- Có bốn luận án thạc sĩ, tiến sĩ về mạch lạc tiếng Việt tại Đại học Quốc Gia Hà Nội theo thư viện trường Đại học Quốc gia Hà Nội đều khảo sát một biểu hiện mạch lạc nào đó dễ thấy trong
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hà Nội, 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Văn Hiệp
Hà Nội – 2014
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 5
1) Lí do chọn đề tài 5
2) Lịch sử vấn đề 6
3) Mục đích nghiên cứu 8
4) Đối tượng nghiên cứu 8
5) Phương pháp nghiên cứu 8
6) Bố cục luận văn 9
PHẦN NỘI DUNG 11
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 11
1.1 Lịch sử vấn đề 11
1.1.1 Mạch lạc 11
1.1.1.1 Giai đoạn 1 11
1.1.1.2 Giai đoạn 2 15
1.1.2 Ngụy biện 21
1.1.2.1 Từ Aristote 21
1.1.2.2 Khoa học logic cận đại 23
1.1.2.3 Tiêu chuẩn nhận diện (Standard Treatment) 24
1.1.2.4 Dụng hành – tương thoại (The Pragma-Dialectical Approach) – PDA 25
1.1.2.5 Douglas Walton và lí thuyết dụng hành về ngụy biện 26
1.2 Lí thuyết về lập luận 33
1.3 Mối quan hệ giữa ngụy biện và mạch lạc trong một luận cứ 34
1.4 Quan điểm của Walton về luận cứ trong truyền thông 40
Trang 41.5.Tiểu kết chương 1 41
CHƯƠNG 2: MỐI QUAN HỆ GIỮA MẠCH LẠC VÀ NGỤY BIỆN TRONG MỘT SỐ LOẠI NGỤY BIỆN THUỘC NHÓM VIỆN DẪN (AD) 43
2.1 Ngụy biện “Tấn công cá nhân” (Ad Hominem ) 43
2.1.1 Về ngụy biện “Tấn công cá nhân” 43
2.1.2 Luận cứ và ngữ cảnh của luận cứ 44
2.1.3 Phân tích mối quan hệ giữa ngụy biện và mạch lạc trong (L1) 46
2.1.4 Mối quan hệ giữa ngụy biện và mạch lạc trong luận cứ Ad Hominem 48 2.2 Ngụy biện viện dẫn thẩm quyền (Ad Verecundiam) 49
2.2.1 Về ngụy biện viện dẫn thẩm quyền 49
2.2.2 Luận cứ và ngữ cảnh của luận cứ 51
2.2.3 Phân tích mối quan hệ giữa ngụy biện và mạch lạc trong (L2) 51
2.2.4 Mối quan hệ giữa ngụy biện và mạch lạc trong luận cứ Ad Verecundiam 54
2.3 Ngụy biện Viện dẫn điều bất khả tri (Ad Ignorantian) 54
2.3.1 Về ngụy biện Viện dẫn điều bất khả tri – hay còn gọi là gánh bằng chứng (Burden of proof) 54
2.3.2 Luận cứ và ngữ cảnh của luận cứ 56
2.3.3 Phân tích mối quan hệ giữa ngụy biện và mạch lạc trong (L3) 57
2.3.4 Mối quan hệ giữa ngụy biện và mạch lạc trong luận cứ Ad Ignorantian 60 2.4 Ngụy biện viện dẫn lòng thương cảm (ad misericordiam) 61
Trang 52.4.1 Về ngụy biện viện dẫn lòng thương cảm 61
2.4.2 Luận cứ và ngữ cảnh của luận cứ 62
2.4.3 Phân tích mối quan hệ giữa ngụy biện và mạch lạc trong (L4) 63
2.4.4 Mối quan hệ giữa ngụy biện và mạch lạc trong luận cứ Ad misericordiam 64
2.5.Tiểu kết chương 2 65
CHƯƠNG 3: MỐI QUAN HỆ GIỮA MẠCH LẠC VÀ NGỤY BIỆN TRONG MỘT SỐ NGỤY BIỆN PHI HÌNH THỨC (INFORMAL) KHÁC 66
3.1 Ngụy biện hình nhân thế mạng (Straw man) 66
3.1.1 Về ngụy biện hình nhân thế mạng 66
3.1.2 Luận cứ và ngữ cảnh của luận cứ 67
3.1.3 Phân tích mối quan hệ giữa ngụy biện và mạch lạc trong (L5) 67
3.1.4 Mối quan hệ giữa ngụy biện và mạch lạc trong luận cứ Straw man 70
3.2 Ngụy biện “nước đôi” (equivocation) 71
3.2.1 Về ngụy biện nước đôi 71
3.2.2 Luận cứ và ngữ cảnh của luận cứ 72
3.2.3 Phân tích mối quan hệ giữa ngụy biện và mạch lạc trong (L6) 72
3.2.4 Mối quan hệ giữa ngụy biện và mạch lạc trong luận cứ Equivocation 74
3.3.Ngụy biện loại suy sai (Faulty analogy) 75
3.3.1 Về ngụy biện loại suy sai 75
3.3.2 Luận cứ và ngữ cảnh của luận cứ 76
3.3.3 Phân tích mối quan hệ giữa ngụy biện và mạch lạc trong (L7) 76
Trang 63.3.4 Mối quan hệ giữa ngụy biện và mạch lạc trong luận cứ Analogy 78
3.4.Ngụy biện buộc lao dốc (Slippery Slope) 79
3.4.1 Về ngụy biện buộc lao dốc 79
3.4.2 Luận cứ và ngữ cảnh của luận cứ 80
3.4.3 Phân tích mối quan hệ giữa ngụy biện và mạch lạc trong (L8) 81
3.4.4 Mối quan hệ giữa ngụy biện và mạch lạc trong luận cứ Slippery Slope 84 Qua việc phân tích (L8) ta thấy các luận cứ có dạng: 84
3.5 Tiểu kết chương 3 85
PHẦN KẾT LUẬN 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
Trang 7“Mạch lạc” là một trong những thuật ngữ quan trọng của ngành ngôn ngữ học văn bản Nhưng suốt từ những năm 1970 cho đến nay, cho dù đã có rất nhiều công trình có uy tín bàn về mạch lạc trong văn bản, nhưng nhiều nhà nghiên cứu vẫn cho rằng mạch lạc vẫn là một hiện tượng còn mơ hồ và cần làm rõ hơn nữa Vì sao lại xảy ra vấn đề này?
Theo chúng tôi, có hai nguyên nhân chính Một là, mạch lạc là một khái niệm quá rộng, bao trùm lên cũng như có liên quan đến hầu hết các vấn đề của văn bản Hai là, không thể nhận biết mạch lạc chỉ thuần tuý bằng các phương tiện từ vựng – ngữ pháp của ngôn ngữ học
Trang 8Chính vì gặp phải một vấn đề rộng lớn và phức tạp như vậy, mà chúng tôi chọn giải pháp nghiên cứu “tiêu cực” (negative), tức là nghiên cứu những trường hợp “không mạch lạc” Vì thế chúng tôi đi sâu và nghiên cứu ngụy biện, vì ngụy biện là một lập luận yếu, mà ở đó các yếu tố bên trong nó có “sự nối kết” không “hợp lí” Việc kết hợp nghiên cứu ngụy biện và mạch lạc; một mặt giúp thu hẹp vào nghiên cứu mạch lạc logic; mặt khác, sử dụng các tri thức về ngụy biện để bổ trợ cho nghiên cứu mạch lạc
- Green (1980) đưa ra khái niệm mạch lạc theo nguyên tắc cộng tác, tức
là có một sự “hợp tác” giữa người nói và người nghe; nhằm cùng hướng về một ngữ cảnh nhất định
- Givón cho rằng mạch lạc nằm trong một “văn bản tinh thần” ở người tiếp nhận chứ không phải ở “nội văn bản”
- Brown & Yule nhấn mạnh việc nghiên cứu mạch lạc phải dựa trên việc coi như là các quyết định luận suy từ phía người nghe / đọc
- Trần Ngọc Thêm (1985) trong “Hệ thống liên kết tiếng Việt” không nhắc đến mạch lạc, nhưng lại đưa ra một khái niệm rất gần với “mạch lạc” là
“liên kết nội dung” Tuy nhiên, “liên kết nội dung” của ông vẫn chỉ là sự phát triển thêm của “liên kết” mà thôi
Trang 9- Có bốn luận án thạc sĩ, tiến sĩ về mạch lạc tiếng Việt tại Đại học Quốc Gia Hà Nội (theo thư viện trường Đại học Quốc gia Hà Nội) đều khảo sát một biểu hiện mạch lạc nào đó dễ thấy trong một kiểu văn bản nhất định (báo chí, hợp đồng…), hoặc trong thế đối sánh với liên kết, nên họ không chú trọng đến việc đi sâu vào một loại mạch lạc nhất định nào đó Các luận án, báo cáo khác thì tập trung vào mạch lạc trong một tác phẩm nhất định (Truyện Kiều), hoặc ứng dụng của mạch lạc vào dạy văn ở phổ thông; chính vì thế họ cũng không chú ý đến việc đi sâu vào các vấn đề lí thuyết của mạch lạc
Về lịch sử nghiên cứu ngụy biện, có một số mốc đáng chú ý sau:
- Trước thế kỉ XX, ngụy biện là vấn đề thuần túy logic học, trong đó các tiền đề không bổ trợ cho kết luận Vì thế, đó là một lỗi lập luận
- Trong thế kỉ XX, tiếp tục quan điểm trên, trường phái Amsterdam cho rằng ngụy biện là một lỗi lập luận trong hội thoại, và sử dụng nhiều phương pháp phân tích hơn so với trước đây
- Nghiên cứu của Hamblin (1970) mang tính bước ngoặt, chỉ ra được các hạn chế của cách tiếp cận trên Hamblin cho rằng “Ngụy biện là một luận cứ
có vẻ như có hiệu lực, nhưng thực ra là không”
- Sau Hamblin, các nhà nghiên cứu ngụy biện nhấn mạnh vào hướng nghiên cứu dụng hành – tương thoại, cho rằng ngụy biện là một vấn đề của giao tiếp chứ không phải của logic thuần thúy
Về việc nghiên cứu ngụy biện tại Việt Nam, trong các giáo trình chính thức về logic học (“Logic học đại cương” – Tô Duy Hợp; “Nhập môn về Logic hình thức & Logic phi hình thức” - Nguyễn Đức Dân,…) vẫn tiếp cận ngụy biện theo hướng “cổ điển” trước thế kỉ XX Họ chỉ dừng lại ở việc nêu
ra một vài loại ngụy biện thường có mà không đưa ra các cơ sở lí thuyết để biện giải chúng; cũng như chưa tiếp cận các lí thuyết đương đại về ngụy biện
Trang 10Nhìn chung, qua việc liệt kê về các hướng nghiên cứu gần đây, ta thấy rằng ngụy biện và mạch lạc có khá nhiều điểm tương đồng, đều nhấn mạnh vào khía cạnh phải phân tích dựa trên mối liên hệ giữa người nói và người nghe; kết hợp tri thức của nhiều ngành chứ không chỉ riêng ngôn ngữ học và logic học
3) Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn này là kết hợp các thành tựu trong nghiên cứu mạch lạc và ngụy biện gần đây để đưa ra kiến giải sâu hơn về mạch lạc trong lập luận Từ mục đích chính đó, chúng tôi có các mục đích cụ thể sau:
a) Xác định tiêu chí nhận diện mạch lạc như là quá trình điền vào khoảng trống hay các điểm gián đoạn trong giải thuyết
b) Kết hợp các lí thuyết để thấy được mối quan hệ giữa ngụy biện và mạch lạc
c) Đi sâu vào từng loại ngụy biện để khẳng định lại mối quan hệ trên d) Khảo sát trên các văn bản của báo chí để làm rõ và kiểm chứng lại hệ thống trên
4) Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là mối liên hệ giữa mạch lạc và ngụy biện trong một luận cứ Ngoài việc chỉ rõ mối quan hệ giữa mạch lạc và ngụy biện về mặt lí thuyết; chúng tôi còn ứng dụng lí thuyết đó vào nghiên cứu cụ thể một số văn bản của báo chí Lí do chúng tôi chọn các văn bản trên
vì đây là nghiên cứu liên quan đến ngụy biện và mạch lạc logic nên phải phân tích trên các văn bản có các luận cứ cũng như có bối cảnh rõ ràng
Trang 11Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp phân tích nội dung để khảo sát các luận cứ Ngoài ra, chúng tôi sử dụng các phương pháp đặc trưng của phân tích diễn ngôn (sẽ được trình bày cụ thể ở chương 1, phần Nội dung của luận văn) Đối với việc khảo sát và phân tích các loại ngụy biện, chúng tôi sẽ trình bày phương pháp cụ thể hơn trong chương 1, phần Nội dung của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, khoá luận này được cấu trúc làm
ba chương Trong đó chương 1 nhằm giải quyết các vấn đề mang tính lí thuyết về khái niệm mạch lạc, ngụy biện, mối quan hệ giữa chúng Sau đó, nhằm triển khai cụ thể, chương 2 sẽ đi sâu vào nghiên cứu về mạch lạc trong một số loại ngụy biện thuộc nhóm viện dẫn; chương 3 sẽ đi sâu vào nghiên cứu mạch lạc trong một số loại ngụy biện phi hình thức (informal) khác Trong chương 2 và 3, chúng tôi sẽ lần lượt khảo sát trên từng loại ngụy biện Với mỗi loại ngụy biện, sẽ bao gồm: phần giới thiệu về loại ngụy biện; ví dụ
và ngữ cảnh của nó; và phân tích mối quan hệ giữa mạch lạc và ngụy biện trong luận cứ đó
Cụ thể hơn như sau:
Chương 1: Cơ sở lí luận
1.1 Lịch sử vấn đề
1.1.1 Mạch lạc
1.1.2 Ngụy biện
1.2 Mối quan hệ giữa ngụy biện và mạch lạc trong một luận cứ
1.3 Quan điểm của Walton về luận cứ trong truyền thông
Trang 121.4 Tiểu kết chương 1
Chương 2: Mối quan hệ giữa mạch lạc và ngụy biện trong một số ngụy biện thuộc nhóm viện dẫn (Ad)
2.1 Ngụy biện tấn công cá nhân
2.2 Ngụy biện viện dẫn thẩm quyền
2.3 Ngụy biện viện dẫn điều bất khả tri
2.4 Ngụy biện viện dẫn lòng thương
Chương 3: Mối quan hệ giữa mạch lạc và ngụy biện trong một số ngụy biện phi hình thức khác
3.1 Ngụy biện hình nhân thế mạng
3.2 Ngụy biện nước đôi
3.3 Ngụy biện loại suy sai
3.4 Ngụy biện dốc trơn
Trang 13Theo hai tác giả thì mạch lạc là “tập hợp những quan hệ có ý nghĩa dùng chung cho mọi văn bản, phân biệt văn bản với phi văn bản, và làm phương tiện phát hiện liên hệ phụ thuộc lẫn nhau về nội dung giữa các mảnh đoạn cụ thể Mạch lạc không nêu văn bản thông báo cái gì; mà nêu văn bản được tổ chức thành chỉnh thể ngữ nghĩa như thế nào” Từ đó, hai tác giả triển
khai khái niệm mạch lạc cụ thể hơn (trong mối quan hệ của mạch lạc với liên kết và ngữ vực): “Khái niệm liên kết, do đó có thể được bổ sung hữu ích bằng
Trang 14ngữ vực (register), vì hai khái niệm này phải cùng nhau thì việc xác định một văn bản mới hữu hiệu Một văn bản là một khúc đoạn của diễn ngôn có nối
kết trong cả hai cách nhìn đó; nó là mạch lạc, đối với ngữ cảnh tình huống; và
do đó nó nhất quán trong ngữ vực; và nó có mạch lạc đối với chính nó, và do
đó nó có liên kết”
Từ quan điểm trên, chúng tôi thấy rằng, với hai tác giả này, thì mạch lạc vừa có phân biệt với liên kết, lại vừa như thuộc về liên kết Mạch lạc cùng với liên kết giúp cho một khúc đoạn lời nói trở thành một văn bản Hay nói một cách đơn giản, mạch lạc và liên kết là hai điều kiện tạo thành chất văn bản (texture); cái gì tạo thành chất văn bản mà không phải liên kết (bằng các phương tiện ngôn ngữ giữa các câu) thì là mạch lạc
Nhưng theo Galperin, tuy hai tác giả này có ý đồ hình thức hóa các phương tiện mạch lạc, nhưng ”trong công trình này vẫn có nhiều điều được đề xuất ở bình diện ngữ pháp chứ không phải bình diện văn bản” Nhận xét này
có hơi nặng nề, nhưng có phần đúng vì hai tác giả thường quá chú trọng vào việc phân tích đại từ, mối quan hệ giữa các vế câu trong khi đưa ra ví dụ về mạch lạc
Tác giả đi sâu vào việc phân tích (một cách triệt để) mạch lạc trong các
ví dụ cụ thể (gồm một văn kiện ngoại giao, một bài báo, một vài tác phẩm văn
Trang 15học) Sau đó, bằng cách tổng kết từ việc phân tích, tác giả đưa ra một loại mạch lạc nào đó Nhìn chung tác giả lần lượt đưa ra một số loại mạch lạc sau: mạch lạc bằng phương tiện ngữ pháp hình thức, mạch lạc theo phạm vi quan
hệ thời gian, mạch lạc giãn cách, mạch lạc liên tưởng, mạch lạc phương tiện logic, mạch lạc liên tưởng, mạch lạc bố cục – kết cấu, mạch lạc tu từ, mạch lạc tạo tiết điệu Chúng tôi thấy rằng, trong một loạt khái niệm tác giả đưa ra, không có một sự thống nhất chung, hay là một tiêu chí chung nào đó để đánh giá mạch lạc Chính vì thế mà tác giả cũng tự thấy rằng “Chương “Mạch lạc”
đã thực hiện ý đồ cụ thể hoá “ở chừng mực nào có thể được”
- Trần Ngọc Thêm / Đỗ Hữu Châu
Trần Ngọc Thêm trong “Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt” (1985)
có đưa ra một khái niệm “liên kết nội dung” nhưng không có một định nghĩa
rõ ràng Ông chỉ ra rằng “liên kết nội dung” rộng hơn “liên kết ngữ nghĩa” vì
nó nhấn mạnh nhiều hơn đến các nhân tố ngoài ngôn ngữ Đỗ Hữu Châu cũng
đề cập đến “liên kết nội dung” và cũng chia thành “liên kết chủ đề” và “liên
kết logic” Trong đó ông định nghĩa liên kết chủ đề xảy ra khi “các câu cùng ứng với một vật quy chiếu”, còn liên kết logic là “sự tổ chức sắp xếp ngữ nghĩa sao cho phù hợp với thực tế khách quan, với nhận thức của con người”
(nhưng thế nào là phù hợp với thực tế khách quan, thế nào là phù hợp với nhận thức con người thì không thấy tác giả làm rõ)
Nhìn chung, thuật ngữ “liên kết nội dung” của hai tác giả này rất gần với “mạch lạc” Nhưng khi triển khai sâu hơn khái niệm này, cả hai tác giả đều dựa hoàn toàn vào cái nền là “liên kết” Theo chúng tôi, mạch lạc là một khái niệm rộng hơn liên kết rất nhiều, vì thế nghiên cứu của hai tác giả này về
“liên kết nội dung” còn nhiều hạn hẹp, nếu so với “mạch lạc”
- Diệp Quang Ban
Trang 16Diệp Quang Ban trong “Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo văn bản” (2009)
định nghĩa về mạch lạc như sau “Mạch lạc là sự nối kết có tính chất hợp lí về mặt nghĩa và về mặt chức năng, được trình bày trong quá trình triển khai một văn bản, nhằm tạo ra những sự kiện nối kết với nhau hơn là sự liên kết giữa câu với câu” Trong tác phẩm này, tác giả đã tương đối thành công trong việc
chỉ ra các biểu hiện cụ thể của mạch lạc cũng như phạm vi tác động của các biểu hiện đó với văn bản Tám biểu hiện mà tác giả nêu ra là (xin trình bày lại dưới dạng tóm tắt)
(1) Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ giữa các từ ngữ trong câu
(2) Mạch lạc trong quan hệ giữa các đề tài - chủ đề của các câu
(3) Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ giữa các phần nêu đặc trưng ở những câu có quan hệ nghĩa với nhau
(4) Mạch lạc biểu hiện trong trật tự hợp lí giữa các câu (hay các mệnh đề) (5) Mạch lạc theo kiểu quan hệ suy kết
(6) Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ ngoại chiếu
(7) Mạch lạc trong quan hệ thích hợp giữa các hành động nói
(8) Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ lập luận
Trong tám biểu hiện trên, dễ thấy biểu hiện (1) không thuộc về các biểu hiện của mạch văn bản (mà chỉ là mạch lạc của câu), biểu hiện (8) là một phần của biểu hiện (4) (do Diệp Quang Ban có sự phân chia mạng mạch và mạch lạc, nên phải tách ra làm hai biểu hiện như vậy)
Các biểu hiện mạch lạc văn bản của Diệp Quang dù tương đối hoàn thiện, nhưng vẫn có thể bổ sung thêm, cũng như hệ thống hoá các biểu hiện này lại
Trang 171.1.1.2 Giai đoạn 2
Các nhà khoa học ngày càng nhận thấy mạch lạc là một vấn đề rất khác
so với liên kết, và nó còn liên quan đến nhiều vấn đề ngôn ngữ học và ngoài ngôn ngữ học khác Vì thế, cùng với sự phát triển của phân tích diễn ngôn, ngôn ngữ học xã hội và ngôn ngữ học nhân học, việc nghiên cứu mạch lạc có nhiều hướng mới Đáng chú ý là ba hướng tiếp cận sau
- Giải thuật chức năng giao tiếp
Các nhà ngôn ngữ thấy rằng việc trả lời câu hỏi “Tại sao các phát ngôn này gắn kết với nhau?” nếu chỉ dựa vào các dấu hiệu hình thức của ngôn ngữ thì sẽ gặp nhiều khó khăn Ví dụ như:
A: Mấy giờ rồi?
B: Vâng, người đưa thư vừa đến rồi (1)
Rõ ràng là không có dấu hiệu liên kết hình thức giữa 2 câu trên, nhưng
có thể hiểu được hai câu đó có mối liên hệ với nhau
Đặc biệt từ sau khi lí thuyết hành động ngôn từ ra đời, các nhà ngôn ngữ học hướng việc giải thích mạch lạc vào “các hành động được thực hiện bởi các phát ngôn đấy” (Labov) thay vì bản thân các phát ngôn Các nhà khoa học theo hướng này thường phân tích các đoạn hội thoại như trên, nhằm chỉ rằng các cấu trúc tương tác xã hội phi ngôn ngữ đã làm nên sự mạch lạc trong
diễn ngôn Điển hình của hướng tiếp cận này là quan điểm của Green (1980)
với lí thuyết cộng tác Ông cho rằng “Một văn bản mạch lạc là một cái gì mà tại đó người giải quyết có thể tái tạo không mấy khó khăn cái dàn ý của người nói một cách chắc chắn là hợp lí, [tái tạo] bằng cách suy đoán những mối quan hệ giữa các câu và những mối quan hệ cá thể của chúng với các mục đích khác nhau trong dàn ý đã được suy đoán ra đó so với toàn bộ những điều
đã nhận thức được có trong tay”
Trang 18Cụ thể hơn, ông chỉ ra rằng “… đối với vấn đề cái gì nối kết các câu riêng lẻ với nhau trong một văn bản đích thực, chứ không văn bản giả mạo, là cách tiếp cận căn cứ vào việc nhận thức được rằng chuỗi câu đang bàn được sản xuất ra bởi một cá nhân phù hợp với nguyên tắc cộng tác, và như hệ quả, mỗi câu đều có dụng ý nói ra một cái gì cần thiết, đúng và thích đáng với việc thực hiện một mục tiêu nào đó, mà đối với nó (cái được cùng tin) người tạo ra văn bản và người tiếp nhận đã được định trước cùng đều quan tâm.” (dẫn theo Diệp Quang Ban)
Green bằng nhiều ví dụ, chỉ ra rằng, mạch lạc văn bản không phải vấn
đề đặc trưng của văn bản, chỉ nằm gọn trong văn bản, mà còn ở người tiếp nhận văn bản, những người mà sẽ bằng mọi cách suy đoán để tạo ra một dàn
ý có thể chấp nhận được cho văn bản Như thế, giữa người tiếp nhận và người tạo lập có một “sự cộng tác” để lập “dàn ý” cho văn bản, đảm bảo mục đích giao tiếp
Hướng tiếp cận này đi sâu vào các hội thoại, lập ra các mô hình hội thoại trên cơ sở xem xét con người tương tác với nhau như thế nào Thế nhưng càng lập ra các mô hình phức tạp, các nhà nghiên cứu càng khó khăn trong việc ứng dụng các mô hình lí thuyết đó vào thực tiễn phân tích diễn ngôn Đúng như Levison nhận xét: “Nếu khảo sát qua loa bản ghi âm hội thoại, thì rõ ràng là chúng ta không biết làm thế nào để ấn định hành vi lời nói một cách phi võ đoán.”
- Kiến thức nền
Một hướng giải thích khác cho việc các phát ngôn “chẳng có gì liên quan đến nhau” lại mạch lạc trong một diễn ngôn là việc người nói/viết đã giả định rằng người nghe/đọc có cùng chung một lượng “kiến thức nền” nào đó với mình, vì thế không cần thiết phải trình bày những kiến thức nền đó lên
Trang 19trên bề mặt ngôn ngữ (Ví dụ ở (1); cả hai đều có chung một kiến thức về việc
A quan tâm đến người đưa thư đến vào thời điểm nào, vì thế câu hỏi và trả lời mạch lạc với nhau) Vì vậy việc nghiên cứu mạch lạc đồng nghĩa với việc nghiên cứu người tạo ra phát ngôn đã xây dựng kiến thức nền thế nào, và người tiếp nhận phát ngôn đã “truy cập” vào bộ kiến thức đó thế nào để rút ra những kiến thức cần thiết cho việc giải thuyết diễn ngôn đó như thế nào Từ
đó, các nhà khoa học đi sâu vào ngành ngôn ngữ học thần kinh và trí tuệ nhân tạo để giải thích tính mạch lạc trong diễn ngôn Các khái niệm thường được sử dụng để nghiên cứu kiến thức nền là “khung”, “kịch bản”, “kịch văn”, “đồ hình” Đây cũng chính là những khái niệm quan trọng trong ngôn ngữ học tri nhận (Cognitive Linguistics) hiện nay
- Mạch lạc như là “luận suy”
Nếu như quan điểm giải thuật chức năng giao tiếp chú trọng đến sự tương tác giữa những người tham gia hội thoại; quan điểm về kiến thức nền chú trọng đến vai trò của người tạo lập văn bản cũng như quá trình anh ta tạo lập văn bản; thì ở quan điểm này sẽ chú trọng đến vai trò của người tiếp nhận văn bản Chúng ta cùng xem xét ví dụ:
“Xe đang đi trên đường Lốp đột nhiên bị thủng.” (2)
“Cô ấy bán căn nhà Số tiền đó đủ tiêu vài năm mới hết.” (3)
Để hai câu trên mạch lạc với nhau, chúng ta phải có thêm một mối liên kết vắng mặt Với (2) thì đó là “mọi cái xe đều có lốp” và với (3) là “việc bán liên quan đến tiền bạc” Việc “điền thêm” mối liên kết ở đây có vẻ hiển nhiên
và rất đơn giản, nó có thể dễ dàng được giải thích từ quan điểm “kiến thức nền”, vì đó là những điều mà tất cả mọi người đều cùng biết với nhau Nhưng chúng ta thử đến với ví dụ tiếp đây:
“A: Lạnh quá!
Trang 20B: Để tôi đóng cửa sổ cho” (4)
“Tôi chuẩn bị bữa trưa Món canh rất nóng” (5)
Ở (4) (5) mối liên kết vắng mặt phức tạp hơn ở (2) và (3) Với (4), mối liên kết vắng mặt phải được diễn giải như sau “A cho rằng trời lạnh là do cửa
sổ chưa đóng và B, sau khi nghe A nói, liền nghĩ đó là lời gợi ý cho B nên đi đóng cửa sổ lại” Với (5) người đọc/nghe phải giả định là “trong bữa trưa có món canh” Trong hai ví dụ này, người nghe/đọc phải mất một khoảng thời gian để tạo ra/xử lí mối liên kết này
Như vậy chúng ta có hai kiểu “mối liên kết vắng mặt” Một là “mối liên kết tự động”, trong đó, người nghe/đọc có thể “điền thêm” mối liên kết đó một cách dễ dàng và không mất thời gian Người nghe/đọc có thể làm việc đó
là do nó thuộc về “kiến thức nền” về thế giới Hai là, “mối liên kết không tự động”, trong đó, người đọc/nghe phải mất thời gian để đưa ra một giả định bắc cầu nhằm nối kết các câu lại với nhau
Việc “điền thêm” những mối liên kết vắng mặt không tự động này là một hành động “luận suy” (inference) – quá trình người đọc/nghe đi qua để có được từ nghĩa đen của người nói/viết đến đến điều người nói/viết định chuyền tải Vì vậy, việc các câu có mạch lạc với nhau hay không là nằm ở khả năng
“luận suy” của người đọc/nghe Việc “luận suy” này không xuất phát từ mối liên kết từ vựng, không xuất phát từ “kiến thức nền” chung giữa người nói/viết và người nghe/đọc, mà xuất phát từ ngữ cảnh và nằm ở từng cá nhân người nghe/đọc
(Ngữ cảnh là một khái niệm rất rộng trong phân tích diễn ngôn Ngữ cảnh, nói một cách khác, là môi trường hoạt động của hệ thống kí hiệu ngôn
ngữ Theo Nguyễn Hoà, ngữ cảnh có thế là kiến thức nền (văn hoá, xã hội) là tình huống, hay chính là văn bản Ngữ cảnh có liên quan đến ba mô hình giao
Trang 21tiếp Một là mô hình hệ thống kí hiệu bao gồm có các bên gửi và tiếp nhận thông tin được mã hoá bởi một hệ thống kí hiệu Hai là, mô hình suy ý dựa trên việc người gửi thể hiện ý định nói; và được người tiếp nhận suy ý dựa trên nguyên tắc cộng tác Ba là mô hình tương tác, trong đó, giả định rằng người nói “phô bày” thông tin trong một tình huống giao tiếp và người tiếp nhận hiểu Xuyên suốt cả ba mô hình này là tính liên chủ thể.)
Vấn đề là, làm thế nào để xây dựng được tập hợp các luận suy mà người nghe/đọc đã thực hiện để điền vào các khoảng trống trên văn bản, cái gì ảnh hưởng đến anh ta khi anh ta chọn giả thuyết A chứ không phải giả thuyết
B để luận suy Chúng tôi sẽ làm rõ khi nghiên cứu các trường hợp cụ thể
Một điểm đáng chú ý của quan điểm này là ta có thể dựa vào mức độ dễ dàng trong việc tạo ra các luận suy để đánh giá một chuỗi câu là mạch lạc, ít mạch lạc (hơn) hay không mạch lạc Ví dụ:
(6) Ngày mai là kỉ niệm 100 năm ngày sinh của Nam Cao Tôi sẽ đến trường Khoa học Xã hội Nhân văn dự hội thảo
(7) Ngày mai là kỉ niệm 100 năm ngày sinh của Nam Cao Tôi sẽ đến đại học Hà Nội
(8) Ngày mai là kỉ niệm 100 năm ngày sinh của Nam Cao Kí túc xá đại học Hà Nội rất bẩn
Ở (6) chúng ta có thể dễ dàng tạo ra một giả định bắc cầu rằng “hội thảo đó là hội thảo về Nam Cao nhân dịp kỉ niệm ngày sinh của ông” và
“trường Khoa học Xã hội Nhân văn là trường đại học có nghiên cứu về văn học Việt Nam, vì thế rất có thể họ sẽ tổ chức hội thảo về Nam Cao” và “tôi đến trường Khoa học Xã hội Nhân văn để dự hội thảo đó” Vì thế trường hợp (6) mạch lạc vì chúng ta có thể dễ dàng tạo ra các giả định bắc cầu chắc chắn
để nối kết hai câu lại với nhau
Trang 22Ở (7) việc luận suy sẽ phức tạp hơn Chúng ta phải giả định rằng “Nhân dịp kỉ niệm ngày sinh Nam Cao, tại trường đại học Hà Nội sẽ có một hoạt động nào đó liên quan đến nhà văn này” và “tôi đến trường đó để tham dự hoạt động đó” Việc giả định này, nếu không có ngữ cảnh nào thêm, sẽ khó trở nên chắc chắn Vì trường đại học Hà Nội không có một mối liên hệ rõ rệt nào với ngày sinh của Nam Cao, và việc “tôi đến trường đại học Hà Nội” cũng không có một mối liên quan rõ rệt nào với ngày sinh của Nam Cao Vậy
ta có thể kết luận ra rằng trường hợp (7) ít mạch lạc, hay là (7) ít mạch lạc hơn (6); vì ta phải tạo ra rất nhiều giả định bắc cầu không chắc chắn nhằm nối kết hai câu lại với nhau
Ở (8), rất khó có thể luận suy ra mối liên kết vắng mặt (miss linking) giữa hai câu trên Nếu không có ngữ cảnh, chúng ta không có cách nào điền thêm được bất kì giả định bắc cầu nào để nối hai câu trên với nhau Vì thế có thể kết luận rằng trường hợp (8) là không mạch lạc vì nó gây trở ngại cho việc luận suy.1
Nhược điểm của hướng tiếp cận này là “nhà phân tích [diễn ngôn] có thể được để lại một cơ sở thiếu an toàn để nói, về mặt phân tích chứ không phải trực giác, về các luận suy cần có trong việc nhận hiểu văn bản” (Brown
& Yule) Thế nên trong luận văn này, chúng tôi chỉ tập trung vào luận cứ trong truyền thông, nhằm dựa vào hệ thống logic để đảm bảo các luận suy cần
có trong việc phân tích mạch lạc2
1 Ở điểm này, chúng ta vẫn có thể điền thêm vô số giả định nhằm cố gắn kết hai câu này lại với nhau; nhưng nếu làm như vậy, thì bất kì hai câu nào đặt cạnh nhau cũng thành mạch lạc với nhau (thông qua vô số lần bắc cầu) Đây vẫn là một vấn đề gây tranh cãi trong nghiên cứu mạch lạc
2 Chúng tôi sẽ giải thích rõ hơn ở 1.3
Trang 23Trong luận văn này, chúng tôi chọn quan điểm mạch lạc như là việc luận suy để nghiên cứu về mạch lạc
1.1.2 Ngụy biện
1.1.2.1 Từ Aristote
Ngụy biện là một vấn đề được logic học nghiên cứu từ rất sớm; và cho đến nay, nó vẫn là một vấn đề quan trọng trong logic học Aristotle, người đặt nền móng cho logic học phương Tây, đã đề cập đến ngụy biện trong công trình quan trọng của ông về logic: “On Sophistical Refutations” Aristotle, từ thực tế tranh biện (debate) học thuật của Hi Lạp cổ đại, đã thấy được nhu cầu vạch ra những “lỗi” (error) trong các luận cứ (arguments) được dùng trong tranh luận “Ngụy biện” được gọi là một suy diễn “lỗi” hay còn gọi là “không hiệu lực” (invalid) vì ở suy diễn này, tiền đề không dẫn đến kết luận, hay là ngụy biện nằm trong mối quan hệ giữa tiền đề và kết luận Phương pháp để kiếm chứng tính hiệu lực (validity) của suy diễn là sử dụng mô hình tam đoạn luận và việc phân tích từ ngữ
Với Aristote, việc nghiên cứu ngụy biện rất quan trọng vì nó giúp ta nhận ra các vấn đề về ngôn ngữ, phát triển lí lẽ và giúp ta có được danh tiếng của một người sử dụng lập luận giỏi Hamblin cho rằng, ý tưởng của Aristote rất gần với ý tưởng hiện đại về “ngụy biện” như là luận cứ không hiệu lực hoặc lí lẽ không hiệu lực nhưng lại có vẻ là có hiệu lực mặc dù thực tế nó không hiệu lực
Trên cơ sở đó, Aristotle đã chỉ ra mười ba kiểu ngụy biện và chia chúng làm hai loại: phụ thuộc vào ngôn ngữ và không phụ thuộc vào ngôn ngữ; cụ thể là
Nhóm phụ thuộc vào ngôn ngữ:
Trang 24- Ngụy biện nước đôi (equivocation)
- Ngụy biện chơi chữ (amphiboly)
- Ngụy biện tổng thể (combination of words)
- Ngụy biện phân chia (division of words)
- Ngụy biện giọng điệu (accent)
- Ngụy biện biểu hiện (form of expression)
Nhóm không phụ thuộc vào ngôn ngữ
- Ngụy biện rủi ro (accident)
- Ngụy biện khái quát hóa vội vã (secundum quid)
- Ngụy biện kết quả (consequent)
- Ngụy biện lí do không hợp lí (non-cause)
- Ngụy biện lặp vòng quanh (begging question)
- Ngụy biện bất khả tri (ignoratio elenchi)
- Ngụy biện câu hỏi phức (many question)
Như vậy, có hai vấn đề chính được ông đặt ra là: ngụy biện mang tính tương thoại hay biện chứng (dialectical) vì nó được sử dụng trong các cuộc tranh luận giữa các biện giả (debater) và ngụy biện là một lỗi lập luận có thể dùng các qui tắc của tam đoạn luận để nhận ra
Sau đó, châu Âu rơi vào thời kì Trung cổ, các nghiên cứu về logic không được chú trọng, mà chỉ được coi là một phần phục vụ cho Thần học, nên nghiên cứu về ngụy biện không có phát triển gì thêm
Trang 25Cũng trong thời gian này, ở Ấn Độ và A Rập cũng có một vài nghiên cứu về ngụy biện, nhưng không có hệ thống3
1.1.2.2 Khoa học logic cận đại
Tiếp đến giai đoạn Phục hưng cho đến thế kỉ XIX, cũng với sự phát triển của khoa học duy lí, chủ thuyết duy nghiệm, tầm quan trọng của logic được khôi phục, các nghiên cứu về ngụy biện đã đạt được những bước tiến rất quan trọng Phải kể đến những nhà tư tưởng hàng đầu của Anh đã có nghiên cứu về ngụy biện như J.Mill4, J.Locke5,… Các nhà logic học thời kì này nhấn mạnh rằng ngụy biện là một lỗi logic, và họ xa rời dần ý tưởng ngụy biện có tính tương thoại hay biện chứng như thời Aristote
Công trình quan trọng trong thời gian này phải kể đến tác phẩm
“Elements of logic” của Whatley Ông là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ
“fallacy” (trong tiếng Anh) để chỉ khái niệm “ngụy biện” trong logic học hiện đại, cũng như nỗ lực nghiên cứu một cách có hệ thống về “ngụy biện” Whatley cho rằng việc nhận diện ngụy biện nằm ở mối liên kết giữa tiền đề (premise) và kết luận (conclusion), và không nằm ở hoặc tiền đề hoặc kết luận Ông cho rằng ngụy biện vi phạm các luật của diễn dịch và có thể dùng
mô hình tam đoạn luận để kiểm chứng Chính vì cách tiếp cận này, mà Whatley đã chia ngụy biện làm hai loại chính là: ngụy biện logic (khi tiền đề
có dẫn tới kết luận) và ngụy biện phi logic (tiền đề không dẫn tới kết luận) Trong ngụy biện logic, có loại ngụy biện thuần logic (các lập luận không hiệu lực vì chứa lỗi diễn dịch) và loại ngụy biện cận logic (các lập luận không hiệu
3 Về lịch sử nghiên cứu ngụy biện tại các Ấn Độ và A Rập, có thể tham khảo đầy đủ trong Hamblin, 1970 Fallacies London: Methuen
4 John Stuart Mill, On System of Logic
5 John Locke, An Essay Concerning Human Understanding
Trang 26lực do mặt kiến thức siêu logic - extralogical knowledge), hay là các kiến thức
về nghĩa của thuật ngữ - knowledge of the meaning of terms) Trong ngụy biện phi logic, có loại lỗi ở tiền đề - do tiền đề sai hoặc giả thuyết không chính đáng, và loại lỗi ở kết luận – kết luận không quan thiết Tổng kết lại, ông phân ngụy biện làm 17 kiểu ngụy biện chính
Mill, triết gia duy nghiệm hàng đầu người Anh, đứng từ quan điểm cho rằng logic là vấn đề của bằng chứng (proof) nên ông cho rằng ngụy biện liên quan đến sức nặng bằng chứng (streng of the evidence) Điểm đáng chú ý là ông cho rằng ngụy biện không liên quan đến tương thoại hay biện chứng, vì thế cần phân biệt ngụy biện với lỗi đạo đức (moral failings) trong việc sử dụng luận cứ Tổng kết lại Mill chia ngụy biện thành (1) ngụy biện quan sát (fallacies of observation), (2) ngụy biện tổng quát (fallacies of generalization), (3) ngụy biện lí luận (fallacies of ratiocination), (4) ngụy biện rối loạn (fallacies of confusion)
1.1.2.3 Tiêu chuẩn nhận diện (Standard Treatment)
Khoảng nửa cuối thế kỉ XX, ngành logic học đã có nhiều biến chuyển quan trọng, vì thế những nghiên cứu trước đây về ngụy biện đều bộc lộ những điểm yếu nhất định Điển hình là việc có quá nhiều tiêu chí chồng chéo gây ra tính thiếu hệ thống, sự không nhất quán trong việc định nghĩa ngụy biện là gì
Hamblin trong Fallacies (1970) đã tổng kết lại toàn bộ lịch sử nghiên cứu
ngụy biện từ Aristote đến các trường phái hiện đại (trong thế kỉ XX) Ông cho rằng [3, 98] “[Đến nay] Chúng ta không có lí thuyết nào về ngụy biện, theo nghĩa chúng ta chưa có lí thuyết về lí lẽ hay sự luận suy chuẩn xác (correct)”
Từ nhận định đó, Hamblin cố gắng xây dựng một tiêu chuẩn nhận diện cho
Trang 27ngụy biện, lấy đó làm nền tảng mới cho việc nghiên cứu ngụy biện6 Tiêu chuẩn nhận diện đó như sau [3,109]:
“Một ngụy biện là một luận cứ tỏ ra có hiệu lực nhưng nó không hiệu lực.”
(A fallacy is an argument which appears to be valid but is not)
Sau đó, ý tưởng này được tiếp tục phát triển bởi các nhà nghiên cứu logic khác, làm sáng rõ hơn các vấn đề của ngụy biện Đáng chú là quan điểm của Ralph H Johnson khi ông phê phán tiêu chuẩn nhận diện này và từ đó đưa ra định nghĩa về ngụy biện của mình như sau [3,116]:
“Ngụy biện là một luận cứ vi phạm một trong những tiêu chuẩn của một luận cứ tốt và điều này xảy ra trong diễn ngôn thường xuyên đủ để bị nhận diện.”
1.1.2.4 Dụng hành – tương thoại (The Pragma-Dialectical Approach) – PDA
Đến nửa cuối thế kỉ XX, hướng tiếp cận ngụy biện như một “lỗi logic”
đã lộ ra rất nhiều nhược điểm Điều đó khiến các nhà khoa học chú ý lại tính chất thứ hai của ngụy biện đã được Aristote đề cập: tính tương thoại (hay biện chứng); tức là ngụy biện xảy ra khi hai phe tranh luận với nhau Cùng thời điểm đó, ngữ dụng học có những thành công vang dội (lí thuyết hành động ngôn từ, ngôn ngữ học tương tác), đã bổ trợ cho ý tưởng đi sâu vào nghiên cứu luận cứ trong hội thoại Điển hình cho hướng tiếp cận này là hai tác giả Van Eemeren và Grootendorst của trường phái Hà Lan Đầu tiên, hai ông cho rằng việc lập luận (argumentation) được coi như một phần của diễn ngôn lập
6 Vai trò của Hamblin quan trọng đến nỗi mà người ta đặt tên cho giai đoạn nghiên cứu ngụy biện từ sau
1970 là giai đoạn “hậu – Hamblin”
Trang 28luận lí tính nhằm giải quyết sự khác biệt quan điểm Vì thế, ở trạng thái lí tưởng nhất, các luận cứ phải nằm trong một dạng hội thoại được gọi là “thảo luận phê phán” (critical discussion) Hội thoại “thảo luận phê phán” cũng như mọi loại hội thoại khác, phải có các chặng (stage), bước (move) và quy tắc (rule) Nếu như một luận cứ vi phạm quy tắc ở một chặng nào đó, thì đó là một ngụy biện Bằng việc đưa ra mười quy tắc và những sự vi phạm quy tắc
đó, hai tác giả đã nêu ra được một số loại ngụy biện
Tuy nhiên, vấn đề là hai tác giả đã không xây dựng được một hệ thống các loại ngụy biện, vì một loại ngụy biện có thể cùng lúc vi phạm hai đến ba quy tắc; và nhất là, các hội thoại mang tính lập luận thì không chỉ có loại thảo luận phê phán
1.1.2.5 Douglas Walton và lí thuyết dụng hành về ngụy biện
Như đã nói trên, việc nghiên cứu ngụy biện “thuần túy logic” có nhiều nhược điểm, và Douglas Walton đã tổng kết như sau:
(A1) Không phân biệt được luận cứ nào thực sự là ngụy biện, luận cứ nào không
(A2) Hạn chế việc phân tích ngụy biện khi chỉ giới hạn ngụy biện trong các vấn đề logic
(A3) Không có sự phân biệt rõ các kiểu ngụy biện
Vấn đề mà (A1) đặt ra là, nếu coi ngụy biện là một “lỗi lập luận” thì làm thế nào để phân biệt một luận cứ đúng (correct argument) với một luận cứ yếu (weak argument) và một ngụy biện (fallacy) Ví dụ về luận cứ sau:
(V1) Ông X nói điều A là đúng
Ông X là nhà khoa học
Trang 29Vì thế điều A đúng
Nếu theo cách phân tích “thuần túy logic”, luận cứ (V1) là ngụy biện, kiểu ngụy biện “viện dẫn thẩm quyền”; trong đó tiền đề “Ông X là chuyên
gia” không thể dẫn đến kết luận “điều A là đúng” (ở đây người lập luận đã
dùng thẩm quyền của ông X để kết luận, mà không quan tâm đến bản thân vấn đề A) Nhưng ví dụ như ông X là một giáo sư vật lí, còn vấn đề A là vấn
đề thuộc về vật lí, thì (V1) chỉ là một lập luận yếu, trong đó thẩm quyền (về
vật lí của ông A) chưa đủ để đưa ra kết luận Vậy đâu là ranh giới giữa “ngụy
biện” và “lập luận yếu”?
Chúng ta cũng có thể thấy rõ vấn đề (A2) ở (V1), nếu không xét vào hoàn cảnh cụ thể của ông A, chúng ta khó lòng kết luận được (V1) có ngụy biện hay không Một ví dụ khác:
(V2) A: Thượng Đế có tồn tại
B: Làm sao anh biết?
A: Vì Kinh Thánh nói thế
B: Làm sao tôi biết được Kinh Thánh nói là sự thật?
A: Vì Kinh Thánh là ngôn từ của Thượng Đế
(V2) là một ví dụ rất kinh điển của kiểu ngụy biện “lí lẽ vòng quanh” (begging question); trong đó tiền đề và kết luận thực chất chỉ là một (tiền đề
“Chúa tồn tại”, và kết luận hàm ý “Chúa tồn tại”) Nhưng xét trong một trường hợp đặc biệt, trong đó người B là một tín đồ Thiên chúa giáo (tức là anh ta có nghĩ rằng “Kinh Thánh là một văn bản của Chúa”), anh ta chỉ có một chút dao động trong niềm tin của mình, thì lập luận của A không còn là
Trang 30một loại lập luận vòng quanh nữa7 mà lập luận đó là một cách loại bỏ những nghi ngờ trong B về Thượng Đế
Rõ ràng là việc chú trọng đến các yếu tố ngoài logic có giúp ích cho sự phân biệt lập luận có phải là ngụy biện hay không Vậy yếu tố ngoài logic nào cần được chú trọng?
Vấn đề (A3) thường xuất hiện trong các cách phân chia ngụy biện thành rất nhiều kiểu8 Việc phân chia thành quá nhiều kiểu sẽ dẫn đến việc các kiểu bị chồng chéo lên nhau, rất khó cho việc xác định và phân tích ngụy biện Ví dụ như kiểu ngụy biện “Tấn công cá nhân” và “Bỏ độc vào giếng” có cùng tính chất là nhấn mạnh vào một (vài) đặc điểm cá nhân nào đó của người lập luận để bác bỏ luận cứ của anh ta Vậy đâu là điểm khác nhau của hai loại này?
Xảy ra tình trạng trên là do người phân chia không có một cơ sở lí thuyết vững chắc để phân loại, cũng như phân làm quá nhiều loại nhỏ
Để giải quyết những vấn đề trên, các nhà nghiên cứu ngụy biện đề xuất hướng tiếp cận dụng hành, tức là quay lại với ý tưởng của Aristotle về tính tương thoại (biện chứng); chỉ có thể phát hiện ngụy biện trong bối cảnh đối thoại (dialogue context) mà thôi Hướng nghiên cứu này được mở đầu bởi các nhà khoa học thuộc trường phái Amsterdam, sau đó được hoàn thiện và phát triển bởi Douglas Walton
Trang 31Đầu tiên, khác với truyền thống, Walton điều chỉnh định nghĩa về lí lẽ (reasoning) và luận cứ (argument) Lí lẽ được định nghĩa như một chuỗi kết hợp các mệnh đề (các tiền đề và các kết luận) tham gia vào các bước của luận suy bằng việc đảm bảo cho các luận suy đó Luận cứ được định nghĩa như cách dùng của lí lẽ nhằm góp phần trao đổi lời nói hoặc các hội thoại được gọi
là đối thoại Đối thoại ở đây cũng được hiểu theo nghĩa rộng, tức là không nhất thiết phải có hai bên, đôi khi có thể một bên nói/viết với phe được tưởng tưởng ra (illusion)9
[4,240] Ông cũng đưa ra khái niệm “đối thoại mang tính lập luận” (argumentative dialogue) để chỉ các đối thoại có sử dụng luận cứ để phân biệt với đối thoại thông thường hàng ngày (everyday dialogue)
Walton cho rằng luận cứ thường được dùng trong đối thoại, nhằm phù hợp với một mục đích nào đó trong đối thoại (Dựa vào mục đích của đối thoại, Walton chia đối thoại thành 6 kiểu chính: Thảo luận phê phán - Critical discussion, Đàm phán - Negotiation, Định hướng - Inquiry, Tranh cãi - Quarrel, Tìm thông tin - Information-seeking, Cân nhắc - Deliberation; tương ứng với sáu mục đích khác nhau) Chính vì thế, người lập luận luôn có nhu cầu sử dụng luận cứ nhằm phục vụ cho mục đích đó Khi người lập luận muốn dành lợi thế cho mình, anh ta sẽ vặn (twist) chủ đề của luận cứ đang được sử dụng đúng (trong bối cảnh của đối thoại) sang hướng có lợi cho mình, từ đó nảy sinh ra luận cứ ngụy biện Khác với “nói bừa” (blunder) – kiểu phá vỡ các phương châm của đối thoại và không sử dụng các kĩ thuật của lập luận, ẩn sau lập luận “ngụy biện” là chiến thuật xảo biện (sophistical tactics) Ở điểm này, Walton nhấn mạnh ngụy biện là cách dùng luận cứ nhằm cố tình lừa gạt người đối thoại, chứ ngụy biện không nằm ở bản thân luận cứ Vì vậy, ngụy biện
9 Điều này ta thấy rõ trên báo chí, khi mà tác giả luôn viết cho các đại chúng, công chúng của mình; mà không phải một phe xác định nào đó
Trang 32xảy ra khi “sử dụng sai một kĩ thuật lập luận nhằm chống lại (ngăn chặn, chặn đứng, cản trở) việc đạt đến mục đích đối thoại, thứ phù hợp với ngữ cảnh hoặc bối cảnh chuẩn tắc, hoặc nguyên tắc cộng tác cho loại hội thoại đó”
Tổng kết lại các điểm trên, Walton [3, 233] định nghĩa ngụy biện là (1) một luận cứ (2) không đạt được một (vài) tiêu chuẩn chuẩn tắc (về logic) (3) được sử dụng trong bối cảnh đối thoại (4) nhưng, vì vài lí do, có vẻ đúng trong bối cảnh của đối thoại (5) tạo ra trở ngại cho việc nhận ra được mục đích của đối thoại
Định nghĩa trên cho thấy Walton chỉ ra rằng ngụy biện là một vấn đề có hai tầng Tầng thứ nhất là thuộc về các cấu trúc chuẩn của logic và tầng thứ hai là luận cứ khi nằm trong đối thoại Bằng quan điểm này, Walton đã kết hợp cả hai điểm mạnh của lối tiếp cận logic truyền thống và lối tiếp cận dụng hành tương thoại hiện đại
Bằng định nghĩa trên, chúng ta cũng đã giải quyết được vấn đề (A1) (A2) đặt ở trên Ngụy biện khác một lập luận yếu ở chỗ; tuy chúng cùng có thể mắc lỗi nào đó về logic, nhưng ngụy biện sẽ gây cản trở cho mục đích của đối thoại còn một lập luận yếu thì không Để thấy được ngụy biện gây cản trở cho mục đích của đối thoại thế nào, chúng ta phải xác định được đối thoại đó
là loại đối thoại nào – dựa vào bối cảnh của đối thoại, sau đó xem xét việc sử dụng luận cứ đã hướng đối thoại vào mục đích nào khác với mục đích ban đầu hay không Để phân tích được ngụy biện, cần phải đặc biệt chú ý vào bối cảnh đối thoại, đặc biệt là mục đích đối thoại, vì nó quyết định việc một luận cứ có
“tỏ ra” là hiệu lực hay không Ngoài ra, để xem xét một luận cứ là yếu hay ngụy biện, chúng ta có thể sử dụng công cụ là câu hỏi phê phán (critical question)
Trang 33Để làm rõ hơn khái niệm mục đích của đối thoại, chúng tôi trình bày về sáu loại đối thoại (sáu loại này chỉ dành cho các đối thoại mang tính lập luận, chứ không phải toàn bộ các đối thoại trong thường ngày), tương ứng với sáu mục đích đối thoại:
(a) Thảo luận phê phán:
Là loại hội thoại có mục đích giải quyết một xung đột giữa hai (các) bên Từ “giải quyết” ở đây không chỉ có nghĩa là để kết thúc mối xung đột mà nhằm chỉ ra được một bên một bên được hỗ trợ bởi bằng chứng tốt hơn bên còn lại
Có hai loại thảo luận phê phán: loại đơn giản, một phe có một giả thiết
và muốn bảo vệ giả thiết đó, và bên còn lại đặt ra các câu hỏi phê phán thể hiện sự nghi ngờ giả thuyết đó Loại phức tạp, trong đó, mỗi bên đều có một giả thiết và mục đích của mỗi bên đều là chứng minh bên mình là đúng
(b) Đàm phán
Khác với thảo luận phê phán, với mục đích chứng minh rằng phe mình đúng bằng các bằng chứng được dẫn ra; hội thoại đàm phán có mục đích là đưa ra các đề nghị nhằm “có được một thỏa thuận tốt nhất” Mục đích của loại hội thoại này là đi đến một thỏa thuận mà cả hai bên
có thể chấp nhận dù không muốn đi nữa
(c) Định hướng
Mục đích của hội thoại định hướng là nhằm chứng thực quan điểm của một phe là đúng, mặc dù nó chưa thể bao phủ hết các bằng chứng Loại đối thoại này thường thấy khi các nhân viên chính phủ phải giải thích
Trang 34về các vụ bê bối chính trị Họ sẽ cố giải thích sao cho vừa lòng dân chúng và các chính trị gia đối lập, dù cách giải thích đó chưa hoàn toàn hợp lí
(d) Tranh cãi
Hội thoại tranh cãi xảy ra khi hai bên không thể giữ phép “lịch sự” hay đảm bảo việc cộng tác trong hội thoại Hội thoại tranh cãi nhằm đưa ra các vấn đề xung đột vẫn bị ẩn giấu (do lịch sự) nhằm tiếp tục đối thoại
về chúng
(e) Tìm thông tin
Hội thoại tìm thông tin diễn ra trong tình huống một phe có thông tin còn phe kia cần hoặc muốn thông tin đó Mục đích của hội thoại tìm thông tin là sự chuyển giao thông tin từ phe này sang phe khác
(f) Cân nhắc
Hội thoại cân nhắc xảy ra khi có sự băn khoăn về việc thực hiện hành động như thế nào Khi cùng tồn tại những phương thức hành động trái ngược nhau, và phải chọn ra một phương thức giữa các phương thức trên, thì cần phải có hội thoại cân nhắc Mục đích của hội thoại cân nhắc là tìm kiếm một kết quả hoặc quyết định cho việc phải hành động khôn ngoan như thế nào
Ngoài ra, cần chú ý khái niệm sự chuyển hội thoại (dialectical shift) Sự chuyển hội thoại diễn ra khi một hội thoại bị chuyển từ loại này sang loại khác Không phải cứ diễn ra sự chuyển hội thoại thì ngụy biện xảy ra Hai bên hội thoại có thể chuyển từ loại này sang loại khác, rồi sau đó có thể tiếp tục
Trang 35quay lại loại hội thoại ban đầu Ngụy biện chỉ xảy ra sau khi sự chuyển hội thoại diễn ra và hai bên không thể quay về loại hội thoại ban đầu được nữa
Một trong những điểm đáng chú ý nữa của lí thuyết Walton về ngụy biện là việc phân chia các loại ngụy biện Ông cho rằng việc phân chia ngụy biện thành hai loại: ngụy biện hình thức (formal fallacy) – có thể dùng các quy tắc của logic hình thức để chỉ ra “lỗi”, và ngụy biện phi hình thức (informal fallacy) – không chỉ sử dụng các quy tắc của logic hình thức để phát hiện lỗi mà còn phải xem các chiến thuật lập luận của người nói/viết; là không cần thiết và có nhiều bất cập Vì ông nhấn mạnh rằng ngụy biện sinh ra từ việc sử dụng luận cứ chứ không phải ở bản thân luận cứ, nên các loại ngụy biện đều là ngụy biện phi hình thức Trong luận văn này, chúng tôi sẽ đưa ra tám10 loại ngụy biện phổ biến và dễ dàng để phân tích mối quan hệ giữa ngụy biện và mạch lạc, rồi chia làm hai nhóm Nhóm một là các loại ngụy biện dạng “viện dẫn” (ad) và nhóm hai là một số loại ngụy biện phi hình thức khác, không thuộc nhóm một
Trong luận văn này, chúng tôi sẽ xem xét vấn đề ngụy biện bằng quan điểm của Douglas Walton
1.2 Lí thuyết về lập luận11
Lập luận đã được nghiên cứu rất lâu từ trước công nguyên trong tu từ học và toán học Theo Đỗ Hữu Châu [3,155] “Lập luận là đưa ra những lí lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến một kết luận hay chấp nhận một kết luận nào
10 Walton cũng không đưa ra một con số chắc chắn về số lượng các loại ngụy biện
11 Trong phần này, chúng tôi chỉ trình bày tóm tắt một số vấn đề chính nhất trong lí thuyết lập luận có liên quan đến nghiên cứu này
Trang 36đấy mà người nói muốn đạt đến” Trong đó, một lập luận được cấu thành từ nhiều luận cứ Mỗi luận cứ có mô hình như sau:
p – r
p là lí lẽ (reason) và r là kết luận
Từ sau những năm 60, lí thuyết về logic phi hình thức có nhiều biến chuyển, các nhà khoa học chú ý không chỉ đến bản thân lập luận (như là các cấu trúc tam đoạn luận) mà thấy rằng lập luận luôn được sử dụng rộng rãi trong rất nhiều loại đối thoại Vì thế, người ta tập trung vào nghiên cứu cách
sử dụng lập luận (hay là mặt ngữ dụng của lập luận) Trường phái Hà Lan nghiên cứu lập luận trong các quy tắc xây dựng lượt lời, còn Walton lại chú tâm đến việc xây dựng mô hình luận cứ nhằm làm rõ chức năng của lí lẽ trong lập luận Ông đưa ra việc mô hình hóa lập luận dựa vào các bước sau [4,131]:
G là đích của a
Việc đưa ra A là cần thiết cho a đưa ra G (đến chừng mực mà a biết)
Vì thế mà việc đưa ra A là đúng một cách cẩn trọng như là một phần
1.3 Mối quan hệ giữa ngụy biện và mạch lạc trong một luận cứ
Sau khi đã trình bày quan điểm về mạch lạc (mạch lạc như là việc luận suy) và ngụy biện (theo quan điểm của Walton), chúng tôi trả lời câu hỏi quan
Trang 37trọng nhất của luận văn này là luận cứ ngụy biện có mạch lạc hay không Ta tiếp tục xem xét ví dụ (V1‟)
(V1‟) [Hai sinh viên nói chuyện về cú pháp học]
A: Vì sao vấn đề cú pháp X là đúng?
B: Vì thầy Hiệp đã nói X là đúng
A: Có chắc vậy không?
B: Vì thầy Hiệp đang dạy môn Cú pháp học
Nếu xét từ góc độ liên kết, chúng ta dễ nghĩ rằng (V1‟) mạch lạc Vì hai bên cùng đối thoại về vấn đề chung là vấn đề cú pháp X, và người được viện dẫn là “thầy Hiệp” cũng có liên quan đến bộ môn cú pháp học Nhưng nếu đứng từ góc độ luận suy (V1‟) có mạch lạc hay không? Trong (V1‟), các trường hợp luận suy – điền các giả định bắc cầu có thể có ít nhất hai trường hợp sau:
(a1‟) Thầy Hiệp là giảng viên môn cú pháp học, vì thế ông ấy có đủ khả năng chuyên môn khoa học để kết luận vấn đề cú pháp X là đúng
(a1‟‟) Thầy Hiệp là giảng viên môn cú pháp học, B cho rằng nếu A không công nhận vấn đề X là đúng, A có thể bị điểm kém môn cú pháp học
Để có thể quyết định (a1‟) hay (a1‟‟) xảy ra, chúng ta buộc phải dựa nhiều vào ngữ cảnh (a1‟) chỉ xảy ra với ngữ cảnh là thầy Hiệp là một giảng viên được công nhận rộng rãi về mặt thẩm quyền chuyên môn với cú pháp học (a1‟‟) xảy ra với ngữ cảnh là thầy Hiệp là giảng viên vốn ít chấp nhận các quan điểm chuyên môn khác với mình, và sinh viên trình bày quan điểm trái ngược đó có thể bị điểm kém môn cú pháp học
Trang 38Nếu (a1‟) xảy ra, thì (V1‟) là mạch lạc, vì chủ đề của đối thoại đều xoay quanh vấn đề cú pháp học như một bộ môn khoa học – tức là có vấn đề khoa học và có chuyên gia khoa học đủ thẩm quyền để kết luận về vấn đề Nếu (a1‟‟) xảy ra thì các câu trong (V1‟) không mạch lạc vì chủ đề của đối thoại không liên quan gì đến nhau Ở chặng (stage) đối thoại đầu, A và B bàn về vấn đề cú pháp X như là một vấn đề khoa học; ở chặng đối thoại sau, B nói về quyền uy của giảng viên môn cú pháp học Ở đây, B đã không phát triển chủ đề hoặc duy trì chủ đề, mà A đã đánh tráo chủ đề hội thoại một cách cố ý
Trong trường hợp này, (V1‟) là một hội thoại mang tính lập luận tỏ ra
là mạch lạc nhưng (thực ra) là không
Phân tích trên cho ta thấy tầm quan trọng của ngữ cảnh cũng như việc luận suy dựa trên đó sẽ quyết định các câu có mạch lạc với nhau không
Ta tiếp tục xem xét (V1‟) trên góc độ ngụy biện Đầu tiên, đây là hội thoại tìm thông tin, trong đó B cần thông tin rằng vấn đề cú pháp X có đúng hay không, và A có thể cung cấp thông tin đó Mục đích của hội thoại là chuyển giao thông tin về vấn đề cú pháp X
Nếu như ngữ cảnh của hội thoại giống như trường hợp (a1‟) trên, thì mục đích của hội thoại đã đạt được – A đã có thông tin về vấn đề cú pháp X thông qua uy tín chuyên môn của “thầy Hiệp”, vì thế (V1‟) không ngụy biện
Có thể khẳng định mục đích của hội thoại tìm thông tin này đã đạt được khi B tiếp tục kể các nghiên cứu cú pháp học của “thầy Hiệp”để khẳng định thẩm quyền chuyên môn của “thầy Hiệp” Như vậy A đã có thêm các thông tin cần thiết để kết luận vấn đề X thông qua chuyên môn của “thầy Hiệp”
Còn ngữ cảnh giống trường hợp (a1‟‟) thì mục đích của đối thoại không đạt được – A thay vì có thông tin về vấn đề cú pháp X, A chỉ nhận
Trang 39được thông tin về thẩm quyền của “thầy Hiệp” đối với bộ môn cú pháp học Ở đây, B đã cố tính gây khó khăn cho việc đạt được mục đích của đối thoại, phá
vỡ mục đích tìm thông tin bằng việc dựa vào quyền uy Vì thế, trong trường hợp này, (V1‟) là một hội thoại sử dụng luận cứ ngụy biện “lợi dụng thẩm quyền”, khi nó chuyển hướng mục đích của đối thoại một cách cố ý bằng cách viện dẫn đến thẩm quyền, không liên quan đến việc tìm thông tin về vấn đề cú pháp X
Ta có thể tóm tắt phân tích trên qua sơ đồ sau
Trong sơ đồ trên, các mũi tên thẳng là các chặng hội thoại thực sự diễn
ra, và các mũi tên đứt là các giả định bắc cầu được tạo thêm dựa vào ngữ cảnh nhằm làm rõ hơn luận cứ Ta thấy mục đích tìm thông tin đã đạt được bởi A
có thể tìm được thêm thông tin về thẩm quyền chuyên môn của thầy Hiệp đối với cú pháp học nói chung và với vấn đề X nói riêng Chủ đề về vấn đề học thuật X tiếp tục được phát triển
Với ngữ cảnh (a1‟‟)
Trang 40Vấn đề X đúng không Th Hiệp nói X đúng X đúng
[Lạc hướng chủ đề]
Th Hiệp không chấp nhận ý kiến trái chiều và cho sv điểm
kém
[Đóng đối thoại]
Ở sơ đồ này ta thấy giả định bắc cầu được thêm vào đã “vặn” chủ đề hội thoại từ vấn đề học thuật X sang vấn đề khác (quyền uy của “thầy Hiệp” với môn cú pháp học), từ đó không đạt được mục đích hội thoại là tìm thông tin Không những thế, việc đưa quyền uy của “thầy Hiệp” ra làm đóng lại hội thoại, không mở hội thoại ra để tiếp tục tìm thông tin Vì thế đây là một luận
cứ ngụy biện viện dẫn thẩm quyền
Qua phân tích trên, chúng ta tiếp tục thấy tầm quan trọng của ngữ cảnh, cũng như quan điểm của Walton khi cho rằng, ngụy biện không phải ở bản thân luận cứ ((V1‟) có thể là ngụy biện, có thể không phải ngụy biện) mà nằm
ở cách sử dụng luận cứ đó
Chúng tôi thấy rằng, hai phân tích từ hai hướng: ngụy biện và mạch lạc với (V1‟) đã có rất nhiều nét tương đồng cũng như bổ sung cho nhau khi phân tích (V1‟) Từ đó, chúng tôi thấy những điểm đáng chú ý sau:
- Để nhận ra một hội thoại mang tính lập luận có mạch lạc hay ngụy biện hay không, buộc phải dựa vào ngữ cảnh mới có thể kết luận được
- Ngụy biện là một luận cứ tỏ ra có hiệu lực nhưng (thực ra là) không Khi luận cứ tỏ ra là hiệu lực thì các câu trong nó cũng tỏ ra là mạch lạc (các phần của luận cứ nối kết với nhau một cách chuẩn xác thông qua các luật của logic, vì thế chúng mạch lạc với nhau); nhưng (thực ra là) luận cứ đó không hiệu lực, vì thế các câu trong nó sẽ không mạch lạc