Vai trò của cặp thoại hỏi – đáp trong các giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài .... Trong phạm vi của một luận văn thạc sĩ, dù muốn, tôi cũng không thể khảo sát được tất cả các cặp
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ THU LAN
BƯỚC ĐẦU KHẢO SÁT CÁC CẶP THOẠI HỎI – ĐÁP TRONG SÁCH DẠY TIẾNG VIỆT CHO NGƯỜI
NƯỚC NGOÀI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI - 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ THU LAN
BƯỚC ĐẦU KHẢO SÁT CÁC CẶP THOẠI HỎI – ĐÁP TRONG SÁCH DẠY TIẾNG VIỆT CHO NGƯỜI
NƯỚC NGOÀI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC
MÃ SỐ: 60 22 01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Hồng Cổn
HÀ NỘI - 2012
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3 Mục đích và ý nghĩa của đề tài 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Tư liệu 4
6 Bố cục của luận văn 4
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 6
1.1 Hội thoại 6
1.1.1 Khái niệm hội thoại 6
1.1.2 Các đặc điểm của hội thoại 6
1.1.3 Cấu trúc của hội thoại 9
1.1.4 Chức năng của các đơn vị hội thoại 11
1.2 Cặp thoại 13
1.2.1 Khái niệm 13
1.2.2 Đặc điểm của cặp thoại 13
1.2.3 Các loại cặp thoại 15
1.3 Cặp thoại hỏi - đáp 17
1.3.1 Khái niệm 17
1.3.2 Đặc điểm 18
1.3.3 Các loại cặp thoại hỏi – đáp 19
1.3.4 Mối quan hệ giữa phát ngôn hỏi và đáp 28
1.4 Vai trò của cặp thoại hỏi – đáp trong các giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài 31
1.4.1 Khái quát về giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài 31
Trang 41.4.2 Chức năng và yêu cầu 31
1.4.3 Nội dung (Bố cục) 32
1.4.4 Sự phân chia trình độ của giáo trình 33
1.4.5 Vai trò của cặp thoại hỏi đáp trong các giáo trình 35
CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT CẶP THOẠI HỎI – ĐÁP CHÍNH DANH 38
2.1 Đặc điểm của các phát ngôn hỏi chính danh trong cặp thoại hỏi đáp 38 2.1.1 Đặc điểm hình thức của các phát ngôn hỏi được sử dụng 38
2.1.1.1 Phát ngôn hỏi tổng quát 38
2.1.1.2 Phát ngôn hỏi có từ nghi vấn………40
2.1.1.3 Phát ngôn hỏi lựa chọn 42
2.1.1.4 Phát ngôn hỏi có chứa tiểu từ tình thái 43
2.1.2 Đặc điểm phân bố của các loại phát ngôn hỏi trong các giáo trình 45
2.1.2.1 Phân bố phát ngôn hỏi theo từng giáo trình 45
2.1.2.2 Phân bố phát ngôn hỏi theo cấu trúc của giáo trình 47
2.1.2.3 Phân bố phát ngôn hỏi theo trình độ giáo trình 50
2.2 Đặc điểm của các phát ngôn đáp trong cặp thoại hỏi đáp chính danh 52
2.2.1 Các loại phát ngôn đáp được sử dụng 52
2.2.1.1 Phát ngôn đáp của phát ngôn hỏi tổng quát 53
2.2.1.2 Phát ngôn đáp của phát ngôn hỏi có từ nghi vấn 56
2.2.1.3 Phát ngôn đáp của phát ngôn hỏi lựa chọn 58
2.2.1.4 Phát ngôn đáp của phát ngôn hỏi chứa tiểu từ tình thái 59
2.2.2 Đặc điểm phân bố của các loại phát ngôn đáp trong các giáo trình 61
2.3 Tiểu kết 63
CHƯƠNG 3: KHẢO SÁT CẶP THOẠI HỎI – ĐÁP KHÔNG CHÍNH DANH 64
3.1 Đặc điểm của các phát ngôn hỏi trong cặp thoại hỏi – đáp không chính danh 64
Trang 53.1.1 Nhận xét chung về các phát ngôn hỏi không chính danh được sử dụng
64
3.1.2 Phân loại ý nghĩa của các phát ngôn hỏi không chính danh 66
3.1.2.1 Phát ngôn hỏi có giá trị phỏng đoán 66
3.1.2.2 Phát ngôn hỏi có giá trị khẳng định 69
3.1.2.3 Phát ngôn hỏi có giá trị phủ định 71
3.1.2.4 Phát ngôn hỏi có giá trị cầu khiến 72
3.1.2.5 Phát ngôn hỏi có giá trị cảm thán 74
3.1.2.6 Phát ngôn hỏi biểu thị sự ngạc nhiên 75
3.2 Đặc điểm của các phát ngôn đáp trong các cặp thoại hỏi đáp không chính danh 76
3.2.1 Phát ngôn đáp trực tiếp và phát ngôn đáp gián tiếp 76
3.2.2 Các loại phát ngôn đáp gián tiếp 78
3.2.2.1 Đáp bằng cách hỏi lại 78
3.2.2.2 Đáp bằng cách khẳng định 81
3.2.2.3 Đáp bằng cách phủ định 83
3.2.2.4 Đáp bằng cách cầu khiến 85
3.2.2.5 Đáp bằng cách nêu ra lý do hoặc cung cấp thêm thông tin để giải thích, hoặc lảng tránh 87
3.3 Sự tương hợp về mặt hình thức và nội dung của các cặp thoại hỏi – đáp 89
3.4 Tiểu kết 90
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 6DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
[1, tr 1] Tài liệu tham khảo số 1, trang 1 trong danh mục Tài liệu
tham khảo
[Q1, tr 1] Quyển tiếng Việt cho người nước ngoài số 1, trang 1
trong danh mục những giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài được khảo sát
[Q1, tr 1, BT 2] Quyển tiếng Việt cho người nước ngoài số 1, trang 1, bài
tập số 2 trong danh mục những giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài được khảo sát
[Q1, tr 1, TH 3] Quyển tiếng Việt cho người nước ngoài số 1, trang 1,
phần thực hành số 3 trong danh mục những giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài được khảo sát
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Tỉ lệ của PN hỏi tổng quát trong các giáo trình 39
Bảng 2.2 Tỉ lệ của PN hỏi có từ nghi vấn trong các giáo trình 40
Bảng 2.3 Tỉ lệ của PN hỏi lựa chọn trong các giáo trình 42
Bảng 2.4 Tỉ lệ của PN hỏi có chứa tiểu từ tình thái trong các giáo trình 44
Bảng 2.5 Các loại PN hỏi chính danh được sử dụng trong các giáo trình 45
Bảng 2.6 Các loại PN hỏi chính danh được sử dụng trong các giáo trình cơ sở 51
Bảng 2.7 Các loại PN hỏi chính danh sử dụng trong giáo trình nâng cao .51
Bảng 2.8 Tỉ lệ PN đáp của PN hỏi tổng quát 53
Bảng 2.9 Tỉ lệ PN đáp của PN hỏi có từ nghi vấn .56
Bảng 2.10 Tỉ lệ PN đáp của PN hỏi lựa chọn 58
Bảng 2.11 Tỉ lệ PN đáp của PN hỏi có TTTT 60
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3.1 Sự tương quan giữa PN hỏi chính danh và PN hỏi không chính danh trong các giáo trình 64
Biểu đồ 3.2 Sự tương quan giữa PN đáp trực tiếp và PN đáp gián tiếp 77
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam đang trong quá trình phát triển về mọi mặt Việc mở rộng quan
hệ với nhiều nước trên thế giới đã đem đến cho Việt Nam nhiều cơ hội Ngày nay có rất nhiều người nước ngoài tìm đến Việt Nam để đầu tư kinh tế và tìm hiểu về văn hóa xã hội Và Tiếng Việt đã và đang được coi là nhu cầu và phương tiện cần thiết cho bất cứ người nước ngoài nào muốn hiểu biết về tình hình đất nước, kinh tế, văn hóa, xã hội và con người Việt Nam
Chính vì lẽ đó mà Việc dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ ở Việt Nam cũng như ở nhiều nước trên thế giới ngày càng được mở rộng Nhu cầu học tiếng Việt của người nước ngoài ngày càng nhiều Để đáp ứng với nhu cầu của xã hội và yêu cầu của công tác dạy tiếng, nhiều giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài đã được biên soạn Các giáo trình được biên soạn, (xuất bản ở trong và ngoài nước ) thời kỳ đầu những năm 70, 80 của thế kỷ XX, nói chung nặng về cung cấp những kiến thức lý thuyết Nhưng những giáo trình xuất bản trong những năm gần đây dần dần đã có sự thay đổi theo hướng nhấn mạnh giao tiếp Chẳng hạn như: trong mỗi giáo trình đều thiết kế nhiều bài hội thoại, bài luyện, bài tập cho phù hợp với ngữ cảnh giao tiếp, Và mỗi bài đều gắn với những tình huống cụ thể hơn
Có thể nói, đối với việc dạy tiếng nói chung và dạy tiếng Việt cho người nước ngoài nói riêng, giáo trình được coi là tài liệu cần thiết cho việc lên chương trình đào tạo Có giáo trình thì cả người học lẫn người dạy sẽ lên được kế hoạch một cách cụ thể hơn trong việc dạy cũng như việc học Một giáo trình tốt, thiết thực sẽ góp phần mang lại hiệu quả học tập cao Để làm nên một giáo trình như thế thì phải xây dựng rất nhiều phần như hội thoại, từ vựng, ngữ pháp, bài tập, bài luyện…
Trang 9Với mong muốn là có thể đóng góp một phần trong việc xây dựng giáo trình giao tiếp tiếng Việt hiệu quả hơn cho người nước ngoài Luận văn muốn tập trung vào khảo sát các cặp thoại hỏi – đáp Để từ đó rút ra những gì chung nhất, cụ thể nhất cho việc xây dựng và phát triển hội thoại Đây chính là lý do
mà tôi chọn đề tài này
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trên thực tế, qua quá trình giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài và
đã sử dụng rất nhiều giáo trình khác nhau, tôi nhận thấy: Cấu trúc của một giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài, trên đại thể có bốn phần chính là hội thoại, giải thích ngữ pháp, bài đọc hoặc bài nghe, và bài tập hay bài luyện Mặc dù phần bài tập hay bài luyện có vai trò quan trọng trong việc củng cố phần ngữ liệu đã được cung cấp trong phần ngữ pháp hay bài đọc, bài nghe nhưng phần hội thoại lại là phần quan trọng trong việc hình thành kỹ năng giao tiếp
Trong hoạt động ngôn ngữ nói chung, bên cạnh dạng viết, còn tồn tại dạng nói Về nguồn gốc, dạng ngôn ngữ nói xuất hiện trước và được sử dụng phổ biến hơn dạng ngôn ngữ viết Ngày nay, nhu cầu học của nhiều người cũng thiên về hiệu quả giao tiếp Chính vì thế, luận văn đã chọn cặp thoại hỏi đáp để làm đối tượng nghiên cứu Xuất phát từ suy nghĩ rằng: để hình thành
kỹ năng giao tiếp thì người học phải bắt đầu từ việc trao đáp Nghĩa là có sự tác động qua lại giữa hai người Và cặp thoại hỏi – trả lời trong một cuộc thoại là hình thức giao tiếp đơn giản và dễ làm cho cuộc thoại được kéo dài Trong phạm vi của một luận văn thạc sĩ, dù muốn, tôi cũng không thể khảo sát được tất cả các cặp thoại hỏi đáp trong tất cả các sách tiếng Việt cho người nước ngoài Vì thế, tôi chỉ lựa chọn các quyển sách dạy tiếng Việt được biên soạn và xuất bản ở Việt Nam từ những năm 80 trở lại đây Trên cơ sở đó
có cái nhìn tổng quan về các cặp thoại hỏi – đáp được biên soạn trong các
Trang 10phần hội thoại, ngữ pháp, bài luyện và bài tập Để từ đó, tôi hy vọng có thể tìm ra những phương pháp tốt hơn trong việc biên soạn giáo trình
Các giáo trình xuất bản trước 1980, xuất bản ở nước ngoài và các chương trình dạy tiếng Việt trên đài phát thanh, truyền hình và internet không nằm trong phạm vi khảo sát của luận văn
3 Mục đích và ý nghĩa của đề tài
Luận văn tiến hành khảo sát các cặp thoại hỏi – đáp trong các sách dạy tiếng Việt cho người nước ngoài với mục đích chính là tìm ra những quy tắc hay những cấu trúc phổ biến nhất Từ đó xây dựng nên các bài tập, bài luyện hay cao hơn là các hội thoại phục vụ cho việc giao tiếp bằng tiếng Việt hiệu quả hơn
Luận văn sẽ khảo sát hành vi hỏi cũng như hành vi trả lời trong các cặp thoại Sau đó tiến hành phân loại các hành vi hỏi và hành vi trả lời về mặt hình thức và chức năng Sau quá trình phân loại sẽ nhận xét, đánh giá hiện trạng phân bố của các hành vi này theo trình độ của giáo trình cũng như theo cấu trúc của giáo trình Quá trình này có mục đích cơ bản là tìm ra những cách thức chung nhất, những cái nhìn tổng quan nhất về quá trình phát triển, ứng dụng những phương pháp biên soạn hội thoại trong các sách dạy tiếng Việt cho người nước ngoài Ngoài ra, luận văn cũng hy vọng sẽ tìm ra những điểm mạnh cũng như những điểm hạn chế của từng giáo trình, từng giai đoạn Qua đó có thể phát huy hay khắc phục những hạn chế vào việc biên soạn giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài Để ngày càng có nhiều giáo trình mang tính ứng dụng cao, thiết thực với việc dạy và học
4 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp được sử dụng trong luận văn là:
- phương pháp thống kê
- Phương pháp phân tích
Trang 111 Giáo trình cơ sở tiếng Việt thực hành (I), Trường Đại học Tổng hợp,
Hà Nội 1980
2 Tiếng Việt cho người nước ngoài, Bùi Phụng, Nxb Đại học &Trung học chuyên nghiệp, 1992
3 Tiếng Việt cơ sở, Vũ Văn Thi, Nxb KHXH, 1996
4 Tiếng Việt nâng cao, Nguyễn Thiện Nam, Nxb GD, 1998
5 Thực hành tiếng Việt B ( sách dùng cho người nước ngoài) Đoàn Thiện Thuật (chủ biên), Nxb Thế giới, 2001
6 Thực hành tiếng Việt C ( sách dùng cho người nước ngoài) Đoàn Thiện Thuật (chủ biên), Nxb Thế giới, 2001
7 Tiếng Việt nâng cao dành cho người nước ngoài, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam , Viện ngôn ngữ học, 2003
8 Giáo trình tiếng Việt dành cho người nước ngoài (I) Nguyễn Văn Huệ (chủ biên), Nxb Giáo dục, 2004
9 Giáo trình tiếng Việt dành cho người nước ngoài (II) Nguyễn Văn Huệ (chủ biên), Nxb Giáo dục, 2004
10 Tiếng Việt cho người nước ngoài (trình độ nâng cao), Trịnh Đức Hiển (chủ biên), Nxb ĐHQG Hà Nội, 2005
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung chính của luận văn gồm
có ba chương:
Trang 12Chương 1: Một số vấn đề lý thuyết có liên quan đến đề tài
1.1 Hội thoại
1.2 Cặp thoại
1.3 Cặp thoại hỏi – đáp
1.4 Vai trò của cặp thoại hỏi – đáp trong các giáo trình tiếng Việt
cho người nước ngoài
Chương 2: Khảo sát cặp thoại hỏi – đáp chính danh
2.1 Đặc điểm của các PN hỏi chính danh trong cặp thoại hỏi đáp
2.2 Đặc điểm PN đáp trong cặp thoại hỏi đáp chính danh
2.3 Tiểu kết
Chương 3: Khảo sát cặp thoại hỏi – đáp không chính danh
3.1 Đặc điểm của các PN hỏi trong cặp thoại không chính danh
3.2 Đặc điểm của các PN đáp trong các cặp thoại không chính danh
3.3 Sự tương hợp về mặt hình thức và nội dung của cặp thoại hỏi – đáp 3.4 Tiểu kết
Trang 13CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT CÓ LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Hội thoại
1.1.1 Khái niệm hội thoại
Hội thoại còn là một lĩnh vực nghiên cứu hết sức mới mẻ ở Việt Nam, mới mẻ cả về nội dung lẫn phương pháp nghiên cứu Việc xây dựng một lý thuyết hoàn chỉnh về lĩnh vực này là một mục tiêu của ngữ dụng học Vì vậy việc đưa ra một khái niệm chính xác về hội thoại là điều rất khó Tuy nhiên, trong một số giáo trình ngữ dụng học, các tác giả cũng đã đưa ra được một số khái niệm chung nhất
Có thể đưa ra đây một số khái niệm như: “ Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác.” [7, tr.201] Hay theo Nguyễn Đức Dân thì: “ Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người Trong giao tiếp có giao tiếp một chiều và giao tiếp hai chiều Trong giao tiếp hai chiều, bên này nói, bên kia nghe và phản hồi trở lại Lúc đó vai trò của hai bên thay đổi: Bên nghe lại trở thành bên nói và bên nói lại trở thành bên nghe Đó là hội thoại Hoạt động giao tiếp phổ biến nhất, căn bản nhất của con người là hội thoại.” [9, tr.76]
Như vậy có thể nhận ra rằng hội thoại chính là một cách giao tiếp của con người Nói đến hội thoại là nói đến sự trao đổi, nói chuyện giữa những cá nhân Đây lại là một hoạt động của con người trong xã hội Vì thế khi nghiên cứu về hội thoại, người ta thường gắn nó đến các yếu tố liên quan đến con người và xã hội như tâm lý , phong tục, văn hóa hay dân tộc…
1.1.2 Các đặc điểm của hội thoại
Hội thoại diễn tiến theo những quy tắc nhất định và mang những đặc trưng cơ bản Đặc điểm của một cuộc thoại bao gồm có đặc điểm nội tại và
Trang 14đặc điểm bên ngoài Trong đặc điểm nội tại thì có nêu lên một đặc trưng cơ bản đó là sự tương tác qua lại hay còn gọi là nguyên tắc luân phiên lượt lời Nghĩa là: trong một cuộc thoại, mỗi lúc có một người nói và không nói đồng thời, các người nói luân phiên nhau Đỗ Hữu Châu thì gọi đó là Quy tắc điều
hành luân phiên lượt lời [7, tr.226] : “Theo điều khoản này thì vai nói thường xuyên thay đổi nhau (luân phiên ) trong một cuộc hội thoại Và một cuộc hội thoại lý tưởng là một cuộc hội thoại có sự cân bằng về lượt lời”
Một đặc điểm nội tại của hội thoại là nguyên tắc liên kết hội thoại Nghĩa
là các lượt lời có liên kết với nhau và tạo ra sự liên kết hội thoại Mặc dù sự luân phiên lượt lời trong hội thoại không được xác định từ trước, thứ tự nói năng được xác định theo kiểu tự động, tự nhiên của những người tham dự, nhưng đây lại là sự tự nguyện xây dựng, tạo ra những lượt lời có liên kết Mọi cuộc thoại đều có tính mục đích, đều chứa đựng một hoặc nhiều chủ
đề Những chủ đề, mục đích đó có thể được biểu hiện tường minh hoặc ngầm
ẩn đằng sau các lời thoại, thể hiện qua những hành vi tại lời hay qua những hành vi ngôn ngữ gián tiếp Ví dụ khi mua bán, hỏi đường đi, hỏi thời gian……mục đích được thể hiện tại lời Mục đích của cuộc thoại cũng có thể nằm ở ngoài lời Chẳng hạn những lời bắt chuyện, làm quen, làm lành, hỏi để
thể hiện tình cảm nhằm đạt tới những mục đích khác nhau… “Các cuộc hội thoại khác nhau ở tính có đích hay không có đích” [7, tr.228] Những cuộc
hội thoại như thương thuyết ngoại giao hay hội thảo khoa học có đích được xác định trước rõ ràng Những cuộc tán gẫu được xem là không có đích Tuy nhiên, do hoạt động của con người thì tự chúng đã có đích cho nên nói hội thoại có đích hướng ngoại, phân biệt với hội thoại có đích hướng nội hơn là nói hội thoại có đích hay là không có đích
Bên cạnh những đặc điểm nội tại, Nguyễn Đức Dân còn đưa ra những đặc điểm bên ngoài và thể hiện trên ba phương diện: số lượng, quan hệ và chu
Trang 15cảnh Về số lượng hội thoại thì mỗi cuộc hội thoại đều có giới hạn ở một số lượng người nhất định tham dự, tạo thuận tiện cho sự trao đổi Số lượng nhân vật hội thoại thay đổi từ hai đến một số lượng lớn Có những cuộc hội thoại tay đôi hay còn gọi là song thoại, tay ba ( trilogue), tay tư hoặc nhiều hơn nữa (đa thoại – polylogue) Những cuộc hội thoại như một cuộc hội nghị, một giờ học, một cuộc mít tinh v.v… thì số lượng nhân vật không thể cố định được
Về quan hệ giữa những người tham dự: Trong hội thoại không cần trước một quan hệ cá nhân Nghĩa là trong hội thoại đã giả định một quan hệ bình đẳng giữa những người tham dự Một khi đã có sẵn một quan hệ cá nhân giữa những người tham dự, thì quan hệ này có vai trò không nhỏ đến quá trình hội thoại
Về chu cảnh của những cuộc thoại, có hai phương diện chính là thời gian
và không gian Về thời gian, những người tham dự có cùng một thời lượng Không thể nói trước được một cuộc thoại sẽ kéo dài bao lâu, tối thiểu cũng như tối đa Tuy nhiên có những cuộc thoại mà thời lượng đã được ngầm xác định từ trước Ví dụ: có những cuộc trao đổi trên bến xe, thang máy, phòng làm thủ tục hành chính… có thời lượng tối đa là khoảng thời gian họ bắt buộc ngồi bên nhau Về không gian: có những không gian khác nhau cho mỗi cuộc thoại Tuy nhiên cũng không có hạn chế về không gian Hai người ở hai nơi khác nhau vẫn có thể nói chuyện với nhau qua điện thoại, trao đổi qua thư điện tử Đó vẫn là những cuộc thoại Và không gian cũng có tác động đến cuộc thoại Không gian công cộng khác với không gian riêng Và sự có mặt của người đối thoại có tầm quan trọng đáng kể trong hội thoại vì khi đó người tham gia đối thoại có thể nhìn thấy các cử chỉ, điệu bộ đi kèm để có thể hình dung được nội dung của cuộc thoại và làm cho cuộc thoại thêm phong phú và hấp dẫn hơn
Cuối cùng, thêm một đặc điểm được bổ sung nữa là: Các cuộc hội thoại
có thể khác nhau về tính có hình thức hay không có hình thức Những cuộc
Trang 16hội thảo, hội nghị…là những cuộc hội thảo mà hình thức tổ chức khá chặt chẽ, trang trọng đến mức thành nghi lễ, còn những chuyện đời thường không cần một hình thức tổ chức nào cả
Những đặc điểm của hội thoại trên đây là những phương diện đã và sẽ phải được nghiên cứu Dựa trên sự khái quát hóa một số đặc điểm này mà luận văn có thể ứng dụng vào việc phân tích và tìm hiểu hội thoại Sau khi thống kê, phân tích số liệu, luận văn có thể rút ra được những đặc điểm chung nhất, phục vụ cho mục đích nghiên cứu của mình
1.1.3 Cấu trúc của hội thoại
Mỗi đơn vị trong hệ thống vừa là yếu tố cấu thành đơn vị lớn hơn, đến lượt mình, lại bao gồm các đơn vị nhỏ hơn cấu thành nó Vì vậy, để phân chia cấu trúc của một hệ thống thì người ta phải có một cách phân chia mang tính bao quát nhất và chung nhất Và việc phân chia chắc chắn cũng có nhiều cách khác nhau, tùy theo quan điểm của người nghiên cứu Quan điểm phân chia cấu trúc của hội thoại cũng không nằm ngoài quy luật như thế
Các cuộc hội thoại có thể khác nhau và thiên biến vạn hóa, nhưng giữa chúng vẫn có những cái gì chung về cấu trúc Có ba trường phái có quan điểm khác nhau về cấu trúc hội thoại Thứ nhất là trường phái phân tích hội thoại ở
Mĩ (conversation analysis), thứ hai là trường phái phân tích diễn ngôn (discourse analysis) ở Anh và thứ ba là trường phái lý thuyết hội thoại ở Thụy
Trang 17b Cấu trúc hội thoại theo trường phái phân tích diễn ngôn gồm có
- Cấu trúc bậc của hội thoại
- Hành vi
- Bước thoại
- Cặp thoại
- Đoạn thoại và bài học
c Cấu trúc hội thoại theo lý thuyết hội thoại Thụy Sĩ – Pháp gồm các loại
- Các đơn vị hội thoại
- “Chúng tôi chấp nhận cấu trúc bậc hay cấu trúc tôn ti của trường phái Birmingham (trường phái phân tích diễn ngôn).” [7, tr.344]
- “Ở bậc thứ nhất là cuộc thoại hay cuộc tương tác theo thuật ngữ của
cả ba trường phái.” [7, tr.345]
Trang 18- “Dưới các cuộc thoại là đoạn thoại Tạm thời chúng tôi chấp nhận quan điểm cho rằng đoạn thoại là những phần của cuộc thoại giải quyết một phần của đề tài diễn ngôn.” [7,tr.345]
- Dưới đoạn thoại là cặp thoại Nhưng cặp thoại là cấu trúc gồm hai tham thoại do hai đối tác của cuộc hội thoại tạo nên cho nên muốn xác định cặp thoại phải nhận diện cho được các tham thoại Bởi vậy chúng ta phải thảo luận tham thoại trước khi bàn về cặp thoại.”[7, tr.345]
Như vậy có thể thấy rõ là hội thoại cũng có những cấu trúc tôn ti tương
tự như một đơn vị cú pháp Theo những nhận xét trên của Đỗ Hữu Châu thì
có thể kết luận về các đơn vị của cấu trúc hội thoại là: Cuộc thoại (cuộc tương tác), đoạn thoại, cặp thoại Ba đơn vị này là ba đơn vị lưỡng thoại, có nghĩa là
do hai thoại nhân tạo nên do vận động trao đáp Hai đơn vị khác là tham thoại (bước thoại) và hành động ngôn ngữ là đơn vị đơn thoại, do một thoại nhân nói ra Lượt lời không phải là đơn vị hội thoại Một lượt lời có thể bằng hoặc lớn hơn, hoặc nhỏ hơn một tham thoại
1.1.4 Chức năng của các đơn vị hội thoại
Trong phần trên, luận văn đã tiến hành phân tích và tìm hiểu cấu trúc của hội thoại Trong mục này sẽ tổng hợp lại những chức năng của các đơn vị hội thoại đã nói ở mục trên để có cái nhìn bao quát về chúng Chức năng là vai trò mà các đơn vị hội thoại đảm nhiệm trong diễn tiến của cuộc thoại Cụ thể là các chức năng sau:
1.1.4.1 Chức năng dẫn nhập và hồi đáp
“ Giữa các tham thoại trong cặp thoại có chức năng dẫn nhập và hồi đáp Cần chú ý trong cặp thoại ba tham thoại, chỉ tham thoại thứ nhất mới có chức năng dẫn nhập và tham thoại thứ ba kết thúc mới có chức năng hồi đáp Còn tham thoại ở giữa vừa có chức năng hồi đáp vừa có chức năng dẫn nhập.” [6, tr.125]
Trang 19Ví dụ:
- Sp1a: Thế nào? Khỏe ra chứ?
- Sp2a: Cảm ơn thày, em đỡ rồi ạ
- Sp1b: Trông anh gầy đi nhiều đấ
[Q6, tr.131]
Tham thoại Sp2a vừa hồi đáp cho Sp1a, vừa dẫn nhập cho Sp1b Nhìn chung, khi cuộc thoại diễn tiến không ngắt quãng, các tham thoại thường đảm nhiệm cả hai chức năng hồi đáp và dẫn nhập nếu người thoại không đưa ra một tham thoại dẫn nhập mới
1.1.4.2 Chức năng triển khai cuộc thoại
Mở thoại, kết thoại, triển khai thân thoại, tiền dẫn nhập là những chức năng của tham thoại và của cặp thoại trong cuộc thoại
Trong một cuộc nói chuyện, người ta có thể trao đổi hết vấn đề này sang vấn đề khác Nhưng bao giờ cũng có lúc bắt đầu và lúc kết thúc Chúng làm nên ranh giới của một cuộc thoại Lúc bắt đầu được gọi là mở thoại, luôn luôn
do một bên chủ động Lúc kết thúc cũng do một bên chủ động đề ra, gọi là kết thoại giữa phần mở thoại và phần kết thoại là phần trung tâm của cuộc thoại gọi là phần thân thoại
1.1.4.3 Chức năng điều chỉnh
Điều chỉnh là chức năng của tham thoại và của cặp thoại có tác dụng điều chỉnh quan hệ liên cá nhân hoặc điều chỉnh sự trục trặc trong vận hành các đơn vị hội thoại về hình thức hoặc về nội dung
Trong chức năng điều chỉnh còn có chức năng củng cố Đây là chức năng của tham thoại hay cặp thoại nhằm thiết lập và duy trì sự hài hòa của các quan hệ liên cá nhân để cuộc hội thoại tiến hành thuận lợi
Ngoài ra còn có chức năng sửa chữa nhằm sửa chữa những sai phạm mà thoại nhân mắc phải trong hội thoại, những sai phạm đối với cơ thể, thức ăn,
Trang 20đồ dùng, đối với các vấn đề văn hóa của dân tộc Đó là những lời xin lỗi, những lời thanh minh thường gặp
1.2 Cặp thoại
1.2.1 Khái niệm
Các lượt lời kế tiếp nhau làm nên cuộc thoại Vì thế, trong ngữ dụng học
có khái niệm cặp thoại như sau: “Cặp thoại là đơn vị lưỡng thoại nhỏ nhất của cuộc thoại do các tham thoại tạo nên.” [7, tr.320]
Trong luận án tiến sĩ ngữ văn, Phạm Văn Thấu cũng đã cung cấp những
luận điểm như sau: “ Cặp thoại là sự hợp thành của những tham thoại kế cận, của những người nói khác nhau Nếu tham thoại là phần đóng góp của người nói vào mỗi cặp thoại thì điều đó cũng có nghĩa là cặp thoại chứa đựng các tham thoại, hay các tham thoại trong quan hệ tương tác với nhau làm thành cặp thoại Vì thế, cặp thoại còn được gọi là cặp tương tác.” [30, tr 69]
Như vậy, trong hệ thống cấu trúc của hội thoại thì cặp thoại là đơn vị lưỡng thoại nhỏ nhất nhưng không phải là đơn vị cuối cùng Nó nằm giữa đoạn thoại (đơn vị bậc trên) và tham thoại (đơn vị bậc dưới) Cặp thoại thể hiện được những đặc trưng nhất của quan hệ trao đáp Để hiểu được hội thoại thì cần phải hiểu cặp thoại Đây cũng chính là lý do mà luận văn chọn cặp thoại làm đối tượng để khảo sát
1.2.2 Đặc điểm của cặp thoại
Cặp thoại được tạo bởi sự tương thích của các tham thoại dẫn nhập và hồi đáp, thỏa mãn các đặc trưng tuyến tính, đặc trưng kế cận và đặc trưng tích cực/tiêu cực Cụ thể các đặc trưng như sau:
Trang 21cách ngẫu nhiên, tùy tiện Chúng được tổ chức, thực hiện theo một quy tắc chặt chẽ, tuân theo những quy tắc chi phối hội thoại, việc gì sẽ dẫn tới việc gì,
ai nói và sẽ nói khi nào.” [9, tr 96]
Đặc điểm chung của quan hệ trao đáp trước hết phản ánh quan hệ tuyến tính trong cặp thoại Trong cặp thoại, tham thoại dẫn nhập phải có trước tham thoại hồi đáp Dẫn nhập có chức năng định hướng cho hồi đáp, hồi đáp có chức năng giả định cho dẫn nhập, đó cũng chính là cái lõi của hội thoại
1.2.2.2 Tính kế cận
“Hai tham thoại tương tác với nhau làm thành cặp kế cận Tính kế cận được hiểu là sự tương thích của các tham thoại trong quan hệ trao đáp và là một thuộc tính phổ biến của mọi cặp thoại” [30, tr 71] Như vậy, tính kế cận
ở đây có thể hiểu được là mức độ tương ứng giữa các hiệu lực dẫn nhập và hồi đáp Cần phân biệt tính kế cận với tính chất tuyến tính Tính kế cận không đồng nhất với tính chất tuyến tính Các tham thoại ở những vị trí liền nhau tức
là có sự kế tiếp từ dẫn nhập sang hồi đáp sẽ làm thành cặp kế cận, nhưng không phải cặp thoại nào cũng đều có sự liền kề của các tham thoại
1.2.2.3 Đặc trưng tích cực / tiêu cực
Khi một cặp thoại thỏa mãn được đích của tham thoại dẫn nhập thì đó là một cặp thoại tích cực Cặp thoại tích cực là những cặp thoại bình thường và người ta có thể kết thúc cặp thoại ở đó Còn cặp thoại tiêu cực là khi tham thoại hồi đáp đi ngược lại với đích của tham thoại dẫn nhập Cụ thể những cặp thoại sau đây được coi là tích cực: ra lệnh – tuân lệnh, yêu cầu – chấp nhận, khen tặng – tiếp nhận, mời – nhận lời, hỏi – trả lời, nhận định – tán thành, phê bình – tiếp thu, v.v Những cặp thoại sau đây là cặp thoại tiêu cực: mời – từ chối, khen tặng – khước từ, yêu cầu – từ chối, hỏi – hỏi lại, trả lời (không thuận theo sự chờ đợi), mắng – cãi, phê bình – phủ nhận, …
Trang 221.2.3 Các loại cặp thoại
Căn cứ vào số lượng tham thoại trong một cặp thoại thì về lí thuyết ta thấy có những kiểu cặp thoại cơ bản sau đây:
1.2.3.1 Cặp thoại một tham thoại
“Về nguyên tắc, cặp ít nhất phải có hai tham thoại của hai nhân vật.”
[7, tr 321] Tuy nhiên, trong giao tiếp vẫn có cặp thoại chỉ có một tham thoại Cặp thoại một tham thoại là cặp thoại đơn giản nhưng lại không bình thường
về cấu tạo Chúng ta gọi những cặp thoại này là cặp thoại hẫng Nhưng loại này lại khá phổ biến trong giao tiếp hàng ngày Đó có thể là cặp thoại được dẫn nhập bằng hành vi kích thích, yêu cầu sự phản ứng bằng hành động của người đối thoại, chẳng hạn như những hành vi cầu khiến, ra lệnh, thậm chí là hồi đáp bằng sự im lặng
1.2.3.2 Cặp thoại hai tham thoại
Loại này là phổ biến và là loại thông thường trong hội thoại, mỗi tham thoại ứng với một chức năng ổn định Tham thoại thứ nhất có chức năng dẫn nhập (initiative), tham thoại thứ hai là tham thoại hồi đáp (reactive)
Ví dụ: Sp1: Anh đi đâu đấy?
Sp2: Tôi đi làm
Để cụ thể hóa các cặp thoại thì đã có nhiều nghiên cứu để xây dựng các
mô hình dựa vào các kiểu câu chia theo mục đích phát ngôn Trong đó có thể tổng kết thành các loại như: trần thuật – trần thuật, trần thuật – hỏi, hỏi – mệnh lệnh, hỏi – cảm thán, mệnh lệnh – trần thuật, mệnh lệnh – hỏi v.v…
Trang 23Các mô hình này thực chất là sự cụ thể hóa bằng các đơn vị ngữ pháp biểu hiện trên bề mặt các phát ngôn Đây là những cặp thoại hai tham thoại đơn giản, phổ biến trong thực tế giao tiếp
Nhưng qua nhiều khảo sát từ các đề tài nghiên cứu về cặp thoại thì tần số xuất hiện của câu hỏi có vai trò dẫn nhập chiếm tỉ lệ cao nhất trong giao tiếp hàng ngày Đây cũng chính là lý do mà luận văn muốn chọn để khảo sát
1.2.3.3 Cặp thoại ba tham thoại
Thường thì hai tham thoại trong một cặp là đủ Nghĩa là chỉ cần có tham thoại dẫn nhập và hồi đáp là đủ Tuy vậy, mỗi tham thoại hồi đáp đều tiềm tàng khả năng dẫn nhập mà từ đây hội thoại sẽ được triển khai Cấu trúc điển hình của loại này là:
Sự phức tạp ở đây không chỉ là do có nhiều tham thoại mà ngay cả khi
có ít tham thoại nhưng chúng lại có nhiều hành vi với nhiều mối quan hệ chồng chéo nhau
Có thể là trong lời dẫn nhập có nhiều tham thoại nhưng trong lời hồi đáp lại chỉ có một tham thoại
Ví dụ:
A: Mất tiền rồi Bây giờ tao phải làm gì? Về nhà nói với bố mẹ thế nào đây? B: Sao lại mất?
Trang 24Cũng có thể là trong lời dẫn nhập chỉ có một tham thoại nhưng trong lời hồi đáp lại có nhiều tham thoại Chẳng hạn như:
A: Mày bảo ai nói dối?
B: Ai nói không quan trọng Thế mày mà không nói dối à? im miệng ngay đi
Có thể là trong lời dẫn nhập có nhiều tham thoại (như hỏi và ra lệnh) Và
có thể có nhiều tham thoại hồi đáp (như trả lời và im lặng)
Ví dụ:
Mẹ: Mày đi đâu về muộn thế? Nằm xuống!
Con: Con đi chơi ạ (sau đó nằm xuống)
Nói chung, các cách khái quát để phân loại các cặp thoại như trên chỉ phản ánh một phần nào của quan hệ trao đáp trong cặp thoại Trong thực tế, cấu trúc của cặp thoại phức tạp hơn nhiều Các cặp thoại hai và ba tham thoại
là loại phổ biến nhất và tự nhiên nhất trong hội thoại giao tiếp hàng ngày Trong các cặp thoại ấy thì quan hệ hỏi – đáp lại chiếm tỉ lệ khá cao và phổ biến Do đó, loại cặp thoại hai tham thoại được chúng tôi chọn làm đối tượng
Theo Đại từ điển Tiếng Việt, có đưa ra một số khái niệm của hỏi là: “1 Nói ra điều cần được chỉ dẫn hoặc cần làm sáng tỏ 2.Yêu cầu được đáp ứng
3 Kiểm tra kiến thức” [35, tr.728] Còn khái niệm đáp được giải thích với các
Trang 25nghĩa là: “1 Trả lời 2 Ủng hộ, đồng tình bằng hành động, việc làm cụ thể”
[35, tr 481]
Theo từ điển tiếng Việt phổ thông [33, tr.400], cũng giải thích hỏi theo
các nghĩa sau: “1 Nói ra điều mình muốn người ta cho mình biết với yêu cầu được trả lời 2 Nói ra điều mình đòi hỏi hoặc mong muốn ở người ta với yêu cầu được đáp ứng 3 Nói lời chào, thăm khi gặp nhau, theo phép xã giao, chào hỏi”.Còn đáp được giải thích là: “1 Trả lời 2 biểu thị bằng hành động, thái độ trước yêu cầu, việc làm hoặc thái độ tốt của người khác.” [33, tr.260]
Như vậy xét về đặc điểm chung của các cách giải thích trên có thể tổng quát được các cách hiểu như sau: hỏi là đưa ra yêu cầu và cần được đáp ứng, hoặc trả lời Còn đáp là trả lời cho những yêu cầu được đưa ra Như vậy chúng ta cũng có thể hiểu cặp thoại hỏi đáp là đơn vị lưỡng thoại nhỏ nhất của cuộc thoại trong đó lượt lời thứ nhất là đưa ra yêu cầu cần được trả lời, còn lượt lời thứ hai là trả lời cho những yêu cầu của lượt lời thứ nhất Trong luận văn này, chúng tôi cũng thống nhất sử dụng cách dùng phát ngôn hỏi và phát ngôn đáp để thể hiện sự trao đáp trong giao tiếp thay cho câu hỏi và câu đáp
Vì phát ngôn là đơn vị hiện thực của câu trong giao tiếp
1.3.2 Đặc điểm
Cặp thoại hỏi – đáp thực chất là một loại của cặp thoại, vì vậy nó cũng mang đầy đủ các đặc điểm của một cặp thoại như đặc trưng tuyến tính, tính kế cận, đặc trưng tích cực và tiêu cực Do đó về những đặc điểm này không cần phân tích rõ hơn nữa mà trong phần này luận văn sẽ đề cập đến tính chất hỏi
và đáp của cặp thoại
Hỏi và đáp thực chất là hai mặt của một quá trình thống nhất, nó là tiền
đề tồn tại của nhau Hỏi và trả lời gắn bó với nhau rất chặt chẽ Sự thống nhất
về chức năng của hai mặt hỏi và trả lời trong quá trình giao tiếp nhận thức có mục đích làm sáng tỏ một tình huống chưa biết, chưa rõ
Trang 26Trong luận án tiến sĩ của Lê Đông về ngữ nghĩa – ngữ dụng của câu hỏi
chính danh có đưa ra một số đặc điểm của Hỏi và trả lời: “Hỏi hướng tới trả lời làm mục đích, còn trả lời lấy việc thỏa mãn hỏi làm mục đích theo đúng tinh thần hợp tác hội thoại, tuân thủ một chương trình đối thoại trong đó có
sự tương tác của các hành vi mang tính chế định xã hội.” Như vậy có thể nói
rằng: Trong quá trình đối thoại, nếu người hỏi thiếu hụt thông tin thì ngược lại, người được hỏi cung cấp thông tin thiếu hụt đó Ngoài ra, trong quá trình thực hiện những hành vi ứng xử của con người, mỗi mặt hỏi và trả lời, trong khi thực hiện các chức năng riêng – chức năng bộ phận thể hiện tính độc lập tương đối của mình, thì lại cùng hướng tới thực hiện một chức năng chung là đều nhằm đi tới cái đích cuối cùng là giải thích, làm sáng tỏ một tình huống chứa điều chưa biết, chưa rõ và cần rõ H.G Gadamer trên quan điểm logic – triết học và H Weinrich trên quan điểm ngôn ngữ học, đều nhận thấy: hỏi cũng như trả lời, cùng thực hiện chức năng giao tiếp cả
Có thể kết luận rằng: đặc điểm chính của hỏi và đáp là tìm kiếm thông tin cho những nghi vấn mà người hỏi muốn làm sáng tỏ Ngoài ra, nó còn có thêm đặc điểm nữa là thực hiện chức năng giao tiếp, để duy trì cuộc thoại, làm cho cuộc thoại được tiếp diễn lâu hơn
1.3.3 Các loại cặp thoại hỏi – đáp
1.3.3.1 Phân loại theo số lượng tham thoại
Sự phân loại của cặp thoại hỏi đáp dựa trên số lượng của tham thoại giống như sự phân loại của cặp thoại nói chung Căn cứ vào số lượng tham thoại thì ta thấy cặp thoại hỏi đáp cũng có các loại như sau:
Cặp thoại hỏi đáp một tham thoại
Ví dụ như:
- A: Anh mua giúp em tờ báo được không?
- B: ( gật đầu)
Trang 27Cặp thoại hỏi đáp hai tham thoại: Ví dụ như:
A: Anh đã kết hôn chưa?
B: Tôi kết hôn rồi
Cặp thoại hỏi đáp ba tham thoại: Ví dụ như:
A: Ở đây có gì?
B: Các anh ăn rau muống hay rau cải?
A: Cho rau cải xào
1.3.3.2 Phân loại theo cấu trúc tham thoại
Mối quan hệ của hỏi và đáp không chỉ thể hiện ở mặt nội dung mà còn thể hiện ở mặt hình thức Xét về mặt hình thức của hành vi hỏi trong cặp thoại hỏi đáp thì có thể chia ra làm các loại như sau:
a Câu hỏi tổng quát
Là các câu hỏi có dạng như: ….có …không?, đã …chưa?, ….có phải không?, đã…bao giờ chưa?, là…phải không?v.v Các câu hỏi này yêu cầu một câu trả lời thông báo về một sự kiện hay một tham số nào đó của sự kiện được tiền giả định biểu thị là hiện thực Do đó các câu trả lời này chỉ nhằm mục đích duy nhất là xác định tính đúng / sai hay xác nhận thông tin mà câu hỏi đã đặt ra Người trả lời không cần phải quá lo lắng hay suy nghĩ gì nhiều
về mục đích của câu hỏi
b Câu hỏi có từ nghi vấn
Là các loại câu hỏi có từ để hỏi như: bao giờ, tại sao, gì, nào, khi nào, ở đâu, ai, thế nào, v.v…Các câu hỏi này có mục đích tìm kiếm thông tin cụ thể
về người, vật, thời gian, tính chất v.v Do đó câu trả lời là cung cấp thông tin cần thiết cho câu hỏi nhằm thỏa mãn những điều này
c Câu hỏi lựa chọn
Dạng A hay B, A hay là B, A hoặc B, A hoặc là B, v.v… Loại câu hỏi này, người nói nêu ra hai khả năng và yêu cầu người nghe lựa chọn, xác nhận một trong hai khả năng đó
Trang 28d Câu hỏi chứa tiểu từ tình thái
À, ư, nhỉ, nhé, chứ, thế, hả, v.v….Là những tiểu từ tình thái được sử dụng trong câu hỏi Các câu hỏi này biểu thị những sắc thái tình cảm, thái
độ khác nhau của người hỏi Có thể là sự ngạc nhiên với “à, ư, nhỉ, sao”, ngờ vực với “dễ, dễ thường”, yêu cầu người nghe tán thành với “nhỉ, nhé ”…
Tương ứng với các loại câu hỏi xét theo mặt hình thức thì ta cũng phân loại câu trả lời về mặt hình thức như sau: Xét về hình thức thì các câu trả lời đó phù hợp với dạng hỏi Ví dụ: khi câu hỏi dạng: có…không? thì câu trả lời sẽ là Có hoặc không Khi câu hỏi là …đã
…chưa? thì câu trả lời là Rồi hoặc Chưa Khi câu hỏi là Khi nào thì câu trả lời sẽ là thời gian Khi câu hỏi là “Tại sao” thì câu trả lời tương ứng
những cách tương ứng với các hành vi hỏi Theo Borillo, 1978 “ Khi nghiên cứu về câu hỏi, người ta hầu như không thể tránh khỏi việc phải quan tâm đến cặp câu được hình thành bởi một câu hỏi và một câu trả lời có khả năng phù hợp với nó cả về mặt cú pháp lẫn ngữ nghĩa.”
Trang 291.3.3.3 Phân loại theo chức năng tham thoại
a Cặp thoại có tham thoại là câu hỏi chính danh
Xét về mặt chức năng thì ý nghĩa của tham thoại có thể được xem xét ở mục đích của lời hỏi Thông qua ý nghĩa của lời hỏi mà chúng ta có thể phân loại thành câu hỏi chính danh hay không chính danh
Câu hỏi chính danh, “Đó là những câu hỏi yêu cầu một câu trả lời thông báo về một sự tình hay về một tham tố nào đó của một sự tình được tiền giả định là hiện thực” [19, tr.212] Ý nghĩa của câu hỏi có thể được xác định
thông qua ý nghĩa của sự tương ứng giữa câu hỏi và câu đáp Cũng có thể gọi đây là loại câu hỏi – yêu cầu thông tin Những câu hỏi này chỉ mang giá trị ngôn trung trực tiếp và người được hỏi buộc phải có câu trả lời
Ví dụ:
H: Anh có ăn nem rán không?
Đ: Có, cho tôi một đĩa
[Q9, tr 173] Đây là câu hỏi trực tiếp, người hỏi đang thực hiện hành vi hỏi với đối tượng được hỏi Trong sự tương tác với câu hỏi, người trả lời đã đáp ứng được yêu cầu thông tin của người hỏi
Câu hỏi biểu thị hành vi hỏi được thực hiện khi người hỏi muốn đón nhận tri thức mới thông qua các đại từ nghi vấn, khi người hỏi muốn biết đó
là ai, cái gì, sự việc gì, khi nào,…Đó là khi người hỏi thực hiện chức năng cầu khiến về mặt thông tin đối với người được hỏi và người được hỏi phải có trách nhiệm cung cấp thông tin đó
Ví dụ:
H: Cậu định bao giờ chuyển đến nhà mới?
Đ: Tháng sau
[Q9, tr 28]
Trang 30Xét về mặt cấu trúc thì câu hỏi chính danh bao gồm các loại câu hỏi như sau: (1) Câu hỏi tổng quát
Có cấu tạo như câu trần thuật, “đó là những yêu cầu cho biết thực cách của cả một mệnh đề, mà cái thực cách này vốn lệ thuộc vào tình thái của sở thuyết, cho nên những yếu tố nghi vấn chính là những vị từ tình thái là trung tâm vị ngữ.” [19, tr 215]
Ví dụ:
H: Anh có gặp Hiền không?
Đ: Có / không
(2) Câu hỏi chuyên biệt
“Được cấu tạo như một câu trần thuật, với một yếu tố nghi vấn (do một đại từ bất định làm nòng cốt như tại sao, bao giờ, ở đâu….) được đặt ở vị trí
do chức năng cú pháp của nó quy định” [19, tr 216]
Ví dụ: Anh gặp ai thế? Trả lời: Tôi gặp Mai
Ngoài hai loại câu hỏi chính danh trên thì xét về mặt cấu trúc và hình thức còn có thể phân loại theo cách cụ thể như đã phân tích ở mục 1.3.3.2 Do
đó câu hỏi chính danh có thể được phân loại cả về mặt nội dung và cấu trúc
b Cặp thoại có tham thoại là câu hỏi không chính danh
Trong thực tế giao tiếp, một phát ngôn thường không phải chỉ có một đích ở lời mà nó còn thể hiện những đích khác nhau Cũng như vậy, câu hỏi không thể hiện hành vi hỏi là loại câu hỏi mang giá trị ngôn trung gián tiếp, nghĩa là trong thực tế giao tiếp, câu hỏi đó không nhằm mục đích để hỏi mà đồng thời thực hiện một số hành vi như: Khẳng định, phủ định, cầu khiến, phỏng đoán, nghi ngờ….Những câu hỏi này được xếp vào loại câu hỏi không chính danh Theo sự phân loại của Cao Xuân Hạo trong Sơ thảo ngữ pháp chức năng thì có các loại câu hỏi không chính danh sau:
Trang 31(1) Câu hỏi có giá trị cầu khiến
Cầu khiến là hành vi bày tỏ thái độ cầu khiến (mong muốn người nghe thực hiện) hay mệnh lệnh (bắt buộc người nghe thực hiện)
Khi một câu hỏi không có yêu cầu cung cấp một thông báo nào tương ứng với nội dung câu hỏi mà chỉ muốn người nghe cho phép mình được thực hiện một hành vi gì đó hay đề nghị người nghe thực hiện một hành vi gì đó thì câu hỏi này có ý nghĩa cầu khiến Nhưng một câu hỏi mang giá trị cầu khiến thì cũng không dễ gì để phân biệt Để phân biệt câu nghi vấn có giá trị cầu khiến thì phải dựa vào ngữ cảnh và nói chung phải đặt trong sự tương tác giữa câu trao và câu đáp
Ví dụ: A: Ông có bút không? trong trường hợp này nếu câu trả lời là “có/ không” thì câu hỏi này là câu hỏi chính danh Nhưng nếu câu trả lời là “Bút đây Ông cầm lấy mà dùng” thì câu hỏi lại là câu hỏi không chính danh mang giá trị cầu khiến Người hỏi muốn bày tỏ mong muốn được mượn bút nhưng với thái độ lịch sự, tế nhị
Khi xem xét bất cứ một loại câu nghi vấn , nếu chỉ dựa vào câu trả lời để biết được câu hỏi đó là câu cầu khiến thì chưa hoàn toàn chính xác Bởi hầu như lời nói nào, ngoài việc xem xét về ngữ nghĩa ngữ dụng cũng đều bị chi phối bởi hoàn cảnh giao tiếp Vì vậy, khi xét câu hỏi có giá trị cầu khiến, chúng ta cần đặt trong ngữ cảnh và trong sự tương tác với câu trả lời
(2) Câu hỏi có giá trị khẳng định
Khẳng định là một hành động ngôn trung nêu lên các sự vật, hiện tượng nhận định là có tồn tại Người ta thường coi khẳng định là hoạt động ngôn trung điển hình, phổ biến nhất trong câu trần thuật Tuy nhiên, người ta cũng
có thể dùng câu nghi vấn để thực hiện hành vi khẳng định Lúc đó, câu nghi vấn có chức năng dụng học là nhằm khẳng định lại một sự vật, một hiện tượng được thừa nhận là tồn tại Đây là một loại câu hỏi không chính danh
Trang 32Hình thức của câu nghi vấn khẳng định là người ta thường sử dụng các
từ ngữ nghi vấn như: Chứ đâu?, chứ ai?, chứ sao?, chẳng phải…hay sao?, Chứ không?
Ví dụ: Chính anh làm hỏng việc chứ ai?
“ Có những câu hỏi có hình thức giống như các câu hỏi tổng quát dạng (
có / không) nhưng ngữ điệu không cao bằng các câu hỏi này, phần mệnh đề chỉ gồm có một vị ngữ chỉ trạng thái, không có chủ đề, nhưng có thể có khung
đề và cũng có thể có yếu tố tình thái câu, có giá trị ngôn trung khẳng định.”
[19, tr.218]
Ví dụ: 1 Anh bảo như thế có khổ không?
2.Nghe bố mà lấy nó có phải sướng một đời không?
Đa số các câu hỏi có giá trị khẳng định là những câu hỏi cấu tạo từ một câu phủ định
Ví dụ: 1 Ai mà chẳng biết chuyện ấy?
2.Không buồn sao được?
Bên cạnh đó còn có những câu hỏi phủ định có dạng “không / chẳng (phải) – vị ngữ - sao?”, hay “không / chẳng – vị ngữ - là gì?”
Ví dụ: 1 Làm như vậy chẳng phải là đê tiện lắm sao?
2.Cái này chẳng phải của anh là gì?
(3) Câu hỏi có giá trị phủ định
Phủ định là hành vi xác nhận sự vắng mặt hay không tồn tại của sự vật hiện tượng, đây là loại câu mang hành vi điển hình của câu trần thuật nhưng lại mang chiều hướng phủ định Hỏi để phủ định là hành động phủ nhận gián tiếp ý kiến của đối phương, người ta dùng câu nghi vấn để phủ định một sự vật hiện tượng nào đó xảy ra trong cuộc sống, trong sinh hoạt, giao tiếp Hình thức của câu nghi vấn phủ định khá phong phú và đa dạng Căn cứ vào ý nghĩa bị phủ định có thể chia ra: câu phủ định bác bỏ, câu phủ định từ
Trang 33chối, câu phủ định mắng mỏ, chửi bới, câu phủ định tường thuật Những câu nghi vấn có giá trị phủ định người ta dùng phương tiện hành động là những đại từ nghi vấn như: ai, gì, mấy, sao, nào , bao, nhiêu, bao giờ hay những danh ngữ có định tố nghi vấn gì, nào
Ví dụ: 1 Bài khó thế này ai mà làm được? (= không ai làm được)
2.Vấn đề này tôi làm sao mà giải quyết được?( = không giải quyết được) 3.Nó bỏ đi như thế thì tìm làm gì? (= không cần tìm)
Những câu nghi vấn như thế đôi khi có thể trả lời như một câu hỏi chính danh, tuy câu trả lời đó thường có giá trị phản bác hay đính chính và thường
là bất ngờ đối với người nói
Câu nghi vấn phủ định có giá trị bác bỏ thường dùng các đại từ nghi vấn chuyển thành các đại từ phiếm định như: đâu, nào…đặt trong những kết cấu
ổn định
Ví dụ: 1 Ở đây có ai biết tiếng Anh đâu?
2.Có phải tôi muốn chê anh đâu?
(4) Câu hỏi có giá trị phỏng đoán hay ngờ vực, ngần ngại
Phỏng đoán, ngờ vực là hành vi thể hiện thái độ phân vân, không chắc chắn trước một sự kiện, hành động nào đó Đó có thể là một sự đoán định, nghi ngờ…
“Đây là những câu hỏi bắt đầu bằng cụm từ “phải chăng, hay là, không biết” đặt trước một cú (cú có cấu trúc Đề - Thuyết giống câu, nhưng được dùng ở chức năng ngữ pháp là một thành phần của câu, là vế câu) hoặc bắt đầu có thể bằng từ “liệu” đặt trước một cú và kết thúc thường bằng từ
“chăng, không biết, không nhỉ” bày tỏ thái độ phỏng đoán, ngờ vực đối với tính chân xác của mệnh đề trong câu” [12, tr 142]
Ví dụ: 1 Phải chăng anh ấy không đến?
2.Cô ta có chuyện gì thế không biết?
Trang 34Kiểu câu này có thể dùng cả trong độc thoại lẫn trong đối thoại, có thể được trả lời trực tiếp hay không trực tiếp hoặc không cần trả lời Khi xuất hiện hành vi phỏng đoán ngờ vực là đồng thời người nghe cũng biểu hiện thái
độ đồng tình ủng hộ hoặc phản đối, phủ nhận sự phỏng đoán nghi ngờ đó Người đưa ra câu nghi vấn có thể sẽ là người đi tìm câu trả lời cho câu hỏi đó Trong loại câu nghi vấn phỏng đoán, ngờ vực này thường không có cấu trúc nhất định nào Nhưng cũng có những dấu hiệu nhận biết bằng từ ngữ như: ước chừng, có lẽ, phải chăng, chắc là, sao, kết từ “hay”…
Ví dụ: 1 Ước chừng mấy cân thì đủ?
2 Hay đây là cạm bẫy?
3 Sao đã lâu không thấy anh ấy gọi điện?
(5) Câu hỏi có giá trị cảm thán
Có những câu cảm thán sử dụng một hình thức nghi vấn nhưng lại mang một ngữ điệu có sắc thái cảm xúc khác, và không cần câu trả lời Hình thức nghi vấn chỉ biểu hiện thông qua các từ ngữ nghi vấn như: biết mấy, biết bao, bao nhiêu, chừng nào, nhường nào, sao, đâu…
Ví dụ: 1 Đẹp biết bao!
2.Trời hôm nay sao mà đẹp thế!
3.Được như thế này thì tốt biết chừng nào!
Tóm lại, câu hỏi có thể được phân loại theo cấu trúc cũng như chức năng Về mặt chức năng, PN hỏi có thể thuộc loại chính danh hoặc không chính danh Nếu là PN hỏi không chính danh thì ngoài việc xem xét về mặt cấu trúc, ta cũng cần phải xem xét chúng về mặt chức năng Vì bên cạnh giá trị ngôn trung trực tiếp biểu hiện hành vi hỏi còn là hình thức để thực hiện một loạt các hành vi giao tiếp khác như cầu khiến, phủ định, khẳng định, phỏng đoán, ngờ vực, trách móc – phàn nàn, cảm thán…Để có thể xác định được giá trị của các PN hỏi đó thì người ta cần phải xem xét nó cả về mặt cấu
Trang 35trúc lẫn chức năng cũng như xem xét nó trong những ngữ cảnh cụ thể, ngoài
ra cần phải dựa vào thái độ của người hỏi, ngữ điệu để diễn đạt v.v
1.3.4 Mối quan hệ giữa PN hỏi và đáp
1.3.4.1 Vai trò của PN hỏi và trả lời
Hỏi và trả lời là một hoạt động giao tiếp có tần số sử dụng cao trong hội thoại hàng ngày Hành động Hỏi đã được giới nghiên cứu chú ý từ lâu trong ngôn ngữ học truyền thống Cho đến bây giờ, nó được ngữ dụng học chú ý nhiều hơn và nghiên cứu ở nhiều góc độ mới mẻ hơn Nhưng trả lời – hành động kéo theo của hành động hỏi thì lại chưa được chú ý một cách thỏa đáng Cặp thoại hỏi – đáp với lượt lời thứ nhất ( lời hỏi ) và lượt lời thứ hai (trả lời) có mối quan hệ mật thiết với nhau Chính câu hỏi đã quy định cấu trúc của câu trả lời mà người hỏi đang chờ đợi Việc sử dụng câu hỏi trong mỗi trường hợp đều phụ thuộc vào nhu cầu nhận biết thông tin ở câu trả lời
Trong lượt lời thứ nhất (hỏi) đã có sự định hướng cho lượt lời thứ hai (trả lời), lượt lời thứ hai lại làm rõ những gì lượt lời thứ nhất chờ đợi Mối quan hệ của hai lượt lời này là mối quan hệ qua lại, tương tác
Khi đặt ra một câu hỏi thì người hỏi đang chờ đợi một thông tin nào đó
từ phía người trả lời Câu trả lời trực tiếp sẽ cung cấp thông tin đó một cách rõ ràng, chính xác
Hỏi và đáp là hai mặt thống nhất, thể hiện trên nhiều bình diện như chức năng giao tiếp, nhận thức, khung tình thái, hình thức cấu trúc, nội dung mệnh đề….Hỏi và đáp cũng được coi như là một cặp hội thoại tương tác Chúng
làm thành một thể thống nhất Hỏi và trả lời luôn gắn bó với nhau chặt chẽ
trong hoạt động giao tiếp đối thoại Trả lời xuất hiện là có hỏi Hỏi và trả lời quyết định sự tồn tại cho nhau vì hỏi là hình thức tìm kiếm kiến thức còn trả lời là phương thức cung cấp kiến thức Có thể thấy rằng, ngoài hỏi và trả lời,
Trang 36người ta khó có thể tìm thấy ở các loại hành vi ngôn ngữ khác sự tương tác chặt chẽ về phương diện ngữ nghĩa – ngữ dụng như vậy
Hỏi và đáp còn thể hiện mối quan hệ về mặt nội dung và hình thức Hai mặt này sẽ được trình bày trong các phần tiếp theo đây:
1.3.4.2 Sự tương hợp về mặt nội dung và hình thức
Nhiều khi nghiên cứu, người ta thường tách PN hỏi với PN trả lời một cách riêng biệt Thực ra, chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau PN hỏi có thể được xem là ngữ cảnh của PN trả lời Trong nhiều trường hợp, nó quy định cấu trúc và ngữ nghĩa của PN trả lời, ngược lại nhờ PN trả lời mà xác định được ý nghĩa của PN hỏi
“Nội dung mệnh đề của câu hỏi và câu trả lời tương ứng với nhau theo quy luật: cả người hỏi lẫn người trả lời đều phải cùng hướng tới (dù hiển ngôn hay ngầm ẩn) một sự tình duy nhất ngoài hiện thực, với những thành tố hoàn cảnh đồng nhất được nối kết với nhau bằng những quan hệ đồng nhất và cùng được đặt trong một hệ quy chiếu về không gian, thời gian.” [15, tr 20]
Như vậy, có thể hiểu là người hỏi, khi đặt câu hỏi đã tự xác định và ấn định luôn cho người trả lời toàn bộ các thông tin hỏi, còn người trả lời buộc phải chấp nhận để đảm bảo cung cấp đúng thông tin mà người hỏi đang cần
Sự tương hợp về nội dung mệnh đề hỏi và trả lời có thể được thể hiện một cách hiển ngôn hay hàm ẩn Khi quan niệm hỏi và trả lời là hai mặt đối lập của một quá trình thống nhất thì câu trả lời phải nhằm đúng điểm hỏi, phù hợp với những cách trả lời mà câu hỏi đã giả định, ứng với mỗi câu hỏi đã đặt
ra Có thể có rất nhiều cách trả lời khác nhau, Song các câu trả lời đó thường thuộc về hai phương thức cơ bản sau:
- Trả lời bằng hình thức hiển ngôn, trực tiếp vào câu hỏi theo đúng những cái khung trả lời mà câu hỏi đã đặt ra giả định trước đó, do đó, không cần phải qua suy luận
Trang 37Ví dụ: Cảnh sát giao thông: Anh có nhìn thấy tấm biển một chiều kia không? Người đi đường: Thôi chết! Mong anh bỏ quá cho
Ở đây, người đi đường thay vì trả lời có nhìn thấy tấm biển hay không nhìn thấy tấm biển mà đã trả lời rằng “Thôi chết, mong anh bỏ quá cho” ngụ ý muốn xin lỗi để được cảnh sát thông cảm và bỏ qua
Nội dung là điều cần thiết nhất để tạo nên một cặp thoại có ý nghĩa Người ta thường nói: hỏi gì đáp nấy hay hỏi gì thì trả lời đấy Vì vậy, đối với một cặp thoại hỏi đáp thì việc tương hợp về mặt nội dung là điều hết sức cần thiết và đó cũng chính là điều quan trọng nhất của cặp thoại
Trang 381.4 Vai trò của cặp thoại hỏi – đáp trong các giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài
1.4.1 Khái quát về giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài Trong số các sách dạy tiếng Việt cho người nước ngoài có sách được xuất bản ở Việt Nam và có sách được xuất bản ở nước ngoài Có sách được biên soạn cho đối tượng tự học hoặc dùng như là công cụ để tự học, tự nghiên cứu Đối tượng khảo sát của luận văn là các loại sách được xuất bản tại Việt Nam và được sử dụng chính thức như là giáo trình ở các trung tâm, các trường và các chương trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài Những cuốn mà chúng tôi lựa chọn được xuất bản từ những năm 80 của thế kỷ XX trở lại đây
1.4.2 Chức năng và yêu cầu
Bất cứ một môn học nào cũng không thể thiếu được giáo trình Đối với việc dạy tiếng nói chung và dạy tiếng Việt cho người nước ngoài nói riêng, giáo trình được coi là điểm bắt đầu cho việc lên kế hoạch cho một chương trình đào tạo Giáo trình là công cụ phục vụ đắc lực cho việc học tập và nghiên cứu Với ý nghĩa như vậy thì giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài cũng có chức năng quan trọng này Giáo trình giúp cho người học tiếp cận trực tiếp với thông tin và chủ đề, từ đó có định hướng chính xác cho việc học tập
Điều quan trọng trong quá trình dạy là cách dạy, tuy nhiên nếu cách dạy tốt mà được hỗ trợ thêm giáo trình tốt thì thật là có ý nghĩa Vì vậy, việc cho
ra đời những giáo trình tốt là điều hết sức cần thiết Trong các giáo trình có cung cấp đầy đủ các chủ đề cần thiết cho các hoạt động hàng ngày, vì thế nó rất thiết thực để ứng dụng vào thực tế Ngoài ra, giáo trình còn có chức năng cung cấp từ vựng, cấu trúc ngữ pháp, hội thoại, bài luyện, bài tập … cho người học Người dạy có giáo trình sẽ khiến cho công việc giảng dạy được thuận lợi hơn và có hệ thống hơn Còn người học có giáo trình thì sẽ nắm
Trang 39được yêu cầu và tiến trình để phát triển khả năng học tập hơn Bên cạnh đó, nhiều người nước ngoài chưa có cơ hội tiếp cận với phương pháp giảng dạy thích hợp thì có thể sử dụng giáo trình như là một công cụ đắc lực
Giáo trình là tài liệu cung cấp rất đầy đủ các thông tin và chủ đề về mọi mặt như giao tiếp hàng ngày, kinh tế, văn hóa, xã hội… Ngoài cách tiếp cận thực tế thì người học có thể biết các vấn đề này thông qua giáo trình Vì vậy, việc biên soạn các giáo trình cho phù hợp và thiết thực với trình độ người học
là một yêu cầu được đặt ra
Hơn nữa, ngày nay việc biên soạn những giáo trình cho phù hợp với từng trình độ, đồng thời thiết thực và vận dụng được vào cuộc sống hàng ngày
là điều hết sức cần thiết Chính vì thế mà giáo trình phải mang tính ứng dụng cao Điều này đòi hỏi người biên soạn phải suy nghĩ và thay đổi theo nhu cầu của người dạy và người học Với mong muốn góp một phần nhỏ trong việc biên soạn hội thoại và cặp thoại trong các giáo trình, luận văn muốn đi sâu vào khảo sát các cặp thoại hỏi đáp trong các giáo trình đã xuất bản để từ đó có những đóng góp thiết thực nhất trong việc biên soạn giáo trình mới
1.4.3 Nội dung (Bố cục)
Mỗi một giáo trình ở một trình độ khác nhau sẽ có những bố cục khác nhau Tuy nhiên, về bố cục của mỗi bài trong từng giáo trình thì không có nhiều sự khác biệt Cấu trúc của một giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài, trên đại thể có thể chia ra làm ba phần chính là: Hội thoại (hoặc bài đọc, bài nghe), giải thích ngữ pháp, bài luyện và bài tập
Trong phần hội thoại ( hoặc bài đọc, bài nghe) là phần quan trọng nhằm cung cấp ngữ liệu cho người học Phần này cũng có tính ứng dụng thực tế cao
vì người học có thể vận dụng hội thoại đã học vào việc giao tiếp hàng ngày
Vì thế, biên soạn hội thoại tốt là rất có ích cho người học Hơn nữa, ngày nay việc học ngoại ngữ nói chung và tiếng Việt nói riêng đang hướng đến nhu cầu
Trang 40nghe nói và giao tiếp thực tế Chính vì vậy mà người học rất cần những hội thoại mẫu, gần với giao tiếp hàng ngày để họ có thể vận dụng vào cuộc sống
và những tình huống cụ thể
Để có thể giao tiếp được tốt thì người học cũng cần phải nắm vững cấu trúc ngữ pháp, vì vậy biên soạn phần giải thích ngữ pháp đơn giản, cụ thể, dễ hiểu, dễ nhớ cũng là điều rất cần thiết
Còn bài luyện và bài tập dùng để rèn luyện kỹ năng sử dụng ngoại ngữ của học viên Đây là phần cũng có vai trò quan trọng Nó giúp người học củng cố phần ngữ liệu đã được cung cấp trong phần bài học Để học viên có thể nói và giao tiếp tốt, cũng cần có những bài luyện sử dụng các cặp thoại từ
dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp để tạo kỹ năng thuần thục cho học viên Trong phạm vi của một luận văn thạc sĩ, chúng tôi tiến hành khảo sát cấu trúc hỏi đáp trong các phần hội thoại, ngữ pháp, bài luyện, bài tập để từ đó rút
ra những cặp thoại có cấu trúc phổ biến, những cặp thoại hay dùng và có tính ứng dụng cao cho việc biên soạn giáo trình tiếng Việt sau này
1.4.4 Sự phân chia trình độ của giáo trình
Để quá trình khảo sát được cụ thể và rõ ràng, chúng tôi chia sách tiếng Việt cho người nước ngoài mà chúng tôi tiến hành thống kê thành hai trình độ: Trình độ cơ sở và trình độ nâng cao Để có thể chia sách thành hai trình
độ trên thì chúng tôi dựa vào những nguyên tắc như:
a Những sách mà tác giả đã ghi rõ trình độ bằng cách đặt tên thì giữ nguyên theo cách phân chia của tác giả
Ví dụ: Sách “Tiếng Việt cơ sở” của Vũ Văn Thi chúng tôi xếp vào trình
độ cơ sở theo tên gọi của sách
b Những sách mà tác giả không đặt tên để phân chia trình độ nhưng lại
có nhiều giáo trình theo trật tự từ quyển 1 đến quyển 2, quyển 3 thì chúng tôi