Do đó, vấn đề đẩy mạnh và phát triển việc nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến lĩnh vực giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ cho người nước ngoài nói chung, cho người Trung Quốc nói
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NGÔN NGỮ HỌC - -
ĐÀO THỊ THANH HUYỀN
KHẢO SÁT LỖI NGỮ ÂM CỦA NGƯỜI TRUNG QUỐC HỌC TIẾNG VIỆT VÀ CÁCH KHẮC PHỤC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI, 2008
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NGÔN NGỮ HỌC - -
ĐÀO THỊ THANH HUYỀN
KHẢO SÁT LỖI NGỮ ÂM CỦA NGƯỜI TRUNG QUỐC HỌC TIẾNG VIỆT VÀ CÁCH KHẮC PHỤC
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3 Phương pháp nghiên cứu 4
4 Bố cục luận văn 5
CHƯƠNG I MỘT VÀI KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 6
1.1 Quan điểm phân tích lỗi hiện đại 6
1.1.1 Lỗi là gì? (Theo cách tiếp cận của ngôn ngữ học ứng dụng) 6
1.1.2 Quan điểm mới về lỗi 6
1.1.3 Thế nào là phân tích lỗi? 7
1.1.4 Khái niệm ngôn ngữ trung gian (Interlanguage) 9
1.2 Về lỗi ngữ âm của người học ngoại ngữ 10
1.2.1 Sơ lược về khái niệm ngữ âm 10
1.2.2 Thế nào là lỗi ngữ âm? 12
1.2.3 Phân biệt lỗi ngữ âm với lỗi từ vựng, lỗi ngữ pháp và lỗi xuyên văn hóa 13
1.3 Vị trí của ngữ âm trong việc dạy và học ngoại ngữ 16
1.3.1 Tầm quan trọng của ngữ âm trong việc dạy và học ngoại ngữ 16
1.3.2 Những thuận lợi và khó khăn của người Trung Quốc khi học ngữ âm tiếng Việt 17
1.3.3 Ý nghĩa khoa học cuả việc nghiên cứu và sửa lỗi ngữ âm cho người nước ngoài 20
Tiểu kết 21
CHƯƠNG II KHẢO SÁT LỖI NGỮ ÂM CỦA NGƯỜI TRUNG QUỐC HỌC TIẾNG VIỆT 23
2.1 Một số đặc điểm ngữ âm của tiếng Việt và tiếng Hán 23
2.1.1 Những điểm tương đồng 23
2.1.1.1 Thành phần cấu trúc âm tiết 23
2.1.1.2 Đa số âm tiết và hình vị trùng nhau 24
2.1.1.3 Có nhạc tính đa dạng 25
Trang 42.1.1.4 Âm tiết tính thể hiện rõ ràng 25
2.1.2 Những điểm khác biệt 26
2.1.2.1 Số lượng của các thành phần cấu tạo âm tiết 26
2.1.2.2 Chất lượng của các thành phần âm tiết 27
2.2 Khảo sát lỗi ngữ âm của người Trung Quốc học tiếng Việt 30
2.2.1 Lỗi nguyên âm 31
2.2.1.1 Vần /iết là "ươu" 31
2.2.1.2 Vần /iết là "ưu" 32
2.2.1.3 Cặp nguyên âm / / và / / (trường hợp"ươ" và" uô") 33
2.2.1.4 Cặp nguyên âm /ă/ ngắn và /a/: ("ă" và "a") 33
2.2.1.5 Cặp nguyên âm // và /u/ "(ư" và" u") 34
2.2.1.6 Cặp nguyên âm // ngắn và /ă/ ngắn ("â" và" ă") 35
2.2.1.7 Cặp nguyên âm // và // ("ơ" và" â") 35
2.2.1.8 Cặp nguyên âm // và /o/ ("o" và" ô") 36
2.2.1.9 Cặp nguyên âm / / và / / (trường hợp" ưa" và" ua") 36
2.2.1.10 Cặp nguyên âm // và /e/ ("e" và" ê") 37
2.2.1.11 Nhận xét 37
2.2.2 Lỗi phụ âm đầu 38
2.2.2.1 Cặp phụ âm /d/ và /t/ hoặc /l/ 38
2.2.2.2 Phụ âm // 39
2.2.2.3 Phụ âm // (viết là "ng" và" ngh") 40
2.2.2.4 Phụ âm // (viết là "g" và" gh") 41
2.2.2.5 Phụ âm /z/ (viết là "d" và" gi") 41
2.2.2.6 Phụ âm /t/ và /t'/ ("t" và" th") 42
2.2.2.7 Phụ âm /n/ và /l/ ("n" và" l") 43
2.2.2.8 Phụ âm /b/("b") 43
2.2.2.9 Cặp phụ âm /v/ và /f/ ("v" và" ph") 44
2.2.2.10 Nhận xét 44
2.2.3 Lỗi âm cuối 46
2.2.3.1 Âm cuối /p /("p") 46
2.2.3.2 Bán âm cuối /j / (viết là "y" và" i") 46
Trang 52.2.3.3 Âm cuối /m / ("m") 47
2.2.3.4 Âm cuối /t / ("t") 47
2.2.3.5 Âm cuối /k / (viết là "c" hoặc "ch") 48
2.2.3.6 Âm cuối // (viết là "nh" hoặc" ng") 49
2.2.3.7 Nhận xét 49
2.2.4 Lỗi thanh điệu 50
2.2.4.1 Thanh nặng 51
2.2.4.2 Thanh ngã 52
2.2.4.3 Thanh huyền 53
2.2.4.4 Thanh hỏi 54
2.2.4.5 Thanh ngang 55
2.2.4.6 Nhận xét 55
2.3 Đánh giá chung 56
2.3.1 Nhận xét 56
2.3.2 Các nguyên nhân gây ra lỗi 59
2.3.3 Tiểu kết 61
CHƯƠNG III NHỮNG GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC 63
3.1 Phân chia hợp lí các giai đoạn học ngữ âm tiếng Việt 64
3.1.1 Giai đoạn ngữ âm cơ sở 66
3.1.1.1.Mục đích - yêu cầu 66
3.1.1.2.Thời gian dạy và học 66
3.1.1.3.Cách thức tiến hành 66
3.1.2 Giai đoạn ngữ âm hoàn thiện 68
3.1.2.1.Mục đích - yêu cầu 68
3.1.2.2.Thời gian dạy và học 68
3.1.2.3.Cách thức tiến hành 69
3.1.3 Giai đoạn ngữ âm nâng cao 70
3.1.3.1.Mục đích - yêu cầu 70
3.1.3.2.Thời gian dạy và học 70
3.1.3.3.Cách thức tiến hành 71
Trang 63.2 Quy trình chữa lỗi ngữ âm 71
3.2.1 Quy trình chữa lỗi 71
3.2.2 Kĩ thuật chữa lỗi 72
3.3 Những chú ý khi dạy ngữ âm tiếng Việt cho người Trung Quốc 74
3.3.1 Về thanh điệu 74
3.3.2 Về nguyên âm 75
3.3.3 Về phụ âm đầu 76
3.3.4 Về phụ âm cuối 77
3.3.5 Về chữ viết 78
3.3.5.1.Những chú ý khi giảng dạy ngữ âm và chữ viết 78
3.3.5.2.Các quy tắc về chữ viết tiếng Việt 79
3.3.6 Về các cặp âm đặc biệt 81
3.3.6.1.Cặp nguyên âm /ă/ và /a/ 82
3.3.6.2.Cặp nguyên âm /u/ (u) và âm đệm /w/ (u) với nguyên âm "y" 84 3.3.6.3.Cặp nguyên âm đôi / / (viết là "ua") và âm đệm // với nguyên âm "a" (viết là "ua"; "oa") 84
3.3.6.4.Cặp nguyên âm // (viết là "e") và // (viết là "a") 85
3.3.6.5.Cặp phụ âm // (viết là "g") và // (viết là" ng") 85
3.3.6.6.Cặp phụ âm // (viết là "gh") và // (viết là" ngh") 85
Tiểu kết 86
KẾT LUẬN 87 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC: CÁC LOẠI BÀI TẬP NGỮ ÂM
uo
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Việt Nam và Trung Quốc "núi liền núi, sông liền sông" lại có nhiều nét
tương đồng về lịch sử, văn hóa cũng như các điều kiện tự nhiên, chính vì vậy hai nước từ lâu đã có quan hệ láng giềng hữu nghị thân thiết Đặc biệt là sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức năm 1950, mối quan hệ bang giao giữa Việt Nam và Trung Quốc càng được củng cố mạnh mẽ Gần đây, việc Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO lại càng tăng thêm cơ hội hợp tác và phát triển lâu dài giữa hai nước láng giềng anh em theo phương châm 16 chữ
vàng "láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương
lai"
Có thể nói, chiếc chìa khóa vàng để mở cánh cửa giao lưu và hợp tác giữa Việt Nam - Trung Quốc chính là ngôn ngữ Chính vì thế, số lượng người Trung Quốc học tiếng Việt ngày càng đông đảo Tại Trung Quốc, ngay từ năm 1949, trường Đại học Bắc Kinh đã thành lập chuyên ngành tiếng Việt Cho đến nay, Trung Quốc đã có 8 trường đại học và cao đẳng có chuyên ngành tiếng Việt, trong đó có 3 trường được công nhận có tư cách đào tạo thạc sỹ chuyên ngành tiếng Việt với số lượng sinh viên không ngừng được tăng lên hàng năm Tại khoa Đông Phương học của Đại học Bắc Kinh, những năm gần đây, số lượng sinh viên Trung Quốc tốt nghiệp chuyên ngành tiếng Việt đứng thứ 4 trong tổng
số 14 ngoại ngữ được đào tạo Tương tự như vậy, hiện nay, tiếng Trung Quốc cũng trở thành một trong bốn ngoại ngữ được người Việt Nam theo học nhiều nhất là "Anh, Trung, Nhật, Hàn"
Tại Việt Nam, các cơ sở lớn đào tạo tiếng Việt cho người nước ngoài như: Đại học Hà Nội, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội, Đại học Hải Phòng, Đại học Đà Nẵng, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh số người Trung Quốc theo học tiếng Việt cũng không ngừng được tăng lên Các hình thức đào tạo tiếng Việt cho người Trung Quốc cũng hết sức phong
Trang 8phú như: chương trình đào tạo thạc sỹ tiếng Việt, cử nhân tiếng Việt, chương trình liên kết - hợp tác giữa các trường Đại học, Cao đẳng của hai nước theo hình thức 2+2, 1+3, 3+1 Do đó, vấn đề đẩy mạnh và phát triển việc nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến lĩnh vực giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ cho người nước ngoài nói chung, cho người Trung Quốc nói riêng đã và đang được các trường Đại học của Việt Nam rất quan tâm
Có thể nói, việc nghiên cứu dạy và học ngôn ngữ thứ hai (ngoại ngữ) bắt đầu từ cuối thế kỉ XIX Nhưng mãi đến năm 1948, khi cuốn "Các ngôn ngữ hiện đại" của E Durkhein ra đời thì trào lưu trên mới thực sự phát triển Đến những năm 60 của thế kỉ XX, phạm vi nghiên cứu dạy và học ngôn ngữ được mở rộng, nhiều tên tuổi lớn đã xuất hiện, đồng thời, nhiều trung tâm nghiên cứu ngôn ngữ học ứng dụng được thành lập ở nhiều nước trên thế giới, nhiều Hội thảo quốc tế được tổ chức Tiêu biểu là Trung tâm ngôn ngữ học ứng dụng (được thành lập năm 1959 tại Oasinhtơn), Trung tâm nghiên cứu song ngữ quốc tế (được thành lập năm 1967 tại Quebec), Hội thảo quốc tế về dạy và học ngôn ngữ được tổ chức tại Berlin năm 1964 v.v Đến nay, ngành nghiên cứu này vẫn tiếp tục phát triển mạnh với rất nhiều các lĩnh vực khác nhau
Ở Việt Nam, việc dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ phát triển khá mạnh, đặc biệt là trong ba mươi năm trở lại đây Điều đó đồng nghĩa với sự xuất hiện của các bài viết, bài nghiên cứu, các luận văn, luận án về việc dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ của các tác giả Việt Nam và các tác giả nước ngoài như: Hoàng Trọng Phiến, Đoàn Thiện Thuật, Vũ Văn Thi, Lê Đình Tư, Nguyễn Thiện Nam, Đinh Lư Giang, Nguyễn Văn Huệ, Chúc Ngưỡng Tu, Lê Xảo Bình, Hwang Gwi Yeon Trong đó, có một số công trình nghiên cứu có liên quan đến lỗi không thể không kể đến như: Luận án thạc sĩ khoa học Ngữ văn năm 1997
của Đỗ Thị Thu "Xem xét cách diễn đạt câu tiếng Việt của người nước ngoài
học tiếng Việt"; Luận án tiến sĩ khoa học Ngữ văn năm 1999 của Nguyễn Văn
Phúc "Nghiên cứu các dạng lỗi phát âm tiếng Việt của sinh viên nói tiếng Anh"; Luận án tiến sĩ khoa học Ngữ văn năm 2001 của Nguyễn Thiện Nam "Khảo sát
Trang 9lỗi ngữ pháp của người nước ngoài và những vấn đề liên quan"; Luận án thạc sĩ
khoa học Ngữ văn năm 2004 của Lê Xảo Bình "Lỗi của người Trung Quốc học
tiếng Việt nhìn từ góc độ xuyên văn hóa (Xét về khía cạnh từ vựng)"; Luận án
thạc sĩ khoa học Ngữ văn năm 2008 của Trần Thị Thanh "Khảo sát lỗi phát âm
tiếng Đức của sinh viên học chuyên ngành tiếng Đức và các biện pháp khắc phục"
Trước thực tế nghiên cứu về lỗi ở Việt Nam nói chung, trước nhu cầu học tiếng Việt của người Trung Quốc ngày càng tăng như hiện nay nói riêng, chúng
tôi đã lựa chọn và thực hiện đề tài "Khảo sát lỗi ngữ âm của người Trung Quốc học tiếng Việt và cách khắc phục" nhằm mục đích nâng cao hơn nữa
chất lượng dạy và học hai ngôn ngữ Việt - Hán
2 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn đồng thời cũng là tên gọi của nó Đó là
" Khảo sát lỗi ngữ âm của người Trung Quốc học tiếng Việt và cách khắc phục"
Trước hết, luận văn muốn tìm hiểu, nghiên cứu lỗi sai ngữ âm của người Trung Quốc học tiếng Việt dưới ánh sáng của quan điểm phân tích lỗi hiện đại Đồng thời, luận văn muốn khẳng định tầm quan trọng của việc phân tích lỗi và đưa ra các biện pháp khắc phục lỗi ngữ âm
Thứ hai, thông qua việc khảo sát, chúng tôi muốn tìm hiểu tình trạng mắc lỗi ngữ âm của người Trung Quốc học tiếng Việt thực hành, tỉ lệ mắc các loại lỗi ngữ âm, phân tích những nguyên nhân dẫn đến các lỗi ngữ âm đó
Thứ ba, từ tình trạng mắc lỗi ngữ âm như đã khảo sát, chúng tôi đưa ra các giải pháp để khắc phục lỗi và các loại hình bài tập để rèn luyện ngữ âm tiếng Việt một cách có hiệu quả
Đối tượng của luận văn là khảo sát lỗi ngữ âm của người Trung Quốc học tiếng Việt nhưng trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ, chúng tôi mới khảo sát các lỗi ngữ âm trong khung âm tiết của người Trung Quốc học tiếng Việt thực
hành gồm: lỗi nguyên âm, lỗi phụ âm đầu, lỗi âm cuối và lỗi thanh điệu Chúng
tôi không tiến hành khảo sát lỗi âm đệm vì cả tiếng Việt và tiếng Hán đều có âm
Trang 10đệm kèm theo yếu tố tròn môi khi phát âm, hơn nữa số lượng âm đệm của tiếng Hán còn nhiều hơn tiếng Việt nên người Trung Quốc sẽ không gặp nhiều khó khăn với thành tố âm vị này nếu không muốn nói là họ có thể làm quen ngay với
âm đệm // của tiếng Việt Các lỗi khác có liên quan đến ngữ âm như lỗi ngữ điệu, lỗi trọng âm, lỗi văn tự chưa được khảo sát trong công trình này
3 Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn của chúng tôi lựa chọn lí thuyết ngữ âm và lí thuyết phân tích lỗi (Error Analysis) của Pit Corder làm cơ sở lí luận
- Dựa trên cơ sở đó, chúng tôi đã tiến hành khảo sát lỗi ngữ âm của người Trung Quốc (chủ yếu là những người thuộc các tỉnh miền Nam Trung Quốc) học tiếng Việt thông qua những nguồn tư liệu sau:
Tài liệu điều tra trắc nghiệm: Phát ra 720 phiếu điều tra, thu về 712 phiếu điều tra
1000 bài kiểm tra, bài viết của sinh viên Trung Quốc học tiếng Việt giai đoạn tiếng Việt thực hành có chứa lỗi ngữ âm Các sinh viên này
đã và đang học tiếng Việt tại khoa Việt Nam học, Trung tâm tiếng Việt và Trung tâm ESP, Đại học Hà Nội trong các năm học 2005-2006; 2006-2007; 2007-2008
Băng ghi âm dài 25 giờ 24 phút ghi lại những giờ học ngữ âm trên lớp, những hội thoại giữa sinh viên với giáo viên, sinh viên với sinh viên, sinh viên với người Việt Nam và những cuộc thi nói tiếng Việt của sinh viên Trung Quốc Để đảm bảo tính khách quan, các đoạn băng ghi âm đều được thực hiện một cách kín đáo mà người học không hề biết Căn cứ vào những tư liệu trên, chúng tôi sử dụng các phương pháp như thống kê, tổng hợp, so sánh để tiến hành phân tích và phân loại các lỗi ngữ âm đó Những lỗi ngữ âm xuất hiện ngẫu nhiên có tỉ
lệ mắc lỗi thấp chúng tôi không đưa vào diện khảo sát
Trang 11- Dựa vào kết quả phân tích lỗi, chúng tôi tiến hành đánh giá tình trạng mắc lỗi, chỉ ra các nguyên nhân chính dẫn đến lỗi và đưa ra kết luận
- Cuối cùng, chúng tôi đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục và giảm thiểu các lỗi ngữ âm của người Trung Quốc học tiếng Việt
4 Bố cục luận văn
Luận văn gồm các phần và các chương chính như sau:
Mở đầu
Chương I: Một số khái niệm liên quan đến đề tài
Chương II: Khảo sát lỗi ngữ âm của người Trung Quốc học tiếng Việt Chương III: Những giải pháp khắc phục
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 12CHƯƠNG I
MỘT VÀI KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Quan điểm phân tích lỗi hiện đại
1.1.1 Lỗi là gì? (Theo cách tiếp cận của ngôn ngữ học ứng dụng)
Theo “Từ điển tiếng Việt” của nhà xuất bản Đà Nẵng năm 2003 thì “lỗi” là
“Chỗ sai sót do không thực hiện đúng quy tắc; Là điều sai sót không nên, không phải trong cư xử, trong hành động Hoặc “lỗi” là điều sai phạm, khuyết điểm tương đối lớn" (67, tr.581)
Tuy nhiên, “lỗi” dưới cái nhìn của ngôn ngữ học ứng dụng lại hoàn toàn
khác Theo “Từ điển ngôn ngữ học ứng dụng và dạy tiếng” thì “lỗi của người
học (trong khi nói hoặc viết một ngôn ngữ thứ hai hay ngoại ngữ, là hiện tượng
sử dụng một đơn vị ngôn ngữ (chẳng hạn một từ, một đơn vị ngữ pháp, một hoạt động nói năng…) bằng cách mà người bản ngữ hoặc người giỏi thứ tiếng đó cho
là sai hoặc cho là chưa đủ” (40, tr.7)
Lỗi (error) có đặc điểm là lặp lại nhiều lần và có tính hệ thống Nhà ngôn ngữ học W.T Little Wood cũng có ý kiến đồng nhất với quan điểm này Ông cho rằng “Tiêu chí đáng tin cậy nhất là tính xuất hiện thường xuyên - chứng cứ tốt nhất mà một lỗi phản ánh hệ thống chiều sâu của người học là khi nó xuất hiện đều đặn trong lời nói của người học” (40, tr.8)
1.1.2 Quan điểm mới về lỗi
Trước thập kỉ 60 của thế kỉ XX, khi lí thuyết về việc thụ đắc ngoại ngữ của nhà nghiên cứu N Chomsky chưa ra đời thì lỗi chưa được giới ngôn ngữ học quan tâm và đánh giá đúng mức Có ý kiến cho rằng, lỗi trong quá trình nói hoặc viết một ngôn ngữ thứ hai hay ngoại ngữ là biểu hiện sự thất bại của người học Lỗi là bằng chứng của sự thiếu chú ý, sự thiếu tích cực hay chứng tỏ năng lực ngoại ngữ không tốt của người học Ở đây, lỗi được coi là chướng ngại vật to lớn cản trở quá trình thụ đắc ngoại ngữ, gây ra sự chán nản, làm giảm đáng kể tinh thần và thái độ học ngoại ngữ của người học Vì vậy, lỗi là điều đáng lo
Trang 13ngại đối với người học ngoại ngữ Nếu lỗi xuất hiện với tần số cao thì nó sẽ tỷ lệ thuận với dấu hiệu thất bại trong quá trình thụ đắc ngoại ngữ của họ
Nhưng những quan điểm sai lầm về lỗi trên đây đã được thay đổi hoàn toàn khi nhà ngôn ngữ học Pit Corder đưa ra những quan điểm hết sức mới mẻ và toàn diện về hiện tượng lỗi
Có thể nói, Pit Corder (1918 - 1990) là người đặt những viên gạch đầu tiên cho cuộc cách mạng về lỗi trong ngôn ngữ học Pit Corder làm việc tại khoa ngôn ngữ học ứng dụng, đại học Edinburgh Trong hơn hai mươi năm đi theo con đường nghiên cứu và phát triển ngành ngôn ngữ học ứng dụng, ông đã có nhiều cống hiến vô cùng to lớn giúp cho ngành ngôn ngữ học này trở nên phổ biến và có ảnh hưởng mạnh mẽ không chỉ ở Anh mà còn trên phạm vi toàn thế giới
Theo ông, trong quá trình học ngoại ngữ, lỗi là hiện tượng đương nhiên và tất yếu sẽ xảy ra, nó là một bộ phận không thể thiếu trong tiến trình thụ đắc một ngoại ngữ mới Đây là điều kiện cần và đủ đối với người học trong quá trình này Quan điểm phân tích lỗi hiện đại cho rằng, lỗi là kết quả tất yếu của việc người học khám phá ngoại ngữ đang học một cách tích cực, là sự thể hiện những chiến lược, phương pháp mà người học áp dụng khi học ngoại ngữ Như vậy, lỗi chính
là thước đo chính xác nhất trình độ ngoại ngữ của người học tại một thời điểm nhất định trong quá trình học Cả người dạy và người học có thể căn cứ vào lỗi
để điều chỉnh và đưa ra phương pháp học hợp lí và hiệu quả nhất Chúng ta tuyệt đối không nên coi lỗi là dấu hiệu của sự thất bại khi học ngoại ngữ mà nên coi lỗi là cơ hội, là điều kiện để người học không mắc lỗi ở những lần sau và đặc biệt cần tránh việc mắc lỗi làm ảnh hưởng đến tâm lí của người dạy và người học theo chiều hướng tiêu cực Nếu ý thức được điều này thì việc học ngoại ngữ
sẽ dẫn đến thành công
1.1.3 Thế nào là phân tích lỗi?
Liên quan đến lỗi, các nhà ngôn ngữ học đã đi theo hai khuynh hướng
nghiên cứu chính: khuynh hướng phân tích đối chiếu (Contrastive analysis) và
Trang 14khuynh hướng phân tích lỗi (Error analysis) Về hai khuynh hướng này, các nhà
ngôn ngữ học cũng có nhiều ý kiến khác nhau Các ý kiến này được trình bày khá rõ ràng trong cuốn "Nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ" của tác giả Lê Quang Thiêm (56, tr.68)
Ý kiến thứ nhất do nhà ngôn ngữ học Corder khởi xướng Ông cho rằng
"nghiên cứu đối chiếu không thể cho phép tiên đoán và giải thích tất cả mọi kiểu loại ngôn ngữ của người học và dùng ngoại ngữ mắc phải" Có nghĩa là ông cho rằng nghiên cứu đối chiếu có vai trò phụ, thứ yếu, còn việc phân tích lỗi trong việc học, dùng ngoại ngữ mới là chính
Loại ý kiến thứ hai cho rằng việc nghiên cứu đối chiếu và phân tích lỗi là hai bước khác nhau Nghiên cứu đối chiếu chỉ tiến hành việc phân tích sơ bộ, còn phân tích lỗi làm việc với các trường hợp cụ thể
Loại ý kiến thứ ba cho rằng nghiên cứu đối chiếu và phân tích lỗi hoàn toàn không có quan hệ bổ sung cho nhau Đó là hai loại phân tích hoàn toàn khác nhau
Các loại ý kiến trên đều nghiêng về hướng phê phán khuynh hướng phân tích đối chiếu Tuy nhiên, chúng ta vẫn không thể phủ nhận những ảnh hưởng to lớn của khuynh hướng này đến việc dạy và học ngoại ngữ
Chúng tôi đã lựa chọn khuynh hướng phân tích lỗi do tác giả Pit Corder khởi xướng để làm cơ sở lí luận cho luận văn Bởi khuynh hướng nghiên cứu này đặc biệt chú ý đến quá trình thụ đắc ngôn ngữ và năng lực giao tiếp của người học
Pit Corrder cho rằng, phân tích lỗi là nghiên cứu và phân tích các lỗi do người học ngôn ngữ gây ra Phân tích lỗi một cách khoa học bao gồm các bước như sau:
- Thu thập và nhận diện lỗi
- Miêu tả lỗi
- Phân loại, đánh giá lỗi
- Giải thích lỗi
Trang 15Theo chúng tôi, các bước tiến hành phân tích lỗi tác giả đưa ra rất đầy đủ
và đúng trình tự Trong luận văn này, chúng tôi cũng áp dụng các bước phân tích lỗi như trên Dựa vào kết quả phân tích lỗi đã có, chúng tôi đề xuất một số biện pháp khắc phục lỗi
1.1.4 Khái niệm ngôn ngữ trung gian (Interlanguage)
Trước khi nói đến khái niệm ngôn ngữ trung gian, chúng ta hãy nói đến khái niệm ngôn ngữ gốc và ngôn ngữ đích
Ngôn ngữ gốc (Native language) là tiếng mẹ đẻ hoặc là ngôn ngữ được sử dụng
thành thạo nhất của người học
Ngôn ngữ đích (Target language) là ngôn ngữ thứ hai hay ngoại ngữ mà người
học đang muốn tiếp thu
Khái niệm ngôn ngữ trung gian xuất hiện năm 1972 do nhà ngôn ngữ học Larry Selinker đưa ra Hiện nay, ông đang giảng dạy tại Đại học Brikbeck thuộc Đại học London Ông đã có nhiều cuốn sách nói về ngôn ngữ học ứng dụng, đặc biệt là những mảng lí luận về sự chuyển di ngôn ngữ và các phát hiện mới về ngôn ngữ trung gian Công trình gần đây nhất của ông có liên quan đến mảng đề tài này là cuốn "Second language Research" (Nghiên cứu về ngôn ngữ thứ hai) xuất bản năm 2001, đồng tác giả với nhà nghiên cứu Usha Lakshmanan của Đại học Carbondale
Ông cho rằng người học ngoại ngữ luôn luôn tạo ra một ngôn ngữ của riêng mình Thứ ngôn ngữ này khác với ngôn ngữ gốc và ngôn ngữ đích nhưng lại bao gồm những đặc điểm chung của cả hai ngôn ngữ gốc và ngôn ngữ đích Thứ
ngôn ngữ được người học tạo ra này chính là ngôn ngữ trung gian
(Interlanguage) Nếu gọi ngôn ngữ gốc là A, ngôn ngữ đích là B thì chúng ta sẽ có:
A + B = AB (AB ở đây là ngôn ngữ trung gian mà người học tạo ra AB mang đặc điểm chung của cả A và B.)
Trang 16Theo tác giả, ngôn ngữ trung gian sẽ dần dần "tiệm cận" tới gần ngôn ngữ đích nhưng không bao giờ hoàn toàn là ngôn ngữ đích
Thực chất thì ngôn ngữ trung gian chính là lỗi của người học Ngôn ngữ trung gian càng tiến gần tới ngôn ngữ đích thì có nghĩa là lỗi càng được giảm đi khi người dạy và người học nhận thức được lỗi và có biện pháp khắc phục lỗi Ngôn ngữ trung gian không bao giờ hoàn toàn là ngôn ngữ đích cắt nghĩa cho việc người học mặc dù rất giỏi một ngoại ngữ nhưng không tránh khỏi có một số
từ nói "lơ lớ" chứ không được chuẩn xác 100% như người bản ngữ Lỗi ngữ âm của người học ngoại ngữ nói chung, lỗi ngữ âm của người Trung Quốc nói tiếng Việt mà chúng tôi tiến hành khảo sát trong luận văn này nói riêng ít nhiều có liên quan chặt chẽ với những điều đã nói ở trên
1.2 Về lỗi ngữ âm của người học ngoại ngữ
1.2.1 Sơ lược về khái niệm ngữ âm
Sự xuất hiện của loài người song song với sự xuất hiện của ngôn ngữ Ngay
từ khi ra đời, ngôn ngữ đã đóng vai trò là công cụ của tư duy và trở thành phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người Chúng ta có thể nhận diện được sự tồn tại của ngôn ngữ thông qua hình thức vỏ âm thanh của nó Con người dùng hình thức vỏ âm thanh này để giao tiếp với nhau hàng ngày Âm thanh lời nói của con người tuân theo những quy luật, những cách thức thể hiện nhất định, để biểu đạt những thông tin cần thiết đến các cá nhân khác trong cộng đồng Vì vậy, những âm thanh được con người phát âm ra một cách vô thức , không có tổ chức như tiếng ho, tiếng nấc hoàn toàn không có chức năng giao tiếp
Vậy, các nhà ngôn ngữ học gọi hình thức âm thanh của ngôn ngữ là ngữ
âm Ngữ âm, vì vậy, là cái vỏ vật chất của ngôn ngữ, là hình thức tồn tại của ngôn ngữ (15, tr.68)
Vì thế, khi nói đến ngữ âm tiếng Việt là nói đến cái vỏ vật chất, nói đến hình thức tồn tại của tiếng Việt Ngữ âm tiếng Việt cũng chính là hệ thống âm thanh mà người Việt Nam sử dụng để giao tiếp với nhau hàng ngày Muốn hiểu
Trang 17tiếng Việt thì phải hiểu âm thanh của tiếng Việt Tương tự như vậy, muốn hiểu được, nói được ngôn ngữ của một dân tộc nào đó trên thế giới thì chúng ta phải học và sử dụng được âm thanh của ngôn ngữ đó Đối với việc dạy và học tiếng Việt thì ngữ âm tiếng Việt là điều cần quan tâm hàng đầu
Liên quan đến ngữ âm còn có khái niệm ngữ âm học Bộ môn nghiên cứu
quá trình tạo sản ra âm thanh được gọi là ngữ âm học (phonetics) hay nói khác
đi, ngữ âm học là một ngành khoa học nghiên cứu mặt âm thanh tiếng nói con người Do đó, đây là một ngành khoa học mang tính tự nhiên, không phân biệt đặc thù ngôn ngữ của các dân tộc khác nhau trên thế giới Đây cũng chính là lí
do có hội ngữ âm học quốc tế (IPA: International Phonetic Association) Ngữ
âm học nghiên cứu cả mặt tự nhiên lẫn mặt xã hội của ngữ âm
Các đơn vị cơ bản của ngữ âm gồm có:
Âm tố: Trong hệ thống ngữ âm, âm tố được coi là đơn vị nhỏ nhất, không
có khả năng tiếp tục phân chia nhỏ hơn nữa Các âm tố chỉ được thực hiện bằng một động tác phát âm và nó được người nghe cảm thụ qua cơ quan thính giác
Âm vị: Âm vị là đơn vị tối thiểu của hệ thống ngữ âm của một ngôn ngữ
Chúng là tổng thể của những nét khu biệt được thể hiện đồng thời của cùng một loại âm tố và có chức năng cấu tạo và phân biệt vỏ âm thanh của các đơn vị có nghĩa của ngôn ngữ ấy
Âm tiết: Âm tố và âm vị là những đơn vị ngữ âm nhỏ nhất của âm thanh
ngôn ngữ Còn âm tiết là một đơn vị phát âm tự nhiên nhỏ nhất Chúng ta phát
âm một âm tiết chứ không thể phát âm một âm tố Thực chất chuỗi lời nói của
con người bao gồm nhiều âm tiết Câu "Anh có khỏe không?" có bốn âm tiết
Đứng về phương diện phát âm, âm tiết là đơn vị nhỏ nhất nên nó được bảo toàn, không bị phân chia vì âm tiết được phát âm bằng một lần căng cơ thịt của
bộ máy phát âm Mỗi lần, cơ thịt của bộ máy phát âm căng lên rồi chùng xuống đều cho ta một âm tiết
Đặc điểm nổi bật của âm tiết tiếng Việt là có một cấu trúc chặt chẽ, có cấu
trúc hai bậc độc đáo và có tính độc lập cao
Trang 18Một âm tiết tiếng Việt tối đa có 5 thành phần, tối thiểu có hai thành phần là thanh điệu và âm chính (Xem thêm bảng 2.1của chương II về mô hình cấu trúc
âm tiết tiếng Việt) Cấu trúc chặt chẽ của âm tiết tiếng Việt được thể hiện thông qua cấu trúc hai bậc rất độc đáo của nó
Ta có thể lấy nhiều ví dụ để chứng tỏ rằng thanh điệu và âm đầu kết hợp với phần vần của âm tiết một cách lỏng lẻo Chúng dễ dàng bị tách ra hay đảo vị trí cho nhau Đây chính là cơ sở của cách nói lái của người Việt
Ví dụ: Si đèn đèn (Đen sì sì)
Âm đầu, vần và thanh điệu được coi là cấu trúc bậc một của âm tiết
Ngược lại, các yếu tố làm nên phần vần gồm âm đệm, âm chính, âm cuối của một âm tiết lại kết hợp với nhau khá chặt chẽ và khăng khít Ta rất khó tìm
ra những minh chứng để minh họa cho sự phân ly giữa các yếu tố ở phần vần bởi tính độc lập của chúng rất thấp Âm đệm, âm chính, âm cuối được coi là cấu trúc bậc hai của âm tiết Đây là một đặc điểm quan trọng của âm tiết tiếng Việt
mà âm tiết của các ngôn ngữ châu Âu không có
Sơ đồ sau đây được dùng để mô tả cấu trúc hai bậc của âm tiết tiếng Việt
Hình 1.1: Sơ đồ thể hiện cấu trúc hai bậc của âm tiết tiếng Việt (15, tr.84)
Tính độc lập cao của âm tiết tiếng Việt thể hiện ở chỗ các âm tiết tiếng Việt
không bị nhược hóa (reduction), không bị mất đi trong chuỗi lời nói Tiếng Việt cũng không có hiện tượng nối âm (liaision) như các ngôn ngữ châu Âu Vì vậy,
âm tiết tiếng Việt không hề bị biến dạng trong ngữ lưu
1.2.2 Thế nào là lỗi ngữ âm?
Trong quá trình học ngoại ngữ, lỗi là điều không thể tránh khỏi Người học
có thể sẽ mắc nhiều lỗi như lỗi ngữ pháp, lỗi từ vựng, lỗi xuyên văn hóa và đặc
Trang 19biệt là lỗi ngữ âm Đây là loại lỗi đầu tiên người học sẽ gặp phải trong quá trình học ngoại ngữ Người Trung Quốc học tiếng Việt cũng không phải là ngoại lệ Căn cứ vào định nghĩa lỗi của người học trong cuốn "Từ điển ngôn ngữ học
ứng dụng và dạy tiếng" , chúng ta có thể định nghĩa lỗi ngữ âm là hiện tượng
người học phát âm hoặc nói sai hay chưa chính xác so với người bản ngữ một đơn vị ngôn ngữ như từ, ngữ, câu hay chuỗi câu Nói khái quát hơn thì lỗi ngữ
âm là hiện tượng người học sử dụng chưa chính xác hay sai lệch "hệ thống âm thanh" của một ngôn ngữ nào đó dẫn đến việc thông tin không được truyền đạt trọn vẹn
Lỗi ngữ âm rất phức tạp và bao gồm nhiều cấp độ Ở cấp độ âm tiết, người học có thể mắc lỗi về nguyên âm, phụ âm, thanh điệu Ở cấp độ từ và câu, người học có thể mắc lỗi về trọng âm, ngữ điệu, cách cắt âm tiết v.v
Ví dụ:
- Ở Việt Nan (Nam), em có rất nhiều bàn (bạn)
- Cái áo này tôi mua năm mươi nghìn tồng (đồng)
- Giới thiệu với cô đây là pố (bố) em
- Em lã (đã) ăn cơm rồi
- Tôi đã sống ở Việc (Việt) Nam 2 tháng rồi
- Em tôi thích ăn hế (khế)
- Hôm nay nhìn cô rất tặc piệt (đặc biệt)
1.2.3 Phân biệt lỗi ngữ âm với lỗi từ vựng, lỗi ngữ pháp và lỗi xuyên văn hóa
Bên cạnh lỗi ngữ âm, người Trung Quốc học tiếng Việt cũng thường gặp lỗi từ vựng, lỗi ngữ pháp và lỗi xuyên văn hóa
Để xem xét các lỗi từ vựng, trước hết, chúng ta tìm hiểu thế nào là từ vựng tiếng Việt
Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh,
có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu (15, tr 142)
Trang 20Theo nguyên tắc, các từ được cấu tạo bởi các hình vị nhưng hình vị trong các ngôn ngữ khác nhau không hoàn toàn giống nhau Đơn vị cơ sở để cấu tạo
nên các từ tiếng Việt là các tiếng hay còn gọi là các âm tiết Tiếng của tiếng Việt
có giá trị tương đương như hình vị trong các ngôn ngữ khác nên chúng được gọi
là các hình tiết Về hình thức, nó trùng với âm đoạn phát âm tự nhiên được gọi là
âm tiết Về nội dung, nó là đơn vị nhỏ nhất có nội dung được thể hiện (15, tr 142)
Trong quá trình phát triển, tiếng Việt đã tiếp thu một lượng không nhỏ các
từ ngữ của các ngôn ngữ khác, nhất là của tiếng Hán Hiện nay, tiếng Việt có hơn 60% từ Hán-Việt Vì vậy, đây là lí do người Trung Quốc học tiếng Việt nhanh chóng có một lượng từ vựng phong phú nhưng đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến lỗi sử dụng từ trong quá trình học Vậy lỗi từ vựng là hiện tượng người học sử dụng sai hoặc chưa chính xác ý nghĩa của từ hoặc lựa chọn không phù hợp những đơn vị từ trong những ngữ cảnh cụ thể, tạo ra sự sai lệch thông tin cần truyền đạt
Ví dụ: Hiện nay, anh ấy gặp rất nhiều khốn nạn ( Câu sai)
( Hiện nay, anh ấy gặp rất nhiều khó khăn.) ( Câu đúng)
Trong ví dụ trên, người học đã sử dụng sai từ "khốn nạn" (kun nan) "Kun nan" chỉ có vỏ ngữ âm Hán Việt là "khốn nạn" còn trên thực tế, do hệ quả của quá trình Việt hóa, ý nghĩa của từ này đã hoàn toàn thay đổi Trong tiếng Việt,
"kun nan" có nghĩa là "khó khăn" nhưng phần lớn người Trung Quốc khi học tiếng Việt đều tự phiên âm theo cách đọc Hán Việt mà không biết mình đã mắc lỗi khi sử dụng từ này
Người Trung Quốc học tiếng Việt cũng thường mắc các lỗi về ngữ pháp Ngữ pháp là một bộ phận của cấu trúc ngôn ngữ, những cách thức và quy tắc mà theo đó, các từ ngữ kết hợp được với nhau để tạo nên câu khiến người ta có thể giao tiếp được với nhau (40, tr.24)
Trang 21Như vậy, lỗi ngữ pháp là hiện tượng người học sử dụng sai hoặc chưa chính xác các cấu trúc ngữ pháp, các quy tắc ngữ pháp hay các phương thức biểu thị ý nghĩa ngữ pháp tiếng Việt dẫn đến sự sai phạm hay lộn xộn trong tổ chức câu
Ví dụ: Hôm qua, tôi nhìn thấy một xinh đẹp cô gái ( Câu sai)
(Hôm qua, tôi nhìn thấy một cô gái xinh đẹp.) ( Câu đúng)
Cụm từ "xinh đẹp cô gái" trong tiếng Việt là sai ngữ pháp, cụ thể là sai về phương thức trật tự từ Trong tiếng Việt, thành phần định ngữ đứng sau danh từ làm nhiệm vụ bổ sung ý nghĩa cho danh từ nhưng phương thức trật tự từ này lại hoàn toàn ngược lại trong tiếng Hán Đây là lí do dẫn đến lỗi ngữ pháp của người Trung Quốc học tiếng Việt nếu họ không chú ý
Đối với người nước ngoài cũng như người Trung Quốc học tiếng Việt thì lỗi xuyên văn hóa vẫn rất phổ biến mặc dù trình độ ngoại ngữ của họ đã ở mức tương đối
Xuyên văn hóa là thuật ngữ do nhà nghiên cứu Motesquieu đề xuất Lỗi
xuyên văn hóa nếu xét từ góc độ học hay sử dụng ngoại ngữ là sự mâu thuẫn, xung đột giữa hai hệ thống tri thức văn hóa của người học ngoại ngữ: hệ thống tri thức văn hóa bản địa đã được định hình và hệ thống tri thức văn hóa đích đang được định hình trong quá trình học (35, tr.50) Văn hóa Việt Nam và
Trung Quốc có nhiều nét tương đồng, song cũng có nhiều nét dị biệt làm nên bản sắc văn hóa của mỗi nước Những nét khác nhau tinh tế giữa văn hóa hai nước đôi khi cũng dẫn đến những hiểu lầm đáng tiếc trong giao tiếp
Ví dụ: Trong bữa cơm, nếu người Trung Quốc đã no không muốn ăn nữa thì họ sẽ nói với người Việt Nam như sau:
Mời anh ( chị) ăn chậm ạ!(请你慢 吃)
Câu này trong tiếng Việt phải nói là: Mời anh (chị) cứ ăn tự nhiên ạ!
Nhưng do chưa hiểu hết về văn hóa bản địa nên người học chỉ đơn thuần dịch từng câu, từng chữ của câu "请你慢 吃" (qing ni man chi) sang tiếng Việt mà
Trang 22không hề để ý đến khía cạnh văn hóa Điều này rất dễ gây phản cảm cho người nghe
Như vậy, lỗi ngữ âm, lỗi từ vựng, lỗi ngữ pháp và lỗi xuyên văn hóa là bốn loại lỗi phổ biến mà người Trung Quốc học tiếng Việt thường mắc phải Trong bốn loại lỗi này, chúng ta cần chú trọng đến lỗi ngữ âm bởi đây là yếu tố đầu tiên góp phần quyết định sự thành bại của việc học ngoại ngữ cũng như việc hạn chế các lỗi mà giai đoạn sau thường mắc phải như lỗi từ vựng, lỗi ngữ pháp và lỗi xuyên văn hóa
1.3 Vị trí của ngữ âm trong việc dạy và học ngoại ngữ
1.3.1 Tầm quan trọng của ngữ âm trong việc dạy và học ngoại ngữ
Nếu việc học ngoại ngữ là cả một tòa nhà cao tầng thì ngữ âm đóng vai trò
là cái móng nâng đỡ cho tòa nhà ấy Vậy nên, dạy và học tốt ngữ âm là nhiệm
vụ quan trọng hàng đầu và gây không ít khó khăn cho người dạy cũng như người học ngoại ngữ
Đối với mọi ngôn ngữ, ngữ pháp là yếu tố quan trọng nhất nhưng chúng ta không thể phủ nhận được tầm quan trọng và sự ảnh hưởng của yếu tố tiên quyết khi học ngoại ngữ là ngữ âm Sở dĩ có thể nói như vậy là vì việc học ngoại ngữ
luôn trải qua bốn bước cơ bản lần lượt như sau: học phát âm và các kí tự, học từ
vựng, học ngữ pháp và cuối cùng là học những vấn đề cụ thể hơn về cách sử dụng của ngôn ngữ đích Trong đó, việc học phát âm phải tiến hành một cách
hết sức cẩn thận vì đây là những bước đi đầu tiên quyết định những bước chạy sau này của người học ngoại ngữ
Rõ ràng, khi học và sử dụng một ngoại ngữ thì việc nói hay phát âm không đúng sẽ ảnh hưởng tới chức năng truyền đạt thông tin vốn đòi hỏi cao sự chính xác của ngôn ngữ Đó là chưa kể đến nói hay phát âm sai sẽ gây ra những hiểu lầm đáng tiếc và sẽ là hệ lụy cho rất nhiều cư xử mà người nói không hề mong muốn Bà Rhona Vikoce, giám đốc đào tạo của Apollo tại Việt Nam hiện nay
cũng đồng tình với ý kiến này khi bà cho rằng "Việc nhầm lẫn trong cách phát
Trang 23âm nhiều khi mang lại những khó khăn và những hậu quả nhất định trong giao tiếp và công việc" (69)
Kinh nghiệm dạy tiếng Việt cho người nước ngoài cho thấy, ngữ âm tiếng Việt là vấn đề khó nhất đối với người học tiếng Việt Riêng đối với người Trung Quốc học tiếng Việt thì họ không gặp phải những "cú sốc" khi học ngữ âm như người châu Âu, vì tiếng Việt và tiếng Hán là hai ngôn ngữ cùng loại hình, đa thanh điệu, nhưng chính sự khác nhau về số lượng và chất lượng các thành phần
âm tiết đã gây ra những trở ngại nhất định đối với họ
Học và hoàn thiện ngữ âm tiếng Việt là cả một quá trình lâu dài đòi hỏi sự
cố gắng và nỗ lực của cả người dạy và người học Ngữ âm tiếng Việt ngay từ lúc đầu được dạy tốt bao nhiêu thì việc học tiếng Việt của người học giai đoạn sau càng thuận lợi bấy nhiêu
1.3.2 Những thuận lợi và khó khăn của người Trung Quốc khi học ngữ âm tiếng Việt
a Thuận lợi
Nhiều ý kiến cho rằng, người Trung Quốc học tiếng Việt nhanh hơn những người nước ngoài khác, nhất là phần ngữ âm Đây là điều không thể phủ nhận vì người Trung Quốc học tiếng Việt có một số thuận lợi như:
- Tiếng Việt và tiếng Hán có quá trình tiếp xúc rất lâu dài, ngay từ thế kỷ thứ
VI Đến thời kì cuối Đường, Ngũ Đại khi cách đọc Hán Việt ra đời thì mối liên hệ giữa tiếng Việt và tiếng Hán càng thêm sâu sắc và gắn bó (36, tr 102)
- Tiếng Việt và tiếng Hán đều là ngôn ngữ đơn lập Đặc điểm này khiến người Trung Quốc học tiếng Việt không quá bỡ ngỡ khi tiếp nhận các khái niệm thể hiện đặc điểm ngôn ngữ của tiếng Việt như: thanh điệu, âm tiết tính, trật tự từ,
hư từ, loại từ, từ láy Cụ thể như sau:
Tiếng Việt và tiếng Hán có nhiều nét tương đồng về phát âm, nhất là với những từ Hán-Việt Đây là một lợi thế đối với người Trung Quốc học tiếng Việt vì cách đọc Hán Việt trong nhiều trường hợp "nghe rất gần" với cách phát âm phổ thông của tiếng Hán, nhiều khi có những từ tiếng Việt
Trang 24phát âm giống hoàn toàn so với tiếng Hán (trường hợp "cao" - "gao"高) Bên cạch đó, nhiều yếu tố Hán Việt vẫn giữ nguyên nghĩa như trong tiếng Hán Đây là lí do người học có thể tăng nhanh vốn từ vựng tiếng Việt của mình
Trong tiếng Việt và tiếng Hán, âm tiết và hình vị thường trùng nhau, các thành phần cấu trúc âm tiết giống nhau Trong nhiều trường hợp, việc chuyển nguyên âm, phụ âm đầu, phụ âm cuối của hai ngôn ngữ theo quy tắc chuyển âm Hán-Việt sang tiếng Hán và ngược lại cũng có nhiều điểm tương đồng Ví dụ: Phụ âm đầu của tiếng Việt "đ" thường dược chuyển thành "d" của tiếng Hán như "đả" thành "d" (打), "đáp" thành "dá"
(答); Nguyên âm "ô" của tiếng Việt thường được chuyển thành "u" của tiếng Hán như "đô" thành "d" (都), "cổ" thành "g" (古) Bởi vậy, trong nhiều trường hợp, nếu người học có sự nhạy cảm nhất định và khả năng nghe tốt thì có thể tự phán đoán được nghĩa của những từ tiếng Việt chưa được học (Xem thêm phần 2.1.1, chương II)
Tiếng Việt và tiếng Hán đều có thanh điệu nên khi học tiếng Việt, người học có thể làm quen với những cung bậc trầm bổng của chuỗi lời nói Khi chuyển âm Hán Việt sang âm Hán và ngược lại thì thanh điệu của hai ngôn ngữ cũng có một quy tắc nhất định Thường thì thanh không dấu của tiếng Việt sẽ được chuyển thành thanh 1 của tiếng Hán như "an" thành
"n" (安) , thanh huyền của tiếng Việt được chuyển thành thanh 2 của tiếng Hán như "hòa" thành "hé" (和), thanh hỏi và thanh ngã của tiếng Việt được chuyển thành thanh 3 của tiếng Hán như "mãi" thành "mi" (买), thanh sắc và thanh nặng của tiếng Việt được chuyển thành thanh 4 của tiếng Hán như "cộng" thành "gòng" (共) Do sự biến đổi trong quá trình sử dụng, quy tắc chuyển thanh điệu này không thể áp dụng cho tất cả các trường hợp nhưng nó cũng giúp cho người Trung Quốc học tiếng Việt nhanh hơn
Trang 25Tóm lại, một bộ phận người Trung Quốc học tiếng Việt có thể cảm thấy
"dễ" hơn các ngoại ngữ khác bởi có các điều kiện thuận lợi như trên kết hợp với hàng loạt các nhân tố tích cực khác ảnh hưởng đến sự tiếp thu và sử dụng tiếng Việt như: văn hóa, lịch sử, xã hội, vị trí địa lý
b Khó khăn
- Bên cạnh thuận lợi thì người Trung Quốc vẫn gặp một số khó khăn khi học ngữ âm tiếng Việt Đó là sự khác nhau về số lượng và chất lượng các thành phần cấu tạo âm tiết (xem thêm phần 2.1.2.1, chương II) Trong tiếng Việt có những nguyên âm, phụ âm, thanh điệu không có trong tiếng Hán nên người học không phát âm được hoặc rất khó phát âm các âm vị mới này
- Hệ thống văn tự của tiếng Việt và tiếng Hán hoàn toàn khác nhau, trong tiếng Việt lại có trường hợp giữa âm và chữ không đồng nhất với nhau nên đã gây
ra những nhầm lẫn cho người học cả khi nói và khi viết
- Cách đọc Hán Việt nhiều khi cũng là "con dao hai lưỡi" đối với người Trung Quốc học tiếng Việt Nhiều từ đa tiết tiếng Việt chỉ có vỏ ngữ âm Hán Việt nhưng ý nghĩa của nó đã được thay đổi khi được đưa vào tiếng Việt nhưng người học luôn "lợi dụng" cách đọc Hán Việt để tạo ra những từ không có trong tiếng Việt khiến người nghe không hiểu Ví dụ: "thừa ứng" (承应) tiếng Việt phải nói là "nhận lời", "ủy viên hội" (委员会) tiếng Việt phải nói
là "ủy ban", "cảnh phiến" (景片) tiếng Việt phải nói là "phông sân khấu"
- Một số đặc điểm giống nhau của ngữ âm tiếng Việt và tiếng Hán nhiều khi cũng có mặt trái của nó làm cho người học dễ mắc lỗi giao thoa khi học tiếng Việt Do chịu ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ nên người Trung Quốc đã "đồng nhất" các vần của tiếng Việt như "eo, en, oan" thành "iao, ian, uan" của tiếng Hán, các phụ âm của tiếng Việt như /thành /k'/, /t/, của tiếng Hán v.v Thực ra, các thành phần âm tiết trên khi phát âm chỉ "na ná" giống nhau chứ không hoàn toàn giống nhau Vì vậy, chỉ có thể coi đây là một điều kiện thuận lợi giúp cho việc dễ ghi nhớ chứ không thể đồng nhất chúng được
Trang 26Biết được những thuận lợi và khó khăn của người Trung Quốc khi học tiếng Việt, chúng ta có thể lựa chọn được những phương pháp giảng dạy phù hợp, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Việt.
1.3.3 Ý nghĩa khoa học cuả việc nghiên cứu và sửa lỗi ngữ âm cho người nước ngoài
Thu thập và phân tích lỗi là một bộ phận quan trọng của phương pháp luận nghiên cứu việc dạy và học ngoại ngữ Ngành khoa học này tuy mới phát triển mạnh trong mấy chục năm trở lại đây với những tên tuổi như E Durkhein, J.B Carroll, N Chomsky, P Corder, C Fries, R Lado, L Sekinler nhưng đã xây dựng được một lí thuyết về dạy và học ngôn ngữ Theo H Stern thì đó là "những suy nghĩ có hệ thống về các vấn đề có liên quan trực tiếp đến việc dạy và học ngoại ngữ" (43, tr.341) Việc nghiên cứu và sửa lỗi, nhất là lỗi ngữ âm cho người nước ngoài rất có ý nghĩa trong việc dạy và học ngoại ngữ, ngôn ngữ thứ hai
a Ý nghĩa lí luận
Nói đến ý nghĩa lí luận của việc thu thập và phân tích lỗi nói chung, lỗi ngữ
âm nói riêng là nói đến việc nghiên cứu và giải thích được những phương pháp
mà người học sử dụng khi học ngoại ngữ Pit Corder và các tác giả khác đã xây dựng nên một lí thuyết về lỗi và phân tích lỗi được giới ngôn ngữ học thế giới thừa nhận và từ đó mang lại một cái nhìn, một cuộc cách mạng đột phá về lỗi Như trên đã nói, lỗi là minh chứng cho việc người học đã tham gia tích cực vào quá trình học ngoại ngữ như thế nào Thông qua việc thu thập và phân tích lỗi, các nhà nghiên cứu và giáo viên dạy tiếng biết được người học đã sử dụng những phương pháp và chiến lược gì, tinh thần học của họ ra sao, ngôn ngữ đích được khám phá thế nào Đây là cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về quá trình gia nhập vào cộng đồng nói ngôn ngữ đích của người học
b Ý nghĩa thực tiễn
Trang 27Ý nghĩa thực tiễn của việc thu thập, phân tích, nghiên cứu lỗi ngữ âm của người nước ngoài thể hiện ở việc đưa ra được những biện pháp tốt nhất để khắc phục đến mức tối đa việc phạm lỗi của người học
Thu thập và phân tích lỗi giúp cho người dạy biết được trình độ của người học tại thời điểm hiện tại, nó cũng giúp cho người học tự biết được trình độ của chính mình Từ đó, người dạy biết được người học đang cần gì, mình phải dạy những gì, dạy ra sao nghĩa là chọn phương pháp dạy tiếng nào cho phù hợp Điều này có liên quan mật thiết đến việc biên soạn giáo trình, giáo án, các loại bài tập, bài luyện dành cho người học Ngữ âm tiếng Việt không phải dễ học và tiếp nhận, nếu dùng những thuật ngữ chuyên môn để miêu tả và truyền đạt ngữ
âm tiếng Việt cho người học ngay từ đầu là điều không thể Vì vậy, những giáo trình, bài tập, bài luyện ngữ âm dễ hiểu, đi từ đơn giản đến phức tạp, phù hợp với từng đối tượng người học là một trong những yếu tố thúc đẩy nhanh quá trình thụ đắc tiếng Việt của họ
Nếu ngôn ngữ gốc và ngôn ngữ đích có càng nhiều sự khác biệt thì người
học càng mắc nhiều lỗi ngữ âm vì theo N.S.Trubetskoy thì "Người ta thẩm nhận
tiếng nước ngoài qua cái dây âm vị học tiếng mẹ đẻ" (46, tr.48) Khi bắt đầu học
ngoại ngữ, có trường hợp người học không ý thức được là mình đã phát âm sai
và sai ở đâu nên người dạy phải chủ động trong việc sửa lỗi ngữ âm kịp thời cho người học Nếu để lâu, người học sẽ hình thành một thói quen phát âm lệch chuẩn rất khó sữa chữa Người học cũng có tâm lí chán nản nếu ngay từ đầu đã mắc phải nhiều lỗi phát âm nên việc sửa lỗi giống như một phương thuốc hiệu quả trong việc động viên, khích lệ người học tiếp tục khám phá ngôn ngữ đích, tạo mối dây liên hệ gần gũi giữa giáo viên và người học
Tiểu kết
Như vậy, lỗi nói chung và lỗi ngữ âm nói riêng không phải là trở ngại của quá trình thụ đắc ngoại ngữ mà là sản phẩm của sự khám phá tích cực ngôn ngữ đích của người học Lỗi không phải là dạng "tam sao thất bản" của ngoại ngữ đang học, là dấu hiệu của sự thất bại khi thụ đắc một ngoại ngữ mới Lỗi chính
Trang 28là điều kiện cần thiết để hoàn thiện kĩ năng học ngoại ngữ của mỗi cá nhân Vậy nên, tác giả Lê Quang Thiêm cho rằng "Lỗi học và dùng ngoại ngữ là tài liệu thô rất quý về nhiều mặt mà ta cần thu thập, hệ thống hóa và phân tích nghiên cứu Thiếu nó, chúng ta không thể có được một cách hiểu đầy đủ về những tiến bộ xảy ra trong cảm thức ngôn ngữ của người học tiếng"(56, tr.68)
Tóm lại, lỗi là điều tất nhiên sẽ xảy ra khi người nước ngoài cũng như người Trung Quốc học ngữ âm tiếng Việt, đặc biệt là giai đoạn đầu Điều quan trọng là người dạy và người học nhận diện, thống kê và tìm được nguyên nhân gây ra lỗi như thế nào để có được những giải pháp khắc phục lỗi ngữ âm hiệu quả Đây sẽ là đòn bẩy thúc đẩy nhanh hơn quá trình thụ đắc ngoại ngữ của người học
Trang 292.1 Một số đặc điểm ngữ âm của tiếng Việt và tiếng Hán
2.1.1 Những điểm tương đồng
2.1.1.1 Thành phần cấu trúc âm tiết
Mô hình sau đây được coi là chung nhất cho một âm tiết tiếng Việt cũng như tiếng Hán
Thanh điệu
Âm đệm Âm chính Âm cuối
Bảng 2.1: Mô hình cấu trúc của âm tiết tiếng Việt (15, tr.82)
Một âm tiết đầy đủ nhất gồm có 5 thành phần: thanh điệu, âm đầu, âm đệm, âm chính và âm cuối
Ví dụ: Toàn, hoàng, quanh trong tiếng Việt
Xiàng / hướng (向), nián /năm (年) trong tiếng Hán
Trong tiếng Việt và tiếng Hán hiện đại, nguyên âm luôn luôn có mặt trong các
âm tiết Một âm tiết tối thiểu chỉ có hai thành phần là thanh điệu và âm chính (nguyên âm)
Ví dụ: A! U đã về! trong tiếng Việt
Trang 30Thứ nhất là thanh điệu: Thanh điệu là nét đặc trưng của mỗi âm tiết Chúng
có chức năng phân biệt các âm tiết với nhau về cao độ
Thứ hai là âm đầu: Âm đầu do các phụ âm đảm nhiệm và có nhiệm vụ mở
đầu âm tiết Các âm tiết khác nhau có thể phân biệt được nhờ cách mở đầu khác nhau
Thứ ba là âm đệm: Âm đệm có vai trò góp phần làm hoàn thiện và trầm hóa
âm sắc của âm tiết Âm đệm do bán nguyên âm // đảm nhiệm và không quyết định âm sắc của âm tiết
Thứ tư là âm chính: Cùng với thanh điệu, âm chính là một trong hai thành
phần hạt nhân của âm tiết Âm chính quyết định âm sắc chủ yếu của âm tiết Thành phần này bao giờ cũng do một nguyên âm đảm nhiệm và luôn được thể hiện ra bằng chữ viết
Thứ năm là âm cuối: Thành phần này có chức năng kết thúc một âm tiết
Các phụ âm và các bán nguyên âm đảm nhiệm thành phần này Trong một âm tiết, âm cuối cũng có thể là zêrô
Như vậy, một âm tiết tiếng Việt có tối đa là năm thành phần, tối thiểu là hai thành phần Các thành phần này không bình đẳng nhau về mức độ độc lập và khả năng kết hợp
2.1.1.2 Đa số âm tiết và hình vị trùng nhau
Trong tiếng Việt và tiếng Hán, âm tiết trùng với tiếng và hình vị Vì thế, các nhà Đông Phương học đã đưa ra khái niệm hình tiết Mỗi tiếng đứng về mặt ngữ
âm chính là một âm tiết và đứng về mặt ngữ pháp thì nó là một hình vị Tiếng là đơn vị tự nhiên dễ nhận diện đối với người bản ngữ Ở Việt Nam, khái niệm
"tiếng", "tiếng một", "chữ" có từ rất lâu trước khi khái niệm "từ" ra đời và ngay khi đã đặt ra khái niệm "từ" rồi thì thường chúng ta vẫn quen dùng khái niệm
"tiếng", "tiếng một" và "chữ" hơn
Trang 312.1.1.3 Có nhạc tính đa dạng
Tiếng Việt và tiếng Hán đều là những ngôn ngữ đa thanh điệu, các thanh điệu lại có những cao độ và trường độ khác nhau Thanh điệu không chỉ có ngữ điệu cao thấp, trầm bổng đa dạng mà còn là yếu tố tạo ra ý nghĩa của từ vựng
Ví dụ:
2.1.1.4 Âm tiết tính thể hiện rõ ràng
Trong chuỗi lời nói liên tiếp, các âm tiết tiếng Việt và tiếng Hán luôn luôn được thể hiện ra rõ ràng, đầy đủ, chúng được tách ra thành từng khúc đoạn riêng biệt
Việc xác định ranh giới giữa các âm tiết và số lượng âm tiết của hai ngôn ngữ là việc dễ dàng và đơn giản Lí do bởi về mặt phát âm, các âm tiết được phát âm ra rành rọt, khúc chiết thành từng tiếng một Về mặt văn tự, từng âm tiết cũng được viết thành từng chữ riêng rẽ chứ không viết liền như trong tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Pháp Điều này lại rất khó thực hiện đối với các ngôn ngữ châu Âu khác, có khi các nhà ngôn ngữ học phải dùng đến cách phân tích lời nói bằng quang phổ để xác định ranh giới âm tiết trong những ngôn ngữ này
Trong tiếng Việt cũng như tiếng Hán hiện đại, tuyệt đại đa số các âm tiết đều tự thân có nghĩa Các âm tiết này có khả năng hoạt động như một từ Ta có thể liệt
kê ra hàng loạt các âm tiết kiểu như vậy
Trang 32- Cấu trúc và số lượng âm tiết
- Số lượng và chất lượng của các thành phần cấu tạo nên âm tiết
- Chữ viết
Trong phạm vi đề tài, sau đây, chúng tôi xin tiến hành so sánh sự khác nhau giữa số lượng và chất lượng các thành phần âm tiết
2.1.2.1 Số lượng của các thành phần cấu tạo âm tiết
Từ lâu, giới ngữ âm học tiếng Việt và tiếng Hán đều coi một âm tiết ở dạng đầy đủ nhất bao gồm 5 thành phần Đó là: thanh điệu, âm đầu, âm đệm, âm chính và âm cuối (Xem mô hình cấu trúc âm tiết mục 2.1.1.1.) Chúng ta có thể
so sánh số lượng năm thành phần cấu tạo nên âm tiết tiếng Việt và tiếng Hán thông qua bảng sau:
STT Thành phần cấu tạo âm tiết Tiếng Việt Tiếng Hán
Bảng 2.2: So sánh số lượng các thành phần cấu tạo âm tiết
tiếng Việt và tiếng Hán
Đối với các ngôn ngữ đơn lập âm tiết tính như tiếng Việt và tiếng Hán, các nhà ngôn ngữ học có thể sử dụng một số phương pháp để tính toán được số lượng âm tiết có trên lí thuyết (bao gồm cả những âm tiết được sử dụng và
Trang 33những âm tiết tiềm năng tức là không hoặc hầu như không được dùng đến hàng ngày) Số lượng âm tiết của một ngôn ngữ được tạo nên bởi số lượng các thành phần âm tiết Nhìn vào bảng 2.2 chúng ta có thể suy ra số lượng âm tiết của tiếng Việt sẽ nhiều hơn số lượng âm tiết của tiếng Hán Thực vậy, ta có thể đưa
Bảng 2.3: So sánh số lượng âm tiết của hai ngôn ngữ
tiếng Việt và tiếng Hán (31, tr.223)
Do số lượng âm tiết của tiếng Việt phong phú hơn tiếng Hán nên đây cũng là một cản trở đối với người Trung Quốc khi phải tiếp xúc và nhận biết các âm tiết mới mẻ và khác lạ so với những âm tiết đã quen sử dụng của ngôn ngữ gốc
2.1.2.2 Chất lượng của các thành phần âm tiết
a Thanh điệu
Tiếng Việt có 6 thanh điệu, tiếng Hán có 4 thanh điệu, cả hai đều thuộc loại thanh điệu hình tuyến Hai ngôn ngữ đều có thanh điệu nên người Trung Quốc học tiếng Việt không bị bỡ ngỡ với các cung bậc trầm bổng khác nhau của hệ thống thanh điệu tiếng Việt Như chúng tôi đã nói, khác với người châu Âu học
tiếng Việt, thanh điệu không tạo ra cú sốc ngôn ngữ (language shock) đối với
người Trung Quốc Tuy nhiên, do có sự khác nhau về số lượng, chất lượng của thanh điệu giữa hai ngôn ngữ nên việc dạy và hoàn thiện kĩ năng phát âm chuẩn xác thanh điệu tiếng Việt là điều cần quan tâm ngay khi bước vào quá trình học tiếng
Trang 34Khi ghi âm các âm tiết bằng kí hiệu phiên âm quốc tế, người ta có thể dùng các chữ số ghi ở cuối âm tiết để biểu thị cao độ và đường nét đặc trưng của mỗi thanh điệu Mỗi chữ số biểu diễn một cao độ Chuỗi chữ số sẽ nói lên đường nét biến thiên của cao độ Hoặc người ta có thể dùng các dấu thanh đặt trên nguyên
âm để biểu diễn nét cao độ riêng của mỗi thanh điệu
5 4 3 2
1 thÊp h¬i thÊp trung b×nh h¬i cao
h¬i cao trung b×nh h¬i thÊp thÊp 1
2 3 4
5 1
5
2
3
4 6
1
2
3
4
Hình 2.1: So sánh sự biểu diễn thanh điệu của tiếng Việt và tiếng Hán
6 thanh điệu của tiếng Việt lần lượt là: 4 thanh điệu của tiếng Hán lần lượt là:
- Thanh huyền thuộc âm vực thấp, đường nét âm điệu dần đi xuống thoai thoải
- Thanh ngã bắt đầu ở độ cao như thanh huyền, sau đó đi xuống đột ngột và vút lên kết thúc ở độ cao cao hơn cả thanh không dấu, đường nét vận động của thanh này bị gãy ở giữa do trong quá trình phát âm có hiện tượng bị tắc thanh hầu Đây là thanh rất khó phát âm đối với người Trung Quốc
- Thanh hỏi thuộc âm vực thấp, khởi đầu ở mức độ cao nhưng thấp dần rồi kết thúc thấp, có đường nét gãy ở giữa
Trang 35- Thanh sắc bắt đầu với độ cao gần ngang với thanh không dấu nhưng thanh sắc không đi ngang mà đi lên
- Thanh nặng có âm vực thấp, không bằng phẳng, đường nét gãy và đi xuống đột ngột Thanh nặng cũng có hiện tượng tắc thanh hầu khi phát âm
Còn với thanh điệu tiếng Hán, nhà sư Xử Trung đời Đường trong tác phẩm
"Nguyên Hòa Vận Phổ" đã miêu tả: "Thanh bình buồn mà yên Thanh thượng
dài mà dỏng Thanh khứ trong mà xa Thanh nhập thẳng mà gấp" (31, tr.181)
Nếu quan sát bằng mắt, ta thấy 4 thanh điệu của tiếng Hán tương tự với các thanh không, huyền, sắc, hỏi của tiếng Việt nhưng thực tế không hoàn toàn như vậy, chúng vẫn có sự khác nhau về trường độ và cao độ Chính sự khác nhau này
là một trong những nguyên nhân dẫn đến lỗi thanh điệu của người học
b Hệ thống phụ âm đầu
Về mặt số lượng, hệ thống phụ âm đầu của tiếng Việt và tiếng Hán xấp xỉ nhau, tiếng Việt có 22, tiếng Hán có 21 nhưng tính chất của các phụ âm đầu lại khác xa nhau
Về mặt chất lượng, các âm cuối lưỡi hoặc gốc lưỡi của tiếng Việt nhiều hơn trong tiếng Hán
là "g")
c Hệ thống âm chính
Trang 36Âm chính của hai ngôn ngữ luôn là nguyên âm Nguyên âm tiếng Việt (bao gồm cả nguyên âm đơn và nguyên âm đôi) là 16, nguyên âm tiếng Hán là 14 Như vậy, số lượng các nguyên trong tiếng Việt nhiều hơn tiếng Hán, điều này cũng gây ra những khó khăn nhất định cho người học
Về chất lượng, cả hai ngôn ngữ đều có các tiêu chí để khu biệt các âm vị
nguyên âm như tiêu chí khu biệt phẩm chất (về âm sắc, âm lượng) và tiêu chí
khu biệt về lượng
Bên cạnh sự đối lập về trường độ giữa các nguyên âm, sự đối lập về độ mở của miệng giữa các nguyên âm trong tiếng Việt và tiếng Hán cũng rất khác nhau
Do sự khác biệt khác nhau về số lượng và chất lượng giữa hai hệ thống nguyên âm như trên nên người Trung Quốc học tiếng Việt dễ gặp những lỗi ngữ
âm như: lẫn lộn /e/ và //, lẫn lộn /o/ và //, rất khó phát âm: /ă/ ngắn; //; //, rất khó phát âm / / (trường hợp viết là "ươ"), rất khó phát âm / / (trường hợp viết là "uô")
Ví dụ: chiếc giường, rau muống
d Hệ thống phụ âm cuối
Về số lượng, ngoài âm cuối zêrô, tiếng Việt có 6 phụ âm cuối, tiếng Hán chỉ
có 2 phụ âm cuối là /n/ và // Rõ ràng, số lượng phụ âm cuối của tiếng Việt phong phú và nhiều hơn hẳn so với tiếng Hán nên người Trung Quốc cũng sẽ gặp nhiều khó khăn khi tiếp xúc với những âm vị phụ âm này
Khi phát âm âm tiết, người Trung Quốc sẽ làm quen thêm với một số phụ
âm cuối mà tiếng Hán không có là /m/; /p/; /t/; /k/ và // (trường hợp viết là
"nh") Tất cả các phụ âm cuối đều là phụ âm đóng nên âm tiết được phát âm khép lại chứ không mở ra Sự không có mặt của một số phụ âm cuối trong tiếng Hán sẽ dẫn đến một số "biến thể" khi người Trung Quốc bắt đầu làm quen với những phụ âm cuối này Những "biến thể" nói trên chính là một số lỗi ngữ âm
mà người Trung Quốc thường mắc phải
2.2 Khảo sát lỗi ngữ âm của người Trung Quốc học tiếng Việt
Mục đích của việc khảo sát là xác định những lỗi ngữ âm trong khung âm tiết tiếng Việt của người Trung Quốc học tiếng Việt thực hành Từ đó đưa ra
uo
Trang 37những giải pháp nhằm khắc phục những lỗi ngữ âm này, tạo điều kiện để người học nâng cao hiệu quả học tập ở giai đoạn sau
Chúng tôi chỉ tập trung phân tích và đánh giá những lỗi ngữ âm có tần số xuất hiện cao, bỏ qua những lỗi ngữ âm ngẫu nhiên hay rất ít xuất hiện chúng tôi không đưa vào diện khảo sát
Sau khi có kết quả khảo sát, chúng tôi tiến hành phân tích theo hai hướng là tìm ra nguyên nhân gây lỗi và phân tích định lượng và phân tích định tính để đảm bảo tính khách quan của kết quả
Sau đây là kết quả khảo sát cụ thể:
2.2.1 Lỗi nguyên âm
Hệ thống nguyên âm của tiếng Việt rất phong phú bao gồm 16 nguyên âm, trong đó có 13 nguyên âm đơn và 3 nguyên âm đôi Các nguyên âm tiếng Việt đều đòi hỏi phải được phát âm rõ ràng, tròn vành rõ tiếng, nếu không sẽ dẫn đến việc hiểu sai ý nghĩa của từ Trong tiếng Việt có những nguyên âm mà tiếng Hán không có như //, ngược lại, trong tiếng Hán cũng có những nguyên âm mà tiếng Việt không có như // Sự khu biệt về số lượng và chất lượng của hệ thống nguyên âm tiếng Việt và tiếng Hán đã dẫn đến một số lỗi nguyên âm Các lỗi nguyên âm này được chúng tôi sắp xếp theo thứ tự giảm dần như nhau:
2.2.1.1 Vần /iết là "ươu"
a Thực trạng
Trong quá trình học, người Trung Quốc thường khó phát âm một số loại vần phức tạp gồm có ba nguyên âm Loại vần này thường được chia thành hai loại:
- Loại có yếu tố mạnh ở giữa như:// (loài), // (tuyến)
- Loại có yếu tố mạnh ở đầu như: // (chiều),// (tuổi),//
(người)
Trong đó chúng tôi đặc biệt chú ý đến tổ hợp //
Ví dụ: con hươu, cái bướu, uống rượu
b Kết quả khảo sát
Trong các loại lỗi nguyên âm của người Trung Quốc học tiếng Việt thì loại lỗi này có tỉ lệ cao nhất Có 537/712 phiếu điều tra mắc lỗi này, chiếm 75,5 %
Trang 3832
c Nguyên nhân
- Trong vần // (ươu), bán nguyên âm // được coi như âm cuối vì nó có chức năng kết thúc âm tiết Việc kết hợp nguyên âm đôi // và bán nguyên
âm // chắc chắn sẽ gây ra khó khăn khi phát âm vần "ươu"
- Trong vần // (ươu) có nguyên âm đôi / / có giá trị đơn âm vị tính tức
là hai yếu tố nguyên âm không tách khỏi nhau và có một chức năng như nhau Nguyên âm đôi // có âm sắc không cố định và có âm lượng lớn vừa nên không phải người Trung Quốc nào học tiếng Việt cũng phát âm chuẩn xác được nguyên âm này trong những buổi học đầu tiên
- Trong nguyên âm đôi // lại có nguyên âm đơn // là một yếu tố cấu tạo Đây là một nguyên âm hoàn toàn mới đối với người Trung Quốc bởi trong tiếng Hán không có nguyên âm này Vì thế, những âm tiết có chứa nguyên
âm // đều khiến người học khó phát âm Với đặc tính hẹp, sau, không tròn môi, nguyên âm // cần phải có thời gian để người học tiếp nhận
2.2.1.2 Vần /iết là "ưu"
a Thực trạng
Người học gặp khó khăn hay không phát âm được một số tổ hợp hai nguyên
tố nguyên âm, đặc biệt là tổ hợp //
Ví dụ: về hưu, sưu tầm, con cừu
Trang 39rõ Về phẩm chất, tuy // và // đều là những nguyên âm có âm sắc cố định nhưng // là nguyên âm không tròn môi, trầm vừa còn // là nguyên âm tròn môi, trầm
2.2.1.3 Cặp nguyên âm / / và / / (trường hợp viết là "ươ" và" uô")
a Thực trạng
Đây là hai nguyên âm đôi khó phát âm đối với người Trung Quốc học tiếng Việt
Ví dụ: rau muống, giọt sương, trường học
Hơn nữa, sinh viên thường nhầm lẫn nguyên âm đôi / / với nguyên âm đôi / / và ngược lại
- Thứ hai, / / và / / đều là nguyên âm hàng sau và có âm sắc không cố định nhưng / / có âm sắc loại trầm vừa, / / lại có âm sắc trầm / / là nguyên
âm không tròn môi, / / là nguyên âm tròn môi Hai nguyên âm này có sự đối lập lớn về độ mở của miệng Đây là yếu tố quan trọng để phân biệt hai nguyên âm này Nhưng trong tiếng Hán, sự đối lập này lại rất mờ nhạt, đóng vai trò phụ nên người học khó phân biệt giữa / / và / /
2.2.1.4 Cặp nguyên âm /ă/ ngắn và /a/: ("ă" và "a")
a Thực trạng
Người học khó phát âm nguyên âm /ă/ và nhất là thường nhầm lẫn nguyên
âm /a/ với nguyên âm /ă/ và ngược lại
Trang 40và /a/, // và //, // và //, // và // Bốn cặp nguyên âm này làm thành một hệ thống cục bộ với ba loại âm sắc khác nhau Người Trung Quốc học tiếng Việt đa số đều gặp khó khăn với bốn cặp nguyên âm này
- Hai nguyên âm /a/ và /ă/ có cùng phẩm chất (giống nhau về âm sắc và âm lượng) nhưng đối lập nhau vì một bên là /a/ dài, một bên là /a/ ngắn Sự đối lập về lượng này đã khiến người học dễ nhầm lẫn giữa /a/ và /ă/
2.2.1.5 Cặp nguyên âm // và /u/ "(ư" và" u")
a Thực trạng
Người học gặp khó khăn khi phát âm nguyên âm // như: "sư tử", "lử đử",
"khoa cử" và dễ nhầm lẫn giữa nguyên âm // với nguyên âm /u/ và ngược lại
Ví dụ: tư nhân - tu nhân, mừng - mùng, thư - thu