Cho đến nay, số lượng loại từ có mặt trong hệ thống chưa được các nhà Việt ngữ thống nhất, nhưng dựa trên các đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ pháp của loại từ nói riêng và của danh ngữ nói chu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
PHẠM THỊ THUÝ HỒNG
KHẢO SÁT LOẠI TỪ TIẾNG VIỆT
VÀ CÁC PHƯƠNG THỨC CHUYỂN DỊCH
SANG TIẾNG INĐÔNÊXIA
Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ
Mã số : 62 22 01 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
1- PGS TS Nguyễn Hồng Cổn 2- GS TS Lê Quang Thiêm
Hà Nội - 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
PHẠM THỊ THUÝ HỒNG
KHẢO SÁT LOẠI TỪ TIẾNG VIỆT
VÀ CÁC PHƯƠNG THỨC CHUYỂN DỊCH
SANG TIẾNG INĐÔNÊXIA
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Hà Nội - 2012
Trang 3MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các sơ đồ
MỞ ĐẦU 1
0.1 Lý do lựa chọn đề tài 10
0.2 Đối tượng và mục đích của luận án 11
0.3 Tính cấp thiết của đề tài 3
0.4 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 5
0.5 Ph-¬ng ph¸p nghiªn cøu 14
0.6 Những đóng góp của luận án 4
0.7 Bố cục của luận án 16
Chương 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT VỀ LOẠI TỪ 17
1.1 Loại từ và các đặc điểm chung của loại từ 17
1.1.1 Khái niệm loại từ 17
1.1.1.1 Quan điểm của Allan 18
1.1.1.2 Quan điểm của Aikhenvald 19
1.1.1.3 Quan điểm của Karen L.Adam 20
1.1.1.4 Quan điểm của Greenberg 20
1.1.2 Các đặc điểm chung của loại từ 21
1.1.2.1 Đặc điểm hình thái và cấu trúc có chứa loại từ 21
1.1.2.2 Đặc điểm ngữ nghĩa của loại từ 22
1.1.2.3 Sự phân biệt giữa loại từ và từ chỉ đơn vị đo lường 26
1.1.2.4 Chức năng của loại từ 29
1.1.2.5 Đặc điểm tri nhận của người bản ngữ phản chiếu qua loại từ 32
1.1.2.6 Về nguồn gốc của loại từ 33
Trang 41.2 Loại từ trong các ngôn ngữ trên thế giới 34
1.2.1 Sự phân bố loại từ số trong các ngôn ngữ trên thế giới 34
1.2.2 Loại từ trong các ngôn ngữ Châu Âu 35
1.2.3 Loại từ trong các ngôn ngữ châu Phi, châu Mĩ 37
1.2.4 Loại từ trong các ngôn ngữ châu Á và Đông Nam Á 39
1.2.4.1 Sự tồn tại loại từ trong hầu hết các ngôn ngữ Châu Á 39
1.2.4.2 Đặc điểm hình thái của loại từ trong các ngôn ngữ Châu Á 40
1.2.4.3 Cấu trúc có chứa loại từ trong các ngôn ngữ Châu Á 41
1.3 Khái quát về loại từ tiếng Việt 45
1.3.1 Các quan niệm về loại từ trong tiếng Việt 45
1.3.1.1 Khuynh hướng tách loại từ ra khỏi phạm trù danh từ, xem loại từ như một từ loại riêng 48
1.3.1.2 Khuynh hướng xem loại từ thuộc phạm trù từ loại danh từ 51
1.3.2 Quan niệm của luận án về loại từ trong tiếng Việt 52
Tiểu kết 44
Chương II: KHẢO SÁT LOẠI TỪ TIẾNG VIỆT 54
2.1 Nhận diện loại từ tiếng Việt 54
2.1.1 Tiêu chí nhận diện loại từ 54
2.1.2 Danh sách loại từ tiếng Việt 58
2.2 Đặc điểm của loại từ tiếng Việt 66
2.2.1 Đặc điểm ngữ pháp 66
2.2.1.1 Đặc điểm về vị trí 66
2.2.1.2 Đặc điểm về khả năng kết hợp 68
2.2.1.3 Đặc điểm về chức vụ cú pháp 69
2.2.2 Đặc điểm ngữ nghĩa 70
2.2.3 Đặc điểm chức năng 72
2.3 Các kiểu loại từ trong tiếng Việt 74
2.3.1 Loại từ chỉ người 76
2.3.2 Loại từ chỉ động vật 84
2.3.3 Loại từ chỉ thực vật 86
2.3.4 Loại từ chỉ đồ vật, hiện tượng tự nhiên 89
Tiểu kết 92
Trang 5Chương III: CÁC ĐƠN VỊ TƯƠNG ỨNG VỚI LOẠI TỪ TIẾNG VIỆT TRONG
TIẾNG INĐÔNÊXIA 103
3.1 Khái quát về loại từ trong tiếng Inđônêxia 103
3.1.1 Khái niệm loại từ trong tiếng Inđônêxia 103
3.1.1.1 Các quan niệm về loại từ tiếng Inđônêxia 108
3.1.1.2 Quan điểm của tác giả luận án 109
3.1.2 Nhận diện loại từ tiếng Inđônêxia 111
3.1.2.1 Tiêu chí nhận diện loại từ 111
3.1.2.2 Các kiểu loại từ trong tiếng Inđônêxia 112
3.1.3 Phân biệt loại từ với các từ loại khác 119
3.1.3.1 Về loại từ với từ chỉ đơn vị đo lường 119
3.1.3.2 Loại từ với danh từ 121
3.1.3.3 Loại từ với đại từ nhân xưng 124
3.2 Đặc điểm ngữ pháp của loại từ tiếng Inđônêxia 124
3.2.1 Đặc điểm hình thái 124
3.2.1.1 Về mặt hình thái 124
3.2.1.2 Về phương diện ngữ âm, các hình vị tiếng Inđônêxia có thể là 115
3.2.1.3 Về mặt chữ viết 125
3.2.2 Khả năng kết hợp 125
3.2.3 Chức vụ cú pháp trong câu 127
3.3 Đặc điểm ngữ nghĩa của loại từ tiếng Inđônêxia 132
Tiểu kết 138
Chương IV: ĐỐI DỊCH LOẠI TỪ TIẾNG VIỆT SANG TIẾNG INĐÔNÊXIA 140
4.1 Dẫn nhập về dịch thuật 140
4.1.1 Khái niệm dịch, đối dịch, mối quan hệ giữa dịch thuật và ngôn ngữ đối chiếu 140
4.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc dịch 142
4.1.3 Các bình diện tương đương trong dịch thuật 144
4.1.4 Các phương thức dịch loại từ tiếng Việt sang tiếng Inđônêxia 146
4.2 Những tương đồng và khác biệt giữa loại từ tiếng Việt với tiếng Inđônêxia có liên quan đến việc chuyển dịch 147
Trang 64.2.1 Những điểm tương đồng 148
4.2.1.1 Tương đồng về khả năng kết hợp 149
4.2.1.2 Tương đồng về chức vụ cú pháp trong câu 149
4.2.1.3 Tương đồng về ngữ nghĩa 150
4.2.2 Khác biệt giữa loại từ tiếng Việt và tiếng Inđônêxia liên quan đến việc chuyển dịch 154
4.2.2.1 Khác biệt về mặt hình thái 154
4.2.2.2 Khác biệt về khả năng kết hợp 154
4.2.2.3 Khác biệt về chức vụ cú pháp trong câu 155
4.2.2.4 Khác biệt về ngữ nghĩa 157
4.3 Đối chiếu chuyển dịch loại từ tiếng Việt sang tiếng Inđônêxia 158
4.3.1 Dịch tương đương hoàn toàn (A=B) 158
4.3.2 Dịch tương đương bộ phận (A<B, A>B) 161
4.3.3 Dịch không tương đương 178
4.4 Vấn đề tri nhận, văn hóa dân tộc có liên quan đến việc chuyển dịch loại từ tiếng Việt sang tiếng Inđônêxia 171
Tiểu kết 179
KẾT LUẬN 181
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 193
TÀI LIỆU THAM KHẢO 185
PHỤ LỤC 204
PHỤ LỤC 1: SƠ ĐỒ ĐỐI DỊCH LOẠI TỪ TIẾNG VIỆT SANG TIẾNG
INĐÔNÊXIA VÀ TIẾNG INĐÔNÊXIA SANG TIẾNG VIỆT PHỤ LỤC 2: DANH SÁCH VÀ NGHĨA CỦA LOẠI TỪ TIẾNG VIỆT
PHỤ LỤC 3: DANH SÁCH, NGHĨA CỦA LOẠI TỪ TIẾNG INĐÔNÊXIA
VÀ CÁC ĐƠN VỊ TƯƠNG ỨNG TRONG TIẾNG VIỆT PHỤ LỤC 4: ĐỐI DỊCH LOẠI TỪ TIẾNG VIỆT SANG TIẾNG INĐÔNÊXIA
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Các loại từ khác nhau được sử dụng với cùng một danh từ trong tiếng
Miến Điện 22
Bảng 2.1 Danh sách loại từ tiếngViệt 50
Bảng 2.2 Bảng loại từ chỉ người và các tham tố ngữ nghĩa 73
Bảng 2.3 Bảng loại từ chỉ thực vật và các tham tố ngữ nghĩa 79
Bảng 2.4 Bảng loại từ có nghĩa mô tả hình dáng của vật thể có dạng khối tạo
không gian ba chiều và các tham tố ngữ nghĩa khác 84
Bảng 2.5 Bảng loại từ có nghĩa mô tả hình dáng của vật thể có dạng khối tạo
không gian hai chiều và các tham tố ngữ nghĩa khác 85
Bảng 2.6 Bảng loại từ có nghĩa mô tả hình dáng của vật thể có dạng khối tạo
không gian một chiều và các tham tố ngữ nghĩa khá 86
Bảng 3.1 Đại từ chỉ người trong tiếng Inđônêxia 115
Bảng 4.1 Loại từ chỉ đồ vật, hiện tượng trong tiếng Việt và các khả năng chuyển dịch sang tiếng Inđônêxia 163
Trang 9DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Các tham tố nghĩa của loại từ 17
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ phân chia loại từ tiếng Việt 66
Sơ đồ 2.2 Các tham số ngữ nghĩa của loại từ chỉ người 68
Sơ đồ 2.3 Các thế đối lập nghĩa của loại từ chỉ người 68
Sơ đồ 2.4 Các tham số ngữ nghĩa của loại từ chỉ động vật 77
Sơ đồ 2.5 Các tham số ngữ nghĩa của loại từ chỉ thực vật 78
Sơ đồ 3.1 Các tham số ngữ nghĩa của loại từ tiếng Inđônêxia 124
Sơ đồ 3.2 Sự tương quan của các phạm vi ngữ nghĩa của loại từ trong tiếng Inđônêxia 128
Sơ đồ 4.1 Loại từ dùng cho vật vô sinh trong tiếng Inđônêxia 144
Sơ đồ 4.2.a Đối dịch loại từ chỉ người tiếng Inđônêxia sang tiếng Việt 152
Sơ đồ 4.2b Đối dịch loại từ chỉ người tiếng Inđônêxia sang tiếng Việt 154
Sơ đồ 4.2c Đối dịch loại từ chỉ người tiếng Inđônêxia sang tiếng Việt 154
Sơ đồ 4.3 Đối dịch loại từ chỉ người tiếng Việt sang tiếng Inđônêxia 153
Sơ đồ 4.4 Đối dịch loại từ con tiếng Việt sang tiếng Inđônêxia 157
Sơ đồ 4.5 So sánh khái niệm buah trong tiếng Inđônêxia và cái trong tiếng Việt .159
Sơ đồ 4.6a Đối dịch loại từ chỉ thực vật tiếng Việt sang tiếng Inđônêxia 159
Sơ đồ 4.6b Đối dịch loại từ chỉ thực vật tiếng Việt sang tiếng Inđônêxia 161
Sơ đồ 4.6c Đối dịch loại từ chỉ thực vật tiếng Việt sang tiếng Inđônêxia 161
Sơ đồ 4.7a Đối dịch loại từ chỉ đồ vật, hiện tượng tiếng Việt sang tiếng Inđônêxia 163
Sơ đồ 4.7b Đối dịch loại từ chỉ đồ vật, hiện tượng tiếng Việt sang tiếng Inđônêxia 166
Sơ đồ 4.7c Đối dịch loại từ chỉ đồ vật, hiện tượng tiếng Việt sang tiếng Inđônêxia 168
Sơ đồ 4.8 Nghĩa của một số loại từ trong tiếng Inđônêxia 171
Sơ đồ 4.9 Đối dịch loại từ batang tiếng Inđônêxia sang tiếng Việt 174
Sơ đồ 4.10 Ngữ nghĩa của một số loại từ tiếng Inđônêxia theo hướng tri nhận 177
Trang 10MỞ ĐẦU
0.1 Lý do lựa chọn đề tài
Với sự phát triển của lý luận ngôn ngữ học những năm gần đây, với việc phát hiện những tư liệu mới của các ngôn ngữ còn ít được biết đến ở châu Á, châu Phi, châu Mĩ vấn đề "loại từ" càng ngày càng thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu, trước hết và chủ yếu là các nhà ngôn ngữ học, và cả các nhà tâm lý học, triết học Bởi vì trong ngữ nghĩa của loại từ, ở bề sâu của nó, ẩn chứa một cách nhìn, cách nghĩ về sự vật, hiện tượng về thế giới khách quan của cộng đồng bản ngữ, của dân tộc nói thứ tiếng đó
Nhưng không chỉ ở bình diện ngữ nghĩa mà ở những bình diện khác như ngữ pháp, ngữ dụng, loại từ cũng là một mảnh đất chưa được nghiên cứu đủ sâu, đủ kĩ,
và do đó còn rất nhiều công việc cho các nhà ngôn ngữ học tiếp tục nghiên cứu Bởi
lẽ loại từ là một địa hạt rất tinh tế, độc đáo, khó nắm bắt của một ngôn ngữ, cho nên, cần có sự khảo sát toàn diện về tất cả các mặt thì mới có được cái nhìn hợp lý về nó
Trong tiếng Việt, cùng một sự vật, hiện tượng như "nhà", "thư", "thuyền" nhưng có rất nhiều cách gọi khác nhau Với đối tượng "nhà" có thể nói "cái nhà",
"ngôi nhà", "toà nhà" với đối tượng "thư" có thể nói "bức thư", "lá thư', "tờ thư" Sự khác nhau giữa các cách gọi cái, con, chiếc, cuộc, sự, mối, không chỉ
thuần tuý là sự khác nhau về mặt ngữ pháp mà còn là sự khác nhau về mặt ngữ nghĩa, thậm chí cả ý nghĩa tình thái - biểu cảm [91] Điều đó cho thấy trong tiếng Việt có một lớp từ mà sự xuất hiện của nó đã tạo nên một phạm trù, trong đó các yếu tố không chỉ thuần tuý diễn đạt mặt hình thức ngữ pháp mà còn là một tham tố tạo nghĩa của cấu trúc mở rộng danh từ Lớp từ này được hầu hết các nhà Việt ngữ
học gọi là loại từ (classifiers)
Loại từ là một hiện tượng ngôn ngữ, một vấn đề rất thú vị nhưng cũng hết sức phức tạp, nơi tập trung ý kiến khác nhau của nhiều nhà Việt ngữ học, chẳng hạn như:
- Loại từ là một từ loại riêng hay thực chất đó chỉ là một loại danh từ?
Trang 11- Nếu loại từ là một từ loại riêng thì những đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ pháp của
nó là gì?
- Có bao nhiêu loại từ trong tiếng Việt?
Trả lời tất cả những câu hỏi trên đây không phải là việc đơn giản Chúng tôi tán thành ý kiến của Lý Toàn Thắng [120] là để giải quyết vấn đề này còn phải làm rất nhiều việc, nhưng trước hết có thể tập trung vào mấy vấn đề:
a Xác lập tiêu chí và đưa ra một danh sách tương đối đầy đủ về loại từ (không thể chỉ đưa ra một vài ví dụ đã quá quen thuộc và bằng lòng với sự lập luận trên cơ sở mấy ví dụ đó)
b.Tham khảo thêm những nghiên cứu về loại từ (và những vấn đề khác có liên quan đến loại từ) trên thế giới những năm gần đây (mà rõ ràng là có nhiều thay đổi so với những quan niệm của ngữ pháp miêu tả luận và phân bố luận trong thời
kì hoàng kim những năm 60-70)
c.Nhìn rộng ra ngoài tiếng Việt, tới những ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở nước
ta và các ngôn ngữ khác trong khu vực (ở đây có những cứ liệu rất đáng lưu ý về nguồn gốc và sự tiến hoá của hệ thống loại từ trong tiếng Việt cổ trước đây)
d Ngoài ra, cần phải có cái nhìn ra bên ngoài, tới các ngôn ngữ trên thế giới
để có cái nhìn toàn cục về các ngôn ngữ có loại từ trên thế giới, có cái nhìn so sánh với các ngôn ngữ khác loại hình
e Tiến tới xem xét loại từ như một cơ sở để phân chia loại hình ngôn ngữ trên thế giới
0.2 Đối tƣợng và mục đích của luận án
Luận án chọn đối tượng khảo sát là loại từ (classifiers), tiến tới xem xét một cái nhìn ổn định về loại từ trong tiếng Việt, khảo sát các đơn vị tương ứng trong tiếng Inđônêxia, đối dịch loại từ tiếng Việt sang tiếng Inđônêxia, góp phần vào việc biên soạn từ điển Việt – Inđônêxia Giải quyết các vấn đề ngữ nghĩa, ngữ pháp và ngữ dụng của loại từ cũng chính là để soi sáng những vấn đề về tư duy văn hoá của người Việt cũng như người Inđônêxia Đây là vấn đề có giá trị không nhỏ đối với việc nghiên cứu lý luận cũng như thực tiễn nghiên cứu ngôn ngữ và văn hoá
Trang 12Cho đến nay, số lượng loại từ có mặt trong hệ thống chưa được các nhà Việt ngữ thống nhất, nhưng dựa trên các đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ pháp của loại từ nói riêng và của danh ngữ nói chung, luận án sẽ sơ bộ nhận diện bằng các tiêu chí hình thức và nội dung, sau đó, tiến hành phân loại hệ thống loại từ tiếng Việt
Việc mô tả, phân tích đặc điểm của loại từ tiếng Việt và các biểu hiện từ vựng, ngữ pháp tương đương trong tiếng Inđônêxia được thực hiện trên ngữ liệu là các tác phẩm văn học, giáo trình thực hành tiếng Việt và tiếng Inđônêxia, từ điển Inđônêxia – Việt, Inđônêxia – Anh và Anh – Inđônêxia
Với đề tài "Khảo sát loại từ tiếng Việt và các phương thức chuyển dịch sang tiếng Inđônêxia” luận án đặt ra những mục đích sau:
- Tìm hiểu đặc trưng ngữ pháp của loại từ
- Phân tích ngữ nghĩa của loại từ
- So sánh, đối chiếu loại từ tiếng Việt với đơn vị tương đương trong tiếng Inđônêxia
- Đối dịch loại từ tiếng Việt sang tiếng Inđônêxia
Luận án coi đối chiếu tương đồng và khác biệt là cơ sở để tiến hành đối dịch loại từ tiếng Việt sang tiếng Inđônêxia Bởi lẽ, đối tượng của luận án là một kiểu từ loại nên phương pháp làm việc của chúng tôi ở đây là đối dịch, tức là đối chiếu và dịch, dịch trên cơ sở đối chiếu nghiêm ngặt và sử dụng một cách triệt để kết quả đối chiếu để dịch
Phạm vi của phương pháp đối dịch ở đây có thể hiểu theo một cách khác nữa,
đó là có thể coi đối dịch là một dạng, một kiểu của dịch và kết quả của nó là ứng dụng cho việc biên soạn từ điển, mà cụ thể là biên soạn từ điển Việt – Inđônêxia, Inđônêxia – Việt, biên soạn sách học tiếng Inđônêxia cũng như tiếng Việt
0.3 Tính cấp thiết của đề tài
Từ trước đến nay, một số nhà Việt ngữ học cho rằng loại từ là một tiểu loại của danh từ, hoặc có tác giả thì cho nó là hư từ, không có ý nghĩa từ vựng, chỉ có ý nghĩa ngữ pháp hay còn gọi là rỗng nghĩa Nói cách khác là hầu hết các tác giả xuất phát từ cái nhìn cấu trúc luận, xếp loại từ vào những khuôn cấu trúc khác nhau,
Trang 13trong cái khuôn đó, loại từ được xem là một đơn vị rỗng nghĩa, là từ chứng cho danh từ Tuy nhiên, chúng ta thấy rằng, bất cứ một sự phân loại nào nếu không chú
ý đến nghĩa thì đều là một sự phân loại thiếu toàn diện, đặc biệt là đối với loại từ, một đơn vị mà ranh giới về ngữ nghĩa của nó còn rất nhập nhằng Do vậy, đề tài của chúng tôi chú trọng đến cả hai hướng: bên cạnh việc đưa ra các tiêu chí hình thức để phân loại loại từ thì chúng tôi còn chú trọng đến ngữ nghĩa của lớp từ này Ngữ nghĩa ở đây không chỉ đơn thuần là ngữ nghĩa ngữ pháp mà còn là ngữ nghĩa của một lớp từ vựng và ngữ nghĩa ngữ dụng Đây là hướng mà ngôn ngữ học hiện đại thường hướng tới, bởi lẽ ngôn ngữ phản ánh tư duy, là những đơn vị mang nghĩa, không thể là những khuôn cấu trúc đơn thuần, khô cứng được Từ hướng nghiên cứu cả cấu trúc lẫn ngữ nghĩa như vậy, chúng tôi hy vọng sẽ có thể xác định được một tiểu loại từ loại trong tiếng Việt, đó là loại từ, cái đơn vị mà lâu nay chưa có sự thống nhất giữa các nhà Việt ngữ học
Về mặt lý luận, luận án góp phần làm sáng tỏ các vấn đề đang tranh luận:
- Loại từ là một từ loại riêng của các ngôn ngữ có loại từ hay chỉ là một tiểu loại danh từ?
- Đặc trưng ngữ nghĩa – ngữ pháp của loại từ tiếng Việt và những tương đồng, khác biệt của nó với loại từ tiếng Inđônêxia
- Khả năng chuyển dịch loại từ tiếng Việt – một ngôn ngữ đơn lập – sang tiếng Inđônêxia – một ngôn ngữ chắp dính
Ngoài ý nghĩa về mặt lý luận, việc nghiên cứu tổ hợp có chứa loại từ và các phương thức dịch sang tiếng Inđônêxia còn có ý nghĩa về mặt thực tiễn Đối với người Việt, tiếng Việt là bản ngữ, do đó ít ai dùng sai tổ hợp loại từ + danh từ, về mặt cấu trúc và nghĩa Nhưng hiểu cho thấu đáo và dùng cho hay loại từ trong tổ hợp với danh từ thì không phải là chuyện đơn giản Đối với việc giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài thì ý nghĩa thực tiễn của nó càng lớn lao
Thứ nhất, cùng với công trình của các tác giả đi trước, một phần trong luận
án (chương II), sẽ giúp cho người nước ngoài học tiếng Việt, những người mà bản ngữ của họ không có loại từ như người Nga, người Anh, người Pháp … học tiếng
Trang 14Việt tốt hơn Đối với người nước ngoài thì cái khó không chỉ ở chỗ biết trường hợp nào dùng được hay không dùng được loại từ mà khó hơn nữa là dùng đúng loại từ, loại từ nào được dùng với danh từ nào cần phải có sự hiểu biết về nghĩa của loại từ mới có thể dùng được
Thứ hai, đối với việc giảng dạy cho người nước ngoài hoặc người thuộc dân tộc thiểu số ở Việt Nam mà bản ngữ của họ có loại từ thì đề tài của luận án cũng có những ý nghĩa thiết thực Bởi loại từ tiếng Việt có những đặc điểm riêng cần phải nắm vững thì mới sử dụng chính xác được
Thứ ba, đối với người Inđônêxia học tiếng Việt cũng như người Việt học tiếng Inđônêxia thì luận án có ý nghĩa quan trọng Đó là sự tương ứng hay không tương ứng giữa loại từ của hai ngôn ngữ, và cách chuyển dịch chúng như thế nào Bởi đây là hai ngôn ngữ khác loại hình Phần chương IV sẽ như là một tài liệu có tính chất công cụ hữu ích cho người học
0.4 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Việc tranh luận có hay không có loại từ đã được nhiều công trình trong nước cũng như trên thế giới nói đến và lý giải Cho nên, trong luận án này, chúng tôi không đi vào tranh luận mà chỉ thừa nhận có một đơn vị hiển nhiên trong tiếng Việt luôn đứng trước danh từ và đứng sau số từ trong danh ngữ, chúng tôi tạm gọi nó là loại từ (classifiers) Với lý do như vậy, luận án chỉ đi sâu tìm hiểu các vấn đề sau:
(1) Tổng quan tình hình nghiên cứu về loại từ trên thế giới và loại từ tiếng Việt (2) Xác lập bộ tiêu chí để nhận diện loại từ tiếng Việt
(3) Mô tả đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của loại từ tiếng Việt và các đơn vị tương đương trong tiếng Inđônêxia
(4) Khảo sát các phương thức chuyển dịch loại từ tiếng Việt sang tiếng Inđônêxia
0.5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ trên, chúng tôi nghiên cứu đối tượng theo hướng nội dung và hình thức kết hợp nhuần nhuyễn với nhau Từ định hướng có tính chất
Trang 15phương pháp luận đó người viết chủ yếu sử dụng một số phương pháp ngôn ngữ học trong quá trình viết luận án, đó là:
Phương pháp thống kê, phương pháp miêu tả Thống kê số lượng loại từ tiếng Việt và tiếng Inđônêxia, số lượng loại từ trong mỗi nhóm và miêu tả các nét nghĩa của chúng Một số thủ pháp được chúng tôi sử dụng trong luận án là: thủ pháp phân tích phân bố và thủ pháp phân tích nghĩa tố Chúng tôi xem đây là các thủ pháp đắc lực cho việc nghiên cứu tiếng Việt nói riêng và các ngôn ngữ có cùng loại hình như tiếng Việt nói chung, những ngôn ngữ không có đặc trưng hình thái học thực sự
Phương pháp so sánh đối chiếu loại từ tiếng Việt với loại từ tiếng Inđônêxia được luận án sử dụng triệt để nhằm tìm hiểu sự giống và khác nhau của cùng một đơn vị từ loại trong hai ngôn ngữ khác loại hình như thế nào, từ đó làm cơ sở cho việc đối dịch loại từ tiếng Việt sang tiếng Inđônêxia
Một cơ sở lý thuyết nữa mà luận án sử dụng cho việc xác định nghĩa cũng như cấu trúc của loại từ, đó là lý thuyết điển mẫu (người khởi xướng là Eleanor Rosch)
b) Cung cấp một bộ tiêu chí để xác định loại từ, lập danh sách tương đối đầy
đủ loại từ tiếng Việt và tiếng Inđônêxia
c) Cung cấp một cái nhìn toàn diện về nghĩa của loại từ trong cả hai ngôn ngữ
Trang 16d) Phát hiện những đặc điểm giống và khác nhau của loại từ trong hai ngôn ngữ Việt – Inđônêxia Dịch loại từ tiếng Việt ra loại từ hoặc các biểu thức tương đương trong tiếng Inđônêxia phục vụ cho công tác biên soạn từ điển loại từ + danh
từ Việt – Inđônêxia trong tương lai
0.7 Bố cục của luận án
Ngoài mục lục, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận án gồm có 3 phần chính: mở đầu, nội dung, kết luận
Trong đó, phần Nội dung gồm có 4 chương:
Chương I Cơ sở lý thuyết về loại từ
Trình bày tổng quan về tình nghiên hình nghiên cứu loại từ trên thế giới cũng như trong nước và quan niệm về loại từ của luận án
Chương II Khảo sát loại từ tiếng Việt
Khảo sát cấu trúc có chứa loại từ tiếng Việt, các cấu trúc điển hình và các biến thể Phân loại loại từ tiếng Việt Nghĩa của loại từ
Chương III Các đơn vị tương ứng với loại từ tiếng Việt trong tiếng Inđônêxia
Khảo sát loại từ tiếng Inđônêxia, phân loại và tìm hiểu nghĩa của loại từ tiếng Inđônêxia
Chương IV Đối dịch loại từ tiếng Việt sang tiếng Inđônêxia
- Điểm qua các vấn đề liên quan đến dịch thuật, các phương thức dịch, dịch tương đương
- So sánh, đối chiếu loại từ tiếng Việt với loại từ tiếng Inđônêxia Tìm những điểm tương đồng và khác biệt giữa loại từ của hai ngôn ngữ trên phương diện: hình thái, cấu trúc, ngữ nghĩa, số lượng, phương thức hoạt động
- Đối dịch loại từ tiếng Việt sang tiếng Inđônêxia
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT VỀ LOẠI TỪ
1.1 Loại từ và các đặc điểm chung của loại từ
1.1.1 Khái niệm loại từ
Việc nghiên cứu loại từ trên thế giới bắt đầu muộn hơn so với các từ loại
khác trong ngôn ngữ Thuật ngữ classifiers được người ta nhắc đến khi nghiên cứu
các ngôn ngữ khu vực Châu Á như tiếng Thái, Miến Điện, tiếng Hán, tiếng Việt Và
đã có thời người ta gọi các ngôn ngữ này là nhóm các ngôn ngữ loại từ Sau đó người ta đã phát hiện ra thực ra hầu hết các ngôn ngữ trên thế giới đều có hiện tượng này Cho đến hiện nay loại từ (classifiers) đã được nghiên cứu khá cẩn thận, chi tiết Thực ra, đối với người Việt, với tiếng Việt, hiện nay còn tranh cãi nhiều về vấn đề là liệu có loại từ hay không, nhưng đối với các học giả Châu Âu thì
classifiers là một khái niệm rõ ràng, một đơn vị ngôn ngữ đích thực, đây là đơn vị
có cả nội dung và hình thức hay nói cách khác là có cả hình thức và nghĩa
Samuel Johnson [229] định nghĩa: Loại từ - là một từ hoặc hình vị được dùng
trong một số ngôn ngữ trong những ngữ cảnh xác định (như tính đếm) để chỉ ra lớp ngữ nghĩa đang được nói đến
“Loại từ số là kiểu loại từ phổ biến nhất Chúng được gọi là "số" bởi chúng
luôn xuất hiện trong ngữ cảnh chỉ lượng, luôn là đơn vị ràng buộc đứng liền với một
số từ hoặc từ định lượng Trường hợp thứ hai là chúng xuất hiện trong ngữ cảnh có đại từ chỉ định và đôi khi xuất hiện với tính từ” [201]
Dường như chưa có ai nghi ngờ về tính chân thực của loại từ, có chăng, người ta nghi ngờ về khái niệm “classifier languages” và “non-classifier languages” Nhưng theo Keith Allan trong công trình “classifiers” [147] thì ông cho rằng “Có lẽ tất cả các ngôn ngữ đều có loại từ; … nhưng có một số ngôn ngữ thích
hợp với tên gọi là ngôn ngữ loại từ (classifier languages) hơn một số ngôn ngữ
khác, chẳng hạn như danh từ sở hữu tiếng Anh tương ứng một cách chính xác với các đơn vị từ trong tiếng Thái mà tất cả mọi người đều công nhận đó là loại từ”
Trang 18Việc nghiên cứu về loại từ trong các ngôn ngữ trên thế giới đã được nhiều nhà nghiên cứu chú ý đến nhằm làm rõ hơn nữa bức tranh chung về loại từ Có thể
kể đến các quan điểm tiêu biểu sau:
1.1.1.1 Quan điểm của Allan
Allan cho rằng loại từ (classifiers) là đơn vị có nguyên tắc kết hợp phổ biến trong tất cả các ngôn ngữ: loại từ (classifers) kết hợp với từ định lượng, từ chỉ định
và kết hợp với danh từ [147]
Allan đã đưa ra 7 phạm trù được phân loại và tương ứng với nó là 7 kiểu loại
từ trong các ngôn ngữ trên thế giới Tuy nhiên, mỗi ngôn ngữ có một hay một vài kiểu loại từ nhất định chứ không phải là tất cả Nhưng mỗi loại từ lại không phải chỉ thuộc vào một phạm trù, mà có thể thuộc vào một vài trong số 7 phạm trù này Ông cho rằng loại từ biểu thị một số đặc điểm của nhận thức, tri nhận nhờ vào phân loại Như chúng ta thấy, lí do mà các ngôn ngữ khác nhau về họ hàng, loại hình hay là xa nhau về địa lý vẫn có thể có các lớp danh từ tương tự nhau là bởi các cộng đồng có những cách phân loại, tri nhận hiện thực khách quan theo những cách tương tự
nhau Loại từ (classifiers) được Allan nhìn nhận dưới 2 tiêu chuẩn:
a) Chúng xuất hiện như các hình vị trên cấu trúc bề mặt trong các điều kiện rõ ràng (có thể nhìn thấy được)
b) Chúng có nghĩa, loại từ chỉ ra một số đặc điểm nhận thức nổi trội hoặc là các đặc điểm được gán cho các thực thể danh từ liên quan được chỉ ra (hoặc có thể chỉ ra)
Theo Allan, tất cả các ngôn ngữ đều có loại từ, chứ không phải giống như quan niệm trước đây cho rằng có một số ngôn ngữ có loại từ, mà thuật ngữ tiếng Anh là
“classifier languages”, nhưng một số ngôn ngữ sự thể hiện của loại từ điển hình
hơn, do vậy, ông nhấn mạnh …có một số ngôn ngữ thích hợp hơn với việc gọi
―ngôn ngữ có loại từ‖ [147, tr 285]
Do vậy, về phương diện loại từ mà xét thì các ngôn ngữ chỉ khác nhau ở chỗ
ngôn ngữ này có nhiều hay hay ít loại từ hơn ngôn ngữ kia Tuy nhiên những ngôn
ngữ có loại từ không điển hình như tiếng Anh cũng có thể gọi là không có loại từ
Trang 19Và thuật ngữ “ngôn ngữ không có loại từ” được hiểu với nội hàm như vậy Theo ông, các ngôn ngữ có loại từ được phân biệt với các ngôn ngữ không có loại từ bằng 2 tiêu chí sau đây:
a) Có ít nhất là một vài loại từ được giới hạn trong cấu trúc có chứa loại từ b) Loại từ trong ngôn ngữ đó thuộc vào một/ một vài kiểu trong 4 kiểu sau: loại
từ số, loại từ tương hợp, loại từ vị ngữ và loại từ nội vị (intra-locative)
Từ quan niệm như vậy, Allan đã chia các ngôn ngữ trên thế giới thành 4 loại dựa vào sự xuất hiện của các kiểu loại từ
1- Các ngôn ngữ có loại từ số (numeral classifier languages): Kiểu loại từ số
là loại từ bắt buộc phải xuất hiện trong hầu hết cấu trúc danh ngữ có số từ Kiểu này được thể hiện điển hình trong tiếng Thái, tiếng Việt, tiếng Miến Điện…
2- Các ngôn ngữ có loại từ tương hợp (concordial classifier languages): tức
là kiểu phụ tố gắn vào danh từ để thể hiện ý nghĩa phân loại của loại từ, phụ tố ở đây thường là tiền tố Thuộc kiểu này là một số ngôn ngữ Châu Phi (tiếng Bantu và Semi-Bantu) và các ngôn ngữ Australia
3- Các ngôn ngữ có loại từ vị ngữ (predicate classifier languages): tức là loại
từ kết hợp với động từ chỉ sự vận động, vị trí ở trong câu Thuộc kiểu này có các ngôn ngữ Navajo (của các thổ dân Bắc Mỹ) và các ngôn ngữ Athapaskan
4- Các ngôn ngữ có loại từ nội vị (intra-locative classifier languages): đây là kiểu loại từ (bắt buộc) kết hợp với danh từ trong các cấu trúc diễn đạt vị trí Kiểu loại từ này có mặt chỉ trong 3 ngôn ngữ: tiếng Toba, tiếng Nam Mỹ và Eskimo
1.1.1.2 Quan điểm của Aikhenvald
Theo Aikhenvald [146], hầu hết các ngôn ngữ đều có một số các phương tiện ngữ pháp để phân loại danh từ Thuật ngữ “loại từ” (classifiers) được bà dùng trong công trình của mình như một cái ô dán nhãn cho phạm vi mở rộng của các phương pháp phân loại danh từ Các kiểu loại từ khác nhau có thể được phân biệt bởi các trạng thái ngữ pháp, mức độ của sự ngữ pháp hoá, điều kiện sử dụng, ngữ nghĩa, các kiểu nguồn gốc, phương thức đạt được, và các xu hướng mất đi của loại từ
Bà phân chia loại từ thành các kiểu:
Trang 201 Loại từ danh từ: đây là những loại từ chỉ có thể được dùng để phân lớp danh từ
2 Loại từ số: là các hình vị đặc biệt chỉ xuất hiện bên cạnh số từ, danh từ, từ
định lượng nhằm phân loại danh từ dựa vào hình dáng, kích cỡ và các đặc điểm vốn có khác
3 Loại từ động từ: xuất hiện với động từ, nhưng chúng phân lớp danh từ, rất điển hình trong chức năng S (chủ ngữ nội động) hoặc O (bổ ngữ trực tiếp), bởi các đặc điểm về hình dáng, độ chắc, và tính động vật (animacy)
4 Loại từ định vị: xuất hiện ở vị trí định vị
5 Loại từ chỉ định: kết hợp với từ chỉ định và mạo từ
1.1.1.3 Quan điểm của Karen L.Adam
Theo Karen L.Adam [143, 144] loại từ được tìm thấy trong 3 nhánh của họ
ngôn ngữ Nam Á: Môn-Khmer, Nicobarese, và Aslian Các nhánh này có những đơn vị được coi là loại từ (classifiers) Loại từ có thể là hình vị độc lập, tiền tố, trung tố hay hậu tố, có chức năng phân loại danh từ Mỗi lớp danh từ được xuất hiện với một vài loại từ nhất định, do vậy việc loại từ kết hợp với danh từ nào là do nội dung ngữ nghĩa của loại từ quy định
Ông đã đưa ra các phương diện ngữ nghĩa mà loại từ trong các ngôn ngữ Nam Á ngầm chỉ: chỉ sinh vật, vô sinh vật (hình tròn, dài và rắn, dài và mỏng hoặc mềm, phẳng và các phạm vi mở rộng khác như là hoa quả, rau, hạt…)
1.1.1.4 Quan điểm của Greenberg
Greenberg [194] là một trong những người đầu tiên nghiên cứu về loại từ Mặc dầu trong bài viết của mình ông không nói một cách công khai bất cứ phương pháp phân loại danh từ nào, nhưng hiện tượng phân loại thay đổi được đề cập bên cạnh loại từ, ông cũng gợi ý về mối tương quan giữa sự tồn tại của loại từ trong một ngôn ngữ và các phạm trù ngữ pháp khác như sự thể hiện bắt buộc của số từ
Greenberg trong bài viết của mình đã khẳng định sự khác nhau chủ yếu giữa loại từ và lượng từ (đơn vị đo lường ước lượng) là cùng xuất hiện trong một
Trang 21vị trí cú pháp nhưng loại từ không cho biết thêm bất cứ thông tin nào hoặc không
có nghĩa nào khác ngoài nghĩa “đơn vị” trong khi đó đơn vị đo lường ước lượng lại cung cấp cho chúng ta những nhận thức nhất định về số lượng danh từ đi sau
nó Vì vậy ông khẳng định rằng loại từ là những đơn vị thừa ra khi dịch sang các ngôn ngữ không có loại từ như tiếng Anh
1.1.2 Các đặc điểm chung của loại từ
1.1.2.1 Đặc điểm hình thái và cấu trúc có chứa loại từ
Về mặt hình thái học, loại từ trong các ngôn ngữ trên thế giới có một số đặc điểm sau:
1 Loại từ có thể là các đơn vị từ vựng độc lập Chúng thường có cấu trúc là St +
Lt + Dt hoặc Dt + St + Lt Đây là đặc điểm điển hình trong các ngôn ngữ đơn lập
Hầu hết các nhà ngôn ngữ học khi nghiên cứu về loại từ trong các ngôn ngữ trên thế giới đều thống nhất: danh ngữ có chứa loại từ thường có 4 kiểu cấu trúc thường gặp như sau:
a) St + Lt + Dt: thuộc kiểu này thường có các ngôn ngữ thổ dân da đỏ ở Châu
Mỹ, ngôn ngữ Bangladesh, tiếng Hán, các ngôn ngữ Malayu, các ngôn ngữ Xê mít
và tiếng Việt
b) Dt + St + Lt: thuộc kiểu này thường có các ngôn ngữ Miến Điện, Nhật, Thái…
c) Lt + St + Dt: tiếng Kiriwina (ngôn ngữ đại dương)
d) Dt + Lt+ St: các ngôn ngữ ở quần đảo thuộc bang Louisiade (ngôn ngữ đại dương)
Không bao giờ có trường hợp danh từ nằm xen giữa loại từ và số từ
2 Loại từ có thể là phụ tố, hoặc là các yếu tố gắn với số từ (clitic), hoặc hoà tan với số từ
Các ngôn ngữ hoà kết thường có loại từ hoà tan với số từ mà điển hình là tiếng Telugu [210]
Trong tiếng Nhật có hàng trăm loại từ gắn kết với số từ, tuy nhiên, trong ngôn ngữ hàng ngày người Nhật thường dùng khoảng 38 loại từ [181, tr 317] & [185]
Trang 22Theo các nhà nghiên cứu thì loại từ phụ tố và loại từ độc lập có những điểm khác nhau cơ bản:
+ Thứ nhất: Khả năng sáng tạo loại từ độc lập là khác nhau ở người nói (từ người này sang người khác), trong khi đó, khả năng tái tạo loại từ phụ tố luôn luôn
cố định, không thay đổi đối với người sử dụng
+ Thứ hai: Loại từ độc lập chỉ hình dáng, kích thước… của vật thể, loại từ phụ tố chỉ ra sự tương ứng của danh từ với loại từ trong sự đối lập động vật >< bất động vật
+ Thứ ba: Sự lựa chọn loại từ độc lập cũng tự do hơn Một danh từ có thể kết hợp với hơn một loại từ độc lập, tuỳ thuộc vào các đặc tính riêng biệt, hoặc tuỳ thuộc vào các đặc điểm tương ứng có nằm trong mục đích miêu tả hay không Điều này cho đến nay không có ở loại từ phụ tố
1.1.2.2 Đặc điểm ngữ nghĩa của loại từ
Phổ quát về đặc điểm chung của loại từ
1- Loại từ có thể là một lớp từ loại mở trong các ngôn ngữ
2- Trong một số ngôn ngữ có loại từ thì không phải tất cả các loại danh từ đều có thể kết hợp với loại từ Một số danh từ không thể đi kèm với một loại từ nào, điều này tuỳ thuộc vào đặc điểm của danh từ là gì
3- Phạm vi đối lập về ngữ nghĩa của loại từ thường liên quan đến động vật/ bất động vật, liên quan đến giới tính, tuổi tác, hình dáng, kích cỡ và cấu trúc của danh từ mà nó kết hợp
4- Loại từ thường là các đơn vị từ vựng độc lập, nhưng trong một số ngôn ngữ loại từ cũng có thể là các phụ tố cho số từ hoặc đại từ chỉ định
Các phạm trù ngữ nghĩa của loại từ
Hầu hết các nhà ngôn ngữ học khi nghiên cứu về loại từ đều khẳng định:
phần lớn loại từ có nghĩa
Có một số quan điểm cho rằng loại từ không có nghĩa, thì Allan [147] khẳng định: “nếu loại từ không có nghĩa thì việc sử dụng các loại từ khác nhau với cùng
Trang 23một danh từ sẽ không có ảnh hưởng gì về ngữ nghĩa cả, nhưng thực tế là có, trong văn cảnh thông thường cũng như trong các cách sử dụng ngôn ngữ thì các loại từ khác nhau được dùng với cùng một danh từ đều nhằm tập trung vào những đặc điểm khác nhau của đối tượng sở chỉ”
Sau khi tham khảo các tài liệu nghiên cứu về loại từ trong các ngôn ngữ
chúng tôi có thể rút ra nhận xét: số lượng loại từ nhiều hay ít tuỳ thuộc vào mỗi
ngôn ngữ, nhưng chung quy lại có các nhóm ngữ nghĩa mà loại từ phân loại là (tuy
nhiên không phải loại từ trong ngôn ngữ nào cũng có đầy đủ các nghĩa này): 1 Chất liệu; 2 Hình dáng; 3 Tính bền vững (consistency); 4 Kích cỡ; 5 Vị trí; 6 Cá thể
>< tập hợp ; 7 Động vật >< bất động vật ; 8 Động vật >< người (loại từ còn có sự phân loại về con người tỉ mỉ hơn, liên quan đến giới tính, tuổi tác, địa vị xã hội )
Nhóm ngữ nghĩa 1→5 chỉ xuất hiện trong các ngôn ngữ loại từ, ba nhóm sau xuất hiện cả trong các ngôn ngữ như tiếng Anh (được coi là ngôn ngữ không có loại từ) Các phạm trù đan xen vào nhau, nhiều loại từ có sự kết hợp của hơn hai phạm trù, vì vậy đây là chủ đề cho sự phân tích nghĩa tố
Nhiều ngôn ngữ chỉ có một loại từ chỉ người, ví dụ như tiếng Achagua (ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Arawak) và tiếng Nhật [209, tr 20] Tiếng Nhật chỉ có một loại từ chỉ người nhưng có rất nhiều loại từ cho danh từ không phải con người Sau khi phân chia danh từ thành lớp chỉ người và không chỉ người, loại từ trong tiếng Nhật lại tiếp tục chia nhỏ lớp không phải là con người thành các lớp với các loại từ tương
ứng Ví dụ hiki “động vật, côn trùng, cá”, too “động vật lớn (ngựa, bò)”, wa “chim”,
bi “cá” và hai “mực ống”…
Theo các nhà ngôn ngữ học thì nếu trong một ngôn ngữ có hơn một loại từ dành cho con người, thì sẽ có sự phân loại xa hơn về con người theo chức năng và địa vị xã hội của họ
Trong các ngôn ngữ Đông Nam Á, một số ngôn ngữ Tây Tạng – Miến Điện [146], tiếng Hàn Quốc, tiếng Việt, tiếng Hán… con người được phân loại bởi vị trí
xã hội hoặc theo mối quan hệ họ hàng Việc lựa chọn loại từ nào cho người trong từng ngữ cảnh mang tính văn hóa, tình cảm và thái độ của người nói
Trang 24a Các đặc điểm vật lý của thực thể:
Loại từ còn có chức năng phân loại danh từ theo các đặc điểm vật lý hữu cố của danh từ, nghĩa này được dùng với các danh từ không phải là con người (inanimate), nói cách khác, đó là các danh từ chỉ đồ vật Vì vậy, có thể nói, loại chỉ
đồ đạc thường bao gồm các nghĩa sau:
- Hình dáng và chiều: đây là phạm trù nghĩa thường được sử dụng rộng rãi
trong các hệ thống loại từ Tuy nhiên, các ngôn ngữ khác nhau có những cách nhìn nhận về chiều và hình dáng của vật khác nhau Người sử dụng ngôn ngữ dựa vào đặc điểm nổi trội của vật mà họ tri nhận được để sử dụng loại từ có nghĩa nào kết hợp với danh từ Theo Frawley [192, tr 123] các ngôn ngữ có xu hướng mã hoá một hoặc hai chiều hơn là 3 chiều Tuy nhiên trong tiếng Thái thì các vật có hình dáng phẳng cũng được tri nhận một cách rõ ràng giống như vật có chiều dài và có 3 chiều [202, tr 206] Trong tiếng Nhật [184, 192] loại từ có nghĩa chỉ các vật theo
không gian 3 chiều ko “vật tròn hơi nhỏ” thường ít được dùng hơn loại từ cho vật có
mặt phẳng (hai chiều) và cho các vật thể dài (một chiều)
- Các tham tố nghĩa khác như sự mở rộng về không gian, thời gian, những tính chất bên trong của vật thể (nội vật- interioricity) và những giới hạn về phạm vi,
đường biên bao quanh của vật thường chồng chéo trong hệ thống nghĩa của loại từ
- Chiều hướng (directionality) hoặc phương hướng (orientation) đi cùng với
chiều kích (dimensionality) và hình dáng của vật thể trong nội hàm nghĩa của loại
từ Các vật phẳng thường được trải ra theo chiều ngang và vật dài có xu hướng theo
chiều thẳng đứng (ví dụ batang “vật dài thẳng đứng” Inđônêxia – xem sơ đồ ở
chương III)
- Phạm trù kích cỡ hiếm khi được dùng như một tham số nghĩa độc lập, nó
thường được dùng với phạm trù chiều và hình dáng, như trong tiếng Inđônêxia helai
“phẳng, dễ uốn, giống như tấm ga trải giường”, bidang “bề mặt mở rộng, ví dụ như
cánh đồng, đồng – đây là những loại từ chỉ vật có bề mặt phẳng, rộng được người bản ngữ tri nhận trong không gian là hai chiều nhưng lại không đề cập đến các vật
kết hợp với helai, bidang có kích thước như thế nào
- Tính vững chắc (consistancy) được tri nhận bằng hai tham tố nghĩa: mềm/
dẻo >< cứng/ rắn
Trang 25- Thể chất (constitution) (lỏng>< rắn) cũng được tri nhận và sử dụng trong
loại từ
b Loại từ phân loại thực thể dựa vào đặc điểm chức năng:
Các đặc điểm chức năng cũng thường được phân loại trong hệ thống loại từ giống như hình dáng và chiều Các ví dụ thường được trích dẫn về loại từ dựa trên
cơ sở chức năng thường được lấy từ tiếng Thái, tiếng Hmông, tiếng Miến Điện
Trong tiếng Thái [179] khan được dùng để chỉ các vật với độ dài có thể cầm, tuy nhiên hiện nay loại từ khan còn có thể dùng cả cho ô tô, xe đạp, xe máy, xe buýt và các loại xe cộ khác Trong tiếng Hmông [155] loại từ rab được dùng cho các công
cụ, đồ dùng có thể cầm nắm
Loại từ dựa vào chức năng thường có tính đặc trưng văn hoá cao Bởi lẽ các danh từ mà chúng kết hợp được dùng để làm gì tùy theo văn hóa, quan niệm của từng nước, từng cộng đồng sử dụng ngôn ngữ đó Việc lựa chọn loại từ nào với những chức năng, ngữ nghĩa nào kết hợp với danh từ cho thấy cách tri nhận của người sử dụng ngôn ngữ đó, tri nhận về thế giới thực tại, thế giới khách quan như thế nào, điểm nổi trội nào được người sử dụng tri nhận Câu hỏi đặt ra là trong các phạm trù ngữ nghĩa của loại từ phạm trù nào có tính chất quyết định để người sử dụng lấy làm căn cứ? Liệu hình dáng, chiều, chất liệu hay là chức năng là căn bản trong việc quyết định chọn loại từ Theo Bisang [155], Downing [184], trong hệ thống loại từ chức năng có thể được coi là đặc trưng ngữ nghĩa thứ hai (không bắt buộc có mặt) còn các đặc điểm vật lý là các đặc điểm về hình dáng, kích thước được coi là đặc trưng ngữ nghĩa thứ nhất (bắt buộc khi quyết định sử dụng một loại từ nào, mặc dầu chức năng có thể là tham số căn bản đối với một số loại từ trong một
số ngôn ngữ, ví dụ như rab “công cụ hoặc phương tiện” trong tiếng Hmông)
c Tính cá thể hóa và tính định lượng:
Theo những nghiên cứu mà chúng tôi có được thì loại từ trong tất cả các ngôn ngữ đều hướng tới việc xác định tính cá thể (đơn nhất) hay tập hợp cho thực thể mà nó kết hợp Các từ có nghĩa tập hợp là các đơn vị định lượng (từ chỉ đơn vị
đo lường ước lượng) để xác định danh từ đó có số lượng là bao nhiêu Nghĩa của các đơn vị đo lường ước lượng thường liên quan đến đặc trưng văn hóa của mỗi nước, do vậy người nghiên cứu khó có thể tiên đoán được
Trang 26Như vậy, có thể khái quát lại các tham tố nghĩa thường được thể hiện qua loại từ trong các ngôn ngữ trên thế giới như sau:
Sơ đồ 1.1 Các tham tố nghĩa của loại từ
1.1.2.3 Sự phân biệt giữa loại từ và từ chỉ đơn vị đo lường
Hầu hết các nhà nghiên cứu ngôn ngữ khi nghiên cứu về loại từ đều chú ý đến một đơn vị tương tự với loại từ, đó là từ chỉ đơn vị đo lường Ý kiến của các nhà nghiên cứu trên thế giới cũng như trong nước không thống nhất với nhau về việc nên coi loại từ và từ chỉ đơn vị đo lường là cùng một loại, hay loại từ là một đơn vị từ độc lập khác với từ chỉ đơn vị đo lường, hay coi loại từ là một tiểu loại của danh từ Thực tế việc gọi tên một đơn vị nào đó là điều không quan trọng, mà quan trọng hơn cả là bản chất thực sự của chúng là gì Với nhận thức như vậy, trước
Thái độ
Vị trí Hình dáng Kích cỡ Chất liệu Tính bền vững Chiều (không gian) Tính nội vật Thể chất
Trang 27hết chúng tôi đi vào xem xét bản chất của hai tiểu loại từ trên, từ đó chúng tôi sẽ có những kết luận riêng của mình
Trước hết, có thể nhắc đến ý kiến của Lyons “loại từ là yếu tố dùng để cá thể hoá bất cứ đối tượng nào mà nó miêu tả” [219, tr 463], còn từ chỉ đơn vị đo lường “là một yếu tố cá thể hoá trong những thuật ngữ định lượng” [219, tr.464]
Loại từ phân loại danh từ qua các đặc điểm hữu cố của đối tượng theo các tiêu chí, đó là: người hay động vật, thực vật, đồ vật Đến lượt nó, đồ vật lại được phân loại theo hình dáng, kích cỡ, đặc tính, độ đặc loãng… còn từ chỉ đơn vị đo lường được dùng để đo lường các đơn vị của danh từ đếm được và danh từ khối Sự lựa chọn từ chỉ đơn vị đo lường được quyết định bởi 2 yếu tố:
+ Số lượng hay đơn vị đo lường của thực thể
+ Đặc điểm vật lý của thực thể (như là tính lâu dài, thường xuyên hay chỉ trong một giai đoạn, tạm thời)
Chẳng hạn, từ chỉ đơn vị đo lường han trong tiếng Hàn Quốc được dùng riêng cho việc đo lường rượu gạo và có thể dịch như là cái cút trong tiếng Việt [215]
Aikhenvald trong công trình nghiên cứu của mình [146], mặc dù đã phân biệt những điểm khác nhau nhất định về mặt ý nghĩa của hai kiểu từ loại này, nhưng Aikhenvald đã gọi tên cả hai đối tượng trên đều là loại từ, và phân biệt loại từ (numeral classifiers) và loại từ chỉ đơn vị đo lường (measural classifiers)
Ahren [150, tr 204] nói “loại từ chỉ có thể phân loại qua nhóm điển hình và giới hạn của danh từ, trong khi các từ đo lường có thể được sử dụng như sự đo lường biến thể rộng lớn của danh từ.”
Hầu như mỗi ngôn ngữ đều có đặt ra vấn đề các yếu tố định lượng giống hay khác loại từ Tuy nhiên do loại từ và các yếu tố định lượng có thể khó phân biệt nếu chúng chiếm giữ vị trí giống nhau trong một danh ngữ nên Burling [157] không phân biệt loại từ với từ chỉ đơn vị đo lường, ông dùng thuật ngữ “loại từ” để chỉ tất
cả các yếu tố xuất hiện ở vị trí ngay sát số từ
Về mặt ngữ nghĩa, ngữ pháp thì các từ chỉ đơn vị đo lường và loại từ có sự khác nhau Loại từ được sử dụng như là một đơn vị để kết hợp với danh từ đếm được, trong khi đó các yếu tố chỉ đơn vị đo lường được tạo nên như các đơn vị dùng
Trang 28để tính toán Loại từ phân loại danh từ về kích cỡ, hình dáng và tính động vật hay bất động vật, chúng không cung cấp thông tin chỉ “số lượng” Các từ chỉ đơn vị đo lường có ít sự giới hạn hơn loại từ về kiểu danh từ chúng có thể đi kèm
Sự phân biệt giữa loại từ và từ chỉ đơn vị đo lường thường được liên kết với sự phân chia danh từ thành danh từ đếm được và danh từ khối (không đếm được) Danh từ khối chỉ có thể kết hợp với số từ qua việc sử dụng từ định lượng [143, tr 9]
Sự xuất hiện của loại từ trong ngữ số từ kết hợp với danh từ có thể là bắt buộc nhưng cũng có thể là không bắt buộc trong một số ngôn ngữ Trong tiếng Inđônêxia, loại từ thường bị bỏ đi trong ngôn ngữ hàng ngày, và trong một số trường hợp điều này không làm thay đổi nghĩa của danh ngữ Nhưng trong tiếng Việt và nhiều ngôn ngữ khác thì loại từ bắt buộc phải có mặt khi muốn tính đếm một đối tượng cụ thể nào đó Tuy nhiên, đối với từ chỉ đơn vị đo lường thì không có khả năng như vậy, sự vắng mặt của từ chỉ đơn vị đo lường sẽ ảnh hưởng đến nghĩa của cả ngữ đoạn
Trong tiếng Khmer, loại từ là bắt buộc trong ngôn ngữ chuẩn, nghi thức, nhưng không bắt buộc trong ngôn ngữ phi nghi thức, tuy nhiên từ chỉ đơn vị đo lường là bắt buộc trong mọi trường hợp [143, tr 9]
*) Các tiêu chí ngữ pháp hoá để phân biệt loại từ và từ chỉ đơn vị đo lường
Loại từ và các từ chỉ đơn vị đo lường khác nhau về khả năng sử dụng trong các ngữ cảnh như trong việc sử dụng lặp lại (anaphoric) và về sự hợp dạng
Trong tiếng Nùng [232, tr 25-29] chỉ có loại từ mới có khả năng sử dụng lặp
lại với nghĩa là người, vật thay thế cho danh từ chính Ví dụ loại từ óhng “người” được sử dụng lặp lại với nghĩa tất cả mọi người (trong khi đó, nếu so sánh với
tiếng Việt thì đây không phải là loại từ, mà chỉ là từ láy – theo quan niệm một một số học giả)
Lt: người Lt: người cũng đến nhìn (Mọi người cũng đến nhìn)
Trang 29Lobel [218, 30] cho rằng “sự gắn kết giữa từ chỉ đơn vị đo lường với một danh từ không mạnh bằng giữa một loại từ với một danh từ mặc dù về cấu trúc bề
mặt thì giống nhau” Ví dụ như từ rưỡi “một nửa” có thể đứng giữa từ chỉ đơn vị
đo lường và danh từ, như trong ví dụ
(một và một nửa cân chó (thịt) (ở cửa hàng bán thịt)
Điều này là không thể xảy ra trong danh ngữ có chứa loại từ, vì vậy ví dụ trên phải nói là:
1.1.2.4 Chức năng của loại từ
Khi nói đến chức năng định lượng của loại từ những người nghiên cứu ngữ pháp thường nhắc đến ý kiến của Denny [182, tr 298], ông cho rằng “danh từ thì đưa ra một vài kiểu loại về khối lượng (mass) còn loại từ thì đưa ra đơn vị để tính đếm khối lượng này” T‟sou [233] lại có một cách giải thích khác về chức năng định lượng của loại từ bằng việc ông đưa ra thuật ngữ số lượng và thực thể Loại từ sẽ được dùng khi danh từ trong danh ngữ cần phải được cá thể hóa Và như chúng ta
đã biết, trong một danh ngữ, danh từ có thể bỏ đi (nếu ngữ cảnh cho phép) nhưng
loại từ thì không thể lược bỏ (ngoại trừ một số ngôn ngữ không bắt buộc có sự xuất hiện của loại từ), bởi lẽ loại từ có chức năng chỉ ra kiểu loại cá thể đang được tính đếm, còn danh từ chỉ có tác dụng xác định một vài đặc điểm của chúng mà thôi
[182, tr 301] Ví dụ sau trong tiếng Inđônêxia cũng như trong tiếng Việt minh chứng cho điều này, cả danh từ và loại từ đều xuất hiện trong câu hỏi nhưng chỉ có loại từ được giữ lại trong câu trả lời:
Trang 30Vd 1.5a berapa lamang se-batang?
bao nhiêu lamang một- Lt: dài, cứng
“Bao nhiêu tiền một cái lamang?” (lamang là ống nứa cơm nếp (cơm lam) như của đồng bào thiểu số của Việt Nam)
Vd 1.5b seribu se-batang
một nghìn một -Lt: dài, cứng
“Một nghìn (rupi) một cái”
Một khi đặc điểm hay phạm vi của thực thể (lamang) đã được thiết lập thì danh
từ có thể lược bỏ, nhưng loại từ - yếu tố chỉ vật có hình dài là cần thiết phải có mặt
Chức năng phân loại của loại từ
Loại từ cung cấp thông tin về loại của thực thể Các phương pháp phân loại danh từ trong ngôn ngữ phản chiếu thế giới vật lý giống nhau của thực thể Như chúng ta biết tất cả các ngôn ngữ đều sử dụng một số các đặc điểm sở biểu của danh từ cho sự phân loại, các đặc điểm này dựa vào tính tự nhiên và chức năng của thực thể Loại từ có tác dụng cung cấp cho con người tri giác sự vật hiện tượng theo lớp, loại và có được những nhận thức rõ ràng hơn về sự vật hiện tượng, quy lớp sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan thành những phạm trù, hay còn gọi là những ô kiến thức Loại từ cũng đại diện cho những phạm trù ngữ nghĩa hay nói cách khác là loại từ có vai trò tổ chức, sắp xếp cho kiến thức của con người được mã hoá trong ngôn ngữ Những sự hiểu biết này tương quan với các biến thể văn hoá - xã hội, và với các nguyên tắc phổ biến của sự tri nhận
Nó có thể phản ánh lớp tri nhận và lớp chức năng của vật thể trong mỗi nền văn hoá riêng
Tuy nhiên, loại từ mã hoá các thông tin khác nhau bằng cách chuyển tải qua danh từ Có hai khả năng xảy ra sau đó (cả hai khả năng này cho thấy rằng loại từ không dư thừa về nghĩa):
- Khả năng thứ nhất là loại từ có tác dụng cộng thêm thông tin cho danh từ
Đây là điều rất đặc biệt đối với trường hợp các loại từ khác nhau được sử dụng với cùng một danh từ
Trang 31Việc lựa chọn loại từ nào cho con người có thể phụ thuộc vào địa vị xã hội của người sử dụng ngôn ngữ Một sinh viên có thể được coi là một người bình thường, hoặc cũng có thể là một thành viên trong lớp người có địa vị xã hội cao trong tiếng Hàn Quốc [215]
Một ví dụ nổi tiếng trong tiếng Miến Điện [151, tr 113] minh hoạ cho quan điểm này “Sông” có thể được nói ít nhất trong 8 văn cảnh với 8 loại từ khác nhau,
và nó chứng minh cho việc loại từ không hề dư thừa về nghĩa
Bảng 1.1 Các loại từ khác nhau được sử dụng với cùng một danh từ trong tiếng
myi? tə khu‘ Sông là một thực thể tri nhận trong khái niệm (như
trong cuộc thảo luận về các con sông nói chung)
- Khả năng thứ hai là loại từ cũng bổ sung thông tin được chuyển tải bởi
danh từ Chúng cung cấp cho người sử dụng biết các thực thể mới có thể phù hợp với hệ thống ngữ nghĩa nào, thuộc vào lớp nào đã tồn tại trước đó Ví dụ như trong
tiếng Nhật, danh từ kokki “lá cờ tổ quốc” có thể được dùng với các loại từ khác nhau tuỳ thuộc vào trạng thái của nó (cờ đang bay hay là đang được gập) [181] Nếu
một ngôn ngữ có một số phương pháp phân loại danh từ thì các phương pháp này
bổ sung thông tin cho danh từ bằng các cách khác nhau Benton [152, tr 142-143]
đã nói về việc loại từ bổ sung thêm nghĩa cho danh từ như sau: “Việc sử dụng đúng loại từ … tạo ra khả năng có thể mở rộng nghĩa trên nền tảng cụ thể với sự mơ hồ
Trang 32về nghĩa nhỏ nhất Danh từ thường có nghĩa khái quát hoá cao, và chúng cũng thường được sự hỗ trợ về nghĩa của các loại từ khác nhau Những đặc điểm nổi trội của sự vật hiện tượng được thể hiện thông qua loại từ có những trường hợp chồng chéo lên nhau, hoặc thậm chí đôi khi trái ngược nhau”
1.1.2.5 Đặc điểm tri nhận của người bản ngữ phản chiếu qua loại từ
Allan [147, tr.308] đã nói: “Ngôn ngữ phân loại thực thể theo các cách tương
tự nhau là điều không có gì phải ngạc nhiên nếu chúng ta đứng trên quan điểm rằng: nhận thức của con người trên thế giới nói chung là giống nhau, điều này được phản ánh qua việc con người tri nhận thế giới hiện thực thông qua việc phân lớp và phân chia các phạm trù ngôn ngữ”
Các đặc điểm tri nhận của con người dựa trên cơ sở tính tự nhiên của thực thể
Theo đó, tham số ngữ nghĩa động vật hay con người là tham số đầu tiên được con người tri nhận qua ngôn ngữ, tham số thứ hai là hình dáng của thực thể Adam [144]
và Conklin [169] cho rằng, một trong những ấn tượng đầu tiên của con người liên quan đến thị giác Đồng quan điểm như vậy, Allan [147, tr 308] cũng cho rằng khi nói đến nghĩa của loại từ là phải nói đến những đặc điểm mà con người có thể tri nhận được qua thị giác Nhờ thị giác con người tri nhận thế giới tự nhiên qua các đặc điểm động vật hay bất động vật, hình dáng, kích cỡ, chất liệu và cuối cùng là chức năng Trong các tham số ngữ nghĩa này thì tham số hình dáng là nổi trội nhất, tham số kích cỡ ít quan trọng hơn, tham số chức năng thường ít được nhắc đến Bởi
lẽ, chức năng của sự vật hiện tượng sẽ khác nhau trong mỗi ngôn ngữ tùy thuộc vào đặc trưng văn hóa của mỗi cộng đồng
Theo Frawley [192, tr 134-135] quá trình thị giác liên quan đến sự ước tính
và tri nhận về chuỗi Sự tri nhận đó diễn ra như sau: một chiều > hai chiều (các bề mặt phẳng) > hai chiều (các bề mặt cong) > ba chiều (các vật bình thường) Con người tri nhận sự vật dưới dạng một chiều, hai chiều nhiều hơn vật 3 chiều, một và hai chiều được tri nhận trước sau đó mới đến 3 chiều Đây là lý do giải thích tại sao
sự phân biệt hình dáng là tham tố nghĩa tồn tại trong hầu hết các ngôn ngữ có loại
từ Ngoài ra, đặc điểm nổi trội của thực thể mà con người dễ tri nhận hơn nữa là hình dáng của vật cong hay thẳng
Trang 331.1.2.6 Về nguồn gốc của loại từ
Loại từ thường có nguồn gốc trực tiếp từ các lớp mở của hệ thống từ vựng, hoặc từ một tiểu nhóm của một lớp từ vựng nào đó [170, tr 61] Nguồn từ vựng phổ biến nhất của loại từ là danh từ, động từ cũng có nhưng ít hơn Tính từ, trạng từ cũng là lớp từ vựng mở nhưng các lớp này không có xu hướng phát triển thành loại
từ Các nhóm ngữ nghĩa khác nhau của danh từ và động từ cũng đồng thời tạo thành các kiểu loại từ khác nhau
Các nhóm danh từ phát triển trở thành loại từ là rất phổ biến ở trong các họ
ngôn ngữ Các ngôn ngữ Australian (Úc) sử dụng nhóm danh từ chung như rau,
thịt (hoặc các loài động vật có thể lấy thịt), và các từ chỉ con người (như đàn ông, đàn bà, và người) làm loại từ chung Các ngôn ngữ của người Mayan (thuộc
Mexico) có nhóm loại từ chỉ phạm vi tương tác xã hội, văn hóa, tín ngưỡng (đàn
ông, người đàn ông đáng kính, các vị thần) Loại từ có thể có nguồn gốc từ động vật, chó, ngô, đá, nước Các từ chỉ vật nuôi trong nhà hay thức ăn, đồ uống cũng
có thể trở thành loại từ [174]
Các tiểu nhóm danh từ thường lâm thời trở thành loại từ là:
- Bộ phận cơ thể người như: tay, chân, mặt…
Một cánh tay (tay – Dt) một tay bác sĩ (Lt)
Một cái chân (chân –Dt) một chân bóng bàn (Lt)
- Từ chỉ quan hệ họ hàng, từ chỉ người (đàn ông, đàn bà) và động vật bậc cao
Khi danh từ trở thành loại từ nó có thể trải qua một số sự thay đổi về nghĩa như sau:
Trang 341- Danh từ chung có thể trở thành loại từ chung
2- Danh từ chung có thể trở thành loại từ hạn chế cho một số lớp sự vật hiện tượng 3- Danh từ cụ thể có thể trở thành loại từ chung
1.2 Loại từ trong các ngôn ngữ trên thế giới
1.2.1 Sự phân bố loại từ trong các ngôn ngữ trên thế giới
Việc nghiên cứu về loại từ trong các ngôn ngữ trên thế giới đã được nhiều nhà nghiên cứu chú ý đến nhằm làm rõ hơn nữa bức tranh chung về loại từ Trong những năm qua, số lượng các công trình nghiên cứu về các kiểu loại từ trong các loại hình ngôn ngữ cũng như trong từng ngôn ngữ riêng lẻ đã cung cấp cho các nhà nghiên cứu trên thế giới một cái nhìn tổng quát về loại từ trong các ngôn ngữ cũng như về sự phân bố của loại từ trong các ngôn ngữ trên thế giới
Khi nghiên cứu về sự phân bố các ngôn ngữ trên thế giới, David Gil [177] đã chia các ngôn ngữ ra thành 3 nhóm dựa trên việc có sử dụng loại từ hay không trong cấu trúc danh ngữ (tổng số các ngôn ngữ mà ông nghiên cứu là 400 ngôn ngữ):
- Nhóm thứ nhất là các ngôn ngữ vắng mặt loại từ (260 ngôn ngữ)
- Nhóm thứ hai là các ngôn ngữ không bắt buộc sử dụng loại từ (62 ngôn ngữ)
- Nhóm thứ ba là các ngôn ngữ bắt buộc sử dụng loại từ (78 ngôn ngữ)
Theo Aikhenvald [146] thì các ngôn ngữ có loại từ (classifier languages) nằm trải rộng ở khu vực phía Đông, Đông Nam Á và khu vực Châu Đại Dương Loại từ có mặt trong rất nhiều ngôn ngữ Tạng – Miến, trong các ngôn ngữ thuộc Trung Quốc, trong hầu hết các ngôn ngữ Môn-Khmer, Munda, Nicobarese Trong các ngôn ngữ viễn Đông, tiếng Nhật, tiếng Hàn Quốc và tiếng Ainu đều có loại từ
Trong các ngôn ngữ Uran, Hung ga ri, Thổ Nhĩ Kỳ, ngôn ngữ đơn lập Xi
bê ri… có một hệ thống loại từ rất lớn Loại từ còn được tìm thấy rải rác ở các ngôn ngữ Bắc Mỹ Loại từ là vấn đề trung tâm nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học khi nghiên cứu ngôn ngữ ở bờ biển Tây Bắc, loại từ cũng có mặt trong các ngôn ngữ như tiếng Eyak-Athabaskan, Haida, Tlingit, Wakashan, Chemakuan [230] Các ngôn ngữ Salisban của vùng Plateau có loại từ chỉ hình dáng Con người – phi con người được phân biệt đối với loại từ trong tiếng Nez Perce, Sahaptin, và tiếng Upper Chinook và một số ngôn ngữ thuộc họ Salish, tiếng Colville [228]
Trang 35Loại từ phân loại danh từ dựa vào hình dáng của vật thể là một đặc điểm nổi trội của các ngôn ngữ vùng Tây Bắc của California; loại từ có mặt trong ngôn ngữ Yurok và Wiyot Nhiều ngôn ngữ ở Mexico và trung Mỹ có loại từ, ví dụ như tiếng Aztec, tiếng Huave, tiếng Totonac, Sierra Popoluca, Zapotec, Nahuatl Các ngôn ngữ Mayan (đặc biệt là các ngôn ngữ này trong nhánh Kanjobalan) có hệ thống mở loại từ trong đó số lượng loại từ rất lớn [146]
Loại từ rất phát triển trong nhiều ngôn ngữ Nam Mỹ, đặc biệt là trong các ngôn ngữ này vùng đồng bằng Amazon, bao gồm các ngôn ngữ của các họ như Arawak, Tucano, Guahibo, Peba-Yagua, Chapahuan, Harakmbet, Bora-Witoto, Nambiquara, Tsafiki và một vài ngôn ngữ đơn lập như tiếng Waorani và Sáliba [183] Một số ngôn ngữ Tupí như tiếng Mundurukú cũng có loại từ
Loại từ được tìm thấy trong một số ngôn ngữ Papua Ngôn ngữ Đông Sapik, Iwam có 5 loại từ, và tiếng Abau [213, tr 744] có 12 loại từ Tiếng Chambri (vùng Lower Sepik) có 5 loại từ được dùng với các số 1 cho đến 4 Ở tỉnh Gulf, một số ngôn ngữ Angan có loại từ Ở vùng cao, tiếng Folapo thuộc họ Teberan, có loại từ [149] Hầu hết các ngôn ngữ Mã lai đa đảo và Đại Dương đều có loại từ Tuy nhiên, loại từ lại dường như vắng mặt trong các ngôn ngữ Mã lai đa đảo được nói ở vùng Đài Loan Một số ngôn ngữ Đại Dương được nói ở vùng Papua New Guinea có các
hệ thống loại từ mở rộng[197]
1.2.2 Loại từ trong các ngôn ngữ Châu Âu
Loại từ (classifier) trong các ngôn ngữ trên thế giới cho đến nay đã được nghiên cứu khá cẩn thận, chi tiết Thực ra, đối với người Việt, với tiếng Việt, còn tranh cãi nhiều về vấn đề liệu có loại từ hay không Nhưng đối với các học giả Châu
Âu thì loại từ là một khái niệm rõ ràng, một đơn vị ngôn ngữ đích thực, đây là đơn
vị có cả nội dung và hình thức hay nói cách khác là có cả hình thức và nghĩa Các học giả đã chia các ngôn ngữ trên thế giới thành các ngôn ngữ có loại từ (classifier languages) và các ngôn ngữ không có loại từ (non-classifier languages) Tuy nhiên, nhiều học giả lại cho rằng tất cả các ngôn ngữ đều có loại từ, nhưng một số ngôn ngữ có loại từ điển hình hơn một số ngôn ngữ khác mà thôi
Trang 36Trong các ngôn ngữ Châu Âu hiện tượng ngữ pháp về giống như là le (giống đực), ví dụ như le couteau (con dao), la (giống cái), như la table (cái bàn); hay là các biểu thức đo lường hoặc tính đếm trong tiếng Anh a piece of paper (một mẩu giấy), a cup of milk (một cốc sữa), a handful of candies (một nắm kẹo), a pile of
clothes (một đống quần áo) cũng được coi là loại từ Tuy nhiên các đơn vị này
trong tiếng Anh không nhiều và không điển hình nên có thể coi tiếng Anh như một ngôn ngữ không có loại từ Đặc điểm của loại từ không giống như phạm trù giống,
mà chúng bao trùm các phạm vi ngữ nghĩa rất đa dạng, chúng tồn tại trong các ngữ cảnh khác bên cạnh việc định lượng, cá thể hóa danh từ …
Phần lớn các ngôn ngữ Châu Âu không có loại từ, tuy vậy, có một số ngôn ngữ có hệ thống loại từ rất phong phú, chẳng hạn như tiếng Balan (có 3 loại từ dùng cho danh từ số ít và hai loại từ số nhiều) Mặc dù không điển hình cho một ngôn ngữ Châu Âu, nhưng tiếng Bengali đã sử dụng hệ thống loại từ để phân loại danh từ Mỗi danh từ trong ngôn ngữ này phải có loại từ tương ứng khi danh từ đó muốn kết hợp với số từ hoặc từ định lượng Hầu hết danh từ tiếng Bengali đều có
thể kết hợp với loại từ chung ţa, bên cạnh đó cũng có rất nhiều loại từ cụ thể, chẳng hạn như jon, tuy nhiên, chỉ có một loại từ chỉ người Số lượng loại từ trong tiếng
Bengali ít hơn nhiều hơn so với loại từ trong tiếng Hán, tiếng Nhật Loại từ trong ngôn ngữ này nhất loạt đều là các phụ tố, không có loại từ là hình vị độc lập
Cũng như loại từ trong tiếng Hán, tiếng Việt…một danh từ đếm được trong
tiếng Bengali không thể xuất hiện mà không có loại từ, ví dụ như không thể nói *aţ
biŗal (tám mèo) mà phải nói aţ-ta biŗal "tám con mèo" Trường hợp *aţ biŗal (tám
mèo) được coi là sai ngữ pháp
Vd 1.6 Kôe-ţa balish (Bao nhiêu-Lt gối)
→ Bao nhiêu cái gối?
Vd 1.7 Char-pañch-jon shikkhôk (bốn – năm – Lt giáo viên)
→ Bốn hoặc năm người giáo viên Tiếng Bengali có 5 loại từ, đó là hậu tố cho số từ, bao gồm [dẫn theo 146]:
- ţa (đếm được, không phải con người)
Trang 37-ti phần nhỏ bé, không quan trọng của -tâ
-jan (con người)
-khana (vật thể lỏng với hình tam giác hoặc có hình phẳng)
-khâni phần nhỏ bé, không quan trọng của -khana (giảm nhẹ nghĩa, nhỏ, bé),
1.2.3 Loại từ trong các ngôn ngữ châu Phi, châu Mĩ
Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học cũng đã quan tâm nhiều đến cái đơn vị gọi
là classifiers trong các ngôn ngữ Châu Phi, Châu Mỹ Có thể nói, loại từ trong các
ngôn ngữ Châu Mỹ, châu Phi là tương đối phổ biến Năm 1991 Corbett viết cuốn
Gender (Giống) [167] được coi như là cuốn từ điển bách khoa toàn thư về các kiểu
phân loại danh từ trong các ngôn ngữ Châu Phi Theo ông trong các ngôn ngữ Châu Phi có một số ngôn ngữ có sự phân biệt giống đực/ giống cái thông qua việc sử dụng loại từ Điển hình là tiếng Swahili, có 8 loại từ chuyên dùng để phân biệt giống Một số ngôn ngữ thuộc khu vực này có số loại từ cho danh từ số ít nhiều hơn loại từ cho danh từ số nhiều Chẳng hạn như tiếng Ful có 23 loại từ dùng cho danh
từ số ít và chỉ có 5 loại từ dùng cho danh từ số nhiều Tiếng Mba có 6 loại từ dùng cho danh từ số ít, 3 loại từ dùng cho danh từ số nhiều Tiếng Seneca [166, tr.13-14]
có 3 loại từ dùng cho danh từ số ít và 2 loại từ dùng cho số đôi và số nhiều Các thế đối lập về nghĩa thường thấy trong loại từ của các ngôn ngữ này là động vật/ bất động vật hoặc con người/ không phải con người Trong các ngôn ngữ Trung Mỹ, thế đối lập (động vật / bất động vật) thường xuất hiện trong nghĩa của loại từ trong một số ngôn ngữ như tiếng Otomanguean và trong tiếng Tequislates
Trong các ngôn ngữ Châu Mỹ có một số ngôn ngữ có loại từ dùng cho động
từ (mà theo thuật ngữ của một số nhà ngôn ngữ học phương Tây thì gọi là loại từ động từ) Trong các ngôn ngữ Bắc Mỹ Ấn - đáng chú ý là tiếng Athabaskan và Iroquoian, và một số ngôn ngữ Trung và Nam Mỹ (như tiếng Ika) loại từ động từ phải được đi với các vật có thể cầm nắm được như, hoặc đi với các từ chỉ vị trí, nơi chốn [191]
Theo Curnow [175, tr.121] loại từ không có mặt trong các ngôn ngữ Bắc Mỹ
Ấn và các ngôn ngữ Papua Trong các ngôn ngữ vùng Nam Mỹ cũng có rất ít loại
Trang 38từ, chẳng hạn như trong tiếng Makú, Jê, AwaPit có vài loại từ danh từ Các ngôn ngữ Châu Mỹ có hệ thống loại từ rất phong phú, có ngôn ngữ có đến vài trăm loại
từ Loại từ trong các ngôn ngữ này có thể gắn với số từ như một hậu tố, hoặc trong một số trường hợp (tuy rất hiếm) là loại từ gắn với số từ như tiền tố
Theo Schauer và Schauer 1978, tiếng Yucuna (Bắc Arawak) [dẫn theo 146]
có 8 loại từ số chỉ hình dáng của vật (tròn, hình trụ, thẳng, cạnh, đối xứng, hình lòng chảo) và loại từ phân biệt con người/ không phải con người Trong tiếng Cora [163, tr 246] loại từ phân loại đối tượng mà chúng kết hợp thành 6 nhóm: 1- Vật dài rắn; 2-Vật tròn; 3- Vật rắn, phẳng; 4- Vật dài, mềm dẻo; 5- Động vật thuần hoá; 6- Con người
Tiếng Chipewyan [161] có các loại từ phân biệt thực thể theo các nghĩa: vật tròn, vật dài như cái gậy, sinh vật sống (động vật hoặc con người), vật chứa đựng, vật thể dạng sợi, tính tập hợp của vật thể, các vật thể giống như cuộn dây (được cuộn tròn), … Trong tiếng Ojibway [180, tr.106-107] các đặc điểm ngữ nghĩa của loại từ giống tiếng Athabaskan, việc chọn loại từ nào phụ thuộc vào hình dáng của
sự vật
Loại từ được tìm thấy rải rác ở một số ngôn ngữ khu vực Bắc Mỹ [230] Danh sách loại từ trong các ngôn ngữ ở khu vực này không nhiều, nghĩa của chúng chủ yếu dựa vào hình dáng và tính động vật Loại từ có mặt trong các ngôn ngữ phía bờ biển Tây Bắc, đó là các ngôn ngữ Eyak-Athabaskan, Haida, Tlingit, Wakashan, Chemakuan và họ ngôn ngữ Salish Thế đối lập con người >< không phải con người được phân biệt trong nghĩa của loại từ trong tiếng Nez Perce, Sahaptin, và tiếng Upper Chinook và trong ngôn ngữ thuộc họ Salish, tiếng Colville [228]
Loại từ phân biệt con người/ phi con người, động vật/ bất động vật, bất động vật với sự phân biệt nghĩa cơ bản là dựa vào hình dáng của vật thể, là một đặc điểm nổi trội của các ngôn ngữ vùng Tây Bắc của California, tiếng Yurok và Wiyot, tiếng Karok Trong các ngôn ngữ vùng Đông Bắc, tiếng Menomini và tiếng Potawatomi
Trang 39(Algonquain) có loại từ dựa vào hình dáng của vật thể Nhiều ngôn ngữ Mexico và Trung Mỹ có loại từ số, ví dụ như tiếng Aztec (Uto-Aztecan), tiếng Huave (ngôn ngữ đơn lập), tiếng Totonac (ngôn ngữ đơn lập), Sierra Popoluca [146]
1.2.4 Loại từ trong các ngôn ngữ châu Á và Đông Nam Á
Việc nghiên cứu loại từ trong các ngôn ngữ Châu Á và Đông Nam Á đã được rất nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm, có thể kể ra một số nhà nghiên cứu với những quan niệm khác nhau như Ia.Plam, Haas, Robert B.Jone, Hundius và Kolver, Bhaskararao và Joshi, Saul, DeLancey, Pacioni, Bisang, LaPolla.R, Crofts, … Ý
kiến của các nhà nghiên cứu đều tập trung vào các điểm sau đây:
1.2.4.1 Sự tồn tại loại từ trong hầu hết các ngôn ngữ Châu Á
Theo các nhà nghiên cứu thì hầu hết các ngôn ngữ ở Châu Á đều sử dụng loại từ Một ngôn ngữ sẽ có loại từ khi người nói bắt buộc phải bằng cách nào đó phân loại người hoặc vật mà họ đang nói đến theo một hướng nghĩa xác định Đối với vật có sự sống, xu hướng ngữ nghĩa này bao gồm có hay không có con người, nếu không phải là con người thì loại sự sống nào được nói đến (động vật, thực vật) hoặc phạm trù chức năng nào đang được nói đến (bắt buộc, mệnh lệnh, đe dọa…) Đối với bất động vật thì xu hướng nghĩa là các đặc điểm vật lý (hình dáng, kích cỡ, vật chất) và chức năng (phương tiện, công cụ)
Các kiểu cấu trúc loại từ khác nhau được tìm thấy trong các ngôn ngữ trên thế giới, nhưng trong các ngôn ngữ Đông và Đông Nam Á, kiểu cấu trúc loại từ phổ biến nhất là cấu trúc loại từ số (numeral classifiers), mà luận án gọi ngắn gọn là cấu trúc loại từ Loại từ thường xuất hiện trong các kiểu cấu trúc danh ngữ, bên cạnh số từ và trong các biểu thức định lượng, đôi khi xuất hiện với đại từ chỉ định Trong các ngôn ngữ Đông Nam Á, đây là loại cấu trúc nổi trội nhất, chiếm đại đa số cấu trúc loại từ (vẫn có loại từ động từ, như trong
tiếng Việt: ngủ một giấc, đánh một cái…), nhưng kiểu cấu trúc này không đáng
kể nên trong luận án chúng tôi chỉ nghiên cứu loại từ xuất hiện trong cấu trúc danh ngữ mà thôi
Trang 401.2.4.2 Đặc điểm hình thái của loại từ trong các ngôn ngữ Châu Á
Một ngôn ngữ có thể có hai kiểu loại từ: 1- loại từ là từ độc lập; 2- loại từ là phụ tố Loại từ trong các ngôn ngữ Châu Á có thể là từ hoặc phụ tố (phụ tố ít phổ biến hơn)
Trong một số ngôn ngữ có trường hợp có 2 loại từ cùng xuất hiện trong một danh ngữ Có sự phân bố chức năng của loại từ khi cả hai loại từ cùng xuất hiện, đó
là một trong hai loại từ vốn là loại từ tự nhiên và loại từ kia có chức năng chỉ ra cách thức sử dụng Chẳng hạn, trong tiếng Yidiny(một ngôn ngữ được nói ở Úc) danh ngữ bulmba walba malan trong đó bulmba là loại từ có nghĩa có thể dùng để ở,
walba là loại từ có nghĩa chỉ từng đơn vị những vật hình khối có bề mặt bằng phẳng, vuông vắn có thể dịch ra tiếng Việt là phiến, malan là đá Vậy, có thể dịch là phiến đá phẳng dùng để cắm trại [183]
Loại từ trong các ngôn ngữ như tiếng Malaixia, Inđônêxia (Bahasa Melayu), tiếng Thái, tiếng Hán, tiếng Việt có cấu trúc điển hình hơn cho các ngôn ngữ có loại
từ ở trong khu vực Đông và Đông Nam Á
Vd 1.8 Tiếng Malaixia: empat ekor kuncing
4 Lt:con mèo (Bốn con mèo)
Vd 1.9 Tiếng Thái: burìi soong múan
thuốc hai Lt:giống như cái gậy (Hai điếu thuốc)
Vd 1.10 Tiếng Hán géi gàan ngùk
vài Lt: tòa nhà (Vài toà nhà cao tầng) Cấu trúc loại từ trong các ngôn ngữ này có kết cấu tương đối giống một số
biểu thức trong tiếng Anh, ví dụ như sheets of paper (tờ giấy), two drops of water (hai giọt nước), two members of the family (hai thành viên gia đình) Tuy nhiên, trong tiếng Anh, các từ sheets, drops, members… không phân lớp sự vật đang được
nói đến mà được coi như là công cụ để đo lường, tính đếm các danh từ sau nó Chúng tôi gọi nó là “từ chỉ đơn vị đo lường ước lượng” khi nó định rõ hình thức về
số lượng các vật chất ở dạng khối, ví dụ như trong ngữ sheets of paper (tờ giấy),