Ngoài ra, chất lượng hoạt động giảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập cũng được xem là một vấn đề quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cũng như hình ảnh của cá
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SỸ XÃ HỘI HỌC
HÀ NỘI _2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SỸ XÃ HỘI HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Thu Hà
HÀ NỘI - 2013
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 3
2.1 Ý nghĩa lý luận 3
2.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
3 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 4
4 Đối tượng nghiên cứu 10
5 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 10
5.1 Mục đích nghiên cứu 10
5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 10
6 Khách thể, phạm vi nghiên cứu 11
6.1 Khách thể nghiên cứu 11
6.2 Phạm vi nghiên cứu 11
7 Câu hỏi nghiên cứu 11
8 Giả thuyết nghiên cứu 12
9 Phương pháp luận và phương pháp thu thập thông tin 12
9.1 Phương pháp luận 12
9.2 Phương pháp thu thập thông tin 14
9.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu: 14
9.2.2 Phương pháp quan sát 15
9.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu 16
10 Khung phân tích 17
NỘI DUNG CHÍNH 18
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 18
1.1 Khái niệm công cụ 18
Trang 41.2 Các lý thuyết áp dụng 25
Trang 51.3 Một số vấn đề chung về sự phát triển của mô hình đào tạo đại học, cao đẳng ngoài công lập trên thế giới và Việt Nam 28 1.3.1 Một số đặc điểm chung về tình hình phát triển giáo dục đại học ngoài công lập trên thế giới 28 1.3.2 Tình hình phát triển giáo dục đại học ngoài công lập tại Việt Nam… 30 1.4 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 39
Chương 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY TẠI CÁC TRƯỜNG ĐH, CĐ NGOÀI CÔNG LẬP 44
2.1 Một số vấn đề chung của các trường ĐH, CĐ ngoài công lập hiện nay 45 2.1.1 Vấn đề cơ sở vật chất của các trường ĐH, CĐ ngoài công lập 45 2.1.2 Vấn đề tuyển sinh của các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập hiện nay 53 2.1.3.Vai trò, vị thế của các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập hiện nay 61 2.2.Nội dung, phương pháp giảng dạy tại các trường ĐH, CĐ ngoài công lập 71 2.2.1 Nội dung hoạt động giảng dạy tại các trường ĐH, CĐ ngoài công lập hiện nay 71 2.2.2 Phương pháp giảng dạy tại các trường ĐH, CĐ ngoài công lập hiện nay 77 2.3 Số lượng và chất lượng đội ngũ giảng viên tại các trường ĐH, CĐ ngoài công lập hiện nay 80 2.3.1 Số lượng giảng viên viên tại các trường ĐH, CĐ ngoài công lập hiện nay 80
Trang 62.3.2 Chất lượng đội ngũ giảng viên tại các trường ĐH, CĐ ngoài công
lập 86
2.4.Chất lượng sinh viên tại các trường ĐH, CĐ ngoài công lập hiện nay 91
2.4.1 Chất lượng tuyển đầu vào của các trường ĐH, CĐ ngoài công lập hiện nay 91
2.4.2 Đánh giá một số kỹ năng của sinh viên các trường ĐH, CĐ ngoài công lập hiện nay 94
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 100
Kết luận 100
Khuyến nghị 102
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
PHỤ LỤC 109
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Kết quả thanh tra về đất đai và diện tích xây dựng ở một số trường[2,tr 5] 46 Bảng 2.2: Các hình thức tuyển sinh chủ yếu của các trường ĐH, CĐ ngoài công lập khảo sát(%) 53 Bảng 2.3: Những căn cứ để xét tuyển sinh viên của các trường ĐH, CĐ ngoài công lập trong mẫu khảo sát (%) 55 Bảng 2.4: Mức học phí của 6 trường khảo sát từ năm học 2010-2011 đến năm học 2012-2013 (đồng/người/tháng)[22] 59 Bảng 2.5: Ý kiến của các giảng viên về những khó khăn của các trường ĐH,
CĐ ngoài công lập hiện nay 65 Bảng 2.6: Ý kiến các giảng viên về mong muốn hỗ trợ về đào tạo của các trường ĐH,CĐ ngoài công lập 68 Bảng 2.7: Ý kiến của các giảng viên về nội dung chương trình giảng dạy tại các trường ĐH, CĐ ngoài công lập khảo sát 71 Bảng 2.8: Ý kiến của các giảng viên về phương pháp giảng dạy chủ yếu tại các trường ĐH, CĐ ngoài công lập khảo sát (%) 77 Bảng 2.9: Số lượng giảng viên ĐH, CĐ ngoài công lập trên cả nước[28] 80 Bảng 2.10: Những khó khăn của các trường ĐH, CĐ ngoài công lập về đội ngũ giảng viên 85 Bảng 2.11: Trình độ học vấn của giảng viên các trường ĐH, CĐ trên cả nước[28] 87 Bảng 2.12: Đánh giá về chất lượng đội ngũ giảng viên đang giảng dạy tại trường ĐH, CĐ ngoài công lập (%) 89
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Một số đặc điểm về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công
tác đào tạo tại các trường ĐH, CĐ ngoài công lập khảo sát qua ý kiến giảng
viên(%) 50 Biểu đồ 2.2 : Một số đặc điểm về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công
tác đào tạo tại các trường ĐH, CĐ ngoài công lập khảo sát qua ý kiến sinh
viên(%) 51 Biểu đồ 2.3: Đánh giá của sinh viên về mức độ phù hợp giữa học phí và chất lượng đào tạo của các trường ĐH, CĐ ngoài công lập khảo sát(%) 60 Biểu đồ 2.4: Ý kiến các giảng viên về vai trò của các trường ĐH, CĐ ngoài công lập đối với sự phát triển của giáo dục tại Việt Nam hiện nay (%) 62 Biểu đồ 2.5: Số lượng các trường ĐH, CĐ ngoài công lập từ 2000-2011 [28] 62 Biểu đồ 2.6 : Quy mô các trường ĐH, CĐ tại Việt Nam từ năm 2000-2011 (%)[28] 63 Biểu đồ 2.7: Ý kiến của giảng viên về lợi thế của các trường ĐH, CĐ ngoài công lập để thu hút SV (%) 67 Biểu đồ 2.8: Hỗ trợ cần thiết để phát triển các trường ĐH, CĐ ngoài công lập(%) 68 Biểu đồ 2.9: Đánh giá của giảng viên về mức độ phân bổ thời gian cho các nội dung giảng dạy tại trường ĐH, CĐ ngoài công lập khảo sát(%) 75 Biểu đồ 2.10: Mức độ phân bổ thời gian cho các nội dung giảng dạy tại trường ĐH,
CĐ ngoài công lập khảo sát qua ý kiến đánh giá của sinh viên (%) 76 Biểu đồ 2.11: Thành phần đội ngũ giảng viên tại các trường khảo sát(%) 84 Biểu đồ 2.12: Trình độ chuyên môn của các giảng viên tại các trường ĐH, CĐ ngoài công lập khảo sát(%) 88 Biểu đồ 2.13 : Sự phát triển số lượng SV ngoài công lập trên cả nước[28] 92
Trang 10Biểu đồ 2.14: Học lực của sinh viên tại các trường ĐH, CĐ ngoài công lập khảo sát (%) 93 Biểu đồ 2.15: Mức độ trang bị kiến thức, kỹ năng cho sinh viên các trường
ĐH, CĐ ngoài công lập qua ý kiến sinh viên (%) 94 Biểu đồ 2.16: Những khó khăn của sinh viên các trường ĐH, CĐ ngoài công lập khi tìm kiếm việc làm (%) 97
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế đang tạo ra những biến đổi sâu sắc trong đời sống xã hội tại mỗi quốc gia, dân tộc Sự biến đổi này thể hiện rất rõ trong nhiều lĩnh vực như y tế, giáo dục, văn hóa… Trong
số đó, giáo dục- đặc biệt là giáo dục bậc đại học cũng có sự thay đổi nhanh chóng Bên cạnh hệ thống giáo dục ĐH công lập thì hệ thống giáo dục ĐH ngoài công lập cũng tăng trưởng cả về số lượng và chất lượng trên quy mô toàn cầu Sự tăng trưởng này là sự kết hợp giữa nhu cầu của người học và chủ trương xã hội hóa mạnh mẽ của các chính phủ trên thế giới khi mà nguồn lực tài chính dành cho giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học ngày càng khó khăn hơn Tại Mỹ có khoảng hơn 2000 trường Đại học, cao đẳng ngoài công lập, tại Nga tỷ lệ đại học, cao đẳng ngoài công lập chiếm 56,9% Tuy nhiên, châu
Á mới là khu vực có tốc độ phát triển giáo dục đại học ngoài công lập nhanh nhất Một số nước như Nhật (457/662 trường đại học ngoài công lập chiếm 69%), Philippin (1113/1371 chiếm 81,18%) và Indonesia (1200/1253 ĐHNCL chiếm 95,7%)[37] Sự phát triển của mô hình này trên thế giới cũng đang chứng kiến những sự phân cấp mạnh mẽ giữa các trường đại học xét cả
về danh tiếng, học phí, chất lượng đào tạo, quy mô đào tạo và cả ở tính chất lợi nhuận hay phi lợi nhuận
Tại Việt Nam, theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tính đến năm học 2011-2012, số trường đại học, cao đẳng ngoài công lập là 80 trường (50 trường đại học và 30 trường cao đẳng) Sau hơn 20 năm hình thành và phát triển có thể dễ dàng nhận thấy giáo dục đại học ngoài công lập của Việt Nam hiện nay đang tiến những bước rất chậm, đặc biệt nếu so với tốc độ bùng nổ của giáo dục công lập trong một vài năm trở lại đây
Có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn tới sự chậm trễ trong
Trang 12quá trình phát triển của mô hình đào tạo đại học ngoài công lập, một trong số
đó có sự liên quan chặt chẽ với sự “yếu kém” của hệ thống giáo dục đại học nói chung của Việt Nam hiện nay Các nghiên cứu về chất lượng giáo dục đại học của các tổ chức trong và ngoài nước cho thấy việc đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động đang là một thách thức to lớn với nền giáo dục đại học Việt Nam Ngoài ra, chất lượng hoạt động giảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập cũng được xem là một vấn đề quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cũng như hình ảnh của các mô hình phát triển của các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập hiện nay
Ý tưởng của luận văn này được xuất phát từ dự án: “Đánh giá chính
sách của Việt Nam hiện nay: Những vấn đề của mô hình đào tạo đại học ngoài công lập” do Liên hiệp các hội Khoa học kỹ thuật phối hợp với Trung
tâm Phát triển Xã hội và Môi trường Vùng thực hiện tại 6 tỉnh, thành phố có đông sinh viên đại học, cao đẳng ngoài công lập thuộc 3 miền trong năm 2012 nhằm phân tích hiện trạng mô hình đào tạo đại học ngoài công lập tại Việt Nam hiện nay Đồng thời đánh giá các yếu tố tác động tới sự phát triển của
mô hình đào tạo đại học ngoài công lập tại Việt Nam, và đề xuất các giải pháp
hỗ trợ, đẩy mạnh phát triển mô hình đào tạo đại học ngoài công lập tại Việt Nam hiện nay
Nghiên cứu:“Chất lượng giảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng
ngoài công lập qua ý kiến của các giảng viên” nhằm đánh giá về thực trạng
hoạt động giảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập hiện nay
Từ đó đưa ra các khuyến nghị giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả dạy
và học tại các trường đại học ngoài công lập
Đề tài được thực hiện sẽ góp phần làm sáng tỏ các lý thuyết xã hội học như lý thuyết hành vi lựa chọn, lý thuyết cơ cấu- chức năng…đồng thời chỉ ra
Trang 13những bằng chứng thực tiễn để vận dụng có hiệu quả các lý thuyết và cách tiếp cận của xã hội học kinh tế, xã hội học quản lý
Các kết quả của đề tài sẽ góp phần cung cấp những bằng chứng thực tiễn, đánh giá được thực trạng chất lượng hoạt động giảng dạy của các trường ĐH,
CĐ ngoài công lập hiện nay Những khó khăn, vướng mắc của các giảng viên trong quá trình dạy và học tại trường Từ đó đề xuất những khuyến nghị để nâng cao hơn nữa chất lượng giảng dạy tại các trường ĐH, CĐ ngoài công lập hiện nay
2 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
2.1 Ý nghĩa lý luận
Về phương diện khoa học, giáo dục vẫn luôn nhận được sự quan tâm của nhiều ngành khoa học Giáo dục học tập trung vào nghiên cứu những mục đích, nhiệm vụ, đối tượng, nội dung và phương pháp giáo dục, nghiên cứu về đào tạo giáo dục con người chủ yếu thông qua việc dạy và học Xã hội học nghiên cứu giáo dục dưới nhiều chiều cạnh và góc độ khác nhau trong mối tương quan với các vấn đề khác để tìm ra bản chất, xu hướng…của thực trạng các vấn đề giảng dạy, chất lượng giảng dạy bằng việc lý giải các hiện tượng dưới hệ thống các lý thuyết chuyên ngành Các kết quả trong nghiên cứu này
có thể góp phần làm sáng tỏ một số lý thuyết xã hội học đại cương như: lý thuyết cấu trúc- chức năng, lý thuyết lựa chọn hợp lý
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu về giáo dục, các hoạt động giảng dạy và đặc biệt là làm rõ được thực trạng chất lượng công tác giảng dạy không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học mà còn mang một ý nghĩa thực tiễn to lớn Các kết quả của đề tài sẽ góp phần cung cấp những bằng chứng thực tiễn, đánh giá chính xác chất lượng giảng dạy tại các trường ĐH, CĐ ngoài công lập, thông qua đó chỉ ra
sự cần thiết trong việc tồn tại của các trường ĐH, CĐ ngoài công lập Đồng
Trang 14thời tác giả cũng đưa ra những khuyến nghị nhằm phát triển mô hình đào tạo
ĐH, CĐ ngoài công lập hiện nay
3 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Giáo dục luôn được xem là quốc sách hàng đầu của mỗi quốc gia, dân tộc Trong chiến lược phát triển của Đảng và Nhà nước luôn đặt vấn đề giáo dục là một mục tiêu quan trọng, đặc biệt là giáo dục đại học Cùng với sự phát triển nền kinh tế, giáo dục đại học cũng có những bước phát triển nhất định, bên cạnh hệ thống các trường đại học công lập thì các trường đại học ngoài công lập cũng đang được mở rộng, tạo cơ hội học tập, tích lũy kiến thức cho mọi tầng lớp trong xã hội, đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực có trình độ, chuyên môn của thị trường lao động Các văn bản chính sách cũng đã đề cập nhiều đến phát triển giáo dục đại học nói chung và giáo dục đại học ngoài công lập nói riêng
Luật giáo dục (2012) điều 7 về các cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân, xác định có các loại hình thức trường sau: “công lập, tư thục”
Nghị quyết 05/2005NQ-CP ngày 18-4-2005 của Chính phủ xác định các định hướng phát triển cơ sở giáo dục - đào tạo ngoài công lập:
• Khuyến khích thành lập các cơ sở giáo dục, đào tạo và dạy nghề ngoài công lập; chuyển một số cơ sở công lập sang loại hình ngoài công lập Hạn
Trang 15chế mở thêm các cơ sở công lập ở những vùng kinh tế phát triển Không duy trì các cơ sở bán công, các lớp bán công trong trường công
• Khuyến khích việc hợp tác, liên kết đào tạo với các cơ sở đào tạo, có chất lượng cao của nước ngoài; khuyến khích mở các cơ sở giáo dục đào tạo
có chất lượng cao, có uy tín bằng 100% vốn đầu tư nước ngoài; khuyến khích các nhà khoa học, giáo dục có trình độ cao ở nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia giảng dạy tại Việt Nam
• Chỉ tiêu định hướng đến năm 2010:
Chuyển phần lớn các cơ sở đào tạo và dạy nghề công lập và một phần các cơ sở giáo dục không đảm nhận nhiệm vụ giáo dục phổ cập sang hoạt động theo cơ chế cung ứng dịch vụ Chuyển tất cả các cơ sở bán công sang loại hình dân lập hoặc tư thục
Tỷ lệ học sinh, sinh viên ngoài công lập ở trung học chuyên nghiệp 30%, các cơ sở dạy nghề 60%, đại học, cao đẳng khoảng 40%
Mục tiêu của nghị quyết này dự kiến hoàn thành vào năm 2010 sau đó
được điều chỉnh bằng nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 2/11/2005 về “Đổi
mới cơ bản và toàn diện GDĐH Việt Nam giai đoạn 2006-2020” đặt mục tiêu
đến năm 2020 số sinh viên của các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập chiếm 40% tổng số sinh viên cả nước
Thống kê năm học 2011-2012 cho thấy số lượng sinh viên ngoài công lập mới chỉ chiếm 14,7% và mục tiêu 40% vào năm 2020 có thể sẽ phải điều chỉnh hoặc không thể đạt nếu như không có những thay đổi về mặt chính sách phát triển với mô hình giáo dục đại học ngoài công lập
Các văn bản tiêu biểu khác liên quan tới hoạt động của mô hình đào tạo đại học ngoài công lập như Quyết định số 14/2005/QĐ-TTg, Quyết định số 61/2009/QĐ-TTg, Quyết định số 63/2011/QĐ-TTg đều là những văn bản quy định về Quy chế tổ chức và hoạt động của các trường đại học tư thục Để
Trang 16hoạch định và tổ chức thực hiện những chính sách này hoàn toàn phụ thuộc vào tình hình kinh tế xã hội của đất nước trong từng giai đoạn
Bên cạnh đó, có một số nhà khoa học đã công bố những công trình nghiên cứu của mình liên quan đến mô hình phát triển đại học ngoài công lập hiện nay Nhìn chung những công trình nghiên cứu này tập trung chủ yếu vào phản ánh thực trạng hoạt động đào tạo, nguyên nhân và yếu tố ảnh hưởng trong một giai đoạn nào đó
Có một số nghiên cứu đã tiếp cận với mô hình giáo dục đào tạo ngoài công lập, song chỉ mới đưa ra thực trạng, triển vọng mô hình đại học ngoài công lập ở Việt Nam
Do đây là một đề tài mới chính vì vậy ở thời điểm hiện tại, các công trình
nghiên cứu hay các bài viết có liên quan trực tiếp tới ý kiến của giảng viên về
chất lượng giảng dạy là rất ít, chỉ có các nghiên cứu và các tài liệu gián tiếp liên quan tới đề này
Năm 2006, tác giả Phạm Lan Hương với cuốn sách “Giáo dục Quốc tế-
một vài tư liệu và so sánh” cũng có những nhìn nhận khá rõ nét về giáo dục
đại học các nước trên thế giới, những vấn đề cần quan tâm khi phát triển mô hình giáo dục đại học ở Việt Nam
Năm 2009, tác giả Nguyễn Thị Bình với bài viết “Bảo đảm sự phát triển
ổn định hệ thống đại học, cao đẳng ngoài công lập ở nước ta” đăng trên tạp
chí Cộng sản, số 10 (178) Bài viết đã phân tích một trong những đổi mới quan trọng của giáo dục đại học ở nước ta trong vòng hai thập niên qua là sự
ra đời của hệ thống các trường ngoài công lập Tác giả đã điểm lại những nét chính của sự phát triển hệ thống đó, nêu một số vấn đề tồn tại và kiến nghị các biện pháp giải quyết
Năm 2009, tác giả Lâm Quang Thiệp với bài viết “Về sự phát triển đại
học tư ở Việt Nam và Trung Quốc” Trong bài viết này tác giả đã có sự phân
Trang 17tích sự phát triển mô hình đào tạo đại học, cao đẳng ngoài cong lập ở Việt Nam và Trung Quốc Đồng thời tác giả cũng có sự so sánh sự phát triển mô hình đào tạo ngoài công lập tại hai nước Việt Nam và Trung Quốc để chỉ ra những điểm tích cực và hạn chế giữa hai nước
Năm 2009, GS TS Trần Hồng Quân, chủ tịch Hiệp hội Các trường đại
học và cao đẳng ngoài công lập chủ trì đề tài cấp bộ “Phương hướng và
những giải pháp chủ yếu phát triển trường đại học, cao đẳng ngoài công lập Việt Nam Nghiên cứu đã phân tích thực trạng 20 năm hình thành và phát triển
(1988 - 2008) của mô hình ĐH, CĐ ngoài công lập Đồng thời đề ra phương hướng hoàn thiện hành lang pháp lý cho việc củng cố phát triển giáo dục ĐH,
CĐ ngoài công lập Việt Nam đi vào ổn định và có bước phát triển về chất lượng, số lượng đến năm 2020, để cùng với hệ thống giáo dục đại học Việt Nam có bước chuyển về chất lượng và quy mô, đáp ứng nhu cầu nhân lực cho
sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội, xây dựng xã hội học tập trong cả nước; tiếp cận được trình độ giáo dục đại học tiên tiến trong khu vực và trên thế giới, góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nguồn nhân lực và nền kinh tế của đất nước
Năm 2009, PGS.TS Lê Đức Ngọc Giám đốc Trung tâm Đánh giá, Đo lường và Kiểm định chất lượng (CAMEEQ) thuộc Hiệp hội các trường Đại
học và Cao đẳng ngoài công lập Việt Nam, có bài viết: “Bàn về quyền tự chủ
và tự chịu trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục đại học” được trích từ
Kỷ yếu Hội thảo khoa học: “Vấn đề tự chủ - tự chịu trách nhiệm của các trường đại học, cao đẳng Việt Nam” do Ban liên lạc các trường đại học và cao đẳng Việt Nam (VUN) tổ chức vào tháng 10/2009 Tác giả đã tập trung vào vấn đề quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong khối các trường, đặc biêt là các trường ĐH, CĐ ngoài công lập hiện nay Bài viết cũng đề cập đến các giải
Trang 18pháp để xây dựng và phát triển các mô hình trường ĐH, CĐ trong sự phát triển hiện nay
Năm 2011, Hiệp hội Các trường đại học và cao đẳng ngoài công lập cũng
đã tổ chức hội thảo khoa học về “Mô hình đại học tư thục ở Việt Nam” Hội
thảo đã chỉ ra những phương hướng nhằm mục đích tìm kiếm giải pháp và mô hình đại học tư năng động, hiệu quả, có sức sống, nội lực mạnh mẽ để tự khẳng định mình
Cũng trong năm 2011, tiến sỹ khoa học Phan Quang Trung, Phó chủ tịch thường trực Hiệp hội Các trường đại học và cao đẳng ngoài công lập chủ biên
cuốn sách “Mô hình trường đại học tư ở Việt Nam, thực trạng và triển vọng”
đã tập hợp các bài viết cũng như các nghiên cứu về thực trạng cũng như triển vọng phát triển của mô hình giáo dục đại học ngoài công lập hiện nay Các bài viết đã có những nhận định khách quan về tình hình phát triển giáo dục đại học ngoài công lập ở Việt Nam và thế giới Phân tích một số mô hình giáo dục đại học ngoài công lập ở Việt Nam hiện nay
Năm 2011, tác giả Phạm Thị Ly, Trung tâm Đào tạo và Phát triển Nguồn
nhân lực, ĐHQG TP Hồ Chí Minh có bài viết: “Xã hội học dịch vụ công
trong lĩnh vực giáo dục đại học Bài viết đã đề cập đến vấn đề xã hội hóa dịch
vụ công trong giáo dục đại học, sự tham gia của các trường ĐH, CĐ ngoài công lập trong việc xã hội hóa giáo dục Đó là sự tham gia của nhiều thành phần xã hội trong quá trình quản trị trường đại học và hệ thống đại học giúp các trường đại học thực hiện tốt nhất vai trò và sứ mạng của nó để phục vụ lợi ích của quốc gia
Năm 2011, tác giả Nguyễn Văn Tuấn trong cuốn sách “Chất lượng giáo
Tổng hợp TP.HCM xuất bản Tác giả đã có những phân tích, sự quan tâm sâu sắc đối với giáo dục đại học nước nhà thể hiện qua nỗ lực đi sâu tìm hiểu, ghi
Trang 19nhận những nét mới, tích cực đồng thời cũng thẳng thắn chỉ ra những thiếu sót, bất cập trong giáo dục đại học, đặc biệt là giáo dục ngoài công lập hiện nay và đề xuất những biện pháp giải quyết trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm nước ngoài kết hợp với thực tiễn nước ta
Năm 2012, TS Dương Tấn Diệp Trường ĐH Kinh tế- Tài chính TP Hồ
Chí Minh với bài viết “Quyền sở hữu tài sản các trường ĐH, CĐ ngoài công
lập dưới góc nhìn theo quan điểm phát triển” đăng trên tạp chí Phát triển và
Hội nhập, số 5 (15), năm 2012 đã có những phân tích, so sánh liên quan về vấn đề quyền sở hữu tài sản trong các trường ĐH, CĐ ngoài công lập, cũng như ảnh hưởng của nó đến hoạt động, sự phát triển của mô hình đào tạo ngoài
công lập hiện nay
Năm 2012, GS TS Nguyễn Thanh Tuyền và TS Dương Tấn Diệp-
Trường ĐH Kinh tế- Tài chính TP Hồ Chí Minh cũng có bài viết “Kiến nghị
phát triển giáo dục đại học ngoài công lập” đăng trên tạp chí Phát triển và
Hội nhập, số 7 (17), năm 2012 đã chỉ ra những ưu, nhược điểm trong phát triển mô hình giáo dục ĐH ngoài công lập hiện nay, những khó khăn mà khối các trường ngoài công lập gặp phải Đồng thời các tác giả cũng có những kiến nghị nhằm phát triển mô hình đào tạo này
Cũng trong năm 2012, Liên hiệp các hội Khoa học và kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Trung tâm phát triển xã hội và môi trường vùng thực hiện dự án:
“Đánh giá chính sách của Việt Nam hiện nay: Những vấn đề của mô hình đào tạo đại học ngoài công lập” trong năm 2012 nhằm phân tích hiện trạng mô
hình đào tạo đại học ngoài công lập tại Việt Nam hiện nay Đồng thời đánh giá các yếu tố tác động tới sự phát triển của mô hình đào tạo đại học ngoài công lập tại Việt Nam, và đề xuất các giải pháp hỗ trợ, đẩy mạnh phát triển
mô hình đào tạo đại học ngoài công lập tại Việt Nam hiện nay
Trang 20Trên thực tế, các bài viết, các nghiên cứu tập trung vào việc phân tích, bàn luận mang tính chất vĩ mô, chưa đề cập, phân tích một cách cụ thể và chi tiết đến ý kiến đánh giá của các giảng viên về chất lượng giảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập ở nước ta hiện nay Đây được xem là vấn đề quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập Chính vì vậy, việc nghiên cứu, đánh giá về thực trạng chất lượng giảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập là hết sức cần thiết
4 Đối tƣợng nghiên cứu
Chất lượng giảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập
5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu chung về các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập tại Việt Nam thông qua ý kiến của các giảng viên với các tiêu chí: cơ sở vật chất; vấn
đề tuyển sinh; vai trò, vị thế của các trường
Qua ý kiến của các giảng viên làm rõ chất lượng giảng dạy của các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập với các tiêu chí: nội dung, chương trình giảng dạy; phương pháp giảng dạy; chất lượng đội ngũ giảng viên; chất lượng sinh viên của trường
Trang 21Đưa ra một số khuyến nghị nhằm phát triển các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập
Phạm vi không gian: Địa bàn nghiên cứu sẽ được thực hiện tại 3
tỉnh/thành phố bao gồm: Hà Nội, Đà Nẵng, Tp Hồ Chí Minh Các địa phương này là trung tâm ba miền, có số lượng các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập cũng như số lượng giảng viên thuộc hàng cao trong cả nước
Chất lượng hoạt động giảng dạy tại các trường ĐH, CĐ ngoài công lập: nội dung, phương pháp giảng dạy, chất lượng giảng viên, chất lượng sinh viên
7 Câu hỏi nghiên cứu
Cơ sở vật chất và quy mô tuyển sinh của các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập hiện nay như thế nào qua ý kiến của các giảng viên?
Các giảng viên đánh giá như thế nào về vị thế của các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập hiện nay ra sao?
Nội dung, chương trình giảng dạy của các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập được các giảng viên đánh giá như thế nào?
Chất lượng đội ngũ giảng viên của các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập có những đặc điểm gì?
Trang 22Về chất lượng sinh viên của các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập hiện nay các giảng viên đánh giá như thế nào?
8 Giả thuyết nghiên cứu
Theo ý kiến của các giảng viên hiện nay cơ sở vật chất của các trường
đại học, cao đẳng ngoài công lập đa phần còn thiếu thốn, nhiều trường phải đi thuê địa điểm học Quy mô tuyển sinh của nhiều trường còn nhỏ, hình thức tuyển sinh còn nhiều bất cập, chưa thu hút được nhiều sinh viên có chất lượng
Vị thế của các trường ngoài công lập hiện nay theo đa số ý kiến của các giảng viên đánh giá thấp hơn so với khối đại học công lập, xã hội vẫn chưa xem trọng mô hình đào tạo này
Chất lượng giảng dạy trong các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập hiện nay nói chung ở mức thấp Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy, trong đó có thể kể tới: nội dung, chương trình giảng dạy, chất lượng đội ngũ giảng viên, chất lượng sinh viên Đặc biệt, chất lượng đội ngũ giảng viên, sinh viên đóng vai trò là những thành tố quan trọng
9 Phương pháp luận và phương pháp thu thập thông tin
9.1 Phương pháp luận
Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là phương pháp luận quan trọng giúp người nghiên cứu trong quá trình nhìn nhận và đánh giá vấn đề nghiên cứu Theo đó, quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng mọi sự vật, hiện tượng đều nằm trong mối quan hệ ảnh hưởng qua lại lẫn nhau Không có sự vật, hiện tượng nào tồn tại một cách độc lập, riêng rẽ Đứng trên góc độ của quan điểm này, ý kiến đánh giá của các giảng viên về các vấn đề chung của các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập cũng như thực trạng chất lượng giảng dạy tại các trường này sẽ chịu tác động bởi rất nhiều các yếu tố bao gồm các yếu tố chủ quan: Tiềm lực phát triển của
Trang 23chính các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập; Việc định hướng lựa chọn nội dung, phương pháp giảng dạy Các yếu tố khách quan: nhận thức, sự quan tâm của xã hội đối với hoạt động của các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập; Hệ thống các chính sách hỗ trợ của nhà nước đối với các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập …Do đó, để có thể tìm hiểu và lý giải được các thực trạng chất lượng giảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập qua ý kiến các giảng viên, chúng ta cần phải xem xét nó trong mối tương quan với rất nhiều các nhân tố khác Trong nghiên cứu này, chủ nghĩa duy vật biện chứng là cơ sở để chỉ ra mối quan hệ giữa ý kiến, đánh giá của các giảng viên đối với chất lượng hoạt động giảng dạy trong mối quan hệ với các đặc điểm kinh tế, xã hội…
Mặt khác, theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, mọi sự vật đều tồn tại trong tính không gian và thời gian xác định, luôn vận động, biến đổi Bản thân vấn đề chất lượng giảng dạy tại các trường ĐH, CĐ ngoài công lập-
mặc dù vẫn luôn là một thách thức “cố hữu” đối với các trường đại học, cao
đẳng ngoài công lập trong sự phát triển của hệ thống giáo dục đại học trong nhiều năm qua Tuy nhiên nó lại không phải là một hiện tượng bất biến, nó vẫn có sự vận động và biến đổi theo thời gian Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta với phương châm cùng các tổ chức, cá nhân chung tay xây dựng, hình thành các trường ĐH, CĐ ngoài công lập Như vậy, chủ nghĩa duy vật lịch sử có một ý nghĩa quan trọng về phương pháp luận trong việc đánh giá thực trạng chất lượng giảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập qua ý kiến các giảng viên
Trang 249.2 Phương pháp thu thập thông tin
9.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu:
Các số liệu định lượng, định tính chủ yếu của luận văn này được khai
thác từ bộ số liệu của dự án: “Đánh giá chính sách của Việt Nam hiện nay:
Những vấn đề của mô hình đào tạo đại học ngoài công lập” do Liên hiệp các
hội Khoa học kỹ thuật phối hợp với Trung tâm Phát triển Xã hội và Môi trường Vùng thực hiện trong năm 2012
Các số liệu dựa trên phỏng vấn bằng bảng hỏi tại các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập tại 6 tỉnh, thành phố có đông sinh viên, giảng viên
ĐH, CĐ ngoài công lập thuộc 3 miền, mỗi miền 2 tỉnh gồm: miền Bắc (Hà Nội, Hải Phòng), miền Trung (Đà Nẵng, Quảng Nam) và miền Nam (Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương) Tại mỗi tỉnh, chọn 2 trường (1 trường đại học và 1 trường cao đẳng), tương đương tổng số trường ĐH, CĐ ngoài công lập được khảo sát là 12 trường Đối với nhóm giảng viên, tại mỗi trường sẽ khảo sát 30 giảng viên, tổng số giảng viên khảo sát tại 12 trường là 360 người) Đối với nhóm sinh viên, tại mỗi trường khảo sát chọn 90 sinh viên Tại mỗi trường chọn 3 khoa (1 khoa có điểm đầu vào nhất, 1 khoa có điểm đầu vào trung bình và 1 khoa có điểm đầu vào thấp nhất) Về cơ bản, trong luận văn này, tác giả muốn tập trung khai thác, đánh giá ý kiến của nhóm giảng viên- chủ thể, trung tâm của hoạt động giảng dạy Chính vì vậy, tác giả tập trung phân tích mẫu định lượng giảng viên là 180 người được chia đều tại
3 tỉnh/thành phố bao gồm: Hà Nội, Đà Nẵng,Tp Hồ Chí Minh
Đại học dân lập Duy Tân
Cao đẳng Phương Đông
Đại học ngoại ngữ tin học
Cao đẳng công nghệ thông tin Đối với nhóm sinh viên tác giả tập trung khai thác thêm thông tin tại 3
Trang 25tỉnh/thành phố bao gồm: Hà Nội, Đà Nẵng,Tp Hồ Chí Minh, gồm 540 sinh viên trong một số nội dung nhằm bổ sung, so sánh với ý kiến các giảng viên
Đề tài còn tập trung khai thác thêm thông tin định tính từ các nhóm đối tượng có liên quan tới đề tài tại các tỉnh gồm: nhà quản lý, hiệp hội các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập, đại diện các trường, chuyên gia, giảng viên, sinh viên, phụ huynh đều đã được phỏng vấn bằng các phương pháp định tính khác nhau Trong luận văn, tác giả tập trung phân tích ý kiến của các nhóm tại
3 tỉnh/ thành đã lựa chọn
Các thông tin định lượng trong đề tài này được nhập và xử lý bằng phần mềm SPSS 11.5, các thông tin định tính được xử lý bằng phần mềm NVIVO 7.0
Do mẫu nghiên cứu lựa chọn phân tích các trường ngoài công lập là các trường tiêu biểu, có đông sinh viên, giảng viên, có thứ hạng cao trong khối các trường ngoài công lập Chính vì vậy, 3 tỉnh, thành phố thuộc 3 khu vực lựa chọn trong luận văn này hầu hết đều được đầu tư khá tốt về mọi mặt Do vậy, các con số trong nghiên cứu này đôi khi sẽ mang tính chất địa phương,
và không đại diện cho toàn bộ hệ thống ĐH, CĐ ngoài công lập trên cả nước
Để bổ sung tác giả đã sử dụng thêm các ý kiến đánh giá của các chuyên gia, nhà hoạch định chính sách, nhà quản lý, hiệp hội các trường ĐH, CĐ ngoài công lập, đại diện các trường, chuyên gia, trong các hội thảo, công trình nghiên cứu có liên quan tới đề tài (chủ yếu là các công trình nghiên cứu liên quan ở mức độ gián tiếp), các tài liệu, thông tin thu thập từ Internet có liên quan và các tài liệu, thông tin liên quan do các trường đại học, cao đẳng và chính các địa phương cung cấp
9.2.2 Phương pháp quan sát
Đây là một phương pháp được sử dụng dụng nhằm kiểm chứng các thông tin đã thu thập được từ bảng hỏi cũng như nhằm cung cấp thêm thông
Trang 26tin cần thiết cho việc chứng minh giả thuyết nghiên cứu Việc quan sát ở đây chủ yếu là quan sát về cơ sở vật chất, hoạt động giảng dạy của các trường ĐH,
CĐ ngoài công lập
9.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
Để bổ sung thêm một số thông tin còn thiếu của số liệu đề tài liên quan
đến ý kiến đánh giá của các giảng viên tại các trường về công tác giảng dạy cũng như hiệu quả của các hoạt động đào tạo trong các trường ĐH, CĐ ngoài công lập hiện nay, tác giả cũng tập trung phỏng vấn thêm một số ý kiến của các giảng viên, quản lý Cụ thể:
Nhóm giảng viên: 8 người
Nhóm quản lý: 2 người
Trang 2710 Khung phân tích
Điều kiện kinh tế- xã hội
Các đặc điểm chung của các trường ĐH-
CĐ ngoài công lập:
+ Cơ sở vật chất +Quy mô, hình thức tuyển sinh
+ Vị thế của trường
- - Hệ thống chính sách phát triển các trường ĐH- CĐ ngoài công lập
- Nhận thức của xã hội về mô hình ĐH- CĐ ngoài công lập
Chất lượng hoạt động giảng dạy tại các trường
ĐH, CĐ ngoài công lập
Chất lượng sinh viên của trường
Nội dung,
chương trình
giảng dạy
Phương pháp giảng dạy
Chất lượng đội ngũ giảng viên
Trang 28NỘI DUNG CHÍNH Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Khái niệm công cụ
Trong nghiên cứu xã hội học, việc phân tích, chỉ ra các khái niệm công
cụ là điều hết sức cần thiết Việc nghiên cứu đánh giá chất lượng công tác giảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập hiện nay, trước khi lấy ý kiến các giảng viên đại học trong việc đánh giá chất lượng hoạt động giảng dạy cần phải làm rõ được các khái niệm về xã hội hóa giáo dục, các khái niệm về chất lượng giáo dục nói chung cũng như chất lượng giáo dục đại học nói riêng, cũng như phân biệt mô hình đại học công lập, và đại học ngoài công lập
Xã hội hóa: Thuật ngữ “xã hội hoá” được nghe đến và sử dụng khá
nhiều không chỉ trong khoa học mà còn trong đời sống hàng ngày Dưới góc
độ khoa học, xã hội hoá được quan tâm nhiều nhất bởi các nhà tâm lý học và
xã hội học Các nhà tâm lý học quan tâm đến xã hội hoá ở khía cạnh cá nhân hình thành và phát triển khuôn mẫu hành vi của mình như thế nào và sự tương tác của cá nhân với những người xung quanh; các nhà xã hội học lại quan tâm đến việc cá nhân làm thế nào để hoà nhập được vào nhóm xã hội mà họ là thành viên và quan tâm đến quá trình tái tạo các giá trị xã hội, chuyển giao các khuôn mẫu văn hoá qua các thế hệ
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về xã hội hoá Nhóm quan điểm thứ nhất là về vấn đề xã hội hóa ở khía cạnh cá nhân Trong đó, chúng tôi muốn
đề cập đến là quan điểm của Cooley - nhà xã hội học Mỹ Theo Cooley, con người hiểu bản thân mình qua con mắt của người khác, họ học cách đánh giá bản thân theo cách mà họ nghĩ người khác đánh giá họ Chính bằng con
Trang 29đường này mà trẻ em có khái niệm về bản thân chúng, biết được giá trị của chúng, điểm mạnh cũng như điểm yếu của bản thân
Còn quan điểm của George H Mead về xã hội hóa liên quan đến lý thuyết về sự phát triển cái tôi của Mead có những điểm tương đồng với quan điểm nêu trên của Cooley Theo Mead, trẻ em bắt đầu quá trình xã hội hoá bằngviệc bắt chước hành động của những người xung quanh đặc biệt là thông qua các trò chơi của chúng Mead gọi đó là việc “đóng vai trò của người khác”
Quan điểm của lý thuyết hành vi: lý thuyết hành vi nhấn mạnh vai trò của phần thưởng và sự trừng phạt trực tiếp trong quá trình xã hội hoá, khi nhận được những phần thưởng từ việc thực hiện hành vi nhất định, con người
sẽ có xu hướng lặp lại những hành vi đó, ngược lại nếu hành vi nào mang lại cho con người sự trừng phạt thì họ sẽ không tiếp tục thực hiện chúng Chính ttrên cơ sở nhận thức như vậy mà con người được xã hội hoá từ khi còn bé, đứa trẻ học từ cha mẹ chúng những gì là đúng, là tốt để thực hiện nhằm đạt được những phần thưởng nhất định Có thể nói, mọi hành vi của con người đều có điều kiện trên cơ sở áp dụng các phần thưởng hay sự trừng phạt cho những hành vi tương ứng
Quan điểm của lý thuyết khuôn mẫu (modeling): Các tác giả theo lý thuyết này cho rằng hầu hết các kết quả của quá trình xã hội hoá đạt được là
do sự bắt chước của trẻ em đối với hành vi của người lớn và do đó để có được quá trình xã hội hoá hoàn chỉnh lý thuyết này nhấn mạnh tầm quan trọng của cái gọi là khuôn mẫu vai trò làm hình mẫu cho sự bắt chước (chẳng hạn như một bé trai lớn lên trong gia đình không có bố có thể sẽ gặp phải những khó khăn trong việc học làm một người đàn ông)
Tất cả các quan điểm và các cách tiếp cận trên đều có những nét riêng
và đóng góp thêm một góc nhìn về quá trình xã hội hoá, tuy vậy chúng đều
Trang 30chia sẻ một cách nhìn xã hội học về xã hội hoá ở 3 điểm sau: (1) không phải đặc điểm sinh học mà sự tương tác xã hội của con người giúp hình thành nên nhân cách của cá nhân; (2) gia đình là thiết chế đặc biệt quan trọng của quá trình xã hội hoá; (3) vai trò xã hội chính là mối dây liên hệ cơ bản giữa cá nhân và xã hội Ở một khía cạnh nào đó xã hội hoá được xem như mang tính
“tiền định” bởi chúng ta được định hình bởi các tương tác và lực lượng xã hội bên ngoài chúng ta, không phụ thuộc vào ý muốn của chúng ta Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng chúng ta không hoàn toàn bị động trong quá trình xã hội hoá mà trái lại, mỗi cá nhân đều chủ động trong việc tiếp nhận các thông điệp từ xã hội, biến đổi và áp dụng chúng tuỳ theo hoàn cảnh, thậm chí chống lại những áp lực từ phía xã hội hoặc có những tác động nhất định làm biến đổi
xã hội Có lẽ điều thú vị nhất của quá trình xã hội hoá là chúng ta luôn luôn thay đổi trong các tình thế, các giai đoạn khác nhau của cuộc đời.[10]
Nhóm quan điểm thứ hai, khái niệm xã hội hóa còn được đề cập mang tính xã hội chỉ sự tăng cường chú ý quan tâm của xã hội về vật chất và tinh thần đến những vấn đề, sự kiện cụ thể nào đó của xã hội mà trước đây chỉ có một bộ phận của xã hội có trách nhiệm quan tâm Nói cách khác, do tầm quan trọng, ý nghĩa xã hội của những vấn đề cụ thể đó mà từ chỗ chỉ một nhóm hay một cộng đồng hay một bộ phận xã hội quan tâm, đến nay ngày càng được đông đảo quần chúng quan tâm Đó là quá trình xã hội hóa các vấn đề, sự kiện
xã hội, như xã hội hóa giáo dục, xã hội hóa y tế…[9, tr 257]
Trong khuôn khổ phân tích, làm rõ hơn chất lượng giảng dạy tại các trường ĐH, CĐ chúng tôi chủ trương đưa khái niệm xã hội hóa mang tính xã hội thể hiện sự tham gia, đóng góp của các ngành, cá nhân, tổ chức trong việc xây dựng, mở rộng hệ thống các trường ĐH, CĐ ngoài công lập
Trang 31Chất lƣợng giáo dục đại học: Chất lượng GDĐH được định nghĩa rất
khác nhau tùy theo từng thời điểm và giữa những người quan tâm: Sinh viên, giảng viên, người sử dụng lao động, các tổ chức tài trợ và các cơ quan kiểm định; trong nhiều bối cảnh, nó còn phụ thuộc vào tình trạng phát triển kinh tế
- xã hội của mỗi nước
Harvey và Green đề cập đến năm khía cạnh chất lượng GDĐH và đã được nhiều tác giả khác thảo luận, công nhận và phát triển:
- Chất lượng là sự vượt trội (hay sự xuất sắc);
- Chất lượng là sự hoàn hảo (kết quả hoàn thiện, không có sai sót);
- Chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu (đáp ứng nhu cầu của khách hàng);
- Chất lượng là sự đáng giá về đồng tiền (trên khía cạnh đáng giá để đầu tư);
- Chất lượng là sự chuyển đổi (sự chuyển đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác)
Ở Anh quốc, các khái niệm “chất lượng” và “đáng giá đồng tiền” đã trở thành những điểm trọng tâm của GDĐH Các khái niệm này và các nguyên tắc chất lượng được thể hiện rất rõ ràng trong các mục tiêu GDĐH của Chính phủ Bộ Thương mại và công nghiệp Anh quốc định nghĩa chất lượng trong quyển “Quản lý chất lượng tổng thể” như sau: “Chất lượng đơn giản là đáp ứng được các yêu cầu của khách hàng”
Ở Úc, một trong những định nghĩa về chất lượng GDĐH được nhiều người đồng ý nhất là: “một đánh giá về mức độ mục tiêu đạt được và các giá trị, sự xứng đáng với mức độ đạt được đó (Chất lượng) là sự đánh giá về mức độ đạt được của các đặc điểm mong muốn từ các hoạt động và kết quả có được theo một số chuẩn mực và đối chiếu với một số các tiêu chí hay mục tiêu cụ thể nào đó”
Trang 32Ở Việt Nam, khái niệm “chất lượng” và các cách tiếp cận khác nhau về chất lượng được nhiều nhà nghiên cứu giáo dục đề cập trong các ấn phẩm của mình Các định nghĩa về khái niệm chất lượng đều thể hiện “chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu”
Theo tác giả Nguyễn Đức Chính hiện nay trên thế giới có sáu quan điểm về chất lượng GDĐH như sau:
(1) Chất lượng được đánh giá “đầu vào”: Theo quan điểm này, một trường ĐH có chất lượng cao nếu tuyển được nhiều SV giỏi, có đội ngũ cán
bộ giảng dạy có uy tín, có cơ sở vật chất tốt và trang thiết bị hiện đại Tuy nhiên, theo quan điểm này, sẽ khó giải thích trường hợp một trường ĐH có nguồn lực dồi dào nhưng chỉ có hoạt động đào tạo hạn chế; hoặc ngược lại, một trường có những nguồn lực khiêm tốn, nhưng đã cung cấp cho SV một chương trình đào tạo hiệu quả
(2) Chất lượng được đánh giá “đầu ra”: Trường ĐH có chất lượng cao nếu đào tạo được nhiều SV tốt nghiệp giỏi, thực hiện được nhiều công trình khoa học có giá trị, nhiều khóa học thu hút người học Trên thực tế, quan điểm này chưa hoàn toàn phù hợp vì một trường có khả năng tiếp nhận các SV xuất sắc, không có nghĩa là SV của họ sẽ tốt nghiệp loại xuất sắc Hơn thế nữa cách đánh giá đầu ra của các trường rất khác nhau
(3) Chất lượng được đánh giá bằng “giá trị gia tăng”: Trường ĐH có chất lượng cao nếu tạo được sự khác biệt lớn trong sự phát triển về trí tuệ và
cá nhân SV sau quá trình đào tạo tại trường Điểm hạn chế của quan điểm này
là khó có thể thiết kế một thước đo thống nhất để đánh giá chất lượng “đầu vào” và “đầu ra” để tìm ra được hiệu số của chúng và đánh giá chất lượng của trường đó
Trang 33(4) Chất lượng được đánh giá bằng “giá trị học thuật”: Trường ĐH
có chất lượng cao nếu có được đội ngũ cán bộ giảng dạy, các nhà khoa học có uy tín lớn Tuy nhiên điểm yếu của quan điểm này là ở chổ, liệu có thể đánh giá được năng lực chất xám của đội ngũ cán bộ giảng dạy và nghiên cứu khi có xu hướng chuyên ngành hóa ngày càng sâu, phương pháp luận ngày càng đa dạng
(5) Chất lượng được đánh giá bằng “văn hoá tổ chức riêng”: Trường
ĐH có chất lượng cao nếu có được một truyền thống tốt đẹp về hoạt động không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo Quan điểm này được mượn từ lĩnh vực công nghiệp và thương mại nên khó có thể áp dụng trong lĩnh vực GDĐH
(6) Chất lượng được đánh giá bằng “kiểm toán”: Trường ĐH có chất lượng cao nếu kết quả kiểm toán chất lượng cho thấy nhà trường có thu thập
đủ thông tin cần thiết và những người ra các quyết định về có đủ thông tin cần thiết, sự hợp lý và hiệu quả của quá trình thực hiện các quyết định về chất lượng Điểm yếu của quan điểm này là sẽ khó lý giải những trường hợp khi một cơ sở ĐH có đầy đủ phương tiện thu thập thông tin, song vẫn có thể có những quyết định chưa phải là tối ưu
Trên cơ sở phân tích sáu quan điểm nêu trên, tác giả Nguyễn Đức Chính nêu rõ “chất lượng là một khái niệm tương đối, động, đa chiều” và
“chất lượng là sự phù hợp với mục đích - hay đạt được các mục đích đề ra trước đó” [8, tr 18]
Còn theo TS Tô Bá Trượng (Viện chiến lược và Chương trình giáo dục) thì chất lượng giáo dục đại học là chất lượng con người được đào tạo từ các hoạt động giáo dục Chất lượng ở đây phải được hiểu theo hai mặt của một vấn đề: Cái phẩm chất của con người gắn liền với người đó, còn giá trị của con người thì phải gắn liền với đòi hỏi của xã hội Theo quan niệm hiện
Trang 34đại, chất lượng giáo dục phải bảo đảm hai thuộc tính cơ bản: tính toàn diện và tính phát triển.[18]
Trong nghiên cứu này với mục đích tìm hiểu chất lượng hoạt động giảng dạy tại các trường, chúng tôi nghiêng về khái niệm của TS Tô Bá Trượng Chúng tôi nghiên cứu hai vấn đề liên quan là phẩm chất con người gắn với những đòi hỏi của xã hội, đánh giá qua con người, qua số lượng, qua hoạt động giảng dạy Các ảnh hưởng xã hội đó chúng tôi đo từ các chiều cạnh nhà trường, các yếu tố: cơ sở vật chất, tuyển sinh, nội dung, phương pháp giảng dạy, chất lượng sinh viên…
Đa ̣i ho ̣c là cơ sở giáo du ̣c đa ̣i ho ̣c bao gồm tổ hợp các trường cao đẳng,
trường đại học, viện nghiên cứu khoa học thành viên thuộc các lĩnh vực chuyên môn khác nhau, tổ chức theo hai cấp, để đào tạo các trình độ của giáo dục đại học[14, tr 2]
Mô hình đại học công lập: Cơ sở giáo dục đại học công lập thuộc sở
hữu nhà nước, do Nhà nước đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất[14, tr 3]
Mô hình đại học ngoài công lập hiện nay ở nước ta được phân chia
thành các trường dân lập và trường tư thục
Trường dân lập: do các tổ chức xã hội nghề nghiệp thành lập và cấp
vốn Nó không phải của Nhà nước cũng không phải của tư nhân thành lập nên gọi là dân lập
Trường tư thục: do một người hoặc một nhóm người thành lập Trong
đó bao gồm 2 loại: lợi nhuận và phi lợi nhuận: Trường lợi nhuận: Hoạt động như DN tư nhân do một người hoặc một gia đình thành lập Nếu do một nhóm người thành lập, trường hoạt động như công ty TNHH Trường này hoạt động trên cơ sở nếu có lãi sẽ chia cho các cổ đông và phải đóng thuế thu nhập DN trước khi chia lãi Mức thuế ưu đãi là 10% thay vì 25% theo quy định hiện hành Trường phi lợi nhuận: Nếu có lợi nhuận sẽ không đem chia mà tái đầu
Trang 35tư vào hoạt động giáo dục Những người đóng góp sẽ được hưởng lãi suất ưu đãi như lãi suất tiền gửi ngân hàng [18, tr 56]
Trong nghiên cứu này chúng tôi khảo sát những mô hình giáo dục ngoài công lập đại diện cho ba khu vực Bắc- Trung- Nam Tuy vậy, đa số các trường ĐH, CĐ ngoài công lập trong mẫu khảo sát đã có bề dày về đào tạo Chính vì vậy, những nội dung trong nghiên cứu chưa thể khái quát tất cả các đặc điểm về hoạt động giảng dạy tại các trường ĐH, CĐ trên cả nước, mà nó mang tính chất đại diện cho khu vực chúng tôi khảo sát Nhưng kết quả nghiên cứu hoàn toàn có thể là những số liệu xác đáng trong việc phân tích, so sánh với các khu vực tương đồng, hoặc so sánh với các vùng có đặc điểm kinh tế khác biệt
1.2 Các lý thuyết áp dụng
Lý thuyết cấu trúc – chức năng
Cấu trúc xã hội hay còn gọi là cơ cấu xã hội (social structure) được
hiểu: “là mô hình của các mối liên hệ giữa các thành phần cơ bản trong một
hệ thống xã hội Những thành phần này tạo nên bộ khung cho tất cả các xã hội loài người, mặc dầu tính chất của các thành phần và các mối quan hệ giữa chúng biến đổi từ xã hội này đến xã hội khác Những thành phần quan trọng nhất của cơ cấu xã hội là vị thế, vai trò, nhóm và các thiết chế…” [8,
tr.205] Trong khi đó: “chức năng là nhu cầu, lợi ích, sự cần thiết, sự đòi hỏi,
hệ quả, tác dụng mà một thành phần, bộ phận tạo ra hay thực hiện để đảm bảo sự tồn tại, vận động của cả hệ thống” [12, tr 201] Bản chất của thuyết
cấu trúc- chức năng đều nhấn mạnh tới tính ổn định và khả năng thích ứng của cấu trúc Xã hội là một hệ thống tương đối chặt chẽ được cấu thành từ nhiều hệ thống có mối quan hệ tác động và phụ thuộc lẫn nhau tạo nên sự ổn
định của cấu trúc xã hội: “Sự biến đổi của cấu trúc tuân theo quy luật tiến
hoá, thích nghi khi môi trường sống thay đổi; sự biến đổi của cấu trúc luôn
Trang 36hướng tới thiết lập lại trạng thái cân bằng, ổn định” [12, tr 199] Các tác giả
của trường phái cấu trúc-chức năng cũng đặc biệt đề cao vai trò của các yếu tố giá trị, chuẩn mực để góp phần duy trì tính ổn định và trật tự của cấu trúc Quan điểm lý thuyết cấu trúc- chức năng trong đề tài này được sử dụng nhằm: Thứ nhất, làm rõ, đánh giá cấu trúc hoạt động giảng dạy của các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập hiện nay Thứ hai, đánh giá mối quan hệ, vai trò của các giảng viên trong hoạt động giảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập hiện nay
Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý
Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý phát sinh từ kinh tế học cổ điển Nó được phát triển lên thành lý thuyết xã hội học nhờ công lao của James S Coleman Theo Coleman lý thuyết sự lựa chọn hợp lý là lý thuyết duy nhất có khả năng tạo ra một mô hình hoà hợp Coleman cho rằng cách tiếp cận này vận hành từ một nền tảng trong phương pháp luận của chủ nghĩa cá nhân và sử dụng thuyết sự lựa chọn hợp lý như là cơ sở cấp độ vĩ mô để lí giải các hiện tượng
vĩ mô Hai thành tố chủ chốt trong lý thuyết này là các tác nhân và các tiềm năng Coleman cho rằng các chủ thể hành động đều hướng đến một mục tiêu được hình thành bởi các giá trị hoặc sở thích Chủ thể hành động đó sẽ tối đa hoá các lợi ích hay sự thoả mãn các nhu cầu, mong muốn của mình Theo ông mỗi chủ thể hành động có nhiều tiềm năng và cách thức sử dụng tiềm năng khác nhau Điều đó ảnh hưởng đáng kể đến việc đạt được mục đích hành động của họ Ngoài các tiềm năng, chủ thể còn chịu ảnh hưởng của các thiết chế xã hội Tất cả những nhân tố đó đều quy định hành vi của cá nhân, quyết định sự lựa chọn hành vi của họ [11, tr 447]
Coleman lý luận rằng xã hội học phải tập trung vào các hệ thống xã hội, nhưng các hiện tượng vĩ mô như thế phải được lý giải bởi các yếu tố nội tại của chúng, nguyên mẫu là các cá thể Coleman nhận ra rằng trong thế giới
Trang 37thực tiễn mọi người không luôn luôn cư xử một cách hợp lý nhưng ông cảm thấy điều này gây rất ít khác biệt trong lý thuyết của ông: “Giả thiết có ngụ ý của tôi là các dự đoán về lý thuyết thực hiện ở đây cũng sẽ là như thế dù các actor hành động một cách chính xác theo sự hợp lý như thường thấy hoặc sai lệch theo các cách thức đã từng quan sát được” [11, tr 448]
Đưa ra định hướng của ông đối với các hành động hợp lý cá thể, kế tiếp trong phạm vi vấn đề vi mô – vĩ mô, Coleman tập trung vào các mối liên kết
vi mô – vĩ mô, hay cách thức kết hợp của các hành động cá thể đưa tới hành
vi của hệ thống Một bước chủ yếu trong sự vận động từ vi mô tới vĩ mô là việc ban thẩm quyền và các quyền lợi thuộc sở hữu của một cá thể cho các cá thể khác Hành động này có xu hướng dẫn tới sự phụ thuộc của một actor vào một actor khác Quan trọng, hơn nó tạo ra một hiện tượng vĩ mô cơ bản nhất - một đơn vị hành động bao gồm hai người hay đúng hơn là hai actor độc lập Các cấu trúc có tính chất kết quả thực hiện các chức năng một cách độc lập với các actor Thay vì tối đa hoá các quan tâm của riêng mình, trong trường hợp này một actor tìm cách nhận ra các quan tâm của actor khác, hay của đơn
vị tập thể độc lập Đây không chỉ là một thực tại xã hội khác biệt mà còn là một thực tại “có các thiếu sót đặc biệt và làm phát sinh các vấn đề đặc biệt” Đưa ra định hướng đã được vận dụng này, Coleman quan tâm tới sự chẩn đoán và giải pháp đối với vấn đề này [11, tr 449]
Trong mấy thập kỉ gần đây, lý thuyết sự lựa chọn hợp lý nhận được sự quan tâm của nhiều người Nó được phát triển mạnh khi các lý thuyết vĩ mô (thuyết xung đột, thuyết chức năng…) có những quan điểm không thống nhất được với nhau khi lý giải các vấn đề thuộc tầm vĩ mô của xã hội
Vận dụng lý thuyết lựa chọn hợp lý trong đề tài này chủ yếu tập trung
lý giải các ý kiến đánh giá của các giảng viên về hoạt động giảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập mà họ đang công tác Trên thực tế,
Trang 38sự đánh giá này dựa trên những tiêu chí mang tính phù hợp với những mục tiêu, mục đích của họ, cũng như những định hướng giá trị, chuẩn mực được
họ thừa nhận Thực tế, việc đánh giá của bản thân các giảng viên không chỉ dựa trên nhận thức, nhóm tiêu chí của bản thân họ đối với hoạt động giảng dạy mà còn những biến số khác như môi trường kinh tế - văn hoá – xã hội, hoàn cảnh sống cũng có những tác động lớn đến quá trình lựa chọn, đánh giá của họ Những yếu tố đó chính là những yếu tố tác động rất lớn đến việc đánh giá của các giảng viên
1.3 Một số vấn đề chung về sự phát triển của mô hình đào tạo đại học, cao đẳng ngoài công lập trên thế giới và Việt Nam
1.3.1 Một số đặc điểm chung về tình hình phát triển giáo dục đại học ngoài công lập trên thế giới
Chúng ta thấy rằng, mô hình đào tạo đại học ngoài công lập không phải
là mô hình hoạt động xa lạ trên thế giới Tuy vậy, ở từng quốc gia, khu vực hiện nay luôn có sự khác biệt rất lớn về số lượng, chất lượng giữa khu vực công và khu vực tư trong hệ thống giáo dục đại học Tại Mỹ tuy số lượng trường công chiếm tỷ lệ thấp hơn nhưng lại thu hút nhiều sinh viên hơn so với trường tư (42% và 79%) Trên 2000 trường đại học ngoài công lập ở Mỹ với mức độ rất khác nhau Nguồn tài chính chủ yếu phụ thuộc vào học phí để tồn tại Họ lập thành một bộ phận năng động trong hệ thống đại học Mỹ
Tại Pháp không có đại học ngoài công lập, tại Anh chỉ có duy nhất 1 trường Về cơ bản, rất nhiều chính phủ các nước đều có chính sách trợ cấp, hỗ trợ từ ngân sách đối với khu vực tư Mức hỗ trợ tối đa khoảng 30% chủ yếu cho các hoạt động chi thường xuyên, trang bị hệ thống cơ sở vật chất của các trường Trên thế giới nhóm các đại học hàng đầu đa số là các trường đại học
tư Thông thường những trường hàng đầu là những trường đại học không vì lợi nhuận Do đó, quy mô tuyển sinh của các trường này thường không cao
Trang 39nhưng lại có tính lựa chọn cao và chi phí đầu tư cao cũng vì thế nên sinh viên các trường này luôn được thị trường lao động chấp nhận Học phí đóng góp một phần lớn ngân sách cho các trường đại học tư trên thế giới, tuy nhiên mức thu về học phí không thể tăng lên vô hạn theo mong muốn của các đại học ngoài công lập Do vậy các trường này vẫn thường nhận được sự hỗ trợ về tài chính của nhà nước, hỗ trợ về chính sách như cho phép trường tự đưa ra mức học phí và cơ cấu sinh viên, ngành đào tạo, hoặc sinh viên các trường tư được vay tiền hoặc lĩnh học bổng
Thực tế, mô hình hoạt động của các trường đại học ngoài công lập tại một số quốc gia như Mỹ, Pháp…rất hiệu quả Ở Mỹ các trường đại học ngoài công lập được xếp hạng khác nhau Đầu bảng là các trường Harvard, Yale, Princeton, Stanford, Chicago, MIT (Massachsets Institut of Technology) và một vài trường khác Các trường đại học ngoài công lập tiên tiến như Amherst, Smith, Williamsva Swarthmore cũng có thể xếp vào loạt đầu Các trường đại học và cao đẳng này được chọn lựa kỹ càng và có nguồn vốn rất lớn Các trường đại học và cao đẳng có nguồn gốc tôn giáo được xếp hạng là Geortown, Notre Dame và đại học Boston cùng nhiều trường kinh thánh nhỏ
và các trường nghệ thuật thuộc cả Thiên chúa giáo và Tin lành Trong số đó
có nhiều trường đã tồn tại hàng trăm năm Cuối cùng là nhóm một ít các trường hoạt động vì lợi nhụận, đa số là các trường nhỏ và thường chỉ cấp chứng chỉ
Tuy nhiên, trong thời buổi cạnh tranh, các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập có nhiều tiềm năng lại đang nằm ở châu Á Một số nước như Nhật (457/662 trường đại học ngoài công lập chiếm 69%), Philippin (1113/1371 chiếm 81,18%) và Indonesia (1200/1253 đại học ngoài công lập chiếm 95,7%) hệ thống đại học ngoài công lập chiếm vị trí chủ yếu trong hệ thống giáo dục đại học Nói chung các trường công lập có chất lượng cao hơn
Trang 40nhưng một vài trường ngoài công lập cũng được xếp vào hạng đầu bảng Bộ phận đại học ngoài công lập cũng phát triển ở Thái Lan (46/70 đại học), Đài Loan và một số nước khác nữa Ở Malaysia tuy các trường công lập theo truyền thống luôn chiếm lĩnh hệ thống giáo dục đại học nhưng hiện nay hệ thống đại học ngoài công lập phát triển rất nhanh Ngay cả Trung Quốc và Việt Nam, hệ thống đại học ngoài công lập cũng đang phát triển Đã có trên
200 trường đại học ngoài công lập ở Trung Quốc mặc dù chỉ có một phần là được tổ chức bởi chính phủ Đa số các trường đại học ở Ấn Độ là đại học ngoài công lập và có nguồn gốc từ các trường công lập Khác với các nước khác, nguồn tài chính của các đại học ngoài công lập Ấn chủ yếu từ nguồn tài trợ của chính phủ Thái Lan tuy không hỗ trợ bằng ngân sách nhưng sử dụng các chính sách khác như miễn giảm thuế, trong đó Chính phủ có sự phân loại các cơ sở ngoài công lập để có sự hỗ trợ cụ thể, trong đó ưu tiên cho các trường ở khu vực nông thôn [18, tr 40]
1.3.2 Tình hình phát triển giáo dục đại học ngoài công lập tại Việt Nam
1.3.2.1 Một số quan điểm của Đảng, Nhà nước và Bộ GD& ĐT về sự phát triển giáo dục đại học ngoài công lập
Khi nói tới hệ thống giáo dục đại học ở nước ta hiện nay, bên cạnh sự phát triển của các trường đại học công lập, các trường đại học ngoài công lập
ở Việt Nam hiện nay cũng có những bước phát triển rất lớn Sự hình thành, và phát triển này dựa trên cơ sở những quan điểm, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước,
Bộ GD& ĐT về các trường ĐH, CĐ ngoài công lập Đại hội lần thứ X của Đảng đã xác định:
“Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục và đào tạo, rà soát sắp xếp lại mạng lưới trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề; đổi mới
cơ chế quản lý, nâng cao chất lượng các trường công lập và các trung tâm giáo dục cộng đồng, có lộ trình cụ thể chuyển một số cơ sở giáo dục, đào tạo