1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc tính dân tộc trong việc giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên trong gia đình (nghiên cứu trường hợp dân tộc Tày, xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng sơn

76 1,1K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu “Đặc tính dân tộc trong việc giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên trong gia đình nghiên cứu trường hợp dân tộc Tày tại xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn” nhằm tì

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LÊ AN NI

ĐẶC TÍNH DÂN TỘC TRONG VIỆC GIÁO DỤC GIỚI TÍNH

CHO TRẺ VỊ THÀNH NIÊN TRONG GIA ĐÌNH

(Nghiên cứu trường hợp dân tộc Tày,

xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn)

Chuyên ngành : Xã hội học

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : PGS TS Phạm Văn Quyết

Hà Nội, 2009

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CÁC BẢNG 3

DANH MỤC CÁC HÌNH 3

DANH MỤC CÁC HỘP 3

MỞ ĐẦU 4

1 Lý do lựa chọn đề tài 4

2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 6

3 Mục tiêu nghiên cứu 6

4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết 8

NỘI DUNG CHÍNH 10

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 10

1.1 Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng 10

1.2 Hệ thống lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu 10

1.3 Hệ thống khái niệm sử dụng trong đề tài 13

1.4 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 18

1.5 Vài nét về địa bàn nghiên cứu 24

CHƯƠNG 2 ĐẶC TÍNH DÂN TỘC TRONG VIỆC GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO TRẺ VỊ THÀNH NIÊN TRONG CÁC GIA ĐÌNH DÂN TỘC TÀY 26

2.1 Kiến thức của cha mẹ trong lĩnh vực giới tính và tầm quan trọng của giáo dục giới tính đối với trẻ vị thành niên 26

2.1.1 Hiểu biết của cha mẹ về tuổi dậy thì, sự thay đổi tâm sinh lý và các mối quan hệ bạn bè của con 26

2.1.2 Quan niệm của cha mẹ về vấn đề quan hệ tình dục trước hôn nhân và những điều cấm kỵ của dân tộc Tày liên quan tới vấn đề này 38

2.1.3 Nhận thức về tầm quan trọng của giáo dục giới tính đối với trẻ vị thành niên 44

Trang 3

2.2 Nội dung và phương pháp giáo dục giới tính cho con trong độ tuổi vị thành

niên của cha mẹ người Tày 46

2.2.1 Các nội dung về biến đổi tuổi dậy thì cha mẹ người Tày dạy cho con 46

2.2.2 Phương pháp giáo dục giới tính của cha mẹ với con trong tuổi vị thành niên 53

2.2.3 Đánh giá của cha mẹ về kiến thức giới tính của con 61

2.3 Giáo dục giới tính trong gia đình nhìn từ góc độ trẻ vị thành niên 63

2.3.1 Đánh giá về vai trò của gia đình trong việc giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên 63

2.3.2 Mong muốn về các thông tin giới tính được cung cấp 66

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 68

1 Kết luận 68

2 Khuyến nghị 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Hiểu biết của cha mẹ về sự thay đổi cơ thể ở con trai và con gái khi dậy thì 29

Bảng 2.2 Nhận xét của cha mẹ về sự thay đổi tâm lý khi trẻ dậy thì 30

Bảng 2.3 Tương quan giữa sự cần thiết trao đổi với con về biến đổi tuổi dậy thì và có

Bảng 2.4 Tương quan giữa người có quyền quyết định cao nhất trong gia đình và

Bảng 2.5 Tương quan giữa thái độ của cha mẹ người Kinh và người Tày khi con hỏi

Bảng 2.6 Tương quan giữa thái độ trả lời con về vấn đề giới tính và thời điểm chủ

Bảng 2.7 Tương quan giữa hình thức cung cấp thông tin giữa cha và mẹ 60

Bảng 2.8 Tương quan giữa trình độ học vấn của cha mẹ và việc giới thiệu sách, báo,

tạp chí cho con tìm hiểu các kiến thức giới tính 60

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Tương quan giữa hiểu biết của cha và mẹ về số lần cần thay băng vệ sinh 33

Hình 2.2 So sánh giữa tâm trạng của cha mẹ người Tày và người Kinh khi con gái

Hình 2.3 Hành động của cha mẹ khi con gái có thai 41

Hình 2.4 So sánh sự cần thiết trao đổi với con về các vấn đề liên quan tới tuổi dậy thì

giữa cha mẹ người dân tộc Kinh và dân tộc Tày 45

Hình 2.5 Hình thức cung cấp thông tin về giới tính cho trẻ vị thành niên 59

DANH MỤC CÁC HỘP

Hộp 2.1 Lễ cúng sláo lườn của người Tày 42

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Trong vài thập niên gần đây, các công trình nghiên cứu về tâm lý học, giáo dục học cho thấy gia tốc phát triển của trẻ em rất nhanh Điều này biểu hiện thông qua sự trưởng thành và chín muồi nhanh về sinh lý giới tính (tuổi dậy thì phát triển sớm hơn) và sự phát triển của tâm lý giới tính (nhu cầu quan hệ giới tính phát triển, quan hệ với bạn bè khác giới, ứng xử với bạn khác giới…) Ở lứa tuổi dậy thì, các

em bắt đầu nảy sinh sự tò mò khám phá bản thân, những cảm xúc, tâm lý, các trạng thái tình cảm mới mẻ, khác biệt với những gì các em đã từng trải qua trước đây Mặc dù vậy, những kiến thức được trang bị cho các em về vấn đề giới tính, tình bạn, tình yêu còn rất hạn chế và không đầy đủ, chính xác Là một nước Á đông, giáo dục giới tính (GDGT) là một là một đề tài tế nhị nên từ xưa đến nay ít được đề cập tới Nhiều người quan niệm rằng việc dạy dỗ cho trẻ em về vấn đề này chính là

“Vẽ đường cho hươu chạy” Chính vì vậy, trong một thời gian dài trước kia, cả nhà trường, gia đình và xã hội đều hạn chế đề cập tới Hiện nay, quan niệm về vấn đề này đã cởi mở hơn nhưng việc GDGT cũng còn nhiều bất cập Trong nhà trường, những nội dung này thường được lồng ghép trong môn Sinh học và Giáo dục công dân Cả giáo viên và học sinh đều có tâm lý ngại ngùng, xấu hổ khi giảng dạy về sự phát triển của sinh lý nam và nữ Trong gia đình, không phải bậc phụ huynh nào cũng có kiến thức đầy đủ và hiểu được tầm quan trọng trong việc GDGT cho con ở lứa tuổi vị thành niên (VTN) Như vậy, cả gia đình và nhà trường đã không thực hiện được chức năng giáo dục, cung cấp các thông tin hữu ích nhất, giải đáp những thắc mắc cho trẻ trong lứa tuổi từ trẻ em dần trở thành người lớn Trong khi ngoài

xã hội, với sự bùng nổ của các phương tiện truyền thông đại chúng thì trẻ VTN lại

có nhiều nguồn khác nhau để tiếp cận với những loại thông tin này Chính bởi sự lan tràn về thông tin như vậy khiến VTN gặp nhiều khó khăn trong việc thu được với những thông tin mang tính khoa học, thực sự cần thiết với các em

Theo thống kế của Hội Kế hoạch hóa gia đình, cũng bởi thiếu sự hiểu biết trong cách ứng xử trong tình bạn, tình yêu, cùng kiến thức hạn chế về vấn đề sức khoẻ sinh sản, sức khoẻ tình dục mà Việt Nam mỗi năm có 1,2 triệu – 1,6 triệu ca nạo phá thai, trong đó 20% ở lứa tuổi VTN và là một trong ba nước có tỷ lệ phá thai

Trang 6

cao nhất thế giới [41] Tại bệnh viện Từ Dũ thành phố Hồ Chí Minh, năm 2004 có trên 30.000 trường hợp nạo phá thai, trong đó gần 5.000 em gái dưới 19 tuổi [16] Các trường hợp nạo phá thai đều để lại những hậu quả rất lớn cho chính bản thân nạn nhân và gia đình, xã hội

Theo số liệu của cuộc Tổng điều tra dân số năm 1999, cả nước có gần 24 triệu người ở lứa tuổi VTN, thanh niên (10-24 tuổi), chiếm 31,6% tổng dân số 22,2% nam thanh niên chưa lập gia đình đã có quan hệ tình dục (QHTD) trước hôn nhân, trong số đó có 21,5% QHTD với gái mại dâm; có trên 30% số ca nạo phá thai

là phụ nữ trẻ chưa lập gia đình [17] Nhìn vào những số liệu trên đây, thật đáng lo ngại cho tương lai của thế hệ trẻ nước ta Chính vì vậy, việc GDGT cho VTN, thanh niên dù không còn sớm nhưng vẫn có ý nghĩa hết sức quan trọng

Về đồng bào dân tộc ít người, một số nghiên cứu cho thấy tỷ lệ QHTD trước hôn nhân của thanh niên nhóm dân tộc thiểu số đã lập gia đình 15-24 tuổi tương ứng là 39,8% và 26,1% cho nhóm nam giới và nữ giới Đây được coi là hành vi bình thường theo phong tục tập quán của một số dân tộc thiểu số Tỷ lệ này cao hơn

so với nhóm thanh niên tuổi 18-25 chưa lập gia đình (nam: 13,6% và nữ 2,2%) Trong số nữ thanh niên trả lời đã QHTD trước hôn nhân có 26,8% số chưa lập gia đình trả lời đã từng có thai Như vậy cứ 4 người đã QHTD trước hôn nhân thì 1 người đã mang thai [6]

Dân tộc Tày là một cộng đồng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái có số dân khoảng 1.500.000 người, đông nhất trong các dân tộc thiểu số nước ta Ở Lạng Sơn, dân tộc Tày chiếm số lượng đông đảo nhất Là một dân tộc thiểu số lại nằm ở tỉnh phía Bắc Việt Nam, đời sống của người dân ở đây còn gặp nhiều khó khăn và nhận thức cũng còn nhiều hạn chế Chính vì vậy, sự quan tâm của cha mẹ tới GDGT cho con cái trong lứa tuổi VTN còn nhiều hạn chế Bên cạnh đó, yếu tố văn hóa dân tộc

cũng có những ảnh hưởng nhất định tới việc GDGT cho con cái Nghiên cứu “Đặc tính dân tộc trong việc giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên trong gia đình (nghiên cứu trường hợp dân tộc Tày tại xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn)” nhằm tìm hiểu các yếu tố, các đặc trưng của tộc người có ảnh hưởng

như thế nào tới nhận thức của cha mẹ về tầm quan trọng của việc GDGT cho con cái trong lứa tuổi VTN, cũng như những nội dung, phương pháp, cách thức họ dạy

dỗ con về vấn đề này

Trang 7

2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

2.1 Ý nghĩa khoa học

- Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học cho việc xây dựng một chương trình

hỗ trợ, nâng cao kiến thức, kỹ năng cho cha mẹ thuộc nhóm các dân tộc ít người trong việc GDGT cho con ở lứa tuổi VTN

- Kết quả nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ thêm những khái niệm, phương pháp của Xã hội học, góp phần bổ sung các tri thức thực tiễn vào hệ thống tri thức

và phương pháp nghiên cứu môn xã hội học Gia đình, xã hội học Văn hóa

2.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Kết quả nghiên cứu nhằm làm rõ yếu tố, các đặc trưng của tộc người có tác động tới việc GDGT cho con cái của cha mẹ, từ đó góp thêm tiếng nói vào việc tuyên truyền giúp người dân và đặc biệt các bậc phụ huynh thuộc các dân tộc ít người có thêm hiểu biết, nhận thức về tầm quan trọng của việc GDGT cho con cái ở lứa tuổi VTN, cũng như hiểu rõ các nhu cầu, mong muốn của các em khi được học

về vấn đề này

- Kết quả nghiên cứu sẽ được gửi tới các nhà tài trợ cho một dự án phát triển cộng đồng dành cho nhóm dân tộc thiểu số để hỗ trợ về kiến thức, kỹ năng cho phụ huynh, từ đó giúp tăng cường mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái thông qua các hình thức GDGT

3 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm tìm hiểu yếu tố văn hóa dân tộc trong quá trình GDGT cho trẻ VTN trong gia đình, thể hiện qua những khía cạnh:

- Nhận thức của cha mẹ trong các gia đình dân tộc Tày về tầm quan trọng của việc GDGT cũng như kiến thức của họ trong lĩnh vực này

- Đặc tính dân tộc trong các phương pháp và nội dung của cha mẹ để GDGT cho trẻ VTN

- Nhận xét của trẻ VTN về các kiến thức cha mẹ cung cấp cũng như đánh giá

về vai trò của gia đình trong việc GDGT cho chính các em

4 Đối tượng, phạm vi và khách thể nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đặc tính dân tộc trong việc GDGT cho trẻ VTN trong gia đình người dân tộc Tày Tuy nhiên, nội dung GDGT trong nghiên cứu này được giới hạn trong khía

Trang 8

cạnh cha mẹ dạy dỗ cho trẻ VTN về những biến đổi tâm sinh lý trong lứa tuổi dậy thì và cách vệ sinh thân thể, những cách ứng xử trong mối quan hệ bạn cùng giới, khác giới, trong tình bạn, tình yêu

- Các bậc cha mẹ trong các gia đình dân tộc Tày có con trong lứa tuổi 13 - 18

- Trẻ em trong lứa tuổi 13 – 18 có cha, mẹ là người dân tộc Tày

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp thu thập thông tin

5.1.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Phương pháp này được vận dụng trong quá trình tác giả xây dựng đề cương nghiên cứu cũng như trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu

Tài liệu là kết quả nghiên cứu của các đề tài, các dự án đã có, bài viết trên các báo in, tạp chí, các trang báo điện tử và các số liệu thống kê có liên quan tới đề tài nghiên cứu

5.1.2 Phương pháp quan sát

Phương pháp này được sử dụng trong quá trình thu thập số liệu tại địa bàn nghiên cứu Tác giả đã có 3 tuần sống cùng một gia đình người dân tộc Tày và tiếp xúc với nhiều bậc cha mẹ, VTN người Tày trong quá trình PVS và phỏng vấn bằng bảng hỏi tại xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn

Các thông tin thu được từ phương pháp quan sát có ý nghĩa hết sức quan trọng trong nghiên cứu này Đó là những thông tin bổ sung, kiểm chứng cho các thông tin thu được từ các phương pháp khác

5.1.3 Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi

Phương pháp này được áp dụng với cha mẹ là người dân tộc Tày, có con trong độ tuổi 13 – 18 tại 6 thôn của xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, Lạng Sơn Tác giả đã tiến hành phỏng vấn bằng bảng hỏi với 145 vị phụ huynh và xử lý toàn bộ số phiếu thu về Bảng hỏi được xây dựng với 27 câu hỏi chia làm 5 phần bao gồm: kiến thức của cha mẹ về vấn đề giới tính, các nội dung về giới tính cha mẹ dạy dỗ

Trang 9

con cái, thái độ về QHTD, mang thai trước khi cưới, cách thức dạy bảo con cái về vấn đề giới tính và thông tin chung về bản thân, gia đình người được phỏng vấn Do đặc thù là nhóm người ở vùng cao, trình độ học vấn hạn chế, lại là những người dân tộc thiểu số nên các câu hỏi được đưa ra hết sức đơn giản với từ ngữ dễ hiểu, tránh dùng các thuật ngữ chuyên môn, khoa học vẫn thường hay dùng khi đề cập tới vấn

- PVS cũng được sử dụng với 8 cha mẹ có con trong tuổi 13 – 18 để tìm hiểu những phong tục tập quán của người Tày có ảnh hưởng như thế nào tới các vấn đề giới tính cha mẹ dạy dỗ cho con, nhận thức của họ về tầm quan trọng của việc GDGT cho con cũng như phương pháp giáo dục của cha mẹ

Các thông tin thu được từ PVS được xử lý trên phần mềm Nvivo

5.2 Phương pháp chọn mẫu

Toàn bộ cha mẹ trong các gia đình dân tộc Tày có con trong độ tuổi 13 – 18

ở xã Tân Thanh đều được mời tham gia phỏng vấn bằng bảng hỏi Tổng số mẫu được phỏng vấn bằng bảng hỏi là 145 Mẫu được chọn để PVS là có chủ định phù hợp với mục đích nghiên cứu

Theo Tổ chức Y tế thế giới, VTN được định nghĩa là nhóm người trong độ tuổi 10 – 19 Tuy nhiên trong nghiên cứu này, tác giả chọn nhóm VTN trong độ tuổi

13 – 18 cũng như các bậc phụ huynh có con trong độ tuổi này bởi thực tế ở Việt Nam, độ tuổi dậy thì trung bình ở nữ là 14,4 [6, tr.16] và khi tròn 18 tuổi cá nhân đã hoàn toàn trở thành một thực thể độc lập, chịu trách nhiệm trước pháp luật

6 Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết

6.1 Giả thuyết nghiên cứu

- Cha mẹ người dân tộc Tày có giáo dục con về vấn đề giới tính nhưng chỉ dựa trên trải nghiệm của bản thân

Trang 10

- Tâm sự, giải thích, nói chuyện trực tiếp là hình thức chủ yếu cha mẹ giáo dục giới tính cho con trong tuổi VTN

- Gia đình không phải là nguồn chính cung cấp thông tin giới tính cho trẻ vị thành niên

- So với cha mẹ người Kinh ở Nam Định, tỷ lệ cha mẹ người Tày ở Tân Thanh nhận thức được tầm quan trọng của việc GDGT cho trẻ VTN thấp hơn

mẹ trong việc GDGT cho trẻ VTN

Hình thức và nội dung GDGT

Kết quả

Đánh giá về vai trò của gia đình trong việc GDGT từ góc độ trẻ VTN

Mong muốn của trẻ VTN

về vấn đề cung cấp thông tin GDGT

Điều kiện kinh tế - văn hóa – xã hội,

đặc trưng tộc người

Trang 11

NỘI DUNG CHÍNH Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1 Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng

Chủ nghĩa duy vật biện chứng là cơ sở lý luận cơ bản, là nguyên tắc cho mọi khoa học nói chung và khoa học xã hội nói riêng Vận dụng tổng hợp những lý luận này tuân theo các yêu cầu sau:

- Những quy luật vận động phát triển của xã hội phải được xem xét khách quan như nó đang tồn tại;

- Những hiện tượng xã hội phải được xem xét trong mối quan hệ biện chứng với nhau;

- Xem xét các hiện tượng xã hội phải hướng đến cái bản chất, không tới cái ngẫu nhiên, bất bình thường;

- Tuân thủ các nguyên tắc lịch sử cụ thể;

- Xem xét yếu tố con người mang bản chất xã hội, trong tính hiện thực của

nó “con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội”, đồng thời cũng là chủ thể của xã hội; từ đó coi việc ra sức phát huy nhân tố con người, con chiến lược con người là điểm mấu chốt của sự phát triển kinh tế - xã hội Trong đề tài này, các nguyên lý cơ bản nêu trên được vận dụng để tìm hiểu tính dân tộc trong việc GDGT cho trẻ VTN trong gia đình người dân tộc Tày Cụ thể là tác giả tìm hiểu các phong tục, những kiêng kỵ của tộc người có ảnh hưởng như thế nào tới việc GDGT cho trẻ; sự giao lưu văn hóa, kinh tế có tác động tới nội dung, phương pháp giáo dục trẻ ra sao

1.2 Hệ thống lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu

1.2.1 Phương pháp luận dân tộc học

Phương pháp luận dân tộc học cũng là một lĩnh vực xã hội học quan tâm tới vì

nó nghiên cứu toàn bộ tri thức, hành vi ứng xử, những quá trình, nếp sống, lối sống của một nhóm người trong xã hội trên cơ sở giải thích những loại hành động xã hội, những phong tục tập quán truyền thống của xã hội Tác giả nổi tiếng của trường phái phương pháp luận dân tộc học là Harold Garfinkel

- Phương pháp nghiên cứu thiết chế xã hội: Để nghiên cứu thiết chế xã hội, việc nghiên cứu môi trường thiết chế, mối quan hệ của môi trường thiết chế có ý

Trang 12

nghĩa quan trọng để xác định những mô hình hành vi ứng xử, xác định phong tục tập quán của các nhóm xã hội khác nhau Do đó, mỗi thành viên trong cộng đồng có

xu hướng tuân thủ các giá trị của tập thể hay các mô hình mà mọi người xung quanh thừa nhận Theo Harold Garfinkel, để nghiên cứu thiết chế cần sử dụng phương pháp phân tích đàm thoại, qua đó có thể hiểu một cách chi tiết, cụ thể những cơ cấu

cơ bản của tương tác người trong đàm thoại, trên cơ sở đó nghiên cứu được những hành vi hoặc phản xạ vô thức tiềm ẩn

- Phương pháp nghiên cứu hành vi thường ngày: Trong quá trình nghiên cứu hoạt động thường ngày, những cân nhắc, tính toán của các chủ thể hành động chính

là hình thức gián tiếp mô tả, đánh giá những ý tưởng hoặc những tình huống xã hội đặc thù Để nghiên cứu hành vi thường ngày, các phương pháp tường thuật, mô tả, phân tích đàm thoại được sử dụng một cách triệt để Trên cơ sở đề nghị đối tượng bị nghiên cứu tường thuật lại những hành động cụ thể diễn ra trong cuộc sống hàng ngày, nhà nghiên cứu có thể đánh giá mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng hoặc

cả cộng đồng với toàn xã hội Đây là những phản ánh chủ quan về đời sống xã hội khách quan, từ đó giải thích được mô hình hành vi của các nhóm dân cư

- Cũng theo Harold Garfinkel, thói quen xã hội và những hành vi tiềm thức

có ý nghĩa quan trọng giúp xác định mô hình ứng xử, phong tục tập quán của cá nhân và nhóm xã hội Những thói quen và hành vi tiềm thức đó thường được bộc lộ trong các đàm thoại khi chủ thể không có ý thức kiểm soát lời nói hoặc hành vi của mình vì bị lôi cuốn vào mục tiêu của cuộc đàm thoại Chính vì vậy, hành vi tiềm thức và thói quen xã hội là những đối tượng nghiên cứu quan trọng theo lý thuyết phương pháp dân tộc học

Tóm lại, trong nghiên cứu này, phương pháp luận dân tộc học được sử dụng

để nghiên cứu về các đặc trung của tộc người có ảnh hưởng như thế nào tới nhận thức cũng như hình thức, nội dung được cha mẹ lựa chọn trong việc GDGT cho trẻ VTN trong các gia đình người dân tộc Tày một cách khách quan, không áp đặt ý thức chủ quan của tác giả Việc cùng sống, sinh hoạt và tiếp xúc với người Tày trong 3 tuần giúp tác giả tìm hiểu được cuộc sống thực tế của người Tày ở Lạng Sơn

1.2.2 Thuyết Vai trò xã hội

Trang 13

Vai trò là tập hợp các mong đợi, các quyền và những nghĩa vụ được gán cho một địa vị cụ thể Những sự mong đợi này xác định các hành vi của con người được xem như là phù hợp và không phù hợp đối với người chiếm giữ một địa vị Mỗi cá nhân có một loạt vai trò được đem lại từ những hình mẫu xã hội khác nhau mà anh

ta tham dự Trong cả cuộc đời, mỗi cá nhân thực hiện một số những vai trò khác nhau và tổng hợp tất cả các vai trò xã hội của anh ta đã thực hiện từ khi sinh ra cho đến lúc chết tạo thành nhân cách xã hội của chính người đó

Tương ứng với mỗi quan hệ xã hội, cá nhân có một địa vị xã hội, nhưng cá nhân thường có rất nhiều quan hệ xã hội khác nhau, do vậy họ cũng có nhiều địa vị khác nhau Mỗi địa vị đó tương ứng với một vai trò cụ thể Chính vì vậy một cá nhân luôn có nhiều vai trò khác nhau Do đó, Merton đã đưa ra khái niệm hệ vai trò

để chỉ một cấu trúc gồm các vai trò và các quan hệ của chúng mà cá nhân thực hiện khi nắm giữ một địa vị xã hội nhất định

Talcott Parsons đã phân tất cả các loại vai trò đa dạng khác nhau của cá nhân thành năm loại cơ bản:

- Một số vai trò đòi hỏi sự kiềm chế tình cảm khi thực hiện, trong khi một

số vai trò khác lại không cần sự kiềm chế này

- Một số vai trò xã hội dựa trên địa vị đã có sẵn, một số vai trò dựa trên địa

vị đạt được

- Một số vai trò được xác định hẹp còn một số khác lại được xác định rộng

- Một số vai trò đòi hỏi các cá nhân có thái độ ứng xử với mọi người theo các nguyên tắc chung; ngược lại, một số vai trò khác đòi hỏi phải đối xử với người khác theo cách đặc thù vì những quan hệ đặc biệt với họ

- Các vai trò khác nhau có những động cơ khác nhau

Theo năm loại vai trò do Parsons phân định, trong gia đình, vai trò của cha

mẹ dựa trên địa vị đã có sẵn, và khi đó gia đình trở thành một thiết chế giáo dục, đóng vai trò xã hội hóa trẻ em và do đó, cha mẹ đóng vai trò là những nhà sư phạm, giúp con cái hòa nhập, thích nghi với xã hội Trong nghiên cứu này, vai trò xã hội của cha mẹ được xem xét từ khía cạnh giáo dục, xã hội hóa cho con ở tuổi VTN về vấn đề tuổi dậy thì, tình bạn tình yêu

1.2.3 Thuyết Tương tác xã hội

Trang 14

Tương tác là đơn vị cơ bản của sự kiện xã hội mà tại đó con người định hướng hành vi của họ vào nhau mà trong đó, trước tiên, những người tham gia phải thông tin cho nhau về hoàn cảnh tương tác Tương tác chịu ảnh hưởng của chuẩn mực và vai trò xã hội, của hình mẫu hành vi được thừa nhận và cả kỳ vọng của những người tham gia

Tương tác xã hội là khái niệm trung tâm trong tư tưởng xã hội học của Simmel Cơ sở xuất phát điểm của Simmel là tác động qua lại giữa các bộ phận của thực tiễn: “Chúng ta phải chấp nhận như là 1 nguyên tắc hợp thức cho cả thế giới là tất cả đều nằm trong một quan hệ qua lại nào đó” Theo Simmel, xã hội là kết quả của tác động qua lại giữa các cá thể, các nhóm và thành phần xã hội khác cấu tạo nên, trong đó các nhân tố không chỉ là các cá thể mà còn là các nhóm, các thành phần xã hội đông đảo khác

Trong nghiên cứu này, thuyết Tương tác xã hội được sử dụng để lý giải cho cách thức các bậc cha mẹ lựa chọn để trò chuyện, tâm sự, dạy dỗ con cái về vấn đề liên quan tới tuổi dậy thì, các cách ứng xử trong mối quan hệ giữa bạn cùng giới, bạn khác giới, về tình bạn, tình yêu

1.3 Hệ thống khái niệm sử dụng trong đề tài

1.3.1 Đặc tính dân tộc

Đặc tính là tính chất riêng, không giống với tính chất các sự vật khác

Dân tộc là tên gọi chung những cộng đồng người cùng chung một ngôn ngữ, lãnh thổ, đời sống kinh tế và văn hóa, hình thành trong lịch sử từ sau bộ lạc Theo cách hiểu của các nhà dân tộc học, dân tộc thực chất phải được hiểu là tộc người (ethnic) Tộc người là hình thái đặc biệt của một tập đoàn xã hội xuất hiện không phải do ý nguyện của con người mà là trong kết quả của quá trình tự nhiên lịch sử Điểm đặc trưng của các tộc người là có tính bền vững và giống như là những quy tắc, các tộc người tồn tại hàng nghìn năm Mỗi tộc người có sự thống nhất bên trong xác định, cả những nét đặc thù để phân định nó với các tộc người khác [14]

Theo đó, trong nghiên cứu này, đặc tính dân tộc được hiểu là những nét tiêu biểu, đặc trưng về văn hóa, phong tục tập quán, suy nghĩ, lối sống (sinh hoạt, giao tiếp, thói quen ) của nhóm người dân tộc thiểu số, cụ thể là dân tộc Tày

Trong đời sống hàng ngày, người Tày rất coi trọng thứ bậc tôn ty trật tự trong gia đình Việc cha mẹ dạy bảo con cái rất được quan tâm tới tuy nhiên chỉ ở

Trang 15

góc độ giáo dục cách ứng xử, lễ phép thông thường Những vấn đề “tế nhị”, “nhạy cảm” liên quan tới mối quan hệ nam nữ, sự phát triển tâm sinh lý tuổi dậy thì ít được đề cập tới một cách thẳng thắn Mẹ thường nói riêng với con gái, cha ít nói với con trai bởi chính trong suy nghĩ của mình họ cũng cho rằng các em khắc lớn khắc biết

1.3.2 Khái niệm Giới

Khái niệm giới được hiểu là những đặc điểm, tính cách, cách ứng xử, vai trò

và trách nhiệm của con trai và con gái mà xã hội quy định Các đặc điểm này được hình thành từ cuộc sống, chịu ảnh hưởng của gia đình, bạn bè, tôn giáo, văn hóa, nhà trường, báo chí… Các đặc điểm này có thể thay đổi được

1.3.3 Khái niệm Giới tính

Giới tính là khái niệm chỉ tập hợp những đặc điểm, tính chất riêng biệt tạo nên sự khác nhau giữa nam và nữ, những đặc điểm ấy giúp ta phân biệt được dễ dàng nam và nữ Giới tính hình thành từ hai nguồn gốc:

- Nguồn gốc sinh học: nam với nhiễm sắc thể XY, nữ là nhiễm sắc thể XX; nhiễm sắc thể quy định tính trạng nam, nữ là Y, X Cấu tạo cơ thể, nội tiết, tâm sinh

lý bắt nguồn từ đó

- Nguồn gốc xã hội: tình cảm, ý thức được hình thành qua giao tiếp dưới ảnh hưởng của giáo dục, xã hội Mỗi xã hội có sự phân công lao động riêng, có quan niệm về giới tính theo những chuẩn mực đạo đức và văn hóa nhất định

Như vậy, giới tính là chỉ sự phân biệt về mặt sinh học giữa nam và nữ, theo

đó các đặc điểm về giới tính không thể thay đổi được trừ khi phẫu thuật

1.3.4 Khái niệm Giáo dục giới tính

Có nhiều định nghĩa khác nhau về GDGT

1.3.4.1 Định nghĩa của A.G.Khơricôpva và D.B.Kôlêxốp

“GDGT là một quá trình hướng vào việc vạch ra những nét, những phẩm chất, những đặc trưng và khuynh hướng phát triển của nhân cách nhằm xác định thái độ xã hội cần thiết của con người đối với những thuộc giới khác” [29, tr.15]

Định nghĩa này cho thấy phạm vi của GDGT không chỉ bó hẹp ở việc giáo dục mối quan hệ giữa nam và nữ mà bao gồm cả việc giáo dục những mối quan hệ nam nữ trong đời sống cũng như học tập, lao động, nghỉ ngơi, giải trí… Giáo dục

Trang 16

cho con người biết rèn luyện những phẩm chất giới tính nhằm phát huy thế mạnh của giới tính

1.3.4.2 Định nghĩa theo Bách khoa toàn thư y học phổ thông (Pêtrôpxki chủ biên)

“GDGT là hệ thống các biện pháp y khoa và sư phạm nhằm giáo dục cho nhi đồng, thanh niên và thiếu niên có thái độ đúng đắn đối với các vấn đề giới tính” [29, tr.16] Định nghĩa này ngoài góc độ giáo dục còn đứng ở góc độ y học để xem xét nội dung GDGT, giúp thế hệ trẻ biết bảo vệ sức khoẻ của chính mình và những người khác trong quan hệ nam nữ

1.3.4.3 Định nghĩa theo Từ điển bách khoa về giáo dục

“GDGT là giáo dục về chức năng làm một con người có giới tính Điều quan trọng là đề cập vấn đề giới tính một cách công khai và đầy đủ trong lớp học, từ nhà trẻ đến đại học, giúp cho học sinh cảm thấy an toàn và tự do trong việc biểu lộ các cảm xúc liên quan đến đời sống giới tính” Định nghĩa này nêu bật được bản chất của công tác GDGT, đó là sự định hướng cho thế hệ trẻ cách sống đúng đắn của con người có giới tính Việc giúp cho thế hệ trẻ “làm một con người có giới tính” là việc làm hết sức cần thiết trong cuộc sống Nhiều người không nhận thức được việc thiếu “nữ tính” của phụ nữ hoặc “nam tính” của đàn ông là một tai hại Những “tính nam”, “tính nữ” này không thể hình thành một cách tự nhiên mà con người phải trải qua một quá trình được giáo dục, được rèn luyện mới có được Ngay chức năng giới tính mà thiên nhiên đã ban phú cho người đàn ông và người đàn bà đó là chức năng truyền giống ở đàn ông, chức năng sinh đẻ ở đàn bà cũng cần được giải thích làm sáng tỏ cơ sở khoa học của sự hoạt động có quy luật của hành vi tình dục nhằm mang lại “sự an toàn và tự do” cho con người Con người chỉ cảm thấy “tự do” khi

đã nắm vững được cái “tất yếu”, những quy luật phát triển sinh lý, tâm lý của con người

1.3.4.4 Định nghĩa của D.N.Ixaev và V.E.Kagan

Theo D.N.Ixaev và V.E.Kagan, GDGT cần được hiểu theo hai nghĩa Trước hết, theo nghĩa rộng, thuật ngữ GDGT chỉ sự ảnh hưởng của môi trường đến sự phát triển tâm lý tình dục và sự hình thành cá nhân Môi trường bao quanh con người là thực thể nhiều mặt và cơ động, không phải lúc nào cũng hoạch định được hay mong muốn được những ảnh hưởng của nó GDGT là một bộ phận hợp thành của giáo dục học đại cương “Giáo dục phải đảm bảo sự phát triển tự do và vui sướng của mọi thể

Trang 17

hiện tăng trưởng của con người từ bầu vú mẹ đến chiếc giường chung vợ chồng” [29, tr.17]

Theo nghĩa hẹp, GDGT là một quá trình tác động có hệ thống, được hoạch định và thực hiện một cách có ý thức, hướng tới kết quả cuối cùng xác định vào sự phát triển tâm lý và thể chất của em trai và em gái với mục đích tối ưu hóa sự phát triển nhân cách và hoạt động của chúng trong mọi lĩnh vực của đời sống có liên quan tới các mối quan hệ của hai giới

Tóm lại: GDGT là một vấn đề quan trọng trong việc giáo dục sự phát triển toàn

diện của con người GDGT nhằm bồi dưỡng cho thế hệ trẻ những hiểu biết cần thiết

về giới tính, giúp họ có thái độ và kỹ năng giao tiếp, ứng xử lịch sự, văn minh trong quan hệ với người khác giới trong hoạt động và đời sống xã hội GDGT chủ yếu hướng vào thế hệ trẻ trước hôn nhân Ở nhiều nước, GDGT được tiến hành từ lứa tuổi mẫu giáo và đặc biệt được quan tâm ở giai đoạn tuổi dậy thì và thanh niên Trong khuôn khổ luận văn thạc sỹ, các nội dung GDGT cha mẹ người Tày dạy con được nghiên cứu là:

- Giải thích về sự thay đổi của cơ thể khi trẻ bước vào tuổi dậy thì

- Hướng dẫn vệ sinh thân thể khi con có những dấu hiệu dậy thì

- Hướng dẫn cách ứng xử trong cuộc sống hàng ngày với người lớn tuổi, bạn cùng giới, bạn khác giới

1.3.5 Khái niệm Vị thành niên

VTN là giai đoạn đặc biệt của cuộc đời con người Đó là bước quá độ từ tuổi

ấu thơ trở thành người lớn Có nhiều quan điểm khác nhau về tuổi VTN Sự phân chia độ tuổi VTN ở các quốc gia, các chủng tộc và các khu vực khác nhau cũng rất khác nhau Tuy nhiên, có một điểm thống nhất là VTN nghĩa là người chưa trưởng thành và còn do người lớn giám hộ

Theo WHO, VTN có độ tuổi từ 10 đến 19 tuổi Trên cơ sở quan niệm này, người ta thường phân chia VTN thành ba nhóm: VTN sớm: 10 – 14 tuổi, VTN trung: 15 – 17 tuổi và VTN muộn: 18 – 19 tuổi

Ở Việt Nam, pháp luật quy định từ 18 tuổi trở lên thì một con người có đầy

đủ những quyền lợi và nghĩa vụ của một công dân độc lập Từ 18 tuổi họ có quyền kết hôn và sinh con, nghĩa là khi đó họ không còn là VTN nữa Do vậy, VTN ở nước ta thường được xác định trong độ tuổi từ 10 đến trước 18 tuổi

Trang 18

VTN là giai đoạn trải qua quá trình dậy thì ở cuộc đời con người Chính vì thế, ở giai đoạn này từng bước có sự thay đổi toàn diện về tâm sinh lý và tình cảm:

- Sự phát triển của các cơ quan sinh sản, sự xuất hiện của ham muốn tình dục Nếu trước đây nhu cầu tình dục tồn tại ở dạng tiềm năng thì nay nó trở thành một động lực thực sự và được biểu hiện một cách nào đó trong các hành vi của chủ thể

- Sự thay đổi những năng lực tâm lý, đó là sự biểu hiện của cá tính, sự hiện diện rõ nét của các kiểu dạng tâm lý, VTN tự ý thức về bản thân, đề cao cái tôi cá nhân, muốn khẳng định mình, muốn trở thành người lớn

- Xuất hiện những sắc thái tình cảm khác nhau do sự biến đổi của các năng lực tình dục và tâm lý Những trạng thái tình cảm luôn biến đổi thất thường là nét đặc trưng của tuổi VTN Vì thế ở VTN xuất hiện những tình cảm mới lạ, những bất thường trong ứng xử, hành vi và có sự thay đổi rõ nét trong mối quan hệ với gia đình, bạn bè và xã hội

Như vậy, trong giai đoạn không còn là trẻ con cũng chưa trở thành người lớn, đặc trưng cơ bản của VTN là sự tăng trưởng nhanh về thể chất với việc hoàn thiện cơ quan sinh sản và sự phát triển về nhân cách

1.3.6 Khái niệm Gia đình

Gia đình được tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc (UNESCO) định nghĩa: “Gia đình là một nhóm người có quan hệ họ hàng, cùng sống chung và có cùng ngân sách chung” Như vậy, gia đình là một nhóm xã hội đặc biệt gắn bó với nhau bởi huyết thống và tình cảm Gia đình được hình thành trên cơ sở hôn nhân, và quan hệ huyết thống có được từ hôn nhân đó

Gia đình là một thiết chế đặc biệt, có nhiều chức năng khác nhau và đầu tiên phải kể tới là chức năng xã hội hóa Gia đình là môi trường giáo dục đầu tiên giúp

cá nhân thích nghi, làm quen với đời sống xã hội Chính vì vậy, gia đình có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc giáo dục cho các thành viên để hòa nhập với xã hội

1.3.7 Giáo dục giới tính cho vị thành niên trong gia đình

GDGT là một phần của hoạt động giáo dục trong gia đình, chuẩn bị các kiến thức cần thiết cho VTN để các em có tâm lý vững vàng, biết cách ứng phó với những thay đổi bất ngờ về sinh lý cũng như tâm lý ở độ tuổi mới lớn Tuy nhiên hiện nay việc GDGT trong các gia đình Việt Nam nói chung và gia đình người dân

Trang 19

tộc Tày nói riêng vẫn chưa được chú trọng và quan tâm đúng mức Chính vì vậy, việc nghiên cứu tìm hiểu về vấn đề này có ý nghĩa quan trọng để góp phần thúc đẩy việc nâng cao vai trò của gia đình trong việc GDGT cho thế hệ tương lai

1.4 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.4.1 Các công trình nghiên cứu, bài viết về vấn đề giáo dục giới tính

GDGT không phải là một chủ đề mới trong các nghiên cứu, bài viết, đã có rất nhiều nghiên cứu, bài báo, sách viết về đề tài này ở những khía cạnh khác nhau

Trong khuôn khổ nghiên cứu này, tác giả xin đề cập tới một số bài viết, nghiên cứu, luận án tiêu biểu trong lĩnh vực này

Cuốn sách “Giáo dục giới tính” của tác giả Nguyễn Văn Lê, Nguyễn Thị

Đoan, nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội năm 1997 khẳng định tầm quan trọng của việc GDGT, đó là quá trình rèn luyện cho thế hệ trẻ những phẩm chất, tính cách, hành vi và thái độ cần thiết, đúng đắn trong quan hệ với người khác giới, hình thành ở họ những quan hệ đạo đức lành mạnh cũng như tình cảm trong sáng, đẹp đẽ giữa nam và nữ Từ cuốn sách này, người đọc sẽ có ý thức về việc GDGT là một phần quan trọng trong nội dung giáo dục đời sống gia đình Tuy nhiên, cuốn sách này cũng chỉ dừng lại ở việc cung cấp các kiến thức cơ bản về vấn đề GDGT cho trẻ

em trong gia đình

Cuốn sách “Giáo dục giới tính vì sự phát triển của vị thành niên” của Bác sỹ

Đào Xuân Dũng, nhà xuất bản Đại học Quốc gia năm 2002 giới thiệu một cách toàn diện đầy đủ về vấn đề GDGT, từ định nghĩa về GDGT, mục đích, ý nghĩa, nội dung, phương pháp GDGT tới vai trò của gia đình, của cha mẹ trong việc hình thành nhân cách cho con cái Nhưng cuốn sách này cũng chỉ dừng lại ở việc giới thiệu một cách tổng quát các nội dung GDGT cần thiết cho VTN

Cuốn sách “Giáo dục giới tính cho con” của nhóm tác giả Nguyễn Thanh

Bình, Vũ Thị Sơn, Lưu Thu Thủy và Đào Thị Oanh, nhà xuất bản Giáo dục năm

2001 đề cập tới vai trò của gia đình trong GDGT và những vấn đề chung của gia đình với việc GDGT cho con, những nội dung GDGT cụ thể, những điều cần quan tâm trong GDGT qua từng giai đoạn phát triển tâm lý giới tính, cách giải quyết một

số tình huống điển hình có thể xảy ra trong thực tế

Cuốn sách “Tâm lý học giới tính và giáo dục giới tính” của tác giả Bùi Ngọc

Oánh, nhà xuất bản Giáo dục năm 2006 đã nêu lên những vấn đề chung về giới tính

Trang 20

và tâm lý học giới tính, các khái niệm giới và giới tính, sự hình thành và phát triển giới tính, một số vấn đề điển hình của đời sống giới tính, GDGT và những vấn đề thực tiễn Các vấn đề lý luận, thực tiễn trong cuốn sách này được trình bày theo hướng hệ thống hóa lý luận cơ bản của khoa học giới tính, và mối tương quan giữa chúng với các chuyên ngành khoa học có liên quan

Bài viết “Về vấn đề giáo dục giới tính cho trẻ em trong gia đình” của tác giả

Nguyễn Thị Tố Quyên trên Tạp chí Xã hội học số 1, năm 2005 cho thấy 61,6% bố

mẹ thấy cần thiết phải trao đổi với con về vấn đề giới tính, trong đó 56,6% ông bố

và 64,3% bà mẹ cho rằng cần phải giáo dục về vấn đề này (trang 87) Liên quan tới phương pháp GDGT, bài viết cũng đã chỉ ra một thực tế ngoài việc trò chuyện trực tiếp, có tới 20,5% ông bố và 24,2% bà mẹ cho rằng chỉ cần GDGT, tình dục và SKSS cho con bằng việc mua sách báo cho chúng tự học, không cần trao đổi hay nói chuyện trực tiếp về vấn đề này Bài viết này đã chỉ ra được thực trạng hiện nay trong việc GDGT của các gia đình, tuy nhiên chưa lý giải được những nguyên nhân dẫn tới thực trạng đó

Luận án phó tiến sỹ khoa học tâm lý “Những yếu tố tâm lý trong sự chấp

nhận giáo dục giới tính cho thanh niên, học sinh” của tác giả Bùi Ngọc Oánh đã

phát hiện được những yếu tố tâm lý ảnh hưởng tới sự chấp nhận GDGT ở thanh niên học sinh, từ đó đề xuất một số phương hướng, biện pháp nhằm nâng cao sự chấp nhận đó ở thanh niên, học sinh Tuy nhiên, nghiên cứu này mới chỉ tìm hiểu sự chấp nhận GDGT trong nhà trường mà chưa đề cập tới khía cạnh GDGT trong gia đình

Luận án tiến sỹ giáo dục “Một số biện pháp giáo dục giới tính cho sinh viên

Đại học Sư phạm” của nghiên cứu sinh Phan Bích Ngọc nhằm đánh giá thực trạng

sử dụng biện pháp GDGT cho sinh viên đại học sư phạm và đưa ra các biện pháp, nội dung GDGT cho họ Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ tập trung vào nhóm đối tượng đặc thù là sinh viên trong trường Đại học Sư phạm

Tóm lại, các cuốn sách, bài viết nêu trên mới chỉ đưa ra được những nội dung nhằm cung cấp những kiến thức cơ bản cho người đọc cũng như nêu lên tầm quan trọng, vai trò của gia đình, nhà trường trong việc GDGT cho VTN, thanh niên Hai luận án đã tìm hiểu ở những khía cạnh cụ thể hơn trong việc GDGT cho sinh viên, học sinh

Trang 21

Trong phạm vi nghiên cứu “Đặc tính dân tộc trong việc giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên trong gia đình”, tác giả đi sâu vào tìm hiểu vấn đề GDGT

cho trẻ vị thanh niên trong nhóm đồng bào dân tộc thiểu số, cụ thể ở đây là dân tộc Tày ở Lạng Sơn nhằm tìm ra những nét khác biệt trong quá trình GDGT cho trẻ người dân tộc cũng như nhận thức, hiểu biết của chính các bậc phụ huynh về lĩnh vực này và đánh giá của cha mẹ, trẻ VTN về vai trò của gia đình trong việc GDGT

1.4.2 Lược sử quá trình giáo dục giới tính

1.4.2.1 Quá trình giáo dục giới tính trên thế giới

GDGT là một vấn đề được nhiều nước ở Châu Âu tiến hành từ rất sớm Năm

1921 Thụy Điển đã nghiên cứu vấn đề GDGT Ngay từ thời đó Thụy Điển đã coi tình dục là quyền tự do của con người, là quyền bình đẳng nam nữ, là trách nhiệm đạo đức của công dân đối với xã hội Năm 1942, Bộ Giáo dục Thụy Điển quyết định đưa thí điểm giáo dục tình dục vào nhà trường và đến năm 1956 thì dạy phổ cập trong tất cả các trường từ tiểu học đến trung học [29, tr.9]

Sau Thụy Điển, các nước Đông Âu như Đức, Ba Lan, Hunggari, Tiệp Khắc

và các nước Tây Âu, Bắc Âu khác đều coi giáo dục tình dục là một vấn đề lành mạnh, đem lại tự do cho con người vì họ quan niệm rằng cần nói rõ cho mọi người hiểu biết những quy luật hoạt động của tình dục Sau đó, nhiều nước ở châu Mỹ La tinh, vùng Caribê cũng quan tâm đến giáo dục tình dục

Tuy nhiên, những năm 1960 trở về trước vấn đề GDGT chỉ được quan tâm ở từng nước riêng lẻ thuộc khu vực châu Âu, châu Mỹ Đối với các nước châu Á, GDGT là lĩnh vực “cấm kị” xuất phát từ quan niệm phong kiến và tôn giáo, trong khi đó châu Á và châu Phi lại là những vùng dân số tăng nhanh nhất thế giới Trái lại, ở những quốc gia giàu có dân số không tăng, thậm chí có những nước còn giảm sút số dân thuộc lớp trẻ như Ôxtrâylia, Cộng hòa Liên bang Đức, Đan Mạch, Bỉ, Italia… Những nước này tỷ lệ sinh bình quân hàng năm là mức thấp nhất của thời đại Tình trạng sinh ít, dân số già, thiếu sức lao động trẻ đã làm cho một phần sản xuất nông nghiệp giảm Thực trạng đó đòi hỏi Nhà nước phải có những chính sách khuyến khích sinh đẻ nhiều đối với các cặp vợ chồng trẻ Như vậy, ở các nước giàu

và nghèo, dù đứng ở hai cực dân số đối lập nhau song đều có nhu cầu về nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi cá nhân và cuộc sống văn minh của toàn xã hội

Trang 22

Trong những năm 1984, 1986, các Hội nghị UNESCO đã làm sáng tỏ những yêu cầu về giáo dục đời sống gia đình và GDGT trong quá trình giáo dục ở các nước khu vực châu Á – Thái Bình Dương Nội dung và phương pháp GDGT ở các nước có thể có những khía cạnh khác nhau vì mỗi dân tộc đều có những phong tục tập quán, những đình hướng giá trị về tgd, về nam, nữ khác nhau Nhưng tất cả đều thống nhất ý kiến về tầm quan trọng và sự cần thiết phải GDGT cho thế hệ trẻ, giúp

họ làm chủ quá trình sinh sản của mình một cách khoa học, phù hợp với tiến bộ của

xã hội

1.4.2.2 Giáo dục giới tính ở Việt Nam

Nhận thức về giới có từ rất sớm trong văn hóa truyền thống Việt Nam Trong

ca dao, truyền thuyết, dân ca, nghệ thuật, khảo cổ… của các dân tộc đều cho thấy ngay từ thời xa xưa, ông cha ta đã có quan niệm về giới, “Trời – Cha”, “Mẹ - Đất”, Trời – Đất như một cặp Nam – Nữ Trong nền văn hóa Chàm có những tượng thờ bằng đá thể hiện quan niệm rất rõ về đặc điểm giới và giới tính

Nhận thức về giới và GDGT trong văn hóa còn được thể hiện trong các phong tục, đặc biệt là trong các lễ hội cổ truyền của nhiều địa phương Nói chung, người Việt cổ có quan niệm tương đối đầy đủ về các yếu tố của vấn đề tâm sinh lý giới tính, khá cởi mở, phóng khoáng về tình dục, coi đó là hành động tự nhiên, cần thiết để bảo tồn và phát triển nòi giống, có quan hệ đến sự phồn thịnh và hạnh phúc của quốc gia, dân tộc

Sau khi tiếp nhận ảnh hưởng của văn hóa Nho giáo với chữ Lễ được đề cao, dần dần khía cạnh tâm lý xã hội của giới tính được khai thác nhằm phục vụ lợi ích của giai cấp phong kiến, tạo nên sự bất bình đẳng về giới Hàng rào lễ giáo được dựng lên, ngăn chặn một cách giả tạo sự tiếp xúc giữa những người khác giới Những chuyện liên quan đến khía cạnh sinh lý của giới tính và tình dục trở thành điều cấm kỵ đối với giới trẻ Toàn xã hội được hướng dẫn bởi những thuyết giáo đạo đức “Trung, Hiếu, Tiết hạnh” phục vụ cho quân quyền, phụ quyền và nam quyền Chính vì vậy, GDGT với ý nghĩa chân chính của nó đã bị “né tránh”

Ngày nay, Nhà nước Việt Nam đã coi giáo dục dân số là công tác thuộc chiến lược con người Hàng loạt chủ trương được thực hiện nhằm xã hội hóa công tác giáo dục dân số một cách hữu hiệu, trong đó có chủ trương thực hiện khuyến nghị của Hội nghị tư vấn khu vực về giáo dục dân số năm 1986 ở Băngkok, gồm 4

Trang 23

điểm: Giáo dục đời sống gia đình, Giáo dục giới tính, Giáo dục tuổi già và Giáo dục

về đô thị hóa

Trong năm 1985, Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ đã triển khai phong trào giáo dục “Ba triệu bà mẹ nuôi con khỏe, dạy con ngoan”, trong đó có nội dung GDGT cho con ở lứa tuổi dậy thì Đây là lần đầu tiên ở nước ta vấn đề GDGT được tiến hành rộng rãi và gián tiếp thông qua việc cung cấp kiến thức khoa học cho các

bà mẹ có con ở lứa tuổi dậy thì Tuy nhiên, hình thức chủ yếu được sử dụng ở đây

là nói chuyện, diễn giảng và các nhà thuyết giảng hầu hết không phải nhà chuyên môn nên hiệu quả chỉ mang tính chất phong trào

Tới năm 1988, một đề án có quy mô to lớn nghiên cứu về GDGT và dân số

kế hoạch hóa gia đình cho học sinh, đề án VIE/88/P09 đã được tiến hành với sự tài trợ của Quỹ dân số Liên hiệp quốc UNFPA và sự giúp đỡ kỹ thuật của UNESCO

Đề án do Bộ Giáo dục và Đào tạo , Viện khoa học giáo dục Việt Nam thực hiện với

sự chỉ đạo và tham gia trực tiếp của các nhà khoa học trong và ngoài ngành giáo dục Đề án đã xây dựng chương trình, sách giáo khoa và giảng dạy thí điểm thành công ở 19 tỉnh thành trong cả nước

1.4.3 Mục đích, nhiệm vụ và nội dung của giáo dục giới tính

1.4.3.1 Mục đích của giáo dục giới tính

“Mục đích của GDGT là nhằm hình thành ở người học sự hiểu biết đúng đắn

về bản chất các tiêu chuẩn và tâm thế đạo đức trong lĩnh vực quan hệ của hai giới và nhu cầu hành động theo các tiêu chuẩn và tâm thế đó trong tất cả mọi lĩnh vực hoạt động” [19] Điều đó có nghĩa là GDGT nhằm làm cho người học:

- Hiểu được ý nghĩa xã hội trong các mối quan hệ giữa mình với người khác;

- Biết cách tìm được lối giải quyết đúng đắn các vấn đề đạo đức cụ thể, xuất hiện trong lĩnh vực các quan hệ theo tinh thần của đạo đức xã hội;

- Kiên định trước ảnh hưởng của tư tưởng cổ vũ cho tính phóng đãng về tình dục và thái độ hưởng thụ đối với người khác giới, coi thường các giá trị đạo đức

1.4.3.2 Nhiệm vụ của giáo dục giới tính

- Giúp cho thế hệ trẻ có hiểu biết nhất định về giới tính và có kỹ năng xây dựng các quan hệ của mình với người khác trên cơ sở tính đến những đặc điểm giới tính của

họ Hình thành và giáo dục một số phẩm chất đạo đức giới tính (biết yêu thương,

Trang 24

quan tâm đến người thân xung quanh mình, có ý thức trách nhiệm và tôn trọng mọi người, mong muốn đem lại điều tốt lành cho người khác…)

- Giáo dục cho thanh thiếu niên nguyện vọng có một gia đình hạnh phúc, khỏe mạnh, ít con (1 hoặc 2 con) và có thái độ tự giác, có trách nhiệm đối với việc nuôi dưỡng và giáo dục con cái

- Giáo dục thái độ có trách nhiệm đối với sức khoẻ của mình và của người khác Biết đề phòng tác hại của các mối QHTD quá sớm và ý thức không chấp nhận thái

độ vô trách nhiệm, nhẹ dạ trong lĩnh vực quan hệ thầm kín nhất với người khác giới

1.4.3.3 Nội dung của giáo dục giới tính

GDGT có thể chia ra thành ba nội dung:

- Giáo dục tâm lý nhân cách, các đặc điểm tâm lý (hành vi, đạo đức, phép ứng xử của từng người), thái độ đối với vợ, chồng, với con và những người khác trong xã hội

- Giáo dục sinh lý, đời sống sinh sản: đặc điểm và những điều cần biết về vấn đề sinh lý, giới tính về hôn nhân và đời sống vợ chồng cho mỗi lứa tuổi, mỗi giới

- Giáo dục xã hội: nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của từng giới đối với xã hội

và ngược lại

1.4.4 Ý nghĩa của giáo dục giới tính trong sự phát triển nhân cách của trẻ

GDGT là hệ thống các biện pháp y khoa và sư phạm nhằm giáo dục cho mỗi người hay từng giới có thái độ đúng với các vấn đề giới tính GDGT tạo điều kiện cho sự phát triển hài hòa của thế hệ trẻ, cho sự hình thành đầy đủ giá trị chức năng sinh sản, cho việc nâng cao những kiến thức về tình dục học, góp phần củng cố hôn nhân và gia đình Ở tuổi dậy thì, GDGT giúp các em điều khiển có ý thức các vấn

đề tình dục, ở tuổi thanh niên, giúp cho mọi người xây dựng được gia đình hạnh phúc

GDGT góp phần quan trọng trong phát triển nhân cách, giúp cho thế hệ trẻ chuẩn bị tốt hành trang vào đời, giáo dục họ trở thành những con người giàu về trí tuệ, phong phú về tinh thần, lành mạnh trong lối sống, sẵn sàng kế tục sự nghiệp cha anh, mang hết khả năng cống hiến cho đất nước, cho nhân dân vì sự trường tồn

và phát triển của dân tộc Vì vậy, GDGT có ý nghĩa to lớn trong việc thực hiện mục đích giáo dục là giúp cho thế hệ trẻ làm chủ được văn hóa đạo đức trong lĩnh vực

Trang 25

các quan hệ qua lại giữa hai giới, giáo dục họ có được nhu cầu và nguyện vọng tuân theo những chuẩn mực đạo đức của xã hội; giữ gìn và phát huy những tinh hoa trong truyền thống văn hóa của dân tộc, trong quan hệ ứng xử, giới tính Có thể nói, GDGT góp phần quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách toàn diện của trẻ VTN

1.5 Vài nét về địa bàn nghiên cứu

Xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn là một xã miền núi, phía Bắc tiếp giáp Trung Quốc (dài 7,65km), có hai chợ tại mốc 15 và nhiều đường mòn qua biên giới Toàn xã có 6 thôn bản, 2 khu tại cửa khẩu mốc 15 Diện tích tự nhiên là 2.179,98ha, trong đó đất canh tác làm ruộng có 159,7ha

Dân số toàn xã tính tới 1/7/2007 có 444 hộ với 2006 nhân khẩu Số dân cư ở các nơi khác đến tạm trú tại 2 khu chợ cửa khẩu là 888 hộ với 2695 người, chủ yếu kinh doanh buôn bán Với vị trí địa lý, đặc điểm kinh tế như vậy, Tân Thanh được xác định là một địa bàn trọng điểm với các diễn biến phức tạp về kinh tế, an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội

Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, trong những năm gần đây, đời sống của người dân ở Tân Thanh đã có nhiều thay đổi, được cải thiện đáng kể Tuy nhiên, cùng với đó, các tệ nạn xã hội cũng phát triển theo Lợi dụng chính sách mở cửa quan hệ buôn bán Việt Nam – Trung Quốc, các loại tội phạm hoạt động qua biên giới như chuyển tiền giả, vũ khí, ma tuý, buôn bán phụ nữ, trẻ em đã xuất hiện Điều này có tác động không nhỏ tới đời sống của người dân nơi đây

Trước kia, Tân Thanh là địa bàn cư trú của hai dân tộc chính là Tày và Nùng Tuy nhiên, từ khi mở cửa biên giới với các hoạt động giao lưu thương mại, người Kinh tới Tân Thanh sinh sống và làm ăn ngày một nhiều Và một lần nữa sự giao thoa văn hoá giữa các dân tộc lại có điều kiện phát triển Bên cạnh những nét đặc trưng dân tộc vẫn còn lưu giữ được, nhiều yếu tố đã có sự biến đổi để thích nghi trong thời đại mới

Điểm nổi bật của người Tày ở Tân Thanh là việc cấm nam nữ chưa kết hôn ngủ với nhau trong nhà bởi hành động như vậy làm dơ bẩn cửa nhà, khi đó gia đình phải tổ chức lễ cúng sláo lườn để rửa sạch nhà, chuộc lỗi với ông bà tổ tiên Ngày nay, với sự phát triển của các nhà nghỉ, khách sạn cũng như ảnh hưởng bởi phim

Trang 26

ảnh, sách báo, thông tin từ internet, các đôi nam nữ cũng biết cách tìm những địa điểm kín đáo, thuận tiện không phải trong nhà để có QHTD với nhau

Con gái đã lấy chồng không còn được coi là thành viên trong gia đình bố mẹ

đẻ, vì vậy khi hai vợ chồng về bên ngoại cũng phải ngủ riêng Cũng như vậy, 5 tháng sau khi sinh con người phụ nữ mới được phép về nhà bố mẹ đẻ bởi quan niệm gái đẻ là người không sạch sẽ, làm ô uế cửa nhà

Trước kia, việc có thai trước khi cưới là điều hoàn toàn bị cấm kỵ ở Tân Thanh Khi đó người con gái phải khai thật bố đứa trẻ và hai gia đình buộc phải làm

lễ cưới Nhưng ngày nay với sự phát triển của y học và những biến đổi trong lối sống, suy nghĩ, người con gái có thể đi nạo phá thai và trong trường hợp không chịu nổi sự kỳ thị của mọi người xung quanh sẽ sang Trung Quốc sống Có thể thấy rằng đây được coi như lối thoát cho những cô gái trót lầm lỡ ở Tân Thanh bởi điều kiện

dễ dàng sang Trung Quốc

Với những đặc điểm riêng khác biệt của tộc người trong bối cảnh giao lưu, hội nhập mạnh mẽ về văn hoá, lối sống… của nền kinh tế thị trường đã làm nên những thay đổi đáng kể trong văn hoá của người Tày ở Tân Thanh

Trang 27

Chương 2 ĐẶC TÍNH DÂN TỘC TRONG VIỆC GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO TRẺ VỊ THÀNH NIÊN TRONG CÁC GIA ĐÌNH DÂN TỘC TÀY

2.1 Kiến thức của cha mẹ trong lĩnh vực giới tính và tầm quan trọng của giáo dục giới tính đối với trẻ vị thành niên

2.1.1 Hiểu biết của cha mẹ về tuổi dậy thì, sự thay đổi tâm sinh lý và các mối quan

hệ bạn bè của con

Để trở thành những bậc cha mẹ, ai cũng phải trải qua thời kỳ trưởng thành với những thay đổi, biến chuyển về tâm sinh lý Chính vì vậy, bậc phụ huynh nào cũng có những hiểu biết nhất định về vấn đề này, nếu không phải là những kiến thức đọc được trong sách vở, báo chí thì đó cũng là những trải nghiệm thực tế từ chính bản thân mỗi người Tuy nhiên, các kiến thức này sẽ có sự khác nhau theo vùng miền, trình độ học vấn, kinh nghiệm sống của mỗi vị phụ huynh Trong đề tài này, tác giả tập trung vào một nhóm đối tượng khá đặc biệt, đó là những ông bố, bà

mẹ người dân tộc Tày có con trong độ tuổi VTN để tìm hiểu sự khác biệt của một nhóm dân tộc ít người

2.1.1.1 Hiểu biết của cha mẹ về tuổi dậy thì của con

Khi được hỏi về độ tuổi dậy thì của con, có tới 20 trong tổng số 145 phụ huynh (13,8%) hoàn toàn không biết con mình có dấu hiệu dậy thì khi chúng bao nhiêu tuổi Chính những bận rộn, lo toan để kiếm sống hàng ngày khiến bố mẹ không có thời gian quan tâm, chăm sóc và để ý tới sự phát triển của con cái Đây cũng là thực tế đáng lo ngại bởi việc không hiểu biết về giai đoạn trưởng thành của con đồng nghĩa với việc không cung cấp cho chúng các kỹ năng, kiến thức để ứng

xử với những tình huống bất ngờ như hành kinh, mộng tinh, tạo ra tâm lý hoang mang, lo lắng cho VTN

Tuy nhiên, trên thực tế, trẻ VTN ở Tân Thanh bước vào tuổi dậy thì muộn

hơn so với trẻ VTN thành thị nhưng sớm hơn một chút so với trẻ VTN nông thôn

Theo kết quả thu được qua khảo sát, tuổi dậy thì trung bình ở em nữ (xuất hiện hành kinh) là 14,47 và em trai (có hiện tượng mộng tinh/xuất tinh) là 15,6 Nhìn chung, nữ giới thường dậy thì sớm hơn nam Nếu ở lứa tuổi 13, nữ VTN có hiện tượng kinh nguyệt chiếm 38,6% thì ở các em nam tỷ lệ này là 16,2% Vào độ

Trang 28

tuổi 15, 69,3% thiếu nữ đã có kinh nguyệt và 33,3% nam giới xuất hiện mộng tinh/xuất tinh

So sánh tuổi dậy thì trung bình của trẻ VTN người Tày ở Tân Thanh với kết quả điều tra SAVY chúng ta thấy có những nét khác biệt nhất định Nếu tuổi trung bình của lần đầu tiên xuất tinh/mộng tinh của nam VTN thành thị là 15,4 và nam VTN nông thôn là 15,7 thì tuổi của nam VTN người Tày ở đây là 15,6 Đối với nữ thành thị, tuổi trung bình xuất hiện dấu hiệu kinh nguyệt là 14, trong khi ở nông thôn độ tuổi này là 14,6 và ở nữ VTN người Tày là 14,47 [6, tr.37] Thời điểm xuất hiện các dấu hiệu của tuổi dậy thì ở cả nam và nữ đều có liên quan tới chế độ dinh dưỡng Những con số trên cũng đã một phần chứng minh được rõ ràng ở khu vực thành thị với các điều kiện vật chất đầy đủ, khẩu phần ăn đủ chất hơn nên trẻ em dậy thì sớm Ngược lại, ở nông thôn khi điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn, chế

độ ăn uống hạn chế cùng với việc lao động sớm khiến các em có sự phát triển chậm hơn về mặt cơ thể Tân Thanh tuy là một xã miền núi của tỉnh Lạng Sơn nhưng lại

có sự giao lưu về kinh tế, du lịch trong khoảng 15 năm trở lại đây Đặc biệt nơi đây với cửa khẩu Tân Thanh nổi tiếng, là điểm trao đổi, buôn bán sầm uất với nước bạn Trung Quốc nên đời sống kinh tế nhìn chung so với các vùng nông thôn khác ở Việt Nam cũng có sự phát triển hơn Chính vì lẽ đó, trẻ em ở đây cũng được hưởng chế

độ dinh dưỡng tốt hơn nên có dấu hiệu dậy thì sớm hơn

Tuy nhiên, có một đặc điểm cần phải lưu ý khi đề cập tới hiểu biết của cha

mẹ về tuổi dậy thì của trẻ VTN, đó là cũng có một số bậc phụ huynh không chắc

chắn với câu trả lời mình đưa ra, họ thường dựa theo sự “phỏng đoán”: “Con chú

xuất tinh năm 18 nhưng nó không kể với ai đâu, kể nó sợ… chú đoán thế vì hồi xưa bằng tuổi nó mình cũng thế” (PVS bố, 46 tuổi, 3 con trong tuổi VTN) “Con trai cũng để ý chứ, nó lớn 15, 16 tuổi tinh trùng cũng xuất… mỗi buổi sáng nó dậy mình cũng để ý nó, biết nó Không nhìn thấy nhưng đoán mò như thế” (PVS mẹ, 41 tuổi,

3 con trong tuổi VTN), Con trai thì cô không để ý lắm, nhưng năm kia, 18 tuổi thì

cô cũng để ý nửa đêm dậy thay quần thì cô cũng chắc chắn là có (cười) (PVS mẹ,

43 tuổi, 1 con trong tuổi VTN)

Những sự phỏng đoán này thường chỉ xảy ra với con trai bởi hiện tượng xuất tinh/mộng tinh cũng không làm thay đổi, xáo trộn quá nhiều tới cuộc sống, sinh hoạt của các em Tuy nhiên, sự xuất hiện của kinh nguyệt với các em gái là một việc

Trang 29

“bất bình thường” bởi có hiện tượng “chảy máu” Chính bởi sự lo lắng đó, các em đều tìm tới sự giúp đỡ của những người tin cậy như mẹ, chị hoặc bạn bè cùng lứa

Vì vậy người mẹ có thể nắm bắt được chính xác thời điểm dậy thì của con gái

2.1.1.2 Hiểu biết của cha mẹ về những biến đổi tâm sinh lý khi trẻ dậy thì

2.1.1.2.1.Hiểu biết về sự thay đổi cơ thể khi trẻ dậy thì

Dậy thì là giai đoạn đánh dấu một bước phát triển mới trong cuộc đời mỗi con người Đây là giai đoạn từ trẻ em đang dần trở thành người lớn với những biến đổi về tâm sinh lý Một trong những biểu hiện rõ rệt nhất có thể quan sát được, đó là

sự thay đổi về mặt cơ thể của mỗi đứa trẻ

Tuy nhiên, theo kết quả khảo sát, có 19 cha mẹ trong tổng số 145 người (chiếm 13,1%) được hỏi hoàn toàn không để ý tới sự thay đổi về cơ thể của con khi chúng bước vào tuổi dậy thì Lý do họ đưa ra để giải thích cho sự thiếu quan tâm

này hầu hết đều là “đi làm cả ngày, làm gì có thời gian để ý”, “nó khắc lớn khắc

biết thôi”, “không nhớ được nó thay đổi đâu” Như vậy, các bậc phụ huynh này do

phải lo toan, bươn chải kiếm sống nên cũng không thể dành nhiều thời gian chăm

lo, để ý tới con mình được Tìm hiểu mối quan hệ giữa yếu tố kinh tế gia đình và nhận biết về sự thay đổi cơ thể khi trẻ dậy thì, tác giả cũng thu được kết quả tương

tự

Với hệ số Cramer’s V = 0,224, p = 0,026, ta có thể khẳng định được rằng hai yếu tố này có mối quan hệ với nhau 100% các gia đình kinh tế khá giả đều nhận thấy những thay đổi khi con dậy thì, trong khi tỷ lệ này ở các gia đình kinh tế nghèo chỉ là 73,5% Như vậy, gia đình có điều kiện kinh tế tốt hơn cha mẹ sẽ có nhiều thời gian, sự quan tâm, để ý tới con cái hơn

Bên cạnh đó, trong việc chăm lo cho con cái, bao giờ người mẹ cũng có sự quan tâm sâu sát tới con nhiều hơn người cha (Cramer’s V = 0,207, p = 0,013) Nếu chỉ có 78,7% số ông bố được hỏi nhận thấy cơ thể con mình có sự thay đổi khi bước vào tuổi dậy thì 92,9% số bà mẹ nhận ra điều đó Trong gia đình người Tày, mặc dù không có sự phân công công việc cụ thể nhưng việc chăm sóc, giáo dục, dạy dỗ con

cái được mặc định là việc của người mẹ “cái này chỉ mẹ nó thôi, chú không biết,

không để ý đâu, mẹ để ý thôi… chú không có thời gian ở nhà, bận nhiều việc, ngày

đi suốt cả ngày” (Nam, 42 tuổi, 1 con trong tuổi VTN) Chính vì vậy, những sự

thay đổi về cơ thể chỉ có người mẹ mới nhận ra: “Nó còn nhỏ thì chưa thấy kinh

Trang 30

nguyệt, nó lớn lên trưởng thành nó có kinh nguyệt, thế thôi… Con trai cũng để ý chứ, nó lớn 15, 16 tuổi tinh trùng cũng xuất… Mặt nó có nhiều trứng cá, kể cả bây giờ mình kinh nguyệt cũng thế, đến tháng có kinh nguyệt mặt cũng mọc nhiều trứng

cá lắm, đến lúc xong cái kinh nguyệt kia thì trứng cá không thấy đâu.” (Nữ, 41 tuổi,

3 con VTN), “Dấu hiệu là ngực nở này, xong thấy kinh nguyệt này, thế thôi”(Nữ,

41 tuổi, 1 con VTN), “Vẫn để ý con mình chứ, dấu hiệu của dậy thì lúc thì nó còn

bé thì nó vẫn nói tiếng khác, xong bây giờ lớn rồi, đến năm nay thì nó mới đổi giọng, đấy là đứa con trai, còn con gái thì nó không đổi giọng” (Nữ, 38 tuổi, 2 con

VTN)

Mặc dù tỷ lệ cha mẹ có để ý tới sự thay đổi cơ thể của con là 86,9% nhưng không phải tất cả trong số họ đều có hiểu biết đúng về sự phát triển này Rất nhiều người đã trả lời sai hoặc không biết trả lời như thế nào khi được hỏi về vấn đề này

Bảng 2.1 Hiểu biết của cha mẹ về sự thay đổi cơ thể

ở con trai và con gái khi dậy thì

Đơn vị: %

gái

Chỉ con trai

Chỉ con gái

Không biết

1 Cơ quan sinh dục lớn,

3 Mộng tinh, xuất tinh 2,4 88,1 2,4 7,1

4 Bắt đầu có kinh nguyệt 1,6 2,4 89,7 6,3

Một điểm khá đặc biệt khi tác giả tiến hành điều tra là những câu trả lời sai hoặc không biết thường thuộc về nam giới khi hỏi về sự thay đổi của cơ thể nữ giới

và ngược lại Như vậy, những vị phụ huynh này chỉ biết về sự thay đổi cơ thể của

Trang 31

chính giới mình vì họ đã có kinh nghiệm và từng trải qua thời kỳ đó Trình độ học vấn thấp, ít được tiếp cận với sách báo, các phương tiện truyền thông dẫn tới việc cha mẹ không hiểu biết một cách đầy đủ về sự thay đổi cơ thể khi trẻ đến tuổi dậy thì

2.1.1.2.2 Những thay đổi tâm lý khi trẻ dậy thì

Nếu tỷ lệ cha mẹ không nhận thấy sự thay đổi về cơ thể khi con bước vào tuổi dậy thì chiếm 13,1% thì không nhận ra thay đổi trong tâm lý chiếm 28,3% Thay đổi cơ thể là điều dễ nhận ra nhất nhưng một số cha mẹ cũng không nhận thấy thì tỷ lệ không nhận ra được sự thay đổi của con trong tâm lý cao hơn gấp đôi cũng

là điều dễ hiểu Không có thời gian quan sát để nhận thấy những thay đổi trong cơ thể con mình thì sự biến đổi về mặt tâm lý càng khó nhận ra Chỉ khi nào cha mẹ thật sự quan tâm, để ý và với bản năng tinh tế, nhạy cảm của những người làm cha, làm mẹ họ mới có thể nhận ra được

Bảng 2.2 Nhận xét của cha mẹ về sự thay đổi tâm lý khi trẻ dậy thì

Đơn vị: %

biết

1 Tò mò, thích tìm hiểu về mối quan

hệ giữa con trai và con gái

2 Quan tâm hơn tới người khác phái 57,7 41,3 1,0

3 Tính cách thay đổi thất thường, khi

buồn khi vui

4 Muốn làm theo ý thích bản thân 69,2 30,8 0,0

5 Quan tâm tới hình dáng bên ngoài

Trang 32

cũng để ý, quan tâm tới dáng vẻ bên ngoài nhiều hơn (63,5%) Mặc dù rất tò mò, thích tìm hiểu về mối quan hệ giữa con trai và con gái nhưng tỷ lệ các em có sự quan tâm tới người khác chỉ là 57,7% Đây là những trẻ VTN người dân tộc Tày nên các em vẫn còn nhút nhát, không dám tự do bộc lộ sự quan tâm của mình với người khác giới Ngoài ra, các vị phụ huynh còn nhận xét về những biến đổi tâm lý khác của trẻ khi bước vào tuổi dậy thì, đó là “ngoan hơn”, “hiền hòa hơn”, “thích ăn

mặc đẹp” và cũng “đi chơi nhiều hơn” “Trước kia nó còn nhỏ, bây giờ nó lớn đi ra

đường gặp bạn bè thì nó cũng học được các bạn các bè, cô giáo dạy dỗ cũng được khôn ngoan hơn” (Nữ, 41 tuổi, 3 con VTN) “Bây giờ nó làm gì nó cũng, ví dụ con trai cô để ý nó làm gì trong gia đình nó cũng biết hơn, sáng dậy thấy chú trọng đến bản thân hơn, bắt đầu trưởng thành thì nó biết ăn mặc khác hẳn, biết xoay xở mặc quần áo, biết làm đẹp mình, hay soi gương… Con gái về cái ăn mặc lại biết sành điệu hơn….Trước đây nó trẻ con, ăn nói bô bô, nhiều khi nó không để ý gì cả, nhưng đến lúc ấy thì nó nói gì cũng để ý, nhẹ nhàng hơn, hay để ý nhiều cái vấn đề,

ăn nói lễ phép, ngoan ngoãn hơn” (Nữ, 43 tuổi, 1 con VTN)

Bước vào tuổi dậy thì, khi không còn là trẻ con nữa, các em cũng đã có được nhận thức rõ ràng hơn, hiểu được đúng sai phải trái, biết điều tốt, điều hay để có những cách cư xử cho phù hợp Ý thức về bản thân, về cái đẹp cùng với điều kiện thuận lợi ở khu vực cửa khẩu, nơi hàng hóa Trung Quốc chiếm phần lớn và giá cả phải chăng, việc làm đẹp ở tuổi này như một nhu cầu tất yếu của các em

“H: Còn về tâm lý, tính cách của em khi nó lớn thì cô thấy thế nào?

TL: Có thay đổi lời ăn tiếng nói, có đỏng đảnh, rồi ăn chơi

H: Cũng ăn chơi, như thế nào à?

TL: Thì cũng ăn chơi đua đòi theo các bạn

H: Cũng để ý về quần áo, đầu tóc?

TL: Ừ, rồi, quần áo thì không phải nói

H: Có bao giờ cô bảo nó là quần áo này không nên mặc, mẹ thấy cái áo này nó thế này thế kia?

TL: Có chứ

H: Khi ấy thì em ấy nói như thế nào?

TL: Nó bảo con thích mặc, mốt bây giờ nó thế

H: Rồi nó vẫn mặc?

Trang 33

TL: Ừ”

(Nữ, 45 tuổi, 2 con trong tuổi VTN)

Như vậy, không phải tất cả các ông bố, bà mẹ đều nhận thấy sự thay đổi về tâm sinh lý của chính những đứa con thân yêu khi chúng bước vào tuổi dậy thì Đặc biệt, với các ông bố, họ cảm thấy rất khó khăn khi trả lời câu hỏi này vì họ cũng không biết sự thay đổi của con như thế nào Không có một sự phân công trách nhiệm cụ thể, nhưng dường như trong suy nghĩ của người cha, đó là việc của các bà

mẹ Một điểm đáng chú ý nữa là những gia đình có kinh tế khá giả hơn thì có sự để

ý, quan tâm tới những dấu hiệu thay đổi trong cơ thể của con cái mình Khi cha mẹ không quá bị vướng bận bởi cơm áo gạo tiền, họ sẽ có nhiều thời gian dành cho con hơn và do đó có thể nhận ra những sự thay đổi này

Trẻ bước vào tuổi dậy thì ngoài sự phát triển của cơ thể, hình dáng bên ngoài, suy nghĩ, tính cách của các em cũng có nhiều thay đổi Tò mò, thích tìm hiểu

về mối quan hệ nam nữ là sự thay đổi dễ bắt gặp nhất ở lứa tuổi này Bên cạnh đó, việc biết và thích làm đẹp, hay soi gương, chọn những bộ quần áo “đúng mốt” để mặc cũng là một đặc điểm nổi bật ở lứa tuổi này Là một xã cửa khẩu, giao lưu kinh

tế, thương mại với Trung Quốc rất sầm uất, đây cũng là một điều kiện thuận lợi để trẻ VTN ở Tân Thanh có cơ hội đạt được mong muốn này

2.1.1.3 Hiểu biết của cha mẹ về vấn đề vệ sinh thân thể

Ở bất kỳ lứa tuổi nào, việc vệ sinh thân thể là hết sức cần thiết để giữ gìn một

cơ thể khỏe mạnh, sạch sẽ Tuy nhiên, với trẻ ở tuổi dậy thì, vấn đề này lại càng quan trọng bởi những sự thay đổi về cơ thể nếu không được quan tâm để ý, cha mẹ không có kiến thức để dạy bảo các con sẽ dẫn tới những bệnh dù không nguy hiểm nhưng rất ảnh hưởng tới tương lai đứa trẻ sau này

Đa số các vị phụ huynh đều biết “dùng nước sạch” (96,6%) hoặc “xà phòng tắm” (80,0%) để rửa cơ quan sinh dục Tuy nhiên, cũng còn tới hơn 1/3 số cha mẹ phân vân không biết hoặc cho rằng có thể dùng “xà phòng giặt” để rửa Đây là một quan niệm hoàn toàn sai lầm bởi việc dùng xà phòng giặt là loại hóa chất có tính tẩy rửa cao sử dụng cho một bộ phận nhạy cảm như vùng sinh dục sẽ làm tổn thương nghiêm trọng tới vùng này

Là một nhóm dân tộc ít người, sống ở vùng cao, mặc dù cũng có sự giao lưu văn hóa, kinh tế xã hội nhất định với người Kinh và nước bạn Trung Quốc nhưng

Trang 34

trình độ phát triển ở nơi đây còn hạn chế “Dung dịch vệ sinh chuyên dụng” là một mặt hàng còn khá xa lạ với người dân nơi đây Chỉ hơn 1/2 số cha mẹ biết về loại nước vệ sinh phụ khoa này Có 35,2% phụ huynh được hỏi không biết đây là loại nước gì, thậm chí là lần đầu tiên họ nghe tới Với đa số người mẹ, họ thường khuyên con mình “rửa bằng nước sôi để nguội, cho thêm 1 chút muối” là sạch sẽ nhất

Về số lần thay băng trong một ngày mỗi khi hành kinh, câu trả lời thường là

“tùy thuộc mức độ ra máu nhiều hay ít” Tuy nhiên, hiểu biết về số lần tối thiểu cần thay băng vệ sinh trong ngày ở các bậc phụ huynh rất khác nhau Chỉ có 16,7% cha

mẹ cho rằng cần thay ít nhất 4 lần/ngày, 55,6% cha mẹ biết thay ít nhất 3 lần/ngày, 14,6% người trả lời cho rằng chỉ cần ít nhất 2 lần/ngày và 13,2% không biết số lần nên là bao nhiêu Từ rất nhiều nghiên cứu đã cho thấy rằng, băng vệ sinh khi được đưa vào sử dụng là một môi trường ẩm ướt, rất thuận lợi để vi khuẩn có độc tố phát triển, vì vậy cứ mỗi 4 – 6 giờ người sử dụng nên thay băng vệ sinh một lần Theo như khuyến cáo này, chỉ có 16,7% cha mẹ đã có hiểu biết đúng về việc sử dụng băng vệ sinh trong những ngày kinh nguyệt

Với hệ số Cramer’s V = 0,503, mức ý nghĩa p = 0,000 cho thấy mối quan hệ khá chặt giữa giới tính của người trả lời với hiểu biết về số lần ít nhất cần thay băng

vệ sinh trong một ngày

20 33.3 15 31.7

14.3 71.4

14.3 0

Hình 2.1 Tương quan giữa hiểu biết của cha và mẹ

về số lần cần thay băng vệ sinh

Các bà mẹ có hiểu biết hơn hẳn các ông bố trong lĩnh vực này Có tới gần 1/3

số người cha không biết chút gì về khía cạnh này Họ cho rằng đây là vấn đề tế nhị,

Trang 35

họ chưa trải qua bao giờ và cũng không cần quan tâm nhưng thực ra đây chỉ là những kiến thức rất cơ bản mỗi vị phụ huynh cần phải biết

Ngược lại, việc trải nghiệm thực tế trong cả quá trình dậy thì, trưởng thành, lập gia đình, sinh con và cho tới khi con cũng bước vào tuổi dậy thì giúp cho người

mẹ có hiểu biết nhất định về vấn đề này Cho dù hiểu biết đó chưa được chính xác, đầy đủ nhưng không có bà mẹ nào không biết cần phải thay băng vệ sinh mấy lần trong ngày Tuy nhiên, chỉ có 14,3% các bà mẹ có nhận thức đúng khi trả lời cần ít nhất thay 4 lần trong ngày Đây cũng là một hạn chế trong các bà mẹ người Tày Chỉ khoảng hơn chục năm trở lại đây họ mới được làm quen với loại sản phẩm đặc biệt này Trước đây, từ thế hệ này sang thế hệ khác, họ chỉ biết sử dụng các loại vải như xô màn, những loại vải có độ thấm hút cao nên thường phải thay liên tục Dùng băng vệ sinh thể hiện một bước tiến, một sự văn minh, giúp người phụ nữ có cảm giác thoải mái, dễ chịu, tiện lợi trong sinh hoạt vào thời gian đặc biệt này Nhưng chính vì sự thiếu hiểu biết nên họ cũng không biết được rằng dùng quá lâu một chiếc băng có thể gây tác hại ngược lại nếu không sử dụng đúng cách Trình độ học vấn thấp, điều kiện tiếp xúc với thông tin đại chúng, với khoa học kỹ thuật hạn chế nên dẫn tới những hiểu biết thiếu chính xác Đây là một điểm các nhà sản xuất những mặt hàng loại này nên lưu ý Họ có thể nâng cao kiến thức cho người dân các vùng sâu, vùng xa bằng cách in hướng dẫn sử dụng lên vỏ ngoài của mỗi gói băng

vệ sinh

Tìm hiểu về việc vệ sinh thân thể của người Tày trong những ngày kinh nguyệt, tác giả cũng thu được kết quả như sau: 84,1% người được hỏi cho rằng vẫn

có thể tắm giặt như bình thường, thậm chí còn phải giữ gìn cơ thể sạch sẽ hơn “Cô

cứ bảo là mình thấy hàng tháng thì mình cứ tắm sạch, rửa đi, đàng hoàng”, “mỗi lần thay thì rửa cái bộ phận của mình, vệ sinh sạch sẽ, trước tiên thì dùng nước sạch rửa rồi thay bông băng” (Nữ, 41 tuổi, 3 con VTN) Chỉ có 6,2% cho rằng vẫn

“kiêng không được tắm cho tới khi hết kinh hẳn” và 9,7% không biết nên vệ sinh thân thể vào những ngày đó thế nào Về tương quan giữa cha và mẹ với kiến thức vệ sinh thân thể này, kết quả cho thấy có mối quan hệ nhất định giữa 2 biến số (Cramer’s V = 0,291, p = 0,002)

Tương tự với kiến thức về việc sử dụng băng vệ sinh đúng cách, tương quan giới với vệ sinh thân thể trong thời gian có kinh nguyệt cho thấy sự thiếu hiểu biết

Trang 36

của những người làm cha Hơn 1/4 số ông bố hiện đang có con trong tuổi VTN không có kiến thức đúng về vệ sinh thân thể trong thời gian kinh nguyệt Chúng ta

có thể thông cảm với sự hạn chế của nam giới trong lĩnh vực này, nhưng đây là kiến thức cơ bản nhất, đơn giản nhất mà các bậc cha mẹ nên có hiểu biết đúng Không chỉ các ông bố, 8,4% số bà mẹ được hỏi cũng cho rằng kiêng không tắm (6,0%) hoặc phân vân không biết trả lời thế nào (2,4%) Có lẽ rằng họ vẫn còn giữ nguyên hiểu biết cách đây mấy chục năm khi cho rằng việc tắm gội trong thời kỳ hành kinh không tốt cho sức khoẻ

Ngày nay, người dân tộc Tày ở Tân Thanh đã bắt đầu làm quen và sử dụng một số sản phẩm hiện đại, đã có sự giao lưu, hội nhập với người dân thuộc mọi dân tộc, từ khắp nơi về đây làm ăn, sinh sống Tuy nhiên, họ mới chỉ biết sử dụng mà chưa thực sự hiểu được hoàn toàn các ưu, nhược điểm của sản phẩm Phần đông mọi người đã có hiểu biết tốt hơn về việc giữ gìn vệ sinh thân thể nhưng vẫn còn một số ít người chịu ảnh hưởng từ những phong tục truyền thống trước kia Đây cũng là một nét riêng của người Tày ở Tân Thanh trong giai đoạn đang dần hội nhập và thích nghi với sự phát triển chung của xã hội

2.1.1.4 Hiểu biết của cha mẹ về bạn bè con

Bên cạnh bố mẹ, anh chị em, những người thân ruột thịt, mỗi con người đều cần phải tiếp xúc với xã hội, với thế giới bên ngoài môi trường gia đình vốn gắn bó với cá nhân từ nhỏ Đặc biệt, với VTN, những người chưa trưởng thành nhưng cũng không còn là những đứa trẻ, những người bắt đầu biết ý thức về bản thân và mọi người xung quanh thì bạn bè đóng vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống các

em Cùng một lứa tuổi, cùng có những biến chuyển về tâm sinh lý, các em có thể dễ dàng chia sẻ, tâm sự với nhau mà không cảm thấy ngượng ngùng, e dè hoặc sợ bị mắng mỏ như nói với bố mẹ Ở tuổi này, các em luôn có xu hướng muốn khẳng định cái tôi của riêng mình, và khi đó, nhiều trẻ VTN không muốn và không làm theo những lời khuyên răn, dạy dỗ của cha mẹ Với chúng, “làm theo ý thích bản thân” như là sự chứng tỏ mình đã thành người lớn Lúc này, bạn bè có ý nghĩa rất quan trọng, là nhân tố có sự tác động, ảnh hưởng lớn nhất trong việc phát triển nhân cách mỗi em Cha ông ta vẫn thường dạy “gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”, trong hoàn cảnh này, ý nghĩa của lời khuyên răn đó hoàn toàn chính xác Vì vậy, cha mẹ

có hiểu biết về bạn bè, về những người con thường xuyên tiếp xúc, chơi cùng thì

Trang 37

mới có thể uốn nắn, dạy dỗ cũng như định hướng chúng về những điều tốt đẹp trong cuộc sống

Hầu hết các bậc phụ huynh, đặc biệt các bà mẹ khi được hỏi đều cho rằng

mình biết hết bạn bè của con: “Bạn bè toàn mấy đứa trong làng thôi, làm gì mà

không biết… Toàn chơi trong làng này, chả đi chơi đâu, chơi trong làng, đi xuống dưới nhà này lại sang nhà nọ, cứ ngồi chơi thôi, chả làm gì” (Nữ, 41 tuổi, 3 con

VTN) “Bạn bè nó đi học vẫn có, vẫn có bạn bè quan hệ… Bạn bè con thì có đứa nó

chơi thân thì về nhà, nhưng mà trong làng thì ai thì nó vẫn chơi thế, thì nó cũng vẫn hay đi chơi, tiếp xúc” (Nữ, 38 tuổi, 2 con VTN) “Bạn bè của con thì tất nhiên mình phải biết rồi, nó chơi với ai, chơi thân với ai tất nhiên là mình phải biết” (Nữ, 45

tuổi, 1 con VTN) “Cháu thì không phải tự khen, cả làng người ta khen hộ tôi, cháu

thì học được, ngoan, bạn bè thì có nhưng không nhiều, không chơi rộng rãi, không

đi lang thang, chỉ đến nhà chơi thôi, tiếp xúc trong học hành thôi chứ không đi chơi… Cũng không biết hết được, chỉ có mấy đứa học cùng thôi còn bạn trai không

có ai Cũng chơi nhưng chỉ là bạn bè trong lớp thôi chứ nó không chơi thân” (Nữ,

43 tuổi, 2 con VTN) Qua các câu trả lời trên chúng ta có thể thấy rằng các bà mẹ đều rất tự tin và tự hào về việc biết rõ bạn bè của con Và họ cũng hoàn toàn tin tưởng vào các mối quan hệ này Là một xã có vị trí địa lý khá đặc biệt, tách biệt hẳn với các xã khác của huyện Văn Lãng, và có đường biên giới dài gần 10km với Trung Quốc, điều này khiến cho người dân ở Tân Thanh nói chung và người Tày nói riêng có tính cố kết cộng đồng khá chặt chẽ Mọi người trong thôn, trong xã đều biết hết nhau Con người lấy tình làng nghĩa xóm làm trọng, một việc gì được coi là bất thường xảy ra ở nhà nào trong thôn thì nhanh chóng sau đó cả xã đều biết Sinh

ra và lớn lên trong một môi trường như vậy, những đứa trẻ khi chơi với nhau đều có được trọn vẹn niềm tin từ cha mẹ vì họ không chỉ biết về chỉ biết rõ đứa trẻ con mình chơi mà thậm chí còn biết cả bố mẹ, ông bà, cô chú, họ hàng gần xa của chúng Chính sự khác biệt về địa lý với việc giao lưu “nửa đóng nửa mở” như vậy tạo nên sự khác biệt so với các vùng quê khác ở Việt Nam Hơn nữa, Tân Thanh có một trường tiểu học, một trường cấp 2 dành cho con em trong xã, chính vì vậy trẻ VTN trong lứa tuổi cấp 2 thường chỉ có bạn bè trong thôn, xã Và do đó cha mẹ các

em hoàn toàn có thể biết hết được bạn bè con Với các em học cấp 3, chúng phải đi

Trang 38

hơn 10km ra trường huyện ở thị trấn Na Sầm, vì vậy việc chơi với bạn bè trong trường không phải ai cha mẹ cũng biết được nhưng tất cả các em đều có ý thức

Dù trẻ học cấp 2 ở trường trong xã hay học cấp 3 ở trường huyện ngoài thị trấn Na Sầm, các bà mẹ vẫn tự tin khẳng định mình biết và kiểm soát được bạn bè

con theo cách của riêng mình “Thì con đi học xa thì cách tốt nhất là cô gửi con vào

gia đình nào đó mình tin tưởng rồi cuối tuần mình ra đó kiểm tra mà kiểm tra không báo cho nó biết trước mà mình kiểm tra đột xuất Ra đấy thì thấy nó học hay đi chơi, rồi hỏi gia đình nhà chủ là con học hay đi chơi, đấy là một cách mình quan tâm như thế Lúc đi học thì mình đến nhà trường hỏi cô giáo chủ nhiệm xem con học khá hay học tốt thì mình hỏi cả cái thứ nhất về đạo đức, cái thứ hai về học tập, cái thứ ba về hoạt động công tác Đoàn trong nhà trường… Thì những bạn, tất nhiên cuối tuần các bạn nó cũng vào chơi thì qua đó cô tìm hiểu các bạn thì thấy đi chơi với các bạn tốt xấu như thế nào thì mình mới nắm được xem là con cái mình chơi thân với ai, thì cũng phải qua bạn bè của con mình mới biết được chứ qua con thì cũng không thể biết được” (Nữ, 45 tuổi, 1 con VTN) Trên thực tế, niềm tin của

cha mẹ đặt hoàn toàn vào con như vậy không phải không có lý Dù có sự giao thương buôn bán, kinh tế có phát triển nhưng hầu hết người Tày ở đây vẫn làm nông nghiệp, trồng trọt, chăn nuôi là nguồn thu nhập chính của cả gia đình Khác với không khí nhộn nhịp, bon chen, xô bồ ở cửa khẩu, chỉ đi sâu 1, 2 km vào phía trong xã dường như có một cuộc sống khác hẳn, tách biệt hẳn với thế giới bên ngoài Ở đây, người dân vẫn hàng ngày cặm cụi làm nương, lên rẫy, “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” để kiếm kế sinh nhai Trong điều kiện như vậy, những đứa trẻ cũng lớn lên bình yên với nhịp sống yên ả của làng quê Tiếp xúc với các em chúng ta vẫn nhận ra được nét hồn nhiên, vô tư, trong sáng ở lứa tuổi 14, 15 Ở đây, tầm nhận thức, suy nghĩ của các em vẫn còn rất non nớt so với trẻ em cùng trang lứa

ở thành thị Thêm vào đó, tính cách chân chất, thật thà của người dân tộc giúp các

em luôn sống thật với chính mình Các trò vui chơi giải trí không lành mạnh cũng chưa tới được nơi này, vì lẽ đó, không có lý do gì để chúng giấu bố mẹ về những người bạn cùng chơi

Trong việc để ý, quan tâm, chăm sóc con cái, người mẹ vẫn thể hiện được vai trò quan trọng hơn khi họ tự tin khẳng định mình biết hết bạn bè của con Ngược lại, các ông bố rất dè dặt khi đề cập tới vấn đề này Họ chỉ dừng lại ở mức độ “có

Ngày đăng: 31/03/2015, 14:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. TS. Nguyễn Thanh Bình (chủ biên) (2001), GDGT cho con, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: GDGT cho con
Tác giả: TS. Nguyễn Thanh Bình (chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2001
3. Vũ Thị Thanh Bình (2006), Kết quả chương trình giáo dục dân số, sức khỏe sinh sản VTN ở trường trung học phổ thông, Tạp chí nghiên cứu lý luận của Ủy ban Dân số - Gia đình và Trẻ em kỳ 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả chương trình giáo dục dân số, sức khỏe sinh sản VTN ở trường trung học phổ thông
Tác giả: Vũ Thị Thanh Bình
Năm: 2006
4. Bộ Y tế (2006), Báo cáo điều tra ban đầu, Thực trạng cung cấp và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản tại 7 tỉnh tham gia chương trình quốc gia 7 do UNFPA tài trợ, Dự án VIE/01/P10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo điều tra ban đầu, Thực trạng cung cấp và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản tại 7 tỉnh tham gia chương trình quốc gia 7 do UNFPA tài trợ
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2006
5. Bộ Y tế (2001), Chiến lược quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản giai đoạn 2001 – 2010, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản giai đoạn 2001 – 2010
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Quân đội nhân dân
Năm: 2001
7. Phan Hữu Dật (1999), Một số vấn đề về dân tộc học Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về dân tộc học Việt Nam
Tác giả: Phan Hữu Dật
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
8. Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng (1997), Xã hội học đại cương, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học đại cương
Tác giả: Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1997
9. Đào Xuân Dũng (1997), Giáo dục sức khỏe sinh sản cho VTN, Phương pháp, nội dung, mục đích chương trình hợp tác y tế Việt Nam – Thụy Điển, lĩnh vực BMTE/KHHGĐ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục sức khỏe sinh sản cho VTN
Tác giả: Đào Xuân Dũng
Năm: 1997
10. BS. Đào Xuân Dũng (2002), GDGT vì sự phát triển của VTN, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: GDGT vì sự phát triển của VTN
Tác giả: BS. Đào Xuân Dũng
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
11. Vũ Cao Đàm (2000), Phương pháp nghiên cứu xã hội học, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu xã hội học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2000
12. Bế Viết Đẳng (2006), Dân tộc học Việt Nam, định hướng và thành tựu nghiên cứu (1973-1998), Nhà xuất bản Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân tộc học Việt Nam, định hướng và thành tựu nghiên cứu (1973-1998)
Tác giả: Bế Viết Đẳng
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 2006
13. Gunter Endruweit (1999), Các lý thuyết xã hội học hiện đại, Nhà xuất bản Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các lý thuyết xã hội học hiện đại
Tác giả: Gunter Endruweit
Nhà XB: Nhà xuất bản Thế giới
Năm: 1999
14. Lê Sĩ Giáo (chủ biên) (2009), Dân tộc học đại cương, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân tộc học đại cương
Tác giả: Lê Sĩ Giáo (chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2009
17. Phương Hiếu, Hơn 30% ca phá thai là của phụ nữ trẻ chưa chồng, http://vdcnews.socbay.com/hon_30__ca_pha_thai_la_cua_phu_nu_tre__chua_chong-268435456-600584073-0, cập nhật 11h23 ngày 12/9/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hơn 30% ca phá thai là của phụ nữ trẻ chưa chồng
Tác giả: Phương Hiếu
Năm: 2009
18. Trịnh Quân Huấn (2007), Tỷ lệ nhiễm HIV, giang mai và các hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam, Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài cấp Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỷ lệ nhiễm HIV, giang mai và các hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam
Tác giả: Trịnh Quân Huấn
Năm: 2007
19. Phan Thị Huệ (1992), Thuật tâm lý, Nhà xuất bản tổng hợp Tiền Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuật tâm lý
Tác giả: Phan Thị Huệ
Nhà XB: Nhà xuất bản tổng hợp Tiền Giang
Năm: 1992
20. Lê Ngọc Hùng (2003), Lịch sử và lý thuyết xã hội học, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử và lý thuyết xã hội học
Tác giả: Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
21. Nguyễn Mỹ Hương (2001), Những yếu tố ảnh hưởng đến mang thai VTN, Tạp chí Dân số và phát triển, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những yếu tố ảnh hưởng đến mang thai VTN
Tác giả: Nguyễn Mỹ Hương
Năm: 2001
22. Nguyễn Thị Thanh Hương (2006), Những điều cần biết khi con bước vào tuổi VTN, Ủy ban Dân số, gia đình và trẻ em Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điều cần biết khi con bước vào tuổi VTN
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hương
Năm: 2006
23. Nguyễn Linh Khiếu (chủ biên) (2003), Gia đình trong giáo dục sức khỏe sinh sản VTN, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình trong giáo dục sức khỏe sinh sản VTN
Tác giả: Nguyễn Linh Khiếu (chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 2003
16. Lê Thanh Hà, Trẻ nạo phá thai: tương lai dằn vặt http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=92481&ChannelID=194 cập nhật 22h ngày 7/10/2007 Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức và  nội dung  GDGT - Đặc tính dân tộc trong việc giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên trong gia đình (nghiên cứu trường hợp dân tộc Tày, xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng sơn
Hình th ức và nội dung GDGT (Trang 10)
Bảng 2.1. Hiểu biết của cha mẹ về sự thay đổi cơ thể - Đặc tính dân tộc trong việc giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên trong gia đình (nghiên cứu trường hợp dân tộc Tày, xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng sơn
Bảng 2.1. Hiểu biết của cha mẹ về sự thay đổi cơ thể (Trang 30)
Bảng 2.2. Nhận xét của cha mẹ về sự thay đổi tâm lý khi trẻ dậy thì - Đặc tính dân tộc trong việc giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên trong gia đình (nghiên cứu trường hợp dân tộc Tày, xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng sơn
Bảng 2.2. Nhận xét của cha mẹ về sự thay đổi tâm lý khi trẻ dậy thì (Trang 31)
Hình 2.1. Tương quan giữa hiểu biết của cha và mẹ - Đặc tính dân tộc trong việc giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên trong gia đình (nghiên cứu trường hợp dân tộc Tày, xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng sơn
Hình 2.1. Tương quan giữa hiểu biết của cha và mẹ (Trang 34)
Hình 2.2. So sánh giữa tâm trạng của cha mẹ người Tày và người Kinh - Đặc tính dân tộc trong việc giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên trong gia đình (nghiên cứu trường hợp dân tộc Tày, xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng sơn
Hình 2.2. So sánh giữa tâm trạng của cha mẹ người Tày và người Kinh (Trang 41)
Hình 2.3. Hành động của cha mẹ khi con gái có thai - Đặc tính dân tộc trong việc giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên trong gia đình (nghiên cứu trường hợp dân tộc Tày, xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng sơn
Hình 2.3. Hành động của cha mẹ khi con gái có thai (Trang 42)
Hình 2.4. So sánh sự cần thiết trao đổi với con về các vấn đề liên quan tới tuổi - Đặc tính dân tộc trong việc giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên trong gia đình (nghiên cứu trường hợp dân tộc Tày, xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng sơn
Hình 2.4. So sánh sự cần thiết trao đổi với con về các vấn đề liên quan tới tuổi (Trang 46)
Bảng 2.3. Tương quan giữa sự cần thiết trao đổi với con về biến đổi tuổi dậy thì - Đặc tính dân tộc trong việc giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên trong gia đình (nghiên cứu trường hợp dân tộc Tày, xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng sơn
Bảng 2.3. Tương quan giữa sự cần thiết trao đổi với con về biến đổi tuổi dậy thì (Trang 46)
Bảng 2.4. Tương quan giữa người có quyền quyết định cao nhất trong gia đình - Đặc tính dân tộc trong việc giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên trong gia đình (nghiên cứu trường hợp dân tộc Tày, xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng sơn
Bảng 2.4. Tương quan giữa người có quyền quyết định cao nhất trong gia đình (Trang 55)
Bảng 2.5. Tương quan giữa thái độ của cha mẹ người Kinh và người Tày - Đặc tính dân tộc trong việc giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên trong gia đình (nghiên cứu trường hợp dân tộc Tày, xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng sơn
Bảng 2.5. Tương quan giữa thái độ của cha mẹ người Kinh và người Tày (Trang 57)
Bảng 2.6. Tương quan giữa thái độ trả lời con về vấn đề giới tính và thời điểm - Đặc tính dân tộc trong việc giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên trong gia đình (nghiên cứu trường hợp dân tộc Tày, xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng sơn
Bảng 2.6. Tương quan giữa thái độ trả lời con về vấn đề giới tính và thời điểm (Trang 59)
2.2.2.4. Hình thức cung cấp các thông tin về giới tính cho trẻ vị thành niên - Đặc tính dân tộc trong việc giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên trong gia đình (nghiên cứu trường hợp dân tộc Tày, xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng sơn
2.2.2.4. Hình thức cung cấp các thông tin về giới tính cho trẻ vị thành niên (Trang 60)
Bảng 2.7. Tương quan giữa hình thức cung cấp thông tin giữa cha và mẹ - Đặc tính dân tộc trong việc giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên trong gia đình (nghiên cứu trường hợp dân tộc Tày, xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng sơn
Bảng 2.7. Tương quan giữa hình thức cung cấp thông tin giữa cha và mẹ (Trang 61)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w