, cấu trúc thông báo của câu

sẽ chỉ có một trung tâm hay còn gọi là tiêu điểm

Dù có những xu hướng khác nhau như vậy nhưng đa số các tác giả thống nhất một quan niệm chung là xếp cấu trúc thông báo vào bình diện cú pháp

1.1.1.2 Cấu trúc thông tin theo ngữ pháp chức năng

Lý thuyết do Mathesius và nhóm ngôn ngữ học Praha đề xướng được nhiều

Trang 12

nay, cách phân tích câu theo quan điểm ngữ pháp chức năng đã phát triển và ngày càng có ảnh hưởng đến giới ngôn ngữ học Việt Nam nói chung và giới nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt nói riêng

S Dik (1981) tạo nền tảng lý thuyết cho ngữ pháp chức năng bằng cách giới thiệu về hệ hình chức năng qua việc trả lời một số câu hỏi về chức năng của ngôn ngữ tự nhiên S Dik cho rằng ngữ pháp chức năng xem ngôn ngữ như là một "công

cụ giao tiếp xã hội" Chức năng chính của ngôn ngữ tự nhiên là "thiết lập giao tiếp" giữa những người sử dụng ngôn ngữ Giao tiếp có thể được xem như là một mô hình tương tác tác động qua đó người sử dụng ngôn ngữ tạo nên một sự thay đổi nào đó trong thông tin dụng học của người cùng giao tiếp Như vậy, ngữ pháp chức năng đề cao tầm quan trọng của dụng học, một khi nó nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ, người sử dụng ngôn ngữ (người nói và người nghe) và bối cảnh giao tiếp

Dik cũng đã phân biệt trong dụng học có 4 chức năng khác nhau đối với bản thân kết cấu vị ngữ: chủ đề (theme), hậu đề (tail), đề (topic), tiêu điểm (focus) Hai chức năng dụng học dưới đây nằm ngoài khung vị ngữ:

- Chủ đề (theme): chủ đề chỉ định toàn bộ diễn ngôn có liên quan đến điều

mà kết cấu vị ngữ đi sau biểu thị một sự quan yếu

- Hậu đề (tail): hậu đề biểu thị, như một "hậu ý" đối với kết cấu vị ngữ, những thông tin làm rõ hay bổ nghĩa cho nó

Hai chức năng dụng học còn lại nằm trong khung vị ngữ:

- Đề (topic): đề biểu thị những thực thể mà kết cấu vị ngữ xác định điều gì

đó "về" nó trong bối cảnh đã biết

- Tiêu điểm (focus): tiêu điểm biểu thị những thông tin được xem là quan trọng hay nổi bật nhất trong bối cảnh đã biết [10,35]

Bên cạnh quan niệm của S.Dik, một công trình có tầm ảnh hưởng sâu rộng khi nói tới ngữ pháp chức năng là "An Introduction to Functional Grammar"(Dẫn luận Ngữ pháp chức năng) được xuất bản lần đầu tiên vào 1985 của M.A.K Halliday Ông cho rằng câu được dùng với 3 siêu chức năng khác nhau: câu trong văn bản ứng với siêu chức năng văn bản (textual), câu trong giao tiếp ứng với siêu chức năng liên nhân (interpersonal), câu dùng làm cái biểu hiện ứng với siêu chức năng quan niệm (ideational) Theo đó ứng với mỗi chức năng có một cách tổ chức

Trang 13

đặc thù trong câu; mỗi cách tổ chức đặc thù đó làm thành kiểu cấu trúc dành riêng cho việc thực hiện một chức năng nhất định, không trùng lặp với cấu trúc của chức năng khác: qua cấu trúc đề - thuyết, câu với tư cách là một thông điệp ứng với siêu chức năng văn bản Qua cấu trúc thức, câu với tư cách lời trao đáp ứng với siêu chức năng liên nhân Qua cấu trúc nghĩa biểu hiện, câu với tư cách như là một sự thể hiện ứng với chức năng quan niệm [3,18]

Từ đó, Halliday quan niệm khi đưa câu vào văn bản, vào tình huống người

sử dụng, người nói phải chọn từ ngữ làm điểm xuất phát cho việc tổ chức câu Yếu

tố được chọn làm xuất phát điểm cho câu được gọi là phần khởi đề, phần còn lại là phần trần thuyết, tức là phần diễn giải có liên quan đến phần đề, gọi gọn lại là phần

đề và phần thuyết Quan hệ giữa hai phần này được gọi là cấu trúc đề hay cấu trúc

đề - thuyết

Theo ông, "có một mối quan hệ gần gũi giữa cấu trúc thông tin và cấu trúc

đề ngữ Nếu mọi cái đều ngang bằng nhau thì người nói sẽ chọn đề ngữ từ trong thành phần thông tin cũ và đặt tiêu điểm, đỉnh điểm ở thông tin mới ở một nơi nào

đó trong thành phần thuyết ngữ Nhưng mặc dù chúng có quan hệ với nhau, thông tin cũ - mới và đề ngữ - thuyết ngữ không giống nhau Đề ngữ là cái tôi, người nói, chọn làm xuất điểm Thông tin cũ là cái bạn, người nghe đã biết hoặc có và bạn có thể tiếp cận được Đề - thuyết hướng tới người nói trong khi thông tin cũ - mới lại hướng tới người nghe" [16,478] Có thể thấy, Halliday khẳng định cấu trúc đề - thuyết và cấu trúc thông tin không đồng nhất với nhau

Từ những sự trình bày trên nhận thấy ngữ pháp chức năng của S.Dik và Halliday có nét khác biệt nhưng nhìn chung đều tiếp cận vấn đề của ngôn ngữ theo một chiều hướng khác với ngữ pháp cấu trúc Thực tế hai cách miêu tả bổ sung cho nhau và làm hoàn thiện công việc nghiên cứu ngôn ngữ để nhằm những mục đích nhất định Bởi thiết nghĩ hai biểu thức ngôn ngữ khác nhau cho dù cùng diễn đạt một thông tin nội dung mệnh đề nhưng chắc chắn để thể hiện cho hai mục đích khác nhau Một trong những ý nghĩa có thể sản sinh khi ta sử dụng những cấu trúc

ngữ pháp và từ vựng khác nhau là nêu bật một sự tình mang tính tiêu điểm mà luận

văn của chúng tôi muốn bàn tới Ý nghĩa khác nhau đó nằm trong tầm phạm vi của dụng học Khi S.Dik [49,9] bàn đến cấu trúc thông tin dụng học, ông đã chia thành

Trang 14

(i) Thông tin chung: bao gồm những thông tin dài hạn về thế giới, những đặc trưng văn hoá và thiên nhiên của nó và những thông tin về bất kỳ một thế giới nào khác, dù thực hay tưởng tượng

(ii) Thông tin tình huống: bao gồm những thông tin xuất phát từ người tham gia giao tiếp hay tình huống giao tiếp

(iii) Thông tin ngữ cảnh: là những thông tin từ các biểu thức ngôn ngữ đi trước và sau thời điểm giao tiếp được xét đến

Từ sự phân loại thông tin trên cho chúng ta thấy phần thông tin tình huống sẽ rất đa dạng và phong phú vì xuất phát từ tình giao tiếp cụ thể trong thực tế Do đó, phần thông tin dụng học mà luận văn này chúng tôi muốn xem xét khi bàn đến hiện tượng tiêu điểm hoá chỉ nằm trong phạm vi của phần thông tin thể hiện trong ngữ cảnh, nghĩa là chúng tôi muốn xét hiện tượng tiêu điểm chỉ trên cơ sở phát ngôn trong ngữ cảnh của văn bản mà thôi

1.1.2 Tình hình nghiên cứu cấu trúc thông tin trong Việt ngữ học

Bên cạnh việc điểm qua các quan niệm khác nhau ở trên, chúng tôi nhận thấy cấu trúc cú pháp và cấu trúc thông tin dù không đồng nhất với nhau nhưng giữa hai loại cấu trúc này có mối liên hệ mật thiết trong từng ngữ cảnh cụ thể Trong khi cấu trúc cú pháp chịu sự quy định đặc thù về loại hình cấu trúc của hệ thống ngôn ngữ thì cấu trúc thông tin là một loại cấu trúc thực hiện chức năng Bất

cứ một thông tin mới nào trong phát ngôn cũng đều được thể hiện qua một hình thức cú pháp nhất định Do đó việc xem xét cấu trúc thông tin không thể không đặt trong mối quan hệ với cấu trúc cú pháp để có cơ sở vững chắc lí giải được những quy tắc trong thói quen sử dụng ngôn ngữ của người Việt

1.1.2.1 Về cấu trúc cú pháp

1.1.2.1.1 Phân tích cấu trúc cú pháp theo quan hệ chủ - vị

Trong Việt ngữ học tồn tại hai quan điểm trái ngược nhau về cấu trúc cú pháp tiếng Việt Sự khác nhau đó khiến việc nghiên cứu gặp nhiều khó khăn, phức tạp Nhìn chung có hai đường hướng chính xung quanh cấu trúc cú pháp câu tiếng Việt

Đường hướng nghiên cứu phổ biến vẫn tồn tại trong ngữ pháp nhà trường cho đến nay là phân tích cấu trúc câu ở bình diện kết học theo quan hệ chủ - vị Những nhà nghiên cứu theo hướng này là Nguyễn Kim Thản, Hoàng Trọng Phiến,

Lê Xuân Thại, Diệp Quang Ban…

Trang 15

Tuy hầu hết các nhà nghiên cứu đều lưỡng phân cấu trúc cú pháp của câu (đơn) theo quan hệ chủ - vị và dùng các thuật ngữ khác nhau như: cụm chủ - vị (Nguyễn Kim Thản, 1964; Diệp Quang Ban, 1984), kết cấu chủ - vị (Hoàng Trọng Phiến 1980), câu chủ - vị (Lê Xuân Thại 1994) nhưng họ chưa thống nhất với nhau

về chức năng của chủ ngữ và vị ngữ Một số tác giả cho rằng cấu trúc chủ - vị biểu hiện một sự tình, trong đó chủ ngữ thường biểu thị chủ thể của hành động (quá trình hay trạng thái) còn vị ngữ biểu thị hành động (quá trình, trạng thái của chủ thể) Một số khác cho rằng cấu trúc chủ - vị không chỉ có chức năng biểu hiện của

sự tình mà còn có chức năng truyền tải một thông điệp (dẫn theo Nguyễn Hồng Cổn, [8,3])

Dù có sự khác nhau về chức năng như vậy nhưng dễ nhận thấy rằng cách phân tích câu theo cấu trúc chủ - vị có những hạn chế nhất định trong việc mô tả các kiểu câu tiếng Việt Từ bối cảnh đó đã làm nảy sinh thêm một quan niệm khác

là coi cấu trúc đề - thuyết là cấu trúc cú pháp của câu tiếng Việt; phân tích cấu trúc

cú pháp là phân tích cấu trúc câu theo quan hệ đề - thuyết

1.1.2.1.2 Phân tích cấu trúc cú pháp theo quan hệ đề - thuyết

Những người đi theo đường hướng này phải kể đến Lưu Vân Lăng, Cao Xuân Hạo, nhóm tác giả của "Ngữ pháp tiếng Việt" (UBKHXH 1983) Cao Xuân Hạo (một trong những học giả đầu tiên của Việt Nam đi theo đường hướng của ngữ pháp chức năng) là người đầu tiên áp dụng quan hệ đề - thuyết vào việc phân tích cấu trúc cú pháp câu tiếng Việt Theo ông, cấu trúc chủ - vị là kết quả của một quá trình quy chế hoá (hình thái hoá, ngữ pháp hoá) cấu trúc đề - thuyết, đưa đến sự li khai giữa hai cấu trúc này [17,56] Tác giả Lưu Vân Lăng nhận định rằng "Phân biệt đề - thuyết khác chủ - vị cũng như phân biệt chủ ngữ khác chủ đề hay chủ ngữ tâm lý, phân biệt chủ ngữ ngữ pháp, hình thức và chủ ngữ logíc, ngữ nghĩa không những không cần thiết đối với tiếng Việt, tiếng Hán mà còn thiếu căn cứ vững chắc bởi đây là những ngôn ngữ không biến hình" [27,32]

Trước sự tồn tại của hai đường hướng lí thuyết như trên, nhiều tác giả đã chọn cho mình một giải pháp là tích hợp cả hai cấu trúc trên khi đề xuất ra một đơn

vị ngôn ngữ là "cú" trong tiếng Việt và phân biệt nó với câu Lưu Vân Lăng trên cơ

sở lý thuyết tầng bậc hạt nhân cho rằng câu và cú giống nhau ở chỗ đều là những

Trang 16

đề - thuyết nhưng khác nhau ở chỗ: cú là một "ngữ đoạn chưa kết thúc", mới "ít nhiều có chức năng thông báo" còn câu là một ngữ đoạn kết thúc, mang một nội dung thông báo hoàn chỉnh" [27,11] Trên cơ sở phân biệt cú/ câu về mặt chức năng, PGS Nguyễn Hồng Cổn đã chỉ ra: "chức năng quan trọng nhất của câu là chức năng truyền đạt một thông báo chứ không phải là chức năng biểu hiện phán đoán hay biểu hiện sự tình… Chức năng biểu hiện sự tình theo chúng tôi là của cú" [7,40] Đồng thời tác giả cũng tán thành quan điểm cấu trúc cú pháp của câu được

tổ chức dựa trên cấu trúc đề - thuyết còn cấu trúc chủ - vị là cấu trúc của cú (clause) Theo chúng tôi, việc đề xuất thêm khái niệm "cú" trong tiếng Việt và phân biệt nó với "câu" về mặt chức năng là cơ sở quan trọng để nghiên cứu câu Trong ngữ pháp hiện nay, nhiều người coi "cú" tương đương với cái gọi là "câu đơn" trong ngữ pháp truyền thống Tuy nhiên, theo một số nhà nghiên cứu, mặc dù dùng tên gọi "cú" thay cho "câu đơn" thì vẫn không thể tránh khỏi tên gọi "câu" Do đó,

ở đề tài này, thay vì dùng thuật ngữ "cú", chúng tôi sử dụng cách gọi là "câu" theo ngữ pháp truyền thống Chúng tôi cho rằng việc xác định và phân tích cấu trúc câu theo cấu trúc đề - thuyết dù mang lại nhiều ích lợi song không thể thay thế cho cấu trúc chủ - vị Xét về phương diện tính phổ quát, nhiều nhà nghiên cứu nhận định quan hệ chủ - vị cũng là một phổ niệm có tần suất cao trong các ngôn ngữ của loài người Xét ở phương diện công dụng trong đời sống ngôn ngữ, quan hệ chủ - vị bám chắc hơn vào mối liên hệ ý nghĩa giữa các thành tố trực tiếp trong cấu tạo cấu tạo câu; do đó làm thành cấu trúc hình thức của câu và góp phần chuyển tải nội dung thông báo của câu Khi so sánh chủ ngữ với đề, Li, Ch.N & S.A.Thompson [56, 461- 466], cũng chỉ ra một số đặc điểm của chủ ngữ mà theo chúng tôi là khá

ưu việt: Trong khi đề luôn phải được đánh dấu bởi vị trí đầu câu thì chủ ngữ không nhất thiết lúc nào cũng phải cần có một vị trí xác định như vậy Hơn nữa, nếu cho

ta một động từ thì bao giờ ta cũng có thể đoán ra chủ ngữ vì nó đòi hỏi sự hợp dạng hay tuân theo quy tắc ngữ pháp nào đó với cấu trúc câu và các thành phần còn lại trong câu Chính đặc điểm này đã tạo nên một thuộc tính cơ bản của cấu trúc chủ -

vị là có tính ổn định cao Trong luận văn này, khi xem xét cấu trúc chủ - vị của câu tiếng Việt như một đối tượng nghiên cứu cơ sở làm nền tảng tạo nên hiện tượng tiêu điểm hoá thông tin, chúng tôi đi theo quan điểm hẹp, cấu trúc cú pháp là cấu trúc chủ - vị Cơ sở chung của các yếu tố trong "cấu trúc cú pháp nòng cốt có thể

Trang 17

được mô tả bằng ba chức năng ngữ pháp cơ bản là chủ ngữ (CN), vị ngữ (VN) và

bổ ngữ (BN), trong đó vị ngữ là trung tâm, chủ ngữ là thành tố bắt buộc thứ nhất (có ở mọi kiểu câu) và bổ ngữ là thành tố bắt buộc thứ hai (chỉ có ở một số kiểu câu)" [7,43] Phân tích cấu trúc cú pháp theo quan hệ chủ - vị cho thấy cách tổ chức chung của các kiểu câu có thể có trong một hệ thống ngôn ngữ cụ thể, giúp làm rõ các đặc điểm về cú pháp của ngôn ngữ đó

1.1.2.2 Về cấu trúc thông thông tin

Lý thuyết về cấu trúc thông tin (hay còn gọi là cấu trúc thông báo) là một vấn đề được các nhà ngôn ngữ học thế giới nghiên cứu và đã có những thành tựu đáng kể Ở Việt Nam, vấn đề này mới chỉ được chú ý nhiều năm trở lại đây nhưng

nó đã mở ra một hướng tiếp cận mới Dưới đây là những trình bày khái quát nhất

về những công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề cấu trúc thông tin của các nhà Việt ngữ học

Đầu tiên phải kể đến công trình nghiên cứu của tác giả Lý Toàn Thắng với

bài viết "Giới thiệu về lý thuyết phân đoạn thực tại câu" Trong bài này, ông chủ

yếu giới thiệu về sự phân đoạn chủ đề - thuật đề của sự phân đoạn thực tại câu Tác giả đưa ra hai cách hiểu về thành phần chủ đề - thuật đề của sự phân đoạn thực tại câu: a) một cách hiểu cho rằng chủ đề là cái mà vào thời điểm giao tiếp người nghe

đã biết (hoặc đoán nhận được) nhờ vào ngữ cảnh hoặc vốn tri thức chung Còn thuật đề là cái mới, cái chưa biết Do đó mà có một số nhà nghiên cứu đề nghị dùng các thuật ngữ "cái đã biết" và "cái mới"; b) một cách hiểu khác cho rằng chủ đề là cái được nói đến, được nêu làm đề mục của câu, còn thuật đề là cái nói về chủ đề,

là trung tâm thông báo của câu Theo cách hiểu thứ hai này về chủ đề và thuật đề thì cái đã biết và cái mới không liên quan đến sự phân đoạn thực tại câu mà liên quan đến cấu trúc từ vựng- ngữ nghĩa của câu (trang 34) Tuy là những trình bày không trực tiếp về cấu trúc thông tin nhưng qua việc đưa ra những cách hiểu về chủ

đề với thuật đề, người đọc bước đầu tiếp cận về nó

Sau Lý Toàn Thắng, tác giả Trần Ngọc Thêm trình bày vấn đề cấu trúc thông báo của câu một cách rõ ràng hơn trong "Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt" Các phát ngôn hoàn chỉnh về cấu trúc trên văn bản bao giờ cũng được chia thành hai phần rõ rệt xét theo sự phân đoạn thông báo: phần nêu (cái mà người đọc

Trang 18

đã biết hoặc giả định là biết) và phần báo (cái mới) Chúng ta sẽ gọi sự phân đoạn này là phân đoạn thông báo (phân đoạn ngữ nghĩa)

Cao Xuân Hạo lại bác bỏ ý kiến đồng nhất cấu trúc đề - thuyết và cấu trúc thông tin Ông khẳng định cấu trúc đề - thuyết thuộc bình diện cú pháp còn cấu trúc thông tin thuộc bình diện ngữ dụng Theo ông, cấu trúc đề - thuyết với tư cách là cấu trúc cú pháp của câu, luôn "chia hết câu làm hai phần" còn cấu trúc thông báo trình bày "thông tin mới" có hạt nhân là tiêu điểm có thể hết cả câu hoặc một phần bất kỳ (đôi khi là một từ làm bổ ngữ hoặc định ngữ) hoặc hai phần cách nhau trong câu (chẳng hạn như khi trả lời một câu hỏi như "ai đánh ai?") [17,117]

Tác giả Diệp Quang Ban thì quan niệm câu với tư cách thông điệp có thể chứa phần nội dung "cho sẵn" (given) và phần nội dung "mới" (new) là phần mang tin Cách tổ chức phần "cho sẵn" và phần "mới" tạo thành cấu trúc thông tin trong câu Cấu trúc đề - thuyết và cấu trúc thông tin cùng thực hiện chức năng văn bản nhưng vẫn là hai hiện tượng khác nhau về bản chất, chúng được phân định trên những cơ sở khác nhau và trong câu các bộ phận của mỗi cấu trúc cũng được phân

bố khác nhau "Một hiện tượng thường gặp là phần "cho sẵn" trùng với phần đề, phần "mới" trùng với phần thuyết trong cấu trúc đề - thuyết của câu, thực ra đó vẫn

là hai cấu trúc tách biệt" [3,275]

Quan niệm về cấu trúc thông tin hay cấu trúc thông báo của câu tiếng Việt với trung tâm là tiêu điểm hay trọng tâm thông báo cũng là quan điểm của tác giả Nguyễn Hồng Cổn Tác giả chỉ ra rằng "để nhận diện cấu trúc thông báo của một câu hay phân biệt một cấu trúc thông báo này với một cấu trúc thông báo khác theo chúng tôi chỉ cần căn cứ vào bộ phận quan yếu của nó là tiêu điểm thông báo: phân tích cấu trúc thông báo của câu thực chất là chỉ ra thành tố (ngữ pháp và/hoặc ngữ nghĩa) nào của câu đóng vai trò là tiêu điểm thông báo" [5,46]

Vấn đề cấu trúc thông tin: cấu trúc cho sẵn - mới (cũ - mới) được trình bày thống nhất trong các công trình nghiên cứu về ngữ dụng và ngữ pháp tiếng Việt như: Đỗ Hữu Châu ("Giản yếu về dụng học - Giáo trình Đại học từ xa, 1980"); Nguyễn Đức Dân ("Ngữ dụng học" tập 1, Nxb Giáo dục, 1998); Nguyễn Thiện Giáp ("Dụng học Việt ngữ", 2000); Nguyễn Thị Thuý (2001), Luận văn thạc sỹ

"Cấu trúc thông báo của câu trả lời trực tiếp cho câu hỏi chính danh"; Bùi Minh Toán, Nguyễn Thị Lương (2007, "Giáo trình Ngữ pháp tiếng Việt"); Bùi Thị Bình

Trang 19

(2008, Luận văn thạc sỹ "Cấu trúc đề thuyết và cấu trúc tin trong ca dao tình nghĩa"), Nguyễn Thị Thu Dung (2009), Luận văn thạc sỹ "Cấu trúc tin và cấu trúc

cú pháp trong câu đơn tiếng Việt qua một số truyện ngắn Nguyễn Công Hoan"; Khúc Bích Ngọc (2009), Luận văn thạc sỹ "Cấu trúc tin của cặp thoại hỏi - đáp (dựa trên ngữ liệu trong các sáng tác của một số tác giả nữ)"…

Điểm qua những công trình nghiên cứu trong nước có liên quan đến đề tài

đã được công bố trong thời gian gần đây để có thể thấy những quan điểm về cấu trúc thông tin đã nêu trên là nền tảng ban đầu về mặt lý thuyết cho chúng tôi nghiên cứu về hiện tượng tiêu điểm hoá cấu trúc chủ - vị câu tiếng Việt

1.2 Các khái niệm liên quan đến đề tài

1.2.1 Cấu trúc thông tin

Cấu trúc thông tin được nhìn nhận và phân tích từ nhiều góc độ khác nhau Trong luận văn này, khi xem xét hiện tượng tiêu điểm trong cấu trúc thông tin là đối tượng nghiên cứu chính, chúng tôi tiếp cận quan niệm coi cấu trúc thông tin không phải là sự đối lập giữa hai phần đề - thuyết hay chủ đề - tiêu điểm, nêu - báo,

cũ - mới mà cấu trúc thông tin theo đánh giá của tác giả Nguyễn Hồng Cổn là "hình thức cú pháp bề mặt của một câu phản ánh những khác biệt về sự phân bố thông tin của câu trong các tình huống giao tiếp cụ thể biểu hiện qua sự khác biệt về vị thế thông tin của hai bộ phận là tiêu điểm thông tin và cơ sở thông tin" [7,27] sẽ được trình bày cụ thể ở mục sau Chúng tôi phải nhấn mạnh thêm rằng dù trong cấu trúc thông tin có hai phần nhưng chỉ có một bộ phận mang trọng tâm thông báo được gọi là tiêu điểm thông tin (information focus) Vì vậy, phân tích cấu trúc thông tin chính là chỉ ra bộ phận nào trong câu chứa đựng thông tin nổi bật nhất Hơn nữa, cấu trúc thông tin của một phát ngôn sẽ chịu sự quy định của người nói, ảnh hưởng của người nghe và có thể có cả hoàn cảnh giao tiếp Chẳng hạn so sánh các tình huống sử dụng của câu "Bình làm vỡ lọ hoa" trong các ví dụ sau đây:

Trang 20

4) a Ai làm vỡ lọ hoa?

b Bình làm vỡ lọ hoa

Chúng ta thấy rõ ràng trong mỗi tình huống trên, dựa vào ngữ cảnh xung quanh xuất hiện trước nó, cùng một nội dung câu "Bình làm vỡ lọ hoa" có thể có những trọng tâm thông tin khác nhau

Như vậy, yếu tố quan trọng nhất trong câu, quyết định cho một cấu trúc thông tin này khu biệt với một cấu trúc thông tin khác chính là trọng tâm thông tin hay gọi là tiêu điểm thông tin Vì tiêu điểm thông tin liên quan chặt chẽ với cấu trúc thông tin và có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phân biệt các kiểu cấu trúc thông tin của câu nên chúng tôi sẽ đề cập ở mục sau

1.2.2 Các thành tố của cấu trúc thông tin

1.2.2.1 Cơ sở thông tin

Mặc dù tồn tại nhiều quan niệm cũng như cách dùng thuật ngữ khác nhau về thành tố cấu trúc thông tin của câu như đã trình bày ở trên song các tác giả đều có chung ý kiến rằng trong cấu trúc thông tin, có một thành tố "không mang tin theo

đúng nghĩa của từ tin" Thành tố đó được chúng tôi gọi là cơ sở thông tin (thuật

ngữ theo PGS.Nguyễn Hồng Cổn) trong sự phân biệt với tiêu điểm thông tin và gọi

[1:2] a Người ta vẫn chờ anh và mong anh tha lỗi?

b Chờ thì có Nhưng mong tha lỗi thì không

(CL:196) Trong ví dụ, phần in đậm được người nói chọn làm điểm khởi đầu trong câu trả lời của mình đồng thời cũng là nội dung đã được đề cập đến trong câu hỏi đi trước Nó chính là thông tin cơ sở của câu

Ủng hộ ý kiến này, Chafe [47] nhấn mạnh thêm thông tin cơ sở phải được giới hạn trong phạm vi kiến thức mà người nói cho là ở trong trạng thái nhận thức của người nghe tại thời điểm phát ngôn hay nói cách khác, tại thời điểm phát ngôn

Trang 21

xuất hiện, cả người nói và người nghe cùng có chung một hiểu biết về thông tin đó;

vì vậy mà ngữ "một cuốn truyện tranh mới" trong ví dụ sau:

[1:3] Mẹ ơi, có một cuốn truyện tranh mới trên bàn học của con!

theo quan điểm của Chafe và Halliday, có thể được xem là thông tin cơ sở nếu người nghe là người đã đặt cuốn truyện tranh lên bàn học

Góp ý kiến vào vấn đề này, Prince (1981) [xem 46] đã đưa ra khái niệm về các thực thể thông tin trong diễn ngôn Trong số những thực thể bà đưa ra có "thực thể được gợi lên trong văn bản" Đó là "thực thể đã được giới thiệu vào trong diễn ngôn và đang được đề cập đến trong lần sau" Những cơ sở thông tin được in đậm trong hai ví dụ dưới đây đã tồn tại ở phát ngôn trước và được gợi nhắc lại ở phát ngôn sau:

[1:4] a Mẹ cháu được mạnh chứ?

b Đội ơn bác, mẹ cháu nhờ giời vẫn mạnh

(KH1:19) [1:5] Bà ấy vẫn chạy Bà ấy vẫn kêu Bà ấy vẫn thở

(NCH:117) Với cách hiểu của Price, phần cơ sở thông tin được coi là "gợi lên" trong văn bản hiện dùng và do đó người nói tin là người nghe đã biết

Herb Clark [xem 46] cho rằng cơ sở thông tin có những đặc điểm chung

giống với đặc trưng của tiền giả định, đại ý: Đó phải là thông tin có thể xác định

được… Người nghe hiểu rằng nó là thông tin mà người nói tin là cả hai đều đồng ý

và rằng người nói đang khẳng định niềm tin của mình về thông tin đó

Từ những nhận định trên, chúng tôi thấy rõ ràng phần cơ sở phải được xác định trước như một kiến thức nền - cái mà người nghe cần phải có khi tiếp nhận thông tin mà người nói cho là đã biết đối với người nghe đồng thời xét về mặt vai trò, nó không phải là phần quan yếu trong cấu trúc thông tin, không mang lại giá trị thông tin mà theo người nói đánh giá là đáng phải quan tâm Nhưng thành tố này lại có chức năng "cung cấp các tiền giả định cho nghĩa hiển ngôn của câu, và trên

cơ sở đó giúp xác lập tiêu điểm thông tin của câu" [7,59] Hơn nữa, sự khác biệt giữa tiêu điểm và tiền giả định ở chỗ: "tiêu điểm là trung tâm phức hợp ngữ điệu - nội dung của câu còn tiền giả định là biểu thức thu được khi thay tiêu điểm bằng

Trang 22

Tóm lại, vì không phải là đối tượng nghiên cứu chính trong đề tài này nên chúng tôi chỉ coi cơ sở thông tin - cái sẽ được triển khai và làm sáng tỏ thêm ở trong câu (bởi phần tiêu điểm) - là một trong hai bộ phận góp phần tạo nên cấu trúc thông tin của câu như một cái nền để làm nổi bật tiêu điểm thông tin - phần trọng tâm bàn luận trong đề tài này

1.2.2.2 Tiêu điểm thông tin

Khi nói đến tiêu điểm, các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng nó là phần mang thông tin quan trọng nhất, phần trọng tâm thông báo của câu Bàn về vấn đề này, S.Dik đã xác định tiêu điểm (Focus) là "các chức năng dụng pháp trình bày các thông báo tương đối quan trọng nhất hay nổi bật nhất đối với việc trao đổi thông tin giữa người nói và người nghe" (dẫn theo Cao Xuân Hạo 1991/2006:40]) Dik cũng lưu ý rằng không phải lúc nào thông tin tiêu điểm cũng là phần thông tin hoàn toàn mới Phần thông tin tiêu điểm có thể được người nghe biết đến nhưng vẫn được đặt ở vị trí tiêu điểm do một sự tương phản nào đó

Cùng chung quan điểm trên của Dik là Lambrecht khi ông khẳng định

"Không có câu nào là không có cấu trúc thông báo" và "tất cả mọi câu đều phải có một tiêu điểm thông báo" đồng thời ông cũng lưu ý rằng tiêu điểm thông tin và thông tin mới không trùng khít lên nhau, vì thông tin mới của một câu không trùng với thành phần nào trong câu mà được đánh dấu bởi mối quan hệ dụng học giữa một sở chỉ và một mệnh đề Ví dụ:

[1:6] a Đêm qua cô út mơ thấy gì?

b Đêm qua cô út mơ thấy cháy nhà

(TNT:129)

"Cháy nhà" là tiêu điểm thông báo nhưng thông tin người nói muốn truyền đạt phải

là toàn bộ mệnh đề: "Điều mà đêm qua cô út mơ thấy là cháy nhà"

Chúng tôi cũng tán thành với cách hiểu của Lambrecht về chức năng của việc đánh dấu tiêu điểm thông tin không phải để đánh dấu một thành tố là mới mà là để đánh

dấu một mối quan hệ về tiêu điểm giữa một yếu tố của mệnh đề và toàn bộ

mệnh đề đó Trong những ngữ liệu không tồn tại một mối quan hệ như thế điều đó

có nghĩa là yếu tố tiêu điểm trùng với toàn bộ mệnh đề

Ta có thể hình dung mô hình thông tin mới là tiêu điểm thông báo như sau:

Trang 23

(i) Câu trần thuật

Tiền giả định: pX

Khẳng định: X= X'

→ X' là thông tin mới và cũng là tiêu điểm thông báo

(ii) Câu hỏi đóng:

Tiền giả định: pX

Khẳng định: Người nói muốn biết X' hay X'' (X= X' hay X'')

X' hay X'' trả lời cho điều mà người nghe muốn biết về sự lựa chọn của người nói

Có thể nói X' hay X'' là tiêu điểm thông báo và là thông tin mới tuy có thể có sở chỉ

(iii) Câu hỏi mở:

Tiền giả định: pX

Khẳng định: Người nói muốn biết X' (X= X')

X' trả lời cho câu hỏi hay tự hỏi ở trên, và là mục đích giao tiếp của người nói X' là thông tin mới và là tiêu điểm thông báo [33,32]

Một số tác giả khác như Cao Xuân Hạo khẳng định "tiêu điểm là một từ hay một ngữ được nêu bật lên trong phần thông tin mới của câu bằng trọng âm cường điệu Việc nhấn mạnh vào từ (ngữ) này nêu rõ sự đối lập giữa nó với những từ (ngữ) cùng hệ đối vị lẽ ra có thể đặt ở vị trí của nó trong câu" [17,77] Cách hiểu như vậy cho thấy rằng tiêu điểm thông báo cũng có thể mang tính tương phản Như

ý kiến của Chafe về khái niệm "tương phản" (constrative) rằng giả sử trong đầu người nghe đã có một loạt hạn định các khả năng cho câu trả lời thì phần trả lời trên có thể được coi là tương phản; nó không là tương phản khi người nghe không

có một giả thiết nào về các khả năng được lựa chọn Ví dụ:

[1:7] a Hồi cũng ngủ đây hả?

b Vâng, tôi nằm chơi thôi

(NMC1:27) Trong ví dụ trên, thông tin về chuyện "nằm chơi thôi" là thông tin tiêu điểm vì đó chính là phần thông tin người nghe muốn biết (người nghe đã đặt ra trong câu hỏi) Phần thông tin "cũng ngủ đây" tương phản với thông tin "nằm chơi thôi" mà người hỏi chưa biết đến Có thể nói phần thông tin "nằm chơi" tương phản với phần thông

Trang 24

Trên cơ sở lí thuyết trên, PGS.Nguyễn Hồng Cổn đã chỉ ra rằng cấu trúc thông báo của một câu là một sự thể hiện bề mặt của cấu trúc ngữ pháp và/ hoặc cấu trúc ngữ nghĩa của câu ở một tình huống giao tiếp nhất định, qua đó cho phép

"hiểu được các cấu trúc ngữ pháp và cấu trúc ngữ nghĩa của câu đã hành chức như thế nào trong từng hành động giao tiếp, tức là khi chúng được dùng để truyền tải các thực thực tế ngoại ngôn được tư duy phản ánh và xuất hiện dưới một dạng thức phối cảnh thoả đáng" [Dane, tr.277] [5,45])

Vẫn duy trì quan điểm trên, theo sự phân tích của tác giả, tiêu điểm thông báo của câu mang "thông tin mới" có hai khả năng xảy ra: hoặc đó là "cái mới" mà

"người nói cho là không có trong ý thức của người nghe lúc sắp nói" hoặc đó là

"cái mới" mà người nói chưa biết nhưng người nghe đã biết Khả năng thứ nhất chỉ đúng với trường hợp câu tường thuật, mà chủ yếu là của các câu trả lời cho câu hỏi

ai? gì? nào? Khả năng thứ hai áp dụng cho trường hợp của các câu hỏi: người

nói sử dụng những câu hỏi với các đại từ ai? gì? nào? thế nào?, …để được cung

cấp thông tin Nhìn nhận "tiêu điểm thông báo" từ một góc độ khái quát và toàn diện hơn trong mối quan hệ với "thông tin mới", đã chứng minh được rằng tiêu điểm thông báo không phải bao giờ cũng "mới" nhưng vẫn luôn có tư cách là bộ phận mang "thông báo quan trọng nhất" hay là "trọng tâm thông báo" của câu Điều này được làm sáng tỏ khi quan niệm rằng "tiêu điểm của câu" là phần thông tin trong câu mà người nói giả định rằng nó không được người nói và người nghe cùng chia sẻ" [5,47]

Trong luận văn này, chúng tôi nghiêng theo ý kiến của tác giả Nguyễn Hồng

Cổn trong sự chia sẻ quan niệm với Jackendoff rằng "tiêu điểm thông báo là phần

duy nhất trong cấu trúc thông báo của câu cho thấy sự chênh lệch về thông tin giữa người nói và người nghe, xét theo sự đánh giá của người nói" [5,47]

Vì một phần nhỏ đối tượng nghiên cứu của luận văn là các diễn ngôn đơn thoại nên tiêu điểm thông báo của chúng có chức năng biểu hiện thông tin mà người nói đã biết và giả định là người nghe chưa biết ở thời điểm sắp nói Sự chênh lệch thông tin này là lý do để người nói thực hiện các hành vi ngôn ngữ như kể hay trả lời (khẳng định hay phủ định) Trong việc tìm hiểu chức năng đánh dấu tiêu điểm thông tin của câu tiếng Việt, mục đích của chúng tôi là phân biệt các cấu trúc

Trang 25

có tiêu điểm trùng với một thành phần câu cụ thể (vị từ, tham tố) và các cấu trúc có tiêu điểm thông tin bao trùm toàn bộ câu (xin xem chương Ba)

1.2.3 Tiêu điểm hoá và phương thức tiêu điểm hoá

1.2.3.1 Quan niệm về tiêu điểm hoá

Tiêu điểm hoá được định nghĩa là "sự thể hiện thông tin tường thuật để chọn lọc phối cảnh" (The Cambridge companion to narrative) (Focalization is the submission of narrative to a perspective filter)

Trong các tài liệu ngôn ngữ học, các nhà nghiên cứu đều nhấn mạnh tiêu điểm hóa là một đặc điểm của cấu trúc diễn ngôn làm cho một bộ phận thông tin trở nên có ý nghĩa hơn hoặc nổi bật hơn so với một bộ phận thông tin khác

Tiêu điểm hóa có thể được xem xét nhờ vào sự phân biệt giữa thông tin cận cảnh (foreground material) và thông tin hậu cảnh (background material) Thông tin cận cảnh đóng vai trò thiết yếu đối với sự tập trung tiêu điểm thông tin của câu Còn thông tin hậu cảnh chỉ mang tính chất bổ sung hay phụ trợ Chẳng hạn trong

một phát ngôn "Lan mua hai cuốn sách", nếu tách khỏi ngữ cảnh cụ thể thì có thể

được hiểu theo nhiều cách khác nhau, nghĩa là không xác định được thông tin tiêu điểm sẽ nằm ở chỗ nào Từ câu này, một cách tất yếu logic có thể rút ra một số ý ngang hàng nhau, chúng được gọi là thông tin hậu cảnh như những ý dưới đây:

(i) Ai đó mua hai cuốn sách (ứng với từ Lan)

(ii) Lan mua cái gì đó (ứng với các ngữ hai cuốn sách)

(iii) Lan làm một việc gì đó (ứng với các ngữ mua hai cuốn sách)

Trong số các thông tin hậu cảnh trên có một ý được người nói chọn để gửi đến người nghe và làm nổi rõ nó lên để người nghe nhận biết nó, cho nên nó trở thành thông tin cận cảnh Nếu tình huống phát ngôn không cho phép người nghe hiểu được người nói muốn nhấn mạnh vào ý nào trong số các thông tin hậu cảnh đó, thì người nghe phải tìm cách đánh dấu vào cái chỗ chứa điểm mà mình muốn nhấn mạnh Làm như vậy được gọi là tạo tiêu điểm hóa thông tin cho phát ngôn Halliday [51] cũng chia sẻ quan niệm của mình khi cho rằng thực hiện tiêu điểm hóa là "người nói đánh dấu ra một phần (cũng có thể là toàn bộ) của một khối thông tin mà người nói mong muốn phải được cắt nghĩa là có tính thông báo"

Theo chúng tôi, tiêu điểm hoá là một hiện tượng thuộc phạm vi ngữ dụng

Trang 26

khác nhau để làm nổi bật những phân đoạn thông tin quan trọng, đáng chú ý trong văn bản, nhờ đó định hướng cho người nghe nhận thức đúng vai trò của những thông tin được cho là quan trọng đó, tập trung sự quan tâm của mình vào thông tin đó một cách thích hợp và xử lí chúng một cách chính xác

Với sự tập trung thông tin này, tiêu điểm hoá có chức năng giống như một chiếc đèn pha (spotlight) Nó lựa chọn một bộ phận thông tin nào đó và tuyên bố:

"Phần thông tin này có tầm quan trọng đặc biệt" Nói cách khác, người nói thông báo cho người nghe rằng: "Đây là điều quan trọng, xin hãy lắng nghe!"

Tóm lại, khi bàn về hiện tượng ngôn ngữ này, chúng tôi muốn nhấn mạnh tới mặt hiệu quả hay tác dụng của việc sử dụng tiêu điểm hóa là nhằm giúp cho người nói hay người viết đặt trọng tâm vào những phần thông tin được cho là quan yếu trong cấu trúc thông báo của câu và được thể hiện thông qua nhiều phương tiện bề mặt (surface structure devices) Mà những phương tiện này rất đa dạng về hình thức Chúng tôi sẽ bàn đến nó ngay sau đây

1.2.3.2 Phương thức đánh dấu tiêu điểm

Nói tới hiện tượng tiêu điểm hóa không thể không nhắc tới các phương tiện biểu hiện Có ba loại phương tiện phổ biến của ngôn ngữ được dùng để thể hiện tính tiêu điểm hóa thông tin Đó là các phương tiện về mặt ngữ âm - âm vị học, phương tiện từ vựng và phương tiện cú pháp

(i) Các phương tiện về mặt ngữ âm - âm vị học

Về mặt ngữ âm, thông tin mang tính tiêu điểm có thể được nhận diện nhờ vào phương tiện trọng âm, dấu nhấn Có thể khẳng định rằng một trong những cách đánh dấu tiêu điểm của câu là tạo điểm nhấn giọng (pitch) Người nói sẽ "làm rõ tiêu điểm bằng cách phát âm các từ ngữ ở tiêu điểm khác hẳn với những từ ngữ không nằm trong tiêu điểm, kể cả cách phát âm căng hơn, mạnh hơn, to hơn thậm chí nhỏ hơn một cách khác thường" [3,276] Và vị trí thông thường của tiêu điểm bằng dấu nhấn là ở vị trí cuối câu Ví dụ:

Trang 27

[1:8b] An làm vỡ kính nhà hàng xóm (Hành động do An gây ra với kính nhà hàng xóm là làm vỡ)

[1:8c] An làm vỡ kính nhà hàng xóm (Kính mà An làm vỡ là của nhà

hàng xóm chứ không phải là của ai khác)

[1:8d] An làm vỡ kính nhà hàng xóm (An làm vỡ kính chứ không phải làm

vỡ vật gì khác)

Xem xét hiện tượng đánh dấu tiêu điểm hóa dưới góc độ trọng âm và ngữ điệu đã được nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm (xem Quirk, R [54] Gần đây tác giả Chungmin Lee [53] có công trình nghiên cứu về các cách diễn đạt tiêu điểm và chủ đề tương phản trong tiếng Anh và tiếng Hàn Song chính họ cũng nhấn mạnh thêm trọng âm và ngữ điệu không phải là cách duy nhất thể hiện tiêu điểm

Tuy nhiên vấn đề này đòi hỏi những công cụ khảo sát và quá trình nghiên cứu về ngữ âm và âm vị học rất tinh xảo nên ở luận văn này chúng tôi chỉ đề cập

mà không có ý định tìm hiểu quá sâu về nó

(ii) Các phương tiện về mặt từ vựng

Hiệu quả của tiêu điểm hóa cấu trúc chủ - vị có thể được tạo ra khi một từ hay một ngữ được thêm vào hay được sử dụng lại trong một phát ngôn

a Thêm từ

Những từ có ý nghĩa tạo tiêu điểm thông tin có thể được thêm vào trước hoặc sau

từ chứa phần thông tin được làm nổi bật Ví dụ:

[1:9] Bức ảnh liệt sĩ Nguyễn Văn Bé treo ngay chính giữa lều, cạnh một

[1:10] Sao trời đã sinh ra cô là con gái, con gái phố Hàng Đào; con gái phố

Hàng Đào có nhan sắc; con gái phố Hàng Đào có nhan sắc của một nhà giàu; con gái phố Hàng Đào có nhan sắc của một nhà giàu đương thì đào tơ mơn mởn,

mà không được sinh trưởng vào một cái gia đình được ăn mặc tự do, để được xứng đáng với từng ấy cái mà cô được hơn người

Trang 28

Trong tiếng Việt, những công cụ từ vựng để tạo tiêu điểm thông tin rất đa

dạng, phong phú (có thể là những trợ từ nhấn mạnh như chính, ngay, cả, riêng… tiểu từ tình thái như cơ, đấy, chứ…; tổ hợp trợ từ và tiểu từ như chỉ… thôi, có…thì

có…) và luôn đi kèm với các công cụ về mặt cấu trúc để tạo nên một hệ thống chặt

chẽ Do đó, khi nghiên cứu về công cụ để biểu đạt tiêu điểm hóa cấu trúc chủ - vị của câu cần phải khảo sát cả những phương tiện về mặt cú pháp mà chúng tôi sẽ nêu ở phần dưới

(iii) Các phương tiện cú pháp

Quirk đề nghị "cách tốt nhất để xem xét vị trí của tiêu điểm là đặt nó trong mối quan hệ với cấu trúc cú pháp của cú" [54,938] Ông đưa ra ý kiến giải thích cho vấn đề này như sau: "Cú (câu đơn) là đơn vị ngữ pháp có tương quan mật thiết với đơn vị ngữ điệu, hay đơn vị thông tin" và do đó cấu trúc thông tin được truyền đạt thông qua cấu trúc cú pháp của câu Nói như vậy, tác giả có ý nhấn mạnh rằng cấu trúc cú pháp của câu là sự hiện thực hóa cấu trúc thông tin và là đơn vị cú pháp

cụ thể để khảo sát các phương tiện tiêu điểm Các phương tiện cú pháp thường được thể hiện qua các phép cải biến cú pháp Các phép cải biến cú pháp là thao tác chuyển đổi từ một cấu trúc này sang một cấu trúc khác mà không làm biến đổi quan

hệ của các thực từ tham gia vào phép cải biến đó Sự thay đổi cấu trúc cú pháp không làm thay đổi nội dung của câu mà làm thay đổi về giá trị ngữ nghĩa - ngữ dụng; thông qua đó tạo nên hiệu quả nhấn mạnh về mặt thông tin (tiêu điểm hóa thông tin) Ở đây chúng ta thấy được tính chất phi đối xứng trong ngôn ngữ nghĩa

là không có sự tương ứng một đối một giữa hai mặt tín hiệu của ngôn ngữ: cùng một hình thức (cái biểu đạt), có thể chứa đựng nhiều nội dung (cái được biểu đạt)

và ngược lại, cùng một nội dung (cái được biểu đạt) có thể được biểu đạt bằng nhiều hình thức (cái biểu đạt) Liên hệ với hiện tượng tiêu điểm hóa, chúng tôi cho rằng người nói không tạo ra một cấu trúc mới để diễn đạt thông tin mới mà chỉ sử dụng một cách khéo léo, sáng tạo những cấu trúc sẵn có để thực hiện mục đích giao tiếp một cách hiệu quả Chính vì vậy, trong mỗi ngôn ngữ nói chung và tiếng Việt nói riêng luôn tồn tại những cách diễn đạt nhất định Đó là lí do khiến chúng tôi muốn tìm hiểu những phương tiện để đánh dấu tiêu điểm hóa cấu trúc chủ - vị câu tiếng Việt

Trang 29

Bên cạnh đó, để tổng kết và phân tích các phương tiện từ vựng và phương tiện cú pháp được dùng để tạo nên hiệu quả của các hiện tượng tiêu điểm, chúng tôi dựa trên một số nguyên tắc cơ bản nhằm xây dựng một số điều kiện cần và đủ cho các phương tiện biểu đạt tiêu điểm thông tin:

(a) Nguyên tắc cộng tác của Grice (cooperative principle) [4]

Nguyên tắc cộng tác hội thoại có dạng tổng quát: Hãy làm cho phần đóng

góp của anh, chị (vào cuộc hội thoại) đúng như nó được đòi hỏi ở giai đoạn (của cuộc hội thoại) mà nó xuất hiện phù hợp với đích hay phương hướng của cuộc hội thoại mà anh chị đã chấp nhận tham gia vào (dẫn theo Đỗ Hữu Châu [4,229])

Nguyên tắc này có bốn phạm trù là phạm trù lượng, phạm trù chất, phạm trù quan

hệ, phạm trù cách thức theo tinh thần các phạm trù của nhà triết học Kant Mỗi phạm trù đó, tương ứng với một "tiểu nguyên tắc" mà Grice gọi là phương châm (maxim):

(i) Phương châm về lượng:

- Hãy làm cho phần đóng góp của anh có lượng tin đúng như đòi hỏi (của đích đang diễn ra của từng phần của cuộc hội thoại)

- Đừng làm cho phần đóng góp của anh có lượng tin lớn hơn đòi hỏi

(ii) Phương châm về chất

- Đừng nói những điều mà anh tin rằng không đúng

- Đừng nói điều mà anh không có bằng chứng xác thực

(iii) Phương châm quan hệ

Hãy nói cho đúng chỗ

(iv) Phương châm cách thức

- Tránh lối nói tối nghĩa

- Tránh lối nói mập mờ (có thể hiểu nhiều nghĩa)

- Hãy ngắn gọn (tránh dài dòng)

- Hãy nói có trật tự

Nguyên tắc này áp dụng cho các cấu trúc câu đặc biệt - như một phương tiện cú pháp thể hiện hiện tượng tiêu điểm của câu Ví dụ thay vì một cấu trúc có đầy đủ các thành phần và theo một trật tự thông thường như Chủ ngữ - Vị ngữ - Bổ ngữ thì người đọc có thể tìm thấy một cấu trúc thiếu thành phần: Trạng ngữ - Vị ngữ - Chủ

Trang 30

ngữ Trật tự đảo này, áp dụng nguyên tắc của Grice chắc chắn vì một mục đích nhất định khi người nói cố tình đưa phần trạng ngữ lên làm đề cho phát ngôn của mình Chính Grice cũng thừa nhận rằng ngoài những phương châm trên "Người ta

có thể thêm vào những phương châm khác nữa" (4) Ông cũng khẳng định thêm trong các phương châm đó một vài phương châm cần được tôn trọng hơn các phương châm kia

(b) Điều kiện chân trị

J.Lyons [28,157] khi bàn về mệnh đề và nội dung mệnh đề đã nêu ra quan điểm của các nhà triết học về bốn tiêu chí của một mệnh đề thông thường:

(i) hoặc đúng hoặc sai;

(ii) có thể được biết, tin tưởng hay ngờ vực;

(iii) có thể được xác nhận, bác bỏ hay nêu câu hỏi;

(iv) không đổi khi chuyển dịch từ một ngôn ngữ này sang một ngôn ngữ khác Thông tin về nội dung mệnh đề như vậy được xác định trong điều kiện chân thực (truth- condition) của phát ngôn Hai câu khác nhau cùng diễn đạt một nội dung mệnh đề tức có cùng một điều kiện chân thực, thì hai câu đó sẽ cùng đúng hoặc cùng sai Trong trường hợp đó ta có thể nói là hai câu trên mang cùng một nội dung thông tin về mặt nghĩa học: thông tin mệnh đề

Trên cơ sở quan niệm này, một phương tiện được dùng để đánh dấu tiêu điểm khi và chỉ khi:

(i) phương tiện đó không làm thay đổi điều kiện chân thực, hay không làm thay đổi nội dung mệnh đề;

(ii) phương tiện đó làm nổi bật những phần thông tin đáng chú ý trong câu; (iii) phương tiện đó phải có tính đánh dấu

Trong luận văn này, chúng tôi không có ý muốn tìm hiểu tất cả các phương tiện từ vựng và cú pháp của tiếng Việt mà chỉ những phương tiện từ vựng và cú pháp nào

có tác dụng tạo tiêu điểm, làm nổi bật thông tin đáng chú ý Do đó trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi thấy có những thuật ngữ chưa có trong tiếng Việt thì phải mượn từ tiếng Anh để chuyển dịch sang tiếng Việt như cấu trúc đảo thành tố lên đầu câu gọi là tiền đảo (preposing) hay đảo một thành tố nào đó xuống cuối câu gọi

là hậu đảo (postposing) Điều này sẽ được chúng tôi trình bày trong chương II một cách cụ thể

Trang 31

1.2.4 Lý thuyết đánh dấu

1.2.4.1 Lý thuyết đánh dấu của Jakobson

Trubetzkoy là người đầu tiên phát hiện ra khái niệm có dấu hiệu/ không có dấu hiệu Sau đó khái niệm này đã được gọi bằng thuật ngữ "đánh dấu" và phát triển lý thuyết đánh dấu trong âm vị học bằng cách đưa ra ba đối lập âm vị:

(i) Đối lập có/ không: tức đối lập giữa hai âm vị, tất cả các nét khu biệt khác đều đồng nhất, chúng chỉ khác nhau ở một nét khu biệt theo hai giá trị có hoặc không có nét khu biệt đó Ông còn lý giải thêm, thành phần có dấu hiệu của một

cặp đối lập là âm vị được đặc trưng bởi sự tồn tại của giá trị tích cực (của sự có)

của nét khu biệt Thành phần không có dấu hiệu là thành phần được đặc trưng bởi

sự vắng mặt (sự không) nét khu biệt đó Ta có thể lấy ví dụ đối với cặp /d/ và /t/ thì

/d/ là thành phần có dấu hiệu vì nó hữu thanh, còn /t/ là không có dấu hiệu vì ở nó vắng mặt nét hữu thanh (vô thanh)

(ii) Đối lập thang độ: tức đối lập giữa một số âm vị đồng nhất về tất cả các nét khu biệt, chỉ khác nhau ở các mức độ khác nhau của một nét khu biệt nào đó

Ví dụ sự đối lập giữa ba âm vị /i/, /e/, /ε/ tiếng Việt Chúng đều là nguyên âm hàng

trước, chỉ khác nhau ở mức độ độ mở của miệng: /i/ có độ mở hẹp nhất rồi đến /e/ (chữ viết ê) Rộng nhất là nguyên âm /ε/ (chữ viết e)

(iii) Đối lập đẳng trị: tất cả những trường hợp đối lập khác, không phải đối lập có/ không, không phải đối lập thang độ Nói cách khác, mỗi thành viên trong một nhóm có một đặc tính mà các thành viên khác trong cùng nhóm không có Ví

dụ hai phụ âm /p/ và /t/ đều là phụ âm tắc, vô thanh nhưng /p/ là phụ âm môi, /t/ là phụ âm đầu lưỡi- răng Nét khu biệt môi đẳng trị với nét khu biệt đầu lưỡi - răng (đây không phải là thế đối lập có/ không vì nét đầu lưỡi- răng không phải là nét môi)

Cấu trúc âm vị của Trubetzkoy và của trường phái Praha được R.Jakobson, một đại diện xuất sắc của trường phái này kế tục Vào khoảng 1940, R.Jakobson đã phát triển thêm một bước mới lý thuyết về nét khu biệt âm vị học Nhưng giữa Trubetzkoy và R Jakobson có sự khác nhau ở chỗ Trubetzkoy do hạn chế về điều kiện kĩ thuật của thời đại chỉ dùng các đặc tính cấu âm, thì R.Jakobson nhờ các máy móc âm học khá tinh xảo đã dùng các đặc tính âm học làm nét khu biệt âm vị học

Trang 32

Nghiên cứu hàng loạt những ngôn ngữ rất khác nhau, Jakobson cho thấy chỉ cần một số nét khu biệt, khoảng 12 nét khu biệt là đủ để miêu tả chúng

Mặt khác, lý thuyết đánh dấu của Jakobson là lý thuyết bàn về mối quan hệ giữa các đơn vị đánh dấu và không đánh dấu trong các cặp đối lập nhị phân Ông định nghĩa đơn vị đánh dấu là phát biểu của một đặc tính A, trong khi đơn vị không đánh dấu có thể được chia làm hai phần: hoặc là không phải là phát biểu của A hoặc phát biểu của A Đặc tính A được Jakobson định nghĩa là một đặc tính nghĩa được cho và tương đối độc lập với thực tế ngoài ngôn ngữ Ông lưu ý rằng phải xét đến giá trị đánh dấu trong mối quan hệ với những đơn vị không đánh dấu

Ví dụ, trong tiếng Anh, danh từ đếm được có hai hình thức: số ít (book) và số nhiều (books) Hình thức số nhiều được thể hiện bằng sự có mặt một cách hiển

ngôn bằng "-s" vào cuối từ; hình thức số ít là sự vắng mặt một biến tố tương tự Một sự có mặt hay vắng mặt một chỉ dấu về mặt hình thức như thế thì tương ứng với một khác biệt về ngữ nghĩa: hình thức số nhiều (books) được quy chiếu cho số sách nhiều hơn một đơn vị; nhưng hình thức số ít cũng không hẳn được giới hạn trong một đơn vị nghĩa là "sách" mà ta thấy xuất hiện trong nhiều ví dụ như:

bookshop, bookseller, book- shelf, bookstore, v.v… Những trường hợp như vậy

không hẳn là số nhiều có thể là số ít mà cũng có thể là trung tính Do chúng chiếm nhiều khả năng xuất hiện hơn hình thức số nhiều nên chúng được coi là không đánh dấu Tất cả những yếu tố không đánh dấu trong ví dụ này bao gồm tất cả những

trường hợp book số ít và book không chỉ số, và những yếu tố đối lập (những yếu tố

không đánh dấu) là những trường hợp books số nhiều Cặp đối lập trên, ta có thể

mô tả như sau:

1.2.4.2 Ứng dụng lý thuyết đánh dấu trong ngữ pháp chức năng

Trên cơ sở lý thuyết của Jakobson về tính đánh dấu, Dik đã ứng dụng các thuật ngữ đánh dấu và không đánh dấu cho ngôn ngữ Theo Dik, những trường hợp

có tần số xuất hiện thường xuyên là trường hợp không đánh dấu và những trường hợp có tần số xuất hiện ít hơn là những trường hợp đánh dấu Ông đưa ra một ví dụ

Trang 33

về trật tự từ trong tiếng Anh với cấu trúc phổ biến: S + Vf + X (S= chủ ngữ; Vf= động từ chính được chia hợp với chủ ngữ; X= các thành tố khác) Qua khảo sát 100

cú tiếng Anh, ông nghĩ trật tự đảo ngữ trong tiếng Anh chắc chắn phải diễn đạt một

ý nghĩa nào khác ngoài chức năng cung cấp thông tin

So sánh với cấu trúc thông tin của tiếng Việt, vị trí chủ đề thông thường được đặt trùng với vị trí chủ đề và chủ ngữ, nhưng khi một thành tố khác của câu được đề bạt lên vị trí này, ta có đề đánh dấu và tạo được một tiêu điểm thông tin trong phát ngôn

Dik cũng đưa ra luận điểm:

(i) Một hiện tượng được coi là đánh dấu trong môi trường (ngôn ngữ) này có thể là không đánh dấu trong môi trường (ngôn ngữ) khác;

(ii) Khi dùng hình thức đánh dấu thường xuyên, chúng dần dần mất đi tính đánh dấu và có thể một hình thức được đánh dấu mới ra đời để thay thế

Những quan điểm của Dik về tính đánh dấu đã giúp chúng tôi có được điểm nhìn sâu hơn về hiện tượng tiêu điểm hoá: người nói/ viết có thể dùng một từ nào

đó để thay thế hay bổ sung cho một từ khác để nhằm truyền đạt một thông điệp cần nhấn mạnh nào đó hay có thể sử dụng một cấu trúc bất thường để thể hiện một ý nghĩa đặc biệt, tạo ra một tiêu điểm thông tin trong câu nhằm thu hút sự chú ý của người nghe (cấu trúc tiêu điểm) để thay thế cho một cấu trúc không đánh dấu và không có giá trị tạo tiêu điểm thông tin, giá trị nhấn mạnh

Chúng tôi đơn cử một ví dụ mà áp dụng lý thuyết đánh dấu thông qua việc

sử dụng phương thức tiêu điểm hoá là cấu trúc có chứa yếu tố hạn định đứng ở đầu câu Ngoài những phụ từ dùng để tách câu như thì/ là/ mà, câu tiếng Việt có thể có những phụ từ tình thái như mãi/mới để góp phần tạo nên tiêu điểm thông tin Xem

Trang 34

Bên cạnh yếu tố trên, để nhấn mạnh thông tin mang nghĩa phủ định, tiếng Việt còn

sử dụng những yếu tố phủ định hay hạn định như những hư từ ngữ pháp hay tình

thái như chẳng, hề, chẳng hề, không hề, tuyệt nhiên… Ví dụ:

[1:13] Chưa bao giờ chúng dám mong có được số tiền to đến thế

(VTP:38) Trên cơ sở lí thuyết này đánh dấu này, chúng tôi đã áp dụng vào khảo sát hiện tượng tiêu điểm của câu tiếng Việt Bởi một yếu tố có tính đánh dấu càng cao thì giá trị tiêu điểm thông tin mà nó thể hiện càng lớn Đó cũng là phần cơ sở nền tảng

để tiến hành luận văn này

1.3 Tiểu kết

Trong chương này, chúng tôi đã trình bày các cơ sở phân tích câu theo quan điểm của ngữ pháp chức năng đặc biệt là thành tố về thông tin cơ sở và tiêu điểm thông tin là trọng tâm cho việc khảo sát, lí giải về hiện tượng tiêu điểm hoá cấu trúc câu tiếng Việt Cũng trong chương này, chúng tôi có đề cập tới thuật ngữ "đánh dấu" làm nền tảng cho việc khảo sát dữ liệu một cách sâu sắc

Như chúng tôi đã nhận thức rất rõ rằng ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người Do đó, một hoạt động giao tiếp bên cạnh việc trao đổi thái độ, tình cảm của người nói/ viết với người đọc/ nghe thì mục đích quan yếu chính là cung cấp thông tin Nên giới hạn của luận văn này là tập trung vào tiêu điểm thông tin Vấn đề đặt ra là có những phương tiện và cách thức nào giúp người nói biểu đạt được cái thông tin mang tính tiêu điểm đó Đấy chính là nhiệm vụ của chúng tôi trong hai chương tiếp theo

Trang 35

CHƯƠNG 2 CÁC PHƯƠNG THỨC TIÊU ĐIỂM HOÁ

CẤU TRÚC CHỦ- VỊ CÂU TIẾNG VIỆT 2.1 Cơ sở xác định tiêu điểm thông tin

2.1.1 Ngữ cảnh

Khi xác định tiêu điểm của cấu trúc thông tin không thể không nhắc tới ngữ cảnh Giorge Yule dùng thuật ngữ ngữ cảnh (context) và văn cảnh (co-text), ngữ cảnh là một môi trường phi ngôn ngữ trong đó ngôn ngữ được sử dụng

Nguyễn Thiện Giáp phân biệt hai khái niệm: ngữ cảnh tình huống và ngữ

cảnh văn hoá Tác giả cho rằng: "Ngữ cảnh tình huống là thế giới, xã hội và tâm lý

mà trong đó, ở một thời điểm nhất định người ta sử dụng ngôn ngữ Nó có thể bao gồm sự hiểu biết về vị thế của người nói và người nghe, sự hiểu biết về vị trí, thời gian và không gian, sự hiểu biết về phép xã giao trong xã hội và sự hiểu biết về mã ngôn ngữ được dùng (nói hoặc viết), sự hiểu biết về nội dung giao tiếp và bối cảnh giao tiếp" Và đôi khi "ngữ cảnh tình huống còn có cả sự chấp nhận ngầm của

người nói và người nghe" [Nguyễn Thiện Giáp 2004:23] Còn "ngữ cảnh văn hoá

bao gồm hàng loạt nhân tố văn hoá như phong tục, tập quán, chuẩn tắc hành vi, quan niệm giá trị, sự kiện lịch sử, những tri thức về tự nhiên và xã hội, về chính trị

và kinh tế" Như vậy, theo cách hiểu rộng, ngữ cảnh được coi là những nhân tố có mặt trong một cuộc giao tiếp nhưng nằm ngoài diễn ngôn (vai giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp,…)

Theo Từ điển tiếng Việt: "Ngữ cảnh là toàn bộ nói chung những đơn vị đứng trước và đứng sau một đơn vị ngôn ngữ đang xét, quy định ý nghĩa và giá trị cụ thể của đơn vị ngôn ngữ đó trong chuỗi lời nói" [34,861] Đây có thể coi là một cách hiểu ngữ cảnh theo nghĩa hẹp

Đối với các văn bản viết, chúng tôi xác định ngữ cảnh theo nghĩa hẹp bao gồm những phát ngôn đặt trước và đặt tiếp sau phát ngôn cần xác định tiêu điểm thông tin Việc hiểu như vậy cũng giúp chúng tôi dễ dàng xác định phần cơ sở và tiêu điểm trong một cấu trúc thông tin

Trong diễn ngôn đối thoại, câu hỏi là yếu tố quan trọng của ngữ cảnh giúp xác định cấu trúc thông tin trong câu trả lời Những loại câu hỏi có thể là:

Trang 36

- Câu hỏi hiển ngôn: là loại câu hỏi mà cả phần thông tin đã biết và phần tin

mà người nói muốn biết có thể cùng xuất hiện ngay trên bề mặt của cấu trúc cú pháp câu Do đó, tiêu điểm thông tin của câu là phần mà trả lời trực tiếp cho câu hỏi Ví dụ:

[2:1] a Chị làm công tác gì?

b Tôi trông nom thư viện của nhà máy

(TNT: 264) Câu hỏi đã dẫn gồm hai phần: "Chị làm công tác" được coi là thông tin đã biết hoặc

dễ nhận biết còn "gì" là điều chưa biết, cần biết Hai phần này xuất hiện trực tiếp trên cấu trúc bề mặt của câu hỏi Căn cứ vào đó mà ta dễ dàng xác định rằng chỉ có

"trông nom thư viện của nhà máy" là thông tin mới, thông tin trả lời cho điều cần biết được nêu ra trong câu hỏi

Khi trả lời cho câu hỏi thuộc dạng này, người trả lời có thể dùng câu đầy đủ hoặc tỉnh lược Ví dụ:

[2:2] a Ông ở quận nào?

b Quận Thạnh - phú

(NĐT: 32)

[2:3] a Thế anh ấy ở đâu?

b Anh ấy phải ở nhà thu xếp để đón em

(TNH2: 205) Với những câu hỏi mà cấu trúc nổi (cấu trúc cú pháp) chỉ xuất hiện từ để hỏi với tư cách là thông tin cần biết thì câu trả lời chỉ toàn tin mới Ví dụ:

[2:4] a Sao?

b Lớn lên, nó sẽ bất bình về việc em lại cải giá (VTP: 235) Trong câu hỏi ở ví dụ trên chỉ có phần thông tin cần biết là đại từ nghi vấn "sao" Tin đã biết nằm ở ngôn cảnh với tư cách như các tiền giả định của câu hỏi Chúng

ta không thể hiểu được cặp thoại hỏi - trả lời ở đây là hỏi và trả lời về vấn đề gì khi không đặt nó vào một ngữ cảnh cụ thể: cuộc trò chuyện giữa hai nhân vật về việc cải giá hay không cải giá Câu trả lời của nhân vật nữ đưa ra nguyên nhân khiến cô không thể cải giá Đó chính là phần tin hoàn toàn mới đối với người đang chờ đợi câu trả lời

Trang 37

- Câu hỏi hàm ẩn: là loại câu hỏi không xuất hiện trực tiếp trên bề mặt của phát ngôn mà được rút ra từ ngữ cảnh tình huống có chứa câu cần xác định tiêu điểm thông tin

Đối với những câu hỏi loại này, ngữ cảnh có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định cấu trúc thông tin trong câu trả lời Điều này có thể thấy rõ khi cùng một câu hỏi, cùng một câu trả lời nhưng nếu đặt câu hỏi - trả lời này ở hai hay nhiều ngữ cảnh, tình huống giao tiếp khác nhau thì ý nghĩa hàm ẩn (tin mới) trong câu trả lời có sự khác nhau Ví dụ:

[2:5] a Thế này mà bảo không phải thuốc cao?

b Thôi, tôi chịu ông rồi mà! Ở vùng này chỉ có một ông biết

nghề thuốc!

(VTP: 188) Trong cặp thoại trên, nhân vật trong phát ngôn (a) hỏi người trong phát ngôn (b) có đồng ý hay không đồng ý loại thuốc đó là thuốc cao Câu hỏi này được đưa ra nhân dịp trong làng có mở hội do những người làm trò quỷ thuật biểu diễn Cuộc vui này thực chất chỉ là một cái cớ để hai thầy lang chê bai, vạch trần những điểm dốt nát của nhau trong việc chữa bệnh cho dân làng Do đó đáp lại câu hỏi, người trả lời phản bác ý kiến cho đó là thuốc cao và nội dung này chính là tiêu điểm mà người nói muốn đưa ra Nhưng nếu đặt cặp thoại trên vào tình huống khác thì nội dung thông tin hồi đáp của người trả lời lại có sự thay đổi Ví như phát ngôn của người trả lời được đặt trong hoàn cảnh là mối quan hệ của hai người là tốt đẹp và thực sự

là nhân vật trong phát ngôn (b) khâm phục tài năng thực sự của nhân vật trong phát ngôn (a) thì vẫn là lời nhận xét, vẫn là hành động xác tín nhưng nó ngầm ẩn ý nghĩa khẳng định Và ý nghĩa khẳng định tài năng của nhân vật trong (a) là phần mang giá trị thông tin mà người hỏi chờ đợi từ phía người trả lời Có thể biểu thị cấu trúc thông tin của phát ngôn như sau:

Tình huống giao tiếp 1:

Thôi, tôi chịu ông rồi mà! Ở vùng này chỉ có một ông biết nghề

thuốc!

Cấu trúc

thông tin

tiêu điểm (phản bác)

cơ sở (đã nằm trong nhận thức của người nghe)

Trang 38

Tình huống giao tiếp 2:

Thôi, tôi chịu ông rồi mà!Ở vùng này chỉ có một ông biết nghề thuốc!

Cấu trúc

thông tin

tiêu điểm (khẳng định- đó là thuốc cao) và nêu lí do khẳng định

Như vậy, có thể dựa vào cấu trúc thông tin của câu hỏi để xác định tin mới trong câu trả lời cũng như toàn bộ kết cấu của câu trả lời Cấu trúc thông tin của câu hỏi và câu trả lời có quan hệ mật thiết với nhau bởi mỗi loại câu hỏi có một đặc trưng riêng và chính những đặc trưng đó lại quy định cấu trúc cho câu trả lời Hỏi - trả lời không chỉ là tiền đề tồn tại của nhau, là hai mặt của một quá trình thống nhất

về mặt chức năng ở chỗ giải quyết mâu thuẫn giữa biết và chưa biết mà chúng còn thống nhất, biện chứng với nhau giữa tin đã biết, tin cần biết và tiêu điểm thông tin

2.1.2 Tiền giả định

Trong lĩnh vực ngữ nghĩa và ngữ dụng, mọi người đã nói nhiều tới thuật ngữ

"tiền giả định" (presupposition) và có nhiều cách hiểu, cách tiếp cận khác nhau xung quanh nó Mỗi phát ngôn dù ngắn gọn hay đầy đủ, trực tiếp hay gián tiếp cũng đều mang một ý nghĩa và đáp ứng nhu cầu thông tin nhất định Để đảm bảo cho phát ngôn có giá trị trong hoàn cảnh sử dụng cụ thể đó, nó phải có trong nhận thức của cả người nói và người nghe, nói cách khác là thông tin đó được người nói

và người nghe đã biết hoặc giả định biết

Tác giả Đỗ Hữu Châu quan niệm: "Tiền giả định là những hiểu biết được xem là bất tất phải bàn cãi, bất tất phải đặt lại thành vấn đề, đã được các nhân vật giao tiếp mặc nhiên thừa nhận, dựa vào chúng mà người nói tạo nên ý nghĩa tường minh trong phát ngôn của mình" [4,366] Còn GS Hoàng Phê cho rằng: "những điều mà phải coi như đã biết rồi hoặc nếu chưa biết thì cũng phải thừa nhận là đúng như vậy thì câu hoặc lời nói mới thật sự có ý nghĩa được gọi là tiền giả định" [4,284]

Nói tóm lại, tiền giả định là thông tin không được diễn đạt một cách tường minh nhưng cả người nói và người nghe đều phải rút ra cách hiểu giống nhau, phải được chấp nhận trước là có giá trị chân thực để phát ngôn có thể giao tiếp bình thường Ví dụ:

[2:6] Chị Đào vẫn giữ lời thề ngày nọ đấy chứ?

(NK: 42) Câu đã dẫn có tiền giả định là:

- Có một nhân vật tên là Đào

Trang 39

- Nhân vật Đào đã có một lời thề nào đó

Câu đã dẫn sẽ có giá trị và được sử dụng bình thường nếu cả người nói và người nghe đều chấp nhận hai tiền giả định trên Nếu một trong những tiền giả định

là sai thì phát ngôn sẽ trở thành có vấn đề Vì thế để phản bác lại, người nghe có

thể dùng cách phủ định lại tiền giả định như: Tôi có thề gì đâu Nhưng trong tác phẩm này, nhân vật Đào đáp lại: Thề gì nào? không phải phản bác lại tiền giả định

mà để lảng tránh câu trả lời

Về mặt chức năng, tiền giả định không có giá trị thông báo, có nghĩa là nó không mang lại cho người nghe thông tin mới, hay thông tin được người nói cho là quan trọng, cần chú ý Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là tiền giả định không có vai trò gì trong cấu trúc thông tin của phát ngôn Với tư cách là phần thông tin chung được cả người nói và người nghe chia sẻ, dựa vào tiền giả định ta có thể xác lập tiêu điểm thông tin của câu

[2:8] a Ông thi ra năm nào?

b (Tôi thi) Năm hai mươi bốn

(KH2: 19) [2:9] a Bà đẻ con so hay con rạ?

b Thưa bà, (bà đẻ) con so

(NCH: 30) Bên cạnh việc dựa vào ngữ cảnh, tiền giả định và khả năng lược bỏ, hiện tượng tiêu điểm hoá cấu trúc chủ - vị của câu tiếng Việt còn được xác định bằng các phương tiện biểu hiện như trọng âm, hư từ, trật tự từ, phương thức tỉnh lược Dưới đây chúng tôi sẽ đề cập tới các phương thức này với tư cách là một tiêu chí quan trọng để xác định tiêu điểm của cấu trúc thông tin

Trang 40

2.2 Các phương thức tiêu điểm hoá cấu trúc chủ - vị của câu tiếng Việt

2.2.1 Tiêu điểm hóa bằng trọng âm

Các phương tiện ngôn điệu như thanh điệu, trọng âm, ngữ điệu thường quan

hệ với một đơn vị độc lập trong hệ thống ngôn ngữ (âm tiết, từ, ngữ đoạn hoặc câu) Trong các ngôn ngữ nói chung và tiếng Việt nói riêng, một trong những phương tiện phổ biến đánh dấu thành tố tiêu điểm hoá là trọng âm câu (sentence stress) [7,63] Trọng âm là sự nêu bật một số đơn vị nào đó so với những đơn vị khác trong chuỗi lời nói [14,187] Trọng âm câu nêu bật một từ trong câu Thông thường đơn vị có trọng âm trong một ngôn ngữ vừa mạnh hơn, dài hơn và cao hơn (hoặc thấp hơn) đơn vị không có trọng âm Cùng một phát ngôn với một cấu trúc cú pháp và ngữ nghĩa nhất định nhưng tuỳ thuộc vào những điểm nhấn (trọng âm) rơi vào những chỗ khác nhau mà tạo ra tiêu điểm thông tin khác nhau và vì vậy có các cấu trúc thông báo khác nhau Ví dụ:

[2:10] a Hương đan khăn cho bà

(Trả lời câu hỏi ai đan khăn cho bà)

b Hương đan khăn cho bà

(Trả lời câu hỏi Hương làm gì)

c Hương đan khăn cho bà

(Trả lời câu hỏi Hương đan cái gì cho bà)

d Hương đan khăn cho bà

(Trả lời câu hỏi Hương đan khăn cho ai)

e Hương đan khăn cho bà

(Trả lời câu hỏi Có chuyện gì vậy)

Trong các biến thể cú pháp trên, tiêu điểm rơi vào thành tố cú pháp khác nhau (in chữ đậm), được đánh dấu bằng phương thức trọng âm giúp chúng ta nhận diện cấu trúc thông tin và giải thích sự khác biệt về hình thức bề mặt của các biến thể cú pháp của câu

Các ngôn ngữ không chỉ khác nhau về kiểu trọng âm mà còn khác nhau về

vị trí phân bố của nó Đối với tiếng Việt, "xét theo vị trí phân bố của tiêu điểm được đánh dấu bằng trọng âm, có thể phân biệt các biến thể cú pháp có trọng âm tiêu điểm ở đầu câu với các biến thể cú pháp có trọng âm tiêu điểm ở cuối câu Trọng âm được thể hiện trong hai loại biến thể này có sự khác nhau là do yếu tố

Ngày đăng: 31/03/2015, 14:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Diệp Quang Ban (1998), Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản và liên kết trong tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
3. Diệp Quang Ban (2008, tái bản), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
4. Đỗ Hữu Châu (chủ biên), Bùi Minh Toán (2009), Đại cương Ngôn ngữ học (t.2), Ngữ dụng học, Nxb Giáo dục, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương Ngôn ngữ học" (t.2), "Ngữ dụng học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu (chủ biên), Bùi Minh Toán
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
5. Nguyễn Hồng Cổn (2001), "Bàn thêm về cấu trúc thông báo của câu tiếng Việt", Ngôn ngữ (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn thêm về cấu trúc thông báo của câu tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Hồng Cổn
Năm: 2001
6. Nguyễn Hồng Cổn (2004), Tiêu điểm tương phản trong tiếng Việt, Kỉ yếu Hội nghị quốc tế ngôn ngữ học Liên Á, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiêu điểm tương phản trong tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Hồng Cổn
Năm: 2004
7. Nguyễn Hồng Cổn (2009), Cấu trúc thông tin của câu tiếng Việt, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ĐHQG năm 2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc thông tin của câu tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Hồng Cổn
Năm: 2009
9. Nguyễn Đức Dân (1987), Lôgíc - Ngữ nghĩa - Cú pháp, Nxb Đại học và THCN - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lôgíc - Ngữ nghĩa - Cú pháp
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb Đại học và THCN - Hà Nội
Năm: 1987
10. Simon C. Dik (2005), Ngữ pháp chức năng, nhóm tác giả biên dịch (Nguyễn Vân Phổ, Trần Thủy Vịnh, Nguyễn Hoàng Trung, Đào Mục Đích, Nguyễn Thanh Phong), Nxb Đại học Quốc gia, Tp HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp chức năng
Tác giả: Simon C. Dik
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2005
11. Nguyễn Thị Thu Dung (2009), Cấu trúc tin và cấu trúc cú pháp trong câu đơn tiếng Việt qua một số truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, Luận án thạc sĩ Ngữ văn, Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc tin và cấu trúc cú pháp trong câu đơn tiếng Việt qua một số truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Dung
Năm: 2009
12. Lê Đông (1991), "Ngữ nghĩa - ngữ dụng của hƣ từ tiếng Việt: ý nghĩa đánh giá của các hƣ từ", Ngôn ngữ (2), tr. 15 - 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa - ngữ dụng của hƣ từ tiếng Việt: ý nghĩa đánh giá của các hƣ từ
Tác giả: Lê Đông
Năm: 1991
13. Lê Đông & Hùng Việt (1995), "Nhấn mạnh nhƣ một hiện tƣợng ngữ dụng và đặc trƣng ngữ nghĩa - ngữ dụng của một số trợ từ nhấn mạnh trong tiếng Việt", Ngôn ngữ (2), tr. 11-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhấn mạnh nhƣ một hiện tƣợng ngữ dụng và đặc trƣng ngữ nghĩa - ngữ dụng của một số trợ từ nhấn mạnh trong tiếng Việt
Tác giả: Lê Đông & Hùng Việt
Năm: 1995
14. Nguyễn Thiện Giáp (2003), Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
15. Nguyễn Thiện Giáp (2004), Dụng học Việt ngữ, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dụng học Việt ngữ
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2004
16. M.A.K.Halliday (2004), Dẫn luận Ngữ pháp chức năng, Hoàng Văn Vân dịch, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận Ngữ pháp chức năng
Tác giả: M.A.K.Halliday
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2004
17. Cao Xuân Hạo (2006), Tiếng Việt: Sơ thảo ngữ pháp chức năng, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt: Sơ thảo ngữ pháp chức năng
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2006
18. Nguyễn Văn Hiệp (2008), Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp
Tác giả: Nguyễn Văn Hiệp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
19. Nguyễn Thị Quỳnh Hoa (2004), So sánh đối chiếu cấu trúc - ngữ nghĩa của hiện tượng đảo ngữ trong tiếng Anh và tiếng Việt, Luận án tiến sĩ Ngữ văn, Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh đối chiếu cấu trúc - ngữ nghĩa của hiện tượng đảo ngữ trong tiếng Anh và tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thị Quỳnh Hoa
Năm: 2004
20. Nguyễn Thƣợng Hùng (1997), "Đối chiếu sự tỉnh lƣợc chủ đề trong câu tiếng Anh và câu tiếng Việt", Ngữ học trẻ'97, Hội Ngôn ngữ học VN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối chiếu sự tỉnh lƣợc chủ đề trong câu tiếng Anh và câu tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thƣợng Hùng
Năm: 1997
21. Lê Thị Hương (1993), Ngữ nghĩa ngữ dụng của các từ nhấn mạnh Ngay - chính - cả, Khoá luận tốt nghiệp khoá K34 khoa Ngôn ngữ học, Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa ngữ dụng của các từ nhấn mạnh Ngay - chính - cả
Tác giả: Lê Thị Hương
Năm: 1993
22. Nguyễn Thị Thu Hương (2000), Một số nhận xét về cấu trúc thông báo của câu tiếng Việt, Khoá luận tốt nghiệp khoá K41 khoa Ngôn ngữ học, Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nhận xét về cấu trúc thông báo của câu tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hương
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w