Không nắm được những khác biệt về văn hoá, sẽ mắc lỗi xuyên văn hoá, có nghĩa là câu nói không sai về từ vựng, cấu trúc và ngữ pháp, nhưng người bản ngữ nói ngôn ngữ đó lại không nói như
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ XẢO BÌNH
LỖI CỦA NGƯỜI TRUNG QUỐC HỌC TIẾNG VIỆT
NHÌN TỪ GÓC ĐỘ XUYÊN VĂN HOÁ ( XÉT VỀ KHÍA CẠNH TỪ VỰNG)
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN NGÔN NGỮ
Mã số: 50408
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học
PGS-TS TRẦN TRÍ DÕI
HÀ NỘI NĂM 2004
Trang 2Mục lục
Trang
Mở đầu 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Mục đích nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
3 Ý nghĩa của đề tài 7
4 Phương pháp nghiên cứu 8
5 Bố cục của luận văn 8
Chương I Một số nhận thức chung về ngôn ngữ và văn hoá trong việc dạy và học tiếng nước ngoài 9
1 Quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá 9
1.1 Những nét đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ 9
1.2 Khái niệm văn hoá 10
1.3 Quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá 11
2.Đôi nét về lịch sử tiếp xúc giữa tiếng Hán và tiếng Việt 14
2.1 Sự tiếp xúc của tiếng Việt với tiếng Hán 14
2.2 Mặt thuận lợi và mặt tiêu cực của lớp từ Hán Việt đối với việc dạy và học tiếng Việt của người Trung Quốc 16
3.Văn hoá với dạy và học ngoại ngữ 17
3.1 Tính quan trọng của văn hoá trong dạy và học ngoại ngữ 17
3.2 Xuyên văn hoá với dạy và học ngoại ngữ 19
Chương II Những kiểu lỗi thường gặp của sinh viên Trung Quốc khi học tiếng Việt 24
1 X u y ê n v ă n h o á x u y ê n s u ố t m ọ i g ia i đ o ạ n t r o n g q u á t r ì n h h ọ c ngoại ngữ 24
Trang 32 2 Lỗi văn hoá trong giao tiếp 27
3 Các kiểu lỗi thường gặp khi sinh viên Trung Quốc học tiếng Việt ( xét về khía cạnh từ vựng) 30
Vấn đề tư liệu 30
Phân loại các kiểu lỗi theo từ loại 31
Từ xưng hô 31 Đại từ xưng hô ngôi thứ nhất 31
Đại từ xưng hô ngôi thứ hai 33
Đại từ xưng hô ngôi thứ ba 34
3.2.2 Đại từ chỉ định 35
3.2.3 Một số động từ 36
3.2.3.1 Động từ chuyển động 36
3.2.3.2 Những động từ khác 37
3.2.4 Một số danh từ 39
3.2.5 Một số phó từ 40
3.2.6.Số từ 42
3.2.7.Giới từ 43
3.2.8.Cảm từ 45
3.2.9.Về ―sự‖ và ―việc‖ 45
3.2.10.Tính từ 46
3.2.11.Về thành ngữ, tục ngữ 47
3.3 Phân loại các kiểu lỗi theo từng năm học 48
Chương III Những phân tích và nhận xét dữ liệu từ góc độ gi a o v ă n h oá 50
1 Nguyên nhân gây lỗi 50
2 Thử đề nghị một số giải pháp nhằm nâng cao nhận thức về xuyên văn hoá cho sinh viên Trung Quốc học tiếng Việt 54
Trang 4Song song với việc dạy ngô n ngữ , phải dạy văn hoá của ngô n
ngữ đ íc h 54
Một vài nhận xét và đề nghị việc dạy ngôn ngữ và văn hoá 56
Kết luận 59
Tài liệu tham khảo 60
Trang 5Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Mấy năm gần đây, số người Trung Quốc học tiếng Việt ngày càng đông Với
tư cách là một trong những trung tâm đào tạo ngôn ngữ phi thông dụng (trong đó
có tiếng Việt) cấp nhà nước, hàng năm Học viện Dân tộc Quảng Tây Trung Quốc đảm nhiệm nhiệm vụ đào tạo hàng trăm sinh viên chuyên ngành tiếng Việt để phục
vụ các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, giáo dục v.v Sinh viên học ở trường này được đánh giá cao về trình độ tiếng Việt, nhất là khẩu ngữ Tuy nhiên, đối với sinh viên,
dù sao tiếng Việt cũng là ngôn ngữ thứ hai của họ, nên trong quá trình học tập, thường mắc lỗi về ngữ âm, từ vựng, cấu trúc, ngữ pháp v.v Một trong số nguyên nhân dẫn đến những lỗi này một là sự can thiệp của tiếng mẹ đẻ, điển hình là đối với những sinh viên mới học tiếng Việt Đối với số sinh viên này khi gặp phải những từ mà họ chưa học, phản xạ đầu tiên của họ là phiên từ đó từ tiếng mẹ đẻ ra tiếng Việt Ví dụ từ ―nước‖ (quốc gia), khi học sinh chưa học từ ―nước‖, thì họ dùng từ ―quốc‖, chẳng hạn như: ―Trung Quốc là một quốc lớn ‖ Thứ hai là chịu
sự ảnh hưởng của giao thoa văn hoá Văn hoá Trung Quốc và văn hoá Việt Nam đều thuộc về nền văn hoá phương Đông, hai nền văn hoá có nhiều điểm tương đồng, nhất là về ngôn ngữ Lớp từ Hán Việt trong tiếng Việt là minh chứng cho điều này Nhưng dân tộc Trung Hoa và dân tộc Việt Nam vẫn là hai dân tộc khác nhau, cho nên tập quán, tư duy, cách sống giữa hai dân tộc cũng khác nhau Ngôn ngữ là sự chuyển tải của văn hoá, những sự khác biệt đó đã được phản ánh trong ngôn ngữ Không nắm được những khác biệt về văn hoá, sẽ mắc lỗi xuyên văn hoá,
có nghĩa là câu nói không sai về từ vựng, cấu trúc và ngữ pháp, nhưng người bản ngữ nói ngôn ngữ đó lại không nói như vậy Hậu quả hoặc là người nghe chẳng hiểu gì cả, hoặc là gây ra chuyện không vui, may là người nghe biết người nói là
Trang 6người nước ngoài, nên bỏ qua sự ―thiếu văn hoá‖ của người nói, nếu không sẽ có hậu quả nghiêm trọng Đây là điều khó nhất đối với việc dạy và học ngoại ngữ Hai vấn đề này đã được các nhà nghiên cứu Trung Quốc quan tâm rất nhiều khi tiếng Hán được coi là ngoại ngữ đối với người nước ngoài, hay là tiếng Anh được coi là ngoại ngữ đối với người Trung Quốc Tuy nhiên, đối với tiếng Việt, một thứ ngoại ngữ đang được nhiều người học ở Trung Quốc, những lỗi về văn hoá mà người học đang vấp phải hầu như chưa có một công trình nào quan tâm đến Thực ra, đây là khâu rất quan trọng trong việc dạy và học tiếng Việt, do đó nó chính là lý do quan trọng nhất để chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu này
2 Mục đích nhiệm vụ, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Mục đích của luận văn này là chỉ ra những lỗi dùng từ của sinh viên Trung Quốc khi học tiếng Việt, sau đó phân tích nguyên nhân nào đã gây những lỗi
đó, rồi tìm ra cách để chữa Để đạt được mục đích trên, luận văn sẽ phải thu thập những lỗi về từ vựng mà sinh viên Trung Quốc thường hay mắc, rồi phân tích từng loại lỗi từ góc độ xuyên văn hoá
2.2 Đối tượng nghiên cứu ở đây là đại từ nhân xưng (gồm đại từ nhân xưng ngôi thứ 1, đại từ nhân xưng ngôi thứ 2 và đại từ nhân xưng ngôi thứ 3); đại từ chỉ định; động từ: động từ chuyển động và một vài động từ khác; danh từ; tính từ; số từ; giới từ ; cảm từ; một số thành ngữ tục ngữ, khi phân tích những trường hợp này đều có sự so sánh đối chiếu với những từ ngữ tiếng Hán tương đương
Lỗi mà sinh viên Trung Quốc học tiếng Việt gây ra có phạm vị rất rộng, hầu như mỗi một loại từ đều thấy có Vì thế nếu chúng tôi phân tích mọi trường hợp và
từ nhiều góc độ, thì phải mất nhiều công sức Trong khi đó nhiệm vụ của chúng tôi chỉ là phạm vi của một luận văn thạc sĩ nên khả năng của chúng tôi là rất hạn chế
Vì vậy, trong luận văn này chúng tôi chỉ xem xét những lỗi dùng từ có tần suất cao, rồi phân tích những những lỗi đó từ góc độ xuyên văn hoá để thực hiện mục đích của luận văn như đã nêu ở trên
Trang 73 Ý nghĩa của luận văn
Thực hiện các mục đích và nhiệm vụ nêu trên, luận văn này hy vọng được góp một phần cho việc giảng dạy tiếng Việt cũng như nghiên cứu về Việt ngữ học của giáo viên Trung Quốc, giúp đỡ sinh viên tránh được những lỗi ở mức tối thiểu khi học tiếng Việt, làm cho sinh viên dùng từ chính xác hơn, từ đó nâng cao trình độ tiếng Việt một cách nhanh chóng hơn
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn này chúng tôi dùng phương pháp hay cụ thể hơn là thao tác so sánh đối chiếu hai lớp từ tiếng Hán và tiếng Việt để nghiên cứu ngôn ngữ ở khía cạnh xuyên văn hoá Đồng thời, trong luận văn chúng tôi cũng dùng cách thống kê, miêu
tả, rồi sau đó phân tích tổng hợp để đi đến nhận xét và kết luận cụ thể
5 Bố cục của luận văn
Luận văn gồm các phần và các chương chính như sau:
Trang 8Chương I MỘT SỐ NHẬN THỨC CHUNG VỀ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HOÁ TRONG
VIỆC DẠY VÀ HỌC TIẾNG NƯỚC NGOÀI
1 Quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá
1.1.Những nét đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ
1.1.1 Ngôn ngữ là hiện tượng xã hội
Ngôn ngữ là sản phẩm của xã hội nhân loại Ngôn ngữ chỉ tồn tại trong xã hội nhân loại
Ngôn ngữ và xã hội cùng tồn tại bên nhau Một mặt, ngôn ngữ tựa vào xã hội Chỉ có xã hội nhân loại mới có ngôn ngữ, thế giới tự nhiên không tồn tại ngôn ngữ Động vật bày tỏ tình cảm và nguyện vọng bằng một số tiếng gọi đơn giản, nhưng chúng không có ngôn ngữ thật sự với cơ sở là từ vựng cơ bản và cấu trúc ngữ pháp Ngôn ngữ còn phát triển theo sự phát triển của xã hội, sự phát triển của ngôn ngữ thích ứng với sự phát triển của xã hội, và mất đi theo sự mất đi của xã hội Nếu
xã hội không tồn tại nữa thì ngôn ngữ cũng mất đi Mặt khác, sự tồn tại và phát triển của xã hội cũng chịu sự hạn chế của ngôn ngữ Xã hội không thể không có ngôn ngữ, ngôn ngữ là tiêu chí quan trong để phân biệt nhân loại và thế giới động vật Lịch sử phát triển của xã hội nhân loại đã chứng minh rằng: trong mọi giai đoạn phát triển của xã hội đều có ngôn ngữ, xã hội mà không có ngôn ngữ sẽ không tồn tại
Ngôn ngữ là một trong những động lực chính để tổ chức thúc đẩy đời sống xã hội Vì ngôn ngữ là công cụ giao tiếp và trao đổi tư tưởng tình cảm, điều phối hoạt động chung của con người Nếu không có ngôn ngữ thì xã hội sẽ tan rã Đồng thời ngôn ngữ còn là công cụ tư duy trừu tượng của con người: Ngôn ngữ củng cố lại những kết quả tư duy và thành quả hoạt động nhận thức của con người bằng từ hoặc câu, truyền lại kinh nghiệm cho đời sau, là một phương tiện quan trọng để
Trang 9cho văn hoá được truyền bá Người sau có thể làm việc, nhận biết văn hoá từ cơ sở của người trước Cho nên, ngôn ngữ cũng là công cụ thúc đẩy mạnh mẽ đối với sản xuất xã hội và sự phát triển của xã hội
1.1.2 Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của nhân loại
Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp đặc biệt của nhân loại, mà là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của nhân loại Ngoài ngôn ngữ ra, người ta còn sử dụng công cụ giao tiếp khác, chẳng hạn như ký hiệu toán học, công thức hoá học, đèn xanh đèn
đỏ, các động tác bằng cơ thể con người v.v Nhưng tác dụng giao tiếp của những phương tiện đó không thể sánh được với ngôn ngữ Trước hết, tất cả những cái đó đều xây dựng trên cơ sở ngôn ngữ Nếu không có ngôn ngữ làm cơ sở, thì chúng không thể phát huy tác dụng, không thể dùng để giao tiếp Mặt khác, phạm vị sử dụng của chúng cũng có hạn Vì vậy, trong xã hội, chỉ có ngôn ngữ có thể làm công
cụ tốt nhất để giao tiếp và trao đổi tình cảm Nó có thể diễn đạt tư tưởng phức tạp, tiện cho sử dụng, và có quan hệ mật thiết với hành vi sản xuất của con người, nó có quan hệ với hầu như mọi hoạt động của con người Những công cụ giao tiếp cận ngôn không thể sánh được với ngôn ngữ, cho nên, ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của nhân loại Nhờ vai trò là công cụ giao tiếp quan trọng này, ngôn ngữ có sự liên quan chặt chẽ với giao lưu và tiếp xúc văn hoá Trong xã hội nói chung và trong xã hội hiện nay, giao lưu và tiếp xúc văn hoá giữa các dân tộc khác nhau là điều tất yếu Chính vì vậy, học tập ngôn ngữ ở góc độ giao văn hoá là thật sự cần thiết ở sinh viên học tiếng nước ngoài
1.2 Khái niệm văn hoá
Từ khi có từ ― văn hoá‖, biết bao nhiêu nhà khoa học, dân tộc học đã đưa ra
vô số định nghĩa, mà cho đến nay cũng chưa thể nào thống nhất được Theo từ điển tiếng Việt (Viện ngôn ngữ học, Hà Nội,2000) thì từ văn hoá có 5 nghĩa:
+ Tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử
Trang 10+ Những hoạt động của con người nhằm thoả mãn nhu cầu đời sống tinh thần— nói một cách tổng quát
+ Tri thức kiến thức khoa học
+ Trình độ cao trong sinh hoạt văn hoá xã hội, biểu hiện của văn minh
+ Nền văn hoá của một thời kỳ lịch sử cổ xưa được xác định trên cơ sở một tổng thể những di vật tìm thấy được có những đặc điểm giống nhau
Năm 1871, EB.Tylor, nhà nhân học nổi tiếng người Anh định nghĩa văn hoá như thế này: ― Văn hoá hay văn minh hiểu theo ý nghĩa dân tộc bao quát của nó, là một tổng thể phức hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và bất cứ năng lực và tập quán nào được lĩnh hội bởi con người với tư cách thành viên của xã hội‖[dẫn theo Phạm Đức Dương—Từ văn hoá đến văn hoá học.năm 2001.tr49] Định nghĩa này có phạm vi rất rộng, nói một cách đơn giản hơn là: văn hoá tức là mọi lĩnh vực tinh thần Định nghĩa có phạm vi rộng thế này, khi áp dụng khái niệm văn hoá để miêu tả, phân tích, giải thích một số vấn
đề sẽ mất đi tác dụng của nó Từ đó cho thấy, định nghĩa này vẫn không chính xác lắm khi giúp cho chúng ta làm việc
Sau Tylor, văn hoá lại được định nghĩa nhiều lần nữa Cho đến năm 1952,
đã có hơn 160 định nghĩa khác nhau Phát triển đến ngày nay, văn hoá vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất Tuy nhiên có một điều có thể khẳng định rằng, định nghĩa của văn hoá ngày càng rõ ràng, cụ thể và các phân tích cũng càng tỉ mỉ hơn Dựa trên những khái niệm trên, chúng tôi xin xác định ra khái niệm ―giao văn hoá‖ hay gọi là ―xuyên văn hoá‖ để giải thích những hiện tượng dạy và học ngoại ngữ nói chung và người Trung Quốc dạy và học tiếng Việt nói riêng theo cách hiểu của mình Phần này sẽ được trình bày ở Chương II và Chương III của luận văn này
1.3.Quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá
Vấn đề giữa ngôn ngữ và văn hoá đã được các nhà khoa học bàn đến từ lâu và
Trang 11bàn rất nhiều, bàn rất sâu sắc Quan hệ đó, theo chúng tôi, đó là quan hệ như cá với nước và có thể nói có nhiều ý kiến rất thống nhất
1.3.1.Ngôn ngữ là một thành tố của văn hoá
Trước hết, ngôn ngữ dân tộc bao giờ cũng là một bộ phận hợp thành của nền văn hoá dân tộc đó Nó là phương tiện để phản ánh nền văn hoá dân tộc nên được phát triển không ngừng Một nền văn hoá phát triển sẽ chứa đựng một ngôn ngữ phong phú Tiếng Hán, tiếng Anh và tiếng Việt những thế kỷ trước có rất nhiều cái khác so với tiếng Hán, tiếng Anh và tiếng Việt hiện đại, bởi một xã hội văn minh,
có một nền văn hoá cao đòi hỏi trong ngôn ngữ phải có những tín hiệu mới, quy tắc mới đẻ phản ánh được tất cả những giá trị văn hoá tinh thần và vật chất của dân tộc nói thứ tiếng đó
1.3.2.Ngôn ngữ là cái hàm chữa văn hoá
Tuy ngôn ngữ nằm trong nền văn hoá dân tộc, nhưng bản thân ngôn ngữ lại là tiền đề của một hiện tượng văn hoá Theo Ănghen, ―đồng thời với lao động là ngôn ngữ‖, vì vậy ngôn ngữ là cái sớm nhất, cùng với lao động, ngôn ngữ dần dần làm cho con người văn minh hơn Từ những từ đơn giản nhất phát ra trong lao động sẽ phát triển thành những câu hò, điệu hát và thơ ca sau này Từ đây, chúng ta cũng thấy được ngôn ngữ luôn là bước khởi đầu của văn hoá, là dạng thức hàm chứa một nội dung văn hoá nào đó Do vậy mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá không giống như quan hệ giữa ngôn ngữ và các ngành khoa học khác Quan hệ này như một cái gì đó tuần hoàn, cái này là khởi điểm của cái kia và có vòng ngược lại
1.3.3 Sự ảnh hưởng của văn hoá đối với ngôn ngữ
Ngôn ngữ là sản phẩm tín hiệu phản ánh hoạt động của con người, vì thế hoạt động của con người ảnh hưởng đến mọi mặt của ngôn ngữ, kể cả cách quan niệm,
tư duy và diễn đạt ngôn ngữ Đồng thời hoạt động của con người cũng có ảnh hưởng tới thụ đắc ngôn ngữ
Sự ảnh hưởng của văn hoá đối với hệ thống ngôn ngữ trước hết thể hiện ở tác
Trang 12dụng chế ước sự hình thành và phát triển đối với các yếu tố của bản thân ngôn ngữ như ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp Sự chế ước này là chế ước chủ động, không di chuyển theo ý chí con người, cũng được quyết định bởi chức năng ngôn ngữ và chức năng văn hoá Chẳng hạn như nghĩa của từ vựng, sự hình thành của nó đã chịu sự chế ước của các nhân tố văn hoá như truyền thống dân tộc, tín ngưỡng tôn giáo, hoàn cảnh địa lý và phong tục tập quán v.v Tính đa nghĩa của từ là tín hiệu tượng trưng cho thế giới hiện thực, thể hiện nhận thức khác nhau của con người đối với thế giới hiện thực Cũng có nghĩa là cái quyết định nghĩa của từ không phải là cái gì khác mà là văn hoá dân tộc Điều này không những thể hiện ở việc xác định nghĩa gốc của từ, mà còn thể hiện ở nghĩa bóng của từ Chẳng hạn như trong văn hoá phương Đông, những từ liên quan đến ―chó‖ hầu như đều mang nghĩa tiêu cực, còn trong văn hoá phương Tây, con chó lại là bạn của con người, là một thành viên
trong gia đình, cho nên, những từ liên quan đến chó thì không có sắc thái như trong
tiếng Hán Chúng ta có thể nêu ra các thành ngữ tục ngữ tiếng Hán làm ví dụ:
狗仗人?势?(gou zhang ren shi):như ―chó cậy nhà, gà cậy chuồng‖ của tiếng Việt, nghĩa là ỷ vào thế của mình mà hung hăng, bắt nạt người; 狼?心狗肺?(lang xin gou fei): như ―lòng lang dạ thú‖ của tiếng Việt, nghĩa là tâm địa độc ác, mất hết tính người; 狗急跳?墙? (gou ji tiao qiang):như ―chó cùng dứt giậu‖ của tiếng Việt, nghĩa là bị dồn vào cùng đường, thế bí thì phải liều lĩnh để thoát thân;
狗拿耗子?,?多管?闲é事:nghĩa đen là chó lại bắt chuột, thật là lắm chuyện,còn nghĩa bóng là hay nhúng tay vào việc người khác Mấy thành ngữ và tục ngữ trong tiếng Hán đều có từ ―chó‖, từ nghĩa của chúng cho thấy, những thành ngữ và tục ngữ nêu trên đều có nghĩa xấu, và những thành ngữ và tục ngữ trên hầu như đều có
từ tương ứng trong tiếng Việt, vì văn hoá Trung Quốc và văn hoá Việt Nam đều là văn hoá phương Đông, nên có nhiều điều giống nhau Còn văn hoá phương Tây thì lại khác, ví dụ họ nói một người may mắn là ― a lucky dog‖ (một con chó may),
Trang 13người Trung Quốc sẽ không chấp nhận cách nói này
Văn hoá không những ảnh hưởng hệ thống ngôn ngữ, mà còn quyết định nội dung và hình thức sở chỉ của ngôn ngữ Như chúng ta đã biết, đối tượng của ngôn ngữ là sự và việc trong thế giới văn hoá lấy người làm hạt nhân, phương thức sự và việc mà ngôn ngữ sở chỉ hoặc phản ánh, cũng là sự thể hiện của tâm lý văn hoá con người Cho nên chúng ta có thể nói nội dung và phương thức của ngôn ngữ là do văn hoá của người và con người của văn hoá quyết định
Sự ảnh hưởng của văn hoá đối với ngôn ngữ còn phản ánh trên cách tư duy bằng ngôn ngữ và cách diễn đạt Ngôn ngữ là chuyển tải vật chất và công cụ biểu đạt của tư duy, một mặt thúc đẩy sự phát triển của tư duy, mặt khác lại chịu sự chế ước của tư duy Kết quả nghiên cứu cho thấy, ngôn ngữ là công cụ bày tỏ tình cảm
và truyền đạt thông tin, nên tổ chức và diễn đạt phải phụ thuộc vào phương thức tư duy của dân tộc Chẳng hạn như diễn đạt một sự vật, mỗi dân tộc đều sắp đặt cấu trúc ngôn ngữ theo cách suy nghĩ và logic của mình Ví dụ như thứ tự diễn đạt thời gian, dân tộc Việt Nam thì khác với dân tộc Trung Hoa Tiếng Hán diễn đạt theo
thứ tự năm—tháng—ngày, còn tiếng Việt thì ngược lại theo ngày tháng năm
Hiển nhiên, phương thức tư duy có quan hệ chặt chẽ với văn hoá dân tộc
2 Đôi nét về lịch sử tiếp xúc giữa tiếng Hán và tiếng Việt
2.1.Sự tiếp xúc của tiếng Việt với tiếng Hán
Về sự tiếp xúc của tiếng Việt với tiếng Hán trong lịch sử, nhiều nhà Việt ngữ học đã đưa ra những công trình đáng ghi nhận, những công trình đó hầu như đều thống nhất một nhận xét như sau: quá trình tiếp xúc của tiếng Việt với tiếng Hán bắt đầu từ cách đây rất lâu, gần 2000 năm, vào khoảng trước sau đầu công nguyên Một đợt tiếp xúc lâu dài, sâu rộng và khá liên tục Đợt tiếp xúc này có thể chia thành hai giai đoạn nhỏ: thứ nhất, giai đoạn từ đầu cho đến khoảng hai thế kỷ VI, VII và thứ hai, giai đoạn cuối Đường, Ngũ Đại Kết quả của hai đợt tiếp xúc là tạo thành một cách đọc Hán Việt cổ và một cách đọc Hán Việt Giai đoạn thứ nhất
Trang 14không trực tiếp liên quan đến cách đọc chữ Hán ở Việt Nam hiện nay Giai đoạn này hiện chỉ còn lưu lại lẻ tẻ một số cách đọc gọi là Hán Việt Cổ Những cách đọc này không tạo thành hệ thống và hiện không được người Việt dùng khi đọc các văn
bản Hán nữa, ví dụ bùa, buồng, buồm v.v Sở dĩ như thế là vì trong suốt 9 thế kỷ
sau công nguyên, cách đọc chữ Hán ở Việt Nam là một cách đọc gắn liền với những sự biến đổi xảy ra trong tiếng Hán, đến đời Đường thì những cách đọc tiếp thu được trải qua các triều đại Hán, Nguỵ, Nam Bắc Triều đều bị Đường âm thay thế Giai đoạn thứ hai mới chính là giai đoạn lưu lại một ảnh hưởng sâu đậm, tồn tại mãi đến ngày nay Đứng về phương diện ngữ ngôn văn tự mà xét, giai đoạn này
đã để lại một cách đọc chữ Hán hết sức có hệ thống Thế nhưng, sự tiếp xúc Việt –Hán không phải chấm dứt ở giai đoạn này, về sau vẫn có sự tiếp xúc gián tiếp như tiếp xúc thông qua sách vở: vận đồ, vận thư, từ điển v.v ; lại có những sự tiếp xúc trực tiếp, tự nhiên như tiếp xúc với khẩu ngữ của người Hán thông qua sự cộng cư với các tầng lớp Hoa Kiều Nhưng những cách đọc mới này không lưu lại vết tích
gì thật sâu sắc và thật không có hệ thống Có thể khẳng định - đúng như nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định: chỉ giai đoạn tiếp xúc cuối Đường – Ngũ Đại mới là giai đoạn có ảnh hưởng quyết định nhất đối với việc hình thành cách đọc chữ Hán
ở Việt Nam hiện nay Cách đọc Hán Việt chính là sản phẩm bắt nguồn từ giai đoạn tiếp xúc này
Cuối đời Đường, cách đọc chữ Hán vào Việt Nam là vào với tư cách một cách đọc học được của một sinh ngữ Sinh ngữ đó có một hệ thống ngữ âm – nói chung – và đặc biệt là một hệ thống phụ âm đầu – nói riêng – hết sức xa lạ với tiếng Việt Mặc dầu vậy, qua quá trình học tập, tiếp xúc, cuối cùng người Việt đã làm quen được, và tiếp thu được một cách gần gần đúng Cách đọc ngoại ngữ này đã duy trì được vài thế kỷ Nhưng rồi, cái gì quá xa lạ với tiếng Việt, người Việt thì cũng lần lượt phải bị loại trừ dần Tác động của quy luật tiếng Việt dội vào nó càng ngày càng mạnh mẽ, cuối cùng tạo thành một lớp từ khá đặc biệt được gọi là từ Hán
Trang 15sự vật mới của ngôn ngữ này cũng được đưa vào các ngôn ngữ khác, góp phần làm phong phú thêm vốn từ vựng của ngôn ngữ đó Tiếng Việt và tiếng Hán cũng không đứng ngoài thông lệ này Nhất là mấy năm gần đây, sư giao lưu về mặt kinh
tế, văn hoá giữa Trung Quốc và Việt Nam rất nhiều, nhiều tác phẩm văn học và phim nhiều tập của Trung Quốc được dịch ra tiếng Việt, cho nên nhiều từ mới trong tiếng Trung Quốc cũng được đưa vào tiếng Việt, bổ sung những thành phần mới cho tiếng Việt hiện đại
Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp, người nói ngôn ngữ này muốn giao tiếp với người nói ngôn ngữ khác thì phải biết nói ngôn ngữ của đối tượng giao tiếp, hay ngược lại Như trên đã trình bày, vì nguyên nhân lịch sử, trong tiếng Việt có một lớp từ Hán Việt, lớp từ này vừa tạo điều kiện thuận lợi cho người Trung Quốc học tiếng Việt, song lại vừa dễ gây nhầm lẫn cho người học Về mặt thuận lợi, vì từ Hán Việt có quan hệ nguồn gốc với tiếng Hán, cho nên khi gặp những từ như
―khoa học‖, ―xã hội‖, ―tiên tiến‖ v.v, người học đều cảm thấy dễ đọc và dễ nhớ, như vậy sẽ làm cho người học có cảm hứng ngay với thứ tiếng này, đây là điều quan trọng cho việc học ngoại ngữ Mặt khác, tiếng Hán và tiếng Việt đều là ngôn ngữ đơn lập, theo thói quen dịch giả của hai nước, khi dịch tên riêng đều dịch phiên âm, chẳng hạn như ―Quảng Tây‖, ―Lỗ Tấn‖ v.v Cách dịch này chỉ hạn chế
Trang 16trong phạm vi tên riêng mà thôi, nhưng có một số người học tiếng Việt, nhất là những người mới bắt đầu học, khi giao tiếp với người Việt hoặc viết bài, khi cần dùng đến những từ mình chưa biết, phản xạ đầu tiên của họ là phiên âm luôn Đấy chính là chịu sự ảnh hưởng của thói quen dịch tên riêng, đây là hiện tượng phổ biến trong sinh viên năm thứ nhất Điều nữa, một số từ Hán Việt sau khi tồn tại một thời gian, đã mất đi nghĩa đen của nó, mà được dùng để diễn đạt nghĩa khác, chẳng hạn như ―khốn nạn‖, ―tội nghiệp‖ v.v, nhưng người Trung Quốc học tiếng Việt vẫn hiểu theo nghĩa vốn có của nó trong tiếng Hán, dĩ nhiên là không chính xác Những điều nói trên chúng tôi sẽ phân tích cụ thể ở chương II và chương III
3.Văn hoá với việc dạy học ngoại ngữ
3.1 Tính quan trọng của văn hoá trong dạy và học ngoại ngữ
Văn hoá không phải là cái thứ nhất Vật chất mới là cái thứ nhất Song văn hoá là cái cốt lõi trong nhân cách con người, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử dân tộc, thấm đượm vào mọi hiện tượng xã hội và nhân văn Văn hoá vừa như một mục đích phải đi tới, vừa như động lực nuôi dưỡng sự trường tồn và phát triển của mỗi dân tộc, của mỗi con người trong xã hội Đồng thời mỗi người, mỗi tổ chức, mỗi dân tộc, mỗi ngành khoa học xã hội và nhân văn đều nhìn thấy vai trò, tầm quan trong của văn hoá và tìm cách giải quyết nó trong phạm vi của mình
Những người làm công tác giáo dục ngôn ngữ và giảng dạy ngoại ngữ không phải đến nay mới cảm nhận được vị trí, vai trò và tầm quan trọng của vấn đề văn hoá trong dạy— học ngoại ngữ Đây là vấn đề đã được đề cao trong dạy— học ngoại ngữ từ những thế kỷ trước, từ thế kỷ thứ XVI, XVII tại một số nước ở châu
Âu Tiếp đó, vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, những nghiên cứu về văn hoá trong dạy— học ngoại ngữ đã được chú ý ở nhiều nước, đặc biệt ở các nước như
Mỹ, Pháp, Đức, Liên Xô (cũ) và Trung Quốc Tuy vậy, việc đề cập đến văn hoá trong dạy –học ngoại ngữ chỉ thực sự có nội dụng khoa học và có ý nghĩa thực tiễn
là vào những thập kỷ gần đây Vấn đề văn hoá ở những mức độ khác nhau đã trở
Trang 17thành nội dung của môn học chính thức tại các khoa ngoại ngữ ở các trường đại học và cao đẳng với các tên gọi hết sức đa dạng và phong phú
Đội ngũ những người nghiên cứu văn hoá với dạy—học ngoại ngữ ở thời kỳ hiện nay đã trở nên khá đông đảo Tên tuổi của nhiều người trong số họ đã khá quen thuộc như V.G.Koxtomarov, A.A.Leonchiev, B.X Svarskopf (ở Nga); G.Alvarez, G.Galisson, P.Charaudeau (ở Pháp); N.Brooks, R.A.Hudson, J.C.Richards (ở Mỹ); La Thường Bồi, Tôn Diễn Phong (ở Trung Quốc) Còn ở Việt Nam, cũng đã có nhiều bài viết của Bùi Đình Mỹ, Đỗ Ca Sơn, Nguyễn Phương Sửu, Nguyễn Quang và một số người khác nữa Từ những năm 80, ở Trung Quốc, giới ngôn ngữ học Trung Quốc, kể cả giới dạy tiếng Hán cho người nước ngoài, đã
đi sâu thảo luận và nghiên cứu vấn đề này Năm 1994, vấn đề định tính, định vị, định lượng cho việc giảng dạy tiếng Hán cho người nước ngoài đã được nghiên cứu kỹ lưỡng Khái niệm ―văn hoá‖ ở đây được hiểu ở hai cấp độ Một là nhân tố
―văn‖: Đó chính là nội dung giảng dạy ngoại ngữ, thuộc phạm trù giảng dạy ngoại ngữ Hai là kiến thức văn hoá: Đó chính là nội dung giảng dạy văn hoá, thuộc phạm trù giảng dạy văn hoá cho người nước ngoài Nhân tố văn hoá, chủ yếu xuất phát từ góc độ đồng đại, là những nhân tố văn hoá liên quan chặt chẽ với lý giải và biểu đạt ngôn ngữ Đương nhiên, nó cũng chứa đựng những hiện tượng văn hoá lịch đại Nhân tố văn hoá gồm : Hàm ý văn hoá trong các hình thức ngôn ngữ, bối cảnh văn hoá, thông tin phi ngôn ngữ Trong khi truyền thụ kiến thức ngôn ngữ và rèn luyện kỹ năng ngôn ngữ, chỉ có kết hợp một cách hữu cơ trong nhân tố văn hoá trong ngoại ngữ mới có thể tạo sinh và nâng cao năng lực giao tiếp ngôn ngữ một cách có hiệu quả
Giảng dạy tiếng Hán cho người nước ngoài, qua mấy thập kỷ tìm tòi, đã chuyển từ chỉ coi trọng cấu trúc ngôn ngữ sang nghiên cứu đồng thời coi trọng ngữ nghĩa và chức năng giao tiếp
Một trong những mục đích của việc giảng dạy ngoại ngữ là bồi dưỡng năng
Trang 18lực giao tiếp trong mối liên hệ trực tiếp với nhân tố văn hoá, gắn giảng dạy ngôn ngữ với giảng dạy kiến thức văn hoá Giảng dạy kiến thức ngôn ngữ, kỹ năng ngôn ngữ gắn với giảng dạy kiến thức văn hoá liên quan, tiến hành đồng bộ hai cách giảng dạy này mới có thể giành được hiệu quả cao trong giảng dạy ngoại ngữ Vấn
đề giảng dạy, chương trình, hệ thống kiến thức là vấn đề quan trọng của khoa học giảng dạy ngoại ngữ
3.2 Xuyên văn hoá với dạy và học ngoại ngữ
Hầu như mọi các nhà nghiên cứu ngôn ngữ và văn hoá đều có một nhận xét chung là: nền văn hoá của một dân tộc là cái gì đó trừu tượng, vô hình nhưng lại rất
cụ thể, nó trường tồn và gắn liền với con người của dân tộc đó, ngấm sâu và lắng đọng trong mỗi con người; văn hoá trừu tượng, vô hình nhưng lại được thể hiện một cách cụ thể, muôn hình vẻ, ở nhiều khía cạnh của con người: từ cách tư duy, cách nhìn nhận thế giới khách quan, đến lối sống, phong cách cư xử, giao tiếp, sự nhận diện bản thân, hành động cảm xúc Mỗi dân tộc đều có một nền văn hoá riêng Có thể tìm thấy những sự tương đồng của nền văn hoá này với nền văn hoá khác nhưng hầu như khó tìm thấy hai nền văn hoá hoàn toàn như nhau
Với ý nghĩa như vậy, xuyên văn hoá, nhìn từ góc độ dạy—học ngoại ngữ là quá trình mâu thuẫn và xung đột giữa hai hệ thống tri thức, một bên là hệ thống tri thức dân tộc đã được định hình và được thể hiện ở việc nắm vững ngôn ngữ mẹ đẻ với một bên là hệ thống tri thức đang được hình thành qua khả năng nắm bắt ngôn ngữ thứ hai Nói một cách trực diện hơn, cái gọi là ―xuyên văn hoá‖ thực chất là sự mâu thuẫn và xung đột giữa hai hệ thống tri thức đã có với hệ thống tri thức khác, đòi hỏi người học ngôn ngữ thứ hai đang phải lý giải để tiếp thu và nắm vững Trong quá trình lý giải để tiếp thu ấy, người học ngôn ngữ thứ hai luôn gặp phải hàng loạt các trường hợp mà họ phải nhanh chóng thích ứng hoặc phải kiên trì để thích ứng, nếu không, sẽ bị coi là ―phạm lỗi‖, ―gây lỗi‖, hiện tượng này còn được gọi là ―sốc văn hoá‖ Dưới đây xin nêu ra một vài biểu hiện cụ thể:
Trang 19Thứ nhất: Người sử dụng ngoại ngữ trình bày một vấn đề rất đúng theo cấu
trúc của ngôn ngữ thứ hai như cấu trúc câu, cách dùng từ, ngữ âm v.v nhưng nội dung lại ―trái với cách nghĩ của dân tộc đó‖ Thí dụ, người phương Đông như Trung Quốc, Việt Nam khi gặp một người phương Tây lần đầu tiên, nếu dùng tiếng Anh để hỏi họ đại loại những câu mang nội dung hỏi thăm về riêng tư, tuổi tác, gia đình riêng thì người sử dụng ngoại ngữ như thế đã bị quy về mắc lỗi xuyên văn hoá Lý do là vì, mới làm quen mà hỏi chuyện riêng tư là chuyện tối kị đối với người Phương Tây nhất là phụ nữ, còn đối với người phương Đông, đây lại là điều hết sức cần thiết, vì đó là sự quan tâm chân tình với khách Một số tác giả đã coi đây là ― sự xê dịch vị trí ngữ nghĩa‖ trong giao tiếp xuyên văn hoá (bởi ngôn ngữ bao gồm cả nghĩa của bản thân ngôn ngữ và nghĩa văn hoá của ngôn ngữ) Vì thế, những câu cùng nội dung nhưng ở nền văn hoá này là thể hiện sự quan tâm, tự nguyện hay làm quen v.v còn ở nền văn hoá kia lại được hiểu là sự thóc mách, bất đắc dĩ hoặc có ý dò xét, rình mò v.v Như vậy, rõ ràng ở đây sử dụng ngôn ngữ tuy ―đúng‖ về ngữ pháp (hay đúng về cấu trúc) nhưng lại ―sai‖ về cách sử dụng ngôn ngữ Nói một cách khác, lỗi ở đây là lỗi về văn hoá do đó chúng ta thấy đối với người học ngoại ngữ là sự đồng thời tiếp nhận ngôn ngữ và văn hoá của ngôn ngữ, chúng tôi gọi loại lỗi này là ―lỗi xuyên văn hoá‖
Thứ hai: Người sử dụng ngoại ngữ đã dùng sai ngôn ngữ thứ hai ở bình diện
cấu trúc có nguyên nhân từ sự ảnh hưởng của cấu trúc của ngôn ngữ mẹ đẻ Ngôn ngữ học cấu trúc gọi những lỗi này là lỗi giao thoa hoặc do giao thoa, còn từ cách nhìn xuyên văn hoá, người ta cũng gán vào lỗi xuyên văn hoá và được giải thích như sau: việc học ngôn ngữ thứ hai là hoạt động trong bộ não của người học ngoại ngữ ở mặt tri nhận Trong quá trình học tập, người học không chỉ lý giải các yếu tố của ngôn ngữ đang học mà còn vận dụng chúng vào trong hoạt động giao tiếp, một mặt phải vận dụng hệ tri thức vốn có của bản thân, mặt khác đòi hỏi phải tiếp thu các tri thức mới để xây dựng hệ tri thức mới Sự khiếm khuyết tri thức mới hoặc
Trang 20chưa có khả năng vận dụng tri thức mới vào giao tiếp bằng ngoại ngữ, mà thay vào
đó bằng tri thức vốn có là nguyên nhân gây ra lỗi xuyên văn hoá Tất nhiên, khiếm khuyết này gắn liền với sự không thích ứng về tâm lý văn hoá của người sử dụng ngoại ngữ - một cơ chế tâm lý của người sử dụng khi phán đoán giá trị ngôn ngữ hay lựa chọn ngôn ngữ dưới tác động của bối cảnh văn hoá nhất định Có thể dẫn chứng cho sự lý giải này ở cả ba bình diện ngữ âm, ngữ pháp và từ vựng – ngữ nghĩa Chẳng hạn, ở bình diện ngữ âm, cùng với tính vật lý và sinh lý, ngữ âm có tính xã hội Chính tính xã hội này đã tạo nên tính thống nhất tương hỗ giữa ngữ âm ( âm thanh có thể tạo thành từ ngữ) ngôn ngữ với văn hoá xã hội của dân tộc đó
Sự cố xuyên văn hoá ở bình diện này chính là ― sự không thích ứng‖ khi nghe, khi nói cũng như khả năng cảm thụ âm thanh trong một số trường hợp Điều này có thể
giúp cho lý giải tại sao âm thanh của các từ láy như khấp khểnh, gập ghềnh hay của các tổ hợp vàng khè, vàng choé, vàng xoẹ trong tiếng Việt chẳng giúp ích gì
cho người nước ngoài, dù có giỏi tiếng Việt đến đâu chăng nữa, hiểu được nghĩa của chúng; ở bình diện ngữ pháp như cấu trúc câu chẳng hạn, sự khác nhau về hình thức cấu tạo câu giữa các ngôn ngữ cũng phản ánh sự khác nhau về hệ thống tri thức của mỗi dân tộc khi cấu trúc câu cho ngôn ngữ dân tộc mình Sự khác nhau này không chỉ dừng lại ở tri thức ngữ pháp mà nó phản ánh sự khác nhau về phương thức, phương pháp hành vi trong nhận thức, phản ánh thế giới khách quan,
tư duy, cách thức tổ chức nội dung tư tưởng để biểu đạt câu của mỗi dân tộc Sự thiếu hụt tri thức đó sẽ dẫn đến cấu trúc câu không đúng về mặt ngữ pháp hoặc có thể không sai về hình thức câu nhưng người bản ngữ lại ― không nói như vậy‖, ở trường hợp này, những câu thành ngữ tiếng Việt như ―cao chạy xa bay‖, ―chó treo mèo đậy‖ thật là ―vô lý‖ về mặt ngữ pháp khiến cho người được học ngoại ngữ khó lòng mà chấp nhận ngay được; ở bình diện từ vựng – ngữ nghĩa, có rất nhiều điều
để nêu nhưng có lẽ nổi lên, hay được nhắc đến là sự khác nhau về đặc trưng văn hoá được phản ánh trong các nét nghĩa của những từ tương đương giữa các ngôn
Trang 21ngữ Thí dụ nét nghĩa trong cattle của người Anh với niu trong người Hán hẳn là
khác nhau, giở ra từ điển tiếng Hán, có thể tìm ra được 71 từ, 20 thành ngữ và 3 tục
ngữ có từ 牛niu, chúng tôi thử so sánh với tiếng Anh, thì sẽ phát hiện: trước hết:
niu牛 trong tiếng Hán là tên gọi chung cho loại động vật này, bất cứ phân loại họ
như thế nào, chỉ cần đặt trước họ một từ tố là được, chẳng hạn như: 黄ặ?Êhuang
小?牛 xiao niu (con bò nghé) Nhưng tiếng Anh thì khác, tuy có một tên goi chung
là cattle, nghĩa của nó cũng rất mơ hồ, mỗi loại niu牛 lại có một tên riêng, mà không mang theo từ cattle, ví dụ: bull (公牛 gong niu/con bò đực), cow (母牛mu
niu/ con bò nái), calf (小?牛xiao niu/ con bò nghé), buffalo (水?牛shui niu/ con trâu) v.v Thứ hai: trong văn hoá của dân tộc Hán, con trâu mang nhiều hàm ý văn
hoá như: để ví tính tình ngoan cố, cục cằn, tự phụ, hay để ví số lượng nhiều, to xác,
mạnh mẽ nhưng ngu dốt v.v, những nghĩa trên không có trong từ cattle, và chẳng
gợi liên tưởng gì đối với người ở vùng văn hoá nói tiếng Anh Như vậy, có thể nói,
ở bình diện nào cũng bắt gặp những lỗi của người sử dụng ngoại ngữ có nguyên nhân từ xuyên văn hoá Đối với trường hợp tiếng Hán và tiếng Việt, tình hình cũng
có nét tương tự như vậy Trong tiếng Việt, trừ trường hợp ―đầu trâu mặt ngựa‖ còn thì ―con trâu là đầu cơ nghiệp‖, ―ruộng sâu trâu nái‖, ―làm như trâu‖ đều có nghĩa khác với ―con trâu‖ trong tiếng Hán Chúng tôi gọi loại lỗi này cũng là lỗi xuyên văn hoá
Thứ ba: Người sử dụng ngoại ngữ để diễn đạt bằng ngoại ngữ theo thói quen
của truyền thống văn hoá dân tộc được thể hiện trong cách diễn đạt bằng bản ngữ Thí dụ, trong giao tiếp, người Việt rất coi trọng việc dùng từ xưng hô ― nói phải có chủ ngữ‖ để thể hiện là ― có văn hoá‖, nếu không sẽ bị coi là ngược lại Cách tư
Trang 22duy này được nhiều người Việt học ngoại ngữ ―áp dụng‖ tràn lan khi sử dụng ngoại
ngữ Thí dụ: please you come in; 请ở?ó进ứ?´Qing ni jin lai( mời vào); 请ở?óQing
ni( nói trước khi ăn cơm) Ngược lại, người Trung Quốc học tiếng Việt khi nói
tiếng Việt lại hay bỏ chủ ngữ đi, ví dụ như: (Em) chào thầy (cô) Hoặc như, người Anh khi được khen thì đáp lại bằng lời cảm ơn thank you, còn người Trung Quốc
và người Việt thì dùng các phát ngôn phủ định lại để biểu thị sự khiếm tốn như ― đâu có‖, vì thế mới có một tiểu phẩm có nội dụng là: một người phương Tây khen một cô gái Trung Quốc xinh đẹp, cô này trả lời bằng câu ―Where‖ theo thói quen của người Trung Quốc, làm cho người khen nói một cách lúng túng ― chỗ nào cũng đẹp!‖ Tiểu phẩm này chính là phản ánh lỗi về xuyên văn hoá của người Trung Quốc học tiếng Anh Người sử dụng ngoại ngữ nếu không thích ứng được sẽ dùng lẫn và rất có thể gây cảm phiền cho đối tượng giao tiếp Chúng tôi gọi lỗi thứ ba này là lỗi về tư duy
Luận văn của chúng tôi muốn phân tích những lỗi của người Trung Quốc học tiếng Việt từ góc độ xuyên văn hoá như vừa phân tích trong ba ví dụ nói trên để từ
đó tìm ra những quy luật và cách giải quyết để giúp cho người học về sau ít phạm những lỗi như trên đã trình bày
Trang 23CHƯƠNG II CÁC KIỂU LỖI THƯỜNG GẶP KHI NGƯỜI TRUNG QUỐC HỌC TIẾNG VIỆT
1 Xuyên văn hoá xuyên suốt mọi giai đoạn trong quá trình học ngoại ngữ
Theo học giả Mỹ Levien và Adelman [Dạy tiếng Hán cho người nước ngoài
và văn hoá P127], để hoàn thiện được một ngoại ngữ, người học phải trải qua năm
giai đoạn cơ bản:
1 Giai đoạn ―Tuần trăng mật‖ Đây là giai đoạn ―đối với mọi điều đều thấy
mới lạ‖
2 Giai đoạn ―Sốc văn hoá‖ Đây là giai đoạn thấy ―cái gì‖ cũng không quen,
nên người học thường hay buồn bã, chán nản
3 Giai đoạn ―Từng bước thích nghi‖ Bắt đầu nhìn nhận vấn đề một cách
khách quan, từng bước thích ứng mọi điều
4 Giai đoạn ―Cô đơn‖ Trình độ ngoại ngữ đã tương đối cao, nhưng vẫn có
khoảng cách với người bản ngữ, nên người học thấy cô đơn, không biết nên
làm thế nào
5 Giai đoạn ―hội nhập‖ Đã thích ứng, do đó có thể được chấp nhận một cách
thoải mái trong cộng đồng người bản ngữ
Hay một học giả khác là Valdes [Nguồn: Nguyễn Quang “giao tiếp và giao tiếp giao
văn hoá” P14-17], chia quá trình học ngoại ngữ làm bốn giai đoạn cơ bản:
Trang 241 Giai đoạn ―Khách du lịch‖ Đây là giai đoạn thấp nhất của quá trình học ngoại ngữ, nghĩa là hầu như chưa biết gì về ngôn ngữ đích
2 Giai đoạn ―Người sống sót‖, trình độ ngoại ngữ của người học được nâng lên một bước, có nghĩa là người học đạt tới mức độ có thể ― sống sót‖ được
ở cộng đồng ngôn ngữ/văn hoá đích
3 Giai đoạn ―Dân nhập cư‖ là giai đoạn mà trình độ của người học đạt tới mức của người nhập cư trung bình
4 Giai đoạn ―Công dân‖, người học đã hoà nhập được vào cộng đồng của người bản ngữ xét cả về góc độ ngôn ngữ và văn hoá
Dù là năm giai đoạn hay bốn giai đoạn, đều là những bước đi không thể tránh khỏi của quá trình học ngoại ngữ, chẳng hạn như sinh viên Trung Quốc học tiếng Việt:
Giai đoạn 1 là giai đoạn đầu tiên của quá trình học ngoại ngữ Ở giai đoạn này, sinh viên cảm thấy mọi điều đều ―mới lạ‖, ―tò mò‖, thích hỏi những từ hoặc câu mà họ quan tâm: ví dụ như ―ăn cơm‖, ―Anh yêu em‖v.v, rồi họ bắt chước cách đọc Ở giai đoạn này, họ chỉ học được những từ và câu đơn giản, nhưng những yếu
tố văn hoá cũng đồng thời xuất hiện Ví dụ từ ―anh‖ và ―em‖ thì rất hay bị nhầm lẫn Bởi vì trong tiếng Hán, từ xưng hô không phong phú và phức tạp như tiếng Việt, đại từ xưng hô được sử dụng với tần số cao nhất là đại từ nhân xưng ngôi thứ
nhất ―我?wo‖ và đại từ nhân xưng ngôi thứ hai ―你ni‖, hai từ này có thể sử dụng
trong hầu như mọi trường hợp, ở đây, sự khác biệt giữa hai nền văn hoá được thể hiện rõ rệt nhất
Giai đoạn 2, trình độ ngoại ngữ của người học được nâng lên một bước Ở giai đoạn này, người học có thể diễn đạt được ý mình, tuy vẫn còn khó khăn và chưa rõ ràng, mạch lạc, về nhiều đề tài cơ bản trong cuộc sống Vì yếu tố giao tiếp đóng vai trò quan trọng nên tính chính xác, đặc biệt là ngữ pháp, ít nhiều được xem
nhẹ Chẳng hạn như: Ngày mai tôi sắp đi Thượng Hải là những phát ngôn có thể
Trang 25chấp nhận được đối với người Trung Quốc học tiếng Việt ở giai đoạn này
Những nhu cầu về hành vi văn hoá cũng được nâng cao hơn Trong giao tiếp thực tế giữa người học ở giai đoạn này và người bản ngữ trong môi trường văn hoá đích, người bản ngữ bình thường đã bắt đầu có những đòi hỏi về hành vi và lời nói
ít nhiều phù hợp với các giá trị của văn hoá đích Nếu như ở giai đoạn 1, người bản ngữ tỏ ra khoan dung với đôi chút thích thú trước những ―vi phạm‖ về ngôn ngữ và văn hoá của người học thì ở giai đoạn 2, sự khắt khe về văn hoá đã bắt đầu thấy rõ Điều đó có nghĩa là nếu ta có một hành vi nào đó được chấp nhận trong văn hoá nguồn những không được chấp nhận trong văn hoá đích thì người bản ngữ sẽ dễ dàng coi chính chúng ta là những người hoặc yếu kém, hoặc thô lỗ, bất lịch sự Giai đoạn 3 là giai đoạn mà trình độ của người học đạt tới khá cao, có khả năng giao tiếp về những chủ đề thông thường của cuộc sống hàng ngày, về một sự kiện quốc tế, về chuyên ngành học tập Tuy nhiên, ở giai đoạn này, vì trình độ ngôn ngữ và văn hoá chưa đạt tới mức thuần thục của người bản ngữ nên việc sử dụng các loại phong cách cơ bản vẫn chưa đưọc nhuần nhuyễn lắm Ngoài ra, ta
còn thấy những ảnh hưởng của ngôn ngữ và văn hoá nguồn Kiểu như ― Thầy về
nhé‖ ( một học trò học tiếng Việt nói với thầy)
Giai đoạn 4, người học đã hoà nhập được vào cộng đồng của người bản ngữ xét cả về góc độ ngôn ngữ và văn hoá Nói như vậy không có nghĩa là họ không
còn vấn đề gì ―khúc mắc‖, mà họ đã đạt tới mức độ ―có thể được chấp nhận một
cách thoải mái trong cộng động người bản ngữ‖ Tuy nhiên, ngay cả giai đoạn này,
sốc văn hoá và xung đột văn hoá trong hoạt động giao tiếp vẫn tồn tại tuy ở mức độ không đáng kể và với tần suất thấp
Từ những phân tích trên cho thấy, trong quá trình học ngoại ngữ nói chung và học tiếng Việt nói riêng, những lỗi về văn hoá có đặc điểm riêng trong từng giai đoạn Tuy nhiên, có những lỗi có thể xuyên suốt mọi giai đoạn Cho nên, khi chúng tôi nghiên cứu những lỗi dùng từ của người học tiếng Việt từ góc độ xuyên văn
Trang 26hoá, chúng tôi thông kế phân loại theo từ loại, chứ không phân loại theo từng giai đoạn Cách làm như vậy có lợi là cho thấy tính xuyên suốt của lỗi trong tất cả các giai đoạn học ngoại ngữ (ở đây là tiếng Việt) và đặc trưng văn hoá riêng của ngôn ngữ này
2 Lỗi văn hoá trong giao tiếp
Cái gọi là ―lỗi văn hoá‖ là khu vực phân bố những khác biệt giữa hai nền văn hoá ngôn ngữ trong giao tiếp Nhìn từ ngôn ngữ học văn hoá, chúng tôi cho rằng có bốn trường hợp có thể tạo ra lỗi và xung đột trong giao tiếp giao văn hoá:
1) Trong hai hành vi ngôn ngữ, một từ, một câu, một sự vật , một khái niệm hoặc một hành vi nào đó chỉ tồn tại trong văn hoá ngôn ngữ nguồn hoặc văn hoá ngôn ngữ đích
2) Trong hai hành vi ngôn ngữ, hình thức giao tiếp hoặc ý nghĩa giao tiếp giống nhau, nhưng ý nghĩa bối cảnh văn hoá khác nhau
3) Trong hai hành vi ngôn ngữ, mặc dù hình thức giao tiếp hoặc ý nghĩa giao tiếp giống nhau, nhưng khác nhau về nội hàm ý nghĩa và sắc thái tình cảm
4) Trong hai hành vi ngôn ngữ, mặc dù hình thức giao tiếp, ý nghĩa giao tiếp và phương pháp giao tiếp đều giống nhau, nhưng vì sự khác biệt giữa quy ước văn hoá và tập tục văn hoá mà dẫn đến sự khác nhau của ngữ nghĩa
Bốn trường hợp nêu trên thực ra cũng tương ứng với ba ví dụ được trình bày ở chương I, đó là lỗi xuyên văn hoá, hay nói cách khác là giao văn hoá
Chúng tôi cũng có thể đúc kết bốn loại hành vi ngôn ngữ do sự khác biệt giữa ngôn ngữ văn hoá mà gây ra thành trái ngược văn hoá, thiếu vắng văn hoá và hiện tượng tương quan văn hoá
Trái ngược văn hoá được hiểu là hai ngôn ngữ khác nhau có cá tính ngôn ngữ và
cá tính giao tiếp khác nhau dẫn đến hai bên khó mà đi đến thống nhất Tức là cùng
Trang 27một sự vật khách quan có thể phản ánh giá trị khác nhau trong nền văn hoá khác nhau, dẫn đến trạng thái khác nhau, và có bối cảnh văn hoá khác nhau
Thiếu vắng văn hoá được hiểu là hiện tượng đó chỉ có trong một ngôn ngữ văn hoá, còn ngôn ngữ văn hoá khác không có sự vật hoặc hiện tượng đối đẳng hoặc tương ứng, kể cả hình thức, ý nghĩa và phương pháp giao tiếp v.v
Tương quan văn hoá được hiểu là trong hai nền ngôn ngữ văn hoá có thể tìm thấy sự vật hoặc hiện tượng đối đẳng hoặc tương ứng, nhưng mức độ nông sâu, rộng hẹp, nặng nhẹ của ý nghĩa hành vi ngôn ngữ khác nhau, sắc thái tình cảm và chức năng ngữ dụng cũng khác nhau Vì khi hai tín hiệu ngôn ngữ và hành vi ngôn ngữ biểu đạt cùng một sự vật hoặc hiện tượng, ý nghĩa hoặc sở chỉ và ý nghĩa văn hoá xã hội không thể hoàn toàn bằng nhau được
Từ đó chúng tôi có thể đi đến một kết luận: trong giao tiếp, cái ―khu nhạy cảm‖ dễ gây nhầm hoặc lỗi chủ yếu tập trung ở nội dung từ ngữ, cấu trúc ngôn ngữ và quy ước văn hoá của ngôn ngữ giao tiếp Trong đó lỗi nhiều nhất là từ ngữ, ngữ vực(phạm vi sử dụng ngôn ngữ) và cấu trúc ngôn ngữ Nếu phân chia theo nội hàm văn hoá, thì có thể chia thành ―lớp văn hoá từ ngữ‖, ―lớp văn hoá ngữ vực‖ và
―lớp văn hoá cấu trúc ngôn ngữ‖ Sự phân chia cụ thể ấy như sau:
(1)Lớp văn hoá từ ngữ Từ vựng là yếu tố cơ bản của ngôn ngữ, là trụ cột nương tựa của hệ thống ngôn ngữ, cho nên sự khác biệt văn hoá của lớp này là nổi bật nhất, và cũng dễ gây lỗi giao tiếp nhất Chẳng hạn như thành ngữ tục ngữ, những từ chỉ con số, từ chỉ màu sắc, từ chỉ động vật, thực vật v.v Chúng tôi có thể lấy một số ví dụ giữa tiếng Việt và tiếng Hán để chứng minh điều này Ví dụ như thành ngữ Trung Quốc ―Bắt chước Tây Thi‖ và ―Bốn bề tiếng hát Sở‖, hai thành ngữ này đều liên quan đến sự kiện lịch sử của Trung Quốc, nếu không biết về lịch
sử Trung Quốc, thì không thể hiểu được nguồn gốc của hai thành ngữ này ―Bắt chước Tây Thi‖ có nghĩa giống như ―khỉ bắt chước người sống‖của tiếng Việt; còn
―bốn bề tiếng hát Sở‖ có nghĩa là ―bốn bề bị đe doạ‖, tức là không ai đứng về bên
Trang 28mình, không ai giúp mình nữa, mà chủ yếu là tả về người xấu, trong tiếng Việt khó
mà tìm ra được một thành ngữ tương ứng với thành ngữ này Về con số, đối với
người Trung Quốc, những con số như sáu, tám, mười đều là số may, sáu có nghĩa
là thuận lợi, tám là phát tài, còn mười là trọn vẹn, mỹ mãn v.v Vì vậy, số điện
thoại, biển xe hay ngày khai trương hoặc là ngày cưới v.v, người ta đều thích chọn
ba con số đấy Ngược lại, con số bốn lại là số không may, vì âm bốn trong tiếng Hán giống âm chết, nên người ta rất kiêng dùng con số này Còn người Việt lại
không quan niệm như thế Về màu sắc, hai nước Trung Quốc và Việt Nam cũng có quan niệm khác nhau Ví dụ màu đỏ trong tiếng Hán thường tượng trưng may mắn, tốt lành Vì vậy ở một số địa phương, khi cưới chồng, cô dâu phải mặc áo đỏ, đi giầy đỏ, mua chăn đỏ, tủ đỏ v.v, khách đến ăn cỗ cũng cho lì xì màu đỏ; nếu là năm
tuổi, phải mặc quần lót đỏ để tránh đi những sự không may; ca sĩ nổi tiếng gọi là
ca sĩ rất đỏ v.v Từ đó cho thấy trong quan niệm của người Trung Quốc, màu đỏ
thiêng liêng đến mức nào Trong quan niệm của người Việt, màu đỏ cũng tượng trưng may mắn, nhưng phạm vi không rộng như ở Trung Quốc Còn về động vật, nói đến đàn ông không đứng đắn, người Trung Quốc sẽ nghĩ ngay đến con sói, còn người Việt chắc chắn nghĩ ngay đến con dê
(2)Lớp văn hoá ngữ vực Trong giao tiếp, vì bối cảnh văn hoá khác nhau mà tạo ra sự khác biệt của phạm vi sử dụng ngôn ngữ, sự khác biệt tâm lý của hoạt động ngôn ngữ, sự khác biệt của chức năng tu từ của ngôn ngữ, sự khác biệt của thông tin ngôn ngữ, sự khác biệt của tượng trưng và ẩn dụ và sự khác biệt về quan niệm trong giao tiếp ngôn ngữ Đó là nội dung cụ thể của văn hoá ngữ vực Tuy nhiên, vì việc sử dụng ngôn ngữ chịu sự ảnh hưởng của nhiều nhân tố ngoài ngôn ngữ, nên phạm vi của ngữ vực khó xác định được, nhưng xét từ thực tiễn giảng dạy
và nhu cầu thực tế, những nội dung sau đây có thể qui vào lớp ngữ vực văn hoá trong giao tiếp xuyên văn hoá: từ xưng hô, lời chào, lời cảm ơn, lời chúc, lời an ủi, uyển ngữ v.v Sau đây là những ví dụ giữa tiếng Hán và tiếng Việt Trong tiếng
Trang 29Hán, khi xưng hô người khác, nói chung là xưng cả họ và tên, chẳng hạn như
zhang ping(Trương Bình), li qiang (Lý Cường);còn người Việt thì lại xưng tên,
chẳng hạn như anh Minh, bác Hương v.v; về lời chào, trong tiếng Hán, khi người khác xin phép về, chủ nhà thường nói man zou (đi chậm, tức là đi cẩn thận), nhưng
người Việt thì lại không nói như vậy
(3)Lớp văn hoá cấu trúc ngôn ngữ Vì bối cảnh văn hoá khác nhau mà tạo ra
sự khác biệt của kết cấu ngôn ngữ , chẳng hạn như sự khác nhau của kết cấu ngữ
âm, kết cấu ngữ pháp, thứ tự câu và kết cấu văn bản chính là nội dung cụ thể của lớp văn hoá cấu trúc ngôn ngữ Sự khác biệt của lớp văn hoá cấu trúc ngôn ngữ này chịu sự chi phối của tâm lý văn hoá dân tộc và phương thức tư duy, từ đó tạo ra mô hình cấu trúc khác nhau trong giao tiếp Lấy phương thức tư duy làm ví dụ, sự khác biệt được thể hiện trong thứ tự câu của tiếng Hán và tiếng Việt rất rõ rệt,
chẳng hạn như câu tiếng Hán là : wo de shu, dịch ra tiếng Việt là sách của tôi Sự
khác nhau về phương thức tư duy giữa dân tộc Hán và dân tộc Việt đã được thể hiện qua hai câu này Dân tộc Hán có thói quen là nói những thông tin có liên quan trước, rồi mới đến trung tâm thông tin của lời nói Còn thói quen của dân tộc Việt
là nói trung tâm thông tin trước, rồi mới bổ sung những thông tin có liên quan, khi người học ngoại ngữ chưa nắm bắt được đặc trưng văn hoá cấu trúc ngôn ngữ này,
họ thường hay bị lỗi về thứ tự câu
3 Các kiểu lỗi thường gặp khi sinh viên Trung Quốc học tiếng Việt (xét về khía cạnh từ vựng)
3.1 Vấn đề tư liệu
Lỗi của sinh viên Trung Quốc học tiếng Việt có từ giai đoạn đầu học phát âm, cho đến khi ra trường vẫn khó tránh khỏi Những lỗi đó chủ yếu là lỗi về ngữ âm, ngữ pháp và từ vựng, trong đó nổi bật nhất là từ vựng Như trên đã trình bày, sự khác biệt của văn hoá tạo ra nhiều lỗi về từ vựng, cho nên, trong luận văn này, chúng tôi chỉ khảo sát lỗi dùng từ của họ, rồi tìm ra nguyên nhân nào đã gây ra
Trang 30những lỗi để giải quyết vấn đề này
Trong quá trình học tiếng Việt của sinh viên Trung Quốc, lỗi dùng từ của họ
có phạm vi rất rộng, hầu như mỗi loại từ đều bị đụng chạm đến, nhưng về tần suất xuất hiện, có một số từ có tần suất lỗi cao, có một số từ có tần suất lỗi thấp Chúng tôi đã thu thập những tài liệu qua bài làm(đặt câu, bài dịch và viết văn), khẩu ngữ hàng ngày của sinh viên, và trích một số ví dụ trong giáo trình đang sử dụng, rồi phân loại thống kê theo từng loại từ, và có sự so sánh đối chiếu với tiếng Hán, như vậy sẽ có sức thuyết phục hơn, và nghiêm chỉnh hơn
3.2 Phân loại thống kê các kiểu lỗi
Trong khi thu thập tài liệu, chúng tôi đã khảo sát bài làm một học kỳ của hai lớp sinh viên năm thứ nhất, khẩu ngữ của một lớp sinh viên năm thứ hai và bài viết văn của một lớp sinh viên năm thứ tư, ngoài ra còn một số lỗi được gặp ở một số trường hợp dịch nói của sinh viên Trung Quốc Sau đây chúng tôi sẽ phân loại theo lỗi của từng loại từ của sinh viên Trung Quốc thường hay mắc
3.2.1 Từ xƣng hô
Trong rất nhiều biểu hiện của tiếng Việt, hệ thống từ xưng hô quả là vấn đề đáng được quan tâm chính vì chúng mang đậm bản sắc văn hoá Việt Nam Các đặc trưng lớn của văn hoá Việt Nam như: tính cộng đồng, tính tổng hợp, tính linh hoạt đều có thể thấy được qua hoạt động của nhóm từ này
Có thể nói, trong bất kỳ một cuộc giao tiếp nào cũng không thể thiếu các từ
―xưng‖ và ―hô‖, ―xưng‖ là tự gọi mình, còn ―hô‖ là gọi người khác Trong số từ xưng hô tiếng Việt, loạt danh từ thân tộc chiếm vị trí quan trọng, người ta gọi cách xưng hô này là xưng hô theo kiểu gia đình hoá Bản thân nó cho thấy sự khác biệt
lớn giữa tiếng Việt và tiếng Hán Ngoài mấy từ như chú, dì, bác, ông, bà ra, tiếng
Hán chỉ sử dụng các đại từ nhân xưng Cách xưng hô bằng đại từ thường rất khái quát, nó cho phép các thành viên giao tiếp xưng hô theo một nguyên tắc: người xưng –ngôi thứ nhất ―tôi‖(wo) và người được hô - ngôi thứ hai ―anh‖(ni) ít kèm
Trang 31theo sắc thái biểu cảm Chính vì những sự khác biệt đó, sinh viên Trung Quốc, nhất
là sinh viên năm thứ nhất rất dễ bị nhầm lẫn Sau đây là những lỗi cụ thể:
3.2.1.1.Đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất:
+ Tôi:
Ví dụ:
a (Hai sinh viên đóng vai hai anh em tập nói)
(người anh) - Bố đi đâu rồi đấy?
(người em) -Tôi(em) không biết
b – Tôi (cháu) đến trường đã ba tháng rồi, tôi(cháu) nhớ bà lắm, bà có nhớ tôi(
cháu) không?
c. -Bác cho tôi(cháu) hỏi, Hồng nhà bác có nhà không?
Những câu nói như thế thường được nghe thấy trên giảng đường ,hoặc ―gốc tiếng Việt‖ Tại sao sinh viên hay lạm dụng từ ―tôi‖? Nguyên nhân chính vì ―tôi‖ trong mấy câu trên đều tương hỗ với từ ―wo‖ của tiếng Hán
+Chúng tôi, chúng ta:
Ví dụ:
Các anh là công nhân, chúng ta(tôi) là học sinh
Các đồng chí là chiến sĩ, chúng ta không phải là chiến sĩ, chúng tôi(ta) là học sinh
Anh là đảng viên, chị là đảng viên, tôi là đảng viên, chúng tôi(ta) đều là đảng viên
Hôm qua các anh chị đi đâu chơi?
Chúng ta(tôi) đi công viên chơi
Trong tiếng Việt, ―chúng tôi‖ là tổ hợp dùng để nhân danh một số người mà tự xưng, ―chúng ta‖ là tổ hợp người nói dùng để chỉ bản thân mình cùng với người đối thoại Phạm vi đối tượng của hai từ không giống nhau ―chúng tôi‖ tương đương ―wo men‖ của tiếng Hán, ―chúng ta‖ tương đương ―za men‖ của tiếng Hán Nhưng đối với người Trung Quốc, nhất là người miền Nam Trung Quốc, ranh giới giữa ―wo men‖ và
―za men‖ không phải rõ rệt lắm, thậm chí có thể thay cho nhau Cho nên đối với sinh viên