Nó mới chỉ được phổ biến nhiều và dạy ở một số trường đại học trong đó có trường Đại học dân lập Phương Đông từ những năm 90 của thế kỉ XX do người Việt Nam có nhu cầu trong việc học ng
Trang 1Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t trong luËn v¨n
CTV: Céng t¸c viªn PA: Phô ©m
NA: Nguyªn ©m L1: Ng«n ng÷ thø nhÊt L2: Ng«n ng÷ thø hai
Trang 2môc lôc
Trang
MỞ ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Phạm vi và nội dung của đề tài 8
2.1 Đối tượng nghiên cứu 8
2.2 Nội dung của luận văn 8
2.3 Giới hạn của đề tài 9
3 Phương pháp nghiên cứu 9
4 Những đóng góp của luận văn 10
5 Bố cục của luận văn 01
CHƯƠNG 1: Những khái niệm liên quan 11
1 Các tiêu chí phân loại và miêu tả phụ âm 11
2 Cấu trúc âm tiết và hệ thống phụ âm tiếng Đức 12
2.1 Cấu trúc âm tiết tiếng Đức 12
2.2 Hệ thống phụ âm tiếng Đức 13
2.3 Miêu tả các nét khu việt của phụ âm tiếng Đức 16
2.3.1 Các phụ âm tắc 16
2.3.2 Các phụ âm xát 17
2.3.3 Các âm mũi 18
2.3.4 Các bán âm 19
2.4 Mối tương quan giữa âm và chữ ở các phụ âm 20
3 Âm tiết và hệ thống phụ âm tiếng Việt 21
3.1 Âm tiết tiếng Việt 21
3.2 Hệ thống phụ âm tiếng Việt 24
3.2.1 Hệ thống phụ âm đầu 24
Trang 33.2.2 Hệ thống phụ âm cuối 25
3.2.3 Mối quan hệ giữa âm và chữ của hệ thống phụ âm tiếng Việt 26
4 Những nét tương đồng và dị biệt của hệ thống phụ âm tiếng Đức và tiếng Việt 27
4.1 Sự tương đồng và khác biệt của cấu trúc âm tiết 27
4.2 Sự tương đồng và khác biệt giữa hai hệ thống phụ âm 28
4.2.1 Các phụ âm đơn 28
4.2.2 Tổ chức các phụ âm 29
5 Khái niệm giao thoa và lỗi phát âm 31
5.1 Khái niệm giao thoa 31
5.2 Khái niệm lỗi và phân tích lõi 33
CHƯƠNG 2: Các dạng lỗi điển hình về phát âm phụ âm tiếng Đức 38
1 Phương pháp xác định lỗi phát âm phụ âm tiếng Đức 38
1.1 Xây dựng bảng từ khảo sát lỗi 38
1.1.1 Nguyên tắc xây dùng bảng từ khảo sát lỗi 38
1.1.2 Bảng từ khảo sát lỗi 38
1.2 Chọn đối tượng để khảo sát lỗi phát âm 40
1.3 Các bước thu thập tư liệu 41
1.4 Phân loại và đánh giá các dạng lỗi 43
1.4.1 Quan niệm về lỗi phát âm 43
1.4.2 Cách xác định lỗi cụ thể 43
1.4.3 Phân loại, thống kê và miêu tả các dạng lỗi phát âm phụ tiếng Đức 45
2 Kết quả phân tích các lỗi phát âm phụ âm tiếng Đức 47
2.1 Các phụ âm đơn 47
2.1.1 Phụ âm đơn đứng trước nguyên âm 47
Trang 42.1.3 Phụ âm đứng sau nguyên âm 50
2.2 Các cụm phụ âm 52
2.2.1 Cum phụ âm đứng trước nguyên âm 52
2.2.2 Cum phụ âm đứng sau nguyên âm 57
CHƯƠNG 3: Bước đầu giải thích nguyên nhân gây lỗi và một số biện pháp khác phục hồi lỗi phát âm 67
1 Các nguyên nhân gây lỗi 67
1.1 Giao thoa ngôn ngữ 68
1.2 Giáo trình tiếng Đức 72
1.3 Phương pháp dạy ngoại ngữ 73
1.4 Môi trường học 73
1.5 Ý thức về việc rèn luyện phát âm 74
1.6 Đặc điểm tâm lý người Việt khi học ngoại ngữ 75
2 Giài pháp đề nghị đối với việc khắc phục các lỗi phát âm phụ âm tiếng Đức 75
2.1 Truyền đạt kiến thức ngữ âm cơ bản đồng thời với việc luyện tập phát âm 76
2.2 Bài tập luyện phát âm phụ âm tiếng Đức 78
2.3 Tạo một môi trường học ngoại ngữ thuận lợi 86
2.4 Thái độ đối với lỗi phát âm 89
2.5 Sử dụng phương pháp dạy học mới 90
KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
PHỤ LỤC 1 103
PHỤ LỤC 2 112
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Ngày nay, xu hướng toàn cầu hóa như một tất yếu đối với mọi quốc gia Đất nước chúng ta cũng đang từng bước mở cửa và hội nhập với thế giới trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Trong bối cảnh chung đó,
việc làm chủ một ngoại ngữ, đặc biệt đối với thế hệ trẻ, không chỉ được
xem như một nhu cầu tất yếu mà còn là một công cụ, một chìa khóa của mỗi cá nhân để hòa nhập và bắt nhịp chung với xu thế toàn cầu hóa của nhân loại
So với các ngoại ngữ khác như tiếng Nga, Anh, Pháp, Trung Quốc…tiếng Đức là một ngoại ngữ “trẻ” nhưng có những tiềm năng Nó mới chỉ được phổ biến nhiều và dạy ở một số trường đại học (trong đó có
trường Đại học dân lập Phương Đông) từ những năm 90 của thế kỉ XX do
người Việt Nam có nhu cầu trong việc học nghề, học đại học và đoàn tụ với gia đình ở các quốc gia nói tiếng Đức Nhu cầu đó ngày một lớn hơn do việc nước Đức hiện có vị thế nhất định ở Cộng đồng Châu Âu (EU) cũng như trên thế giới Những điều kiện thuận lợi trong việc học đại học ở các nước nói tiếng Đức cũng là một động lực cho thế hệ trẻ học tiếng Đức Việc Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam cho phép sinh viên phổ thông tham gia thi tuyển niên học 2007 - 2008 là một minh chứng về vai trò của tiếng Đức trong xã hội chúng ta
Cũng giống như học bất cứ một ngoại ngữ nào, trong quá trình học
tiếng Đức, việc rèn luyện kĩ năng pháp âm đúng và hay ngay từ ban đầu là
mong muốn của bất cứ người dạy và người học nào Tuy nhiên, trong học ngoại ngữ, người học luôn sử dụng những thói quen vốn trở thành bản năng của tiếng mẹ đẻ để áp dụng cho ngoại ngữ mà mình học ở tất cả các cấp độ: dùng từ, đặt câu và hiểu câu… và cả trong cách phát âm Sự khác biệt giữa
Trang 6hai ngôn ngữ cả về mặt cấu trúc nội tại của hệ thống cũng như những khác biệt về văn hóa mang tính chủng tộc luôn là rào cản của việc học ngoại ngữ Nguyên nhân này đã tạo ra những lỗi ngoại ngữ ở tất cả các bình diện của ngôn ngữ Những người Việt học tiếng Đức, trong phát âm, thường
mắc những lỗi tiêu biểu mà nguyên nhân trước tiên thói quen phát âm đơn
âm tiết của tiếng Việt sau đó là sự khác biệt giữa hai ngôn ngữ trong hệ thống nguyên âm, phụ âm và cách dùng trọng âm, ngữ điệu…
Để chỉ ra những lỗi phát âm tiêu biểu nhằm khắc phục chúng ngay từ giai đoạn đầu học tiếng Đức, việc đối chiếu, so sánh hệ thống ngữ âm tiếng Việt và tiếng Đức là bước đầu tiên Đã có những công trình nghiên cứu về vấn đề này như : Vũ Kim Bảng (1993, 1994, 1997, 2000) Tuy nhiên, những công trình này mới chỉ dừng ở mức độ so sánh cấu trúc âm tiết, hệ thống nguyên âm, phụ âm nhằm chỉ ra sự tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ
Cho đến nay, chưa có một khảo sát chi tiết mang tính thống kê nào
về thực tế lỗi phát âm của người Việt khi học tiếng Đức để chỉ ra các kiểu lỗi phát âm điển hình là gì Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi muốn tiến
hành một đề tài ứng dụng là khảo sát các lỗi phát âm các phụ âm tiếng Đức
của người học Việt Nam (các sinh viên học chuyên tiếng Đức) để từ đó tìm những nguyên nhân gây lỗi và đề xuất cách khắc phục
Việc lựa chọn các lỗi phụ âm xuất phát từ đặc điểm rất khác biệt của kết hợp các tổ hợp phụ âm trong tiếng Đức là rất phức tạp trong khi trong tiếng Việt vốn chỉ là các phụ âm đơn để tạo thành âm tiết Những kết quả
có được sẽ giúp nhiều cho việc nghiên cứu so sánh đối chiếu và khắc phục lỗi phát âm
Trang 7Đề tài này cũng là tâm huyết của chúng tôi vốn là người dạy tiếng Đức ở bậc đại học muốn học sinh thực hiện tốt kĩ năng nói và đọc bên cạnh các kĩ năng khác trong việc dạy và học ngoại ngữ
Trang 82 Phạm vi và nội dung của đề tài
2.1 Đối tượng
Đối tượng mà chúng tôi quan tâm là cách phát âm hệ thống phụ âm
tiếng Đức và những lỗi phát âm điển hình về phụ âm của các sinh viên năm
thứ hai, chuyên ngành tiếng Đức, khoa Ngoại ngữ của Đại học dân lập
Phương Đông Các sinh viên này sẽ học chuyên tiếng Đức liên tục 4 năm
để nhận bằng Cử nhân tiếng Đức Trong năm thứ nhất và đầu thứ hai, các
sinh viên này sử dụng các giáo trình Themen Neu I, II, III và EM-
Brỹckenkurs, EM-Hauptkurs, EM-Abschluskurrs Về lí thuyết, kết thúc
năm học thứ nhất, bắt đầu năm học thứ hai các sinh phải nắm vững kĩ năng
phát âm để thời gian tiếp theo các em tiếp tục học các vấn đề lí thuyết tiếng
Đức Việc lựa chọn thời điểm này để khảo sát năng lực phát âm của sinh
viên, chúng tôi muốn xác định: những lỗi phát âm điển hình nào còn tồn tại
sau khi kết thúc quá trình học thực hành tiếng để chuyển sang giai đoạn học lí thuyết tiếng Từ đó đề ra các biện pháp sớm khắc phục lỗi phát âm
của sinh viên Việt Nam học tiếng Đức với tư cách là một ngoại ngữ
2.2 Nội dung của luận văn
Luận văn của chúng tôi thực hiện 3 nội dung cơ bản sau:
- Xác định các dạng lỗi phát âm phụ âm mà sinh viên hay mắc phải trên cơ sở khảo sát cách phát âm các phụ âm của sinh viên năm thứ hai trường Đại học dân lập Phương Đông
- Giải thích các nguyên nhân gây lỗi trên cơ sở so sánh đối chiếu cấu trúc âm tiết và hệ thống phụ âm giữa tiếng Đức và tiếng Việt; các nguyên nhân bên ngoài gây ra lỗi phát âm, ví dụ: giáo trình dạy tiếng, môi trường dạy tiếng
- Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục các lỗi phát
âm phụ âm của sinh viên Việt Nam học tiếng Đức Các giải pháp này có
Trang 9tính đến đặc điểm khác biệt mang tính loại hình giữa hai ngôn ngữ; đặc điểm người học; môi trường dạy ngoại ngữ… Hệ thống các bài tập dạy phát âm các phụ âm tiếng Đức được xem là biện pháp cụ thể nhằm mục đích giúp sinh viên trong một thời gian ngắn phát âm lưu loát và chuẩn xác
2.3 Giới hạn của đề tài
Luận văn này giới hạn phạm vi nghiên cứu là cách phát âm và các
lỗi phát âm về phụ âm của sinh viên Việt Nam khi học tiếng Đức Thực tế,
trong khi học tiếng Đức, do sự khác biệt về loại hình, sinh viên việt Nam
còn mắc các lỗi ngữ âm khác như: lỗi phát âm nguyên âm, lỗi trọng âm,
ngữ điệu… Những vấn đề đó cần được nghiên cứu sâu bằng các chuyên
luận khác
Các sinh viên theo học tiếng Đức tại Đại học dân lập Phương Đông phần lớn là từ các tỉnh thuộc đồng bằng Bắc Bộ Do vậy, các em có cùng một đặc điểm phát âm chung đó là phương ngữ Bắc Bộ Đây được xem là
cơ sở chung giúp cho việc so sánh, đối chiếu và giải thích các lỗi phát âm phụ âm của các sinh viên khi học tiếng Đức
3 Phương pháp nghiên cứu
Nội dung của luận văn này là phân tích lỗi phát âm Do vậy, các bước tiến hành điều tra lỗi tuân thủ theo các bước:
- Xây dựng bảng từ điều tra (test)
- Lựa chọn đối tượng điều tra (các cộng tác viên là sinh viên - CTV)
- Tiến hành ghi âm
- Xác định lỗi phát âm
(Các bước cụ thể của phương pháp điều tra và phân tích lỗi chúng tôi sẽ trình bày kĩ ở Chương II)
Trang 10Kết quả của điều tra lỗi sẽ được trình bày bằng phương pháp: phân
loại, thống kê và miêu tả
4 Những đóng góp của luận văn
Thực trạng lỗi phát âm phụ âm tiếng Đức của sinh viên Việt Nam lần đầu tiên được thu thập và nghiên cứu một cách có hệ thống trong luận văn này
Từ kết quả thu được, cho phép chúng tôi phân tích những nguyên nhân bên trong và bên ngoài gây ra lỗi phát âm để từ đó đưa ra những biện pháp thiết thực giúp người học phát âm đúng và hay tiếng Đức, trước hết là
các tổ hợp phụ âm trong tiếng Đức vốn là rào cản khó vượt qua của người học
5 Bố cục của luận văn
Luận văn này, ngoài phần Mở đầu và Kết luận, gồm 4 chương
Chương 1: Những khái niệm liên quan Chương II: Các dạng lỗi điển hình về phát âm phụ âm tiếng Đức
Chương III: Bước đầu giải thích nguyên nhân gây lỗi
Và một số biện pháp khắc phục lỗi phát âm
Trang 11CHƯƠNG 1:
NHỮNG KHÁI NIỆM LIÊN QUAN
1 Các tiêu chí phân loại và miêu tả phụ âm
Trong cách mô tả truyền thống, một phụ âm được nhận diện và phân biệt bằng chính hai tiêu chí cơ bản :
- Vị trí cấu âm: vị trí xuất hiện chướng ngại
- Phương thức cấu âm: phương thức khắc phục vật chướng ngại cho
phép luồng không khí đi từ phổi ra ngoài để tạo thành một vật chướng ngại trong khoang cấu âm liên quan đến các cơ quan cấu âm động và tĩnh của cơ
quan cấu âm Các cơ quan động gồm: môi dưới, lưỡi và dây thanh Các cơ quan tĩnh tính từ ngoài vào trong bao gồm: môi trên, răng, lợi, ngạc cứng,
ngạc mềm; họng và hầu Một chướng ngại vật tạo ra khi một cơ quan động
tiếp xúc với một cơ quan tĩnh và vị trí của cơ quan tĩnh đó được xem là vị
trí cấu âm Các vị trí cấu âm cơ bản gồm: môi (bilabial); môi-răng dental); răng (dental); lợi (alveolar); sau lợi (post-alveolar); quặt lưỡi (retroflex); ngạc cứng (palatal); ngạc mềm (velar); lưỡi con (uvular); họng (pharyngeal); hầu (glottal)
(labio-Phương thức cấu âm như đã trình bày là cách thức vượt qua chướng ngại vật của luồng hơi Có những phương thức chủ yếu thường gặp như
sau: tắc (plosive); xát (fricative); mũi (nasal); rung (trill); vỗ (tap or flap); tắc bên (lateral fricative); nước (approximant); nước bên (lateral
approximant) mà trong đó hai phương thức tắc và xát là chủ đạo bắt gặp ở
tất cả các ngôn ngữ Trong thực tế còn có các âm được tạo ra bằng cách kết
hợp cả phương thức tắc và xát được gọi là những phụ âm tắc xát
(afficative)
Trang 12Trên cơ sở của hai phương thức cấu âm cơ bản tắc và xát, người ta còn có thể phân tích chi tiết hơn về ba cách khắc phục chướng ngại vật ở
khoang cấu âm:
a) có sự tham gia của dây thanh hay không, ta có các phụ âm vô
thanh và hữu thanh;
b) lối thoát của luồng hơi đi ra qua miệng hay qua mũi ta có phụ âm
tắc nổ hay tắc vang và c) luồng hơi thoát ra theo chính giữa hay hai bên của
khoang miệng, chúng ta có các âm xát giữa hay xát bên
Trên cơ sở của các nguyên tắc trên, Hiệp hội ngữ âm học quốc tế đã xây dựng bảng ký hiệu các phụ âm quốc tế IPA làm cơ sở cho việc miêu tả
hệ thống phụ âm các ngôn ngữ nói chung
Bảng các ký hiệu phụ âm quốc tế IPA (1993)
(Pulmonic)
Hai môi (Bibl)
Môi răng (Bilabdent)
Răng (Dental)
Lợi (Alveo)
Sau lợi (Postalveo)
Quặt (Retroflex)
Ngạc cứng (Palatal)
Mạc (Velar)
Lưỡi con (Uvu)
Thanh quản (Pharyn )
Hỗu (Glottal )
Trang 132.1 Cấu trúc âm tiết tiếng Đức
Giống như các ngôn ngữ khác, trong tiếng Đức, vị trí hạt nhân hay đỉnh của âm tiết là một nguyên âm (đơn hay đôi) Kết hợp với hạt nhân là
các phụ âm hay nhóm phụ âm đứng ở vị trí trước (onset) hay sau (coda) để
tạo thành âm tiết
Ở vị trí trước hạt nhân âm tiết có thể tồn tại một phụ âm, tổ hợp hai hoặc nhiều nhất là ba phụ âm Còn ở vị trí sau hạt nhân có thể tồn tại từ
một đến nhiều nhất là tổ hợp năm phụ âm như sơ đồ dưới đây:
Onset Nguyên âm Coda Ví dụ
a Tiêu chí phân loại
Phụ âm (consonant) là những âm được phát ra bị một cản trở nào đó, như qua khe hở của dây thanh, sự tiếp xúc của đầu lưỡi với răng, sự khép chặt của môi …làm cho tiếng phát ra không dễ nghe, không êm tai, có tiếng động, tần số không ổn định Ví dụ phụ âm /b/, /v/, /f/…So với việc phát âm của nguyên âm thỡ sự phỏt õm của phụ õm khú hơn, cần luyện tập nhiều
Trang 14mới phát âm đúng đƣợc Cũn cú những õm vừa cú tớnh chất phụ õm vừa cú tớnh chất nguyờn õm nờn gọi là những bỏn phụ õm (semei - consonant)
Trong phân tích đối chiếu để xác định lỗi phát âm, chúng ta cần xác định cơ sở miêu tả ngữ âm Đặc điểm cơ bản của phụ âm là khi phát âm chúng đƣợc cấu tạo bằng luồng không khí bị cản trở Sự cản trở này xảy ra
ở những mức độ khác nhau Nói chính xác là sự cản trở diễn ra bằng những cách khác nhau và ở những bộ phận khác nhau của cơ quan phát âm
Việc mô tả và phân loại các phụ âm tiếng Đức căn cứ vào hai tiêu chí
là: phương thức cấu âm và vị trớ cấu õm
Tiếng Đức có 21 phụ âm đơn Các phụ âm này đƣợc miêu tả nhƣ sau:
+ Căn cứ vào vị trí cấu âm
Theo nguyên tắc căn cứ vào bộ phận cản trở không khí xảy ra ở đâu trong hệ thống cơ quan cấu âm, có hàng loạt phụ âm đƣợc gọi theo vị trí cản trở đó trong tiếng Đức 21 phụ âm đƣợc phân loại theo tiêu chí này, cụ thể là:
+ Căn cứ vào phương thức cấu âm
Dựa vào cách thức phát âm, các phụ âm tiếng Đức lại đƣợc phân chia thành:
- Cỏc õm tắc: [p], [b], [t], [d], [g], [k]
Trang 15Đặc trƣng của phụ âm tắc là có một tiếng nổ sinh ra do luồng không khí từ phổi bị cản trở, rồi phải phá vỡ cái cản trở để phát ra
Trang 16mũi (Nas.) m n
Trang 172.3 Miêu tả các nét khu biệt của phụ âm tiếng Đức
2.3.1 Các phụ âm tắc
Đối với các PA tắc luồng hơi bị tắc lại hoàn toàn tại một vị trí nào đó trong khoang miệng, do hai môi, đầu lưỡi hoặc gốc lưỡi và sau đó luồng hơi được xả ra với tiếng bật nổ nhẹ Có 3 cặp PA tắc, mỗi cặp đều gồm một
PA vô thanh và một PA hữu thanh
a /p - b/
- Hai môi mím chặt lại, luồng hơi không thể thoát ra ngoài qua đường mũi hoặc đường miệng nhưng luồng hơi được giữ lại trong khoang miệng một khoảng thời gian ngắn
- Khi hai môi mở ra ngay lập tức luồng hơi được thoát ra ngoài với một tiếng bật nổ nhẹ
- Trước khi hai môi mở ra, các cơ quan phát âm còn lại trong khoang miệng chuẩn bị cấu âm cho âm kế tiếp
- Hai bên lưỡi ép chặt vào hai bên ngạc vì thế luồng hơi không thể thoát ra theo hai bên lưỡi
- Khi đầu lưỡi hạ xuống thấp luồng hơi lập tức từ vị trí chân răng (teeth ridge) thoát ra ngoài với tiếng nổ nhẹ
c /k - g/
- Gốc lưỡi ép sát vào ngạc mềm để cho luồng hơi được giữ lại một thời gian ngắn
Trang 18- Khi lưỡi hạ xuống thấp lập tức luồng hơi từ ngạc mềm được thoát
ra ngoài miệng với một tiếng nổ nhẹ
2.3.2 Các âm xát
Đối với các âm xát luồng hơi từ phổi đi qua một khe hẹp để thoát
ra ngoài gây nên sự cọ xát
a /f - v/
- Ngạc mềm không cho luồng hơi thoát ra ngoài qua đường mũi mà
đi qua đường miệng
- Môi dưới ép xát vào hàm răng trên (upper front teeth) Lúc này tạo nên một khe hẹp và luồng hơi được thoát ra ngoài qua khe hẹp đó gây ra một sự cọ xát nhẹ
- Lưỡi không trực tiếp liên quan đến việc tạo ra những âm này nhưng không phải lưỡi không có tác dụng gì Thật ra, lưỡi giúp cho việc phát âm các âm tiếp theo, ví dụ như trong /fi:/ lưỡi sẽ ở vị trí của /i:/; trong /fri:/ lưỡi
sẽ ở vị trí /r/…
Sự khác nhau giữa /f/ và /v/ chủ yếu là về thanh tính
/f/ là một phụ âm vô thanh;
/v/ là một phụ âm hữu thanh
Trang 19- Hai hàm răng xít chặt vào nhau
- Sự cọ xát của hai âm này, đặc biệt là /s/ mạnh hơn rất nhiều so với /f, v, và j /
d / - /
- Có sự chẽn hẹp ở giữa đầu lưỡi và chân lợi (back of the alvelor ridge)
- Phía trước lưỡi cao hơn khi phát âm s và z
- Hai môi hơi tròn
e /h/
Âm /h/ luôn đứng trước NA Cách phát âm /h/ như một luồng hơi đi qua những dây thanh để ngỏ và thoát ra ngoài qua đường miệng rồi chuẩn
bị cấu âm NA đứng ngay sau nó
Để phát âm /h/, miệng ở vị trí cấu âm của NA đứng kế ngay sau /h/
Ví dụ khi đứng trước /i:/, miệng ở vị trí cấu âm /i:/, trước /a:/ miệng ở vị trí cấu âm của /a:/ Đồng thời việc chuẩn bị phát âm NA là một luồng hơi ngắn
từ phổi thoát ra ngoài /h/ không được phát âm quá mạnh cũng như không thể bị bỏ qua Bởi vì nhiều từ cần có sự phân biệt giữa sự hiện diện và vắng mặt của /h/ Lý do thứ hai là vì bỏ qua không phát âm /h/ là cách phát âm của những người chưa có kỹ năng phát âm đúng
Trang 20- Ngạc mềm tĩnh và luồng hơi được thoát ra ngoài qua đường mũi
- Gốc lưỡi ép xát vào ngạc mềm
- // là âm hữu thanh
2.3.4 Các bán âm
a /l/
Thay vì luồng hơi được thoát qua đường miệng thì nó được thoát
ra ngoài theo đường vòng vì sự cản trở được tạo ra ở giữa miệng
- Đầu lưỡi (và hai bên thân lưỡi) tiếp giáp với lợi, sự cản trở được tạo ra ở giữa miệng
- Hai bên lưỡi không tiếp giáp với hai bên ngạc, vì vậy luồng hơi có thể đi qua hai bên lưỡi và ngạc, vòng qua chỗ bị cản trở ở giữa Sự cản trở này được tạo thành bởi đầu lưỡi và mặt lưỡi, sau đó thoát qua đường miệng
- Âm /l/ hữu thanh và không có tiếng cọ xát
b /r/
- Lưỡi cong với đầu lưỡi hướng về phía ngạc cứng ở phía trong cùng, phần trước thấp, phần sau cao
- Đầu lưỡi không tiếp xúc quá gần với ngạc để gây ra sự cọ xát
- Môi tròn, đặc biệt khi ở đầu từ
- Ngạc mềm tĩnh, luồng hơi hữu thanh thoát ra cách nhẹ nhàng giữa đầu lưỡi và ngạc mà không có sự cọ xát nào
Chúng tôi đối chiếu hệ thống PA của hai ngôn ngữ dựa vào các tiêu chí khu biệt âm vị học giữa hai ngôn ngữ Kết quả thu được rất nghèo nàn
vì âm vị học truyền thống chỉ cho phép xác định âm vị PA về phương thức cấu âm và vị trí cấu âm Tận dụng ưu điểm của âm vị học tạo sinh, cụ thể là nội dung của hệ nét khu biệt chúng tôi đã có thể đi xa hơn trong việc mô tả
âm vị PA Đến đây, chúng tôi đã phát hiện được những cặp âm vị “gọi là tương đương” và không tương đương bằng cách mô tả cụ thể các nét khu
Trang 21biệt hàm chứa trong từng âm vị trong những cặp “gọi là tương đương” ở hai ngôn ngữ Những cặp không tương đương lại càng không thể bỏ qua vì chúng còn có cách thể hiện chữ viết khác nhau ở một số trường hợp Điều này khiến cho sinh viên ngộ nhận là những cặp tương đương và do đó có những nhầm lẫn, suy diễn trong phát âm Một lần nữa sự tiến bộ của âm vị học tạo sinh đã cho phép nhìn nhận âm vị trong dạng hoạt động của nó nhờ quy tắc âm vị học Công việc như trước đây vẫn làm là xác định âm vị PA tiếng Đức trong dạng tĩnh, trong dạng trích dẫn không cho một hình ảnh đảm bảo về các âm vị trong hiện thực Nó chỉ đưa tới một hình ảnh minh hoạ mà thôi Trong dạng lời nói liên tục, các âm vị biến đổi một cách đáng
kể Do đó, tiếp cận âm vị một cách cụ thể hơn là điều cần thiết Vì hiện thực của âm vị tiếng Đức nói chung và âm vị PA tiếng Đức nói riêng bị chi phối rất lớn bởi các bối cảnh ngữ âm mà nó xuất hiện
2.4 Mối tương quan giữa âm và chữ ở các phụ âm:
Trang 223 Âm tiết và hệ thống phụ âm tiếng Việt
3.1 Âm tiết tiếng Việt
a) Đặc điểm âm tiết tiếng Việt
Tiếng Việt đƣợc xếp vào loại hình ngôn ngữ đơn lập bởi các đặc trƣng sau đây:
- Tiếng, về mặt ngữ âm là âm tiết; về mặt ngữ pháp là đơn vị cơ sở; về mặt sử dụng là một từ hoặc một yếu tố cấu tạo từ
Trang 23- Từ không biến đổi hình thái
- Biện pháp chủ yếu để thể hiện ý nghĩa ngữ pháp là sắp xếp các từ theo thứ tự và sử dụng các hư từ
Trong các đặc điểm này, tính đơn lập tức hình thức một âm tiết đóng vai trò vừa là hình vị, vừa là từ cơ bản có vai trò quan trọng nhất Điều này làm cho tiếng Việt khác với các ngôn ngữ biến hình châu Âu trước tiên về cấu trúc của âm tiết
b) Cấu trúc âm tiết tiếng Việt
Âm tiết tiếng Việt là một đơn vị hiển nhiên, có thể nhận diện một cách đơn giản do các đặc điểm sau:
- Trong dòng ngữ lưu, mỗi âm tiết được chia tách thành từng khúc đoạn cả về mặt phát âm và chữ viết
- Ranh giới của âm tiết trùng với ranh giới của hình vị Do vậy nhìn chung mỗi âm tiết đều mang ý nghĩa từ vựng hoặc ý nghĩa ngữ pháp
- Âm tiết tiếng Việt có cấu trúc chặt chẽ
Một cách khái quát, có thể trình bày âm tiết tiếng Việt bằng sơ đồ dưới đây:
Thanh điệu
Âm đệm Âm chính Âm cuối
(Theo Đoàn Thiện Thuật, tr 80) Theo mô hình này, ở dạng đầy đủ nhất, âm tiết tiếng Việt gồm 2
thành phần chính tạo nên: thanh (thanh điệu) và âm (âm đầu, âm đệm, âm
chính và âm cuối) Các thành phần này không bình đẳng với nhau về mức
Trang 24độ độc lập cũng nhƣ khả năng kết hợp Có thể miêu tả mối quan hệ giữa các thành phần này bằng mối quan hệ hai bậc:
Bậc 1: thanh điệu, âm đầu và vần
Các phần này của âm tiết quan hệ với nhau lỏng lẻo, có thể
đƣợc phân chia bằng các thủ pháp hình thái học nhƣ: hiệp vần thơ, nói lái,
các qui tắc láy từ, iếc hoá…
Bậc 2: âm đệm, âm chính và âm cuối
Các phần này quan hệ với nhau chặt chẽ trong phạm vi phần vần của
âm tiết Việc phân chia các thành phần này chỉ thuần tuý dựa vào đặc điểm ngữ âm của chúng
Trong cấu trúc âm tiết tiếng Việt, phụ âm đảm nhiệm vị trí âm đầu
và âm cuối Điểm đặc biệt và cũng là khác biệt của cấu trúc âm tiết tiếng
Việt so với cấu trúc âm tiết của các ngôn ngữ biến hình trong đó có tiếng Đức là:
- Trong cấu trúc âm tiết tiếng Việt, đứng ở vị trí âm đầu và âm cuối
chỉ là các phụ âm đơn Không có các tổ hợp phụ âm (hai, ba hay nhiều hơn
Loại 1: V
Trang 25Loại 2: C1 V Loại 3: V C2 Loại 4: C1 V C2
Trong tiếng Việt, giữ vai trò hạt nhân âm tiết có thể có từ một
nguyên âm đến tổ hợp 3 nguyên âm trong khi ở vị trí đầu và cuối của âm
tiết lại chỉ có thể là một phụ âm ( các tổ hợp chữ cái ch, nh, ng, ngh chỉ
để ghi một phụ âm ) Trong thực tế tồn tại 12 loại âm tiết:
Trong tiếng Việt, phụ âm đầu là thành phần mở đầu âm tiết Nó
tương đối độc lập so với các thành phần khác là: âm đệm, vần và thanh
điệu
Trang 26Hệ thống phụ âm đầu của tiếng Việt được thể hiện khá đa dạng ở các phương ngữ khác nhau cả về mặt số lượng và chất lượng Tuy nhiên, hệ thống phụ âm đầu tiếng Việt có số lượng đầy đủ nhất được phản ánh trong
hệ thống chữ Quốc ngữ với 22 âm vị Âm tắc họng [] không có chữ cái thể
hiện Chúng ta có thể coi hệ thống phụ âm đầu mà chữ quốc ngữ phản ánh
như là cơ sở để so sánh với hệ thống phụ âm đầu của các phương ngữ cả về mặt số lượng và chất lượng
Để phân loại và mô tả một phụ âm cụ thể của tiếng Việt thể hiện trong mỗi phương ngữ hay thổ ngữ, chúng tôi kết hợp hai tiêu chí phân loại
cơ bản: phương thức cấu âm và vị trí cấu âm cùng sự phân loại chi tiết như
đã mô tả trên để xây dựng nên một sơ đồ của hệ thống phụ âm tiếng Việt
Hệ thống phụ âm đầu tiếng Việt (22 âm vị)
Vị trí
Phương thức
Môi (Bilabial)
Môi - răng (Labio- dental)
Lợi (Alveola r)
Quặt (Retrofle x)
Ngạc cứng (Palat al)
Ngạc mềm (Velar )
Hầu (Glottal )
Trang 27Nghệ - Tĩnh Một điều thú vị là ngay ở bản thân phương ngữ Bắc Bộ, xét
về mặt đồng đại vốn có số lượng phụ âm đầu ít nhất so với các phương ngữ khác và có xu hướng ngày một giảm, cũng vẫn tồn tại các thổ ngữ có số lượng phụ âm đầu tối đa mà chữ quốc ngữ phản ánh như tiếng nói ở làng Phục Lễ hay một vài thổ ngữ gần đó ở huyện Thuỷ Nguyên, Hải Phòng
3.2.2 Hệ thống phụ âm cuối
Đứng ở vị trí kết thúc âm tiết tiếng Việt có 6 phụ âm và 2 bán nguyên âm tạo thành một hệ thống Các phụ âm cuối được phân loại và miêu tả dựa vào hai tiêu chí: vị trí cấu âm và phương thức cấu âm Hệ thống này được trình bày bằng sơ đồ sau:
Hệ thống phụ âm cuối tiếng Việt (6 âm vị)
Vị trí Phương thức
Môi (Bilabial)
Lợi (Alveolar)
Ngạc mềm (Velar)
3.2.3 Mối quan hệ giữa âm và chữ của hệ thống phụ âm tiếng Việt
a Mối quan hệ giữa âm và chữ của hệ thống phụ âm đầu
Mối quan hệ này được trình bày bằng bảng sau:
Trang 28/k/ k- đứng trước /i, e, , ie/ kỡ, kốn, kế, kiến
q - trước âm đệm /w/ quõn, quen, quỏ c- trường hợp cũn lại con cỏy
20 // gh - đứng trước /i, e, / ghi, ghế, ghen
g- trường hợp cũn lại gõy gổ, gay go
21 // ngh - đứng trước /i, e, , ie/ nghi, nghẹn, nghiến, nghề
ng - trường hợp cũn lại ngủ ngon, ngoan ngoón
22 /h/ h - đi trước âm đệm o, u hoa, huờ
h - trước các nguyên âm cũn lại hớ, hộ, hõm, hàn
a Mối quan hệ giữa âm và chữ của hệ thống phụ âm cuối
Trang 296
-
Nh sau õm bổng /i, e, / tinh nhanh, trỏnh, sinh, bệnh
Ng trong các trường hợp khác trong ngóng, mong, đứng đường
4 Những nét tương đồng và dị biệt của hệ thống phụ âm tiếng Đức và tiếng Việt
Trong phần so sánh này, chúng tôi coi tiếng Đức là ngôn ngữ đích,
là ngoại ngữ cần học Do vậy, cấu trúc âm tiết, hệ thống phụ âm tiếng Đức
là đối tượng để so sánh nhằm chỉ ra sự khác biệt của tiếng Đức đối với tiếng Việt
4.1 Sự tương đồng và khác biệt về cấu trúc âm tiết
Như đã trình bày trên, cấu trúc âm tiết của tiếng Đức và tiếng Việt giống nhau không nhiều mà giữa chúng có sự khác nhau lớn Nếu không xét đến thanh điệu (vì âm tiết Đức không mang thanh) mà chỉ xét về âm, chúng ta thấy:
+ Giống nhau
Tiếng Đức và tiếng Việt chỉ giống nhau ở các cấu trúc âm tiết có
nguyên âm làm chính âm kết hợp với một phụ âm đứng trước hoặc đứng
sau:
V, CV, VC và CVC
+ Khác nhau
Trong tiếng Việt không có các tổ hợp phụ âm đứng trước và sau
nguyên âm hạt nhân còn tiếng Đức phía trước nguyên âm có thể có các tổ
hợp hai hoặc ba phụ âm và phía sau nguyên âm có các tổ hợp hai, ba, bốn
hoặc năm phụ âm:
- CCV, CCCV
- VCC, VCCC, VCCCC, VCCCCC
4.2 Sự tương đồng và khác biệt giữa hai hệ thống phụ âm
Trang 30Theo một tác giả, trong tiếng Đức không có phụ âm [] bởi âm này
chỉ tồn tại trong các từ vay mượn như : Garage, Genie, Ingenieur… Vì vậy,
các tác giả này đã không chấp nhận đây là một âm vị trong hệ thống phụ
âm của tiếng Đức Điều này có thể so sánh với âm vị [p] trong tiếng Việt cũng chỉ tồn tại chủ yếu trong các từ nhập ngoại
c) Những điều cần chú ý về sự không tương ứng giữa âm và
chữ trong tiếng Đức:
• Chữ viết theo hệ Latinh nhưng lại phát âm khác
Chữ viết v ở đầu âm tiết được phát âm thành [f]
Chữ viết s ở đầu âm tiết được phát âm thành [z]
• Cùng một chữ viết nhưng đứng trước nguyên âm và sau nguyên âm
lại phát âm khác nhau:
Các phụ âm hữu thanh [b, d, g] khi đứng ở cuối âm tiết bị vô thanh hoá trở thành các phụ âm [p, t, k]
Các âm [] và [x] trong tiếng Đức được thể hiện bằng chữ viết ch vốn là hai biến thể vị trí của một âm vị: sẽ được phát âm là [x] nếu trước chữ viết ch là các nguyên âm a, o và u; trong các trường hợp còn lại, được phát âm là []
Trang 31• Một chữ cái nhưng lại là hai âm
Chữ viết là x nhưng âm là [ks], ví dụ: Max [maks];
Chữ viết là z nhưng âm lại là [ts], ví dụ: Zehn [tsen]
• Một tổ hợp chữ cái nhưng chỉ là một âm
Tổ hợp chữ cái sch tương ứng với âm [], ví dụ: Schule [ul]
4.2.2 Tổ hợp các phụ âm
Trong tiếng Việt không có tổ hợp phụ âm Do vậy, tất cả các tổ hợp phụ âm trong cấu trúc âm tiết tiếng Đức đều khác với cấu trúc âm tiết tiếng Việt
a) Các tổ hợp phụ trước nguyên âm chính âm
• Các tổ hợp hai phụ âm tiêu biểu đứng trước nguyên âm chính âm
b) Các tổ hợp phụ âm sau nguyên âm chính âm
• Các tổ hợp hai phụ âm tiêu biểu đứng sau nguyên âm chính
âm trong tiếng Đức gồm:
- [t, kt, pt, st, t, rt, mt, nt]
- [s, ks, ps, ts, ls, ms, ns]
- [k, t, p, l, m, n]
Trang 32- [nt, n, nf, ns, n]
- [lp, lt, lk, lf, ls, lm, ln]
- [rp, rt, rk]
• Các tổ hợp ba phụ âm tiêu biểu đứng sau nguyên âm chính
âm trong tiếng Đức gồm:
• Các tổ hợp bốn phụ âm tiêu biểu đứng sau nguyên âm chính
âm trong tiếng Đức gồm:
• Các tổ hợp năm phụ âm tiêu biểu đứng sau nguyên âm chính
âm trong tiếng Đức gồm:
- [rbsts, rtsts, rnsts,mpfst]
Ví dụ: Herbsts, Arzts, Ernsts, kọmpfst
5 Khái niệm giao thoa và lỗi phát âm
5.1 Khái niệm giao thoa
Khỏi niệm giao thoa bắt nguồn từ tiếng Latinh chỉ một hiện tƣợng
õm học: inter (giữa, lẫn nhau); ferire (hiệu quả) tức hiện tƣợng giao thoa
của õm thanh trong tự nhiờn Khỏi niệm này đƣợc chuyển theo phộp ẩn dụ
Trang 33cho quỏ trỡnh tỏc động qua lại giữa ngụn ngữ thứ nhất (L1) và ngụn ngữ
thứ hai (L2) trong quỏ trỡnh học ngoại ngữ
Học một ngoại ngữ là quỏ trỡnh tiếp nhận và tỏi tạo mà người học
sử dụng cấu trúc vốn có của L1 đối với L2 Giao thoa được hiểu theo nghĩa rộng là ảnh hưởng của cấu trỳc L1 đến L2 bao gồm cả những cỏi giống nhau (thuận lợi) và những cỏi khỏc nhau (khụng thuận lợi) Hiểu theo nghĩa
hẹp, giao thoa chỉ gồm những cỏi khỏc nhau (khụng thuận lợi, cản trở, ảnh
hưởng) gõy ra lỗi trong việc học L2 Quỏ trỡnh giao thoa theo nghĩa hẹp sẽ
giảm dần trong quỏ trỡnh học ngoại ngữ Điều đó cũng có nghĩa là cùng với thời gian học ngoại ngữ tăng lên, những điểm giống nhau tăng dần Sẽ không xảy ra hiện tượng L1 và L2 trùng khớp vào nhau hoàn toàn khi một người đó thụng thạo tiếng mẹ đẻ, sau đó học một ngoại ngữ khỏc
Một cách khái quát, có thể định nghĩa hiện tượng giao thoa như sau:
Giao thoa là hiện tượng người học ngoại ngữ sử dụng kiến thức, thúi quen của tiếng mẹ đẻ ỏp dụng cho việc học ngoại ngữ Hiện tượng này là tất yếu đối với người học Tuy nhiờn hậu quả đưa lại là khỏc nhau: những kiến thức, thúi quen giống nhau giữa L1 và L2 đưa lại hiệu quả thuận lợi được gọi là chuyển giao tớch cực Ngược lại, kiến thức và thúi quen khỏc nhau giữa L1 và L2 tạo ra nhiễu loạn được gọi là chuyển giao tiờu cực Đú
là nguyờn nhõn gõy ra lỗi trong học ngoại ngữ
Cỏc loại giao thoa trong học ngoại ngữ:
Nếu so sỏnh L1 và L2 để cắt nghĩa cho hiện tượng giao thoa thỡ về
nguyờn tắc chỉ xảy ra 2 khả năng: giống nhau và khỏc nhau cả về mặt cấu
trỳc và về mặt sử dụng Tuy nhiờn, thực tế cú thể xảy ra 4 loại giao thoa sau:
+ Giống nhau tuyệt đối chuyển giao tớch cực khụng mắc lỗi + Giống nhau tương đối cả tớch cực và tiờu cực cú 2 khả năng
Trang 34+ Khỏc nhau tuyệt đối (ụ trống) chuyển giao tiờu cực mắc lỗi
Cả 3 loại sau đều được xem là giao thoa tiêu cực, xảy ra ở tất cả các cấp độ và bỡnh diện so sỏnh Mỗi bỡnh diện, cấp độ cú những đặc thự riờng
5.2 Khái niệm lỗi (error) và phân tích lỗi (erroranalysis)
a) Lỗi là gì?
Về định nghĩa lỗi cú thể sử dụng khỏi niệm "sai lệch với chuẩn":
Một lỗi có thể được định nghĩa theo nhiều cách Một cách tiếp cận
có thể là nói rằng một lỗi là sự vi phạm chuẩn của ngôn ngữ, nhưng khi đó người ta lại phải định nghĩa thế nào là chuẩn (LEGENHAUSEN )
Người ta phân biệt hai khái niệm khác nhau khi nói về lỗi :
- Nhầm lẫn (mistake): Những lỗi không hệ thống, phụ thuộc vào các
yếu tố bên ngoài Những lỗi loại này có thẻ do vội, do mệt mỏi và được gọi
là "lỗi nhầm": nói nhầm, nghe nhầm, viết nhầm… Chúng không nói lên
điều gỡ về khả năng thực sự hay liên ngôn ngữ (interlanguage)
- Lỗi (error): Liên quan đến việc thể hiện về ngôn ngữ, có tính hệ
thống lệ thuộc vào hệ thống quy tắc đang có và vỡ thế liờn quan đến năng
Trang 35lực ngôn ngữ Đây là sự hiện diện, số lượng và loại của chỳng phản ỏnh trỡnh độ của ngôn ngữ mỗi người học (tuy nhiên kèm với vấn đề về sự biến thiên giữa các cá nhân và nội tại cá nhân: không phải mỗi người đều mắc những lỗi giống nhau và quá trỡnh học là một quỏ trỡnh động, biến đổi)
Về sự khỏc biệt này giữa error - mistake, chính NICKEL cũng lưu ý
là cỏc lỗi thể hiện cũng thường có loại theo hệ thống (tương tự hay tổng quát hoá sai) và không hoàn toàn là phi quy tắc (bất cứ một phép tương tự nào có lẽ cũng có thể luôn chứng minh được), và cả những lỗi năng lực cũng không luôn luôn phản ánh đúng trỡnh độ hiện tại về kiến thức ngôn ngữ Sự thể hiện ngôn ngữ của một người học thường hay được đặc trưng bởi việc tách rời xa nhau giữa tri thức quy tắc và việc vận dụng tri thức: việc các phát ngôn đúng đứng bên cạnh các phát ngôn sai làm cho sự phân bậc lỗi gặp vấn đề (vấn đề biến thiên nội tại cá nhân)
b) Nhận dạng lỗi
- Lỗi ở các cấp độ khác nhau:
Những phỏt ngụn cú lỗi cú thể sai lệch với cỏc chuẩn khỏc nhau: cỏc
phỏt ngụn cú thể thớch hợp thuần tuý về ngữ phỏp, nhưng lại không chấp nhận được về dụng học và vỡ thế cú lỗi (vớ dụ như những vi phạm chuẩn
về phạm vi ngôn ngữ (Sprachregister), những "lỗi phát âm - Stilfehler" truyền thống) Trong đánh giá các phát ngôn ngôn ngữ người học, sẽ không
đủ, nếu chỉ lưu ý đến chuẩn ngữ phỏp thuần tuý, bởi vỡ như vậy chỉ có thể
nắm bắt được các sai lệch về ngữ âm, chính tả, hỡnh vị và cỳ phỏp (= lỗi hệ
thống) Cả những lỗi ngữ nghĩa - từ vựng và lỗi dụng học cũng phải có thể
mô tả được, và điều này được diễn ra trên cơ sở chuẩn ngôn ngữ học cũng như chuẩn dụng học
- Thang độ để đánh giá chuẩn
Trang 36Dùng chuẩn để đánh giá lỗi mang tính tuyệt đối Tuy nhiên, trong thực tế không phải bất cứ hiện tượng ngôn ngữ nào cũng có thể đơn giản
sắp xếp vào một phạm trù hai thành phần sai hay đúng Đúng hơn phải xuất phát từ một thang độ với các mức độ chấp nhận khác nhau (ví dụ như theo
ngữ phỏp - cận biờn - sai lệch - phi ngữ phỏp) Tuy nhiờn, trong việc học
một ngoại ngữ thụng qua quy tắc và chuẩn thỡ mọi sự vi phạm chuẩn đều
được đánh giá là lỗi, cho dù tất nhiên đó là những trường hợp mà ở đó
cũng rất ít người nói ngôn ngữ mẹ đẻ có quan điểm thống nhất
- Nhận dạng lỗi lý tưởng
Có thể thấy việc nhận dạng cần điều kiện là người dạy ngoại ngữ
phải có năng lực ngôn ngữ xấp xỉ ngôn ngữ bản địa (near native speaker)
Lý tưởng nhất là việc nhận dạng lỗi được tiến hành bởi một đội ngũ có những người nói tiếng mẹ để lẫn những người có kiến thức rất giỏi trong ngôn ngữ liên quan Những người này có khả năng tỡm ra được những lỗi
được gọi là lỗi ngầm, lỗi ẩn (covert error): trờn bề mặt thoạt nhỡn khụng
thấy gỡ là sai cả nhưng phát ngôn không tương ứng với chủ ý của người học (ví dụ như vấn đề nhầm từ chẳng hạn)
c) Đánh giá lỗi
Theo LEGENHAUSEN (1975), khi đánh giá các vi phạm về ngôn
ngữ có ba tham số chịu liờn quan: một tham số ngôn ngữ học, một tham số
sư phạm và một tham số tâm lý học Tuy nhiên, chính ông cũng lưu ý rằng:
Quỏ trỡnh đánh giá là một thủ tục vô cùng phức tạp không thể có một lời giải bảo đảm chắc chắn (LEGENHAUSEN, 1975, tr.110)
Theo ông, bốn tiêu chí đánh giá quan trọng nhất là độ chấp nhận (về ngữ phỏp), độ ảnh hưởng giao tiếp, giỏ trị vị trớ trong quỏ trỡnh dạy, học
và độ khó học Điều ta có thể thấy là phạm vi về ngôn ngữ học, sư phạm và
Trang 37tâm lý học khụng phải luụn cú thể được tách bạch rừ ràng với nhau và thường phối hợp lẫn nhau
Một lệch chuẩn khi đó sẽ phải được đánh giá như là lỗi nặng, nếu độ chấp nhận, độ khó và độ ảnh hưởng giao tiếp cũng như vị trí giá trị trong giờ học được đánh giá cao
Với việc đưa kết quả giao tiếp vào đánh giá một thành tích ngôn ngữ, người ta lưu ý đến thực tế là chức năng chính của ngôn ngữ là ở việc thiết lập các quan hệ giao tiếp.Vỡ từ đó việc hỡnh thành năng lực giao tiếp cũng được xem như là mục tiêu học hàng đầu của giờ học ngoại ngữ, nên thực tế phải xác nhận cho quan điểm đánh giá này một ý nghĩa quyết định
Đức, lỗi trong * Er spielen im Garten giả sử như theo tiêu chí thuần túy
ngôn ngữ học này sẽ được gọi là nhẹ Tuy nhiên, từ những lý do sư phạm lại được coi là lỗi nặng Người ta không được quên là không chỉ đánh giá dạng của một mệnh đề mà phải đánh giá cả thành tích của người học nữa
Phạm trù “ thỡ „ liên quan đến thời gian của hành động bao giờ cũng được
dạy trước tiên, và do vậy các quy tắc này người học phải biết
- Cũng từ những lý do sư phạm, chẳng hạn người ta không nên đánh giá quá nghiêm ngặt những người học không chọn con đường dễ nhất (tức
là đi vào những "mạo hiểm ngôn ngữ học") và do đó mắc lỗi, và lỗi phải được đánh giá nặng hơn khi người học có xu hướng lặp lại chúng Việc khẳng định lỗi trong nghiên cứu phân tích lỗi ngày nay được nhỡn nhận
Trang 38theo chiều hướng tích cực hơn tức xem việc mắc lỗi trong học ngoại ngữ là tất yếu
Tóm lại, ở đây ta cần ghi nhớ rằng lĩnh vực có vấn đề về đánh giá lỗi cần phải được xem xét như là một hoạt động phối hợp giữa các yếu tố ngôn ngữ học cũng như sư phạm và tâm lý học và rằng như vậy không có sự đánh giá lỗi "tuyệt đối", vỡ tất cả mọi thước đo đều là tương đối Điều này
đó tự núi lờn rằng trong việc đánh giá các thành tích ngôn ngữ cần phải phấn đấu đạt được sự khách quan lớn nhất Tác động qua lại thường xuyên, tinh tế của những yếu tố khác nhau biến vấn đề này trở thành một nhiệm vụ
vô cùng khó khăn
d) Liệu pháp phòng chống lỗi
Sau khi lỗi đó được nhận dạng, sắp xếp, giải thích và đánh giá thỡ bước cuối cùng của một phân tích lỗi là biến các kết quả trở thành hữu dụng đối với lĩnh vực ứng dụng là giờ học Sự vận dụng cụ thể này của các kết quả phân tích nhằm loại trừ, và trong tương lai tránh các lỗi được mô tả
là nhiệm vụ của liệu phỏp lỗi và phũng trỏnh lỗi:
Mục tiêu hàng đầu của phân tích lỗi trong giờ học ngoại ngữ trước hếl là phát hiện những khiếm khuyết về dạy và học cũn tồn tại Mục tiờu cần đạt được là phân tích lỗi - theo nghĩa phũng chống lỗi, giỳp giỏo viờn
dự liệu và chuẩn bị trước đối với những lỗi có thể xuất hiện, để những lỗi nhất định thậm chí hoàn toàn không xuất hiện nữa - mang lại các kết quả đối với việc thiết kế và xem xét lại các tư liệu dạy và học và ở đây cùng quyết định các vấn đề chất lượng, xếp dóy, trỡnh tự và diễn tiến của chất liệu dạy học cần phải truyền đạt (KUHS, 1987, tr.175)
Như là khả năng tránh khỏi việc phải sửa sai vô nghĩa nhiều lần của cùng những lỗi đó từng mắc, người ta đó đề xuất những bài luyện tập lặp lại có mục tiêu, gắn với hệ thống, mà trong đó tính quy tắc được ý thức và
Trang 39rốn luyện thụng qua việc cho dạng mẫu của cỏc dạng thức song song Nhƣng ở đây cần nhắc tới những nguy cơ của các bài luyện tập sửa chữa quá hẹp và không dựa vào ngôn cảnh Những dạng chỉnh sửa quá tách biệt cũng có nhƣợc điểm là các điều kiện ngôn cảnh vƣợt quá các đơn vị câu sẽ không đƣợc chú ý Nhƣ vậy, trong khuôn khổ liệu pháp chống lỗi cần chú ý rằng không phải qua việc lặp lại dạng mẫu sẽ tạo ra sự đơn điệu, ngoài ra cũn tạo sự quỏ tải dẫn đến việc bỏ qua các phần tử khỏc (theo NICKEL, 1972)
Việc xử lý lỗi với mục tiờu trỏnh phạm lỗi ngay từ đầu (phũng trỏnh lỗi) cú thể dẫn đến những kết luận nhƣ phải có kế hoạch về chất liệu dạy cho một thời gian dài hay một phát triển đƣợc đầu tƣ khác đi và thể hiện mục đích lõu dài của phõn tớch lỗi
Trang 40CHƯƠNG II:
CÁC DẠNG LỖI ĐIỂN HÌNH VỀ PHÁT ÂM
PHỤ ÂM TIẾNG ĐỨC
1 Phương pháp xác định lỗi phát âm phụ âm tiếng Đức
1.1 Xây dựng bảng từ khảo sát lỗi
Nguyên tắc xây dựng bảng từ khảo sát lỗi
Bảng từ xây dựng phục vụ mục đích xác định lỗi phát âm phụ âm tiếng Đức áp dụng cho sinh viên bắt đầu học năm thứ hai, chuyên ngành tiếng Đức tại ĐHDL Phương Đông Do vậy, bảng từ khảo sát tuân thủ hai nguyên tắc cơ bản dưới đây
a) Bảng từ phải:
- Bao gồm tất cả các âm vị phụ âm tiếng Đức (21 âm vị) trong các
bối cảnh khác nhau (các biến thể vị trí) lấy nguyên âm làm hạt nhân, âm
tiết làm cơ sở, tức là các phụ âm đó đứng trước hay sau nguyên âm hạt nhân
- Bao gồm các cụm phụ âm tiêu biểu nhất của tiếng Đức trong các
bối cảnh khác nhau lấy nguyên âm làm hạt nhân âm tiết làm cơ sở, tức là
các cụm phụ âm đó đứng trước hay sau nguyên âm hạt nhân
b) Bảng từ phải gồm phần lớn các từ trong các giáo trình: Themen
aktuell Band I, II III và EM- Brỹckenkurs, EM-Hauptkurs, kurs mà sinh viên đã được học trong thời gian trước đó để các em không