Trong đó, hệ thống cơ sở bảo trợ xã hội dành cho trẻ em được hình thành rộng khắp trên cả nước là sự cụ thể hóa hành động của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong công tác bảo vệ, chăm só
Trang 1(Nghiên cứu trường hợp tại Trung tâm Nuôi dưỡng trẻ em mồ côi
Hà Cầu - Hà Đông)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Hà Nội - 2013
Trang 22
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
VŨ VĂN HIỆU
ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ TRẺ EM MỒ CÔI KHÔNG NƠI NƯƠNG TỰA, TRẺ EM BỊ BỎ RƠI TẠI TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
(Nghiên cứu trường hợp tại Trung tâm Nuôi dưỡng trẻ em mồ côi
Trang 33
Phần I MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sau hơn hai mươi năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, Việt Nam
đã đạt được những thành tựu vô cùng to lớn về kinh tế - xã hội bên cạnh các mục tiêu phát triển toàn diện con người Trong bối cảnh già hóa dân số đã và đang diễn ra tài nhiều quốc gia ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn lao động,
là thế hệ chủ nhân tương lai của đất nước, nhịp cầu nối xuyên suốt giữa các thế hệ thành viên trong gia đình, trẻ em ở Việt Nam đã trở thành mối quan tâm hàng đầu trong các chiến lược phát triển kinh tế-xã hội Phát triển đầy đủ
cả về thể chất và tâm hồn cho trẻ không chỉ có ý nghĩa trước mắt mà còn là sự chuẩn bị bền vững cho tương lai
Các số liệu thống kê cho thấy, Việt Nam có khoảng 24.930.000 trẻ em, trong đó, khoảng 172.100 trẻ có hoàn cảnh mồ côi không nơi nương tựa, bị bỏ rơi (năm 2005 là 143.000 trẻ) chiếm 0.69% tổng số trẻ em[1] Số đối tượng trẻ
em này dự kiến sẽ còn tăng cao hơn bởi hiện tượng sinh con ngoài ý muốn ở các phụ nữ trẻ và do tác động của đại dịch HIV/AIDS, với khoảng 263.400 trẻ sống chung với cha mẹ dương tính với HIV trong năm 2005 [1]
Thể hiện sự quan tâm đặc biệt dành cho trẻ em, Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á và là nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em của Liên hợp quốc (Việt Nam phê chuẩn ngày 20/02/1990) Bốn nhóm quyền cơ bản của trẻ trong Công ước của Liên hợp quốc đã được luật hóa trên cơ sở phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và pháp luật Việt Nam Cùng với việc hoàn thiện nhiều văn bản pháp lý liên quan như Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật Nuôi con nuôi, Luật phòng chống mua bán người… Đảng và Nhà nước ta cũng đã ban hành nhiều chương trình, chính sách, kế hoạch hành động nhằm gắn mục tiêu bảo vệ, chăm sóc và giáo dục
Trang 44
trẻ em với các chiến lược phát triển kinh tế-xã hội Trong đó, hệ thống cơ sở bảo trợ xã hội dành cho trẻ em được hình thành rộng khắp trên cả nước là sự
cụ thể hóa hành động của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong công tác bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, nhất là những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trong đó có trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi
Tính đến năm 2009, trên địa bàn cả nước có tất cả 262 [5, 362] cơ sở bảo trợ xã hội công lập và ngoài công lập hoạt động dưới nhiều hình thức tên gọi khác nhau như trung tâm (bảo trợ, cứu trợ, hỗ trợ, nuôi dưỡng, điều trị, điều dưỡng, giáo dục, dạy nghề), làng trẻ em SOS, nhà trẻ, nhà tình thương, nhà nuôi dưỡng, nhà an toàn, mái ấm tình thương, cô nhi viện, cơ sở nuôi dưỡng, khu bảo trợ… Trong đó, mạng lưới cơ sở bảo trợ xã hội ở Hà Nội ngày càng phát triển và đa dạng Theo số liệu thống kê, Hà Nội có 20 cơ sở bảo trợ xã hội, trong đó có đến 14 cơ sở bảo trợ xã hội dành cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và 02 trung tâm có đối tượng bảo trợ trọng tâm là trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi [5, 6] Tuy vậy, mạng lưới cơ sở bảo trợ xã hội vẫn chưa thể đáp ứng kịp thời sự gia tăng nhanh chóng về số lượng đối tượng trẻ
em cần được bảo vệ
Mặt khác, hoạt động bảo vệ trẻ em tại các cơ sở bảo trợ xã hội hiện nay diễn ra như thế nào, liệu các hoạt động bảo vệ trẻ em đó có trở thành dịch vụ xã hội chuyên nghiệp không hay còn mang nặng tính từ thiện, nhân đạo, vai trò của cán bộ, nhân viên xã hội tại các cơ sở bảo trợ xã hội đó ra sao là những vấn
đề hết sức quan trọng cần được làm rõ nhằm góp phần nâng cao hiệu quả bảo
vệ trẻ em tại các cơ sở bảo trợ xã hội
Trước sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước thể hiện qua các văn bản pháp lý, các chế độ, chính sách hỗ trợ, ưu đãi về giáo dục, y tế, tài chính cho các cơ sở bảo trợ xã hội và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; trước thực trạng
Trang 55
quá tải đến mức báo động số lượng trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em
bị bỏ rơi tại cơ sở bảo trợ xã hội; trước vấn đề đặt ra là hoạt động bảo vệ trẻ em
mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi tại các trung tâm bảo trợ xã hội hiện nay diễn ra như thế nào, vai trò của các nhân viên xã hội ở các trung tâm
này ra sao, đã gợi mở cho chúng tôi đề tài nghiên cứu Đánh giá hoạt động bảo
vệ trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi tại trung tâm bảo trợ
xã hội trên địa bàn Hà Nội (nghiên cứu trường hợp tại Trung tâm nuôi dưỡng
Trẻ em mồ côi Hà Cầu)
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Trẻ em là một trong những nhóm đối tượng nhận được sự quan tâm đặc biệt của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, các chuyên gia, học giả trong và ngoài nước Trong phạm vi các công trình có liên quan đến đề tài, nhóm nghiên cứu lựa chọn và phân tích một số công trình nghiên cứu, các đánh giá, bài viết tiêu biểu
Thứ nhất, công trình nghiên cứu, bài viết liên quan đến trẻ em nói chung
“Những điểm mở và thách thức cơ bản với phương thức làm chương
trình dựa trên cơ sở quyền con người cho phụ nữ và trẻ em ở Việt Nam” là
công trình nghiên cứu của tác giả Christian Salazar Volkmann đề cập đến vấn
đề quyền của phụ nữ và trẻem Tác giả đã làm rõ những yếu tố cơ hội và thách thức cơ bản nhất liên quan đến chương trình đảm bảo quyền và sự tham gia của phụ nữ và trẻ em Việt Namtrên cơ sở tiếp cận từ quyền con người Tác giả đồng thời cho thấy, thực hiện đầy đủ quyền đối với phụ nữ và trẻ em mang lại động lực cần thiết để họ tham gia đầy đủ, có hiệu quả vào các hoạt động xã hội
“Tìm hiểu ảnh hưởng của quan hệ ứng xử giữa các thành viên trong gia đình với nhau và với trẻ tới sức khỏe của trẻ em trong các gia đình Việt Nam
Trang 66
hiện nay” của tác giả Mai Thị Kim Thanh đăng trên Kỉ yếu Hội nghị Khoa
học nữ Đại học Quốc gia Hà Nội lần thứ 6 năm 2001 Tác giả đã nhận định mức độ tâm sự của những người thân trong gia đình đối với trẻ em được thể hiện như sau: tâm sự giữa bố, mẹ với con chiếm 46,2%, ông bà với cháu chiếm 24,8%, mẹ với con chiếm 24,7%, ít tâm sự chiếm 8,0%, anh chị em với nhau chiếm 5,8%, bố với con chiếm 4,6% và không tâm sự chiếm 4,5% Tỷ lệ tâm sự giữa bố, mẹ, ông, bà với con cái càng thấp thì càng ảnh hưởng đến sức khỏe con cái, đặc biệt là sức khỏe tinh thần
Tác giả Trịnh Hòa Bình với nghiên cứu “Sự hiểu biết giữa gia đình và
trẻ em về vấn đề quyền trẻ em hiện nay” đăng trên Tạp chí Xã hội học số
4/2005 Nghiên cứu tập trung điều tra về kiến thức, thái độ, hành vi của cộng đồng về quyền trẻ em, (2004- 2005) trên quy mô 10 tỉnh, thành phố trong cả nước với sự tham gia của 3000 cha mẹ Một trong những phát hiện quan trọng trùng khớp với những vấn đề nói trên là sự thấu hiểu giữa cha mẹ và con cái còn nhiều bất cập thể hiện qua những mâu thuẫn cơ bản trong gia đình Việt Nam hiện nay qua việc phân tích những thông tin định tính và định lượng từ cuộc khảo sát
“Báo cáo Phân tích tình hình trẻ em ở Việt Nam” do UNICEF thực hiện
năm 2010 Báo cáo lấy cách tiếp cận dựa trên quyền con người, xem xét tình hình trẻ em dựa trên quan điểm các nguyên tắc chính về quyền con người như bình đẳng, không phân biệt đối xử và trách nhiệm giải trình Kết quả nghiên cứu đã làm rõ tình hình trẻ em nam và nữ, nông thôn và thành thị, dân tộc Kinh và dân tộc thiểu số, trẻ em giàu và trẻ em nghèo hiện nay ở Việt Nam Trong đó, nhóm trẻ em thiếu sự chăm sóc của bố mẹ ở Việt Nam có diễn biến phức tạp Các cơ sở chăm sóc cả công lập và dân lập có ở hầu hết các tỉnh thành trong cả nước dưới nhiều hình thức như chăm sóc tại nhà, chăm sóc tập trung và các hình thức chăm sóc hỗ trợ không chính thức khác Tình trạng số
Trang 77
lượng cho con nuôi ra nước ngoài cao trong khi đây được quy định là biện pháp cuối cùng chỉ sử dụng khi không còn cách nào khác Ngoài ra, báo cáo cũng chỉ ra rằng Việt Nam còn thiếu các quy định cụ thể cho việc truy tố những đối tượng hoạt động môi giới cho nhận con nuôi trái pháp luật
“Điều tra đánh giá các mục tiêu về trẻ em và phụ nữ” (MICS) được
Tổng cục Thống kê thực hiện năm 2010–2011 Theo cách tiếp cận khái niệm trẻ em mồ côi của MICS thì trẻ mồ côi được định nghĩa là trẻ em dưới 18 tuổi
có cha, mẹ hoặc cả cha và mẹ đã tử vong vì bất kỳ nguyên nhân gì Kết quả điều tra cho thấy, Việt Nam có 83,7% trẻ em trong độ tuổi từ 0–17 tuổi đang sống với cả cha và mẹ, trong khi có 5,2% không sống với cả cha và mẹ Khoảng 5,7% trẻ em chỉ sống với mẹ dù cha đẻ vẫn còn sống và 2,4% trẻ em chỉ sống với mẹ khi cha đẻ đã tử vong Khoảng 1,8% trẻ em chỉ sống với cha
dù mẹ đẻ vẫn còn sống và 0,7% chỉ sống với cha khi mẹ đẻ đã tử vong Có 5,3% không sống với cha đẻ Tỷ lệ này đạt cao nhất ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long (8,8%), so với vùng Tây Nguyên (chỉ 2,3%) Khoảng 3,9% trẻ em
có cha đã tử vong hoặc mẹ đã tử vong, hoặc cả cha và mẹ đều đã tử vong Tỷ
lệ này là 6,3% trong nhóm các hộ gia đình nghèo nhất và giảm xuống còn 3,5% trong nhóm hộ gia đình giàu nhất [31, 187] Kết quả điều tra trên là cơ
sở tham khảo hữu ích cho các nhà quản lý, hoạch định chính sách, nhà nghiên cứu song cần lưu ý rằng các số liệu về thực trạng trẻ em mồ côi của MICS ở trên là theo cách tiếp cận trẻ em mồ côi của MICS
Dưới góc độ tâm lý, tác giả Văn Thị Kim Cúc qua công trình “Tổn
thương tâm lý của trẻ 10-15 tuổi do ly hôn của bố mẹ” đã tập trung nghiên
cứu các tổn thương tâm lý của trẻ thơ trong các gia đình do bố mẹ ly hôn.Các tổn thương này, theo tác giả, là “các vết bầm của tâm hồn” và dù chỉ là những vết bầm, vết xước nhưng cùng với những hoàn cảnh, những ký ức trẻ có trước và sau ly hôn sẽ có những tác động tiêu cực suốt theo chiều dài cuộc đời
Trang 8vệ gây ra nhiều hạn chế trong cuộc đời và sự nghiệp của trẻ
Nghiên cứu “Một số vấn đề cơ bản về trẻ em Việt Nam” của tác giả Đặng
Bích Thủy đã chỉ ra những vấn đề xã hội mang tính gay gắt mà trẻ em đang phải đối mặt như bất bình đẳng trong tiếp cận các cơ hội chăm sóc, bảo vệ, lao động sớm, bị xâm hại, bị bỏ rơi Qua nghiên cứu, tác giả lý giải, phân tích bối cảnh, nguyên nhân của các vấn đề trẻ phải đối mặt từ góc độ chính sách, nhận thức, hành vi, hành động xã hội đồng thời dự báo xu hướng, đề xuất giải pháp cho giai đoạn 2010-2020 nhằm góp phần hạn chế và giải quyết các vấn đề của trẻ em
Bài viết “Kinh nghiệm của một số nước về hệ thống bảo vệ trẻ em” của
tác giả Nguyễn Hải Hữu cho thấy thực tế ở Australia, Thuỵ Điển, Hồng Kông, việc hình thành hệ thống bảo vệ trẻ em liên quan rất nhiều đến các quy định của pháp luật và chính sách hiện hành Một trong những điểm mới trong bài viết là khái niệm “tư pháp thân thiện với trẻ em”.Khi trẻ em vi phạm pháp luật thì áp dụng các hình thức điều tra, xét hỏi, xử lí tại toà án như thế nào để không gây tổn hại cho trẻ em đặc biệt là trong trường hợp trẻ em là nạn nhân của các hành vi bạo lực, xâm hại
“Một số kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề đặt ra đối với việc phát
triển các dịch vụ công tác xã hội trong công tác bảo vệ trẻ em” của tác giả Đỗ
Thị Ngọc Phương nhận định tại Anh, Mĩ, Úc, Philippines, Thái Lan, Singapore, Nhật Bản, Trung Quốc, việc cung cấp dịch vụ xã hội chủ yếu là trách nhiệm của các bộ và cơ quan nhà nước Tại các quốc gia này, cán bộ xã
Trang 9Thứ hai, một số công trình nghiên cứu, bài viết liên quan đến trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi
“Xây dựng môi trường bảo vệ trẻ em: Đánh giá pháp luật và chính sách
bảo vệ trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam” là đánh
giá của Vụ Pháp chế, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Đánh giá tập trung đến pháp luật đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, so sách với các chuẩn mực quốc tế, tìm ra những thiếu hụt và hạn chế của pháp luật Việt Nam, trên cơ sở đó kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, đảm bảo từng bước hài hoà với pháp luật và các chuẩn mực quốc
tế Về bảo vệ trẻ em mồ côi, đánh giá đã chỉ ra Việt Nam là nước đạt được nhiều tiến bộ đáng kể trong việc hoàn thiện khung pháp lý đối với vấn đề nhận con nuôi trong nước và nước ngoài Mặt khác, đánh giá cũng chỉ ra nhiều vấn đề cần phải khắc phục như: chưa có khung pháp lý về công tác đánh giá một cách có hệ thống và chuyên nghiệp đối với trẻ em mồ côi và trẻ
em bị bỏ rơi để quyết định mô hình chăm sóc nào sẽ phù hợp với lợi ích tốt nhất cho các em, đảm bảo rằng trẻ em được nhận nuôi trong một gia đình thay thế phù hợp nhất với lợi ích của các em Đây là một trong những phát hiện quan trọng và hết sức có ý nghĩa đối với bảo vệ trẻ em mồ côi
Công trình “Chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn:
cơ sở lý luận và thực tiễn pháp lý về dân sự ở Việt Nam hiện nay” của tác giả
Dương Hải Yến đã tìm hiểu và phân tích các quy định hiện hành về chăm sóc
và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trên cơ sở nghiên cứu bản chất của
Trang 1010
quyền trẻ em trong pháp luật dân sự, để từ đó đưa ra một số phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của hoạt động chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trong thực tiễn
“Một số giải pháp bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh khó khăn” là
bài viết của tác giả Trần Thị Thanh Thanh, nguyên Bộ trưởng, Chủ tịch Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em, Chủ tịch Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam Tác giả đã nêu bật các loại trẻ em thuộc đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt và tình hình trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam Dưới góc nhìn về vai trò và hiệu quả hoạt động bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt của các hội, hiệp hội và cơ sở ngoài công lập, TS Thanh đã đưa ra các khuyến nghị với cơ quan có thẩm quyền, tạo điều kiện thuận lợi về cơ chế, chính sách
hỗ trợ các tổ chức này hoạt động có hiệu quả hơn
Ở góc tiếp cận khác về giải pháp bảo vệ và chăm sóc trẻ em, tác giả
Nguyễn Xuân Lập, Phó cục trưởng Cục Bảo trợ xã hội qua bài viết “Một số
giải pháp bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt” đã tổng quan tình
hình trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và những chính sách của Nhà nước vận dụng trong những năm qua Để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về bảo
vệ, chăm sóc trẻ em, thúc đẩy thực hiện mục tiêu vì trẻ em, đảm bảo các quyền cơ bản cho trẻ em theo Công ước quốc tế về Quyền trẻ em và luật pháp Việt Nam, tác giả đã đưa ra bảy giải pháp về cần tập trung thực hiện trong thời gian tới Bảy giải pháp mà tác giả đưa ra đã bao trùm hầu hết những vấn
đề tồn tại cơ bản trong công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam
“Chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng – Những cơ sở xã hội và thách thức” là bài viết đồng tác giả Nguyễn Hồng
Thái và Phạm Đỗ Nhật Thắng đã tìm hiểu sự chuyển đổi cách tiếp cận trẻ em truyền thống sang tiếp cận trên cơ sở quyền trẻ em hiện nay Theo đó, cách
Trang 11“Nhận con nuôi từ Việt Nam” là công trình đánh giá độc lập do Hervé
Boéchat, Nigel Cantwell và Mia Dambach thuộc Tổ chức Dịch vụ Xã hội Quốc tế (ISS) tiến hành tại Việt Nam năm 2009 Báo cáo dành trọng tâm ưu tiên cho vấn đề con nuôi quốc tế, trên cơ sở mục tiêu chính là hướng tới tham gia Công ước Lahay Đồng thời, báo cáo đã có những quan tâm đáng kể đến vấn đề nhận con nuôi ở Việt Nam, tình hình phúc lợi trẻ em và bảo vệ trẻ em trên bình diện rộng, đặc biệt là từ góc độ những tác động trực tiếp và gián tiếp đối với nuôi con nuôi quốc tế Báo cáo đã cung cấp cái nhìn tổng quan việc nhận con nuôi trên thế giới và những phát hiện có tính đặc trưng trong việc nhận con nuôi từ Việt Nam
Cùng cách tiếp cận nhận – nuôi con nuôi,“Đánh giá tình hình chăm sóc
nhận nuôi và việc thực hiện quyết định 38/2004/QĐ-TTg”, một nghiên cứu
được phối hợp thực hiện giữa Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội với UNICEF năm 2011 Nghiên cứu đã phân tích, đánh giá thực trạng trẻ em mồ côi, trẻ em cần được chăm sóc thay thế cũng như thực trạng việc thực hiện quyết định 38/2004/QĐ-TTg về chính sách trợ giúp kinh phí cho gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ em mồ côi và trẻ em bị bỏ rơi Kết quả nghiên cứu cho thấy số lượng trẻ mồ côi và trẻ bị bỏ rơi có xu hướng tăng lên do những
Trang 1212
biến đổi kinh tế - xã hội Hầu hết các cán bộ ở cả trung ương và địa phương, cũng như cán bộ nhân viên các cơ sở bảo trợ xã hội và những gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ ít biết đến Quyết định 38 của Thủ tướng Chính phủ, đặc biệt là ở cấp huyện và cấp xã có những trẻ em và gia đình thuộc đối tượng thụ hưởng của Quyết định 38 Nghiên cứu nhận thấy mô hình chăm sóc nhận nuôi là mô hình phù hợp để thí điểm ở các khu vực thành phố/đô thị, nơi được biết có số lượng trẻ em bị bỏ rơi cao hơn và có nhiều gia đình có điều kiện tài chính cũng như kỹ năng chăm sóc trẻ
Ở khía cạnh khác về nuôi con nuôi, “Nuôi con nuôi thực tế – Thực trạng
và giải pháp” là bài viết của tác giả Nguyễn Phương Lan bàn đến hình thức
nuôi con nuôi mà ở đó thoả mãn đầy đủ các điều kiện của việc nuôi con nuôi, không trái với mục đích của việc nuôi con nuôi và đạo đức xã hội Việc nhận nuôi con nuôi có thể được thực hiện bằng lời nói hoặc văn bản thoả thuận giữa hai bên gia đình, nhưng không đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Về mặt xã hội, giải quyết tốt vấn đề nuôi con nuôi thực tế còn góp phần củng cố những quan hệ xã hội tốt đẹp, thể hiện bản chất của nhà nước trong việc quan tâm bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của người dân, qua đó củng cố lòng tin của nhân dân vào pháp luật của nhà nước
Thứ ba, nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em mồ côi trên địa bàn Hà Nội
“Khảo sát trẻ em mồ côi trên địa bàn Hà Nội” và “Mô hình chăm sóc trẻ
em mồ côi ở Hà Nội” của nguyên Giám đốc làng trẻ SOS Hà Nội Nguyễn Thị
Thanh là hai công trình cấp thành phố đề cập đến trẻ em mồ côi và những mô hình tương ứng chăm sóc đối tượng này một cách phù hợp Công trình đã góp phần nêu cái nhìn tổng quan tình hình trẻ em mồ côi và công tác chăm sóc trẻ
em mồ côi trên địa bàn Thành phố
Nghiên cứu “Tìm hiểu việc thực hiện nhóm quyền được bảo vệ trong
công ước quốc tế về quyền trẻ em của các gia đình người dân thành phố Hà
Trang 1313
Nội hiện nay” của tác giả Lê Thị Vân đã phân tích, đánh giá việc thực hiện
nhóm quyền được bảo vệ trong Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em, các nhân
tố cơ bản tác động đến việc thực hiện nhóm quyền được bảo về của trẻ em tại gia đình và các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện nhóm quyền được bảo vệ
ở trẻ em của người dân thành phố Hà Nội Tác giả đã đưa ra những nhóm giải pháp, khuyến nghị giúp người dân nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi trong việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục con cái trong gia đình
“Người dân huyện Phú Xuyên – TP.Hà Nội với việc nhận thức và thực
hiện nhóm quyền tham gia của trẻ em được quy định trong Công ước Quốc tế
về Quyền trẻ em của Liên hợp quốc hiện nay” là nghiên cứu của tác giả Đinh
Thị Thoa đã làm sáng tỏ về mặt lý luận như quyền tham gia của trẻ em, nhận thức của trẻ, làm phong phú thêm cách nhìn nhận, đánh giá vấn đề của người dân về quyền tham gia của trẻ em Nghiên cứu về thực trạng thực hiện quyền tham gia của trẻ em trong các gia đình người dân huyện Phú Xuyên, những yếu tố tác động đến việc thực hiện quyền tham gia, qua đó giúp các nhà quản
lý, các tổ chức về liên quan đến trẻ em, các tổ chức xã hội, những người làm công tác trẻ em có cách nhìn nhận chính xác hơn về quyền tham gia của trẻ
em Tác giả đã đề ra những kế hoạch vận động nâng cao nhận thức về quyền
tham gia của trẻ em cho người dân huyện Phú Xuyên
“Trẻ em có hoàn cảnh khó khăn với các lớp học linh hoạt” là bài viết
của tác giả Trần Thị Minh Đức giới thiệu mô hình lớp học linh hoạt phù hợp với các em có hoàn cảnh đặc biệt không thể đến trường học văn hóa hay học nghề dẫn tới chậm phát triển về trí tuệ và có nguy cơ cao lây nhiễm các tệ nạn
xã hội Các em trong lớp học linh hoạt thuộc những gia đình nghèo hoặc có
bố mẹ nghiện hút, buôn bán ma tuý, đánh bạc, bị tù v.v hoặc các em là trẻ
mồ côi được ở trong các Mái ấm, Nhà tình thương của cộng động Tác giả đã vận dụng các phương pháp nghiên cứu là quan sát, quan sát có sự tham gia, phỏng vấn trẻ, giáo viên, tư vấn viên và cha mẹ trẻ đề giới thiệu một hình
Trang 1414
thức giáo dục không chính quy, không mang tính hàm lâm sư phạm cho đối tượng học Vấn đề tác giả đặt ra là triển vọng của các lớp học linh hoạt ở Hà Nội sẽ ra sao nếu các nguồn tài trợ không còn để duy trì để trả lương cho giáo viên, miễn phí sách vở, khám chữa bệnh, thậm chí cả bữa ăn cho các em Đây
là một trong những khó khăn lớn khi triển khai mô hình lớp học linh hoạt trên diện rộng ở Hà Nội
“Giảm nghèo bền vững và trợ giúp các đối tượng yếu thế ở Hà Nội:
Những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện”, bài viết của tác giả Phan Huy
Đường xem xét dưới góc độ kinh tế học đối với các đối tượng yếu thế trên địa bàn Thành phố Theo tác giả, các định mức về chi tiêu trong công tác nuôi dưỡng từ nguồn Ngân sách Nhà nước cấp cho các đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt đang sống tại các cơ sở bảo trợ xã hội hiện nay còn khá thấp và chưa tính đến yếu tố trượt giá Thực trạng đó đã gây rất nhiều khó khăn cho việc chi tiêu của cơ sở và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của các đối tượng được bảo trợ Qua đây, tác giả nêu một số khuyến nghị như phát triển các mô hình chăm sóc thay thế đối tượng bảo trợ xã hội dựa vào cộng đồng, phát huy vài trò các tổ chức tôn giáo, các tổ chức nhân đạo từ thiện, các tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ trong việc tiến hành những hoạt động trợ giúp các đối tượng xã hội, cần quan tâm đến thu nhập và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ xã hội, nhất là ở cơ sở (cấp xã), cần có chế độ đãi ngộ phù hợp và thường xuyên được đào tạo, tập huấn nâng cao nghiệp vụ thì mới có thể đảm bảo việc thực hiện có hiệu quả các chính sách
Từ những công trình nghiên cứu, những đánh giá, bài viết kể trên có thể nhận thấy, các tác giả đã tập trung tìm hiểu, phân tích, đánh giá một số nội dung như quyền trẻ em, môi trường bảo vệ trẻ, sự hiểu biết về quyền trẻ em,
mô hình chăm sóc, bảo vệ trẻ em (chăm sóc trẻ em dựa vào cộng đồng, nuôi con nuôi, lớp học linh hoạt…) Tiếp cận dưới góc độ quyền trẻ em, pháp luật dân sự được nhiều tác giả đề cập tới nhằm làm nổi bật vị trí của trẻ em trên
Trang 153 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
3.1 Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm sáng tỏ lý luận bảo vệ trẻ em
mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi tại các trung tâm bảo trợ xã hội, qua đó bổ sung và làm phong phú thêm cách nhìn nhận, đánh giá bảo vệ trẻ em
mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi nói riêng và trẻ em nói chung
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu cung cấp lăng kính tương đối đầy đủ về thực trạng hoạt động bảo vệ trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi tại trung tâm bảo trợ xã hội Trên cơ sở đó các nhà quản lý trung tâm bảo trợ có những giải pháp tổ chức, điều phối nhân sự và các hoạt động khác phù hợp hơn với tình hình thực tế, nhân viên xã hội tại các cơ sở bảo trợ xã hội có những cách thức chăm sóc, bảo vệ trẻ em họp lý, các nhà hoạch định chính sách có thêm góc nhìn về thực trạng bảo vệ trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi để đưa ra những điều chỉnh về chế độ chính sách, bồi dưỡng nguồn nhân lực bảo vệ trẻ em phù hợp hơn với điều kiện kinh tế-xã hội
Trang 1616
Kết quả nghiên cứu còn là tài liệu tham khảo hữu ích đối với các học giả, nhà khoa học, nhà nghiên cứu, chuyên gia quan tâm đến bảo vệ trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi
4 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đánh giá hoạt động bảo vệ trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị
bỏ rơi tại trung tâm bảo trợ xã hội
4.2 Khách thể nghiên cứu
- Cán bộ làm công tác bảo vệ trẻ em
- Trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi từ 8-16 tuổi
- Gia đình của các em có hoàn cảnh mồ côi không nơi nương tựa, bị bỏ rơi
5 Phạm vi nghiên cứu
5.1 Phạm vi nội dung nghiên cứu
Hoạt động bảo vệ trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi bao gồm nhiều nội dung khác nhau như bảo vệ quyền trẻ em, bảo đảm các chính sách ưu đãi, hỗ trợ, bảo vệ trước nguy cơ bị bóc lột, bạo lực Trong điều kiện về thời gian cho phép, chúng tôi tìm hiểu và đánh giá hoạt động bảo
vệ trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi tại trung tâm bảo trợ
xã hội trên ba nội dung cơ bản: Bảo đảm điều kiện sống cơ bản, bảo đảm môi trường sống an toàn và công tác giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ
Trang 1717
6 Câu hỏi nghiên cứu
- Nền tảng triết lý bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói chung, trẻ em
mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi tại trung tâm bảo trợ xã hội là gì?
- Các điều kiện sống cơ bản và môi trường sống an toàn dành cho trẻ em
có hoàn cảnh mồ côi không nơi nương tựa, bị bỏ rơi tại trung tâm bảo trợ xã hội có được đảm bảo hay không? Những yếu tố căn bản nào ảnh hưởng đến hoạt động bảo vệ trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi tại trung tâm bảo trợ xã hội?
- Hiệu quả hoạt động bảo vệ trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em
bị bỏ rơi tạitrung tâm bảo trợ xã hội ra sao và vai trò của nhân viên xã hội như thế nào trong các hoạt động đó?
- Cần phải làm gì để nâng cao hiệu quả hoạt động bảo vệ trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi tại trung tâm bảo trợ xã hội?
7 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
7.1 Mục đích
Tìm hiểu và đánh giá thực trạng hoạt động bảo vệ trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi tại trung tâm bảo trợ xã hội, trên cơ sở đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các trung tâm bảo trợ xã hội trẻ em hiện nay
Trang 18- Thu thập thông tin về địa bàn nghiên cứu, các điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa ảnh hưởng đến hoạt động bảo vệ trẻ em tại trung tâm bảo trợ xã hội
- Trưng cầu ý kiến và phỏng vấn sâu, kết hợp với phương pháp thảo luận nhóm tập trung nhằm làm sáng tỏ nền tảng triết lý bảo vệ trẻ em, thực trạng bảo đảm điều kiện sống cơ bản, môi trường sống an toàn và giáo dục các kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ em tại trung tâm bảo trợ xã hội
- Đánh giá hoạt động bảo vệ trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em
bị bỏ rơi tại trung tâm bảo trợ xã hội
- Gợi ý một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ trẻ em
mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi tại trung tâm bảo trợ xã hội
8 Giả thuyết nghiên cứu
- Nền tảng triết lý bảo vệ trẻ em trong trung tâm bảo trợ xã hội coi trẻ em
mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi là trung tâm của các hoạt động bảo vệ, chăm sóc và giáo dục
- Trẻ em được cung cấp đầy đủ thức ăn, nơi ở, dịch vụ chăm sóc sức khỏe và tham gia sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, thể thao trong một môi trường sống an toàn, thân thiện, lành mạnh Nhân lực và tài chính là hai trong số những yếu tố căn bản ảnh hưởng đến hoạt động bảo vệ trẻ em tại trung tâm bảo trợ xã hội
- Trẻ em tại trung tâm bảo trợ xã hội đã được đảm bảo các quyền và chế độ
ưu đãi, hỗ trợ của nhà nước trong đó nhân viên xã hội có vai trò rất quan trọng
Trang 1919
- Tái hòa nhập cộng đồng bền vững là giải pháp tốt nhất nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động bảo vệ trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi tại trung tâm bảo trợ xã hội
9 Phương pháp nghiên cứu
Tiếp cận từ góc độ văn hóa, chúng tôi nhìn nhận những đặc trưng văn hóa, giá trị chuẩn mực của người Việt Nam, của truyền thống gia đình người Việt đã ảnh hưởng đến các em như thế nào Mặt khác, sự thay đổi về môi trường sống với nề nếp cuộc sống mới đã ảnh hưởng ra sao trong sinh hoạt, thói quen, ứng xử của các em tại trung tâm bảo trợ xã hội, vai trò của những giá trị, chuẩn mực đó trong việc hình thành tính cách, đạo đức, quan điểm sống và khả năng hòa nhập cộng đồng sau khi các em rời trung tâm bảo trợ xã hội Liệu có phải những đặc trưng văn hóa tại trung tâm bảo trợ xã hội càng gần gũi với văn hóa cộng đồng bao nhiêu thì các em càng có khả năng hòa nhập cộng đồng tốt bấy nhiêu hay không
9.2 Phương pháp thu thập thông tin
9.3.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Nghiên cứu sử dụng tư liệu từ các công trình sau:
Trang 2020
- Các báo cáo: Báo cáo tóm tắt phân tích tình hình trẻ em tại Việt Nam
2010, báo cáo hoạt động của một số mô hình bảo vệ trẻ em không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi: trung tâm, làng trẻ, mái ấm tình thương, gia đình thay thế…, báo cáo hoạt động chăm sóc, bảo vệ trẻ em ở Hà Nội, báo cáo tình hình hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em của Trung tâm Nuôi dưỡng trẻ em mồ côi Hà Cầu
- Văn bản pháp lý: Công ước Liên hiệp quốc về Quyền trẻ em năm 1990, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em sửa đổi năm 2004, Luật Nuôi con nuôi năm 2010, Luật Phòng chống mua bán người, Nghị định 67/2007/NĐ-
CP và Nghị định 13/2010/NĐ-CP bổ sung Nghị định 67/2007/NĐ/CP
- Chương trình: Chương trình mục tiêu quốc gia bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn 2005-2010, chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2001-2010, chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011 – 2015
- Các công trình nghiên cứu, sách, báo, đánh giá, bài viết về trẻ em, trẻ
em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, mô hình chăm sóc, bảo vệ trẻ em mồ côi của nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu, học giả trong cả nước
9.3.2 Trưng cầu ý kiến
- Đối tượng: Trẻ em có hoàn cảnh mồ côi không nơi nương tựa, bị bỏ rơi có
độ tuổi từ 8 đến dưới 16 tuổi tại Trung tâm Nuôi dưỡng trẻ em mồ côi Hà Cầu
- Dung lượng mẫu: Tất cả trẻ em hiện đang sống tại Trung tâm (29 em)
- Cơ cấu mẫu: + Giới tính: Trẻ em nam (12 em), trẻ em nữ (17 em) + Cấp học: Tiểu học (5 em), THCS (18 em), THPT (6 em) + Thời gian sống: (Đơn vị %)
< 1 năm 1 năm 2 năm 3 năm 4 năm 5 năm 6 năm > 6 năm
Trang 2121
9.3.3 Phỏng vấn sâu
- Đối tượng: Cán bộ quản lý, chăm sóc và trẻ em tại trung tâm bảo trợ, bố/mẹ/người giám hộ các em
- Dung lượng mẫu: 12 mẫu
- Cơ cấu mẫu: Cán bộ quản lý (01), nhân viên chăm sóc (02), bố/mẹ/người giám hộ cho trẻ (03), trẻ em có hoàn cảnh mồ côi không nơi nương tựa, bị bỏ rơi (06)
9.3.4 Thảo luận nhóm
Trong khuôn khổ đề tài, chúng tôi thực hiện 02 thảo luận nhóm đối với trẻ em sống tại trung tâm bảo trợ xã hội:
- Thảo luận 1: Đối tượng là những em có thể tự chăm sóc, bảo vệ có
độ tuổi từ 12 đến dưới 16 tuổi nhằm mục đích thu thập ý kiến về các chế độ
ăn, mặc, ở, đi lại, học tập, chăm sóc sức khỏe, các vấn đề liên quan đến sự an toàn như: nguy cơ gây thương tích, lây nhiễm tệ nạn xã hội, bị xâm hại, các vấn đề về tâm sinh lý, nhu cầu, nguyện vọng, sự tham gia giáo dục kỹ năng tự bảo vệ
- Thảo luận 2: Đối tượng là các em chưa thể tự chăm sóc, bảo vệ có độ tuổi từ 8 cho đến 12 tuổi nhằm mục đích thu thập thông tin trực quan về điều kiện cơ sở vật chất, ước mơ, mong muốn, nhu cầu, thói quen thông qua hoạt động tiếp xúc, tương tác trực tiếp
9.3.5 Phương pháp quan sát
- Quan sát thể trạng và các biểu hiện trong giao tiếp, ứng xử giữa trẻ với trẻ, giữa trẻ với cán bộ, nhân viên và với khách đến Trung tâm để biết các em
có gặp vấn đề về sức khỏe, tâm lý, giao tiếp hay không
- Quan sát các trang thiết bị, dụng cụ, học tập làm việc để biết cách thức
tổ chức, bố trí, sắp xếp của Trung tâm và các em
- Quan sát thái độ, hành vi của cán bộ, nhân viên đối với các em trong các hoạt động hằng ngày
Trang 2222
Phần II NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu
a Lý thuyết hệ thống sinh thái
Hệ thống là một tập hợp các phần tử khác nhau, giữa chúng có mối liên
hệ và tác động qua lại theo một quy luật nhất định tạo thành một chỉnh thể, có khả năng thực hiện những chức năng cụ thể Mỗi hệ thống bất kỳ nào đều có các thành tố: hành vi, cấu trúc, văn hóa và diễn biến của hệ thống
Sinh thái được hiểu là những liên hệ, tác động, ảnh hưởng giữa các thành
tố cùng tồn tại trong một môi trường sống Những mối liên hệ này có tính hai chiều và phụ thuộc vào nhau
Để hiểu một yếu tố nào đó trong môi trường, chúng ta phải tìm hiểu cả
hệ thống môi trường xung quanh họ, vì vậy bất cứ việc can thiệp hoặc giúp đỡ một cá nhân của một tổ chức nào đó đều liên quan và ảnh hưởng đến toàn bộ
hệ thống đó
Lý thuyết hệ thống sinh thái cho rằng, một hệ thống, vừa bao gồm các tiểu hệ thống nhỏ trong nó đồng thời nó cũng là một tiểu hệ thống nằm trong một hệ thống rộng lớn hơn Hệ thống càng phức tạp thì tổng hợp các tiểu hệ thống và các thành tố càng da dạng Giữa các thành tố có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau Sự thay đổi, biến động của mỗi thành tố trong một hệ thống đều ảnh hưởng, tác động đến các thành tố khác và ngược lại Bởi những liên hệ đó mà tập hợp các tiểu hệ thống và thành tố tạo thành một sự toàn vẹn, thống nhất
Trang 23Trên cơ sở lý thuyết hệ thống sinh thái, chúng tôi nhận thấy Trung tâm Nuôi dưỡng trẻ em mồ côi Hà Cầu là một hệ thống trong đó bao gồm các tiểu
hệ thống: nhân sự (cán bộ lãnh đạo, nhân viên chăm sóc, trẻ em), đối tác, chính sách, cơ sở vật chất, tài chính… Mặt khác, Trung tâm cũng là một tiểu
hệ thống nằm trong một hệ thống bảo vệ bảo trẻ em rộng lớn hơn là mạng lưới bảo trợ xã hội Hà Nội Ngoài ra, Trung tâm còn nằm trong hệ thống kinh
tế - xã hội phường Hà Cầu, quận Hà Đông
Dưới cách nhìn nhận Trung tâm là một hệ thống và cũng là một tiểu hệ thống, khi tiến hành những can thiệp cụ thể tại Trung tâm chúng tôi không thực hiện những hoạt động riêng lẻ, rời rạc đối với từng bộ phận mà thực hiện đồng bộ các bộ phận trong Trung tâm Chẳng hạn, việc tiến hành thu thập thông tin, chúng tôi đã thực hiện các nhóm đối tượng khác nhau: nhóm trẻ em
mồ côi không nơi nương tựa, nhóm trẻ em bị bỏ rơi, nhóm cán bộ làm công tác bảo vệ trẻ em tại Trung tâm, nhóm gia đình của các trẻ Do vậy, kết quả thu thập thông tin phản ánh thông tin khách quan về thực trạng bảo vệ trẻ em
mồ côi, không nơi nương tựa tại Trung tâm
Bên cạnh đó, tìm hiểu hoạt động bảo vệ trẻ em trên cơ sở lý thuyết hệ thống sinh thái, chúng tôi phân tích mối quan hệ giữa trẻ với các cá nhân, tổ
Trang 2424
chức, nhóm cộng đồng trong một hệ thống sinh thái, ở đó, các mối quan hệ có
sự tác động qua lại với nhau:
Để hiểu một yếu tố nào đó trong môi trường, ta phải nghiên cứu cả hệ thống môi trường xung quanh họ, vì vậy bất cứ việc can thiệp hoặc giúp đỡ một cá nhân của một tổ chức nào đó đều liên quan và ảnh hưởng đến toàn bộ
hệ thống đó Lý thuyết hệ thống sinh thái có ảnh hưởng rất nhiều đến các phương thức thực hiện trong công tác xã hội như tư vấn, xử lý ca, tư vấn nhóm, tổ chức và phát triển cộng đồng
b Lý thuyết cấu trúc – chức năng
Về mặt thuật ngữ, lý thuyết cấu trúc – chức năng còn có các tên gọi khác
là thuyết chức năng – cấu trúc, thuyết chức năng gắn liền với tên tuổi của các nhà xã hội học như Auguste Comte, Herbert Spencer, Emile Durkheim, Talcott
Chính sách
Tổ chức Dịch
vụ XH
Văn hóa
Tôn giáo
Luật pháp
Cộng
đồng
Thiết chế XH Biểu 1.1 Mô hình hệ thống sinh thái ở trẻ em
Trang 2525
Parsons, Robert Merton Các tác giả của thuyết cấu trúc - chức năng đều nhấn mạnh tính liên kết chặt chẽ của các bộ phận cấu thành nên một chỉnh thể mà mỗi bộ phận đều có chức năng nhất định góp phần đảm bảo sự tồn tại của chỉnh thể đó với tư cách là một cấu trúc tương đối ổn định, bền vững
Theo quan điểm của Talcolt Parsons, người khởi xướng thuyết cấu trúc - chức năng, mỗi hệ thống đều có 4 chức năng được thể hiện theo sơ đồ: Phù hợp (adapation), đạt mục đích (goal attainment), hoà nhập (integration), bảo toàn cấu trúc (latency/ pattern maintenance) Điều đó có nghĩa, mỗi hành động của bất kỳ của một nhóm, một thể chế hay một xã hội nào cũng đều có những nét chung đó là: hoạt động trong một hệ thống với những điều kiện cho phép
Ông còn khẳng định mối quan hệ biện chứng giữa cấu trúc và chức năng, trong đó cấu trúc giữ vai trò quyết định Sự thay đổi về mặt chức năng sẽ làm hoàn thiện cấu trúc của nó
Khác với Parsons luôn coi mọi hệ quả của một thiết chế xã hội là chức năng với nghĩa là những tác dụng tốt, có lợi cho toàn bộ cấu trúc xã hội, nhà
xã hội học Robert Merton chỉ ra những hệ quả làm cản trở, thậm chí gây rối loạn, làm giảm khả năng tồn tại, thích ứng của cấu trúc Ông khái quát đó là hiện tượng loạn chức năng hay phản chức năng Để nhận diện được hiện tượng này cần trả lời câu hỏi: hệ quả của một hiện tượng xã hội đem lại lợi ích hay gây tổn hại đến lợi ích của ai?
Tuy nhiên, trong một cấu trúc mà các bộ phận có mối quan hệ tương tác với nhau thì nhiều khi hệ quả của một hiện tượng có thể mang lại lợi ích cho nhóm người này nhưng lại có hại cho nhóm người khác, tức là phản chức năng
Do đó, nhận định là chức năng hay phản chức năng phụ thuộc vào mục đích,vị trí trong mối quan hệ mà hiện tượng đó diễn ra
Trang 2626
Vận dụng lý thuyết cấu trúc - chức năng trong nghiên cứu, chúng tôi xem xét Trung tâm Nuôi dưỡng trẻ em mồ côi Hà Cầu là một cấu trúc tổng thể, thống nhất trong đó mỗi bộ phận có các chức năng cụ thể Các chứa năng của các thành phần đó không tách rời nhau mà có mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau
Do đó, mỗi một chức năng không được thực hiện sẽ ảnh hưởng đến các chức năng khác trong một bộ phận đồng thời cũng tác động tới các bộ phận khác
Trong cấu trúc tổng thể là Trung tâm, mỗi bộ phận thực hiện các chức năng qua các mối quan hệ: Giám đốc – nhân viên, giám đốc – trẻ em, nhân viên – trẻ em Nếu mỗi bộ phận thực hiện đúng chức năng thì cấu trúc tổng thể hài hòa, phát triển ngược lại nếu không thực hiện đúng chức năng (phản chức năng) thì cấu trúc có nguy cơ lỏng lẻo, bị phá vỡ
Mặt khác, xem xét một cấu trúc rộng lớn hơn đó là hệ thống bảo vệ trẻ
em thì Trung tâm nằm trong mối quan hệ với gia đình, nhà trường, tổ chức xã hội, cộng đồng nơi cư trú, chính sách, chế độ ưu đãi Trong mối quan hệ này, các chức năng của gia đình và Trung tâm có ảnh hưởng rất quan trọng đến sự phát triển toàn diện cả thể chất và tinh thần của trẻ em Giảm thiểu hay mất
Trang 27mẹ”, người lớn tuổi hơn là các “anh, chị” còn người ít tuổi hơn gọi là “em”
Các xưng hô, ứng xử tại trung tâm cũng được thực hiện nề nếp giống như một gia đình thực thụ
xã hội được gọi là những chuẩn mực và giá trị xã hội đó
Trong xã hội, mỗi người không phải chỉ đảm nhận một vai trò mà thường đảm nhận nhiều vai trò khác nhau Các vai trò không được tổ chức và vận dụng logic, hài hòa sẽ dân đến xung đột vai trò, căng thẳng vai trò, biến đổi vai trò Những đòi hỏi quan trọng nhất đối với vai trò không chỉ là thực hiện các vai trò mà còn thể hiện vai trò đó có liên quan đến sự mong đợi, kỳ vọng, chuẩn mực, quy ước của xã hội hay không
Có hai khuynh hướng lý thuyết chính liên quan đến vai trò Khuynh hướng thứ nhất cho rằng quá trình xã hội hóa chính là quá trình xã hội áp đặt
Trang 2828
các khuôn mẫu vai trò cho các thành viên trong đó Khuynh hướng thứ hai giải thích việc học “đóng vai” ngoài đời giống như học theo một thứ kịch bản gợi ý, một thứ kịch bản mở Loại kịch bản này buộc các “diễn viên” phải linh hoạt với hoàn cảnh thực tế hoặc tạo ra những chi tiết thích hợp để biết rằng mình cần phải làm gì, làm thế nào, làm cho ai
Vận dụng lý thuyết vai trò trong nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy mỗi một bộ phận tại Trung tâm bao gồm: cán bộ quản lý trung tâm, cán bộ làm công tác chăm sóc, bảo vệ trẻ em, bản thân trẻ có những vai trò nhất định Mỗi một vai trò thể hiện qua những công việc, nhiệm vụ cụ thể
Đối với cán bộ quản lý, vai trò thể hiện ở việc tổ chức, quản lý các hoạt động của Trung tâm qua công việc như lập kế hoạch, phân công nhiệm vụ, tổ chức thực hiện, giám sát, đánh giá các cán bộ làm công tác chăm sóc, bảo
vệ trẻ em và các em đang sinh sống tại Trung tâm Ngoài ra, cán bộ quản lý còn thực hiện báo cáo tình hình hoạt động của Trung tâm với Phòng lao động,
xã hội Quận Hà Đông và công tác đối ngoại với các tổ chức tài trợ khác Đối với cán bộ làm công tác chăm sóc, bảo vệ trẻ, các vai trò của một nhân viên như vai trò là người “mẹ” quán xuyến, hướng dẫn, đốc thúc các em thực hiện chế nội, nội quy của Trung tâm; là người “thầy” dạy dỗ, uốn nắn những thói quen hàng ngày; là người “bạn” luôn quan tâm, chia sẻ, động viên các em Bên cạnh đó còn có vai trò của một nhân viên Công tác xã hội khi thực hiện các công việc hỗ trợ xác định nhân thân, kết nối tạo việc làm, giám hộ/biện hộ, cho các em khi cần thiết
Đối với các em, các em lớn có vai trò hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ học hành các em nhỏ hoặc những em mới đến Các em nhỏ có vai trò “mách”, bảo ban khi các bạn vi phạm nội quy Ngoài ra, các em còn có vai trò hỗ trợ Trung tâm gia tăng thu nhập qua các công việc trồng rau, đan vỉ nướng, dán dấy, đóng gói tăm bông
Trang 2929
d Lý thuyết nhu cầu
Nhu cầu là cái gì đó được cho là cần thiết, đặc biệt khi nó được cho là thiết yếu cho sự sinh tồn của một con người, một tổ chức hay bất kỳ thứ gì khác [8, 416]
Nhà tâm lý học người Mỹ Abraham Maslow được xem là cha đẻ của lý thuyết nhu cầu Theo ông, hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu của họ Nhu cầu tự nhiên của con người được chia thành các thang bậc khác nhau theo thứ tự từ thấp đến cao về tầm quan trọng Thang nhu cầu của ông chia làm hai cấp: cấp thấp và cấp cao
+ Nhu cầu cấp thấp gồm hai nhu cầu về vật chất (1) và an toàn (2) Nhu cầu về vật chất là nhu cầu tối thiểu nhưng cần thiết nhất đảm bảo cho con người tồn tại bao gồm các hành vi: ăn, uống, mặc, ở, ngủ nghỉ, đi lại… Nhu cầu về an toàn không bị đe dọa về sức khỏe, tính mạng, công việc, gia đình Nhu cầu này thể hiện trong cả thể chất và tinh thần
+ Nhu cầu cấp cao gồm ba nhu cầu về xã hội (3), tôn trọng (4) và phát triển (5) Nhu cầu về xã hội là các nhu cầu về tình yêu thương, được chấp nhận
Trang 3030
và được tham gia vào tổ chức, đoàn thể nào đó trong xã hội Khi thỏa mãn được nhu cầu được chấp nhận là thành viên trong xã hội thì con người có xu hướng được tôn trọng và ghi nhận những giá trị cá nhân như quyền lực, địa vị,
uy tín… Cao nhất trong thang nhu cầu của con người là nhu cầu được phát triển toàn diện
Theo ông, khi con người thỏa mãn các nhu cầu bậc thấp đến một mức độ nhất định sẽ nảy sinh các nhu cầu bậc cao hơn
Vận dụng lý thuyết nhu cầu của A.Maslow trong nghiên cứu chúng tôi tìm hiểu nhu cầu của các em tại Trung tâm Nuôi dưỡng trẻ em mồ côi Hà Cầu theo năm bậc thang về nhu cầu Từ đó xem xét các nhu cầu nào đã được đảm bảo, nhu cầu nào chưa được đảm bảo, đảm bảo ở mức độ nào, có ưu tiên đáp ứng nhu cầu nào trước, nhu cầu nào sau hay theo trình tự các bậc nhu cầu của nhà tâm lý học A.Maslow
Mặt khác, trên cơ sở lý thuyết nhu cầu, chúng tôi còn tìm hiểu xem liệu các nhu cầu của nhân viên chăm sóc, bảo vệ trẻ em tại Trung tâm là gì và họ có được đáp ứng hay không khi làm việc tại Trung tâm Ngoài ra, với tư cách là đại diện pháp lý của Trung tâm, Giám đốc Trung tâm thể hiện những nhu cầu
gì để công tác bảo vệ trẻ em tại Trung tâm ngày một tốt hơn
Tóm lại, lý thuyết hệ thống, lý thuyết cấu trúc – chức năng, lý thuyết vai trò, lý thuyết nhu cầu là nền tảng lý luận cho phép nhóm nghiên cứu phân tích, lý giải mối quan hệ giữa tương hỗ các thành phần, bộ phận của Trung tâm; chức năng của mỗi thành phần, bộ phận ấy tác động, ảnh hưởng lẫn nhau trong sự hài hòa của cấu trúc tổng thể; và mỗi thành phần, bộ phận đều có những vai trò cụ thể khi tham gia vào các mối quan hệ trong cùng hệ thống hoặc với hệ thống khác xung quanh Ngoài ra, việc thể hiện nhu cầu và đáp ứng các nhu cầu của trẻ cũng như của cán bộ, nhân viên trong Trung tâm cũng là một trong những vấn đề cần đặc biệt quan tâm bởi hơn ai hết các em
Trang 31Hiện nay, khái niệm “Trẻ em” không đồng nhất tại nhiều quốc gia trên
thế giới Ở Australia và Anh, trẻ em được quy định là dưới 18 Tại Singapore, trẻ em là người dưới 14 tuổi Trong khi đó ở Hồng Kông, trẻ em là nhóm người dưới 16 tuổi Sở dĩ có sự khác nhau này là do có sự khác biệt về điều kiện lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội Một lập luận khác để giải thích về sự khác biệt đó là khả năng của nền kinh tế của mỗi quốc gia, bởi vì việc quy định về độ tuổi trẻ em bao giờ gắn liền với trách nhiệm đảm bảo các quyền của trẻ em, ngoài ra còn đảm bảo quyền công dân, quyền con người nói chung
ở mỗi quốc gia
Theo quan điểm của một số tổ chức quốc tế trực thuộc Liên hiệp quốc như Quỹ Dân số (UNFPA), Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa (UNESCO) xác định trẻ em là người dưới 15 tuổi Theo Điều 1, Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em của Liên hiệp quốc
công bố năm 1989 xác định “Trong phạm vi công ước này, trẻ em có nghĩa là
dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” [19]
Tại Việt Nam, theo Điều 11, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
thì “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” [25]
Trong phạm vi của đề tài, chúng tôi vận dụng khái niệm Trẻ em theo Điều 11, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục Trên cơ sở đó, nhóm trẻ trong phạm vi nghiên cứu là những em có hoàn cảnh mồ côi không nơi nương tựa,
bị bỏ rơi dưới 16 tuổi tại Trung tâm Nuôi dưỡng trẻ em mồ côi Hà Cầu, quận
Hà Đông
b Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
Trang 3232
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là một vấn đề xã hội, xuất hiện và tồn tại trong những bối cảnh kinh tế - xã hội cụ thể Hoàn cảnh đặc biệt ở đây được hiểu theo nghĩa là nhóm trẻ em này gặp những trở ngại khó vượt qua để thực hiện những quyền cơ bản như quyền được sống cùng cha mẹ, gia đình; quyền được bảo vệ; quyền được học tập, chăm sóc về thể chất, sức khoẻ; quyền được vui chơi giải trí… nếu không có sự giúp đỡ của Nhà nước, cộng đồng xã hội, gia đình và người thân
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 3, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục
trẻ em sửa đổi năm 2004: “Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được hiểu là trẻ em
có hoàn cảnh không bình thường về thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện để thực hiện quyền cơ bản và hoà nhập với gia đình, cộng đồng” [24]
Cũng trong Luật này, Điều 40 quy định: “Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt bao
gồm trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi; trẻ em khuyết tật, tàn tật; trẻ em là nạn nhân của chất độc hoá học; trẻ em nhiễm HIV/AIDS; trẻ em phải làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại; trẻ em phải làm việc xa gia đình; trẻ em lang thang; trẻ em bị xâm hại tình dục; trẻ
em nghiện ma tuý; trẻ em vi phạm pháp luật” [24]
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi vận dụng khái niệm Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt theo quy định tại Khoản 1, Điều 3 và Điều 40 trong Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em sửa đổi năm 2004
c Trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi
Theo Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em, việc xếp trẻ em mồ côi, không nơi nương tựa, bị bỏ rơi vào một nhóm là vì đặc điểm của nhóm trẻ em này là
không có bố mẹ hoặc vì lý do nào đó không được sống cùng bố mẹ: “Trẻ em
tạm thời hoặc hoàn toàn không được sống trong môi trường gia đình hoặc vì
lý do ảnh hưởng đến lợi ích của một cá nhân không được quyền tiếp tục sống trong môi trường gia đình sẽ có quyền được nhận sự trợ giúp và bảo vệ đặc biệt của Nhà nước” [21]
Trang 3333
Theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em sửa đổi năm 2004 thì trẻ
em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi được hiểu là những trẻ em
có hoàn cảnh như sau [28]:
- Mồ côi cả cha lẫn mẹ hoặc bị bỏ rơi, bị mất nguồn nuôi dưỡng và không còn người thân thích ruột thịt (ông, bà nội, ngoại; bố, mẹ nuôi hợp pháp; anh, chị) để nương tựa
- Mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại (mẹ hoặc cha) mất tích theo quy định của Bộ luật Dân sự hoặc không đủ năng lực, khả năng để nuôi dưỡng (như tàn tật nặng, đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại cải tạo), không có nguồn nuôi dưỡng và không có người thân thích để nương tựa Theo Luật Nuôi con nuôi ban hành năm 2010 [29]:
- Trẻ em mồ côi là trẻ em mà cả cha mẹ đẻ đã chết hoặc một trong hai
người đã chết và người kia không xác định được
- Trẻ em bị bỏ rơi là trẻ em không xác định được cha mẹ đẻ
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi xác định, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi là những em dưới 16 tuổi và có hoàn cảnh: Mồ côi cả cha lẫn mẹ, mồ côi cha hoặc mẹ; và/hoặc không đủ nguồn lực nuôi dưỡng (cha, mẹ đẻ; cha, mẹ nuôi hợp pháp; ông, bà nội, ngoại; anh, chị, em ruột không đủ năng lực dân sự, năng lực kinh tế để nuôi dưỡng); và/hoặc không xác định được những người thân thích (gồm có cha, mẹ đẻ; cha, mẹ nuôi hợp pháp; ông, bà nội, ngoại; anh, chị, em ruột)
d Cơ sở bảo trợ xã hội
Theo Điều 1 và Điều 2, Nghị định 68/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 của Chính phủ quy định điều kiện, thủ tục thành lập, tổ chức, hoạt động và giải thể cơ sở bảo trợ xã hội thì cơ sở bảo trợ xã hội là cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng từ 10 đối tượng trở lên Cơ sở bảo trợ xã hội bao gồm cơ sở bảo trợ xã hội công lập và cơ sở bảo trợ xã hội ngoài công lập [5]
Trang 3434
Cơ sở bảo trợ xã hội công lập do cơ quan nhà nước quản lý, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, bảo đảm kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên của cơ sở bảo trợ xã hội
Cơ sở bảo trợ xã hội ngoài công lập do các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên của cơ sở bảo trợ xã hội
Cơ sở bảo trợ xã hội là tên gọi chung cho tất cả các mô hình hoạt động bảo trợ xã hội dưới các hình thức tên gọi khác nhau phụ thuộc vào đối tượng, chức năng và nhiệm vụ của đơn vị đó Có nhiều tên gọi khác nhau về cơ sở bảo trợ xã hội như trung tâm bảo trợ xã hội, làng trẻ em SOS, mái ấm tình thương, nhà nuôi dưỡng Trong nghiên cứu này, Trung tâm Nuôi dưỡng trẻ
em mồ côi Hà Cầu được coi là một loại hình cơ sở bảo trợ xã hội ngoài công lập có đối tượng bảo trợ trọng tâm là trẻ em có hoàn cảnh mồ côi không nơi nương tựa, bị bỏ rơi ở Hà Nội
e Hoạt động bảo vệ trẻ em
Hoạt động bảo vệ trẻ em được hiểu là những hoạt động hướng đến đảm bảo các yếu tố vật chất và tinh thần giúp cho trẻ em được phát triển một cách toàn diện Các yếu tố liên quan đến bảo vệ trẻ em như bảo vệ quyền trẻ em, bảo vệ thể chất, bảo vệ tâm sinh lý, bảo vệ chế độ chính sách dành cho trẻ em, bảo đảm môi trường sống an toàn, lành mạnh…
Hoạt động bảo vệ trẻ em tại trung tâm bảo trợ xã hội có những đặc thù nhất định Thứ nhất, đó là mô hình chăm sóc, nuôi dưỡng tập trung Thứ hai, đối tượng thụ hưởng là những trẻ em có sự tương đồng về điều kiện, hoàn cảnh sống Thứ ba, hầu hết các em đều thiếu thốn không chỉ đời sống vật chất
mà còn cả tình yêu thương từ các thành viên trong gia đình
Trong nghiên cứu, tác giả xem xét hoạt động bảo vệ trẻ em tại trung tâm bảo trợ xã hội dựa trên ba nội dung chính: đảm bảo điều kiện sống cơ bản, đảm bảo môi trường sống an toàn và giáo dục kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ
Trang 3535
- Đảm bảo điều kiện sống cơ bản bao gồm các yếu tố như dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, nơi ở, vui chơi, giải trí… góp phần phát triển về thể chất, trí tuệ, nhận thức và hòa nhập xã hội
- Đảm bảo môi trường sống an toàn bao gồm các hoạt động hướng đến
sự an toàn, thân thiện, lành mạnh tại địa bàn sinh sống Môi trường sống gồm
có môi trường sống tự nhiên và môi trường sống xã hội Trong nghiên cứu này, tác giả chỉ xem xét dưới góc độ môi trường sống xã hội
- Giáo dục kỹ năng tự bảo vệ là những hoạt động định hướng, chỉ bảo, rèn luyện, uốn nắn để hình thành những kỹ năng ứng xử, ứng phó với những tình huống tiềm ẩn rủi ro trong cuộc sống hàng ngày
f Đánh giá hoạt động bảo vệ trẻ em
Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, “đánh giá” có nghĩa
nhận định giá trị Đánh giá gần nghĩa với các từ phê bình, nhận xét, nhận định, bình luận, xem xét [45]
Đánh giá hoạt động bảo vệ trẻ em có thể hiểu là phương pháp nhận định hoạt động bảo vệ trẻ em dựa trên cơ sở những tiêu chí, tiêu chuẩn cụ thể trong lĩnh vực bảo vệ trẻ em
Tiêu chí, tiêu chuẩn về bảo vệ trẻ em được xem là thước đo để nhận định, đánh giá hoạt động bảo vệ trẻ em tại các cơ sở bảo trợ xã hội Tuy nhiên, mỗi một loại hình cơ sở bảo trợ có đối tượng thụ hưởng riêng, mục đích, chức năng, nhiệm vụ cũng khác nhau Do vậy, tiêu chí, tiêu chuẩn cũng không thể áp dụng một cách máy móc cho tất cả các loại hình cơ sở bảo trợ xã hội
Đối với hoạt động bảo vệ trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị
bỏ rơi tại trung tâm bảo trợ xã hội cho đến nay vẫn chưa có bộ tiêu chí, tiêu chuẩn chuyên biệt nào Do vậy, tác giả thực hiện đánh giá hoạt động bảo vệ trẻ
em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi dựa trên nền tảng giá trị của công tác xã hội và những tiêu chuẩn liên quan đến bảo vệ trẻ em đã được Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội quy định
1.1.3 Một số tiêu chuẩn liên quan đến bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
Trang 3636
1.1.3.1 Nhóm tiêu chuẩn liên quan đến điều kiện, môi trường sống
Ngày 25/02/2011, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ban hành Thông
tư số 04/2011/BLĐTBXH-TT quy định tiêu chuẩn chăm sóc tại cơ sở bảo trợ
xã hội Trong đó có một số tiêu chuẩn liên quan đến hoạt động bảo vệ trẻ em tại cơ sở bảo trợ xã hội [2]
a Tiêu chuẩn về y tế, vệ sinh, quần áo và dinh dưỡng
- Về chăm sóc y tế:
Cơ sở bảo trợ xã hội có cán bộ y tế, trang thiết bị, dụng cụ y tế phù hợp,
tủ thuốc bảo đảm chăm sóc sức khoẻ ban đầu, sơ cấp cứu khi cần thiết; điều trị và mở sổ theo dõi; kiểm tra sức khoẻ định kỳ 6 tháng và hàng năm cho từng đối tượng Đối với cơ sở bảo trợ xã hội có nhiệm vụ phục hồi chức năng thì phải có cán bộ và trang thiết bị phục hồi chức năng cho đối tượng
- Về vệ sinh và đồ dùng sinh hoạt
+ Cung cấp đầy đủ nước uống sạch và bảo đảm vệ sinh tắm, giặt hàng ngày cho đối tượng;
+ Cung cấp đồ dùng vệ sinh cá nhân, gồm xà phòng tắm, khăn tắm, khăn mặt, kem đánh răng và bàn chải đánh răng riêng;
+ Cung cấp đồ dùng phục vụ việc ngủ, gồm giường nằm, chiếu, gối, chăn, màn;
+ Có nội quy riêng của cơ sở bảo trợ xã hội quy định dọn dẹp vệ sinh và
vệ sinh cá nhân
- Về quần áo:
Đối tượng được trang bị quần áo đồng phục đi học (đối với trẻ trong độ tuổi đi học), tất và dép được cung cấp ít nhất 6 tháng/01lần và được thay thế trong trường hợp bị hư hỏng, mất và quần áo mặc đủ ấm về mùa đông
- Về dinh dưỡng:
+ Cung cấp ít nhất ba bữa ăn sáng, trưa và tối mỗi ngày;
Trang 37b Tiêu chuẩn về giáo dục và học nghề
Cơ sở bảo trợ xã hội bảo đảm cung cấp cho đối tượng được học văn hoá (đối với người có khả năng học tập); được học nghề (đối với trẻ em từ 13 tuổi trở lên và những người có khả năng lao động và có nhu cầu học nghề), cụ thể:
- Bảo đảm phổ cập giáo dục theo quy định tại khoản 1, Điều 11 Luật Giáo dục năm 2005
- Cung cấp giáo dục chính quy hoặc không chính quy trong các trường công lập, dân lập hoặc các cơ sở bảo trợ xã hội
- Giáo dục đối tượng về đạo đức xã hội, vệ sinh, kiến thức phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS, sức khỏe sinh sản và các chủ đề khác phù hợp với độ tuổi và giới tính
- Hướng dẫn đối tượng các phương pháp tự phòng tránh buôn bán, lạm dụng, bạo hành và bóc lột
- Cung cấp sách vở, tài liệu học tập và bố trí nơi học tập cho đối tượng
- Tư vấn để đối tượng tự lựa chọn học nghề và phù hợp với điều kiện của địa phương
- Đối tượng được hỗ trợ học tiếp lên hoặc học nghề tùy thuộc vào độ tuổi, sự lựa chọn và nhu cầu thị trường
c Tiêu chuẩn về văn hoá, thể thao và giải trí
- Về văn hoá:
+ Môi trường văn hoá có sự quan tâm, chia sẻ và hỗ trợ đối tượng thể hiện tình cảm, suy nghĩ, ý tưởng và sự sáng tạo;
Trang 3838
+ Có cơ hội tham gia vào các hoạt động tôn giáo và xã hội;
+ Học văn hoá truyền thống dân tộc và tôn trọng quyền tự do về tôn giáo, tín ngưỡng trong khuôn khổ pháp luật Việt Nam;
+ Có quyền lựa chọn tôn giáo mà không bị phân biệt đối xử, không bị ép buộc theo một tôn giáo để được chăm sóc trong cơ sở bảo trợ xã hội
- Về thể thao, vui chơi, giải trí:
+ Tham gia vào các hoạt động thể thao, vui chơi, giải trí phù hợp với lứa tuổi và người dân ở cộng đồng; hỗ trợ cho người khuyết tật tham gia một cách
an toàn vào các hoạt động kể trên;
+ Được tạo điều kiện để làm quen, kết bạn với những người sống xung quanh, bạn học ở trường và cộng đồng; gặp gỡ với gia đình hoặc những người thân, bạn bè, trừ một số trường hợp có khả năng đe dọa đến sự an toàn của đối tượng
d Tiêu chuẩn về môi trường, khuôn viên và nhà ở
- Môi trường và khuôn viên của cơ sở bảo trợ xã hội bảo đảm các điều kiện sau:
+ Có ít nhất một khu vườn, cột cờ và không gian phù hợp cho đối tượng tập thể dục, vui chơi và thể thao Nếu có ao, hồ thì cần được rào lại, bảo đảm
an toàn cho đối tượng;
+ Có khu đất để tăng gia, sản xuất phục vụ cuộc sống, sinh hoạt hàng ngày tại cơ sở bảo trợ xã hội;
+ Có nơi đổ rác, chất thải thường xuyên và các biện pháp xử lý rác, chất thải phù hợp;
+ Có hệ thống thoát nước;
+ Có khu chăn nuôi gia súc, gia cầm cách xa khu vực văn phòng và nhà ở;
Trang 3939
+ Có tường rào và đèn chiếu sáng nhằm đảm bảo sự an toàn cho cơ sở bảo trợ xã hội;
+ Cổng cơ sở bảo trợ xã hội có biển ghi tên và địa chỉ rõ ràng;
- Cơ sở vật chất của cơ sở bảo trợ xã hội bảo đảm có:
+ Cửa ra vào, cửa sổ cung cấp đủ ánh sáng và bảo đảm thông thoáng; + Các hệ thống bảo đảm an toàn cho đối tượng, bao gồm việc lắp đặt các
hệ thống điện, gas và thoát nước một cách phù hợp;
+ Có bếp và phòng ăn chung cho đối tượng;
+ Có phòng y tế để thực hiện công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho đối tượng;
+ Có trang thiết bị cần thiết cho người khuyết tật
1.1.3.2 Nhóm tiêu chuẩn liên quan đến nhân viên xã hội
Ngày 24/5/2013, Bộ Lao động, Thương Binh và Xã hội mới ban hành Thông tư số 7/2013/TT-BLĐTBXH quy định tiêu chuẩn nghiệp vụ cộng tác viên công tác xã hội xã, phường, thị trấn Tiêu chuẩn nghiệp vụ cộng tác viên công tác xã hội cấp xã là căn cứ để thực hiện việc sử dụng và quản lý đội ngũ cộng tác viên công tác xã hội làm việc tại cấp xã [3]
e Tiêu chuẩn năng lực
Trang 4040
- Nắm được quy trình, kỹ năng thực hành công tác xã hội ở mức độ cơ bản để trợ giúp đối tượng;
- Hiểu biết về chế độ chính sách trợ giúp đối tượng;
- Nắm vững chức trách, nhiệm vụ của cộng tác viên công tác xã hội;
- Tổ chức phối hợp hiệu quả với các cơ quan, đơn vị liên quan trong quá trình thực hiện nhiệm vụ về công tác xã hội
f Tiêu chuẩn về trình độ
- Có chứng chỉ, chứng nhận đã tham gia các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức hoặc có bằng cấp về nghiệp vụ công tác xã hội, tâm lý, xã hội học, giáo dục đặc biệt và các chuyên ngành xã hội khác phù hợp với nhiệm vụ công tác xã hội
- Từ năm 2015, cộng tác viên công tác xã hội cấp xã đạt chuẩn tối thiểu trình độ trung cấp nghề công tác xã hội hoặc chuyên ngành khác có liên quan đến công tác xã hội
g Tiêu chuẩn về đạo đức
+ Cộng tác viên công tác xã hội cấp xã phải có tư cách đạo đức tốt; thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; chưa có tiền án, tiền sự
Trên đây là những tiêu chuẩn quy định đối với cơ sở bảo trợ xã hội và nhân viên xã hội liên quan đến bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại cộng đồng nói chung và cơ sở bảo trợ xã hội nói riêng Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sẽ vận dụng những tiêu chuẩn phù hợp để đánh giá hoạt động bảo vệ trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi tại Trung tâm Nuôi dưỡng trẻ em mồ côi Hà Cầu – Hà Đông