1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đối chiếu nhóm thành ngữ chỉ tâm lý - tình cảm trong tiếng Nga và Tiếng Việt

126 1,9K 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong cuộc sống hiện đại, những giá trị này vẫn còn được lưu giữ lại trước nhất và đầy đủ nhất trong ngôn ngữ, trong đó thành ngữ nói chung, thành ngữ chỉ các trạng thái tâm lý tình cảm

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ MỸ HẠNH

ĐỐI CHIẾU NHÓM THÀNH NGỮ CHỈ

TÂM LÝ TÌNH CẢM TRONG

TIẾNG NGA VÀ TIẾNG VIỆT

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

HÀ NỘI - 2009

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu về thành ngữ nói chung và thành ngữ chỉ trạng thái tâm lý tình cảm nói riêng trong tiếng Nga và tiếng Việt 2

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu và tài liệu nghiên cứu 4

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của đề tài 4

7 Cấu trúc của luận văn 5

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÀNH NGỮ VÀ THÀNH NGỮ CHỈ TÂM LÍ TÌNH CẢM TRONG TIẾNG NGA VÀ TIẾNG VIỆT 6

1.1 Quan niệm về thành ngữ trong tiếng Việt 6

1.1.1 Phân biệt thành ngữ với từ ghép 9

1.1.2 Phân biệt thành ngữ với cụm từ tự do 11

1.1.3 Phân biệt thành ngữ với quán ngữ 12

1.1.4 Phân biệt thành ngữ với tục ngữ 13

1.2.Quan niệm về thành ngữ trong tiếng Nga 14

1.2.1 Quan điểm về thành ngữ của Charles Bally 14

1.2.2 Quan điểm về thành ngữ của B.B.Виноградов 15

1.2.3 Quan điểm về thành ngữ của Н М.Шанский 16

1.2.3.1 Thành ngữ dung hợp (TNDH) hay còn gọi là thành ngữ kết dính (Фразеологическое сращение) 17

1.2.3.2 Thành ngữ thống nhất (TNTN) hay còn gọi là thành ngữ tổng hợp (Фразеологическоe единство) 19 1.2.3.3 Thành ngữ kết hợp (TNKH) (Фразеологическоe сочетание) 20

Trang 3

1.2.3.4 Thành ngữ tổ hợp (TNTH) (Фразеологическоe выражение) 21

1.2.4 Nhận diện và phân biệt thành ngữ với từ và cụm từ trong tiếng Nga 22 1.3 Các trạng thái tâm lí tình cảm và thành ngữ chỉ trạng thái tâm lí tình cảm 25

1.3.1 Phân biệt các trạng thái tâm lý tình cảm 25

1.3.2 Phân loại thành ngữ chỉ tâm lý tình cảm 28

1.3.2.1 Nhóm thành ngữ chỉ sự xúc động 28

1.3.2.2 Nhóm thành ngữ chỉ tâm trạng 29

1.3.2.2 Nhóm thành ngữ chỉ tình cảm 30

4 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 34

CHƯƠNG 2: CẤU TRÚC THÀNH NGỮ BIỂU THỊ TÂM LÝ TÌNH CẢM TRONG TIẾNG NGA VÀ TIẾNG VIỆT 35

2.1 Đặc điểm cấu tạo thành ngữ biểu thị tâm lí tình cảm trong tiếng Nga 35 2.1.1 Đặc điểm về số lượng thành tố cấu tạo 35

2.1.2 Đặc điểm cấu trúc ngữ pháp của các thành ngữ biểu thị tâm lí tình cảm tiếng Nga 39

2.2 Cấu trúc thành ngữ chỉ trạng thái tâm lí tình cảm trong tiếng Việt 50

2.2.1 Đặc điểm về số lượng thành tố cấu tạo 50

2.2.2 Đặc điểm cấu trúc ngữ pháp của các thành ngữ biểu thị tâm lí tình cảm tiếng Việt 52

2.2.3 Nhận xét chung về cấu trúc thành ngữ tâm lý tình cảm trong tiếng Việt 61

2.2.4 Đối chiếu thành ngữ biểu thị tâm lý tình cảm trong tiếng Nga và tiếng Việt 62

2.3 TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 68

CHƯƠNG 3: NGỮ NGHĨA CỦA THÀNH NGỮ BIỂU HIỆN TRẠNG THÁI TÂM LÝ TÌNH CẢM TRONG TIẾNG NGA VÀ TIẾNG VIỆT 70

3.1.1 Các nguồn và đích quy chiếu trong thành ngữ chỉ tâm lí tình cảm tiếng Việt và tiếng Nga 72

3.1.2 Các nguồn biểu trưng trong thành ngữ tiếng Nga 90

KẾT LUẬN 103

Trang 4

TÀI LIỆU THAM KHẢO 105PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1 Thống kê số lƣợng từ trong thành ngữ biểu thị tâm lí tình cảm trong tiếng Nga (Trang 38) Bảng 2: Thống kê thành ngữ biểu thị trạng thái tâm lí tình cảm tiếng Nga theo quan hệ ngữ pháp (Trang 47) Bảng 3 Các nguồn biểu trƣng trong thành ngữ chỉ tâm lí tình cảm tiếng Việt .(Trang 73) Bảng 4: Bảng thống kê nguồn biểu trƣng trong thành ngữ chỉ tâm lý tình cảm tiếng Nga .(Trang 91 )

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong hệ thống một ngôn ngữ, thành ngữ đồng hành cùng với từ, ngữ

và các đơn vị ngôn ngữ khác tạo thành sự đa dạng cũng như đặc trưng riêng cho ngôn ngữ đó Có thể nói, thành ngữ là một bộ phận độc đáo của mỗi ngôn ngữ, bởi nó phản ánh đặc trưng văn hóa dân tộc của mỗi ngôn ngữ, trong đó có những giá trị vật chất và giá trị tinh thần của dân tộc bản ngữ Chính vì lý do này mà thành ngữ luôn thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu

Trong cuộc sống hiện đại, những giá trị này vẫn còn được lưu giữ lại trước nhất và đầy đủ nhất trong ngôn ngữ, trong đó thành ngữ nói chung, thành ngữ chỉ các trạng thái tâm lý tình cảm nói riêng là sự phản ánh sâu sắc

và giầu hình ảnh chiều sâu của tư duy cũng như những tư tưởng tôn giáo, lễ giáo; những quan niệm về văn hóa và phong tục truyền thống; thậm chí là cả những thói quen thường nhật… của người bản ngữ

Việt Nam và Liên bang Nga có mối quan hệ hữu nghị sâu sắc Liên bang Nga là nước anh em đã giúp đỡ Việt Nam vượt qua rất nhiều khó khăn trong cả thời chiến tranh chống Mĩ và thời bình xây dựng lại đất nước Tiếng Nga cũng đã từng là một ngoại ngữ bắt buộc trong các trường trung học phổ thông của Việt Nam từ thế kỷ trước và hiện nay vẫn thu hút đươc nhiều sự quan tâm trong các trường chuyên ngữ và đại học chuyên ngữ Bởi lẽ đó, đối chiếu thành ngữ chỉ các trạng thái tâm lý tình cảm giữa tiếng Nga và tiếng Việt sẽ cho ta một cái nhìn toàn vẹn hơn về dân tộc Nga, những quan niệm, truyền thống, văn hóa, phong tục và quan trọng nhất là đời sống tinh thần, thế giới nội tâm của dân tộc Nga Đồng thời qua đó chúng ta cũng lại càng hiểu rõ hơn dân tộc mình

Trang 7

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu về thành ngữ nói chung và thành ngữ chỉ trạng thái tâm lý tình cảm nói riêng trong tiếng Nga và tiếng Việt

Ở Việt Nam, trong giới Việt ngữ, công trình đầu tiên đề cập đến thành

ngữ tiếng Viêt có lẽ là của V Barbier, một tác giả người Pháp với cuốn Les

expressions comparatives de la langue anamite (Thành ngữ so sánh tiếng

Việt-Quy Nhơn, 1925) Mấy năm sau, tác giả Cẩm Giang (1933) có bài viết

Phê bình sách thành ngữ của ông Bửu Cân đăng trên tờ Nam Phong (1933, số

190), đặc biệt Dương Quảng Hàm (1943) còn nêu sự khác biệt giữa tục ngữ

và thành ngữ

Tuy nhiên phải đến những năm 70 của thế kỷ trước trong giới Việt ngữ mới có nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm đến địa hạt thành ngữ Một số công trình về từ vựng học và thành ngữ, tục ngữ bắt đầu được công bố Năm 1978,

cuốn từ điển Thành ngữ tiếng Việt do Nguyễn Lực và Lương Văn Đang sưu

tầm được xuất bản đánh dấu một dấu mốc quan trọng trong việc nghiên cứu thành ngữ Khoảng 20 năm trở lại đây, các nhà ngôn ngữ học đã đi sâu nghiên cứu về nguồn gốc hình thành và những đặc trưng văn hóa - dân tộc của thành ngữ Các tác giả có những đóng góp quan trọng là Hoàng Văn Hành (1980), Đỗ Hữu Châu (1981), Nguyễn Thái Hòa (1982), Phan Xuân Thành (1980, 1983), Nguyễn Đức Tồn (1988), Nguyễn Văn Khang (1994)

Việc nghiên cứu về tâm lý tình cảm được thể hiện trong thành ngữ chỉ mới được chú ý khoảng mươi năm trước đây Tuy vấn đề này đã được đề cập đến ít nhiều trong các tác phẩm của các tác giả trên, hoặc được trình bày rải rác ở trong một số các bài báo chuyên đề chứ chưa có một tác phẩm chuyên khảo nào dành cho vấn đề này Đã có một số tác giả tiến hành đối chiếu thành ngữ tâm lý tình cảm giữa hai thứ tiếng trong luận văn thạc sĩ như Lâm Thị Hòa Bình với luận văn Đối chiếu thành ngữ chỉ trạng thái tâm lý trong tiếng Anh và tiếng Việt (2000) hay tác giả Vi Trường Phúc với luận văn Đặc điểm của các thành ngữ chỉ tâm lý tình cảm trong tiếng Hán, có đối chiếu với tiếng Việt (2005) hoặc Nguyễn Văn Trào với bài báo Thành ngữ biểu thị tình cảm

Trang 8

trong tiếng Anh , có đối chiếu với tiếng Việt (trên ngữ liệu các thành ngữ có chứa bộ phận cơ thể người) (2006)

Tác giả Nguyễn Đức Tồn, trong luận án Phó tiến sĩ Ngữ văn Специфика

лексико - семантического поля названий частей человеческого тела

(1988) đã đề cập đến đặc trưng tư duy dân tộc của người Nga và người Việt thông qua các trường từ vựng - ngữ nghĩa chỉ bộ phận cơ thể người, nhưng không dành cho việc nghiên cứu đối chiếu thành ngữ chỉ tâm lý tình cảm của hai dân tộc

Nguyễn Văn Hòa với luận án Tiến sĩ tiếng Nga Русские фразеологии,

обозначаюшие внутреннее состояние человека, и способы их передачи

во Въетнамском языке (2008) đã nghiên cứu thành ngữ Nga biểu thị trạng

thái nội tâm của con người chủ yếu thông qua biểu trưng душa (tâm hồn) và cердце (trái tim) và những phương thức chuyển dịch những thành ngữ này sang tiếng Việt Như vậy cho đến nay việc đối chiếu thành ngữ Nga - Việt về mặt cấu trúc và ngữ nghĩa biểu hiện các trạng thái tâm lí tình cảm vẫn đang còn là một địa hạt bỏ ngỏ

Luận văn tiến hành nghiên cứu và phân loại toàn bộ thành ngữ chỉ các trạng thái tâm lý tình cảm của con người như vui, buồn, yêu, giận…trong tiếng Nga và tiếng Việt, sau đó đối chiếu để tìm những điểm giống và khác nhau trong cách tư duy dân tộc khi giao tiếp bằng thành ngữ chỉ tâm lý tình cảm

Mục đích của luận văn là đi sâu tìm hiểu những nét đặc trưng về cấu trúc và ngữ nghĩa của các thành ngữ chỉ trạng thái tâm lý tình cảm trong tiếng Nga và tiếng Việt, từ đó tìm ra nét tương đồng và sự khác biệt trong sự tri nhận thế giới, quan điểm, tư duy và các đặc trưng văn hóa của hai dân tộc để

có thể hiểu đúng cũng như sử dụng chính xác các thành ngữ trong giao tiếp

Trang 9

Để đạt được mục đích đặt ra, luận văn giải quyết những nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Các quan niệm về thành ngữ của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam và Nga;

- Phân biệt thành ngữ với các đơn vị ngôn ngữ tương đương;

- Thành ngữ biểu hiện các trạng thái tâm lý tình cảm xét trên phương diện ngôn ngữ học, tâm lý học và tiêu chí nhận diện thành ngữ chỉ tâm lý tình cảm

- Phân loại thành ngữ tâm lý tình cảm theo các phạm trù và sắc thái tình cảm

- Tìm hiểu những đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa của thành ngữ tâm

lý tình cảm

- So sánh - đối chiếu các nguồn biểu trưng trạng thái tâm lí tình cảm trong hai ngôn ngữ để thấy được đặc trưng văn hóa - dân tộc của hai dân tộc

Phương pháp được sử dụng chủ yếu là phương pháp đối chiếu tương phản và phương pháp phân tích thành tố trực tiếp Phương pháp đối chiếu tương phản giúp chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt trong hình thức, cấu tạo và cách sử dụng thành ngữ của hai ngôn ngữ Còn phương pháp phân tích thành tố trực tiếp chỉ rõ cấu tạo bên trong của thành ngữ theo tầng bậc và khả năng kết hợp của các thành tố trong thành ngữ của cả hai ngôn ngữ

Luận văn sử dụng các tài liệu chính sau đây:

- Về tiếng Nga: Р И Яранцев, Словарь - справочник по Русской

фразеологии для иностранцев và А И Молотков (1986) Фразеологический словаръ Рус языка

- Về tiếng Việt: Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam (Nguyễn Lân, 1997), Thành ngữ tiếng Việt (Nguyễn Lực, Lương Văn Đang, 1993),vv

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của đề tài

Thành ngữ biểu thị các trạng thái tâm lý tình cảm là những thành ngữ diễn tả “sự hoạt động của nội tâm”, việc thể hiện cảm xúc của mình qua thành

Trang 10

ngữ là biểu hiện sự tự nhận thức và khả năng liên hội bản thân với giới tự nhiên Qua việc đối chiếu thành ngữ tâm lý tình cảm giữa tiếng Nga và tiếng Việt, luận văn hi vọng sẽ góp phần giúp nhìn nhận đầy đủ hơn, sâu sắc hơn về thành ngữ - một đơn vị ngôn ngữ có ý nghĩa và giá trị sử dụng đặc biệt trong hoạt động giao tiếp Thông qua việc nghiên cứu đề tài này, luận văn mong muốn góp thêm một phần nhỏ trong việc làm sáng tỏ những đặc trưng văn hoá – dân tộc của thành ngữ, cung cấp những thông tin về các yếu tố văn hóa, dân tộc và tâm lý xã hội của dân tộc Nga trong sự so sánh đối chiếu với dân tộc Việt Các kết quả nghiên cứu cũng giúp ích cho việc dạy và học tiếng Nga nói chung và thành ngữ tiếng Nga nói riêng đạt được hiệu quả cao hơn, đồng thời cũng giúp ích cho quá trình biên dịch và phiên dịch thành ngữ từ tiếng Nga sang tiếng Việt và ngược lại

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn gồm ba chương:

- Chương 1: Một số cơ sở lý luận về thành ngữ và thành ngữ chỉ

tâm lý tình cảm trong tiếng Nga và tiếng Việt

- Chương 2: Cấu trúc của thành ngữ chỉ trạng thái tâm lý tình

cảm tiếng Nga và tiếng Việt

- Chương 3: Ngữ nghĩa của thành ngữ biểu hiện trạng thái tâm lý tình

cảm trong tiếng Nga và tiếng Việt

Trang 11

CHƯƠNG 1

MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÀNH NGỮ VÀ THÀNH NGỮ CHỈ TÂM LÍ TÌNH CẢM TRONG TIẾNG NGA VÀ TIẾNG VIỆT 1.1 Quan niệm về thành ngữ trong tiếng Việt

Thành ngữ tham gia vào hệ thống ngôn ngữ với tư cách là đơn vị từ vựng được dùng làm chất liệu để tạo ra câu thực hiện chức năng giao tiếp Theo quan niệm của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam, thành ngữ trong tiếng Việt là cụm từ cố định (CTCĐ), hay ngữ cố định – đơn vị có sẵn trong ngôn ngữ, có giá trị tương đương như từ xét cả về chức năng định danh và chức năng tham gia tạo câu

Hai đặc tính cơ bản của CTCĐ là tính cố định về cấu trúc và tính thành ngữ về nội dung ngữ nghĩa Tuy vậy, không phải CTCĐ nào mang hai đặc tính này cũng được gọi là thành ngữ Chỉ có loại cụm từ cố định nào hoàn chỉnh về cấu trúc và ý nghĩa, đồng thời nghĩa của nó phải có tính hình tượng

và gợi tả thì mới được coi là thành ngữ Hơn nữa, nghĩa của thành ngữ không phải là tổng số nghĩa của các thành tố cộng lại (17;8)

Như vậy, khái niệm về mặt biểu hiện nghĩa và mặt kết cấu hình thái của thành ngữ như nêu trên lại dễ gây nhầm lẫn với khái niệm đơn vị ngôn ngữ mang tính thành ngữ Theo Nguyễn Thiện Giáp, một tổ hợp từ được coi là mang tính thành ngữ khi ý nghĩa chung của nó là hoàn toàn mới, khác với tổng số ý nghĩa của các từ thành phần tạo thành Tuy nhiên, theo một số nhà ngôn ngữ học khác thì khái niệm trên chưa thực sự rõ ràng Vì vậy, các nhà ngôn ngữ học đã sử dụng yếu tố tương đương (giữa hai ngôn ngữ) để định nghĩa tính thành ngữ Một tổ hợp được coi là có tính thành ngữ nếu trong đó có ít nhất một từ mà khi dịch toàn bộ tổ hợp thì người ta phải dịch từ ấy bằng một yếu tố - yếu tố đó chỉ tương đương với từ ấy chỉ khi từ ấy xuất hiện đồng thời với tất cả các yếu tố còn lại của tổ hợp (trong

Trang 12

một trật từ nhất định) Thêm vào đó, từ này có thể được gặp cả khi không

có các yếu tố còn lại và khi ấy nó được dịch bằng một yếu tố khác Hay thường gặp nhất là cách hiểu như sau:

Giả sử có một kết cấu X gồm các yếu tố a, b, c… hợp thành X = a+b+c Nếu ý nghĩa của X không thể giải thích được bằng ý nghĩa của từng yếu tố a, b, c thì kết cấu X (hoặc tổ hợp X) có tính thành ngữ (4;154)

Đây là những kết luận được rút ra trong quá trình nghiên cứu các cụm

từ cố định và từ ghép vì chúng đều có cấu trúc ổn định và chặt chẽ, đều có tính thành ngữ và đều là những đơn vị làm sẵn trong ngôn ngữ Điều này cho thấy rõ ràng rằng tính thành ngữ có các mức độ cao thấp khác nhau trong các

tổ hợp cấu trúc khác nhau vì cách tổ chức nội dung và hình thức của chúng theo những con đường và phương cách khác nhau (4;154)

Vì vậy một đơn vị ngôn ngữ - hiện diện với tư cách là đơn vị của hệ thống ngôn ngữ, tồn tại dưới dạng làm sẵn, được cấu tạo với số lượng thành

tố ổn định, không thay đổi và có ý nghĩa như một chỉnh thể tương ứng với một chỉnh thể cấu trúc vật chất của nó – là đơn vị ngôn ngữ mang tính thành ngữ Tất cả những đơn vị có đầy đủ những đặc điểm như trên sẽ mang tính thành ngữ - một tính chất cú pháp, ngữ nghĩa chung giống nhau cho một loạt các đơn vị ngôn ngữ

Còn thành ngữ lại là tên gọi của một tổ hợp từ thuộc đơn vị từ vựng Một mặt, các đơn vị này mang tính thành ngữ, mặt khác mang tính cố định, có những đặc điểm hình thức và nội dung riêng biệt Để hiểu được ý nghĩa của thành ngữ, chúng ta không chỉ dựa vào ý nghĩa của các từ thành phần cấu tạo thành ngữ và cấu trúc ổn định của thành ngữ mà còn phải dựa vào tình huống giao tiếp, đối tượng sử dụng, những biến đổi về mặt xã hội hay thói quen sử dụng thành ngữ của địa phương… Thành ngữ là cách nói bóng bẩy, gợi tả có hình tượng về một sự vật, hiện tượng khách quan

Trang 13

Thành ngữ là cách diễn đạt ý tưởng mang tính đặc trưng của ngôn ngữ

Về mặt cấu trúc, phần lớn thành ngữ không thành câu với những từ ngữ mặc

dù có thể phân tích nhưng không thể tách rời Về mặt ngữ nghĩa, thành ngữ mang một ý nghĩa không thể thay thế hay sửa đổi bằng cách nói khác để mang cùng ý nguyên thủy Thành ngữ có ý nghĩa độc lập với từng nghĩa riêng

lẻ của mỗi từ ngữ trong thành ngữ Thành ngữ cũng có các hình thức mô tả,

so sánh và ẩn dụ như phú, tỷ, hứng như trong ca dao hoặc tục ngữ Các hình thức tu từ này không chỉ làm cho thành ngữ mang đậm đặc trưng hình tượng – một đặc trưng cơ bản của thành ngữ mà còn hỗ trợ, liên kết với nhau làm cho

ý nghĩa của thành ngữ vừa sâu, vừa rộng, vừa bóng bẩy lại vừa gợi tả Nó làm cho những hình ảnh, hiện tượng hay những sự vật cụ thể được mô tả, so sánh

và ẩn dụ một cách bay bổng hơn Nó giúp cho một ý tưởng thông thường được diễn tả bằng một lối rất riêng, rất hình tượng và mang tính văn hóa

Theo quan niệm của Nguyễn Công Đức (7) thì thành ngữ là “những cụm từ cố định, là đơn vị có sẵn trong kho từ vựng, có chức năng định danh – tức là gọi tên sự vật và phản ánh khái niệm một cách gợi tả và bóng bẩy Ngoài những đặc điểm của một đơn vị ngôn ngữ, thành ngữ còn có những dấu ấn của một đơn vị văn hóa, có tiềm ẩn, trầm tích những đặc điểm văn hóa dân tộc”

Nếu tạm thời chấp nhận khái niệm tính thành ngữ và các đơn vị mang tính thành ngữ như đã nêu trên, trong tiếng Việt người ta phân biệt các loại ngữ như thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ, ngữ tự do và từ ghép Đó là những đơn vị ngôn ngữ hay những tổ hợp từ đáp ứng đầy đủ ba điều kiện cần và đủ cho một đơn vị ngôn ngữ mang tính thành ngữ: là một tổ hợp từ, có nghĩa hình tượng, có cấu trúc cố định ở một mức độ nào đó Vậy làm sao có thể nhận diện được những đơn vị ngôn ngữ trên một cách rõ ràng? Những điểm giống nhau và khác nhau giữa chúng là gì? Đây là câu hỏi đã được rất nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm, nghiên cứu và giải đáp

Trang 14

1.1.1 Phân biệt thành ngữ với từ ghép

Nói chung, giới hạn sẽ gặp ở bậc thấp nhất của thành ngữ là từ ghép Giới hạn cao nhất của thành ngữ là câu Thành ngữ tiếng Việt là đơn vị giáp ranh, nằm giữa hai đơn vị này Trước đây, trong việc phân biệt giữa từ ghép và thành ngữ đã tồn tại nhiều quan niệm rất khác nhau Trước hết, thành ngữ và từ ghép đều là những đơn vị từ vựng có sẵn và có chức năng định danh Hai đơn vị ngôn ngữ này trong tiếng Việt đều thuộc cụm từ cố định nhưng chúng vẫn được phân biệt nhau ở thành tố cấu tạo, ý nghĩa và cấu trúc (4;154)

Từ ghép được cấu tạo dựa trên phương thức tổ hợp hoặc ghép các tiếng lại mà giữa các tiếng (thành tố cấu tạo) đó có mối quan hệ về nghĩa với nhau (4;145) Đây là đơn vị tiếng Việt có ít nhất từ hai thành tố cấu tạo trở lên biểu hiện khái niệm chung về sự vật, hoạt động, tính chất hoặc trạng thái Nghĩa của từ ghép diễn đạt một khái niệm một cách hoàn chỉnh Trong quá trình phát triển, do nhu cầu giao tiếp, từ ghép được sử dụng một cách phổ biến và thông dụng với một kết cấu vững chắc và ý nghĩa phong phú Tuy nhiên cũng

có nhiều trường hợp thành tố cấu tạo (hoặc hình vị cấu tạo nên từ ghép) lại là những yếu tố không có nghĩa hoặc không rõ ràng về nghĩa Trong trường hợp các thành tố cấu tạo nên từ ghép có nghĩa thì nghĩa của từ ghép có thể là nghĩa tổng hợp từ các khái niệm biểu trưng của các thành tố (nhà cửa, đường sắt, xe đạp ) còn trong trường hợp một hay đa số các thành tố cấu tạo đều không rõ nghĩa hay bị mờ nghĩa thì từ ghép sẽ chỉ mang một ý nghĩa biểu niệm hoặc biểu vật duy nhất (chợ búa, bếp núc, gà qué, cỏ rả…)

Giống như từ ghép, thành ngữ là cụm từ cố định luôn tồn tại mối quan

hệ phi cú pháp giữa các thành tố Mặt biểu hiện nghĩa của thành ngữ là một mặt rất phức tạp Theo một số nhà nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt, một bộ phận thành ngữ tiếng Việt cũng có tính đa nghĩa nhưng trong số các nghĩa đó, nghĩa bóng có tầm quan trọng hơn cả Nghĩa này có tính khái quát tượng

Trang 15

trưng cho toàn bộ tổ hợp, tuy thế nó không phải là tổng hợp nghĩa của các thành tố cộng lại Vì vậy, cho dù nghĩa của các thành tố đều rất rõ ràng và dễ hiểu nhưng nghĩa của thành ngữ lại hoàn toàn không nằm trong vỏ vật chất cấu tạo nên thành ngữ Đó chỉ là nghĩa đen mà thành ngữ nào cũng có Vậy nghĩa của thành ngữ được hiểu như thế nào? Nghĩa bóng – nghĩa thực sự của thành ngữ chỉ được nắm bắt trên cơ sở khả năng tổng hợp ngôn ngữ, óc suy diễn lô gíc, kiến thức nền và hiểu biết văn hóa xã hội để giải thích cho các hình ảnh biểu trưng Vì thế, nghĩa thực sự của thành ngữ luôn rộng hơn, sâu sắc hơn và trừu tượng hơn thậm chí trái ngược với nghĩa đen mà chúng thể hiện Nghĩa bóng của thành ngữ là nghĩa khái quát, tổng hòa của các mối quan hệ nội bộ của các thành tố cấu tạo Khi sử dụng nghĩa bóng thì từng thành tố làm nên thành ngữ sẽ bị mất đi nghĩa thực (4;24) Một số thành ngữ

có nghĩa biểu hiện ra rõ ràng, số khác lại có nghĩa ẩn tàng kín đáo nên khó có khả năng xác định được hết nghĩa của chúng, nhất là khi các thành ngữ đó có nghĩa phái sinh, nghĩa ẩn dụ, hàm súc

Như vậy, nghĩa của từ ghép gần với nghĩa biểu niệm của nó nhưng nghĩa của thành ngữ lại khác so với nghĩa biểu niệm của thành ngữ Thành ngữ chỉ là vỏ vật chất cấu tạo để thể hiện một ý nghĩa hình tượng, gợi cảm và bóng bảy Chẳng hạn, ta có từ ghép Hán Việt “thư viện” là sự kết hợp giữa thư (sách) và viện (tòa nhà lớn) để chỉ một khái niệm “một nhà hay một nơi

có nhiều sách” Hay từ ghép thuần Việt “đường sắt” là sự kết hợp giữa đường (lối đi) và sắt (một chất liệu, một loại kim loại) để chỉ một khái niệm “đường

xe lửa chạy” Còn thành ngữ “hét ra lửa” không chỉ hành động “hét” cũng không nói đến “lửa” mà muốn nói đến tình hống hách, cậy quyền, ỷ thế Hai yếu tố “hét” và “lửa” kết hợp với nhau tạo thành nghĩa khái quát, nghĩa thực

sự của thành ngữ Nếu tách rời hay thay thế hai yếu tố này, ý nghĩa của thành ngữ sẽ bị phá vỡ và biến đổi Vì vậy, theo Nguyễn Văn Mệnh (1986) có thể nói “về hình thức, mối quan hệ ngữ pháp trong thành ngữ phức tạp hơn, nhiều bậc hơn so với mối quan hệ ngữ pháp trong từ ghép”

Trang 16

1.1.2 Phân biệt thành ngữ với cụm từ tự do

Không chỉ đều là cụm từ, được tạo lập bằng sự tổ hợp của các từ mà cụm từ tự do và thành ngữ còn giống nhau về hình thức ngữ pháp dẫn đến quan hệ ngữ nghĩa giữa các thành tố cấu tạo cũng giống nhau Tuy vậy, giữa cụm từ tự do và thành ngữ còn có nhiều mặt khác biệt rất quan trọng

Cụm từ tự do (CTTD) được hình thành lâm thời trong hoàn cảnh giao tiếp, nhất là trong những hoàn cảnh giao tiếp phục vụ một mục đích biểu đạt nhất định khi người nói muốn diễn đạt một ý hơn mức bình thường Nó có thể được hình thành do các từ kết hợp lại rồi có thể tan vỡ vì nó không tồn tại dưới dạng một đơn vị làm sẵn CTTD chỉ là sự lấp đầy từ vào một mô hình ngữ pháp cho trước mà thôi Trong khi đó, thành ngữ lại là một đơn vị của hệ thống ngôn ngữ, ổn định và tồn tại dưới dạng làm sẵn Vì vậy nên các thành

tố cấu tạo thành ngữ có số lượng ổn định, không thay đổi, còn số lượng thành

tố cấu tạo CTTD lại có thể thay đổi tùy ý, tùy thuộc vào mục đích mà người nói muốn diễn đạt Ví dụ thành ngữ: tham như mõ, ăn tươi nuốt sống… và CTTD: ăn cơm ăn cháo (từ CTTD này ta có thể thêm vào các thành tố khác để nhấn mạnh hơn như: ăn cơm khê ăn cháo nát hoặc ăn cơm thiu ăn cháo vữa, v.v…tùy vào mục đích diễn đạt)

Về mặt ý nghĩa, CTTD là phép cộng đơn thuần của các nghĩa từ thành

tố nhưng nó được hiểu trong một cảnh huống, một phát ngôn nhất định Còn nếu đặt trong một bối cảnh khác thì có thể ý nghĩa của cụm từ sẽ không còn được giữ nguyên như thế mà sẽ bị biến đổi hoặc sẽ được hiểu như một cụm

từ vựng – ngữ pháp thông thường Nghĩa của CTTD có thể mang tính biểu cảm nhưng tính thành ngữ lại không cao, thậm chí là không có Còn thành ngữ lại có ý nghĩa như một chỉnh thể tương ứng với một chỉnh thể cấu trúc vật chất của nó (4;155) Ý nghĩa của thành ngữ là cố định trong mọi cảnh huống, mang tính biểu cảm và hình tượng cao Đỗ Hữu Châu cho rằng “một tổ hợp từ

có tính thành ngữ càng cao thì càng gần với từ mà có tính thành ngữ càng

Trang 17

thấp thì càng gần với CTTD” Xét tất cả những đặc điểm trên, đặc biệt là sự liên kết lỏng lẻo giữa các thành tố mà từ trước tới nay chúng ta vẫn quan niệm CTTD thuộc bình diện lời nói chứ không thuộc bình diện ngôn ngữ

1.1.3 Phân biệt thành ngữ với quán ngữ

Đại từ điển tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên, 1999) đã định nghĩa quán ngữ là: “Tổ hợp từ cố định quen dùng mà nghĩa có thể suy ra từ nghĩa của những yếu tố cấu thành” Các nhà ngôn ngữ học cũng đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về quán ngữ Một số nhà ngôn ngữ học, tiêu biểu như Nguyễn Kim Thản cho rằng quán ngữ và thành ngữ là một, chỉ khác chăng là thành ngữ được cấu tạo hình tượng và cố định hơn Một số khác lại cho rằng thành ngữ là một bộ phận của quán ngữ Quán ngữ là nhóm từ chỉ một khái niệm phức tạp do nhân dân dùng lâu nên cố định mà thành Một số khác cho rằng thành ngữ và quán ngữ đều là những đơn vị được làm sẵn trong ngôn ngữ, đều mang tính thành ngữ và mang tính cố định Tuy nhiên, nếu xét

về mặt nghĩa thì quán ngữ lại gần với CTTD và khác hẳn với thành ngữ Nghĩa của quán ngữ có thể được hiểu từ nghĩa của các yếu tố cấu thành trong khi đó nghĩa của thành ngữ phải hiểu theo nghĩa hình tượng và mang tính ẩn

dụ Cấu tạo của quán ngữ cũng gần với CTTD hơn thành ngữ Quán ngữ được

sử dụng một cách phổ biến trong khẩu ngữ và đóng vai trò là các từ nối hoặc các từ liên kết mang sắc thái tu từ để gắn kết các nội dung cần diễn đạt Nội dung hiển thị của quán ngữ được người ta thường xuyên nhắc đến cho nên hình thức và cấu trúc của chúng cũng tự nhiên ổn định dần lại và rồi người ta quen dùng quán ngữ như một đơn vị có sẵn (4;161)

Ví dụ: lên lớp, lên tiếng, lên mặt…

Quán ngữ là những cụm từ được sử dụng lặp đi lặp lại trong các loại diễn ngôn (discourse) thuộc các phong cách khác nhau Chức năng của chúng

là để đưa đẩy, rào đón, để nhấn mạnh hoặc để liên kết diễn ngôn

Trang 18

1.1.4 Phân biệt thành ngữ với tục ngữ

Có thể nói, việc phân biệt thành ngữ và tục ngữ đã được rất nhiều nhà ngôn ngữ học Việt Nam quan tâm và đề cập đến từ rất sớm Người đầu tiên

đặt vấn đề phân biệt hai đơn vị này là Dương Quảng Hàm (Việt Nam văn học

sử yếu - 1943): “Một câu tục ngữ tự nó phải có một ý nghĩa đầy đủ, hoặc

khuyên răn, hoặc chỉ bảo điều gì; còn thành ngữ chỉ là những lời nói có sẵn để

ta tiện dùng mà diễn đạt một ý gì hoặc một trạng thái gì cho có màu mè”

Trong cuốn “Tục ngữ và dân ca Việt Nam” (1956), Vũ Ngọc Phan lại

không tán thành sự phân biệt đó Theo ông, “định nghĩa như vậy không được

rõ, vì nếu thế, tác dụng của thành ngữ cũng không khác gì tác dụng của tục ngữ Tục ngữ là một câu tự nó diễn đạt trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lý, một công lý, có khi là một sự phê phán Còn thành ngữ là một phần câu sẵn có, nó là một bộ phận của câu mà người dùng đã quen dùng nhưng tự riêng nó không diễn đạt được một ý trọn vẹn Về hình thức ngữ pháp, thành ngữ chỉ là một nhóm từ, chưa phải là một câu hoàn chỉnh, còn tục ngữ dù ngắn đến đâu cũng đã là một câu hoàn chỉnh”

Hoàng Văn Hành và một số tác giả ở Viện Ngôn ngữ học đã nhận xét như sau: “ Thành ngữ tuy có nhiều nét tương đồng với tục ngữ (như tính bền vững về mặt cấu tạo, tính bóng bẩy về nghĩa… ) nhưng lại khác với tục ngữ

về bản chất Sự khác biệt ấy ở chỗ: Thành ngữ là những tổ hợp từ đặc biệt, biểu thị những khái niệm một cách bóng bẩy, còn tục ngữ là những câu ngôn bản đặc biệt, biểu thị những phán đoán một cách nghệ thuật”

Như vậy, xét về mặt hình thức cấu tạo thì tục ngữ là một câu hoặc một phát ngôn hoàn chỉnh về mặt cấu trúc, và độc lập về nghĩa Cả hình thức lẫn nội dung của tục ngữ đều mang tính thành ngữ và tính cố định rất cao Về nội dung thì tục ngữ là những câu nói lên một nhận xét về tâm lý, hoặc một lời phê phán, khen hoặc chê, hoặc một câu khuyên nhủ, hoặc một kinh nghiệm về nhận thức tự nhiên hoặc xã hội hay “ là những cụm từ diễn đạt rất hoàn hảo toàn bộ kinh nghiệm sống, kinh nghiệm xã hội, lịch sử của người dân lao

Trang 19

động ” (8;174) Đây cũng chính là một đặc điểm nổi bật của tục ngữ Khác với các đơn vị từ vựng – diễn tả một sự vật, một hình tượng hoặc một khái niệm có một trạng thái tâm lý, tục ngữ giống như câu

1 2 Quan niệm về thành ngữ trong tiếng Nga

Có thể nói rằng thành ngữ học tiếng Nga đã xuất hiện rất sớm từ những năm hai mươi của thế kỷ XX như một phân ngành của Ngôn ngữ học với sự đóng góp tiên phong vô cùng quan trọng của Charles Bally, nhà Ngôn ngữ học người Thụy Sĩ Những công trình nghiên cứu của Charles Bally có ảnh hưởng to lớn đến ngành ngôn ngữ học Xô Viết nói chung và từ vựng học nói riêng Quan điểm về thành ngữ của ông được đề cập đến trong các cuốn sách

nổi tiếng của chính ông: Précis de stylistique (Geneve, 1905) và Traité de

stylistique fransξaise (Heidellberg, 1909) Ông là người đầu tiên trong lịch sử

ngôn ngữ học đặt vấn đề phải nghiên cứu riêng cụm từ cố định với quan điểm nhấn mạnh vào những đặc điểm bên ngoài và bên trong của chúng (thành ngữ) Ông đặc biệt lưu ý đặc điểm ngữ nghĩa (tức đặc điểm bên trong) là một đặc điểm cơ bản quan trọng của thành ngữ và là bản chất của thành ngữ Theo ông, tiêu chí cần và đủ để xem một cụm từ cố định là một thành ngữ là mặt ý nghĩa của nó phải ngang bằng với từ Đó là những tiền đề cho những nghiên cứu về thành ngữ của hai nhà ngôn ngữ học người Nga B.B Buноградов (1946) và Н.М Шанский (1972)

1.2.1 Quan điểm về thành ngữ của Charles Bally

Là người đầu tiên đặt nền móng nghiên cứu về cụm từ cố định ( cụm từ

cố định nói chung và thành ngữ nói riêng), Charles Bally đã phân thành ngữ tiếng Nga thành ba loại:

 Những nhóm kết hợp thông dụng (les groupements usuels)

 Những nhóm thành ngữ (les série phraséologiques)

 Những thành ngữ tổng hợp (les unité phraséologiques)

Trang 20

Cơ sở phân loại theo quan điểm của ông trong cuốn “Précis de

stylistique” là nằm ở tính chất kết hợp giữa các từ cấu tạo cụm từ cố định

Nếu tổ hợp các từ kết hợp với nhau một cách hạn chế thì thuộc nhóm kết hợp thông dụng; hai khái niệm hợp nhất thuộc nhóm thành ngữ và nhóm thành ngữ tổng hợp thì biểu thị một chỉnh thể không thể tách rời

Đây là ba loại thành ngữ về cơ bản được Charles Bally phân loại và là những tiền đề quan trọng cho các nhà ngôn ngữ học khác kế thừa và phát triển Một trong những quan điểm khác vô cùng quan trọng của ông khi nói về đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ là: “Chỉ có những đặc điểm bên trong mới

là những đặc điểm có giá trị thực sự” (34;98)

1.2.2 Quan điểm về thành ngữ của B.B.Виноградов

Là người kế thừa những thành quả nghiên cứu của C Bally, Виноградов đã đóng góp công lao to lớn trong việc phát triển công trình nghiên cứu về thành ngữ của bậc tiền bối Ông đặc biệt chú ý đến tính cố định về mặt từ vựng – ngữ nghĩa của cụm từ, coi đó là bản chất của đơn vị thành ngữ và trên cơ sở đó để phân loại một cách sáng tạo những đơn vị thành ngữ không phân chia được về ngữ nghĩa thành hai nhóm:

 Nhóm thành ngữ dung hợp hay còn gọi là thành ngữ kết dính

(Фразеологическое cращение)

 Nhóm thành ngữ thống nhất (Фразеологическое единство) Bên cạnh đó, xét thành phần cấu trúc thành ngữ trong tiếng Nga, Виноградов đã đối lập tính hoàn chỉnh về ngữ nghĩa của thành ngữ thống nhất và thành ngữ dung hợp với tính phân tích về ngữ nghĩa của thành ngữ kết hợp (Фразеологическое сочетание) Theo quan điểm của ông, thành ngữ dung hợp là cụm từ vốn chứa đựng “tính không phân chia được về ngữ nghĩa, tính tuyệt đối không thể tách ý nghĩa của chỉnh thể ra từ các thành tố” (27;66) còn thành ngữ thống nhất “cũng được coi là các cụm từ không phân chia

Trang 21

đƣợc về ngữ nghĩa”, tuy nhiên “nghĩa hoàn chỉnh là nghĩa có lý do khi nó là sản phẩm xuất hiện do sự hòa kết có ý nghĩa của các thành tố từ vựng” (27;66)

Trên đây là những quan điểm về thành ngữ tiếng Nga tỏ ra phù hợp với những đặc điểm của thứ tiếng này – một ngôn ngữ biến hình và tổng hợp tính B.B.Виноградов đã nhìn nhận đƣợc điểm phù hợp giữa ngôn ngữ dân tộc nói chung và thành ngữ tiếng Nga nói riêng từ trong quan điểm của Charles Bally

để phát triển nó, làm rõ hơn nữa những đặc điểm, những hiện tƣợng phân chia ngữ nghĩa trong thành ngữ kết hợp tiếng Nga Từ đó, ông phân chia thành ngữ tiếng Nga thành ba loại:

1.2.3 Quan điểm về thành ngữ của Н М.Шанский

Trong cuốn Лексикология cовременного руского языка của

H.M.Шанский (1972), tác giả đã phân chia thành ngữ - về cơ bản cũng giống B.B Виноградов - thành những loại sau:

 Nhóm thành ngữ dung hợp (kết dính)

 Nhóm thành ngữ thống nhất

 Nhóm thành ngữ kết hợp

Trang 22

 Nhóm thành ngữ tổ hợp

Dựa trên bốn nhóm thành ngữ được phân loại, ta thấy rằng quan điểm của B.B.B đã được Шанский phát triển hoàn chỉnh Ngoài ba nhóm giống với

sự phân loại của B.B.Виноградов thì đóng góp của H.M.Шанский chính là

bổ sung thêm nhóm thành ngữ tổ hợp (Фр выражение) trong việc phân loại thành ngữ

Theo quan điểm của H.M.Шанский, bốn nhóm thành ngữ trên phải được phân loại dựa trên tính hòa kết ngữ nghĩa của thành ngữ; hay hiểu một cách đơn giản hơn là mối tương quan giữa nghĩa chung của thành ngữ với nghĩa riêng của từng thành tố cấu tạo nên thành ngữ

Thành ngữ, theo quan điểm của H.M.Шанский là những đơn vị không được tạo ra trong lời nói, mà chúng được tái hiện như những đơn vị hoàn chỉnh có sẵn Đó là những đơn vị ngôn ngữ được tái hiện bao gồm hai hoặc nhiều thành tố có tính vị từ, có trọng âm, hoàn chỉnh về ý nghĩa và cố định về thành phần và cấu trúc Có thể nói, khái niệm trên của ông được coi là khái niệm đầy đủ và hoàn chỉnh nhất về thành ngữ Cho đến nay, quan điểm và cách phân loại thành ngữ tiếng Nga và cách phân loại thành ngữ của B.B.Bиноградов và sau đó được H.M.Шанский phát triển có thể được trình bày như sau:

1.2.3.1 Thành ngữ dung hợp (TNDH) hay còn gọi là thành ngữ kết dính (Фразеологическое сращение)

Thành ngữ dung hợp là kết hợp từ không thể chia cắt được, không bị phá vỡ, ý nghĩa chung của nó hoàn toàn không phải được rút ra từ ý nghĩa của các cấu tử Trên quan điểm tiếng Nga hiện đại, ý nghĩa của chúng không

bị quy thuộc bởi cái gì và không có gì làm nguyên cớ

Theo B.B.Bиноградов thì TNDH là những đơn vị thành ngữ không phân chia được về mặt ngữ nghĩa và ý nghĩa của thành ngữ không được hiểu bằng cách tổng hòa ý nghĩa của các thành tố cấu tạo Chính vì thế, có thể coi ý

Trang 23

nghĩa của TNDH là ý nghĩa được tạo nên không có lý do và hoàn toàn theo quy ước, chẳng hạn như những TNDH sau đây:

ничтоже сумняшеcя không một chút nghi ngờ

То и дело tốt hơn nhiều Хоть куда tuyệt vời Себе на уме láu tôm láu cá

Về ý nghĩa, TNDH tương đương với một từ

Ví dụ như: неровен час = вдруг (bỗng nhiên, bất chợt)

Битъ баклуши = безделъничатъ (vô công rồi nghề)

TNDH không phụ thuộc vào cấu trúc ngữ pháp của chúng, có thể tương đương với các loại từ khác nhau Ví dụ các thành ngữ sau tương đương với tính từ:

- так себе (tàm tạm): Я купила платье так себе (tôi mua một cái váy

thường thôi)

- Он парень хоть кудa (Anh ấy là chàng trai tuyệt vời)

Còn trong câu Ты сказал это ни к селу ни к городу (cậu nói điều ấy không

đúng chỗ) thành ngữ lại có chức năng của một trạng từ

Qua những ví dụ trên, ta thấy rõ ý nghĩa của các thành tố tạo nên thành ngữ không có liên quan gì đến nghĩa của thành ngữ

TNDH là nhóm thành ngữ mà trong thành phần cấu tạo có những đơn

vị từ vựng hoàn toàn tối nghĩa, hoặc là các từ cổ, không còn bắt gặp ở đâu

nữa Chẳng hạn như trong các thành ngữ:

кромешный ад địa ngục trần gian Пoпастъ в просак khó xử

Во всю ивановскую hết cỡ (gào, hét)

Bên cạnh đặc điểm trên, TNDH gồm có những dạng thức ngữ pháp cổ không giống như dạng thức của ngữ pháp tiếng Nga hiện đại Xét các TNDH:

Trang 24

“спустя рукава” “сломя голову”: chúng có dạng thức trạng động từ không

giống như dạng thức của thành ngữ hiện đại có hậu tố -в và -вший, hoặc thành ngữ ныне отпущаеши (so sánh với отпускаешъ) hoặc thành ngữ темна вода во облацeх (không thể hiểu nổi) so sánh với в облаках …vv

Thứ ba là TNDH không có mối quan hệ cú pháp rõ ràng giữa các thành tố theo đúng quy tắc ngữ pháp của thành ngữ hiện đại Ví dụ:

Была не была Sống hoặc chết, liều, một liều ba bảy

Чем свет Sáng tờ mờ, tinh mơ mờ đất

Шутка сказатъ Đùa thôi Так себе Tàm tạm Вон плохо Tồi tệ hết sức 1.2.3.2 Thành ngữ thống nhất (TNTN) hay còn gọi là thành ngữ tổng hợp

(Фразеологическоe единство)

TNTN là những kết hợp không thể chia cắt được và không bị phá vỡ về mặt ý nghĩa Ý nghĩa chung của chúng là nghĩa bóng, ẩn dụ đối với tổng ý nghĩa từ vựng của các từ thành tố tạo ra chúng

Theo B.B.Bиноградов thì tính sản sinh, tính nguyên cớ của ý nghĩa TNTN gắn liền với nhận thức mối quan hệ ý nghĩa của tổng thể với ý nghĩa của các yếu tố tạo thành

Như vậy, TNTN chỉ khác TNDH ở một điểm, đó là về mặt ý nghĩa thì ý nghĩa của thành ngữ là ý nghĩa có lý do được tạo nên bởi các ý nghĩa riêng biệt của các từ thành phần của thành ngữ Ý nghĩa của TNTN chính vì thế về mặt nào đó có thể được hiểu qua ý nghĩa khái quát của từng từ cấu tạo Các

từ tham gia vào TNTN đều với nghĩa đen của mình, nhưng thành ngữ lại mang hàm ý và thường biểu hiện ý nghĩa bằng hình ảnh, cách nói bóng gió

Trang 25

Khi đó, ý nghĩa được sản sinh có nguyên do và được suy ra từ nghĩa của các thành tố Tuy vậy, bản chất của việc sản sinh có lý do và sản sinh nghĩa ẩn dụ của TNTN không phải trực tiếp mà gián tiếp vì rất nhiều thành ngữ là thành ngữ có hình tượng và để hiểu được chúng cần phải hiểu được cái cốt lõi có hình tượng ẩn bên trong tạo nên thành ngữ Đây cũng là đặc điểm rất cơ bản

và thú vị khiến TNTN rất đa dạng và phong phú

Nếu TNDH tương đương với một từ và đóng chức năng loại từ đó trong câu thì TNTN lại tương đương không chỉ với một từ mà thể hiện một ý ẩn dụ

Ý nghĩa của TNTN thường bóng bẩy, biểu cảm Một số biểu ngữ biểu thị sự mỉa mai, chơi chữ, ngoa dụ như:

Помиратъ со смеху Cười đến chết Терпение лопнуло Không thể chịu được nữa Оборатъ до нитки Lột sạch, khoắng hết

Một số khác thì “các thành phần tự do gắn kết với nhau cả về phương diện ngữ pháp lẫn ngữ nghĩa thành một chỉnh thể có ý nghĩa khái quát trong ngữ cảnh nhất định” hoặc một số TNTN là kết cấu cú pháp đông cứng cố định và được dùng ở một hình thái ngữ pháp nhất định

vi phạm chuẩn mực từ vựng” Những kết hợp từ như thế gọi là TNKH

Trang 26

TNKH là những đơn vị thành ngữ phân chia về nghĩa, có nghĩa là thành

tố cấu tạo nên TNKH có thể kết hợp một cách tự do và có thể kết hợp một cách hạn chế:

считанные дни (ngày đợi tháng chờ)

từ дни có thể kết hợp tự do với từ считанные hoặc những từ khác, thế nhưng từ считанные chỉ kết hợp với từ дни thì mới mang nghĩa như vậy cho thành ngữ Đây chính là một đặc điểm quan trọng của TNKH Thành phần cấu tạo của THKH là những từ tham gia với ý nghĩa bản chất của nó và ý nghĩa của thành ngữ là ý nghĩa tổng hợp của các nghĩa thành tố, không ẩn dụ, không có nghĩa bóng, không hình tượng Các thành tố cấu tạo nên TNKH khi kết hợp với nhau tạo thành một khối hòa kết mang tính thành ngữ và được định hình bởi thực tế của xã hội và không thể thay thế bằng bất kỳ phương tiện nào khác trong lời nói

1.2.3.4 Thành ngữ tổ hợp (TNTH) (Фразеологическоe выражение)

Cũng giống như TNKH, TNTH là những đơn vị ngôn ngữ có thể phân chia được về ngữ nghĩa, nhưng đặc điểm khác nhau của hai kiểu thành ngữ này là ở chỗ: TNTH có các thành tố cấu tạo đều là những từ có thể kết hợp tự

do, trong khi TNKH thường có một thành tố kết hợp hạn chế

ở một cảnh huống phù hợp, người nói buộc phải lấy TNTH trong trí nhớ và sử dụng như một đơn vị có sẵn mà không phải kết hợp các từ riêng lẻ theo quy luật ngữ pháp Nga hiện đại để tạo ra

Trang 27

1.2.4 Nhận diện và phân biệt thành ngữ với từ và cụm từ trong tiếng Nga

Thành ngữ tham gia vào hệ thống ngôn ngữ với tư cách là một đơn vị ngôn ngữ có sẵn cùng với những đơn vị ngôn ngữ có nghĩa khác, chính vì vậy việc nêu ra những đặc điểm khu biệt, những đặc trưng của mỗi đơn vị là một việc cần thiết để phân biệt rõ ràng giữa thành ngữ với từ và cụm từ tự do Đây

là một việc rất cần thiết và quan trọng giúp ta nhận diện chính xác thành ngữ, đặc biệt là khi thành ngữ hành chức trong ngôn ngữ như một đơn vị riêng rẽ nhưng cấu trúc của thành ngữ lại là một chỉnh thể phức tạp mà các yếu tố cấu tạo nên được coi là những từ độc lập hoàn chỉnh Theo H.M.Шанский, thành ngữ là đơn vị ngôn ngữ được tái hiện từ hai từ trở lên, mang tính chất của từ, hoàn chỉnh về mặt ý nghĩa và bền vững về mặt thành phần và cấu trúc”

Đặc điểm cơ bản của thành ngữ tiếng Nga là chúng được tái hiện dưới dạng đúc sẵn trong lời nói, thể hiện tính hoàn chỉnh và cố định về thành phần

và cấu trúc Chúng đặc trưng bởi ý nghĩa riêng vốn có và là những đơn vị khép kín bền vững Đây chính là đặc điểm để phân biệt thành ngữ với cụm từ

1.2.4.1 Phân biệt từ và thành ngữ trong tiếng Nga

Tiếng Nga là một ngôn ngữ đa âm tiết, biến hình và tổng hợp tính Đây là đặc điểm khác biệt lớn và quan trọng để nhận biết vì từ là những cấu tạo gồm các bộ phận mà nếu không thuộc từ thì không thể dùng độc lập được Chúng

bị chia ra thành các hình vị chỉ tồn tại trong từ trong khi thành ngữ lại gồm các từ hoàn chỉnh với những dạng thức vốn có của nó Hay nói cách khác thì cấu tạo nên từ là các hình vị, còn cấu tạo nên các thành ngữ là các từ

Trang 28

Xét về mặt ngữ âm, một từ tiếng Nga do một hoặc nhiều âm tiết tạo thành Đặc điểm này cũng là một điều kiện dẫn đến hiện tượng nối âm giữa các từ, hoặc mờ một số âm không quan trọng hoặc thay đổi trọng âm từ và hiện tượng biến âm trong trường hợp từ lặp lại nhiều lần một âm tiết như:

хороший - хорошо

Xét về mặt hình thái, từ được tạo nên bởi một hoặc nhiều hình vị Hình

vị trong tiếng Nga vô cùng phong phú và đa dạng Chính sự đa dạng của hình

vị dẫn đến cấu tạo của từ tiếng Nga cũng rất đa dạng Các hình vị khi được kết hợp với nhau sẽ cho từ một nghĩa mới ( nhờ tiền tố), thậm chí cũng làm thay đổi cả loại từ (nhờ hậu tố)

Ví dụ: цена – ценностъ – ценитъ – ценный - ценителъ …

Ngoài các từ đơn thì các từ ghép cũng là một đặc trưng quan trọng của tiếng Nga Từ ghép trong tiếng Nga rất đa dạng và được cấu tạo khá linh hoạt Danh từ ghép trong tiếng Nga cũng được coi là từ vì chúng mang nghĩa và do các hình vị - gốc từ kết hợp lại mà thành Loại danh từ ghép phổ biến và bền vững nhất là loại các gốc từ dính liền với nhau thành một từ như

словосочетание, многозначение …

Tuy vậy, một số đặc điểm khác của từ như tính đồng nghĩa, tính đơn nghĩa, tính đa nghĩa và phạm trù ngữ pháp… cũng là thuộc tính của thành ngữ Đây chính là mối tương quan giữa từ và thành ngữ

1.2.4.2 Phân biệt thành ngữ với các cụm từ (quán ngữ, CTTD và tục ngữ )

Có thể nhận thấy sự khác nhau rất rõ trong sự phân loại thành ngữ tiếng Nga và tiếng Việt Trong tiếng Việt, thành ngữ được phân biệt rất rõ với các đơn vị ngôn ngữ khác như từ ghép, cụm từ tự do, quán ngữ, tục ngữ như đã trình bày ở trên Với đặc trưng ngôn ngữ khác nhau nên các nhà ngôn ngữ học Nga đã nhóm tất cả các đơn vị ngôn ngữ được tái tạo trong ngôn ngữ như những đơn vị hoàn chỉnh, hoàn chỉnh về ý nghĩa, cố định về thành phần và

Trang 29

cấu trúc, được cấu tạo từ hai thành tố có tính vị từ và có trọng âm là thành ngữ Tuy nhiên, nếu theo tiêu chí phân loại như trên để đối chiếu với thành ngữ tiếng Việt là hoàn toàn không tương ứng Sau khi tham khảo cuốn

“Thành ngữ Nga - Việt” của Nguyễn Lạc và Thế Anh (16) và một số cuốn từ điển thành ngữ tiếng Nga như cuốn Фразеологический словарь русского

языка do А.И.Молотков (29) chủ biên và cuốn Справочник по Русской фразеологии для иностранцев của Р.И Яранцев (35), chúng tôi nhận thấy

có sự không tương xứng giữa các đơn vị được gọi là thành ngữ được thống kê trong đó Vì vậy, trong luận văn này, tất cả những đơn vị mang những đặc điểm nhận diện tương tự như quán ngữ, cụm từ tự do và tục ngữ đều không được luận văn xem xét đến

Trong bốn nhóm thành ngữ trong tiếng Nga như nêu trên, tiêu chí để phân loại là dựa trên tính hòa kết ngữ nghĩa của thành ngữ Tuy nhiên, nếu chỉ xét theo tiêu chí này thì trong tiếng Việt tồn tại cả quán ngữ, CTTD thậm chí

cả tục ngữ Các tổ hợp từ như:

До того, что Đến nỗi, đến mức…

Несмотря на то, что Mặc dù, dù rằng…

đều chỉ là những quán ngữ - xét trên tiêu chí tương đương trong tiếng Việt –

vì chúng chỉ có chức năng đưa đẩy, nhấn mạnh hoặc để liên kết các diễn ngôn, được lặp đi lặp lại trong các diễn ngôn mà không chứa bất kì một hình ảnh tượng trưng hay một khái niệm nào cả

Hoặc các câu như:

Волков бояться – в лес не ходить Sợ sói thì đừng vào rừng

Не всѐ то золото, что блестит Không phải mọi thứ có ánh kim

đều là vàng

Trang 30

thì lại là các tục ngữ khi ý nghĩa của các cụm từ trên là những lời khuyên răn

và lời nhận xét được đúc kết từ kinh nghiệm sống của các thế hệ trước Ý nghĩa của hai câu trên rất hoàn chỉnh được hiểu và diễn đạt một cách vô cùng nghệ thuật

Ngoài ra, luận văn cũng nhận thấy một số lượng khá lớn các CTTD được kết hợp với nhau để thể hiện được ý của người nói trong giao tiếp một cách đặc biệt hơn mức bình thường Đây là các cụm từ được sử dụng khá nhiều trong giao tiếp CTTD cũng là đơn vị dễ cấu tạo và cũng dễ tan vỡ nhất

do tính cố định của chúng không cao Thậm chí, các cụm từ này còn được thay đổi hoặc thêm cả thành phần cấu tạo vào cụm từ khi mà người nói muốn nhấn mạnh hoặc có mục đích đặc biệt nào đó muốn diễn đạt

Luận văn sử dụng nguồn dữ liệu Phụ lục 2 của Nguyễn Văn Hòa [33; 217-233] để phân loại 338 thành ngữ chỉ tâm lí tình cảm tiếng Nga đáp ứng đầy đủ các tiêu chí để tiến hành đối chiếu với thành ngữ tiếng Việt

1.3 Các trạng thái tâm lí tình cảm và thành ngữ chỉ trạng thái tâm lí tình cảm

1.3.1 Phân biệt các trạng thái tâm lý tình cảm

Con người và thế giới khách quan tồn tại song song, quan hệ biện chứng, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau Những phản ứng biểu thị thái độ chủ quan của con người với thế giới khách quan chính là tình cảm Tình cảm là thái độ của con người đối với thế giới bên ngoài trong việc thỏa mãn nhu cầu xã hội nào đó Tình cảm mang tính chất xã hội nên chỉ có ở con người Tình cảm mang tính bền vững và ổn định, một thái độ chung và khái quát Một tình cảm

có thể thể hiện bằng nhiều cảm xúc khác nhau, ở những thời điểm khác nhau

Trong đời sống cá nhân của mỗi người luôn có những cảm xúc, những rung cảm Những rung cảm của con người được thể hiện mọi lúc, mọi nơi, trong mọi tình huống “Rung cảm có thể diễn ra dưới nhiều hình thức khác

Trang 31

nhau Chẳng hạn dưới dạng quá trình như cảm xúc, dưới dạng trạng thái như tâm trạng hoặc dưới dạng thuộc tính như tình cảm” [12; 288 - dẫn theo 1;21]

Cảm xúc là phản ứng trực tiếp của con người đối với sự vật, hiện tượng bên ngoài trong sự thỏa mãn nhu cầu cơ thể nào đó Cảm xúc là thuộc tính của con người và cũng có ở động vật Cảm xúc có tính nhất thời (18;47) Những cảm xúc như vui sướng, thích thú, mệt mỏi, buồn chán… hoặc những tâm trạng như thất vọng, lo lắng… hay tình cảm như yêu thương, thù hận… chính là những biểu hiện khác nhau của trạng thái tâm lý

Trong Tâm lý học, tâm lý được định nghĩa là toàn bộ những hiện tượng tinh thần nảy sinh và diễn biến ở trong não và tạo nên cái mà người ta gọi là nội tâm của mỗi người và có thể biểu lộ ra thành hành vi Tâm lý của con người không tự sinh ra, nó cũng không phải là một vật thể ở bên ngoài tác động vào con người mà tâm lý do não sinh ra tác động lên chủ thể Yếu tố quan trọng để sinh ra tâm lý là ngoại cảnh Ngoại cảnh tác động lên chủ thể, tùy vào từng nhận thức và cảm nhận của chủ thể mà gây nên những cảm xúc khác nhau, có thể là buồn, vui, sợ, thất vọng, nghi ngờ… Những cảm xúc này được lưu giữ lại và tác động lên hệ thần kinh và tư duy của con người gây ra những phản ứng nhất thời hoặc lâu dài và được thể hiện ra ngoài bằng hành vi Bởi vậy, các nhà tâm lý học cho rằng “trạng thái tâm lý (hoặc nội tâm) gắn liền với tình cảm con người” [18;8 - dẫn theo 1;22 ] Do đó, nghiên cứu thành ngữ chỉ tâm lý tình cảm chính là nghiên cứu và hiểu rõ hơn về nội tâm, về nhận thức và phản ứng của chính mình với thế giới khách quan thông qua chất liệu ngôn ngữ - một phương tiện giao tiếp và trao đổi tư duy do chính con người tạo ra

Hiện tượng tâm lý về cơ bản là mấu chốt của tâm lý Hiện tượng tâm lý bao gồm sự cảm nhận, nhìn thấy, suy nghĩ, cảm xúc… Hiện tượng tâm lý có liên quan và ảnh hưởng tới chủ thể thậm chí ngay cả những cảm xúc hoặc cảm giác yếu ớt Chính nhờ cảm xúc mà chủ thể có thể ý thức được bản thân mình và vị trí của mình trong xã hội

Trang 32

Không giống như cảm xúc, cảm giác chỉ là “ quá trình tâm lý đơn giản nhất phản ánh những bản tính riêng lẻ của các vật thể và các trạng thái bên trong cơ thể được nảy sinh do sự tác động trực tiếp của các kích thích bằng vật chất lên các cơ quan cảm giác của con người” [18;150 - dẫn theo 1;22] Các cơ quan cảm giác của con người chính là các giác quan: khứu giác, vị giác, thính giác, xúc giác và thị giác Các cơ quan này giúp chúng ta có thể nhận biết được sự thay đổi của thế giới khách quan Mỗi cơ quan cảm giác có một chức năng khác nhau riêng biệt, chẳng hạn như ta có thể phân biệt được mùi thơm hay mùi tanh… nhờ khứu giác; phân biệt được màu sắc, hình dạng, đặc điểm… nhờ thị giác; phân biệt được âm thanh nhờ thính giác; phân biệt được vị chua, cay, mặn, ngọt….nhờ vị giác và cảm nhận được sự đau đớn, nóng, lạnh…những biến đổi trong cơ thể do sự tác động của ngoại cảnh là nhờ xúc giác Các tác động được cảm nhận bằng xúc giác không thể không gây ra những ảnh hưởng và những biến đổi nào đó đến tâm lý con người Do vậy, có thể nói cảm xúc và cảm giác khó có thể phân biệt một cách rõ ràng và mối quan hệ giữa chúng là không tách bạch Điều này ta cũng có thể thấy rất

rõ trong ngôn ngữ khi các từ để chỉ cảm giác cũng được dùng để mô tả cảm xúc như đau đớn, ngọt ngào, cay đắng, chua chát…

Tình cảm và xúc động là hai trạng thái khác nhau của cảm xúc Chúng phân biệt bởi cường độ, mức độ thể hiện Sự xúc động là “ những rung động cảm xúc bản năng rất sâu sắc gây nên những biểu hiện bên ngoài thành hành

vi một cách rõ nét” [18;252 - dẫn theo 1;23] Xúc động là trạng thái tâm lý thoáng qua và biến mất rất nhanh khi chủ thể nhận thức được nó Trạng thái này nảy sinh khi con người chịu tác động mạnh của yếu tố bên ngoài và gây

ra những biến đổi mạnh và đột ngột về trạng thái tâm lý Trong khi đó, khác với xúc động “ tình cảm chỉ là những xúc động có cường độ trung bình nhưng lại ổn định và có cấu trúc tâm lý rõ ràng” [18;256 - dẫn theo 1;24]

Trang 33

Vì thế, nghiên cứu thành ngữ chỉ tâm lý tình cảm không thể không nghiên cứu tâm trạng vì đây là cơ sở và là tiền đề của mọi cảm xúc, thái độ và hành vi ứng xử của con người Ngoài ra, ta cũng phải kể đến một số yếu tố khác có ảnh hưởng đến thái độ và hành vi của con người như tính tình, trình

độ văn hóa, môi trường giao tiếp….Vậy nên để có một bức tranh hoàn hảo và đầy đủ về thành ngữ chỉ tâm lý tình cảm, ta không xét đến những thành ngữ chỉ thái độ hoặc hành vi khi yếu tố tâm lý không được thể hiện trong thành ngữ một cách rõ ràng

1.3.2 Phân loại thành ngữ chỉ tâm lý tình cảm

Tổng hợp các phân tích về thành ngữ và tâm lý tình cảm trên ta có thể định nghĩa:

Thành ngữ chỉ tâm lý tình cảm là những đơn vị ngôn ngữ cố định, mang tính ẩn dụ và hình tượng, chỉ cảm xúc và tâm trạng của con người thể hiện qua thái độ, hành vi và một số biểu hiện khác Căn cứ vào cường độ và trường độ của cảm xúc, tính tích cực hoặc tiêu cực trong các thành ngữ là cơ

sở giúp ta phân loại các thành ngữ chỉ tâm lý tình cảm Tác giả Lâm Thị Hòa

Bình (2000) trong Luận văn thạc sĩ “Đối chiếu thành ngữ chỉ trạng thái tâm

lý trong tiếng Anh và tiếng Việt” đã chia thành ngữ chỉ tâm lý tình cảm tiếng

Việt thành ba nhóm lớn theo tiêu chí cường độ và trường độ của cảm xúc là xúc động, tâm trạng và tình cảm Và bản chất của ba mức độ cảm xúc này cũng là ý nghĩa mà thành ngữ thể hiện

1.3.2.1 Nhóm thành ngữ chỉ sự xúc động

Đây là nhóm thành ngữ có nghĩa thể hiện sự thay đổi đột ngột trạng thái tâm lý của đối tượng dưới tác động tích cực hoặc tiêu cực từ bên ngoài Do đặc trưng về nghĩa mà thành ngữ nhóm này thường sử dụng những hình ảnh so sánh, liên tưởng rất độc đáo về con người và tự nhiên, kết hợp với lối nói ngoa dụ

Trang 34

Ví dụ: Tiếng Nga Tiếng Việt

Душа не на месте Nóng ruột sốt gan (tâm hồn không yên chỗ)

Сердце упало Sờn lòng, nản chí (Trái tim rơi mất/ trái tim thắt lại)

Кошки скребут на душе Buồn như trấu cắn, buồn rười

rượi (Những con mèo cào vào trong tâm hồn)

Trang 35

1.3.2.2 Nhóm thành ngữ chỉ tình cảm

Đây là nhóm thành ngữ mang nghĩa mô tả trạng thái cảm xúc có trường độ

và cường độ trung bình Nhóm thành ngữ này có sự giao thoa về nghĩa với các thành ngữ chỉ tâm trạng và sự xúc động

Ví dụ: Tiếng Nga Tiếng Việt

Вешатъ голову Buồn như đưa đám

(treo cổ) Почиватъ на лаврах Hả lòng hả dạ (nghỉ trên cây nguyệt quế)

Có thể nhận thấy rất rõ, các thành ngữ chỉ tâm lý tình cảm (TLTC) vừa nêu trên được mô tả bằng nhiều dạng thức khác nhau như thể hiện bằng thái độ, hành vi và những biểu hiện khác của con người và giới tự nhiên

Ví dụ: Tiếng Nga Tiếng Việt

Голова горит Nóng ruột sốt gan (Đầu bốc lửa, đầu bốc cháy)

Как осиновый лист дрожит Run như cầy sấy (Như lá cây bạch dương lay động )

Туча тучей Rầu như dưa (Nhiều mây)

Муха укусила Bực mình (Con ruồi cắn, châm )

Как рыба в воде Như cá gặp nước (Như cá trong nước)

Trang 36

Bên cạnh cách phân loại thành ngữ TLTC theo cường độ và trường độ như trên, tác giả Lâm Thị Hòa Bình cũng đã đưa ra cách phân loại theo tính chất tích cực và tiêu cực của trạng thái tâm lý tình cảm Tác giả đã phân ra 3 nhóm lớn và 18 nhóm nhỏ như sau [1;27 - 33]:

 Thành ngữ chỉ cảm xúc tích cực

Những cảm xúc tích cực là những cảm xúc gây cho con người sự hưng phấn, tạo cảm giác lạc quan, yêu đời và kích thích hoạt động sống của cơ thể Các thành ngữ chỉ cảm xúc tích cực bao gồm các nhóm sau:

- Thành ngữ chỉ sự vui mừng, thích thú, sung sướng, hạnh phúc (26 thành ngữ)

- Thành ngữ chỉ sự nhiệt tình, hăng hái (5 thành ngữ)

- Thành ngữ chỉ sự yêu thích, say mê, thân thiết (19 thành ngữ)

- Thành ngữ chỉ sự xúc động, ngạc nhiên (3 thành ngữ)

 Nhóm thành ngữ chỉ cảm xúc trung gian là những thành ngữ mô tả những trạng thái bình thường không gây chấn động nhiều về tâm lý đối với cá nhân, mô tả thái độ ôn hòa hơn của con người trước những biến đổi của hoàn cảnh Nhóm thành ngữ này được chia thành các nhóm nhỏ sau:

Trang 37

 Nhóm thành ngữ chỉ cảm xúc tiêu cực là những cảm xúc gây cho con người cảm giác buồn chán, mệt mỏi, bi quan….thậm chí ở mức độ mạnh có thể gây cho con người những phản ứng làm tổn thương đến trạng thái tinh thần và tác động không tốt đến hoạt động sống của cơ thể Những nhóm nhỏ thuộc nhóm này gồm:

- Thành ngữ chỉ sự sợ hãi, kinh hoàng (57 thành ngữ)

Tuy nhiên, trên thực tế phân loại, tác giả Lâm Thị Hòa Bình [1] cũng cho rằng cách phân loại theo tính chất tích cực và tiêu cực của tâm lý là tiêu chí phân loại đơn giản và chính xác hơn vì để nhận biết được cường độ và trường

độ của cảm xúc khá phức tạp, dễ gây nhầm lẫn, do đó dễ dẫn đến kết quả đối chiếu không chính xác

Kết quả thống kê thành ngữ TLTC trong tiếng Nga [33;217 - 231] đã cho một kết quả gần tương đương với số lượng thành ngữ TLTC trong tiếng Việt [1;29 - 43 của Phụ lục 2] Số lượng các thành ngữ TLTC trong tiếng Nga với hơn 338 thành ngữ so với 387 đơn vị thành ngữ Việt với rất nhiều biến thể đồng nghĩa, gần nghĩa và biến thể cấu trúc Tiêu chí phân loại thành ngữ TLTC trong tiếng Nga cũng tương tự như trong tiếng Việt Đó là dựa trên tính tiêu cực và tính tích cực của trạng thái tâm lý tình cảm của con người Tuy nhiên số nhóm thành ngữ TLTC trong tiếng Nga được thu gọn và tổng hợp hơn so với nhóm thành ngữ tương ứng trong tiếng Việt

Trang 38

Trong quá trình phân loại thành ngữ TLTC tiếng Nga, hai từ душа, сердце được sử dụng khá nhiều để mô tả trạng thái TLTC của con người Ngoài ra, một số từ khác nhau chỉ bộ phận cơ thể con người như голова, глаза, лицо, рука cũng được sử dụng tương đối phổ biến Thành ngữ TLTC tiếng Nga mô

tả các trạng thái tâm lý của con người một cách chi tiết ở mọi cấp độ Tuy nhiên, số lượng các thành ngữ diễn tả sự vui mừng, mê say (tích cực); lo lắng, bất an, tức tối, bực bội, sợ hãi (tiêu cực) chiếm số lượng nhiều hơn cả

Ví dụ:

Влезатъ в душу Lay động trái tim

Доходитъ до сердца Xao xuyến tâm hồn

Голова (душа/ сердце) горит Nóng ruột sốt gan

Trong khi đó, các thành ngữ TLTC tiếng Việt lại chủ yếu mô tả các trạng thái tâm lý mạnh, mang tính chất tích cực và tiêu cực ở mức độ cao như tức giận, buồn, sợ… mà ít khai thác và đi sâu vào mô tả các trạng thái tâm lý khác, đặc biệt là các cảm xúc mang tính chất trung gian như sự miễn cưỡng, chần chừ, ân hận, cương quyết… Thành ngữ TLTC tiếng Việt cũng sử dụng rất nhiều từ chỉ nội tâm và nội tạng con người như lòng, dạ, ruột, gan… để

mô tả tâm trạng Đây cũng là đặc điểm chung của hai ngôn ngữ khi đều sử dụng các từ chỉ bộ phận bên trong cơ thể để cấu tạo thành ngữ Ngoài ra thành ngữ TLTC tiếng Việt cũng sử dụng nhiều từ chỉ vật, sự vật, hiện tượng thiên nhiên, động thực vật để mô tả

Ví dụ: Bầm gan tím ruột

Vui lòng mát dạ Rụng rời chân tay Chó cậy gần nhà, gà cậy gần chuồng Buồn như hoa bí buổi chiều

Trang 39

4 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Thành ngữ trong tiếng Nga là đơn vị ngôn ngữ được tái tạo trong sử dụng, gồm từ hai cấu tử mang tính chất từ trở lên, hoàn chỉnh về mặt ý nghĩa và bền vững về mặt thành phần và cấu trúc Ý nghĩa của thành ngữ tiếng Nga được hiểu trên cơ sở phân loại thành ngữ Với tư cách là một đơn vị ngôn ngữ, thành ngữ luôn được xem xét và phân biệt với các đơn vị ngôn ngữ khác như

ít tập trung vào những cảm xúc trung gian

Các hình ảnh được sử dụng để mô tả trong thành ngữ TLTC tiếng Việt và tiếng Nga tương đối giống nhau đó là sử dụng các đơn vị từ vựng chỉ các bộ phận cơ thể con người để mô tả cảm xúc

Hành vi và thái độ thể hiện cảm xúc cũng được chú trọng trong các thành ngữ TLTC tiếng Nga và tiếng Việt

Trang 40

CHƯƠNG 2

CẤU TRÚC THÀNH NGỮ BIỂU THỊ TÂM LÝ TÌNH CẢM

TRONG TIẾNG NGA VÀ TIẾNG VIỆT 2.1 Đặc điểm cấu tạo thành ngữ biểu thị tâm lí tình cảm trong tiếng Nga

2.1.1 Đặc điểm về số lượng thành tố cấu tạo

Là một trong những ngôn ngữ biến hình và tổng hợp tính, tiếng Nga có đầy đủ những tính chất của họ ngôn ngữ Ấn Âu Một trong những đặc điểm quan trọng của ngôn ngữ biến hình đó chính là hình thái từ Các hình thái của

từ trong các ngôn ngữ biến hình đều mang một ý nghĩa ngữ pháp và từ vựng nhất định, đặc biệt là tiếng Nga, một trong những ngôn ngữ từ có nhiều hình thái nhất trong số các ngôn ngữ trên thế giới Đây cũng là một đặc điểm quan trọng khi xem xét và nghiên cứu thành ngữ tiếng Nga

Về đặc điểm cấu tạo, các thành ngữ tiếng Nga nói chung, chỉ tâm lý tình cảm nói riêng, thường được cấu tạo từ hai từ trở lên, chúng chiếm một

số lượng khá lớn, đứng thứ hai sau thành ngữ tâm lý tình cảm được cấu tạo gồm ba từ Đây là một đặc điểm nổi trội của thành ngữ tiếng Nga Trong tiếng Nga có rất nhiều giới từ, chẳng hạn như: на, в, из, за, о, до, по, от … Mỗi giới từ thể hiện một ý nghĩa nhất định phù hợp với động từ mà nó đi kèm Thành ngữ biểu thị tâm lý tình cảm trong tiếng Nga có thể được cấu tạo gồm hai từ: giới từ + danh từ (phù hợp với nhau về giống, số và cách) như:

С душой: Say mê

С сердцем: Bực mình

На радостях: Hết sức vui mừng Hoặc danh từ + động từ Đây là dạng thức cấu tạo hai thành phần phổ

biến của thành ngữ tâm lý tình cảm:

Душа болит: Đau lòng

Ngày đăng: 31/03/2015, 14:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lâm Thị Hòa Bình (2000), Đối chiếu thành ngữ chỉ trạng thái tâm lý trong tiếng Anh và tiếng Việt, Luận văn Ths. Ngữ văn, Trường ĐHKHXH&NV- ĐHQG HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối chiếu thành ngữ chỉ trạng thái tâm lý trong tiếng Anh và tiếng Việt
Tác giả: Lâm Thị Hòa Bình
Năm: 2000
2. Đỗ Hữu Châu (1986), Các bình diện của từ và từ tiếng Việt, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bình diện của từ và từ tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1986
3. Đỗ Hữu Châu (1998), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
4. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (1997), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
5. Nguyễn Đức Dân (1996), Ngữ nghĩa thành ngữ và tục ngữ, sự vận dụng, Tạp chí Ngôn ngữ, số 3, (C3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa thành ngữ và tục ngữ, sự vận dụng
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Năm: 1996
6. Nguyễn Văn Độ, Tìm hiểu mối liên hệ giữa Ngôn ngữ - văn hóa, NXB ĐHQGHN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu mối liên hệ giữa Ngôn ngữ - văn hóa
Nhà XB: NXB ĐHQGHN
7. Nguyễn Công Đức (1995), Bình diện cấu trúc hình thái ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Việt, Luận án PTS. Ngữ văn, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình diện cấu trúc hình thái ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Công Đức
Năm: 1995
8. Nguyễn Thiện Giáp (1996), Từ và nhận diện từ tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ và nhận diện từ tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996
9. Nguyễn Thiện Giáp (1999), Từ vựng học tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
10. Hoàng Văn Hành (2004), Thành ngữ học tiếng Việt, NXB Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành ngữ học tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Nhà XB: NXB Xã hội
Năm: 2004
11. Hoàng Văn Hành (chủ biên) (1994), Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ
Tác giả: Hoàng Văn Hành (chủ biên)
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1994
12. Trần Hiệp (1996), Tâm lý học xã hội - những vấn đề lí luận, NXB Khoa học Xã hội, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học xã hội - những vấn đề lí luận
Tác giả: Trần Hiệp
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1996
13. Nguyễn Xuân Hòa (1992). Đối chiếu ngôn ngữ trong cách nhìn của Ngữ dụng học tương phản (Thử nghiệm trên các đơn vị thành ngữ), TC Ngôn ngữ, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối chiếu ngôn ngữ trong cách nhìn của Ngữ dụng học tương phản
Tác giả: Nguyễn Xuân Hòa
Năm: 1992
14. Nguyễn Xuân Hòa (1996), Đối chiếu thành ngữ Nga - Việt trên bình diện giao tiếp, Luận án PTS. Ngữ văn, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối chiếu thành ngữ Nga - Việt trên bình diện giao tiếp
Tác giả: Nguyễn Xuân Hòa
Năm: 1996
15. Nguyễn Xuân Hòa, Nguyễn Thị Hoài Nhân (1999), Các quan điểm về thành ngữ trong tiếng Nga, Nội san Ngoại ngữ, (5), Trường ĐH Ngoại ngữ, ĐHQG HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các quan điểm về thành ngữ trong tiếng Nga
Tác giả: Nguyễn Xuân Hòa, Nguyễn Thị Hoài Nhân
Năm: 1999
16. Nguyễn Lạc, Thế Anh (1978), Thành ngữ Nga – Việt, Trường ĐHSP HN I, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành ngữ Nga – Việt
Tác giả: Nguyễn Lạc, Thế Anh
Năm: 1978
17. Nguyễn Lực, Lương Văn Đang (1978), Thành ngữ tiếng Việt, NXB KHXH, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành ngữ tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Lực, Lương Văn Đang
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1978
18. Đức Minh, Phạm Cốc, Nguyễn Thị Xuân (1962), Tâm lý học, NXB Giáo dục, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học
Tác giả: Đức Minh, Phạm Cốc, Nguyễn Thị Xuân
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1962
19. Triều Nguyên (2006), Phân biệt thành ngữ và tục ngữ bằng mô hình cấu trúc, Tạp chí Ngôn ngữ, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân biệt thành ngữ và tục ngữ bằng mô hình cấu trúc
Tác giả: Triều Nguyên
Năm: 2006
20. Vi Trường Phúc (2005), Đặc điểm của các thành ngữ chỉ tâm lý tình cảm trong tiếng Hán có đối chiếu với tiếng Việt, Luận văn Ths. Ngữ văn, Trường ĐHKHXH&NV-ĐHQG HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm của các thành ngữ chỉ tâm lý tình cảm trong tiếng Hán có đối chiếu với tiếng Việt
Tác giả: Vi Trường Phúc
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Thống kê số lượng từ trong thành ngữ biểu thị tâm lí tình cảm trong  tiếng Nga  - Đối chiếu nhóm thành ngữ chỉ tâm lý - tình cảm trong tiếng Nga và Tiếng Việt
Bảng 1 Thống kê số lượng từ trong thành ngữ biểu thị tâm lí tình cảm trong tiếng Nga  (Trang 44)
Bảng 2: Thống kê thành ngữ biểu thị  trạng thái tâm lí tình cảm tiếng Nga  theo quan hệ ngữ pháp - Đối chiếu nhóm thành ngữ chỉ tâm lý - tình cảm trong tiếng Nga và Tiếng Việt
Bảng 2 Thống kê thành ngữ biểu thị trạng thái tâm lí tình cảm tiếng Nga theo quan hệ ngữ pháp (Trang 50)
Bảng 3. Các nguồn biểu trưng trong thành ngữ chỉ tâm lí tình cảm  tiếng Việt    Từ  bảng  thống  kê  trên,  chúng  tôi  nhận  thấy  nguồn  quy  chiếu  chủ  yếu - Đối chiếu nhóm thành ngữ chỉ tâm lý - tình cảm trong tiếng Nga và Tiếng Việt
Bảng 3. Các nguồn biểu trưng trong thành ngữ chỉ tâm lí tình cảm tiếng Việt Từ bảng thống kê trên, chúng tôi nhận thấy nguồn quy chiếu chủ yếu (Trang 78)
Bảng 4: Bảng thống kê nguồn biểu trưng trong thành ngữ chỉ tâm lý tình  cảm tiếng Nga - Đối chiếu nhóm thành ngữ chỉ tâm lý - tình cảm trong tiếng Nga và Tiếng Việt
Bảng 4 Bảng thống kê nguồn biểu trưng trong thành ngữ chỉ tâm lý tình cảm tiếng Nga (Trang 96)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w