Trong số những vấn đề nổi lên, thu hút được sự quan tâm của đông đáo các nhà nghiên cứu thì việc tìm ra một định nghĩa cho câu tiếng Việt là vấn đề được quan tâm hơn cả.. Với vấn đề “câu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
★ ★ ★
-H O À N G A N -H T U Â N
KHẢO S Á T KHÁI NIỆM CÂU ĐƠN THEO QUAN ĐIỂM TRU YỀN THỐNG V À c ú ĐƠN THEO QUAN ĐIỂM CỦ A NGỮ PHÁP CHỨC NĂNG (HỆ THốNG)
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Ẩ Ltiù ii lì/m n à i/ ittírío h o à n t h à n h o iii u i (JỈÚ ỊI it ĩỉ, (Tôm/ lù è n (‘ủ a u h ì ĩ u
m / itò i (cĩrtìti(ị it í) rp c ị< s íc7 cV ^ỉôoàiii/ <7)011 r( ) â n là n t Ị i iò i c ó D a i trì) (/11(111
t r t ìn ỊỊ n / u ĩt Q u ã n g , t h ò i Ị/ ia n lù m lù ẻ e o íf í 'r ĩh t ỉy lù q n ã u ụ t h ò i Ị/Ù m em có
t h ỉ III I i l t i ỉ u U iêu th u a hì) íc h t ừ c h ín h .111 ( liu ( lắ t , c h í b ả n â n c ầ n CŨI K Ị I ilm
t h ú i itô ỉù u t D Ìêc i i t / h iỉu i t ú c c ú n \ Jh u i/ -r iu (tứ ríe h iu / tó lò m / h iè t (tu MĨII
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa lừng được ai công bố trong bất
kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trang 4NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 5[] Ranh giớ i cụm từ bị bao
a Ap Quan hệ phóng chiếu p phụ thuộc o.
1 A2 Quan hệ bành trướng 2 phụ thuộc 1
Trang 6MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU
2 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 17
Chương l CÚ PHÁP - NHŨNG VẤN ĐỀ CHUNG VÀ VIỆC
NGHIÊN c ú u CÚ PHÁP TIẾNG VIỆT1.1 Đối tượng của cú pháp học, mối QH giữa từ pháp và cú pháp 191.2 Quan hệ cú pháp và hình thức cú pháp 21
1.4 Nghiên cứu cú pháp tiếng Việt ở trong nước 251.5 Một vài đặc điểm của cú pháp tiếng Việt 28
Trang 72.2.2.1 Tiêu chí về ngữ nghĩa - lô gich 33
2.2.2.3 Tiêu chí nhận diện câu dựa trên mục đích nói 362.2.2 4 Tiêu chí dựa trên ngôn điệu, âm vị và văn tự 362.2.3 Xung quanh vấn đề tiêu chí nhận diện câu tiếng Việt 36
2.2.5 Vấn đề phân loại câu theo cấu trúc ngữ pháp 44
2.3 Cáu đon theo quan niệm truyền thông 45
2.3.2.1 Phủ nhân sự tồn tại của các kiểu câu này 542.3.2.2 Chấp nhận sự tồn tại của kiểu câu này 54
Chuông 3 : KHÁI NIỆM c ú TIÊNG VIỆT THEO QUAN ĐlỂM c ủ a
NGỮPHÁP CHỨC NÂNG HỆ THÔNG
3.1 Vai trò và vị th ế của cú trong ngũ pháp truyền thống 57
3.2 Vai trò và vị th ế của cú trong lý thuyết chức năng hệ thống 59
3.3 Cú tiếng Việt giải thích theo quan điểm chức năng hệ thông 64
3.4 Thử vận dụng các tiêu NN, N PTVđểnhận diện cú tiếng Việt 76
3.5 Cú chính và cú phụ 80
3.6 So sánh khái niệm càu (đơn) theo quan điểm truyền thống 8]
và cú (đơn) theo quan điểm chức năng hệ thông
Trang 8PHẦN MỞ ĐẨU
1 MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA CỦA LUẬN VĂN
1.1 Đối tượng nghiên cứu và lý do chọn đ ề tài
Định nghĩa thế nào là câu, vấn đề từ xưa tới nay vẫn được xem là khó khăn bậc nhất của cú pháp học nói riêng và ngữ pháp học nói chung Con
số trên 300 định nghĩa về câu (Hoàng Trọng Phiến 1980: 14) hẳn đã phần
nào chứng tỏ được điều này Bên cạnh khái niệm câu (sentence) trong Iruyền thống nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt còn tổn tại một khái niệm khác - khái niệm cú (clause), sẽ chẳng có gì phải bàn cãi nếu chỉ nhìn qua
hai thuật ngũ' này Tuy nhiên, khác với câu trong truyền thống nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt, khái niệm cú rất ít khi được thảo luận, nó chủ yếu được đặt trong khái niệm câu đơn Điều này không khỏi dẫn đến nhiều hoài nghi xung quanh vai trò và vị thế của hai khái niệm được xem là “có nhiều điểm tương đồng” này
Trong các đường hướng nghiên cứu ngôn ngũ' hiện nay, ngữ pháp chức năng được đánh giá là hướng đi mới đầy triển vọng Ra đời muộn hơn (chỉ vào khoảng những năm 70 của thế kỷ 20) nhưng ngay lập tức ngữ pháp chức năng đã thu hút được sự chú ý của rất nhiều nhà nghiên cứu Trong nội bộ của ngữ pháp chức năng người ta thấy có nhiều hướng đi khác nhau nhưng có hai hướng đi giành được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Đó là hướng chức năng của s Dik (Funtional Grammar) và hướng ngữ pháp chức năng thiên về (hệ thống) của M.A.K Halliday (Systemic Funtional Grainmar) Cả hai dòng ngữ pháp chức năng này đều gắng đạt đến tính phổ quát cao, mong muốn bao quát được mọi ngôn ngữ Tuy nhiên, khi so sánh hai dòng ngữ pháp này người ta thấy ngữ pháp chức năng hệ thống của M.A.K Halliday có tính ưu việt hơn hẳn trong quan điểm
ba bình diện ngữ pháp câu xét về mặt lý thuyết Tính ưu việt của ngữ pháp chức năng của M.A.K Halliday còn thể hiện ở lý thuyết các loại hình sự thể
Trang 9với một vòng tròn khép kín bởi ba khu vực lớn với ba miền trune gian, phản ánh được tất cả các loại hình sự thể Ngoài ra ngữ pháp chức năng của M.A.K Halliday còn được đánh giá cao về tính linh hoạt trong ứng dụng thực tiễn (Diệp Quang Ban 2003: 14, 15).
Đi theo hướng ngữ pháp chức năng, cả s Dik và M.A.K Halliday đều lấy cú làm trung tâm, đối tượng nghiên cứu, làm điểm xuất phát Theo M.A.K Halliday thì cú là một đơn vị có vị thế quan trọng nó là đơn vị hội
tụ đầy đủ ba siêu chức năng (tư tưởng, ngôn bản, liên nhân), nó nằm ớ giao điểm của ba bình diện (tầng, cấp độ và siêu chức năng) M.A.K Halliday cho rằng “cú (cú phức) có thể giúp ta giải thích đầy đủ tổ chức, chức năng của các câu vì thế không nhất thiết phải'đưa vào khái niệm câu như là một phạm trù ngữ pháp tách biệt”, chỉ nên xem “nó như là đơn vị nằm giữa hai dấu chấm” “Làm như vậy sẽ tránh được sự tối nghĩa” (M A.H nlliday (bản dịch tiếng Việt) - 2001: 358).
Tuy đạt được những kết quả khá khả quan nhưng sự vận dụng các đường hướng nghiên cứu vào tiếng Việt vẫn còn rất hạn chế, đặc biệt là các công trình có vận dụng ngữ pháp chức năng còn khá khiêm tốn Đến nay, tính ứng dụng rộng rãi và tính ưu việt của ngữ pháp chức năng đã rõ ràng, nhưng những lý thuyết chung mà M.A.K Halliday lấy tiếng Anh làm ví dụ minh hoạ cho đến một ngữ pháp chức năng (hệ thống) của tiếng Việt là một con đường không ngắn, và dễ đi đòi hỏi có sự góp sức của nhiều người, chính vì thế, việc vận dụng lý thuyết này vào thực tế tiếng Việt lúc này là một việc làm cần thiết
Chính vì nhũng lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài “Khảo sắt khíỉi niệm câu (đơn) theo quan điểm truyền thốns và cú(đơn) theo quan điểm của ngữ pháp chức năng hệ thôhg" Lấy câu (cú đơn) trong tiếng Việt làm
đối tượng nghiên cứu Hy vọng có thể làm sáng tỏ một số vấn đề
Trang 10/ 2 D ự kiến những đóng góp của luận vãn
Đề tài dự kiến sẽ có những đóng góp sau đây:
■ Chỉ rõ bản chất của hai khái niệm “câu đơn” trong ngữ pháp truyền thống và “c ú” trong ngữ pháp chức năng
■ Cho thấy được vai trò và vị thế quan trọng của cú trong nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt, một khái niệm xưa nay chưa được công nhận là đơn vị ngữ pháp cao nhất
■ Góp phần giải quyết vấn đề vẫn còn tồn tại lâu nay, trong ngữ pháp tiếng Việt
1 3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Muốn làm được vậy chúng tôi đặt ra những nhiệm vụ sau đây:
■ Khảo sát khái niệm về câu theo quan điểm truyền thống, nhũng đóng góp và những vấn đề còn tồn tại
■ Các tiêu chí phân loại câu theo truyền thống những ưu, nhược điểm của những tiêu chí phân loại này
■ Khảo sát vai trò của cú trong tiếng Việt theo quan điểm của ngữ pháp chức năng hệ thống của M.A.K Halliday, so sánh với khái niệm câu trong ngữ pháp truyền thống, từ đó chỉ rõ vai trò của nó trong nghiên cứu ngữ pháp
■ Tiêu chí đề phân loại cú, có so sánh với các tiêu chí phân loại câu, từ đó chỉ rõ những điểm mạnh của những tiêu chí này
Trang 11/ 4 Lịch sử vấn đê
Do nhiều nguyên nhân khác nhau mà ngành khoa học ngôn ngữ ớ Việt Nam phát triển muộn hơn nhiều nơi trên thế giới Tuy nhiên, những thành tựu mà ngành ngôn ngữ học nói chung và cú pháp học ở Việt Nam nói riêng đã đạt được là khá khả quan Các nhà Việt ngữ học đã cố gắng vận dụng những đường hướng, quan điểm tiên tiến của nhiều tác giả, trường phái ngôn ngũ' trên thế giới để giải quyết các vấn đề cụ thể của liếng Việt Trong số những vấn đề nổi lên, thu hút được sự quan tâm của đông đáo các nhà nghiên cứu thì việc tìm ra một định nghĩa cho câu tiếng Việt là vấn đề được quan tâm hơn cả Song cũng như nhiều nơi có ngành khoa học ngôn ngữ phát triển vấn đề về câu tiếng Việt đến nay vẫn chưa được giải quyết ổn thoả Với câu hỏi câu là gì? Các nhà nghiên cứu vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau Bên cạnh khái niệm câu, khái niệm cú trong truyền thống nghiên cứu ngũ' pháp tiếng Việt cũng tồn tại như là một đơn vị có vai trò và vị thế đặc biệt Tuy nhiên, theo Cao Xuân Hạo “Thật không có một thuật ngũ' nào bất hạnh hơn” Khái niệm cú rất ít khi được thảo luận và chủ yếu được đặt trong khái niệm câu đơn Sở dĩ, cú ở đây được chúng tôi đề cập đến là vì trong Iruyền thống câu và cú là hai khái niệm chưa được phân biệt một cách rạch ròi
Vì những lý do trên, chúng tôi chọn trình bày lịch sử của hai vấn đề
mà các nhà nghiên cứu còn nhiều ý kiến khác nhau Hai vấn đề không nằm ngoài phạm vi câu hỏi mà các nhà nghiên cứu theo quan niệm truyền thống
đã cố gắng tìm cho nó câu trả lời thoả đáng, đó chính là hai vấn đề và cũng
là hai nhiệm vụ quan trọng của cú pháp học: Câu và cú là gì?
Để tiện cho việc trình bày chúng tôi chia lịch sử nghiên cứu vấn đề thành hai giai đoạn Giai đoạn từ 1945 trở về trước và giai đoạn từ 1945 đến nay Lý do chúng tôi chọn năm 1945 làm ranh giới phân chia hai giai đoạn
là vì năm này đánh dấu sự ra đời của nhà nước Việt Nam Sự ra đời này có vai trò to lớn với sự phát triển không chỉ của ngôn ngũ' học mà còn với
Trang 12nhiều ngành khoa học khác Nhà nước Việt Nam với vị thế mới, đã nâng tiếng nói Việt Nam lên một tầm cao tương ứng và cũng nhờ những chính sách đúng đắn về ngôn ngữ, đã tạo ra được một sự chuyển biến to lớn cả về chất và lượng Đây cũng là mốc thời gian vững chắc để Nguyễn Tài c ẩ n phân kỳ “Giai đoạn tiếng Việt hiện nay” (N guyễn Tài cẩn - 1998 : 8).
1 4 1 Giai đoạn trước 1945
Ớ giai đoạn này việc nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt xét về đại cục chưa có tính chất của một ngành khoa học đích thực Tuy nhiên, có thể xem
đó là nhũng “thử nghiệm đầu tiên” đối với một ngành khoa học còn rất mới
ở Việt Nam Nhìn chung, có thể tóm lược việc nghiên cứu giai đoạn này bằng hai từ “thực tế” và “mô phỏng” (Đinh Văn Đức - 1986: 3, Lưu Vân Lăng - 1988: 5) Có thể thấy rõ điều này qua một số công trình tiêu biểu
giai đoạn này như: Grammaire de la langue Annamite của Trương Vĩnh Kí (1883) Études sưr la langue Annamite của Grammond & Lê Quang Trinh
(1911) Cours élémentaire d ’ Annamite của Bouchet (1912) Việt Nam văn - phạm của Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Phạm Duy Khiêm (1940) v.v
1.4.1.1 Vấn để thứ nhất: Câu là gì?
Với vấn đề “câu là gì” các nhà nghiên cứu ngũ’ pháp tiếng Việt giai đoạn này, không đặt ra cho mình nhiệm vụ phải trả lời và mặc nhiên coi vấn
đề như đã được giải quyết xong, hi hữu có những tác giả định nghĩa “nhưng
đó cũng chỉ là những định nghĩa nhắc lại những định nghĩa về câu trong các sách ngữ pháp dùng ở trường trung tiểu học Pháp” (N guyễn K im Thản- 1997: 501) Ngữ pháp nhà trường của Pháp vốn dĩ đã mang dấu ấn đậm nét
của ngữ pháp duy lý (chủ yếu dựa vào các khái niệm lô gíc như : nhận định (đề nghị / phán đoán) chủ ngữ / vị ngữ.v.v Định nghĩa câu của Trần Trọng Kim - Bùi Kỷ - Phạm Duy Khiêm trong cuốn “ Việt Nam Văn - p h ạ m là một ví dụ tiêu biểu cho nhận định này Theo tác giả của “ Việt - Nam - vãn -
phạm” thì phép đặt câu là phép đặt các tiếng lập thành mệnh đề và các
mệnh đề thành câu Theo các tác giả này thì một mệnh đề bao gồm một chú
Trang 13từ cộng với một tĩnh từ hay một động từ, chủ từ là tiếng đứng làm chú ớ trong mệnh đề Tính từ là tiếng chỉ cái thể của chủ từ, những lừ này có thể
có nhiều bổ từ (túc từ).v.v, định nghĩa của họ có thể diễn giải như sau:
“ Việt Nam Văn - phạm” theo họ thì phép đặt câu bao gồm hai bước: bước
đặt các tiếng thành mệnh đề và bước đặt mệnh đề thành câu và trong phần tiếp theo các tác giả đã đi thảo luận khá kĩ về các kiểu loại mệnh đề, cách (phép) lập mệnh đề thành câu Song họ lại không cho biết thế nào là một mệnh đề Cách làm này xuất phát từ sự ảnh hướng sâu rộng của chủ nghĩa truyền thống Pháp và dấu ấn của nó còn để lại đến mãi về sau này Có thế thấy, sự khác biệt giữa câu và mệnh đề theo các tác giả của cuốn “ Việt Nam văn phạm” chỉ là sự khác biệt về mặt số lượng của các mệnh đề và sự khác biệt đó không phải thuộc về những phẩm chất co' bản của đơn vị mà nó mang tên
1.4.2 Giai đoạn từ 1945 đến nay
Giai đoạn này đã chứng kiến sự trưởng thành và lớn mạnh của ngành ngôn ngữ học ở Việt Nam, với sự phát triển mạnh mẽ cả về số lượng lẫn chất lượng, là giai đoạn đánh dấu sự vận dựng có chọn lọc các đường hướng nghiên cứu ngôn ngữ trên thế giới Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau mà việc nghiên cứu ngôn ngữ học ở Việt Nam giai đoạn này cũng còn nhiều điểm hạn chế Một trong những hạn chế đó xuất phát từ nguyên nhàn chiến tranh, hai miền Nam - Bắc vì thế trong một thời gian dài không có sự trao đổi qua lại về mặt học thuật và hậu quả lất
Trang 14yếu là mỗi miền lại phát triển theo một xu hướng riêng của mình Cũng do hoàn cảnh chiến tranh nên các đường hướng nghiên cứu ngôn ngữ du nhập vào Việt Nam bằng nhiều nguồn và không đầy đủ Điều này đã gây trỏ ngại không nhỏ cho việc có được một giải pháp trọn vẹn theo một đường hướng nào đó.
1.4.2.1 Ván đ ề thứ nhất: Cảu là gì?
Trước câu hỏi câu là gì, mặc dù chưa đưa ra được trả lời có sự nhất trí hoàn toàn nhưng khác với giai đoạn trước, giai đoạn này các nhà nghiên cứu tiếng Việt đã cho thấy sự tìm tòi và có sự vận dụng sáng tạo trong nghiên cứu Đi theo những đường hướng khác nhau mỗi nhà nghiên cứu có cánh nhìn nhận vấn đề riêng, và có sự vận dụng cụ thể Đi tìm câu trả lời, có tác giả nhấn mạnh đến bình diện cấu trúc của câu, có tác giả nhấn mạnh đến ý nghĩa hoặc cả hai Giai đoạn này chứng kiến ba hướng đi nổi bật đó là :
■ Hướng đi thiên hơn về ngữ pháp truyền thống
■ Hướng đi chịu ảnh hưởng của cấu trúc luận và cấu trúc chức năng luận
■ Hướng đị chịu ảnh hưởng của ngũ' pháp chức năng
ỉ 4.2.1.1 Hướng đi thiên hơn vê ngữ ph áp truyền thông
Tiếng Việt là một ngôn ngữ không biến hình từ nên có lẽ vì vậy trong hầu hết các công trình nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt “ không có công trình đáng kể nào mà lại theo khuynh hướng hình thức một cách tuyệt đối” Đi theo hướng ngũ' pháp truyền thống các nhà nghiên cứu ngữ pháp giai đoạn này đã nhìn nhận vấn đề theo hướng chú ý đến cả hình thức lẫn nội dung, thậm chí coi trọng mặt nội dung hơn cả hình thức Định nghĩa của tác giả cuốn “N g ữ phấp Việt Nam"' là một ví dụ Định nghĩa này không chỉ phản
ánh sự tìm tòi, thể nghiệm của tác giả khi đi giải quyết một vấn đề nan giải của cú pháp mà nó còn đánh dấu bước phát triển của ngữ pháp tiếng Việt đang cố thoát ra khỏi cái bóng của ngữ pháp nhà trường Pháp, mặc dầu nó không khỏi gợi ra cho người ta nhiều thắc mắc như: liệu câu có nhất thiết
Trang 15do nhiều từ hợp lại? Một ý hoàn toàn Ịà nhu' thế nào?.v.v Đi theo hướng này còn phải kể đến Phan Khôi với Việt ngữ nghiên cứu (1955), Thanh Ba- Bùi Đức Tịnh với Văn phạm Việt Nam (1952), Nguyễn Hiến Lê với Để hiểu văn phạm (1952).
1.4.2.1.2 Hướng đi chịu ảnh hưởng của càu trúc luận và cáu trúc chức năng luận
Do chiến tranh nên giai đoạn này Việt Nam bị chia cắt thành hai miền Nam - Bắc Đi theo hướng cấu trúc nhưng ở mỗi miền lại có sự khác biệt Miền Nam chịu ảnh hưởng của trường phái cấu trúc miêu tả Mỹ, còn miền Bắc lại chịu ảnh hưởng của trường phái cấu trúc châu Âu (đặc biệt là lý thuyết đại cương của Ferdinand de Saussure) Theo hướng cấu trúc luận, ở miền Nam, giai đoạn này nổi bật lên đó là “Khảo luận ngữ phấp Việt Nam ”
(1963) của Trương Văn Trình và Nguyễn Hiến Lê Còn tiêu biểu cho hướng
đi chịu ảnh hưởng của trường phái miêu tả Mỹ, ớ miền Nam, đó là những công trình nghiên cứu về tiếng Việt của Lê Văn Lý Cũng theo hướng này còn có nhũng tác giả như: Bùi Đức Tịnh với “ Văn phạm Việt Nam - siản dị
và thực dụng' (1962), Trần Ngọc Ninh với “Cơ cấu Việt ng ữ ' (1973).
Ớ miền Bắc, giai đoạn này, do những nguyên nhân cả chủ quan lẫn khách quan, các nhà nghiên cứu Việt ngữ chịu ảnh hướng nhiều quan điểm của các học giả Nga (Liên Xô cũ) Định nghĩa về câu của viện sĩ Vinagradov là một trong số đó Có thể tìm thấy sự ảnh hưởng này trona những công trình nghiên cứu về câu của nhiều học giả Việt Nam giai đoạn này như: Hoàng Trọng Phiến “Cú pháp tiếng Việt (câu) (1980)” , Diệp
Quang Ban “Câu đơn tiếng Việt (1978)”, Hoàng Tuệ “Giáo trình về Vịêt ngữ {\9Ố2Ỵ\ Nguyễn Kim Thản “Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt {1963)” ,
Lê Cận, Phan Thiều “Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt {1983)” v.v.
1.4.2.3 Hướng đi chịu ảnh hưởng của ngữ p h á p chức năng
Ra đời muộn hơn nên ngũ' pháp chức năng đã kế thừa được những ưu điểm và khắc phục được những điểm hạn c hế của các đường hướng nghiên
Trang 16cứu trước nó Ngữ pháp chức năng xuất hiện ở Việt Nam khá muộn - vào đầu thập niên 90 của thế kỷ 20 - nghĩa là chậm hơn so với việc xuất hiện của nó ở một số nước khoảng 20 năm Con số những công trình có vận dụng
lý thuyết chức năng cũng còn rất “khiêm tố n” , ơ Việt Nam công trình có vận dụng ngữ pháp chức năng được biết đến đầu tiên đó là “ Tiếng Việt: sơ
thảo ngữ pháp chức năng' (quyển 1) Cao Xuân Hạo do nhà xuất bản KHXH
ấn hành năm 1991 Khác với các đường hướng ngữ pháp hình thức, câu hỏi
để khái luận hoá câu thường là “câu có cấu trúc hình thức nhu' Ihế nào ?” Ngữ pháp chức năng lại nhìn nhận vấn đề ở góc độ khác : “Câu có chức
năng gì ?” Cùng theo quan điểm này còn có Hoàng Xuân Tâm, Nguyễn Văn Bằng, Bùi Tất Tươm trong cuốn “N g ữ pháp chức năng tiếng Việt Quyến 1 Cảu trong tiếng Việt Cấu trúc, nghĩa, công dụng' do Cao Xuân
Hạo chủ biên, nhà xuất bản giáo dục ấn hành năm 1992
1.4.3 Vấn đ ề thứ hai: Cú là gì?
Trong giai đoạn này đi theo quan niệm truyền thống khái niệm cú cũng
đã được một vài nhà nghiên cứu thảo luận tuy nhiên vẫn chưa có sự phân biệt rạch ròi về bản chất giữa hai loại đơn vị này, chủ yếư sự phân biệt vãn dựa trên tiêu chí về số lượng Ví dụ: theo Trương Văn Trình và Nguyễn Hiến Lê, “Trong một câu diễn tả nhiều sự tình thì mỗi tổ hợp diễn tả một sự tình chúng tôi gọi là một cú Câu diễn tả một sự tình là câu đơn cú ( Trương Văn Trình, Nguyễn Hiến Lê 1963: 477) Quan niệm này không khác với
quan niệm về cú ở giai đoạn trước Đa số các nhà nghiên cứu giai đoạn này thảo luận cú dưới hình thức câu đơn và sự phân biệt giữa câu và cú chí diễn
ra khi có một bộ phận của câu được cấu tạo nên từ một ngữ đoạn có cấu trúc của một câu đơn nhưng chúng chỉ giữ vai trò bổ sung nếu đem so với cấu trúc lớn
Theo Cao Xuân Hạo thì sự khác biệt giữa cáu và cú “tiểu c ú” chí ở chỗ câu thể hiện một nhận định (statement) còn cú không có được điều này, hành động này được thực hiện ngay khi phát ngôn để đưa ra một mệnh đề
mà biểu thị một cái gì đó được xem nhu' có sẵn và mặc dù ở đó có kết cấu
Trang 17được xem là cấu trúc chủ vị đi chăng nữa thì hành động mà nó phản ánh được xem như là có sẫn và thuộc về quá khứ Nó là tiền giả định chứ không
có mặt trong câu và ngôn ngữ nào cũng có những đặc trưng để phân biệt tiểu cú với câu
Cũng chịu ảnh hướng của ngũ' pháp chức năng, nhưng theo hướng (hệ thống) “N gữ pháp kinh nghiệm của cú tiếng Việt m ô tả theo quan điếm
chức năng hệ tỉiống’' của Hoàng Văn Vân, do nhà xuất bản KHXH ấn hànhnăm 2002 là một thể nghiệm khác của việc vận dụng lí thuyết chức năng vào thực tế tiếng Việt Lấy cú làm đơn vị mô tả và xem xét nó ó' cả ba bình diện: chuyển tác, thức, văn bản Xem cú như là một đơn vị ngữ pháp cao nhất Đày là một cách làm mới vì trong truyền thống cú không được công nhận nhu' là một đơn vị mô tả một cách hiển ngôn Trong truyền thống nghiên cứu tiếng Việt, khái niệm cú cũng nhiều lần được nhắc đến Tuy nhiên, vai trò của chúng rất mờ nhạt, các nhà nghiên cứu dành cho nó một
sự quan tâm không nhiều Việc khẳng định vai trò và tiềm năng to lớn của
cú trong mô tả ngữ pháp là một hướng đi mới
Như vậy, có thể thấy vấn đề về “cầu” trong tiếng Việt là một vấn đề rất phức tạp, được tiếp cận và nhìn nhận từ rất nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, vấn đề câu là gì đến nay xem ra vẫn còn là một thách thức lớn bời trước một vấn đề đa diện lại được nhìn nhận từ nhiều góc đội khác nhau thì việc có được sự nhất trí cao là một việc rất khó Hầu hết các đường hướng nghiên cứu trước ngữ pháp chức năng, đều xem ngôn ngữ là tập hợp các quy tắc, ở đó bình diện xã hội của câu (cú) chưa được quan tâm một cách thoả đáng Chính vì vậy không khỏi có sự phiến diện trong nghiên cứu vấn đề này Do vậy việc xem xét câu (cú) tiếng Việt, trong cảnh huống/ văn hoá
xã hội là một việc làm cần thiết lúc này
Trang 182 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u VÀ NGUỔN T ư LIỆU
Phương pháp làm việc chính là phương pháp so sánh kết hợp với các phương pháp luận khoa học chung là quy nạp, diễn dịch: trên cơ sớ phân tích những cứ liệu được rút ra từ các tài liệu, các văn bản bằng tiếng Việt, từ
đó đem so sánh để tìm ra những tồn tại, hạn chế của các dường hướng nghiên cứu khác khi nghiên cứu vấn đề câu
Luận văn còn sử dụng phương pháp chức năng hệ thống của M.A.K Halliday phát triển từ lý luận ngôn ngữ học chức năng Từ quan niệm xã hội học - ký hiệu về ngôn ngữ, lấy cú làm trung tám từ đó xem xét nhận diện nó
từ các bình diện khác nhau nhằm mục đích làm sáng tỏ đơn vị ngữ pháp quan trong của tiếng Việt
Nguồn tư liệu chủ yếu được lấy từ các tài liệu, sách báo, tạp chí bằng tiếng Việt, xuất bản trong nước, và những văn bản đã được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng
Chương 3 Khái niệm cú tiếng v.iệt theo quan điểm chức năng hệthống Trong chương này chúng tôi sẽ trình bày về khái niệm cú (đơn) trong
7 ĐẠI HỌ C Q U Ổ C G IA HÀ NỘI
Trang 19tiếng Việt theo quan điểm của lý thuyết chức năng hệ thống, vận dụng các tiêu chí nhận diện cú theo lý thuyết này để giải quyết vấn đề cú trong tiếng Việt Các tiêu chí nhận diện được chia theo hai nhóm: nhóm các tiêu chí về ngữ nghĩa và nhóm các tiêu chí về ngữ pháp - từ vựng Trong chương này chúng tôi dành một phần (3.5) để so sánh giữa việc khái luận cú theo quan điểm truyền thống với cú theo quan điểm của ngôn ngữ học chức năng hệ thống từ đó chỉ ra tính chất ưu việt của ngôn ngữ học chức năng hệ thống trong việc giải quyết vấn đề câu.
Trang 20Chương 1
CÚ PHÁP - NHỮNG VẤN ĐỂ CHUNG VÀ VIỆC NGHIÊN
CỨU CÚ PHÁP TIẾNG VIỆT
1.1 Đôi tượng của cú ph áp học, môi quan hệ giữa từ p h á p và cú ph áp
Cú pháp là một trong hai bộ phận tạo thành của ngữ pháp Cú pháp là thuật ngữ được dịch từ thuật ngữ “syntax” trong tiếng Anh hay “syntaxe” trong tiếng Pháp có nguồn gốc từ thuật ngữ “suntaksis” trong tiếng Hi Lạp
có nghĩa là sự tổ hợp Trong quá trình phát triển của ngôn ngữ học, những vấn đề của cú pháp học đã thu hút được sự quan tâm của đông đảo các nhà nghiên cứu thuộc nhiều trường phái khác nhau Tuy nhiên, sự nhất trí trong tên gọi khái niệm này chưa hẳn đã đảm bảo cho sự nhất trí trong quan niệm
về nó và sự thực, cho đến nay vẫn còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm cú pháp cũng như xung quanh việc xác định đối tượng và đơn vị của cú pháp học Dưới đây là một vài quan niệm tiêu biểu cho việc xác định đối tượng của cú pháp học
Một số học giả quan niệm, đối tượng của cú pháp học chỉ là câu (hoặc mệnh đề) nhưng có khi nó lại được dùng để chỉ “sự tổ hợp của từ” (của động từ, của danh từ v.v), ví dụ như: Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Phạm Duy Khiêm, Bùi Đức Tịnh v.v
Có quan niệm, xem việc nghiên cứu hình thức bên ngoài cúa câu là đối tượng của hình thái học hay còn gọi là từ pháp học, còn đối tượng của
cú pháp học chỉ là việc nghiên cứu hình thức bên trong (hình thức của những ý niệm được biểu đạt) Quan niệm như vậy dẫn đến việc thừa nhận có nhiều cú pháp khác nhau và hẳn là không đầy đủ phiến diện Bới vì tín hiệu ngôn ngữ là thể thống nhất của mặt ý niệm (cái được biểu đạt) với mặt hình thức (cái biểu đạt) {theo Hoàng Trọns Phiến-1980: ỉ).
Một số học giả khác lại quan niệm đối tượng của cú pháp học là từ tổ chứ không phải là câu Đây là quan niệm của một số học giả Nga như: Foóc-tu-na-top, Poóc-jê-zin-xki, Pê-téc-xon.v.v
Trang 21Nhiều học giả khác cho rằng đối tượng của cú pháp học bao gồm cả câu và từ tổ chứ không còn hiểu theo nghĩa hẹp của nó nữa “cú pháp học nghiên cứu các quy tắc kết hợp của từ thành từ tổ và của từ tổ thành câu”
(.Nguyễn Kim Thản - 1997: 382).
Những quan niệm trên đây đã đặt ra hai vấn đề: vấn đề về ranh giới của từ pháp học với cú pháp học và vấn đề đối tượng và đơn vị cơ sỏ' của cú pháp học là gì Nguyễn Kim Thản cho rằng ranh giới giữa từ pháp và cú pháp là khá rõ ràng Theo ông “từ pháp học nghiên cứu sự biến hình của từ, những đặc tính ngữ pháp của từng loại từ, nghĩa là đối tượng nghiên cứu của
nó được xem xét như là những đơn vị riêng lẻ ớ trong từ tổ và trong câu Còn đối tượng của cứ pháp thì vượt ra ngoài phạm vi của một đơn vị riêng lẻ: đó là sự kết hợp của các đơn vị ấy Có khi cú pháp học cũng đề cập đến
“một từ” (như “một câu từ” chẳng hạn) nhưng ở đó nó phải được xem xét về đặc tính ngũ' pháp, khá năng kết hợp v.v mà ở đó nó được coi là một câu, một đơn vị của lời nói” (N guyền Kim Thản - 1997: 382, 383) Ông cũng
cho rằng, không thể cắt rời hai bộ môn đó, coi chúng không có quan hệ gì với nhau Chúng không phải là một nhưng có quan hệ bổ sung cho nhau Vì thế, nghiên cứu hoạt động của một từ nào đó lại phải đặt trong khả năng kết hợp từ vựng và kết hợp cú pháp
Vấn đề thứ hai đối tượng và đơn vị cơ sở của cú pháp học là gì Theo Hoàng Trọng Phiến “Câu không phải là hình thức của các mối quan hệ sơ đẳng đó (mối quan hệ cú pháp mang đặc trưng của mô hình cấu trúc ngũ' pháp) Câu là đơn vị ký hiệu ngôn ngữ có tuyến tính cực đại” Với tiếng Việt, “tiếng một” là đơn vị được phân lập, đơn vị có giới hạn của cấp độ câu nhưng tù' vẫn chưa phải là đơn vị cú pháp nhỏ nhất mặc dù nó là một trong những vật liệu tạo nên câu Cho nên, từ được xét ở địa hạt cú pháp học là xét đến mối quan hệ tạo ra phát ngôn, phân biệt với từ được xét trong từ pháp học Theo ông, đối tượng nghiên cứu của cú pháp học là các phạm trù ngữ pháp của câu, các kiểu quan hệ, các phương thức và các dạng thức biểu
Trang 22diễn quan hệ cú pháp của câu Việc xác định đối tượng của cú pháp học cần căn cứ cả ở mặt tổ chức và cả ở mặt chức năng Do đó, đổi tượng của cú pháp học là câu trong tính nhiều mặt của nó (Hoàng Trọng Phiến - 1980:
10 , 11 , 12 ).
Sự phức tạp trong việc xác định đối tượng nghiên cứu của cú pháp học
đã nảy sinh nhiều hướng nghiên cứu cú pháp: cú pháp học từ loại và cú pháp học thành phần câu; cú pháp học từ tổ và cú pháp học câu; cú pháp học ngữ đoạn và cú pháp học thực tại hoá; cú pháp về đơn vị cơ bản và hệ hình câu Hướng đi dành được sự quan tâm lớn nhất là hướng nghiên cứu tổ chức ngữ nghĩa tương ứng với tổ chức hình thức của câu
Như vậy, việc xác định đối tượng của cú pháp học có ảnh hưởng rất lớn đến hướng nghiên cứu của mỗi học giả Tuy nhiên, xét trong tính đa diện của vấn đề thì mỗi hướng đi cụ thể lại giúp soi tỏ thêm diện mạo chung của cú pháp Câu trong truyền thống được xem là đơn vị lớn nhất trong các đơn vị ngữ pháp nhưng nó chưa phải là “đơn vị sơ đẳng” Xét theo khía cạnh này thì cú có một vị thế rất đặc biệt Irong tư cách là đơn vị ó' bậc mô tả Tuy vậy, cú pháp học truyền thống đã dành cho nó một vị thế không lớn Cho nên, xưng quanh vấn đề giữa câu và cú vẫn còn tồn tại nhiều điểm bất cập
1.2 Quan hệ cú pháp và hình thức cú ph áp
Như đã trình bày ở trên thuật ngữ cú pháp trong tiếng Hi Lạp vốn có nghĩa là “sự tổ hợp” (suntaksis) Điều này đã hàm chứa rằng tổ hợp ấy được xây dựng trên các mối quan hệ Mối quan hệ này có thể là trực tiếp hay gián tiếp, có thể là chặt chẽ hay lỏng lẻo, theo tuyến tính hay hệ hình.v.v nhưng đích mà chúng hướng tới đều giống nhau đó là việc ràng buộc các thành viên lại với nhau Trong mối ràng buộc ấy các thành viên có sự tác động lẫn nhau, chi phối nhau theo những quy tắc' nhất định Các quan hệ này được gọi là quan hệ cú pháp Từ là đơn vị cơ sở của ngôn ngữ, để truyền đạt được
tư tưởng của mình người ta phải tổ chức chúng lại và ở trong mối quan hệ, chúng có sự tác động lẫn nhau vì thế để nghiên cứu quan hệ cú pháp của từ
Trang 23ta phải đặt chúng trong mối những mối quan hệ Khác với các ngôn ngữ biến đổi hình thái người ta có thể dựa vào hình thức cú pháp để tìm ra số lượng quan hệ cú pháp, Tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn lập từ không biến đổi hình thái cho nên phải dựa trên khả năng kết hợp cú pháp mà phát hiện các thuộc tính ngữ pháp của từ Một số ý kiến cho ràng, giữa tù' với từ có bốn quan hệ ngữ pháp: quan hệ liên hợp, chi phối, bổ sung, phụ thuộc Có những ý kiến khác lại cho rằng mối quan hệ ấy còn nhiều hơn bao gồm cả những quan hệ như: tường thuật, thời gian, không gian, số lượng v.v.
Trong ba loại ý nghĩa ngữ pháp: ý nghĩa tự thân, ý nghĩa phạm trù và
ý nghĩa quan hệ của tiếng Việt Loại ý nghĩa quan hệ được quan tâm hon cả
Về cơ bản tiếng Việt có ba kiểu quan hệ chủ yếu sau: quan hệ liên hợp song song, quan hệ chính - phụ, quan hệ Đề - Thuyết (hay Chủ - Vị) trong ba loại này có thể phân chia cụ thể hơn Trong 3 kiểu quan hệ trên, kiểu quan
hệ Đề - Thuyết (Chủ - vị) là kiểu quan hệ của (nòng cốt) câu đon tiếng Việt Tuy nhiên giữa quan hệ đề - thuyết và chủ - vị không phải là đồng nhất Điều này đã gợi ý rằng, xét về cấu trúc, dựa trên hình thức của cặp quan hệ này sẽ đưa đến những kết quả không giống nhau Nhu' vậy sẽ có bốn hay ba kiểu quan hệ?
Điều này cũng gợi ra rằng, giữa quan hệ ngữ pháp và hình thức ngữ pháp không hẳn có sự trùng khớp Nguyễn Kim Thán đã chỉ ra trong nhiều trường hợp nếu chỉ căn cứ vào hình thức ngữ pháp thì khó có thể xác định được quan hệ ngữ pháp Ví dụ “Tôi làm th ợ’ và “ Tôi làm bùi". Quan hệ ngũ' pháp của hai trường hợp này là khác nhau Theo ngữ pháp truyền thống lấy
lô gích ngữ nghĩa làm cơ sở, “b à r chỉ đối tượng khách quan ngoài “ tó/” ,
“làm” ở câu thứ nhất do vậy là ngoại động từ cho nên “bài' là bổ ngữ trực
tiếp còn “thỢ' là đồng nhất với utô f', nên “lầm” ở câu thứ 2 là nội động làm
môi giới giữa bộ phận chủ ngữ và vị ngũ' Ý kiến này đúng nhưng chỉ một phần vì chỉ dựa trên cơ sở thuần lý chứ chưa dựa trên cơ sở khách quan Có thể kiểm tra điều này bằng thao tác cải biến, kết quả cho thấy, ở nhiều trường hợp khác, hai hình thức này không còn đồng nhất Do vậy, nếu chỉ
Trang 24dựa vào trực giác đơn thuần thì nhiều khi khó có thể giải quyết được vấn đề hoặc ít có tính thuyết phục, “không phải ý niệm quyết định quan hệ cú pháp
mà chủ y ếu là hình thức cú pháp” (N guyễn K im Thản 1997: 396) Việc tìm
ra hướng đi dựa trên “hình thức” hay “/ nghĩa", đã thu hút được sự quan
tâm từ đông đảo những nhà nghiên cứu tiếng Việt Đã có nhiều thử nghiệm, nhiều hướng đi mới và đã có nhiều thành tựu thu được nhưng trong một địa hạt phức tạp nhiều vấn đề vẫn còn gây tranh cãi Những vấn đề đó không nằm ngoài phạm vi câu “trong tính nhiều mặt của n ó ”
1.3 Nghiên cúu cú pháp ở nước ngoài
Việc nghiên cứu cú pháp trên thế giới đã được bắt đầu tù' rất sớm Ngay từ thời cổ đại các nhà ngôn ngữ học Ân Độ đã bắt đầu chú ý đến cú pháp, đến các bộ phận của câu Họ đã nhận thấy chỉ ở câu mới có thể diễn đạt được tư tưởng Tuy nghiên cứu cú pháp được bắt đầu sớm hơn ở Ân Độ nhưng đạt được nhiều thành tựu hơn lại là các nhà triết học Hi Lạp Platon ngay từ thời cổ đại đã chia lời nói ra làm hai bộ phận thể từ (hoặc danh từ)
là từ dùng để khẳng định sự vật hay hiện tượng (tức là chủ ngữ) và thuật từ (hoặc động từ) là từ biểu thị điều mà người ta xác định về thuật từ (ngày nay còn gọi là vị ngữ) Kiên trì với cách phân chia này nhưng A-ri-xtôt lại
bổ sung thêm một thành phần cú pháp thứ ba, một lớp từ mà sau này gọi là liên từ (và có thể là cả gới từ) với mục đích phân biệt các thành phần trong cáu nhận định tuyên bố {R.H Robins - lược sử ngôn ngữ học (bản dịch): 2003: 55) Cũng nghiên cứu thể từ, thuật từ nhưng ông còn phát hiện ra rằng
không phải câu nào cũng có thể từ, thuật từ tạo thành Tuy nhiên, bất kì bộ phận nào của câu cũng có ý nghĩa độc lập Trong thời kì đầu nghiên cứu ngôn ngũ' ó' Hy Lạp vẫn chưa tách rời khỏi triết học Những nhà nghiên cứu ngôn ngữ thời kỳ này cũng chính là nhũng nhà triết học
Tù' thế kỉ thứ 3 trước công nguyên, các nhà nghiên cứu Hi lạp đã có
xu hướng tách ngôn ngữ ra khỏi triết học Mặc dù vậy nghiên cứu ngôn ngữ thời kì này vẫn chịu ảnh hưởng nhiều của triết học, lô gích học Người ta
Trang 25đạt được nhiều thành tựu về từ pháp hơn là cú pháp Mặc dù vậy, những thành tựu về cú pháp học của họ lại có ảnh hướng sâu rộng và cho đến ngày nay, dấu ấn của nó vẫn còn đậm nét trong ngôn ngữ học hiện đại.
ở Trung Quốc thời kì này, nhũng nghiên cứu về ngôn ngữ còn rất nhỏ
lẻ chưa thành một hệ thống Những nghiên cứu chủ yếu tập trung chủ yếu vào việc giải thích một vài hiện tượng ngũ' pháp
Trong một thời gian dài sau đó “kỉ nguyên trưng đại” nghiên cứu cú pháp trên thế giới chịu ảnh hưởng sâu sắc của triết học Sự lớn mạnh của nhà thờ đã giúp cho tiếng La tinh được quảng bá rộng rãi Với yêu cầu mô
tả ngữ pháp phải được lồng ghép vào triết học, điều này đã đem lại những thay đổi lớn về quan điểm: phải công nhận dứt khoát những thay đổi trong các định nghĩa về khoa học ngôn ngữ (R H Robins - 2003: 147) Thời kỳ này nghiên cứu cú pháp cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc từ lô gích học tạo ra một loại ngũ' pháp mà sau này nó được gọi với cái tên “ngữ pháp duy lý”
Và chỉ đến giữa thế kỉ 19 người ta mới nhận thấy giữa lô gích và ngũ' pháp không phải là đồng nhất
Nhũng năm 20 - 30 của thế kỷ 20 đánh dấu sự phát triển mạnh của chủ nghĩa cấu trúc Ba trường phái (miêu tả Mỹ, Copenhague, câu lạc bộ ngôn ngữ học Praha)- đại diện của chủ nghĩa cấu trúc đều có chung một xuất phát điểm đó là tính hệ thống của ngôn ngữ Nhưng mỗi trường phái lại
có nhưng cách-tiếp cận vấn đề riêng theo cách của mình {Đỗ Hữu Châu & Bùi M inh Toán 2002: 215) Các nhà cấu trúc luận phản đối việc phân chia
ngữ pháp thành từ pháp và cú pháp Họ coi ý nghĩa của đơn vị ngôn ngũ' là ở bên ngoài ngôn ngữ và chỉ chứ trọng đến mối quan hệ giữa các âm vị từ tố
Do vậy, quy tắc cấu tạo câu chỉ còn rút lại ở một số các công thức Sự kết hợp của các từ tố không cần đêm xỉa gì đến ý nghĩa ( theo N guyền Kim Thản 1997: 384).
Ngay sau cấu trúc luận là thời kỳ của ngữ pháp tạo sinh và cải biến tạo sinh Trong địa hạt cú pháp: ngữ pháp tạo sinh đã đạt được nhiều thành tựu qua việc mô hình hóa các ngữ đoạn phân biệt những cấu trúc bề mặt và
Trang 26chiều sâu với các quy tắc viết lại câu Công trình về cú pháp nổi bật của đường hướng này có lẽ là cuốn “các binh diện của lý thuyết cú pháp” của Chomsky (1965) với một lý thuyết cải biến hoàn thiện về nhiều mặt Tuy nhiên, ngữ pháp cải biến cũng còn những điểm hạn chế của nó như: quá nhấn mạnh đến chức năng là công cụ tư duy của ngôn ngữ , đua ra một nhiệm vụ nghiên cứu quá hẹp, quá chú ý đến cấu trúc sâu của ngôn ngũ' Những năm 70 của thế kỷ 20 đánh dấu sự ra đời của ngữ pháp chức năng, hướng nghiên cứu ngôn ngữ chú ý hơn đến hoạt động giao tiếp của ngôn ngữ, hướng nghiên cứu đến hoạt động ngôn ngữ tự nhiên của con người, ớ đó, ngôn ngữ được xem như là một nguồn lực đế tạo nghĩa chứ không phải là một tập hợp các quy tắc Trên bình diện cú pháp, ngữ pháp chức năng đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể Nếu như trước đó thành tựu đạt được của các đường hướng khác chủ yếu là trên bình diện lừ pháp thì thành tựu chủ yếu của ngữ pháp chức năng lại tập trung ớ bình diện cú pháp Quan tàm thoả đáng đến bình diện ngũ' nghĩa ngũ' pháp chức năng đã đem đến cho cú pháp học nhiều sự lựa chọn mới.
1.4 Nghiên cứu cú ph á p ở trong nước
Do nhiều nguyên nhân khác nhau mà ngành khoa học ngôn ngũ' ở Việt Nam phát triển muộn hơn nhiều nơi trên thế giới Do vậy, mà những nghiên cứu về cú pháp tiếng Việt cũng ra đời cách đây chưa lâu, từ khoảng giữa thế kỉ 19 Những nghiên cứu về cú pháp tiếng Việt thời kì đầu chủ yếu
là “dựa theo”, “mô phỏng” lại cách làm của ngữ pháp La Tinh hoặc ngữ pháp dùng trong nhà trường phổ thông của người Pháp, hoặc chỉ làm một việc phiên dịch, so sánh ngữ pháp, cho nên bộ môn cú pháp chưa được coi trọng đúng mức
Công trình đầu tiên viết về cú pháp tiếng Việt được biết đến đó là cuốn từ điển “Việt - Bồ - L a” của A.d Rhodes (1651) Tuy nhiên, đó cũng chỉ dừng lại ớ việc đưa ra một vài nguyên tắc, mẹo luật của cú pháp tiếng Việt:
Trang 271 Chú ngữ đặt trước động từ; nếu không không còn là chú ngữ nữa: m ày cười, cười mầy.
2 Danh từ theo sau động từ là bổ ngữ: tôi m ến chúa, chúa m ến tôi.
3 Từ chính đặt trước từ phụ: chúa cả, thằng nhỏ, lệ ngoại, cả lòng, cả gan.
4 Khi hai danh từ đi liền nhau danh từ thứ hai là bổ ngữ của danh từ thứ
nhất: chúa nhà, nhà chúa.
5 Tính từ có ý nghĩa động từ; không cần dùng động từ khi đứng trước
tính từ có một từ chỉ rõ ràng: n ú i n à y CHO, áo n à y dài.
6 ít dùng các liên từ để nối tiếp; nếu bỏ đi thì văn hoa hơn: kẻ có đạo thì thức sớm, đọc kinh, lẩn hột, đi xem lễ, th í cho k ẻ khó
7 Lặp lại chủ ngữ trước từng động từ: tôi lụy thầy, tôi bởi lằng mà đến, tôi đã nhọc, tôi xin xư n s tội
8 Có nhiều tiếng sang trọng khó dịch sang tiếng ngoại quốc, ví dụ: thì vừa chỉ nguyên nhân {có muốn thì làm) vừa chỉ đối lập: có kẻ thì lành
có k ẻ thì dữ.iìềng Việt.
{Dẫn theo, N su yễn K im Thản 1997: 388,389)
Kể từ công trình của A.d Rhodes phải rất lâu sau đó mới có những công trình nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt Tuy nhiên trọng tâm của những công trình thời kì tiếp theo này chỉ đặt vào từ pháp học Cú pháp học cũng được các nhà nghiên cứu đề cập tuy nhiên mới chỉ rất sơ sài Có thể kể đến một số nhà nghiên cứu tiêu biểu như: Trương Vĩnh Ký, Trương Vĩnh Tống, Lê Ngọc Vượng, G Ô-ba-rê ■
Một số nhà nghiên cứa cũng đã bước đầu phân chia ngữ pháp ra thành
từ pháp và cú pháp Tuy nhiên, cách làm, phạm vi, mức độ của họ không giống nhau, khuynh hướng nghiên cứu cũng không đồng nhất Tiêu biểu cho thời kì này là các nhà nghiên cứu như: Lê Quang Trinh, Trần Trọng Kim, Bùi Đức Tịnh, Nguyễn Lân.v.v Nhìn chung, trong công trình của họ cú pháp vẫn bị xem nhẹ, trọng tâm vẫn chủ yếu được đặt vào từ pháp Ví dụ:
Trang 28Grammond và Lê Quang Trinh chỉ dành cho cú pháp vẻn vẹn có 6 trang trong tổng số 297 trang Lê Văn Lý trong công trình của mình sau khi nghiên cứu kết cấu của các loại âm vị, phân loại từ tiếng Việt cũng chí dành cho cú pháp sự quan tâm không nhiều chú yếu nói đến khả năng kết hợp từ loại Ví dụ, về những từ loại thuộc loại A có thể thấy từ ! đến 6 đơn vị trong câu; loại B từ 1 đến 7; loại B' từ 1 đến 3, loại c từ 1 đến 9, ví dự:
■ Sáng cháo gà tối cháo vịt (A A A A A A )
■ M uốn biết được thua phải đi hỏi (BBBBBBB)
■ R õ xấu xa (B ' B ’ B ')
• Dù sao chăng nữa cũng tại chúng m ầy cả (CCCCCCCCC)
Nghiên cứu sự kết hợp của các loại với nhau tác giả cũng đưa ra 7 công thức như: AB: nước chảy, ABB: chó muốn chạy, AB’: nhà cao, ABB’: mèo chết rét, AC:xe tôi v.v ( theo Nguyễn K im Thản 1997: 390).
Phải đợi đến những năm 60 của thế kỷ 20 nghiên cứu cú pháp ở Việt Nam mới có sự chuyển biến mạnh mẽ cả về chất và lượng Với sự ra đời của hàng loạt các công trình nghiên cứu lớn nhỏ của nhiều học giả trong và ngoài nước và nhiều đường hướng nghiên cứu khác nhau, đã có sự thay đổi mạnh mẽ trong nghiên cứu Bức tranh về cú pháp tiếng Việt cũng bởi thế mà trở nên sinh động hơn nhiều
Những hướng đi tiêu biểu và những công trình có ảnh hướng lớn đến
cú pháp tiếng Việt chúng tôi đã trình bày trong phần trình bày lịch sử của vấn đề Đến đây chúng tôi sẽ chuyển sang trình bày những đặc điểm khái quát của cú pháp tiếng Việt Tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn lập, là ngôn ngữ mà ở đó các ý nghĩa ngữ pháp chủ yếu được thể hiện thông qua các phương thức phân tích tính vì thế sẽ không khỏi có sự khác biệt với các ngôn ngũ' tổng hợp tính - những ngôn ngữ mà kết quả nghiên cứu về nó có ảnh hưởng rất lớn đến việc nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt
Trang 291.5 M ột vài dặc điểm của cú ph áp tiếng Việt
Khác với các ngôn n gữ không đơn lập (chủ yếu là các ngôn ngữ hoà kết) từ Irong tiếng Việt không biến đổi hình thái, hình thái của từ không tự
nó chí ra mối quan hệ giữa các từ trong câu, không chỉ ra chức năng cú pháp của các từ Qua hình thái, tất cả các từ dường như không có mối quan
hệ gì với nhau; chúng đứng ở các câu tương tự như khi đứng một mình Và gánh nặng cú pháp được đặt cả vào trật tự từ và hư từ Do vậy các phương thức trật tự từ và hư từ là những phương thức ngữ pháp quan trọng trong tiếng Việt
Cũng chính sự không biến đổi hình thái đã mang đến một đặc điểm rất riêng của tiếng Việt đó là ranh giới giữa các từ loại không rõ ràng do vậy mà việc phân xuất các đơn vị phải dựa trên nhiều tiêu chí Theo Hoàng Trọng Phiến ngay cả biên độ giữa chủ ngữ, vị ngữ, giữa định ngữ cũng rấl phức tạp và ngay cả các vế câu ghép cũng khó xác định “chúng tôi hình dung sự “móc xích” các đơn vị cấu trúc tiếng Việt dưới dạng sơ đồ nếu cho
a = âm tiết, b = hình vị, c= tiếng một, d = từ, đ = tổ hợp từ (kể cả kết cấu chủ vị), e = câu đơn thì ta có: a < b < c < d < đ < e” Theo ông; đó là cơ sở
để Nguyễn Tài c ẩ n gọi đơn vị co' sở, đơn vị gốc của ngữ pháp tiếng Việt là
“tiếng mộ t” Nếu dựa vào hệ thống các đơn vị này, một đơn vị cú vị theo khối lượng và chức năng thì tình trạng trùng nhau giữa cú vị với tiếng một, với từ ghép với đoản ngữ lại phức tạp hơn Do vậy đặc điểm về sự không rõ ràng trong ranh giới từ loại quy đinh cách nhìn và cách xử lý các đơn vị của các địa hạt nghiên cứu nhất là địa hạt của ngữ pháp học, cú pháp h ọc ”
Tiếng Việt là một ngôn ngũ' có thanh điệu, đây là một đặc điểm khác biệt rất lớn giữa tiếng Việt với một số ngôn ngữ Âu châu Ngữ điệu thì ngôn ngữ nào cũng có Tuy nhiên ngữ điệu tiếng Việt lại chịu sự chi phối của các thanh điệu, mặc dù ngữ điệu gắn với câu còn thanh điệu gắn với âm tiết Do vậy, ngữ điệu của tiếng Việt có phần khác với ngữ điệu của mội số ngốn ngữ không có thanh điệu (về vai trò của ngũ' điệu nhu' một tiêu chí nhân diện kiểu câu được trình bày trong mục 2.2.3)
Trang 301.6 Tiểu kết.
Trong chương này chúng tôi đã trình bày một vài vấn đề chung của cú pháp học, những nét khái quát về việc nghiên cứu cú pháp ó' trong và ngoài nước Qua những trình bày ở trên chúng tôi nhận thấy sự quan tâm của các nhà nghiên cứu với cú pháp nếu so với từ pháp là chưa nhiều Ớ Việt Nam ngành khoa học ngôn ngữ phát triển muộn hơn nhiều nơi trên thế giới nên mối tương quan này càng thể hiện rõ nét hơn Chúng tôi cũng chí ra rằng, trong nghiên cứu cứ pháp việc xác định đối tượng của cú pháp học rất quan trọng vì nó có ảnh hưởng rất lớn đến khuynh hướng nghiên cứu Ngoài ra, loại hình của tiếng Việt cũng có ảnh hưởng rất lớn đến việc nghiên cứu cú pháp do vậy cần phải tính đến những đặc trưng về loại hình Trong truyền thống câu được xem là đơn vị bậc cao nhất trong các đơn vị ngôn ngữ Tuy nhiên, nó k hô ng phải là đơn vị CO' sở, nó là sự kết hợp của cạc ngữ đoạn Xét
từ góc độ này thì vai trò của cú là rất to lớn Vậy nhưng trong nghiên cứu cú pháp truyền thống cú rất khi được quan tâm thảo luận, thường bị gạt ra ngoài các đơn vị mô tả hoặc được đặt dưới hình thức một đơn vị khác (câu đơn) Vì lý do đó, trong nhũng chương tiếp theo chúng tôi sẽ đi khảo sát hai khái niệm có nhiều điểm tương đồng này
Trang 31Phiến đã có trên 30 định nghĩa khác nhau về câu tiếng Việt (Hoàng Trọng Phiến-1980:17), từ đó đến nay con số hẳn đã không còn dừng lại ớ đó.
Có nhiều cách lý giải khác nhau song có một lý do không thể phú nhận được đó là do hoàn cảnh của chiến tranh, đã dẫn đến tình trạng đất nước bị chia cắt, bị cô lập với phương Tây - nơi có nền ngôn ngữ học phát triển, cho nên những phát triển của ngôn ngũ' học được du nhập vào trong nước rất muộn, thậm chí muộn hàng “thập k ỷ ” {Đinh Vãn Đức - 1993: 41),
khi được du nhập vào chúng lại không được du nhập một cách đầy đủ, từ đó dẫn đến việc ứng dụng một cách toàn diện, nhất quán một mô hình ngôn ngữ nào đó vào việc mô tả tiếng Việt dường như là một việc làm không thể
có được Do đó, n?ười ta thường thấy, hầu hết các công trình nghiên cứu tiếng Việt dựa vào phương pháp, thủ thuật của nhiều mô hình ngôn ngữ, thường được gọi là phương pháp triết trung (eclectic method) {Hoàng Văn Văn - 2002: 83) Chính những điều này đã khiến việc mô tả câu tiếng Việt
thiếu sự đồng bộ, thiếu tính hệ thống Việc nhận diện nó vì thế cũng được dựa trên nhiều quan điểm tiêu chí khác nhau Mặt khác các đường hướng ra đời trước ngữ pháp chức năng (ở đây, để tiện cho việc trình bày chúng tôi
Trang 32gọi là ngữ pháp truyền thống) thường xem nhẹ mặt ý nghĩa hoặc có thì chúng được xem là biệt lập, không có liên quan gì đến nhau Và nhu' thế việc nhìn nhận vấn đề không khỏi có sự phiến diện Vì những lí do Irên, phần tiếp theo đây chúng tôi sẽ dành để đi vào khảo sát các khái niệm về câu của các nhà nghiên cứu theo quan điểm truyền thống.
2.2 Càu theo quan niệm truyền thông
2.2.1 Định nghĩa vê cáu
Trong truyền thống nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt, vấn đề về câu đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, thảo luận Tuy nhiên, vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau xung quanh vấn đề thế nào là câu Dưới đây chúng tôi sẽ trình bày lại một số định nghĩa tiêu biểu về câu tiếng Việt của các nhà nghiên cứu khi đi giải quyết vấn đề này
1 Câu lập thành do m ột mệnh - đề có nghĩa lọn hẳn hoặc do hai hay nhiều m ệnh đề.
và không phụ thuộc ý nghĩa vào m ộ t tổ hợp nào khác.
(Trương Văn Trình & N guyễn Hiến Lê -1963: 476,477)
4 Câu là m ộ t đơn vị hoàn chỉnh của lờ i nói được hình thành về m ặt
n g ữ pháp, theo các quy luật của m ộ t ngôn ngữ nhất định, làm côn 2
cụ quan trọng nhất đ ể cấu tạo, biếu hiện và truyền đạt tư tưởng Trong câu không ch ỉ có sự truyền đạt về hiện thực mà còn có cả
m ố i quan hệ của người nói và hiện thực (Đây là định nghĩa của Vinagradov mà theo N guyễn K im Thản nó là định nghĩa xăc đáng
Trang 335 M ộ t câu là m ộ t ngữ tuyến trong đó tất cả các yếu tố có liên hệ đến m ộ t thuật từ độc nhất hay là nhiều thuật từ có quan hệ với nhau.
(Lê Văn L ý - 1972 ( theo Hoàng Trọng Phiến - 1980: 17))
6 Câu là m ộ t ngữ tuyến, được hình thành m ột cách trọn vẹn về ngữ pháp và về ngữ nghĩa, với m ột ngữ điệu theo quy luật của m ột ngôn ngữ nhất định, là phương tiện biểu đạt, biểu hiện tư tưởng
về thực t ế và về thái độ của người nói đối với hiện thực.
(Diệp Quang Ban 1992: 107)
10 Câu là m ộ t chuỗi của m ộ t hay nhiều nhóm từ, có m ộ t ngữ điệu
k ế t thúc và được đứng trước bởi m ộ t sự im lặng hay bới m ột chuỗi các từ khác giống như thế Trong in ấn, m ộ t cẩu có th ế được đánh dấu bằng m ộ t con chữ viết hon ở dầu và m ột dấu chấm, m ộ t dấu h ỏ i hay m ột dấu chấm than ở cuối.
(Thompson 1985 (Dẫn theo Hoàng Văn Vàn - 2002 : 51))
Trang 34Điểm qua các định nghĩa kể trên, có thể nhân thấy trong truyền thống nghiên cứu, câu được nhận diện từ nhiều.góc độ khác nhau Phẩn lớn những định nghĩa về câu được giải quyết như là sự tổng hợp của nhiều tiêu chí Tựu chung lại có một số tiêu chí sau đây được các nhà nghiên cứu tiếng Việt sử dụng để nhận diện câu.
2.2.2 Tiêu chí nhận diện cáu theo quan niệm truyền thông
2.2.2.1 Tiêu c h í ngữ nghĩa - lô gích
Dựa vào tiêu chí ngữ nghĩa lô gích, câu được xem như là một đơn vị diễn đạt một phán đoán, một sự tình, hay một tư duy tương đối trọn vẹn (nội dung này được gọi dưới nhiều hình thức khác nhau như: M ans nghĩa lọn hẳn (1), m ộ t ý hoàn toàn dứt khoát (2), tương đối đẩy đủ về nghĩa (3), có nghĩa hoàn chỉnh (8) V.V.).
Dựa vào lô gích các tác giả cuốn “ Việt Nam - văn phạm”, cho rằng:
“p h é p đ ặ t câu là p h é p đ ặ t các tiế n g thành m ệ n h đ ề và đật m ệ n h đ ề thành câu”. Và giải thích rõ các bộ phận lập thành mệnh đề như: chủ từ, tính từ, động từ, túc từ Tuy nhiên, các tác giả lại không nói rõ thế nào là mệnh đề Cũng dựa trên tiêu chí về lô gích các tác giả cuốn “Khảo luận về ngữ pháp Việt N a m ” cho rằng “câu là m ộ t tổ hợp tiếng diễn đạt m ộ t sự rình” và giải
thích rõ “ sự tình” là “một việc sảy ra hay là ta nhận thấy, mà trong mỗi việc (hay sự tình) có sự vật làm chủ thể (chủ sự)” Và trong một câu có thể có nhiều sự tình có quan hệ với nhau Ví dụ:
Tôi đi coi hất.
M ồng m ười tháng ba là ngày g iỗ t ổ Hôm qua trời mưa suốt ngày / / tôi không lại anh được.
Trong đó, ‘V ô / ’ là chủ thể của việc '"tôi đi coi h á t' và tương tự “m ồng mười tháng bẩ' là chủ thể của việc “m ồng mười tháng ba là ngày g iỗ t ổ \
Câu "Hôm qua trời mưa suốt ngày / / tôi không lại anh dược:" Là câu diễn
đạt hai sự tình, trong đó “trờ r và “ rôy” là hai chủ sự trong hai sự tình "trời
Trang 35mưa suốt n g à y’ và “tôi không lại anh được”. Hai sự tình ấy lại có quan hệ với nhau Sự tình thứ nhất là nguyên nhân của sự tình thứ hai ( Trương Văn Trình, N guyễn Hiến Lê - 1963 : 477, 478).
Dựa vào ngữ nghĩa, các tác giả Trương Vãn Trình và Nguyễn Hiến Lêlấy ấn tượng về sự trọn vẹn làm tiêu chí nhận diện câu: “câu /à m ột tổ hợp ( ) tương đối đầy đủ về nghĩa ”. Họ giải thích: “Đầy đủ” ớ đây là nói tương đối đầy đủ, nghĩa là đầy đủ ở trong câu đó, chứ không phái là không còn gì đê nói nữa Để minh chứng cho điều này các tác giả đã dãn một câu của Dương Quảng Hàm làm ví dụ:
[1 ]SỞ d ĩ người ta phải k h ổ sở, lo nghĩ, là vì phải hành động, mủ nguồn gốc của hành động là dục tình; bởi th ế nếu dứt hết dục tình
th ì k h ô n g p h ả i là hành đ ộ n s , k h ô n g p h ả i lo nghĩ, k h ổ sở, m ù lò n g được thư thái, thân được an nhăn 127 Cho nên írons nhũn gian kẻ gần đạo nhất là đứa anh nhi, mà người có nhiều đức cũng hồn nhiên
n h ư đứa bé con vậy.
Theo các tác giả, đoạn văn trên được chia làm hai câu; nhưng giá có hợp hai câu làm một cũng được, mà có ngắt câu [1] ra làm hai (đặt dấu chấm ớ trước “bởi thế”) cũng được nữa \Sđd - tr 480\ Cái ấn tượng về sự
trọn vẹn còn có thể thấy ở nhiều định nghĩa về câu tiếng Việt khác Ví dụ như “M ột ý hoàn toàn dứt khoát ” như trong định nghĩa của Nguyễn Lân
(1956), “ có nghĩa hoàn chinh” của u ỷ ban KHXH (1983), “mung m ột ý
n g h ĩ tương đối trọn vẹn” của Diệp Quang Ban (1992).v.v.
2.2.2.2 Tiêu chí cấu trúc
Dựa trên tiêu chí cấu trúc, câu được nhận diện như là một đơn vị được cấu tạo bằng các thành tố ngữ pháp Nói cách khác, nó là phạm vi lớn nhất của các mối quan hệ chính danh Tất cả.các quan hệ ngữ pháp chí có được trong phạm vi câu Dựa trên cấu trúc ngữ pháp để nhận diện là cách làm phổ biến của các các nhà nghiên cứu Theo liêu chí này, càu được nhận diện bới cấu trúc của nó Đó là các quan hệ ngữ pháp chi có được ở bậc câu, các đơn
Trang 36vị dưới bậc không thể có được các mối quan hệ này Ví dụ: Chim hót (kết
Thừa nhận Chủ - VỊ là cấu trúc cơ bản của câu tiếng Việt là cách làm
có được sự nhất trí của số đông những nhà nghiên cứu Dựa trên tiêu chí cấu trúc câu có thể được nhận diện cụ thể hơn như là nhũng đơn vị có cấu trúc đơn giản (câu đơn), có cấu trúc phức tạp (câu phức), có cấu trúc phức tạp nhưng có mối quan hệ ngang hàng giữa các thành tố (câu ghép).v.v Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này, xem xét cụ thể hơn trong phần tiêu chí phân loại
Bên cạnh việc coi cấu trúc cơ bản của câu tiếng Việt là cấu trúc Chủ -
Vị còn có một quan niệm khác - quan niệm cho rằng cấu trúc cơ bản của câu tiếng Việt là cấu trúc Đề - Thuyết, đây là quan niệm của các tác giả thuộc Uỷ ban KHXH trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt” (1983) Theo hướng này một tổ hợp được nhận diện là câu khi nó có thuyết tính và chưa thành câu khi chưa có thuyết tính
Trang 37nội dung của câu Với một tập hợp các tiêu chí, không khỏi khiến người ta băn khoăn vậy thì: “Trong các tiêu chí trên, những tiêu chí nào là tiêu chí cần yếu đối với việc nhận diện câu? Có cần thiết căn cứ trên nhiều tiêu chí khác nhau đó không? Nếu có thì các tiêu chí trên bổ sung cho nhau thế nào?.v.v.
Lấy tiêu chí ngữ nghĩa mà đông đảo các nhà nghiên cứu đề xuất khi nhận diện câu làm ví dụ Theo tiêu chí này, câu được nhận diện như là một đơn vị có nghĩa lọn hẳn, một tư tưởng tương đối đầy đủ, một ý hoàn toàn dứt khoát, một ý trọn vẹn.v.v Khi lấy tiêu chí này để xác định câu, các nhà nghiên cứu phải đương đầu với một vấn để nan giải thế nào là trọn vẹn, là một ý hoàn toàn dứt khoát, một tư tưởng tương đối đầy đủ Rõ ràng khó có thể chỉ ra được một cách hiển ngôn khi mà ngay bán thân nó phụ thuộc vào
“cảm thức của người bản ngữ” cái ấn tượng đó là luỳ vào cá nhân, hoàn cảnh Ví dụ đã dẫn ờ mục (2.2.1) của Trương Văn Trình và Nguyễn Hiến Lê
là một minh chứng Theo tác giả, đoạn văn này được chia làm hai câu; nhưng giá có hợp hai câu làm một cũng được, mà có ngắt câu [1] ra làm hai đặt dấu chấm ở trước “bới thế” cũng được nữa Do vậy, coi đây là một tiêu chí nhận diện, thiết nghĩ là một cách làm ít hiệu quả, chỉ nên xem nó là một nét bổ sung chứ không phải là một điều kiện cần yếu để nhận diện câu.Dựa vào lô gíc để nhận diện câu là cách làm của một số học giả Cách làm này không phải không có những tác dụng đáng kể, bởi trong nội dung biểu hiện của ngôn ngữ, lô gíc chiếm một bình diện khá quan trọng, có thê thấy rõ điều này qua mô hình tam phân của c s Peirce, một trong ba siêu chức năng quan trọng của cú theo cách nói của M.A.Halliday Tuy nhiên, nếu vì thế mà đánh đồng giữa ngôn ngữ và lôgích, “đánh một dấu bằng giữa câu và phán đ oán ” thì lại là một việc làm sai lầm Lấy đó là một tiêu chí để nhận diện câu thì chắc chắn ta lại phải viện đến những tiêu chí bổ sung và
vô hình trung chúng ta lại phải đối mặt với một định nghĩa về câu mà ở đó
câu được tổng hợp từ nhiều nhiều nguồn, nhiều góc cạnh và một định nghĩa kiểu khái niệm là không tránh khỏi
Trang 38Cách nhận diện câu đứng trên quan điểm giao tiếp là cách làm khá khả quan vì nó đem lại không ít những thành quả Câu là đơn vị nhó nhất được dùng trong giao tiếp Trên phương diện này câu được xem như là nơi thể hiện thái độ, sự nhận định của người nói với hiện thực Nhận định đó có thể là khẳng định, hay phủ định; thái độ có thể là nghi ngờ, hay cầu khiến,
ra lệnh hay khẳng định Mặt khác, cũng bởi chỉ câu là đơn vị được dùng trong giao tiếp còn các đơn vị như từ, hình vị không có được cương vị này nên vì thê không đâu khác câu chính là nơi để người nói thể hiện mình;
đó là quan điểm, tình cảm.v.v điều đó là sự thật không thể bác bỏ Tuy nhiên, cái ta cần ở đây lại là một tiêu chí đủ mạnh để nói lên cái gì được thực hiện qua những nhận định, thái độ chủ quan ấy Và do vậy, nó có tác dụng trong việc phân loại nhiều hơn là trong việc nhận diện câu với các đơn
vị không phải câu
Dựa vào cấu trúc ngữ pháp để nhận diện câu là cách làm phổ biến nhất của các nhà nghiên cứu truyền thống Đây cũng là một cách làm có hiệu quả bởi chỉ ở bậc câu các mối quan hệ ngữ pháp mới được xem là đầy
đủ Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu lại chưa thống nhất được một điểm quan trọng nhất đó là “cấu trúc cơ bản của câu tiếng Việt là gì? Đa số các nhà nghiên cứu cho rằng cấu trúc cơ bản của câu tiếng Việt là “Chủ-Vị” Tuy nhiên, cũng còn mộl bộ phận các nhà nghiên cứu cho rằng kết cấu cơ bản ấy
là “Để- Thuyết” Quan điểm này càng có cơ sở hơn khi mà Cao Xuân Hạo trong khi đi khảo sát vể câu tiếng Việt đã chỉ ra rằng có đến 75% số lượng câu tiếng Việt được cấu tạo, hay có cấu trúc “Đề - Thuyết” Như vậy, dựa trên cấu trúc ngữ pháp sẽ không mang lại một kết quả như mong muốn khi
mà cái quan trọng nhất, cái cấu trúc cơ bản chưa được nhận diện đúng đắn
Tiêu chí dựa vào ngôn điệu và âm vị mà một số nhà nghiên cứu sử dụng đề nhận diện câu được xem là một tiêu chí gây nhiều tranh cãi Cao Xuân Hạo khi bàn đến vấn đề này đã chỉ rõ, dưới đây chúng tôi trích nguyên văn:
Trang 39“Trong cấc thuộc tính ngữ âm học, nhiều tác giả nói đến sự có m ặt của m ột chỗ ngừng ở đẩu và cuối câu (chẳng hạn, Harris-1954: 14) Đặc trưng này
có thật và có ít nhiều giá trị thủ phấp, nhưng nó không cho ta biết gì về cương vị của câu cả vả lại kh ó lòng biết được chỗ ngừng cuối câu với chỗ ngừng giữa câu.
Ngoài ra, người ta còn viện đến ngữ điệu N gữ điệu hiếu theo nghĩa
là những nét ăm điệu bao trùm lên những ngữ đoạn lớn hơn từ (khấc với thanh điệu) quả có được dùng vào những m ục đích ngôn ngữ học ở m ột s ố ngôn ngữ - toàn là những ngôn n g ữ không có thanh điệu Những tác giả nói đến ngữ điệu như là m ột đặc trung của câu bao g iờ cũng nói rõ nó có giá trị
đó trong ngôn ngữ nào (chẳng hạn xem B loom ũeld 1933: 170) Và ngay trong những ngôn ngữ dùng ngữ điệu đ ể phân biệt câu hỏi với câu khẳng định chẳng hạn, nghĩa là dùng ngữ điệu đ ế phân biệt loại câu chứ không phải đ ế phân định biên giớ i của câu, tức là phân biệt câu với cái g ì chưa phải là cấu, thì đó cũng là m ộ t n ét phụ không tất yếu và không đặc thù Chẳng hạn ngữ điêu đi lên trong tiếng A nh có th ể đánh dấu cẩu hỏi, nhưng nhiều câu hỏ i không có ngữ điệu đi lên và rất nhiều đoạn câu không phải là càu hỏi lại có ngữ điệu đi lên y h ệt như câu hởi (Hockett 1958: 199).
N gữ điệu nó i chung là m ộ t hiện tượng ngoài ngôn ngữ, thường được kèm theo ngôn n g ữ với tính cánh là m ộ t công cụ hỗ trợ như củ chỉ gật đẩu, nháy mắt, khua tay theo lời nói N ó không phải là m ột thuộc tính của câu nói mà là m ột nét đặc trưng có tính chất cử ch i đệm theo hành động phát ngôn (Berendonner 1981: 14).( )
Theo những thực nghiệm bằng sonagraph, đường nét ẵm điệu của cấu tiếng Việt lệ thuộc hoàn toàn vào thanh điệu của cắc lừ (tiếng ), k ể cả
k h i từ m ang "khinh thanh” Những hiện tượng “lên giọng, xuống g iọ n g ” được thực hiện trong m ộ t phạm vi rất eo hẹp mà nếu vượt ra ngoài thì câu không còn hiếu được nữa (vì cấc thanh điệu bị biến dạng), và chí có tác dụng biểu cảm N gừng n ét âm điệu mà Thompson (1965) g ọ i là “ngữ điệu
Trang 40kết thúc câu ” là những nét có th ể có được trong m ộ t vài tình huống, nhất định nhưng hoàn toàn không phải là m ột đặc trưng bất biến của phẩn k ết thúc câu Những k ế t quả thực nghiệm do Hoàng Cao Cương (1985) thu được bằng m ấy glottograph cho thấy rằng tác dụng của ngữ điệu trong việc phân loại câu “m ờ nhạt hơn nhiều so với các ngôn n gữ không có thanh đ iệ u ”, và không th ế k ế t luận g ì về sự tương ứng củã m ộ t ngữ điệu xấc định với đơn vị câu, nhất là đối với câu trần thuật bình thường: m ay ra nhờ ngữ điệu có thế phân biệt m ột bên là câu h ỏ i xác định với cău mệnh lệnh với bên kin là cấc loại câu khác (1985:47) Những th í nghiệm xoá băng g h i âm cho thấy rằng những đoạn tách ra k h ỏ i câu nếu có đủ những điều kiện n gữ phấp đ ế được hiểu như m ộ t câu, đều được người nghe cảm thụ như m ột cảu bình thường Chẳng hạn những đoạn in nghiêng trong câu sau đây, sau k h i Ẵoá những phẩn đi trước và đi sau trên băng từ so với những câu trọn vẹn, cũng gồm những từ như th ế không th ể phân biệt được ( )
A nh nhớ đến làng Bồn và ngôi nhà của dì anh.
Bà M iến nghèo k h ổ và hiền lành.
Hai anh em ăn học trên tỉnh.
D ĩ nhiên, các tấc giả đưa ngữ điệu vào định nghĩa câu trong tiếng Việt đều khẳng định những điều như: “Câu có m ộ t ngữ điệu nhất định ” hay
“ chỗ k ế t thúc của câu được đánh dấu bằng điếm chấm dứt ngữ điệu của câu ” chứ không bao g iờ cho biết cái ngữ điệu quyết định cương vị của câu
đó rã sao Họ ch ỉ có lý m ộ t phẩn nào đối với trường họp đặc biệt như khi các từ không có “tính vị n g ữ ” lầm thành câu, chẳng hạn:
Quân khốn kiếp!
M ẩ y bay / V v ”
(Cao Xuân Hạo 2004: 29,30,31)
Có lẽ không cần bình luận gì thêm quanh việc đưa ngôn điệu và âm
vị như là những tiêu chí để nhận diện câu tiếng Việt, bởi thực chất nó không