Trong đó tiểu thuyết là một thể loại mới mẻ, xuất hiện ở nước ta đầu thế kỷ XX Trước đó, trong văn học quá khứ đã có tiểu thuyết, nhưng đó là loại tiểu thuyết theo quan niệm của văn học
Trang 1Đại học quốc gia hà nội Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Nguyễn Thị Kiều Anh
Lý luận về thể loại tiểu thuyết trong nghiên cứu,
phê bình văn học Việt Nam
nửa đầu thế kỷ XX
Luận án tiến sĩ ngữ văn
Hà Nội - 2005
Trang 2Đại học quốc gia hà nội Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Nguyễn Thị Kiều Anh
Lý luận về thể loại tiểu thuyết trong nghiên cứu,
phê bình văn học Việt Nam
nửa đầu thế kỷ XX
Chuyên ngành: Lý thuyết và lịch sử văn học
Mã số: 50401
Luận án tiến sĩ ngữ văn
Ngời hướng dẫn khoa học
PGS.TS Phạm Quang Long
Hà Nội - 2005
Trang 3Mục lục Trang
Mở đầu……….……… 7
1 Lý do chọn đề tài ……….……….… 7
2 Lịch sử vấn đề ……….………… …… 8
3 Giới thuyết về khái niệm tiểu thuyết………… ……… 20
4 Đối tượng nghiên cứu……… 20
5 Nhiệm vụ nghiên cứu ……….…… … 21
6 Phương pháp nghiên cứu ……….………… 22
7 Những đóng góp mới của luận án……… 23
8 Cấu trúc của luận án……….………… 23
Chương 1 Những tiền đề xã hội - văn hoá ảnh hởng đến sự ra đời của tiểu thuyết viết bằng chữ quốc ngữ 24 1.1 Sự phát triển của môi trờng đô thị và đời sống đô thị … 26
1.2 Chữ quốc ngữ và vai trò của nó trong đời sống xã hội ….… 30 1.3 Sự ra đời và phát triển của báo chí……… …… 33
1.4 ảnh hưởng của tiểu thuyết Trung Hoa với sự hình thành và phát triển tiểu thuyết viết bằng văn xuôi chữ quốc ngữ nửa đầu thế kỷ XX
37 1.4.1 Tình hình dịch thuật truyện Tàu ………… …….………… 37
1.4.2 ảnh hưởng của tiểu thuyết cổ điển Trung Hoa đến sự hình thành và vận động của tiểu thuyết văn xuôi quốc ngữ……… 39
1.5 ảnh hưởng của tiểu thuyết phương Tây đến sự hình thành
Trang 4và phát triển tiểu thuyết văn xuôi quốc ngữ nửa đầu thế kỷ XX 43
1.5.1 Tình hình dịch thuật và những sáng tạo ban đầu trong việc phỏng tác các tác phẩm tiểu thuyết phương Tây……… …………
43 1.5.2 ảnh hưởng của tiểu thuyết phương Tây đối với tiểu thuyết văn xuôi quốc ngữ nhìn từ đặc trưng thể loại……… ……… 46
1.6 Đội ngũ tác giả……….…… ……… 54
1.6.1 Các nhà nho chí sĩ……… … ……… 54
1.6.2 Nhà nho tài tử……….……… 56
1.6.3 Các nhà nho sáng tác văn chơng ở buổi giao thời……… 57
1.6.4 Những nhà văn - trí thức tân học……… 59
Tiểu kết chương 1……….……… 62
Chương 2 quan niệm chung về tiểu thuyếttrong nghiên cứu, phê bình văn học Việt Namnửa đầu thế kỷ XX 63 2.1 Khái niệm về tiểu thuyết……… 63
2.2 Phân loại tiểu thuyết ……… ……… 75
2.2.1 Phân loại theo Phạm Quỳnh………
2.2.2 Phân loại theo Thạch Lam………….…… ………
2.2.3 Phân loại theo Vũ Bằng ……… ………
2.2.4 Phân loại theo Vũ Ngọc Phan………
76 78 78 80 2.3 Quan niệm về nhà văn và nhà tiểu thuyết ……… ………… 81
2.3.1 Tài năng và nhân cách……….…….…………
2.3.2 Dấu ấn tác giả trong quá trình sáng tạo……… ………
2.3.3 Một số khâu cơ bản trong quá trình sáng tác của nhà văn………
83 91 93 Tiểu kết chương 2……….……… 97
Chương 3
Trang 5Vấn đề hiện thực và nghệ thuật
3.1 Mối quan hệ giữa tiểu thuyết và hiện thực đời sống ……… 100
3.1.1 Khuynh hướng tiểu thuyết tả thực và tả thực xã hội…….……
3.1.2 Khuynh hướng tiểu thuyết tả chân……….………
108 115 3.2 Nghệ thuật tiểu thuyết……… …… 121
3.2.1 Xây dựng nhân vật tiểu thuyết ………
3.2.2 Tổ chức cốt truyện của tiểu thuyết ………
3.2.3 Kết cấu tiểu thuyết ………
3.2.4 Ngôn ngữ tiểu thuyết………
121 139 141 147 Tiểu kết chương 3……… 156
Chương 4 vấn đề bạn đọc tiểu thuyết và phê bình tiểu thuyết 158 4.1 Bạn đọc tiểu thuyết ……… ……… 158
4.1.1 Nhà văn và bạn đọc……….………
4.1.2 Bạn đọc – chủ thể của hoạt động tiếp nhận……….………
159 156 4.2 Phê bình tiểu thuyết……… …… 166
4.2.1 Cơ sở của phê bình tiểu thuyết………
4.2.2 Các khuynh hớng phê bình tiểu thuyết……….…………
4.2.3 Đội ngũ các nhà phê bình tiểu thuyết………
166 170 186 Tiểu kết chương 4……….……… 196
Kết luận……… ……… 197
Tài liệu tham khảo……… ……… 202
Trang 6Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Trong công cuộc cách tân và hiện đại hoá văn học dân tộc nửa đầu thế kỷ
XX, bên cạnh những thành tựu về sáng tác, các hoạt động lý luận cũng có những thành tựu cụ thể, tập trung chủ yếu vào hai thể loại quan trọng là thơ và tiểu thuyết Trong đó tiểu thuyết là một thể loại mới mẻ, xuất hiện ở nước ta đầu thế kỷ XX (Trước đó, trong văn học quá khứ đã có tiểu thuyết, nhưng đó
là loại tiểu thuyết theo quan niệm của văn học trung cận đại, chịu ảnh hưởng rõ rệt của Trung Quốc) nhưng đã nhanh chóng tỏ rõ sức sống của mình và được giới nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ giành cho sự quan tâm thích đáng, bước đầu đưa ra được một số luận điểm quan trọng về thể loại Theo thống kê của chúng tôi, trong số 199 bài viết, đầu sách được sưu tầm
trong bộ Tuyển tập nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam từ 1900-1945, có
47 bài viết về thể loại tiểu thuyết Đây là một con số không nhỏ đối với một thể loại mới được hình thành trong những năm đầu thế kỷ XX Và trong số đó có
thể xem bài báo nhiều kỳ Bàn về tiểu thuyết (1921) của học giả Phạm Quỳnh là
một công trình nghiên cứu quy mô và hệ thống đầu tiên về tiểu thuyết trong văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX Tiếp sau phải kể đến công trình nghiên cứu khá
công phu Theo giòng của Thạch Lam và Khảo về tiểu thuyết (1941) của Vũ
Bằng Đây là những cuốn sách tập hợp các bài báo bàn về một số vấn đề của tiểu thuyết Ngoài ra, cùng với những công trình trên còn có những đóng góp của các tác gia khác như Ngô Đức Kế, Đặng Trần Phất, Bùi Xuân Học, Trọng Khiêm, D.C, Vũ Đình Long, Thiếu Sơn, Trúc Hà, Lệ Xuân, Vũ Ngọc Phan, Hải Triều, Vũ Trọng Phụng, Trương Chính, Trương Tửu… Họ cũng lưu tâm bàn về những phương diện khác nhau của tiểu thuyết
Với những thành tựu đáng kể như vậy, việc nhìn nhận đánh giá lại những vấn đề lý luận về thể loại tiểu thuyết giai đoạn nửa đầu thế kỷ thiết tưởng là việc làm cần thiết
Trang 7Thực hiện đề tài Lý luận về thể loại tiểu thuyết trong nghiên cứu, phê
bình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, chúng tôi hy vọng có thể dựng
được bộ khung lý thuyết về thể loại tiểu thuyết qua những ý kiến bàn về thể loại này của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam Từ đó thấy rõ được sự vận động của tư duy lý luận về thể loại tiểu thuyết và khẳng định những đóng góp về mặt lý luận trong nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam giai đoạn này
Hơn nữa, hiện nay nhiều người đang quan tâm tới giai đoạn văn học đầu thế kỷ XX, việc nghiên cứu di sản lý luận văn học giai đoạn này sẽ góp phần đánh giá lại di sản văn học quá khứ, cụ thể là của giai đoạn 1900-1945 trên tinh thần đổi mới và cũng góp phần vào việc kế thừa, phát triển của bản thân chuyên ngành lý luận văn học Xét rộng ra, công việc giảng dạy lý luận văn học trong nhà trường, công việc sáng tác của các nhà văn cũng không thể tách khỏi
di sản lý luận văn học quá khứ, bởi nó vẫn hiện diện trong đời sống văn học hôm nay
2 Lịch sử vấn đề
Là một thể loại văn học quan trọng song bản thân sự vận động của nó cũng như lý thuyết về thể loại rất phong phú nên mấy chục năm vừa qua đã có rất nhiều công trình chuyên biệt mang tính lý luận viết về thể loại tiểu thuyết Tuy nhiên chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện và
hệ thống các vấn đề lý luận của tiểu thuyết thể hiện qua những tập sách, những bài nghiên cứu, phê bình xuất hiện trong giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX Hầu hết
ở các công trình hoặc chỉ tập trung vào đánh giá một trào lưu, một hiện tượng, một tác giả hay nhóm tác giả tiêu biểu, hoặc nhận diện chung về tiểu thuyết thể hiện qua một số công trình mang tính chất văn học sử hay mang tính chất sưu tầm tư liệu Dưới đây chúng tôi xin điểm qua những công trình có liên quan đến
đề tài luận án Và để tiện cho việc theo dõi, chúng tôi sẽ tiến hành chia những công trình này thành hai nhóm:
Nhóm 1: Các công trình nghiên cứu, khảo luận
Nhóm 2: Các bộ sách sưu tầm, biên soạn
Trang 8a Các công trình nghiên cứu, khảo luận
Theo dõi tình hình nghiên cứu văn học ở nước ta suốt từ năm 1945 trở lại đây, chúng tôi thấy rằng:
Từ năm 1945-1954 do những điều kiện đặc biệt của chiến tranh, nên nghiên cứu văn học ít có điều kiện phát triển
Nhưng từ sau năm 1954, việc nghiên cứu văn học, trong đó đặc biệt là giai đoạn văn học đầu thế kỷ XX ngày càng được chú ý nhiều hơn Song trước những năm 80 của thế kỷ XX, trong các công trình nghiên cứu, các vấn đề lý thuyết của thể loại tiểu thuyết được bàn đến mới chỉ ở dạng khái lược, bàn qua, phần nhiều được khai thác ở khía cạnh mang tính chất tư liệu văn học sử như
cuốn: Việt Nam văn học giản ước tân biên (Phạm Thế Ngũ, 1963) Bảng lược
đồ văn học Việt Nam (Thanh Lãng, 1967), Những bước đầu của báo chí, truyện ngắn, tiểu thuyết và thơ mới (Bùi Đức Tịnh, 1972), hoặc trực tiếp bàn
đến những vấn đề mang tính lý luận của thể loại tiểu thuyết như: Viết và đọc
tiểu thuyết (Nhất Linh, 1960), Xây dựng tác phẩm tiểu thuyết (Nguyễn Văn
Trung, 1961), Công việc của người viết tiểu thuyết (Nguyễn Đình Thi, 1964),
Văn học và tiểu thuyết (Doãn Quốc Sĩ, 1972), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
(Phan Cự Đệ, 1975)… hoặc đánh giá về một tác gia như: Nam Cao-Nhà văn
hiện thực xuất sắc (Hà Minh Đức, 1961) chứ chưa có chuyên đề đi sâu nghiên
cứu vấn đề lý luận tiểu thuyết từ góc độ lịch sử hình thành, phát triển, các vấn
đề lý luận thể loại… trên cơ sở khảo sát các công trình nghiên cứu phê bình văn học nửa đầu thế kỷ XX
Trong Việt Nam văn học giản ước tân biên của Phạm Thế Ngũ (1963) và
Bảng lược đồ văn học Việt Nam của Thanh Lãng (1967) có đề cập đến thể loại
tiểu thuyết ở đó, tác giả đã có ý thức chỉ ra con đường phát triển liên tục từ truyện Nôm đến tiểu thuyết đồng thời chỉ ra những nguồn ảnh hưởng từ văn học nước ngoài
Với Bảng lược đồ văn học Việt Nam [71], Thanh Lãng được coi là nhà
nghiên cứu đầu tiên cấu trúc hoá được mô hình của những dạng tiểu thuyết dịch
Trang 9đương thời và chỉ ra những ảnh hưởng của chúng đến những tiểu thuyết do nhà văn Việt Nam sáng tác Ông cho rằng: “Đối với thế hệ 1932-1945, tiểu thuyết giữ địa vị quan trọng đến nỗi ta có thể coi lịch sử văn học Việt Nam của thời kỳ này
là lịch sử tiểu thuyết” Qua việc các nhà tiểu thuyết ta hồi đó chú ý đến vấn đề miêu tả tâm lý, theo ông, tiểu thuyết Việt Nam đã tiến về bề sâu
Còn trong công trình Việt Nam văn học giản ước tân biên[102], Phạm
Thế Ngũ đã chỉ ra những quan hệ đa dạng giữa tiểu thuyết và những thể ký trong thời kỳ đầu của văn học mới
Tuy nhiên, tất cả những vấn đề nêu trên chỉ được trình bày sơ lược mang tính chất tư liệu văn học sử nhiều hơn
Cũng với tính chất như vậy, công trình Những bước đầu của báo chí,
truyện ngắn, tiểu thuyết và thơ mới (1972)[153], thông qua việc khảo cứu, sưu
tầm tư liệu, tác giả Bùi Đức Tịnh đã phục hồi địa vị cho những tác phẩm đầu
tiên bị quên lãng (ông gọi đó là những hòn máu bị bỏ rơi) của nền văn học
nước nhà Riêng với thể loại tiểu thuyết, tác giả đã khẳng định, tiểu thuyết xuất
hiện trước nhất ở miền Nam từ năm 1887 với truyện Thày Lazaro Phiền của
Nguyễn Trọng Quản và tiếp sau đó là hàng loạt truyện của Trương Duy Toản, Nguyễn Chánh Sắt, Lê Hoằng Mưu Hơn nữa, ở công trình này, tác giả còn chỉ ra quá trình hình thành và phát triển của thể loại tiểu thuyết Ông cho rằng:
Hình thức phôi thai xuất hiện sớm nhất của tiểu thuyết ở miền Nam
là thơ, tức loại truyện của văn chương cổ điển đội lốt bằng cách lấy cuộc
đời của một nhân vật đương thời làm đề tài Kế đến là những truyện, không được gọi thẳng như thế mà thường được đặt nhan đề với những
danh từ ngoại sử hay dị sử lấy đề tài trong lịch sử Việt Nam hay xã hội
Việt Nam đương thời và sau cùng nói đến các tác phẩm được mệnh danh
là tiểu thuyết theo thể thức của tiểu thuyết phương Tây [153, tr.158]
Rất tiếc là trong công trình này, Bùi Đức Tịnh chỉ trình bày nội dung tóm tắt một số tác phẩm chứ chưa thực sự khảo sát một cách tỉ mỉ sự thay đổi về
Trang 10hình thức thể loại Cho nên giá trị của nó cũng chỉ dừng lại ở việc chỉ ra được
sự hình thành và phát triển của thể loại trong những năm đầu thế kỷ XX
Ngoài những công trình mang tính chất tư liệu văn học sử nói trên, cũng trong thời gian này, đã có một số công trình trực tiếp bàn đến những vấn đề mang tính lý luận của thể loại tiểu thuyết Đó là:
a, Trong Viết và đọc tiểu thuyết, tác giả Nhất Linh có khẳng định lại một
số vấn đề của Thạch Lam trong Theo giòng như:
1 Thành thực là yếu tố quan trọng đầu tiên đối với người cầm bút
2 Tiểu thuyết cũng phức tạp, lộn xộn, linh động như cuộc đời cả bề rộng lẫn bề sâu
3 Cốt truyện không cần lắm, không nên xếp đặt câu truyện quá, việc xảy
ra còn tuỳ theo tâm trạng của nhân vật Nếu xếp đặt cần phải viết có nghệ thuật
để việc ấy được tự nhiên, nhưng sự thực, đời người có xếp đặt được đâu Mà tiểu thuyết lại là thứ sách để tả cuộc đời
b, ở cuốn Xây dựng tác phẩm tiểu thuyết [161], tác giả Nguyễn Văn
Trung thông qua sự phân tích cụ thể một số tác phẩm tiêu biểu của một số tác giả trong và ngoài nước cũng đưa ra được khá tỉ mỉ những quan niệm và kĩ thuật viết tiểu thuyết Song những vấn đề được đưa ra và lý giải ở đây hoàn toàn mang tính chất chủ quan của tác giả Trong đó, khi nhận xét về cách phân
loại tiểu thuyết của Vũ Ngọc Phan ở bộ Nhà văn hiện đại, ông cho rằng cách
phân chia này là “chỉ xét về nội dung” và “không xác thực lắm”
c, Trong cuốn Mấy vấn đề nguyên lý văn học [99], Nguyễn Lương Ngọc
đã dành một chương bàn về tiểu thuyết Đặc biệt khi đề cập đến sự phát triển cùng quan niệm và tính chất của thể loại tiểu thuyết, tác giả đã dẫn ra một một vài ý kiến của hai học giả Phạm Quỳnh và Vũ Ngọc Phan để chứng minh cho những quan điểm của mình về thể loại này
d, Trong cuốn Những nguyên lý về lý luận văn học (tập 3) – Loại thể văn
học [34] của nhà nghiên cứu Hà Minh Đức có một chương bàn về tiểu thuyết
Trang 11Trong đó ở mục Bàn về sự phát triển của tiểu thuyết trong văn học Việt Nam,
từ việc khảo sát sự phát triển của thực tiễn sáng tác tiểu thuyết những năm đầu thế kỷ đến năm 1960, tác giả đã rút ra những vấn đề về thể loại như: Xây dựng nhân vật, vấn đề hiện thực, kết cấu, ngôn ngữ và khẳng định sự vận động của thể loại này theo từng giai đoạn phát triển
e, Cuốn Công việc của người viết tiểu thuyết [139] của Nguyễn Đình
Thi Với tư cách là nhà tiểu thuyết, ông đã trình bày khá đầy đủ những vấn đề cốt lõi của tiểu thuyết (quan niệm, mối quan hệ giữa tiểu thuyết và hiện thực cuộc sống, nghệ thuật viết tiểu thuyết…) Đây là một cuốn sách của người làm nghề nói về nghề của mình
g, Cuốn Văn học và tiểu thuyết [123] của Doãn Quốc Sĩ có ưu điểm là đã
khảo sát kỹ nhiều quan niệm về tiểu thuyết của các nhà nghiên cứu phê bình tiểu thuyết giai đoạn đầu thế kỷ như: Phạm Quỳnh, Thạch Lam, Vũ Bằng, Vũ Ngọc Phan…, song điều đáng tiếc những quan niệm này mới chỉ được coi là chỗ dựa cho những ý kiến riêng của chính tác giả chứ không được nhận xét, đánh giá một cách khách quan Nói rõ hơn là ông chỉ viện dẫn những gì phù hợp với quan niệm của mình mà chưa chú ý đúng mức tới tính khách quan khoa học của chúng Ngoài ra ông còn “bỏ qua” không ít luận điểm khác
h, Công trình Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại [27] của tác giả Phan Cự Đệ
là một công trình dày dặn nhất chuyên biệt về lý luận thể loại trên cơ sở thực tiễn 70 năm của tiểu thuyết Việt Nam Với một cách nhìn bao quát, sâu sắc, tác giả đã khái quát được quá trình hình thành và phát triển của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại và những vấn đề mang tính chất lý luận như: điển hình hoá trong tiểu thuyết hiện đại, những vấn đề thể loại của tiểu thuyết, lao động của người viết tiểu thuyết Có thể nói đây là bức tranh toàn cảnh về nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, từ thời kỳ sơ khai đến năm 1975 Song như lời nói đầu tác giả viết, công trình này có tính chất một chuyên đề lý luận về thể loại dựa trên cơ
sở thực tiễn của tiểu thuyết Việt Nam nên chưa có điều kiện nghiên cứu một cách đầy đủ và cụ thể từng trào lưu, từng tác giả, từng tác phẩm trong những
Trang 12thời kỳ lịch sử nhất định, do vậy những thành tựu nghiên cứu, phê bình thời kỳ 1900-1945 được tác giả quan tâm tới một cách hạn chế
Đặc biệt, từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), trên đà đổi mới nhiều mặt của xã hội Việt Nam, tình hình nghiên cứu văn học thực sự bước vào thời
kỳ mới Giới nghiên cứu văn học đương đại đã coi việc đánh giá lại di sản văn học quá khứ, nhất là văn học giai đoạn đầu thế kỷ XX, là một trong những mục tiêu soi sáng quá trình đổi mới tư duy nghiên cứu văn học Trên thực tế đã diễn
ra nhiều hoạt động khá sôi nổi như tổ chức hàng loạt cuộc hội thảo khoa học với chủ đề “Giải toả những nghi án văn học” nhằm trả lại giá trị đích thực cho một số tác giả, tác phẩm và trào lưu văn học quá khứ Chính vì vậy, nhiều tác phẩm thuộc loại “có vấn đề” của thời kỳ trước đã được in lại Nhiều bài viết, nhiều công trình mới ra đời Trong đó có một số công trình đề cập tới thể loại tiểu thuyết giai đoạn đầu thế kỷ XX thông qua việc đánh giá một trào lưu, một hiện tượng văn học tiêu biểu
Gần gũi với đề tài của luận án, có thể kể đến công trình Sự hình thành và
vận động của thể loại tiểu thuyết văn xuôi tiếng Việt ở Nam Bộ giai đoạn cuối thế kỷ 19 đến năm 1932 của Tôn Thất Dụng (1993)[19] Đây là công trình
nghiên cứu về lịch sử văn học, nhưng trong đó, người viết có nhắc tới quan niệm về thể loại tiểu thuyết của một số tác giả cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX như: Nguyễn Trọng Quản, Trương Duy Toản, Trần Thiên Trung… Nhìn chung, công trình này đã đề cập tới một số luận điểm về lý thuyết thể loại tiểu thuyết trong phê bình, lý luận đầu thế kỷ XX Nhưng nội dung này chưa phải là mục tiêu nghiên cứu chính của luận án, do đó các vấn đề lý thuyết thể loại chưa phải
là trọng tâm của công việc khảo sát
Công trình Quá trình hình thành và phát triển của phê bình văn học Việt
Nam thời kỳ đầu thế kỷ 20 đến năm 1945 [163] của Trần Việt Trung (1994) là
công trình đề cập tới vai trò của hoạt động báo chí, đội ngũ những nhà văn tham gia hoạt động phê bình văn học Tuy nhiên, người viết mới chỉ chủ yếu thiên về hoạt động phê bình giai đoạn 1930-1945 với các tác giả Thiếu Sơn,
Trang 13Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan, Hải Triều…, còn giai đoạn trước đó chỉ được đề cập sơ lược Các vấn đề về lý thuyết thể loại hầu như chưa được chú ý
Công trình Lí luận phê bình văn học Việt Nam ba mươi năm đầu thế kỷ
XX của Trần Mạnh Tiến (1996) [151] là công trình đầu tiên đề cập tới những
hoạt động lý luận và phê bình văn học Việt Nam từ năm 1900-1930, trong đó vấn đề lý luận về thể loại tiểu thuyết qua những công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX đã được chú ý đề cập tới nhưng còn khái lược và chưa mang tính chất hệ thống toàn
diện Tác giả chỉ mới bắt đầu chú ý tới vấn đề tiểu thuyết qua quan niệm, các
thành phần, phân loại tiểu thuyết trong một số công trình của các nhà nghiên
cứu phê bình giai đoạn này như: Phạm Quỳnh, Trúc Hà, Thiếu Sơn, D.C, Lệ Xuân
Công trình Những vấn đề lý luận văn học giai đoạn 1930-1945 của Ngô
Văn Giá (1996) [141] là công trình đề cập tới những hoạt động lý luận và phê bình văn học Việt Nam Trong đó, vấn đề lý luận về thể loại tiểu thuyết trong nghiên cứu, phê bình thời kỳ này là một trong những vấn đề được đề cập tới như: quan niệm chung về tiểu thuyết, một số đơn vị nghệ thuật của tiểu thuyết (nhân vật, cốt truyện, ngôn ngữ )… Song chúng chỉ được trình bày sơ lược chưa mang tính hệ thống bởi vì như tên gọi của đề tài, tác giả dành sự quan tâm tới toàn cảnh những vấn đề lý luận của văn học giai đoạn này Hơn nữa, tác giả chỉ chú ý đến những quan niệm của những nhà nghiên cứu phê bình ngoài Mác xít như: Thạch Lam, Vũ Bằng, Thiếu Sơn, Vũ Ngọc Phan
Bài khảo luận Nhìn lại cuộc tranh luận nghệ thuật 1935-1939 của Nguyễn Ngọc Thiện (in lần đầu trong cuốn Nhìn lại cuộc tranh luận nghệ
thuật 1935-1939, 1996) đã cố gắng dựng lại toàn cảnh diễn biến cuộc tranh
luận “Nghệ thuật vị nghệ thuật” hay “Nghệ thuật vị nhân sinh”, kết hợp sự phân tích những quan niệm, những ý kiến thuộc các quan điểm nghệ thuật khác nhau trong không khí sôi nổi, quyết liệt tranh biện với cái nhìn khoa học, khách quan và bình tĩnh Từ đó, người viết đưa ra những đánh giá về ý nghĩa cuộc
Trang 14tranh luận lớn này, trong sự liên hệ và so sánh các vấn đề lý luận văn học đã và đang đặt ra đối với văn học Việt Nam hiện đại, nhịp với những chặng đường đấu tranh của dân tộc Việt Nam
Bài Khải luận của tác giả Mã Giang Lân (được in lần đầu vào năm 1997, trong cuốn Tổng tập văn học Việt Nam, tập 24A) là bài viết đề cập tới sự ra
đời và phát triển của thể loại lý luận phê bình nghiên cứu văn học Việt Nam Trong đó, tác giả đã dựng lên bức tranh về hoạt động nghiên cứu, lý luận phê bình văn học trong những thập niên đầu của thế kỷ XX ở bài viết này, vấn đề thể loại tiểu thuyết đã được đề cập tới qua một số lời bàn của các tác giả tiêu biểu như Phạm Quỳnh, Thiếu Sơn, Hoàng Ngọc Phách, Thạch Lam, Vũ Bằng, Trương Chính, Hải Triều, Đặng Thai Mai trên một số phương diện (khái niệm, phân loại, kết cấu, nhân vật, ngôn ngữ ) Tuy nhiên, những vấn đề này được lướt nhanh để đi tới kết luận chứ không dừng lại để nhận xét, minh chứng một cách cụ thể
Trong bài viết Chuyển biến của thể loại tiểu thuyết trong văn học Việt
Nam đầu thế kỷ XX (2001) [74], qua khảo sát ý kiến về tiểu thuyết của 10 nhà
văn, nhà biên khảo từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX như Nguyễn Trọng Quản, Hồ Biểu Chánh, Phạm Quỳnh, Tản Đà, Hoàng Ngọc Phách,Thiếu Sơn, Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Đinh Gia Trinh về một số vấn đề hiện trạng, xu thế, kỹ thuật và nhìn nhận lại một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu; tác giả Bùi Việt Thắng đã đưa ra một số ý kiến đáng tin cậy (tuy còn ít ỏi) để khẳng định “tiểu thuyết là một thể loại văn học mới rất cần thiết cho sự đổi mới văn học theo hướng hiện đại hoá”
Năm 2003, trong lời giới thiệu cho bộ sách Tranh luận văn nghệ thế kỷ
XX [142], nhà nghiên cứu Hà Minh Đức đã phân tích những ý kiến xung quanh
những cuộc tranh luận nghệ thuật 1900-1945 Nhiều ý kiến bàn về thể loại tiểu thuyết tập trung ở hai cuộc tranh luận “Nghệ thuật vị nghệ thuật” hay “Nghệ thuật vị nhân sinh” và “Dâm hay không Dâm” thời kỳ 1935-1939 đã được tác giả nhìn nhận và đánh giá một cách khách quan
Trang 15Trong bài viết Các nhà văn Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX nói về văn tự sự
(2001) [160], thông qua việc khảo sát một số ý kiến của nhà văn nước ta bàn
về văn tự sự (tập trung ở tiểu thuyết), tác giả Nguyễn Nghĩa Trọng khẳng định: tuy mới còn ở mức độ sơ khai nhưng những ý kiến về văn tự sự và tiểu thuyết nói riêng nửa đầu thế kỷ XX đã đánh dấu một bước phát triển của lý luận văn học nước nhà Nó góp phần thúc đẩy sự lớn mạnh của văn xuôi hiện đại với sự góp sức của những nhà văn tả thực tài năng như: Nguyễn Công Hoan, Ngô tất
Tố, Vũ Trọng Phụng, Thạch Lam, Tô Hoài, Vũ Bằng, Nam Cao, Nguyên Hồng…Tuy nhiên, phần lớn các ý kiến được đưa ra chủ yếu mang tính chất điểm qua chứ không chú mục nhận xét đánh giá về kỹ thuật, phân tích kiến giải lý luận
về mặt thể loại trên cái nền đổi mới của tư duy văn học
Bài viết Sự hình thành và phát triển của tiểu thuyết hiện đại và lý luận
tiểu thuyết hiện đại ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX trong quan hệ với tiểu thuyết và thi pháp tiểu thuyết nước ngoài (Báo cáo khoa học tại Hội thảo khoa
học về văn học so sánh do trường ĐHSP Hà Nội tổ chức tháng 5/2004) của tác giả Nguyễn Ngọc Thiện đã bàn tới sự hình thành và phát triển của tiểu thuyết
và lý luận tiểu thuyết hiện đại ở nước ta qua thực tiễn sáng tác và tập trung
trong công trình: Bàn về tiểu thuyết (Phạm Quỳnh), Theo giòng (Thạch Lam),
Khảo về tiểu thuyết (Vũ Bằng) ở những công trình này, mọi vấn đề lý luận của
thể loại tiểu thuyết đã được người viết xem xét và lý giải trong sự so sánh với những quan niệm của nhà lý luận tiểu thuyết Nga M.Bakhtin Qua đó người viết phần nào đã cho thấy sự phát triển của tiểu thuyết cũng như sự vận động
về tư duy lý luận tiểu thuyết trong những thập niên đầu của thế kỷ XX Tuy nhiên trên thực tế, ngoài ba học giả được đưa ra, còn có rất nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu, nhà phê bình cũng có những đóng góp đáng kể cho sự phát triển của khoa nghiên cứu, phê bình văn học nói chung và thể loại tiểu thuyết nói riêng mà có lẽ do giới hạn về khuôn khổ một tiểu luận chưa thấy tác giả đề cập tới
Trang 16Công trình: Lý luận, phê bình văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX – 1945
của nhóm nghiên cứu Viện Văn học do Nguyễn Ngọc Thiện chủ biên là tập hợp những bài viết đề cập đến sự hình thành, các giai đoạn phát triển, các khuynh hướng lý luận phê bình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX Công trình đã ghi nhận sự nỗ lực tư duy về văn học thời kỳ hiện đại xung quanh việc xây dựng lý luận, phê bình trở thành bộ môn khoa học về văn học có lý thuyết
và phương pháp chuyên biệt, phát triển đồng bộ, hoà nhịp với sáng tác, hỗ trợ yêu cầu thẩm định của công chúng về chất lượng tác phẩm văn chương
Trong đó, những ý kiến về thể loại tiểu thuyết cũng đã được lưu ý nghiên
cứu, chủ yếu qua một số tác giả thời kỳ này như Phạm Quỳnh, Thạch Lam, Vũ
Ngọc Phan, qua các cuộc tranh luận nghệ thuật, qua 10 gương mặt phê bình tiêu biểu
Năm 2004, chuyên luận Phê bình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
(1900-1945)[167] của Nguyễn Thị Thanh Xuân được ấn hành Trên cơ sở kết
quả nghiên cứu của một luận án Phó tiến sĩ mà tác giả đã bảo vệ thành công 10 năm trước, công trình này đã khảo sát một cách khá hệ thống, toàn diện hoạt động phê bình thời kỳ này Tác giả cũng dành sự chú ý cho phê bình tiểu thuyết, nhưng do giới hạn của đề tài, vấn đề này không được bàn tới một cách tập trung, độc lập mà chỉ được nói đến rải rác qua một vài cuộc tranh luận nghệ thuật, một số bài phê bình tác phẩm tiểu thuyết đương thời và các tác gia phê bình tiêu biểu
Cuốn Văn học Việt Nam thế kỷ XX – Những vấn đề lịch sử và lý luận (do
Phan Cự Đệ chủ biên) [30] là một công trình tổng kết văn học Việt Nam thế kỷ
XX dưới ánh sáng của tư duy lý luận Mác xít Trong đó, ở chương bảy, với phần viết về hoạt động lý luận phê bình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử đã đưa ra những nhận xét về một số nét nổi bật thuộc quá trình hình thành và phát triển của lý luận phê bình, về tranh luận văn học, về thế hệ các nhà phê bình Từ đó, ông khẳng định: “Tuy chất lượng không đồng đều nhưng các tác giả và công trình phê bình văn học đã đánh dấu
Trang 17sự trưởng thành mọi mặt từ ý thức tự chủ đến phương pháp và thể loại, cũng như phong cách cá nhân”[30, tr.117] Trong đó, lý luận phê bình tiểu thuyết mới chỉ được đề cập tới thông qua những nhận xét rải rác trong cái nền và diện mạo chung của lý luận phê bình
Cũng trong thời kỳ này, ở một số công trình đi sâu vào từng tác gia, tác phẩm, các gương mặt tiêu biểu trên văn đàn những năm đầu thế kỷ XX như Phạm Quỳnh, Thạch Lam, Vũ Trọng Phụng, Hải Triều, Nam Cao, Vũ Ngọc Phan, Nhất Linh, Khái Hưng, Lan Khai…, các nhà nghiên cứu đã nhìn nhận và đánh giá lại một cách khách quan, chỉ rõ những đóng góp (cũng như hạn chế) của họ đối với nền văn học nước nhà nói chung và sự phát triển của lý luận tiểu thuyết nói riêng Có thể kể đến một số bài viết, công trình cá nhân hoặc tập thể
sau: Học tập nhà văn Vũ Ngọc Phan của Vũ Ngọc Khánh (1992), Thạch Lam
văn chương và cái đẹp của nhiều tác giả (1995), Văn chương và tác giả của
Nguyễn Ngọc Thiện (1996), Hải Triều - nhà lý luận tiên phong do Nguyễn Ngọc Thiện chủ biên (1996), Văn học trên hành trình thế kỷ XX của Phong Lê (1997), Nam Cao qua nửa thế kỷ của Hà Bình Trị (2001), Chủ nghĩa hiện thực
Nam Cao của Trần Đăng Suyền (2001), Văn chương tài năng và phong cách
của Hà Minh Đức (2001), Những vấn đề lý luận và lịch sử văn học do Hà Minh Đức chủ biên (2001), Lan Khai- Tác phẩm nghiên cứu lý luận và phê
bình văn học của Trần Mạnh Tiến (2002)…
b Các sách sưu tầm, biên soạn
Cũng nhằm mục đích khôi phục lại nền văn học giai đoạn đầu thế kỷ XX, thời kỳ này xuất hiện nhiều công trình mang tính chất tư liệu đã được biên soạn rất công phu Trong đó, các nhà biên soạn, sưu tầm đã tập hợp được khá nhiều bài nghiên cứu, phê bình về thể loại tiểu thuyết của các tác giả đầu thế kỷ XX
Đó là:
1, Khảo về tiểu thuyết (1996) của Vương Trí Nhàn [104] là công trình
biên soạn, tập hợp những ý kiến bàn về tiểu thuyết của các nhà văn, nhà nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX đến 1945
Trang 182, Tuyển tập phê bình nghiên cứu văn học Việt Nam (1900-1945), 5 tập
(1997) [141] là bộ tuyển tập bao gồm các tác phẩm lý luận, phê bình và nghiên cứu văn học của các tác giả giai đoạn đầu thế kỷ Trong đó có nhiều bài viết về tiểu thuyết của Phạm Quỳnh, Thạch Lam, Vũ Trọng Phụng, Thiếu Sơn…
3, Công trình Tổng tập văn học Việt Nam (1997) tập 24A, 24B [108,109]
tuyển những công trình lý luận nửa đầu thế kỷ XX của 37 tác giả không thuộc nhóm Mác xít như Dương Quảng Hàm, Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan, Thiếu Sơn, Thạch Lam, Lê Thanh, Trương Chính, Lan Khai, Phạm Quỳnh…
4, Tổng tập văn học Việt Nam (1997) tập 34 [110] tập hợp những công
trình lý luận nửa đầu thế kỷ XX của các tác giả thuộc nhóm Mác xít như: Hải Triều, Trần Đình Long, Trần Huy Liệu, Đặng Thai Mai…
5, Bàn về tiểu thuyết (2000) của Bùi Việt Thắng [138] biên soạn tập hợp
những ý kiến bàn về tiểu thuyết từ đầu thế kỷ XX đến nay Trong đó có những bài viết của ba tác giả tiêu biểu giai đoạn đầu thế kỷ là Phạm Quỳnh, Thạch Lam, Vũ Bằng
6, Tranh luận văn nghệ thế kỷ XX, 2 tập (2003) do Nguyễn Ngọc Thiện
chủ biên [142] tập hợp những bài lý luận phê bình trong 6 cuộc tranh luận nửa đầu thế kỷ XX, trong đó có nhiều bài phê bình về tiểu thuyết không phải từ góc
độ “đọc sách”, cảm nhận mà từ góc độ lý thuyết phân loại khoa học
Điểm qua một số công trình nghiên cứu đã ít nhiều đề cập đến các vấn đề
lý thuyết thể loại tiểu thuyết trong văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX có thể thấy rằng: hầu hết các công trình đều chưa có điều kiện tập trung đánh giá một cách khái quát, toàn diện về các ý kiến hàm chứa sự khai mở của tư duy lý luận về thể loại tiểu thuyết trong hoạt động nghiên cứu phê bình nửa đầu thế kỷ
XX (1900-1945) Nhìn chung, các công trình này thường chỉ tập trung vào đánh giá một trào lưu, một hiện tượng, một số tác gia và tác phẩm tiêu biểu của
họ, hoặc nhận diện chung về sáng tác tiểu thuyết Việt Nam hiện đại Đa phần
là công trình mang tính chất văn học sử, hay mang tính chất tư liệu tập hợp những lời bạt, lời nói đầu, những bài báo, tiểu luận phê bình bàn về tiểu thuyết
Trang 19Cũng có một số công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề lý luận văn học vài ba thập niên đầu thế kỷ nhưng chỉ dừng lại ở mức độ lược khảo, vẽ lên diện mạo chung ghi nhận những thành tựu lý luận văn học trong từng giai đoạn đó, chứ chưa tập trung đi sâu vào nghiên cứu sự diễn tiến của tư duy lý luận về thể loại tiểu thuyết xuyên suốt cả một giai đoạn ngót nửa thế kỷ
Do vậy, từ việc tiếp thu những thành tựu của những người đi trước, tiếp tục mở rộng và đi sâu trên cơ sở Luận văn thạc sĩ đã được bảo vệ năm 2000,
luận án của chúng tôi với đề tài Lý luận về thể loại tiểu thuyết trong nghiên
cứu phê bình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX cố gắng tập trung tập
hợp và khảo sát một cách có hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản của thể loại tiểu thuyết qua những ý kiến bàn về thể loại này từ các công trình của các nhà văn và nhà nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam được công bố trong nửa đầu thế kỷ XX
3 Giới thuyết về khái niệm tiểu thuyết
Là một thể loại mới được hình thành nên khái niệm “Tiểu thuyết” thời kỳ
này còn chưa được các nhà nghiên cứu, phê bình xác định rõ ràng, mà thường
sử dụng để chỉ tất cả các tác phẩm truyện có dung lượng dài ngắn khác nhau
(được gọi là Đoản thiên tiểu thuyết, Trung thiên tiểu thuyết, hay Trường thiên
tiểu thuyết) Ví dụ như truyện Thày Lazarô Phiền (1887) của Nguyễn Trọng
Quản chỉ dày 32 trang nhưng nhiều nhà văn thời kỳ này đều xem là tiểu thuyết Những tác phẩm của Trần Chánh Chiếu, Lê Hoằng Mưu, Nguyễn Chánh Sắt,
Hồ Biểu Chánh… dung lượng chỉ đủ sức một truyện vừa nhưng vẫn được gọi
là tiểu thuyết Ngay cả tác phẩm Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn, chỉ vẹn vẹn có vài ba trang in, nhưng Nam Phong tạp chí năm 1919 khi đăng tải
vẫn giới thiệu là tiểu thuyết tả chân Do vậy khi tiến hành khảo sát, phân tích những ý kiến của các nhà nghiên cứu, phê bình đầu thế kỷ, chúng tôi chủ yếu vẫn dựa vào những quan niệm của họ để đảm bảo tính lịch sử của thuật ngữ và
tư duy học thuật
Trang 204 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu trong luận án này là những “văn bản” bàn đến thể loại tiểu thuyết của các nhà văn, nhà nghiên cứu, phê bình, văn học giai đoạn đầu thế kỷ XX Những văn bản đó được khai thác từ những nguồn tư liệu,
từ các ấn phẩm đầu thế kỷ trên các báo như Nông cổ mín đàm, Đông Dương
tạp chí, Đông Pháp thời báo, Nam Phong tạp chí, Hữu Thanh tạp chí, An Nam tạp chí, Phụ nữ Tân văn và một số sách chuyên khảo của các nhà văn,
nhà nghiên cứu thời đó như Bàn về tiểu thuyết (Phạm Quỳnh), Theo giòng
(Thạch Lam), Khảo về tiểu thuyết (Vũ Bằng)
Đặc biệt, trước khi nhận đề tài này, chúng tôi đã tham gia biên soạn bộ
Tuyển tập phê bình, nghiên cứu văn học Việt Nam (1900-1945) (xuất bản
năm 1997) nên mọi tài liệu, văn bản giai đoạn này, trong đó có nhiều ý kiến
về tiểu thuyết, chúng tôi đã được tiếp xúc Ngoài ra, phần lớn những ý kiến bàn về tiểu thuyết còn được tuyển trong một số bộ sưu tầm, tuyển chọn
khác như: Khảo về tiểu thuyết (Vương Trí Nhàn) và Bàn về tiểu thuyết (Bùi
Việt Thắng)
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở tình hình nghiên cứu nêu trên, với khả năng tư liệu cho phép, chúng tôi xác định nhiệm vụ của luận án là:
- Tìm hiểu những điều kiện xã hội-văn hoá đã tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự hình thành và phát triển của tiểu thuyết viết bằng chữ quốc ngữ trong vài thập niên nửa đầu của thế kỷ XX cũng như việc nghiên cứu phê bình tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
- Tập trung khảo sát và phân tích các ý kiến bàn về tiểu thuyết từ những quan niệm chung (khái niệm, phân loại, nhà viết tiểu thuyết với tư cách là một nghệ sĩ kiểu mới thuộc về một quan niệm văn học mới, một nhân cách văn hoá mới khi cầm bút) đến những vấn đề của thể loại văn học (vấn đề hiện thực, nghệ thuật viết tiểu thuyết, bạn đọc tiểu thuyết, phê bình tiểu thuyết) Từ đó,
Trang 21làm rõ sự phát triển về tư duy lý luận thể loại trong giai đoạn nửa đầu thế kỷ của công cuộc hiện đại hoá nền văn học dân tộc Nói chính xác hơn, người viết đặt mục đích phân tích công việc của các nhà nghiên cứu, phê bình, các học giả, các nhà văn Việt Nam nửa đầu thế kỷ xung quanh việc bàn về chủ đề: làm thế nào để có thể phát triển một thể loại mới của văn học cần cho quá trình hiện đại hoá văn học dân tộc trên cơ sở tiếp thu kinh nghiệm nước ngoài, vừa
“là của ta”, “cho dân ta đọc”, góp phần tích cực vào đời sống xã hội lúc đó Đây là vấn đề lớn, rất có ý nghĩa không chỉ đối với văn học đương thời mà còn đối với tiến trình phát triển của xã hội Việt Nam hiện đại
- Khẳng định và ghi nhận những đóng góp của các nhà văn, nhà nghiên cứu, phê bình văn học giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX đối với quá trình hiện đại hoá nền tiểu thuyết nước nhà thông qua việc liên hệ với thực tiễn sáng tác, đương thời đồng thời việc nhìn nhận lại những vấn đề lý luận của thể loại mà các thế hệ đàn anh đã làm trên tinh thần đổi mới và phát triển của chuyên ngành lý luận hôm nay
6 Phương pháp nghiên cứu
Với một đề tài thuộc loại hình lý thuyết- lịch sử văn học, trong quá trình thực hiện luận án, chúng tôi chủ yếu sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp thống kê, phân loại: Các ý kiến bàn về vấn đề tiểu thuyết
được công bố trên sách, báo, tạp chí đã được chúng tôi thống kê một cách có
hệ thống, trong đó ưu tiên xem xét đánh giá những ý kiến nổi bật, cơ bản
- Phương pháp lịch sử cụ thể: Vì những tri thức lý luận văn học giai đoạn
này đang trong quá trình khai mở, chủ yếu được nêu lên qua những lời bạt, tựa, các tác phẩm phê bình, nghiên cứu văn học, cho nên luận án quán triệt phương
pháp lịch sử cụ thể trong quá trình nhận diện và đánh giá chung Các tri thức lý
luận văn học được cố gắng “giải mã” như nó vốn có, tránh suy diễn, gán ghép, hiện đại hoá những điều mà nó không hàm chứa
Trang 22Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như
phương pháp so sánh, phương pháp phân tích tổng hợp để làm sáng tỏ thêm
Đây là công trình đầu tiên khảo sát, hệ thống hoá và đánh giá sâu các vấn
đề lý luận của thể loại tiểu thuyết trong mảng nghiên cứu phê bình văn học giai đoạn nửa đầu thế kỷ (1900-1945) Kết quả nghiên cứu của luận án ít nhiều có tác dụng làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lý luận về thể loại tiểu thuyết trong giai đoạn văn học này và cho thấy rõ, ngay trong mấy thập kỷ đầu xây dựng nền văn học quốc ngữ mang tính chất cận hiện đại, các văn nhân và học giả nước ta đã có nhiều kiến giải về đặc trưng của thể loại và những ý kiến này đã tạo tiền đề cho sự đổi mới và hiện đại hoá của thể loại ở những giai đoạn sau của thế kỷ
b Về mặt thực tiễn
Chúng tôi hy vọng kết quả nghiên cứu của luận án sẽ là một tài liệu tham khảo hữu ích và thiết thực đối với hoạt động nghiên cứu, học tập và giảng dạy
về lý luận văn học và văn học Việt Nam hiện đại
8 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung chính của luận án được triển khai thành bốn chương
Chương 1 Những tiền đề xã hội- văn hoá ảnh hưởng đến sự ra đời của
tiểu thuyết viết bằng chữ quốc ngữ
Chương 2 Quan niệm chung về tiểu thuyết trong nghiên cứu phê bình
văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
Chương 3 Vấn đề hiện thực và nghệ thuật viết tiểu thuyết
Trang 23Chương 4 Vấn đề bạn đọc tiểu thuyết và phê bình tiểu thuyết
Trang 24Chương 1
Những tiền đề xã hội - văn hoá ảnh hưởng đến
sự ra đời của tiểu thuyết viết bằng chữ quốc ngữ
Từ năm 1897, công cuộc bình định nước ta của thực dân Pháp về quân sự căn bản đã hoàn thành Sự thất bại của Phan Đình Phùng (vào năm 1897 và được coi như đại diện cuối cùng của phong trào Cần Vương) đã làm cho không
ít sĩ phu hiểu rằng công cuộc chống Pháp theo con đường Cần vương đã tuyệt vọng Cuộc khởi nghĩa của nghĩa quân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám làm thủ lĩnh lúc này chưa bị dập tắt song nó mang ý nghĩa khác Và hệ quả của nó là không khí chống Pháp của nhân dân ta tạm thời lắng xuống Lợi dụng thời cơ này, thực dân Pháp bắt tay ngay vào việc khai thác xứ Đông Dương giàu có với
một kế hoạch khá bài bản Tuy chính quyền thực dân có cho thành lập một số
hội đồng dân biểu và cho xây dựng một số công trình công nghiệp, đô thị, giáo
dục để phục vụ cho chiêu bài Khai phá văn minh hay tự do, bình đẳng, bác ái,
song việc chính của chúng vẫn là bóc lột, vơ vét tài nguyên
Từ cuối thế kỷ XIX đến trước khủng khoảng kinh tế 1929-1933, người Pháp đã tiến hành hai cuộc khai thác Việt Nam với qui mô lớn: trước và sau đại chiến thế giới lần thứ nhất Chính sách kinh tế thực dân dù được che đậy bằng bất kì thủ đoạn mị dân nào cũng không nằm ngoài mục đích: bán hàng hoá (có thể là dư thừa) của mẫu quốc, vơ vét nguồn lực phục vụ cho các mục đích để phát triển (nước Mẹ), xây dựng một số cơ sở công nghiệp nhỏ lẻ cần cho các mục đích đã định và không được để ảnh hưởng xấu đến nền công nghiệp của chính quốc Các lĩnh vực giáo dục, văn hoá khác được xây dựng cũng không nằm ngoài quỹ đạo này
Kết quả của những chính sách đó là nền kinh tế phong kiến, sản xuất nhỏ, trì trệ, đóng kín điển hình của nước ta bị ép buộc phát triển theo một hướng khác Lưu thông hàng hoá ngày càng được đẩy mạnh, nước ta bị lôi kéo vào
Trang 25quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản nhưng không được công nghiệp hoá mà lại biến thành một thị trường tiêu thụ và cung cấp nguyên liệu hàng xuất khẩu cho Pháp Lợi ích của quá trình này nước Pháp được hưởng còn nhân dân ta bị bần cùng hoá, phần lớn trong số đó trở thành nguồn nhân công rẻ mạt cho các nhà máy, công xưởng, đồn điền của đủ các loại ông chủ Pháp đang mở ra ở khắp nơi trên đất nước Việt Nam Quá trình này có tác động hai mặt tới sự chuyển đổi của đời sống văn hoá Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX Đời sống của nhân dân ta, đặc biệt là đời sống của người nông dân và dân nghèo thành thị rất khó khăn trước sự bóc lột ngày càng thậm tệ của thực dân Pháp
Lắng xuống một thời gian không dài, các phong trào yêu nước, chống Pháp theo các xu hướng tư tưởng khác nhau của nhân dân ta lại được nhen nhóm lại và duy trì khá đều đặn vào đầu thế kỷ XX Lần lượt các tầng lớp sĩ phu, giai cấp tư sản dân tộc bước lên vũ đài chính trị với sứ mệnh tìm đường đưa dân tộc thoát khỏi cảnh nô lệ phụ thuộc Nhưng rồi mọi tìm kiếm con đường cứu nước theo khuynh hướng Cần Vương, tư sản cải lương, bạo động… đều vô vọng; cuối cùng vai trò chèo lái con thuyền Việt Nam được chuyển cho giai cấp vô sản với sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương (2/1930).Lịch sử phát triển của xã hội Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1930 chủ yếu đều xoay quanh cuộc đấu tranh toàn diện, quyết liệt giữa hai lực lượng đối lập, một bên là các lực lượng yêu nước và cách mạng của dân tộc Việt Nam, còn một bên là lực lượng phản dân tộc và các thế lực thù địch; đi ngược lại lợi ích của cả dân tộc, gắn bó chặt chẽ với chính quyền thực dân Pháp
Phong trào đấu tranh chống sưu thuế của nông dân Trung Kỳ, vụ đầu độc binh lính Pháp ở Hà Nội, cuộc khởi nghĩa của binh lính Thái Nguyên (1917), các phong trào ái quốc dân chủ (1922-1926), sự xuất hiện của Việt Nam Quốc dân đảng với cuộc khởi nghĩa Yên Bái (2/1930), sự ra đời các tổ chức tiền thân của đảng cộng sản Đông Dương (1924-1930) chứng tỏ sức sống mãnh liệt,
Trang 26bền bỉ và sự lớn mạnh dần của các phong trào yêu nước và cách mạng Việt Nam
Các chính sách khai thác thuộc địa của Pháp là hướng tới mục tiêu khác nhưng chúng vẫn ít nhiều gây tác động đáng kể tới sự phát triển nhiều mặt của nước ta Hay nói một cách khác, trong quá trình thực dân hoá Việt Nam, người
Pháp đã trở thành một thứ công cụ không tự giác của lịch sử, đặt tiền đề cho
việc phá huỷ cơ cấu xã hội cũ và xây dựng một xã hội mới Đó cũng chính là nguồn động lực ban đầu cho quá trình hiện đại hoá diễn ra ở Việt Nam Tuy nhiên, vì tiến hành trong những điều kiện lịch sử bất bình thường, từ xuất phát điểm chưa phát triển đến mức tự phủ định cũng như chịu chi phối của chủ nghĩa thực dân kiểu cũ mà người Pháp áp dụng ở Đông Dương, quá trình hiện đại hoá xã hội Việt Nam không thể tránh khỏi những mặt dang dở, thiếu triệt
để, thiếu hoàn thiện Nghiên cứu đầy đủ và sâu sắc vấn đề đó đòi hỏi nhiều công sức không chỉ của một người Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, chúng tôi chỉ đề cập đến một số nhân tố giữ vai trò như những tiền đề xã hội - văn hoá có ảnh hưởng trực tiếp tới sự hình thành của một thể loại văn học mới
- tiểu thuyết viết bằng chữ quốc ngữ
1.1 Sự phát triển của môi trường đô thị và đời sống đô thị
Như nhiều nhà nghiên cứu lịch sử văn học đã chứng minh, đô thị chính là một trong những tiền đề quan trọng cho sự ra đời của văn học hiện đại Trong lịch sử Việt Nam, đô thị đã được hình thành từ thời trung đại trên cơ sở những trung tâm văn hoá - hành chính của nhà nước phong kiến: kinh đô và những phủ lỵ ở địa phương Nhưng, xét theo những tiêu chí của một đô thị như ta vẫn nói hiện nay thì đô thị Việt Nam trước thế kỷ XX vẫn nằm ngoài danh sách ấy Đến thế kỷ XVII-XVIII, cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hoá, dù ở mức
độ hết sức sơ khai, sự phát triển của các đô thị được đẩy mạnh thêm một bước
Đô thị thời kỳ này là nơi tập trung những cơ quan hành chính văn hoá của triều đình phong kiến, những làng nghề, phường thợ thủ công và cơ sở thương mại
Trang 27Đồng thời để phục vụ nhu cầu giải trí của một số tầng lớp cư dân đô thị, những
tụ điểm giải trí đã hình thành với những hình thức sinh hoạt văn hoá ở ngoài khuôn khổ cung đình và cũng không hề tồn tại trong phạm vi làng xã Nhân vật trung tâm của đô thị truyền thống là quý tộc và quan chức phong kiến, thương nhân, thợ thủ công, nho sinh Tất nhiên, do trình độ phát triển của một nền kinh
tế lấy nông nghiệp làm gốc cũng như nền tảng văn hoá - xã hội nho giáo, các
đô thị Việt Nam không thể phát triển đến mức trở thành các đô thị hiện đại như
ở Nhật Bản, Trung Quốc hay ở các nước phương Tây Đô thị Việt Nam truyền thống giờ đây trở thành môi trường phát triển của nền văn học phi truyền thống, văn học của nhà Nho tài tử như nhiều nhà nghiên cứu đã chứng minh, với nhiều yếu tố vượt ra ngoài khuôn khổ của văn học quan phương và văn học dân gian Trên phương diện này, các yếu tố “phi truyền thống”, “phi quan phương” nói trên chính là những mầm mống của văn học hiện đại
Bước sang thời kỳ Pháp thuộc, đặc biệt là từ sau đại chiến thế giới lần thứ
I, cùng với quá trình thực dân hoá, đô thị Việt Nam phát triển rất mạnh Đây là nơi tích tụ và phản ánh những chuyển biến của xã hội Việt Nam trong quá trình hiện đại hoá ở các đô thị, xuất hiện những tầng lớp xã hội chưa từng có trong truyền thống như giai cấp công nhân, giai cấp tư sản, giai cấp tiểu tư sản- công chức Một mặt, các giai cấp ấy là sản phẩm trực tiếp của quá trình chuyển dịch
cơ cấu xã hội truyền thống để thích nghi với điều kiện sống mới Tại các đô thị này, tập trung một phức thể đa dạng dân cư thuộc những thành phần xã hội khác nhau: viên chức, quan chức, nhà thầu tư sản phục vụ chính phủ thực dân
và Nam triều, tầng lớp dân nghèo thành thị hình thành từ quá trình bần cùng hoá nông thôn, tầng lớp trung lưu hành nghề tự do và những nhà tư sản dân tộc Một nền kinh tế mang màu sắc tư bản chủ nghĩa đã manh nha hình thành tại các đô thị và kèm theo đó là những lối sống, những trạng huống tâm lý xã hội mới mẻ Đô thị vừa là cửa ngõ giao lưu văn hoá giữa Việt Nam và thế giới, vừa
là nơi mà các ảnh hưởng phương Tây thể hiện sâu sắc nhất Đây cũng là nơi bộc lộ những mâu thuẫn của xã hội Việt Nam trên con đường chuyển từ một xã
Trang 28hội lấy nông nghiệp làm trọng, sang một xã hội lấy công nghệ và thương mại làm nòng cốt Nhân đây, chúng tôi cũng muốn đề cập đến một yếu tố khác, có ảnh hưởng đáng kể đến việc làm thay đổi nhiều giá trị trong xã hội Đó là việc hình thành ở Đông Dương một hệ thống giáo dục kiểu mới theo tinh thần Âu hoá, đúng ra là theo hệ thống Pháp Hệ thống giáo dục này, xét về bản chất, hiện đại hơn hệ thống giáo dục truyền thống Nó giàu tính thực tiễn và tính khoa học hơn Giáo dục tiểu học và giáo dục đại học (trường đại học đầu tiên theo tinh thần này được thành lập năm 1906, tại Hà Nội, cho toàn cõi Đông Dương) đã hình thành ở mọi miền, thu hút đông đảo con cái của tầng lớp có của, quan chức, công chức, địa chủ và những người có tinh thần đổi mới Sau khoảng một, hai thập niên, các trường này đã đào tạo ra một lớp người khác hẳn Họ gần gũi với văn minh Phương Tây, cũng như trước đây cha ông họ đã gần gũi với văn hoá Trung Hoa vậy Và một trong những món ăn tinh thần quan trọng đối với họ chính là văn hoá âu-Mỹ lấn át văn hoá Hán, trong đó có văn học
Dĩ nhiên thơ, tiểu thuyết, báo chí giữ vị trí hàng đầu
Hầu hết các trường đại học đều tập trung ở thành thị Tự nhiên, đô thị trở thành nơi hội tụ của một cộng đồng người mới với chất lượng dân cư và quan
hệ cũng khác Rồi từ cộng đồng dân cư này lại lan toả những ảnh hưởng của nó đến các vùng miền khác trong cả nước, tạo tiền đề để thúc đẩy quá trình biến đổi ngày càng trở nên sâu sắc và toàn diện hơn
Đối với văn học Việt Nam hiện đại, đời sống đô thị là tác nhân dẫn đến sự
ra đời của văn học mới Đô thị là nơi tập trung một tầng lớp công chúng văn học mới, rất đa dạng về mặt thành phần Đó là các công chức, viên chức, tư sản, học sinh, sinh viên và những người bình dân Cuộc sống của họ gắn liền với những thiết chế kinh tế xã hội đặc thù của đô thị - nghĩa là đã xa rời với đời sống nông nghiệp Môi trường sống của họ cũng không còn là làng xã hoặc những nhóm xã hội theo kiểu truyền thống Về nguồn gốc văn hoá, mặc dù trong họ những sợi dây liên lạc với văn hoá truyền thống không bị cắt đứt như-
ng sự gắn bó với văn hoá truyền thống chắc chắn đã bị cuộc sống mới làm cho
Trang 29phai nhạt Hơn nữa cuộc sống mới cũng làm nảy sinh trong họ những nhu cầu tâm lý và hưởng thụ văn hoá mới mẻ Trong cuộc sống đua chen, cạnh tranh,
họ cần phải sống thực, phải thực tiễn hơn mà không thể thoả mãn với những lời giáo huấn và đạo lý cương thường Người ta cần hiểu rõ, hiểu kỹ về cuộc sống với tất cả những tình tiết đầy đủ, những chi tiết cụ thể, gây được cảm giác, thoả mãn được sự tò mò Người ta cần sống với những cảnh ngộ, số phận của những con người cụ thể trong cuộc sống bình thường, thế tục Người ta muốn nếm trải cái có thật (hay có thể có thật) chứ không phải được khích lệ bằng những gương trung- hiếu, minh họa đạo nghĩa Người ta cũng muốn rút ra từ đó những bài học quý giá, nhưng là những bài học của cuộc sống, không phải những bài học của giáo lý Người ta muốn xúc cảm, muốn mở mang như những con ng-ười, những cá nhân chứ không phải xúc động như khi chiêm ngưỡng tấm gương cao cả của vị thánh xuất chúng Tất cả những điều này đều có trong văn học phương Tây Vì vậy, có thể nói rằng, chính những tầng lớp thị dân này đã làm xuất hiện những nhu cầu về một thứ văn học mang màu sắc của “văn nghệ” ph-ương Tây Họ là một bộ phận công chúng dễ chấp nhận cái mới và đòi hỏi cái mới Trên một phương diện khác, đô thị với những cơ quan báo chí và xuất bản, nơi tích tụ nhu cầu thưởng thức văn học của công chúng với số lượng lớn
là điều kiện thuận lợi để hình thành đội ngũ nhà văn chuyên nghiệp Lúc này văn chương vừa có thể trở thành một nghề kiếm sống vừa có thể trở thành một nghề hấp dẫn không phải chỉ dành cho lớp người có tiền, có quyền, có học mà của một lớp người đặc biệt, vừa có tài, vừa được trọng thị Hơn nữa, cuộc sống
đô thị với tất cả những khía cạnh phức tạp cũng tác động không nhỏ tới nhà văn Với một trình độ học vấn đã được Âu hoá, có không ít người có trình độ cao, nhiều người đã có những hiểu biết khá bài bản về những nền, những xu hướng, những tác giả tiêu biểu của văn học phương Tây Và trước những nhu cầu mới của công chúng và trước một thực tại đời sống mới mẻ, họ dấn thân vào những thể nghiệm văn học vượt ra ngoài khuôn khổ truyền thống là điều tất yếu Đó chính là con đường của văn chương hiện đại viết bằng chữ quốc ngữ
Trang 30Hiển nhiên, đó chỉ là những điều kiện đầu tiên và sơ đẳng nhất Bởi để có một quá trình sinh thành nên một nền văn chương đích thực, đòi hỏi phải có một sự chuyển biến từ bình diện thượng tầng, trong những tư tưởng triết - mỹ của nhà văn, song song với những thay đổi về hình thái, cơ cấu xã hội Mà muốn vậy người viết văn phải có một trình độ học vấn - văn hoá nhất định, phải có một bản lĩnh văn hoá để hình thành nên những nhân cách độc lập không bị ảnh hư-ởng của thị trường và thị hiếu một cách thụ động mà phải chuyển hoá được những nguồn ảnh hưởng đa dạng thành sức sống và tầm cỡ cho tác phẩm Với những yêu cầu đó thì môi trường đô thị, đời sống trong quá trình tư sản hoá nhiều khi lại trở thành một thời đại “không thuận lợi đối với nghệ thuật” Song nếu xét về phương diện khác thì trong mối tương quan với sự vận động của tư tưởng học thuật, của tư duy văn học, những thay đổi này cũng là một trong những tiền đề tạo nên một thể loại mới tiểu thuyết viết bằng chữ quốc ngữ 1.2 Chữ quốc ngữ và vai trò của nó trong đời sống xã hội
Mặc dù được sáng tạo nên từ nửa đầu thế kỷ XVII nhưng cho đến những thập niên đầu thế kỷ XX, chữ quốc ngữ chủ yếu chỉ phổ biến trong những cộng đồng thiên chúa giáo với một mức độ sử dụng hết sức hạn chế Chính vì vậy
mà trong một thời gian dài, chữ quốc ngữ tuy đã xuất hiện nhưng vẫn thiếu những điều kiện thuận lợi để có thể phát triển nhanh Chỉ đến khi thực dân Pháp xâm lược và đặt nền đô hộ ở Đông Dương thì chữ quốc ngữ mới bắt đầu thay thế chữ Hán và chữ Nôm, trở thành thứ công cụ được sử dụng trong bộ máy hành chính, giáo dục và những sinh hoạt văn hoá tinh thần Thực chất điều này có nguồn gốc từ hai phía Về phía nhà cầm quyền thực dân, việc sử dụng chữ quốc ngữ một cách bắt buộc trong phạm vi toàn xã hội cho phép họ hạn chế ảnh hưởng của giới trí thức truyền thống, cắt Việt Nam ra khỏi quỹ đạo đồng văn với Trung Quốc và chuẩn bị cho công cuộc Pháp hoá người bản xứ
Về phía tầng lớp trí thức yêu nước Việt Nam, sau thời kỳ phản ứng cực đoan trước tất cả những gì từ phương Tây, sang đầu thế kỷ, cùng với những phong trào Duy Tân, chữ quốc ngữ được giới sĩ phu chấp nhận như một lợi khí đấu
Trang 31tranh nhằm hiện đại hoá đất nước, giành độc lập cho dân tộc Đặt trong hoàn cảnh lịch sử đương thời thì đó là một sự lựa chọn sáng suốt và đồng thời cũng
là bất khả kháng Bởi ở Việt Nam, mặc dù trước đó đã có được một hệ thống
ký tự ghi âm ngôn ngữ dân tộc nhưng mức độ chuẩn hoá, mức độ phổ biến còn hạn chế và còn phụ thuộc quá nhiều vào chữ Hán Vì vậy, trước những vấn đề của quá trình hiện đại hoá thì chữ quốc ngữ vẫn là một phương tiện tối ưu để phổ biến giáo dục và chống lại quá trình Pháp hoá một cách cưỡng bức, giữ đ-ược sự độc lập dân tộc trên bình diện văn hoá Đối với sáng tác văn học hiện đại, việc sử dụng chữ quốc ngữ đã hạn chế việc tiếp cận, kế thừa kho tàng văn học được viết bằng chữ Hán và chữ Nôm, nhất là khi những khoa thi chữ Hán cuối cùng chấm dứt, phạm vi phổ biến chữ Hán ngày càng thu hẹp (Về vấn đề này xin xem Trần Đình Hượu [63]) Hơn thế nữa, trong quá khứ, tiếng Việt và chữ Nôm mặc dù đã được sử dụng để sáng tác văn học và đạt được thành tựu mang tính cổ điển, nhưng vẫn chưa được hoàn thiện đến mức hoàn toàn có thể thay thế chữ Hán Do vậy, việc sử dụng chữ quốc ngữ để sáng tác văn học đồng nghĩa với việc xây dựng một nền văn học thuần tuý dùng tiếng nói và chữ viết dân tộc Điều đó tránh cho văn học Việt Nam hiện đại không bị cuốn vào quỹ đạo của nền văn học các nước Francophone, đồng thời vận dụng từ mối liên hệ với những truyền thống văn học dân tộc trong quá khứ Tuy nhiên, mặt khác cũng đặt ra yêu cầu phải hoàn thiện ngôn ngữ dân tộc và khắc phụ tình trạng đứt gẫy giữa truyền thống và hiện đại gây ra do sự khác biệt về văn tự
Dù sao, cũng phải khẳng định việc chữ quốc ngữ được sử dụng rộng rãi trong phạm vi toàn xã hội là một tiền đề vô cùng quan trọng dẫn đến sự hình thành của nền văn học mới
Khi nhận xét về tầm quan trọng của việc sáng tạo và phổ biến chữ quốc ngữ trên phạm vi toàn xã hội, nhà nghiên cứu Hoàng Tiến đã viết:
Những nhà làm cuộc cách mạng chữ viết đã tạo ra được những ảnh hưởng to lớn mà chính họ không ngờ
Trang 32Một: Mở đầu cho một ngành mới, mà sau này rất phồn thịnh và quan
trọng là ngành báo chí (với đủ các thể loại nghệ thuật đưa tin (trong nước
và thế giới); nghệ thuật viết xã luận, dẫn luận, nghệ thuật giới thiệu và quảng cáo )
Hai: Mở đầu cho một nghề mới là nghề in ấn, tạo công ăn việc làm
cho hàng ngàn người Nghề in ấn phát triển nhanh chóng và trở thành một nghề tối quan trọng không thể thiếu được ở các quốc gia văn minh
Ba: Khởi nguồn cho các loại hình văn học (thơ mới, kịch nói, truyện
ngắn, tiểu thuyết ) sẽ nở rộ vào những năm 1930-1945, tạo ra một giai đoạn văn học đột biến, ghi vết khá sâu đậm trong lịch trình phát triển văn học nước nhà
Bốn: Chữ quốc ngữ được phát triển dưới sự hỗ trợ và cầm chịch của
chính quyền thuộc địa Pháp Nhưng ngay cả người Pháp cũng không ngờ, một khi nó đã trở thành công cụ của dân chúng để truyền đạt tư tưởng và biểu lộ xúc cảm, thì nó đã tuột khỏi sự kiểm soát của chính quyền thuộc địa và ngược lại, biến thành lực lượng đối kháng hữu hiệu nhất cho công cuộc giành độc lập của dân tộc Nó sẽ tiếp tục phải đánh bại chữ Pháp, để chiếm địa vị độc tôn Đó là điều người Pháp không muốn nhưng không thể cưỡng lại [150, tr.115-116]
Trong ý kiến trên, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến hai vấn đề Thứ nhất, chữ quốc ngữ là phương tiện chuyển tải hợp lý nhất những thông tin mọi mặt
về đời sống đến tầng lớp độc giả mới Điều này vô cùng quan trọng nếu xét ở khía cạnh nó làm thay đổi quan niệm, tư duy con người do được tiếp cận nhiều thông tin Đối với sinh hoạt tinh thần, yếu tố này trở thành một tác nhân quan trọng là thay đổi quan niệm của xã hội Thứ hai, chữ quốc ngữ trở thành phương tiện góp phần làm nảy sinh một thể loại văn học mới là tiểu thuyết Hai bình diện này khó có thể nói cái nào quan trọng hơn đối với sự đổi mới văn học dân tộc
Trang 331.3 Sự ra đời và phát triển của báo chí
Một trong những hoạt động văn hoá có tác động trực tiếp đến quá trình hình thành và phát triển của thể loại tiểu thuyết văn xuôi tiếng Việt trong thời
kỳ này là sự xuất hiện của báo chí
Ngay từ năm 1861, chỉ ít lâu sau khi chinh phục Nam Kỳ, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn cần có một phương tiện ngôn luận làm cầu nối giữa kẻ đi chinh phục và người bị chinh phục, thực dân Pháp đã cho xuất bản những tờ
công báo đầu tiên in bằng chữ Pháp và chữ Hán như tờ Le Bulletin oficiel de
L’expedition en Cochinchine (1861), Le Bulletin de Communes (1862), Le Courrier de Saigon (1864) Đặc biệt ngày 15-4-1865, để tạo điều kiện cho chữ
quốc ngữ “bén rễ” vào quần chúng, thực dân Pháp cho xuất bản tờ báo viết
bằng chữ quốc ngữ đầu tiên - tờ Gia Định báo - đánh dấu sự mở đầu của báo
chí quốc ngữ ở nước ta Và trong thời gian duy trì nền cai trị ở Đông Dương, nhìn thấy ở báo chí một phương tiện hữu hiệu phục vụ công cuộc “chinh phục tinh thần người bản xứ”, nhà cầm quyền Pháp đã liên tục duy trì và phát triển một hệ thống báo chí bằng tiếng Pháp và chữ quốc ngữ do chính họ đứng ra xuất bản hoặc trợ cấp cho những tổ chức hoặc cá nhân người Việt thân Pháp Đồng thời thực dân Pháp cũng liên tục ban hành những bộ luật và văn bản dưới luật nhằm kiểm soát báo chí xuất bản
Sau một thời gian phản ứng tiêu cực trước tất cả những gì đến từ Phương Tây, sang đầu thế kỷ XX, người Việt đã làm quen với báo chí Báo chí đã thâm nhập một cách sâu sắc vào đời sống văn hoá tinh thần của nhiều tầng lớp người Việt ở ta hồi ấy đã xuất hiện những tờ báo thuộc về cá nhân, hội nhóm người Việt, được phép xuất bản, hành nghề trong khuôn khổ chịu sự chi phối của những bộ luật về báo chí do nhà cầm quyền ban hành
Trong giai đoạn đầu của nền văn học mới, hoạt động báo chí ngày càng sôi nổi, rộng khắp Hầu hết các tờ báo và tạp chí lớn đều dịch và đăng các tác phẩm văn học phương Tây và văn học Trung Hoa, phiên âm các tác phẩm chữ Nôm, chữ Hán ra chữ quốc ngữ đồng thời in lại các tác phẩm văn học dân gian
Trang 34(sưu tầm, tuyển chọn) Đây chính là bước chuẩn bị cần thiết để nhà văn làm quen với những thể loại nòng cốt của văn học hiện đại Đồng thời, thông qua dịch thuật cũng như sử dụng các thể loại văn báo chí, một thứ ngôn ngữ văn học mới đang từng bước định hình Đó là những chất liệu không thể thiếu cho
sự ra đời của văn học hiện đại trong đó đặc biệt là thể loại tiểu thuyết Chính nhờ hoạt động này đã góp phần tạo nên bộ phận công chúng của văn học quốc ngữ, hình thành thói quen “tiêu thụ” văn học bằng chữ quốc ngữ và qua đó cũng đã góp phần làm cho ngôn ngữ tiếng Việt có điều kiện ngày càng phát triển nhanh hơn, khoa học hơn và phổ thông hơn
Nếu so sánh câu văn xuôi tiếng Việt trong Sách sổ sang chép các việc của
Philiphê Bỉnh (1822) với câu văn xuôi của Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, chúng ta thấy sự phát triển của câu văn xuôi tiếng Việt chưa nhiều Nhưng nếu
so sánh với văn xuôi của Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của với văn xuôi trên báo chí từ những năm 1920 trở đi thì có thể thấy sự khác biệt đã rõ nét Câu văn xuôi tiếng Việt lúc này dần dần thoát ra khỏi lối văn biền ngẫu, có vần, có đối, học tập tinh thần lôgic, sáng sủa của cú pháp văn xuôi tiếng Pháp Ngôn ngữ đời sống hàng ngày được sử dụng ngày càng nhiều làm cho câu văn mang tính chất linh hoạt, phản ánh đúng bản chất các đối tượng được miêu tả Vì vậy, báo chí quốc ngữ đã góp phần không nhỏ vào việc cải tiến ngôn ngữ văn xuôi tiếng Việt trong những năm đầu thế kỷ XX
Mặt khác, xét trên một bình diện rộng hơn, báo chí chính là môi trường tồn tại của văn học mới Văn học hiện đại xuất hiện trước hết và chủ yếu là qua báo chí Trong quá khứ, văn học truyền thống được nuôi dưỡng trong môi trường của nền giáo dục Nho giáo, trong sinh hoạt văn hoá của những nhóm trí thức truyền thống và trong đời sống của công chúng bình dân ở làng xã Bước sang thời hiện đại, văn học mới đòi hỏi một môi trường tồn tại khác, thậm chí trái ngược với truyền thống Với lợi thế là một phương tiện thông tin đại chúng
có sức phổ biến, các báo chí giữ vai trò là khâu trung gian giúp những sáng tác văn học theo lối mới xuất hiện và đến với một bộ phận công chúng nhanh nhất,
Trang 35hiệu quả nhất Có thể nói văn học mới tới được công chúng của mình và lớp độc giả mới, có được những sản phẩm tinh thần của nhà văn trong giai đoạn này chủ yếu là qua báo chí, nhờ báo chí Đồng thời thông qua việc lựa chọn giới thiệu, đăng tải, bài vở, thông qua những hoạt động phê bình văn học, báo chí giữ vai trò là người trợ thủ của văn học hiện đại Có thể kể đến một số tờ báo giữ vai trò “đỡ đầu” cho nền văn học hiện đại bằng chữ quốc ngữ như:
Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí, Hữu Thanh tạp chí, An Nam tạp chí
ở Bắc Kỳ hoặc Thần Chung, Đông Pháp thời báo, Phụ nữ tân văn, Lục tỉnh
tân văn ở Nam Kỳ Ngoài ra cũng phải nhấn mạnh là trong những thập niên
đầu của thế kỷ XX, khi một hệ thống xuất bản và phát hành tiên tiến chưa được hình thành thì vai trò của báo chí lại càng đặc biệt quan trọng Nhà xuất bản gắn với cơ sở in, gắn với báo chí mặc dù xuất hiện khá sớm, nhưng trong tương quan lúc đó thì không quan trọng bằng báo chí Tên tuổi người nghệ sĩ, nhà văn Việt Nam hiện đại được hình thành trước hết là thông qua báo chí rồi mới qua các nhà xuất bản Bằng chứng là hầu hết các nhà văn trước khi in sách thì các
tác phẩm của họ đều đăng trên các báo Ví dụ như Hữu Thanh tạp chí là nơi giới thiệu tác phẩm Chị dâu hiền, Cô giáo Hương, ái tình, Êm ái…của Nguyễn Mạnh Bổng; Nam Phong tạp chí là nơi Quả dưa đỏ của Nguyễn Trọng Thuật lần đầu tiên được ấn hành hay Phụ nữ Tân văn là nơi cho ra mắt các tác phẩm
của Hồ Biểu Chánh Đây là một đặc trưng quan trọng của văn học Việt Nam hiện đại và kéo dài cho đến những giai đoạn phát triển về sau Cách xuất hiện của các tên tuổi như Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao… cũng không phải là những ngoại lệ, ngay cả khi các nhà xuất bản đã hoạt động khá nhộn nhịp Theo chúng tôi, việc các nhà văn công bố tác phẩm của mình đầu tiên trên các báo và tạp chí có thể bắt nguồn từ nhiều lí do khác nhau như kinh tế, tính thời sự, đáp ứng nhu cầu đọc của độc giả, quan hệ giữa người viết và các cơ quan báo chí… Nhưng có điều này không thể không nhấn
mạnh là nhu cầu đọc các tác phẩm văn học của công chúng ngày càng lớn Nó
cũng là một tác nhân quan trọng đến đời sống văn học lúc bấy giờ
Trang 36Bên cạnh những đặc trưng trên, chúng tôi cho rằng cũng cần phải đề cập tới vai trò của báo chí trong việc hình thành đời sống văn học hiện đại ở thời Trung đại, do sự chậm phát triển của cơ sở hạ tầng xã hội, các đơn vị hành chính đều mang tính biệt lập và các phương tiện thông tin đại chúng gần như vắng bóng Đặc biệt do truyền thống văn hoá cũng như đặc trưng về một cấu trúc xã hội nên văn học hoặc là chỉ được truyền bá theo hình thức truyền miệng, hoà tan trong những sinh hoạt văn hoá làng xã, hoặc chỉ lưu truyền trong những nhóm nhỏ trí thức truyền thống Do đó, nó chỉ có thể phát triển trong những nhóm xã hội và khu vực địa lý hạn chế Sang đến văn chương bác học, một mặt phụ thuộc vào những chức năng hành chính, trước thuật, mặt khác trở thành một hành vi giao tiếp, ứng xử trang nhã của những người biết chữ thánh hiền Điều đó chính là nguyên nhân của tình trạng phù phiếm, hoa
mỹ, khuôn sáo, thiếu sáng tạo của nhiều tác phẩm văn chương truyền thống Trong những hoàn cảnh đó, một nền văn học có thành tựu đã được người Việt Nam sáng tạo nên và trong những hoàn cảnh lịch sử nhất định thì các “phương thức sản xuất” văn học với những đặc trưng về “quan hệ sản xuất” đó cũng đã phát huy được những tác dụng tích cực Có điều trong những vấn đề đặt ra từ quá trình hiện đại hoá của xã hội Việt Nam, báo chí - với tư cách là một phương tiện thông tin đại chúng - đã góp phần phá vỡ những giới hạn tồn tại mang tính khu vực và nhóm (theo nghĩa chỉ có ảnh hưởng ở khu vực chứ không phải là các tổ chức văn học có ảnh hưởng trong phạm vi toàn quốc như sau này) của văn học để đưa đến sự hình thành của một nền văn học Việt Nam thống nhất Chỉ đến giai đoạn này các hiện tượng, các hoạt động văn học mới được giới thiệu trên báo chí cả hai miền Ví như nhiều hoạt động sáng tác của
những tác gia thuộc Trí Đức học xá ở Nam Kỳ được giới thiệu và tán dương trên Nam Phong tạp chí Tản Đà được hưởng ứng đồng thời cả hai miền Nam -
Bắc một phần nhờ vào vai trò phổ biến của các phương tiện thông tin Cũng thông qua báo chí, đời sống văn học mới đã từng bước định hình Văn học đã trở thành một hiện tượng mang tính xã hội sâu sắc với những quan hệ chặt chẽ
Trang 37giữa giới sáng tác, giới phê bình và công chúng văn học Nhờ sự phát triển của
đô thị và hệ thống giáo dục, phạm vi công chúng văn học ngày càng được mở rộng và chính sự đa dạng của công chúng văn học cũng như khuynh hướng phê bình đã tạo nên sự đa dạng của những khuynh hướng văn học Có thể nói, dư luận xã hội được thể hiện qua những hoạt động phê bình và cập nhật thông qua báo chí đã tạo nên sức sống cho nền văn học mới Tất nhiên ở đây khuynh hướng phê bình còn được hiểu cả với ý nghĩa như là sự hướng dẫn thẩm mỹ đối với công chúng Trên tất cả những phương diện đó, báo chí luôn giữ vai trò là người trung gian, phương tiện chuyển tải và cập nhật hữu hiệu Đó là môi trường không thể thiếu của văn học mới và góp phần làm nên tính độc lập của văn học với tư cách là một hoạt động tinh thần đặc thù, một ngành nghệ thuật lấy chất liệu là ngôn từ Đó cũng chính là một trong những nguyên nhân tác động đến quá trình hình thành và vận động của thể loại văn xuôi quốc ngữ ở nước ta trong thời kỳ này
1.4 ảnh hưởng của tiểu thuyết Trung Hoa với sự hình thành và phát triển tiểu thuyết viết bằng văn xuôi quốc ngữ nửa đầu thế kỷ XX
1.4.1 Tình hình dịch thuật truyện Tàu
Trước hết xin lưu ý, chúng tôi dùng lại cụm từ “truyện Tàu” của văn học giai đoạn này để gợi lại không khí văn học thời kỳ đó chứ khái niệm này không mang ý nghĩa nào khác
Trong bối cảnh lịch sử nước ta những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ
XX, sự tiếp thu văn hoá nước ngoài có những nét riêng Thời kỳ đầu do sự khác biệt về phong tục, tập quán, tâm lý và sự phản kháng của quần chúng đối với những gì liên quan đến kẻ xâm lược nên sách báo của phương Tây khó thu hút sự chú ý của người đọc Chính vì vậy chính quyền thực dân Pháp nghĩ ngay đến việc dịch thuật những tác phẩm của Trung Quốc để thu hút người đọc, nhằm kích thích việc học tập chữ quốc ngữ, mặc dù điều này có hại cho mục tiêu ban đầu của họ
Trang 38Ngay từ những thập niên đầu thế kỷ đã có rất nhiều tác phẩm được dịch ra tiếng Việt và chiếm tỷ lệ lớn trong số này là tiểu thuyết hiệp sĩ và truyện kiếm hiệp cổ điển ở miền Nam, theo thống kê của nhà biên khảo Bằng Giang trong
cuốn Văn học Quốc ngữ Nam Kỳ 1865-1930, chỉ tính từ năm 1907-1930, có
tới 100 đầu sách được dịch, hầu hết đều thuộc loại “trường giang đại hải” với
“vài trăm nhân vật mặc sức tung hoành trong khoảng 2000 trang” Có những dịch giả như Trần Phong Sắc chỉ trong khoảng thời gian từ 1907-1930 đã dịch gần 20 đầu sách “truyện Tàu” ở miền Bắc, mặc dù chưa có một thống kê đầy
đủ, nhưng nếu dựa vào hồi ký của một số nhà văn đương thời thì cũng có thế nhận thấy một tình hình tương tự Giai đoạn này có một số dịch giả dịch truyện Tàu nổi tiếng như Trần Phong Sắc, Nguyễn An Khương, Trần Công Danh, Nguyễn Phước Dư, Đinh Văn Đẩu, Huỳnh Công Giác, Nguyễn Minh Bạch… (ở Nam Kỳ), hay Phan Kế Bính, Nguyễn Đỗ Mục (ở Bắc Kỳ) Một khối lượng lớn tiểu thuyết võ hiệp Trung Hoa đã được dịch trong thời kỳ này, trong đó có
cả các bộ sách nổi tiếng, có giá trị lớn như: Tam Quốc Chí, Đông Chu Liệt
Quốc, Thuỷ Hử, Tây Du Ký… và cả những bộ tầm tầm như Kim cổ kỳ quan, Tiết Nhơn Qúi Chinh Đông, La Thông tảo bắc, Tiết Đinh San chinh tây, Ngũ
Hổ bình Nam ở Bắc Kỳ, các loại tiểu thuyết tình cảm cổ điển và hiện đại
cũng được dịch và được người đọc ưa chuộng Nhiều bộ sách thuộc loại này được dịch rất công phu và cho đến ngày nay vẫn được coi là những bản dịch
chuẩn mực và chưa bị vượt qua Điển hình như các bản dịch Song Phượng kỳ
duyên, Tây Sương ký, Tái sanh duyên của Nguyễn Đỗ Mục
Sự phát triển rầm rộ của phong trào dịch thuật truyện Tàu đã góp một phần không nhỏ cho việc đẩy nhanh sự phát triển của chữ quốc ngữ và giúp người đọc làm quen với loại hình văn xuôi tự sự đồng thời là động lực trực tiếp kích thích việc sáng tạo của nhà văn trong những năm đầu thế kỷ XX Việc dịch và xuất bản các truyện Tàu gồm nhiều loại (đoản thiên và trường thiên),
có cả những tác phẩm được xem như kinh điển, có loại tầm tầm, phong cách khác nhau… không chỉ làm cho việc truyền bá chữ quốc ngữ được thuận lợi
Trang 39hơn mà nó (và điều này mới quan trọng) còn kích thích các nhà văn Việt Nam cầm bút Việc gần gũi đến mức cảm nhận, hít thở không khí văn hoá Hán của người Việt đã làm cho họ thấy sự gần gũi của nghệ thuật kể chuyện của tiểu thuyết Tàu, sự hấp dẫn của nó… Tính mực thước, chặt chẽ mà lại cũng giàu chất biến hoá, hiện đại của những cuốn tiểu thuyết Trung Hoa sẽ góp phần dọn đường cho văn xuôi hiện đại của dân tộc nảy nở Có thể nói, dấu ấn của những ảnh hưởng này đã được đề cập tới trong nhiều trang viết của các nhà tiểu thuyết đầu thế kỷ XX
1.4.2 ảnh hưởng của tiểu thuyết cổ điển Trung Hoa đến sự hình thành
và vận động của tiểu thuyết văn xuôi quốc ngữ
1.4.2.1 Một số dấu ấn đặc trưng của tiểu thuyết chương hồi Trung Hoa còn lại trong tiểu thuyết văn xuôi quốc ngữ giai đoạn đầu tiên
Để hiểu rõ hơn ảnh hưởng của tiểu thuyết Trung Hoa đến sự hình thành và vận động của tiểu thuyết văn xuôi tiếng Việt, thiết nghĩ cần phải tìm hiểu những nét đặc trưng của tiểu thuyết chương hồi Theo một số nhà nghiên cứu về văn học Trung Quốc như Trần Xuân Đề [26], Nguyễn Khắc Phi [106], tiểu thuyết chương hồi Trung Hoa thuộc loại hình văn hoá trung cổ Xuất hiện, định hình
và phát triển trong khoảng thời gian từ giữa thế kỷ XIV đến đầu thế kỷ XIX, những nét tiêu biểu của loại hình văn hoá Trung cổ còn ghi dấu rất rõ trong tiểu thuyết chương hồi
Trong sáng tạo nghệ thuật, quan điểm “thuật nhi bất tác” chi phối quá trình chọn lựa nội dung phản ánh Cũng như các loại hình văn học thời trung
cổ, tiểu thuyết chương hồi Trung Hoa mang đặc điểm văn, sử, triết bất phân Tiểu thuyết chương hồi thuộc thể loại tự sự văn xuôi Thể loại này xuất hiện từ lâu nhưng phát triển mạnh mẽ nhất trong thời kỳ Minh - Thanh Trong thể loại này có thể chia làm 3 loại: dân gian, bác học và thị dân Ba loại này có tính độc lập tương đối nhưng cũng có sự đan kết, thâm nhập lẫn nhau Có thể
tìm thấy dấu ấn của chúng trong các tác phẩm Tam Quốc diễn nghĩa, Tây Du
ký Phong cách riêng của từng tác giả được xác lập và ngày càng rõ nét
Trang 40Theo một số tài liệu như Từ điển văn học cổ điển Trung Quốc [103], Sơ
lược tiểu thuyết Trung Quốc [137], về mặt nghệ thuật, tiểu thuyết chương hồi
Trung Hoa kết cấu theo trình tự thời gian, đơn tuyến và một hướng ở đây, thời gian là cái trục chính để dẫn dắt sự kiện, biến cố và số phận nhân vật Những
sự kiện được trần thuật trên cái trục thời gian theo đúng tiến trình lịch sử
Chương, hồi chỉ là bố cục hay nói cách khác là kết cấu bên ngoài Đoạn lớn là
kết cấu chính Đoạn tương ứng với một sự kiện, một mưu mô Hồi chỉ tương ứng với lần kể Nói cách khác, hồi chỉ là đơn vị bố cục theo tiêu chuẩn thời
gian kể chuyện Tiểu thuyết chương hồi bắt nguồn từ những thoại bản, mà thoại bản là những văn bản làm cơ sở, là chỗ dựa để người thuật chuyện cho thính
giả nghe Đối với người kể chuyện, mỗi hồi là một quyển dùng để kể trong một
buổi, một kỳ hoặc một đêm Do đó, để hấp dẫn người nghe và tạo điều kiện để
họ dễ theo dõi câu chuyện, trước khi kể tiếp, người kể có mấy câu thơ giới thiệu, nhắc lại những đoạn đã kể một cách sơ lược hoặc tóm tắt chủ đề chính sẽ
kể trong hồi ấy Buổi kể thường kết thúc ở ngay chỗ gay cấn, hồi hộp nhất và
dừng lại ở câu đã thành khuôn mẫu, kiểu như: “Muốn biết việc thế nào xin xem hồi sau phân giải” Vì bắt đầu từ thoại bản nên trong tiểu thuyết chương hồi
Trung Hoa, yếu tố kể còn lưu dấu rất rõ Đọc loại truyện này ta hay gặp chữ
rằng, xuất hiện trong lối kể như: “Đổng Trác hỏi rằng, Trương Phi nổi giận mà rằng ” Đó là dấu tích của truyện kể (chứ không phải của tiểu thuyết để đọc
thầm và suy ngẫm)
Thời gian của tiểu thuyết chương hồi là xoay tròn, khép kín Trong loại tiểu thuyết anh hùng thời gian diễn ra thật gấp gáp, khẩn trương Thời gian trong tiểu thuyết đời thường là dàn trải, chậm chạp Không gian ở đây là không gian không biên giới, không phải biến động tự thân mà hầu như tĩnh tại và tác giả có thể khống chế được (xin xem thêm [103,137]) Những dấu ấn này vốn
không xa lạ gì với thể loại chí ở Việt Nam như Hoàng Lê Nhất thống chí, Đại
Nam Nhất thống chí… Nói như Trần Đình Hượu thì việc mô phỏng, vay mượn
cốt truyện lấy cảm hứng để sáng tác từ một nền văn học khác mang tính quy