1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của công đoàn đối với quyền lợi người lao động trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh (Nghiên cứu trường hợp tại một số doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên

134 745 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 2,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những nhận định trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Vai trò của Công đoàn đối với quyền lợi người lao động trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh” với hy vọng qua nghiên cứu có thể nhận di

Trang 1

TRƯỜNG ĐAỊ HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA XÃ HỘI HỌC

Trương Ngọc Thắng

VAI TRÒ CỦA CÔNG ĐOÀN ĐỐI VỚI QUYỀN LỢI NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH

(Nghiên cứu trường hợp tại một số doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn Hà Nội)

Trang 2

TRƯỜNG ĐAỊ HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA XÃ HỘI HỌC

Trương Ngọc Thắng

VAI TRÒ CỦA CÔNG ĐOÀN ĐỐI VỚI QUYỀN LỢI NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH

(Nghiên cứu trường hợp tại một số doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn Hà Nội)

Trang 3

PHẦN MỘT: MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Việt Nam đang trong thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã xây dựng chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội Trong vòng hơn 20 năm thực hiện chính sách đổi mới và mở cửa, chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận trong tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội Từ một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung với hai thành phần chính là kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể, đến năm 1989, kinh tế ngoài quốc doanh ở Việt Nam được chính thức thừa nhận và nhanh chóng trở thành một bộ phận trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần của nước ta Sự ra đời của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đã góp phần quan trọng vào việc mở rộng giao lưu hàng hóa, khai thác những tiềm năng sẵn có để phát triển sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân, tạo đà cho nền kinh tế nước ta phát triển với tốc độ nhanh hơn

Hiện nay, việc phát triển mạnh các hình thức kinh tế ngoài quốc doanh là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước để nâng cao tính năng động và hiệu quả của các doanh nghiệp, nâng cao khả năng cạnh tranh và thích ứng với nền kinh tế thị trường, đó chính là động lực thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất hiện đại Đẩy mạnh kinh tế khu vực ngoài quốc doanh nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển về quy mô cũng như chất lượng hoạt động nhờ huy động được nguồn vốn của xã hội đang phân tán ở những tổ chức và cá nhân, là cơ sở để tập trung sử dụng vốn thống nhất Đẩy mạnh kinh tế khu vực ngoài quốc doanh nhằm đáp ứng được đòi hỏi của sự nghiệp Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá đất nước, phù hợp xu thế toàn cầu hoá Quá trình đổi mới, sắp xếp và CPH DNNN, thành lập các mô hình tập đoàn kinh tế, Công ty mẹ-con thì số DNNN giảm, DNNQD và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng nhanh Sự biến đổi đó kéo theo mối quan hệ Nhà nước, người sử dụng lao động, Công đoàn- đại diện cho người lao động cũng phải có sự biến đổi và phải được nhận diện trên cơ sở thực tiễn

Thực tế hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ở thành phố Hà Nội trong thời gian qua cho thấy đã có sự đóng góp to lớn vào sự nghiệp CNH, HĐH và phát triển kinh tế của Hà Nội nói riêng và cả nước nói

Trang 4

chung Đánh giá đúng vị trí, vai trò của nó, Đại hội lần thứ IX của Đảng đã coi kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một thành phần kinh tế, là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, được khuyến khích phát triển, hướng vào xuất khẩu, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội, gắn với thu hút công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều việc làm và đề ra nhiệm vụ cải thiện nhanh môi trường kinh tế và pháp lý để thu hút mạnh vốn đầu tư nước ngoài

Thời gian qua, mặc dù các doanh nghiệp khu vực ngoài quốc doanh

đã có những đóng góp lớn cho sự phát triển kinh tế xã hội; làm ra hơn 40% tổng sản phẩm xã hội, hơn 60% giá trị sản xuất công nghiệp và đóng góp đáng kể cho cho ngân sách Nhà nước Tuy nhiên, các doanh nghiệp ở khu vực này hầu hết có quy mô nhỏ, vốn ít Số doanh nghiệp có vốn dưới 5 tỷ đồng chiếm trên 95%, số doanh nghiệp có vốn trên 10 tỷ đồng và sử dụng

từ 200 lao động trở lên chỉ chiếm khoảng 2% [Niên giám thống kê, Nxb Thống kê, Hà Nội.2006]

Số lượng doanh nghiệp có nhiều biến động, sự biến động này có nhiều nguyên nhân khác nhau; rủi ro trong cạnh tranh hoặc làm ăn thua lỗ,

bị phá sản Thậm chí còn có nhiều doanh nghiệp gian lận trong đăng ký và hoạt động không theo pháp luật Công tác quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp sau khi được cấp phép hoạt động chưa chặt chẽ Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải cạnh tranh mạnh mẽ, người lao động phải làm việc với cường độ cao, những tiêu cực và tệ nạn không thể ngăn chặn ngay được; Nhiều doanh nghiệp không ký hợp động lao động với người lao động, trốn tránh nộp bảo hiểm xã hội cho người lao động, quyền lợi của người lao động bị vi phạm

Việc Việt Nam đã chính thức bước vào hội nhập kinh tế quốc tế Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang diễn ra với tốc độ nhanh, sự cạnh tranh trong nước và quốc tế ngày càng gay gắt, trong khi đó năng suất lao động trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn thấp, dẫn đến khả năng cạnh tranh còn hạn chế, trình độ chuyên môn của phần lớn người lao động còn thấp, ý thức tổ chức kỷ luật chưa cao, tác phong công ngiệp chưa định hình rõ và nguy cơ doanh nghiệp phá sản, người lao động mất việc làm ngày càng ra tăng, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến người lao động, đến sự

Trang 5

di động lao động

Có thể thấy rằng quá trình hội nhập kinh tế sẽ thu hút ngày càng nhiều đầu tư nước ngoài, góp phần giải quyết việc làm cho người lao động Đến cuối 2006, Việt Nam đã cấp giấy phép cho trên 8.056 dự án đầu tư, hiện 7.078 dự án còn hiệu lực, với số vốn trên 66,7 tỉ USD, vốn thực hiện trên 33,3 tỉ USD, giải quyết việc làm cho hơn 1,2 triệu LĐ1

Khu vực đầu tư nước ngoài còn giải quyết việc làm cho hàng chục ngàn lao động vệ tinh Theo nghiên cứu của nhóm công tác về phát triển nguồn lực APEC, dưới tác động của tự do hoá thương mại, tiền lương thực

tế của CNLĐ Việt Nam tăng lên từ 23 - 24%

Tuy nhiên chính toàn cầu hoá và hội nhập cũng đưa đến cho người lao động những gánh nặng Đầu tiên là tỉ lệ mất việc làm có thể gia tăng ở một số ngành; CNLĐ phải đương đầu với sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường lao động khu vực và quốc tế; người lao động phải chịu áp lực lớn về cường độ lao động

Thực tế cho thấy, trước Những tranh chấp lao động hiện nay tại các doanh nghiệp (tập trung vẫn là khu vực kinh tế ngoài quốc doanh) dẫn đến các cuộc đình công của tập thể người lao động ngày càng tăng Theo thống

kê của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, từ năm 1995 đến tháng 12 năm

2006, cả nước có khoảng trên 1000 cuộc đình công lớn nhỏ Bình quân mỗi năm có gần 100 cuộc đình công Tất cả các cuộc đình công đều không tuân thủ đúng trình tự quy định của pháp luật

Đứng trước thực tế đó, hàng loạt các câu hỏi được đặt ra: thực trạng quyền lợi người lao động như thế nào? Ai là người bảo vệ quyền lợi cho người lao động? Quyền lợi của người lao động được bảo vệ như thế nào? Nhà nước, Công đoàn- đại diện cho người lao động có vai trò như thế nào đối với việc bảo vệ quyền lợi người lao động? Có mối liên hệ nào giữa Nhà nước, thông qua cơ chế, chính sách, doanh nghiệp và Công đoàn, đại diện cho người lao động đối với việc đảm bảo quyền lợi người lao động không? Để trả lời được những câu hỏi trên, vấn đề quyền lợi của người lao động phải được nhìn nhận một cách tổng thể trong mối quan hệ giữa

1 http://www.laodong.com.vn/Home/congdoan/hoatdong/2007/5/36280.laodong

Trang 6

doanh nhiệp, các thiết chế và Công đoàn

Từ những nhận định trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Vai trò của Công đoàn đối với quyền lợi người lao động trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh” với hy vọng qua nghiên cứu có thể nhận diện được một cách khoa học về thực trạng hoạt động của Công đoàn nói chung và hoạt động bảo vệ quyền lợi người lao động nói riêng, đồng thời chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động bảo vệ quyền lợi người lao động của Công đoàn trong giai đoạn hiện nay nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động bảo vệ quyền lợi người lao động của Công đoàn cơ sở trong loại hình kinh tế này

2 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nghiên cứu

2.1.Ý nghĩa lý luận

Nghiên cưu này không nhằm đưa ra những luận điểm bổ sung cho lý thuyết xã hội học mà nhằm làm rõ chúng trong những phát hiện bằng nghiên cứu thực nghiệm của mình

Người lao động, tổ chức Công đoàn và chủ doanh nghiệp phải là một khối thống nhất trong một cơ cấu nội tại của doanh nghiệp thì quyền lợi của người lao động mới được bảo vệ Mỗi một yếu tố này nếu không thực hiện tốt vai trò của mình trong từng vị trí của nó trong doanh nghiệp thì quyền lợi của người lao động cũng không được bảo vệ Điều này được chỉ rõ trong

lý thuyết vai trò và lý thuyết cơ cấu chưc năng Trong nghiên cứu này, tác giả đã làm rõ được nội dung này

Quyền lợi của người lao động và chủ doanh nghiệp sẽ không mâu thuẫn với nhau nếu hai bên lựa chọn những hành động phù hợp với lợi ích của hai bên trong các hoạt động lao động của mình Tổ chức Công đoàn mà đại diện là các cán bộ Công đoàn cơ sở, một bên trung gian, có vai trò làm cho lợi ích của hai bên phù hợp với nhau và với các Luật định Nội dung này phù hợp với luận điểm về sự phù hợp và cân bằng giữa các lợi ích của các chủ thể trong tương tác xã hội

2.2 Ý nghĩa thực tiễn

Thông qua nghiên cứu trường hợp hai doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và một số doanh nghiệp ngoài quốc doanh khác trên địa bàn Hà Nội, luận văn chỉ ra thực trạng quyền lợi người lao động; Vai trò của tổ

Trang 7

chức Công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi người lao động và những yếu

tố tác động đến hoạt động bảo vệ quyền lợi người lao động trong loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong giai đoạn hiên nay

Trên cơ sở những phát hiện và phân tích, luận văn đưa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao vị trí, vai trò của tổ chức Công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi người lao động, nâng cao đời sống người lao động trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh góp phần vào mục tiêu phát triển kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng và Nhà nước ta

3 Đối tượng, khách thể và phàm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vai trò của tổ chức Công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi người lao động

3.2 Khách thể và phạm vi nghiên cứu

3.2.1 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động của Công đoàn cơ sở trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn Hà Nội, Pháp luật lao động, Luật Công đoàn, đội ngũ cán bộ Công đoàn cơ sở, chủ doanh nghiệp và người lao động trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn Hà Nội là khách thể nghiên cứu của đề tài

3.2.2 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: Luận văn được tiến hành nghiên cứu tại hai doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và một số doanh nghiệp ngoài quốc doanh khác trên địa bàn Hà Nội

Về thời gian: Luận văn tiến hành nghiên cứu những vấn đề thuộc đối tượng nghiên cứu từ năm 2000 đến nay

Về nội dung: Luận văn tập trung làm rõ vai trò của Công đoàn cơ sở đối với quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng của người lao động trong một

số doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn Hà Nội Vấn đề quyền lợi người lao động là một vấn đề rộng, vì vậy, luận văn giới hạn tìm hiểu vai trò của Công đoàn với việc bảo vệ quyền lợi về hợp đồng lao động, về thời gian làm việc, lương, thưởng, an toàn lao động, điều kiện làm việc và việc

Trang 8

thực hiện một số chế độ chính sách đối với người lao động

Trong nghiên cứu này, vai trò của Công đoàn được tìm hiểu không phải thông qua tổ chức Công đoàn cơ sở mà qua việc tìm hiểu vai trò của cán bộ Công đoàn cơ sở

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

4.1 Mục đích nghiên cứu:

Làm sáng tỏ thực trạng quyền lợi người lao động và hoạt động bảo vệ quyền lợi người lao động của Công đoàn cơ sở trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn Hà Nội Đồng thời chỉ ra những yếu tố tác động đến hoạt động của Công đoàn trong loại hình doanh nghiệp này

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

1) Chỉ rõ việc sử dụng các khái niệm công cụ và các luận điểm của lý thuyết xã hội học làm cơ sở lý luận cho nghiên cứu;

2) Khái quát một số đặc điểm cơ bản của hai doanh nghiệp lựa chọn Những đặc điểm này làm cơ sở thực tiễn cho việc phân tích các kết quả nghiên cứu;

3) Mô tả và chỉ rõ những biểu hiện của một số quyền lợi của ngưòi lao động trong các doanh nghiệp nghiên cứu cũng như những doanh nghiệp đối chứng thông qua các vấn đề về hợp đồng lao động, thoả uớc lao động tập thể, các điều kiện làm việc ;

4) Phân tích vai trò của tổ chức Công đoàn thông qua các nhận định của người lao động và cán bộ Công đoàn cơ sở đối với các hoạt động bảo vệ quyền lợi người lao động của các cán bộ Công đoàn cơ sở;

5) Xác định những yếu tố tác động đến hoạt động bảo vệ quyền lợi người lao động của Công đoàn;

6) Khuyến nghị những giải pháp, chính sách hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động bảo vệ quyền lợi người lao động trong tình hình hiện nay

5 Giả thuyết nghiên cứu

- Trong một số doanh nghiệp ngoài quốc doanh, một số quyền lợi của người lao động bị vi phạm Nhận thức của chủ doanh nghiệp về Luật lao

Trang 9

động chưa đầy đủ và hoạt động của Công đoàn cơ sở chưa hiệu quả là nguyên nhân dẫn đến quyền lợi người lao động chưa được đảm bảo

- Đội ngũ cán bộ Công đoàn trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh có vai trò rất lớn đối với việc bảo vệ quyền lợi của người lao động Tuy nhiên

họ vẫn chưa thể hiện đầy đủ vai trò của mình

- Trình độ của cán bộ Công đoàn, nhận thức của họ về vai trò của Công đoàn, nhận thức của người lao động về luật lao động là những nhân tố ảnh hưởng đến việc bảo vệ quyền lợi người lao động trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn Hà Nội

Quá trình nghiên cứu sẽ chứng minh, khẳng định hoặc bác bỏ giả thuyết

nghiên cứu

Trang 10

6 Sơ đồ khung phân tích

ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ –

CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI HÀ

NỘI

QUYỀN LỢI NGƯỜI LAO ĐỘNG

VAI TRÒ ĐỘI NGŨ CÁN

BỘ CÔNG ĐOÀN CƠ

AN TOÀN LAO ĐỘNG, ĐIỀU KIỆN LÀM VIỆC

LUẬT LAO ĐỘNG, LUẬT CÔNG ĐOÀN

DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH

KHUYẾN NGHỊ

Trang 11

Phân tích vai trò Công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi người lao động trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh được đặt trong mối quan hệ giữa trách nhiệm của chủ doanh nghiệp, những hoạt động Công đoàn của cán bộ Công đoàn cơ sở và việc thực hiện nghĩa vụ lao động của người lao động Ba yếu tố ”vai trò của Công đoàn”, ”trách nhiệm của chủ doanh nghiệp” và ”quyền lợi người lao động” luôn gắn bó chặt chẽ với nhau Lợi ích của chủ doanh nghiệp phải thống nhất với quyền lợi của người lao động Công đoàn cơ sở có trách nhiệm điều hoà mối quan hệ của hai lợi ích này Một điều quan trọng cần phải tính đến nữa là cơ sở của việc phân tích trách nhiệm của chủ doanh nghiệp, quyền lợi người lao động và vai trò Công đoàn cơ sở đều dựa trên các điều khoản của Luật lao động và Luật Công đoàn Các điều Luật này, khi đó vừa là yếu tố tác động vừa là cơ sở để phân tích sự biểu hiện của mối quan hệ trên

Đặc điểm kinh tế xã hội của thành phố Hà Nội và của một số doanh nghiệp ngoài quốc doanh được lựa chọn, nhận thức của người lao động và cán bộ Công đoàn cơ sở là những yếu tố ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động

Vấn đề trung tâm của nghiên cứu là ”quyền lợi của người lao động” Quyền lợi của người lao động có được đảm bảo hay không, phụ thuộc vào tác động của tổ chức Công đoàn đến việc thực hiện Luật lao động

và Luật Công đoàn của chủ doanh nghiệp

Nghiên cứu này cụ thể hoá quyền lợi của người lao động trên ba nhóm khía cạnh: nhóm thứ nhất bao gồm việc thực hiện hợp đồng lao động

và thoả ước lao động tập thể giữa chủ doanh nghiệp và người lao động, nhóm thứ hai gồm chế độ lương, thưởng và thời gian làm việc của người lao động, nhóm thứ ba gồm điều kiện làm việc và an toàn lao động Việc đảm bảo quyền lợi của người lao động đồng nghĩa với việc đảm bảo ba nhóm khía cạnh này Mức độ quyền lợi của người lao động được đảm bảo cao hay thấp sẽ phụ thuộc vào vai trò của tổ chức Công đoàn

Trang 12

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp luận chung

Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử đóng vai trò là nền tảng, là cơ sở phương pháp luận của toàn bộ quá trình nghiên cứu Nguyên tắc lịch sử cụ thể, khách quan, toàn diện luôn được quan tâm vận dụng và tuân thủ một cách chặt chẽ Trong nghiên cứu, luận văn cũng sử dụng một số lý luận của xã hội học là cơ sở phương pháp luận

Một số nguyên tắc về cơ sở lý luận được vận dụng trong nghiên cứu

này

+ Cơ cấu xã hội, những qui luật vận động và phát triển của xã hội là đối tượng nghiên cứu của xã hội học phải được xem xét như nó đang tồn tại, đang thể hiện chứ không phải theo ý kiến chủ quan của người nghiên cứu

+ Các hiện tuợng, qui luật của xã hội cần được xem xét như nó đang xảy ra một cách bình thường: có nghĩa là các nghiên cứu xã hội học không phải hướng tới các hiện tượng ngẫu nhiên, bất thường, không bản chất

+ Quá trình nhận thức trong xã hội học không chỉ dừng lại bên ngoài

sự vật và hiện tượng mà cần nhận thức được bản chất bên trong cũng như qui luật khách quan của nó

+ Những hiện tượng xã hội cần phải được xem xét trong mối quan hệ phụ thuộc nhau, phải chỉ ra vai trò của từng yếu tố trong mối quan hệ đó

+ Các nghiên cứu xã hội học thực nghiệm phải được xuất phát từ thực tế lịch sử của mỗi xã hội cụ thể

+ Sự hình thành, biến đổi và phát triển của sự vật hiện tượng phải được phân tích trên những cơ sở kinh tế văn hoá xã hội nhất định trong tính biện chứng và duy vật của nó

Nghiên cứu này phải được đặt trong bối cảnh của sự phát triển kinh tế của đất nước cũng như sự phát triển của các doanh nghiệp trong và ngoài quốc doanh

Vai trò của Công đoàn cơ sở trong việc bảo vệ quyền lợi người lao

Trang 13

động luôn phải được xem xét trong mối quan hệ biến chứng với các luật định (Luật lao động, luật Công đoàn) và với trách nhiệm của chủ doanh nghiệp

Quyền lợi của người lao động luôn phải được phân tích trong tính hợp lý qua các văn bản khế ước của người lao động với chủ doanh nghiệp

Công đoàn cơ sở phải đuợc xem như cầu nối giữa chủ doanh nghiệp

và người lao động, trong việc phân tích Công đoàn như một bên đại diện cho người lao động khi làm việc với chủ doanh nghiệp

Trong nghiên cứu này, những nguyên tắc rút ra từ chủ nghĩa duy vật biện chứng cũng được vận dụng để xác định và thu thập thông tin có tính hiệu lực có độ chính xác cao

7.2 Phương pháp thu thập thông tin

Trên cơ sở lý thuyết Mác -Lê nin về Công đoàn, lý thuyết Chức năng

cơ cấu, và lý thuyết Lựa chọn hợp lý và một số khái niệm, trong nghiên cứu của mình, để hoàn thành luận văn, tác giả sử dụng kết hợp nhiều phương pháp và kỹ thuật khác nhau của xã hội học Vừa nghiên cứu tài liệu sẵn có vừa nghiên cứu điều tra mẫu kết hợp với phương pháp phỏng vấn sâu và phỏng vấn nhóm tập trung

7.2.1 Phương pháp trưng cầu ý kiến

Phiếu trưng cầu được xây dựng trên cơ sở của nội dung nghiên cứu, bao gồm các câu hỏi liên quan đến nội dung nghiên cứu; về hình thức và hiệu quả hoạt động của Công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi người lao động, về nhận thức của người sử dụng lao động về Công đoàn, trách nhiệm

xã hội của doanh nghiệp đối với quyền lợi của người lao động

Đơn vị nghiên cứu là người lao động, đội ngũ cán bộ Công đoàn tại hai doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và một số doanh nghiệp ngoài quốc doanh khác trên địa bàn Hà Nội

7.2.2 Phương pháp phỏng vấn sâu

Phương pháp này được sử dụng thu thập thông tin định tính nhằm tìm hiểu sâu và khẳng định cho hệ thống thông tin thu được qua phương pháp trưng cầu ý kiến Các vấn đề không trực tiếp thu nhận được trong phiếu trưng cầu ý kiến được tác giả đưa vào nội dung của các phỏng vấn sâu

Trang 14

7.2.3 Phương pháp thảo luận nhóm tập trung

Thảo luận nhóm tập trung để thu thập thông tin ban đầu phục vụ cho việc xây dựng đề cương nghiên cứu, thiết lập phiếu trưng cầu và đề cương phỏng vấn sâu Cuộc toạ đàm này được thực hiện vào thời gian đầu của giai đoạn của nghiên cứu Các thành viên tham gia cuộc toạ đàm bao gồm một

số cán bộ Công đoàn, cán bộ quản lý

7.2.4 Phân tích tài liệu

Đề tài sử dụng một số tài liệu đó là kết quả khảo sát, các bài viết trên sách, báo và tạp chí chuyên ngành, các công trình nghiên cứu trước, một số trang Web của chính phủ Các thông tin thu thập từ tài liệu được kế thừa

và sử dụng một cách có chọn lọc, sáng tạo

7.3 Phương pháp chọn mẫu

Trong nghiên cứu này, phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên và phi ngẫu nhiên được sử dụng kết hợp để lựa chọn những thông tin có tính đại diện

Phương pháp chọn mẫu phi ngẫu nhiên được sử dụng để chọn hai doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và một số doanh nghiệp ngoài quốc doanh khác trên địa bàn Hà Nội

Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên được vận dụng để chọn dung lượng mẫu cần thiết, đáp ứng yêu cầu cầu tính đại diện trong những doanh nghiệp đã được chọn phi ngẫu nhiên

Để thuận lợi cho việc so sánh, làm rõ vai trò của Công đoàn, luận văn đã tiến hành chọn mẫu theo hai giai đoạn

Giai đoạn một được tiến hành chọn ngẫu nhiên trong hai doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; Công ty liên doanh Khách sạn TNHH Hà Nội và Công ty liên doanh TNHH Ô tô Hòa Bình Để thuận lợi cho quá trình phân tích, so sánh, những trường hợp được chọn trong giai đoạn một được qui định là mẫu1

Giai đoạn hai được tiến hành chọn ngẫu nhiên trong một số doanh nghiệp ngoài quốc doanh khác trên địa bàn Hà Nội, qui định là mẫu 2

Trang 15

Tổng số trường hợp được chọn là 651; Bao gồm người lao động, cán bộ Công đoàn (họ vừa là người lao động, vừa tham gia hoạt động Công đoàn)

7.4 Kỹ thuật xử lý thông tin

Phần mềm SPSS và phần mềm NVIVO được sử dụng để xử lý, tổng hợp và phân tích thông tin định lượng, thông tin định tính

Các mô hình thống kê đơn biến, đa biến, kỹ thuật hồi qui, mô hình logistic, phương pháp kiểm định mức ý nghĩa đã được sử dụng để xử lý và phân tích thông tin định lượng Trong nghiên cứu này, mức ý nghĩa thống

kê được xác định với tất cả các kiểm định là 0.05

Phân tích theo ngữ nghĩa, sự liên kết các cấu trúc đã được sử dụng để

xử lý và phân tích thông tin định tính

8 Kết cấu của luận văn: Luận văn gồm 3 phần

Phần một: Mở đầu, gồm 13 trang; từ trang 1 đến trang 13

Phần hai: Nội dung, gồm 93 trang; từ trang 14 đến trang 107

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài (Từ trang 14 đến trang 43)

Chương 2: Vai trò của Công đoàn đối với quyền lợi người lao động trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh (Từ trang 44 đến trang 107)

Phần ba: Kết luận và khuyến nghị (Từ trang 108 đến trang 113)

Trang 16

PHẦN HAI: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Kể từ khi ra đời cho đến nay, trong gần 80 năm hoạt động, tổ chức Công đoàn Việt Nam luôn có vị trí xứng đáng trong xã hội, trong sự nghiệp cách mạng của giai cấp và của dân tộc Lịch sử đã chứng minh và khẳng định những thành tựu của Công đoàn gắn liền với sự nghiệp vẻ vang, oanh liệt của Đảng và nhân dân Việt Nam

Trong nền kinh tế hiện nay, tổ chức Công đoàn đã không ngừng tìm tòi, đúc kết những kinh nghiệm trong hoạt động thực tiễn để tự đổi mới tổ chức mình Góp phần vào sự thắng lợi của công cuộc đổi mới ở nước ta do Đảng khởi xướng và lãnh đạo

Nhìn chung, nghiên cứu về phong trào công nhân và tổ chức Công đoàn, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu trong phạm vi khác nhau, với những mức độ khác nhau

Trên thế giới: tại Liên bang Nga, trong công trình nghiên cứu của PGS TS Anhiusin S.V Phó Viện trưởng Học viện Lao động và quan hệ xã hội thuộc Trung ương các Công đoàn độc lập Liên bang Nga đã đề cập đến

“Vai trò của tổ chức Công đoàn trong việc giải quyết các vấn đề kinh tế –

xã hội” Qua tác phẩm này, tác giả đã đánh giá tổ chức hoạt động Công đoàn ở Liên bang Nga hiện nay là vừa tiến hành thử nghiệm, vừa khắc phục sai sót

Ở Trung Quốc cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu về vai trò và hoạt động của tổ chức Công đoàn, trong số những công trình nghiên cứu về Công đoàn phải kể đến tác phẩm "Kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa và Công đoàn" đã được dịch ra tiếng việt - Nhà xuất bản Lao động Tác phẩm

đã đề cập tới những vấn đề liên quan đến Công đoàn, đến giai cấp công nhân Trong đó, đặc biệt quan tâm đến vấn đề quan hệ lao động trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh và những hoạt động Công đoàn trong loại hình doanh nghiệp này

Ở Việt Nam: có thể kể đến một số tác phẩm như: "Hoạt động Công

Trang 17

đoàn trong giai đoạn mới" của tác giả Hoàng thị Khánh Tác Phẩm "Đổi mới nội dung tổ chức Cán bộ và phương thức hoạt đông Công đoàn trong giai đoạn hiện nay" của tác giả Vũ Oanh

Đề tài cấp Nhà nước KX05- 10: "Vị trí, tính chất hoạt động của Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể, tổ chức xã hội trong hệ thống chính trị thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội " do Nguyễn Viết Vượng làm chủ nhiệm đề tài, nghiệm thu năm 1995 Đề tài đã khái quát thực trạng các đoàn thể, tổ chức xã hội, trong đó vấn đề tổ chức Công đoàn được đặc biệt quan tâm Cụ thể là vấn đề giai cấp công nhân và điều kiện hoạt động sản xuất công nghiệp

Năm 1996, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam do Viện Friedrich –

Ebert- Stiftung (FES) tài trợ đã tiến hành khảo sát về nội dung “Điều kiện lao động và xã hội ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, công tác Công đoàn trong việc đại diện quyền lợi cho người lao động” Cuộc khảo sát này

đã quan tâm tới vấn đề tiền lương, thời gian lao động, thời gian nghỉ ngơi, bảo hộ lao động, Bảo hiểm xã hội và vai trò của tổ chức công đoàn trong khu vực kinh tế này

Năm 1999 Liên đoàn Lao động thành phố Hà Nội đã có đề tài nghiên cứu “Về vai trò của Công đoàn cơ sở trong việc giải quyết tranh chấp lao động, hạn chế đình công chưa đúng pháp luật” Đề tài được nghiên cứu trong phạm vi Hà Nội nhưng đã đề cập đến một số vấn đề mang tính cấp bách trong hoạt động Công đoàn giai đoạn hiện nay Các tác giả đã làm rõ một số vấn đề lý luận chung về đình công và quyền đình công của công nhân lao động và tổ chức Công đoàn Đồng thời chỉ ra nguyên nhân của đình công, hậu quả kinh tế, chính trị, xã hội của đình công và trách nhiệm của Công đoàn với vấn đề giải quyết tranh chấp lao động, hạn chế đình công không đúng pháp luật

Nội dung cuốn sách “Bác Hồ với Trường Đại học Công đoàn”, Nguyễn Viết Vượng chủ biên, Nxb Lao động, 2001 đã nhắc lại lời dạy của Bác Hồ về việc cần phải giữ gìn quyền lợi cho công nhân, lợi ích của công nhân đi đôi với lợi ích chung của nhà máy Nếu đời sống cải thiện và mọi người được khỏe mạnh, thì sẽ phấn khởi thi đua sản xuất làm cho nhà máy

Trang 18

thu được nhiều kết quả “Nếu nhà máy phát triển thì có khả năng để cải thiện đời sống của công nhân và nhân viên”

- “Đổi mới tổ chức và hoạt động Công đoàn trong giai đoạn mới” Nxb Lao động, 1992, của tác giả Hoàng Thị Khánh đã nêu lên sự cần thiết phải đổi mới hoạt động của Công đoàn, trong đó, tác giả đã nhấn mạnh chức năng tham gia quản lý và điều hành xã hội, kiểm tra và giám sát hoạt động của Nhà nước, để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của CNVCLĐ

Bài “Giai cấp công nhân Việt Nam thực trạng và các biện pháp nâng cao chất lượng” của tác giả Lê Thanh Hà trong Thông tin khoa học, số 33 tháng 02 năm 2003 của Trường Đại học Công đoàn đã trích dẫn số liệu thống kê của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam: Năm 2001 đội ngũ công nhân, viên chức và lao động có trên 7 triệu người, chiếm 9% dân số, 16% lực lượng lao động xã hội Lương bình quân của công nhân trong doanh nghiệp Nhà nước năm 2001 là: 950.000đ/ tháng, có 90% công nhân trong các doanh nghiệp Nhà nước ký hợp đồng lao động, đời sống vật chất và tinh thần được cải thiện Đồng thời, tác giả đưa ra giải pháp để nâng cao chất lượng giai cấp công nhân Việt Nam trong tình hình hiện nay là: Thực hiện đúng và đầy đủ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với giai cấp công nhân, người lao động Chủ trương của Đảng ta đối với CNVCLĐ

là tạo nhiều việc làm, cải thiện điều kiện làm việc, thực hiện vệ sinh an toàn lao động, hạn chế thấp nhất tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp… Mặt khác phải “phát huy vai trò của Công đoàn trong việc tập hợp, giáo dục công nhân lao động với nhiệm vụ căn bản là: chăm lo đến đời sống công nhân lao động, đứng về phía người lao động để bảo vệ lợi ích chính đáng cho họ

Năm 2000, Bộ Lao động thương binh và xã hội đã có Dự án nghiên cứu về “Tác động xã hội của việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, đối với người lao động” Sau khi mô tả thực trạng cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, thực trạng lao động việc làm của doanh nghiệp Nhà nước đã cổ phần hóa và tác động của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đối với người lao động Dự án đưa ra những ý kiến kết luận và khuyến nghị phù hợp liên quan đến việc làm, đời sống của công nhân, lao động nhằm đẩy nhanh tiến

Trang 19

độ cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước

Cũng trong năm 2000, Trường Đại học Công đoàn thực hiện đề tài:

“Đào tạo, bồi dưỡng Cán bộ Công đoàn” do Nguyễn Viết Vượng làm chủ nhiệm đề tài Qua đề tài cho thấy rõ vấn đề đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán

bộ Công đoàn là vấn đề cực kỳ quan trọng trong giai đoạn hiện nay

Năm 2002, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã nghiệm thu đề tài

“Tổ chức và hoạt động Công đoàn trong các Công ty cổ phần ở Việt Nam”

do trường Đại học Công đoàn thực hiện Đề tài đã đánh giá được thực trạng

về tình hình tổ chức và hoạt động Công đoàn trong các Công ty cổ phần và

để xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Công đoàn cơ

cơ sở trong tình hình mới”; “Công đoàn với phong trào thi đua trong công nhân, viên chức, lao động thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”

Gần đây nhất, năm 2006, đề tài “Hoạt động Công đoàn trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn Hà Nội” Do Nguyễn Viết Vượng làm chủ biên đã được Nhà xuất bản Lao động xuất bản Trong công trình này, nhóm tác giả đã chỉ ra những hoạt động cần thiết của Công đoàn trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh và đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả của hoạt động Công đoàn trong loại hình kinh tế này

Như vậy có thể thấy có rất nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập đến những vấn đề về công nhân, Công đoàn Nhìn chung những nghiên cứu này đều hướng đến mục đích là góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả

Trang 20

hoạt động Công đoàn nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của người lao động, hướng tới sự phát triển kinh tế - xã hội theo hướng ổn định, vững chắc

Tiếp tục và kế thừa các công trình nghiên cứu, các đề tài, dự án trên, thông qua phân tích tài liệu và tiến hành nghiên cức một số doanh nghiệp ngoài quốc doanh và đặc biệt là nghiên cứu trường hợp hai doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn Hà Nội, luận văn muốn làm rõ thực trạng quyền lợi người lao động, thông qua đó xem xét vai trò của Công đoàn đối với việc bảo vệ quyền lợi người lao động, những yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động bảo vệ quyền lợi người lao động trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, trong quá trình đẩy mạnh sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá Đây là một đề tài mới và khó, hy vọng sẽ đóng góp một số vấn đề về lý luận và thực tiễn đối với Cán bộ Công đoàn trong giai đoạn hiện nay

1.2 Lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu

1.2.1 Lý thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Công đoàn

Lý thuyết về Công đoàn gắn liền với lý thuyết của Mác, Ănghen và Lênin về công nhân

Một trong những vấn đề quan trọng nhất của lý thuyết của Lênin về Công đoàn là bảo vệ lợi ích của người lao động

Chính sách kinh tế mới do Lênin đề xướng đã mang lại hàng loạt những biến đổi quan trọng về nội dung, hình thức và phương pháp thực hiện một chức năng nữa của Công đoàn là gắn liền với việc bảo vệ lợi ích kinh

tế, các quyền của công nhân viên chức, việc quan tâm đến điều kiện làm việc và sinh hoạt của họ

Lênin từng nhấn mạnh: Công đoàn có trách nhiệm bảo vệ lợi ích của người lao động theo ý nghĩa đúng đắn và trực tiếp của từ đó Bằng cách thường xuyên và không ngừng sửa chữa những thiếu sót và sự cường điệu vấn đề của cán bộ phụ trách, đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu trong công tác của các cơ quan kinh tế và bộ máy quản lý Nhà nước, tuỳ khả năng cho phép, Công đoàn cần tạo mọi điều kiện để cải thiện điều kiện làm việc

Trang 21

và sinh hoạt của công nhân viên chức, nâng cao phúc lợi vật chất của họ Việc Công đoàn thực hiện chức năng bảo vệ ở các xí nghiệp Nhà nước tuyệt nhiên không mang và không thể mang tính chất đấu tranh giai cấp về mặt kinh tế Như vậy, có thể thấy việc vận dụng những luận điểm của Mác, Ăngghen và Lênin trong nghiên cứu này là điều đặc biệt có ý nghĩa

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Công đoàn

Tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin ngay từ những năm 20 của thế kỷ XX, Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại và kính yêu của dân tộc Việt Nam

đã khẳng định giai cấp công nhân Việt Nam là lực lượng tiên tiến lãnh đạo cách mạng Việt Nam Người hết sức quan tâm đến phong trào Công đoàn ngay từ thời kỳ sơ khai, với tên gọi là Công hội đỏ Hồ Chí Minh là người đặt nền móng cho tổ chức Công đoàn Việt Nam Điều đó thể hiện ở các hoạt động của Người từ nước ngoài

Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức quan tâm đến người lao động về mọi mặt Sinh thời, khi đi thăm các cơ sở sản xuất, nhất là các xí nghiệp, Người thường xem xét nơi ăn, chốn ở của công nhân Đó là sự thể hiện tinh thần hết sức thiết thực, cụ thể trong quan điểm vì con người của vị lãnh tụ tối cao đối với công nhân, lao động Tinh thần đó cũng được thể hiện thường xuyên trong các bài nói, bài viết của Người Tháng 1 năm 1957, thăm Trường cán

bộ Công đoàn Trung ương, sau khi nhắc nhở phải giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa, đạo đức cách mạng, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, Người nhấn mạnh: “Mục đích của Công đoàn là phải cải thiện đời sống công nhân, nâng cao đời sống vật chất, văn hoá của giai cấp công nhân nói riêng và nhân dân nói chung” [Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr568]

Tư tưởng Hồ Chí Minh về công nhân, Công đoàn đã khẳng định vị thế của tổ chức Công đoàn trong xã hội; Là một lực lượng không thể thiếu trong mọi giai đoạn của Đất nước Trong giai đoạn hiện nay, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về Công đoàn chính là thực hiện chiến lược của Đảng

Trang 22

xây dựng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh,

xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Trước hết, cần nâng cao hiệu quả hoạt động của Công đoàn nói chung và đặc biệt là hoạt động bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động2

1.2.2.Lý thuyết Chức năng cơ cấu:

Thuyết chức năng cơ cấu nhìn nhận xã hội như một dạng cơ cấu, trong đó từng bộ phận đều có một chức năng cụ thể Mỗi chức năng có thể xác định được nhằm để duy trì hệ thống xã hội tổng thể

Trong lý thuyết này, xã hội đuợc nhìn như một hệ thống hoàn chỉnh của các quan hệ qua lại của các bộ phận, mỗi bộ phận có thể liên quan với

bộ phận khác Các nghiên cứu thường xem xã hội giống như cơ thể con người gồm quan hệ giữa các tổ chức (cơ quan) khác nhau Mỗi tổ chức cơ quan thực hiện một vài chức năng của hệ thống chung Nó là mối quan hệ giữa cấu trúc và chức năng

Để giải thích sự tồn tại và vận hành của xã hội cần phân tích cấu chức năng của nó tức là chỉ ra các thành phần cấu thành (cấu trúc) và các cơ chế hoạt động (chức năng) của chúng

trúc-Nghiên cứu này cần chỉ ra một cấu trúc bao gồm ba yếu tố (thành phần): chủ doanh nghiệp, người lao động và tổ chức Công đoàn (hay cán bộ Công đoàn cơ sở) Dựa vào vị trí của từng yếu tố trong cấu trúc này mà mỗi yếu tố có những chức năng cụ thể Nghiên cứu cần xác định rõ trách nhiệm của chủ doanh nghiệp trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động, xác định trách nhiệm của người lao động là thực hiện đầy đủ các quy chế lao động và cam kết với chủ doanh nghiệp, xác định rõ vai trò của cán bộ Công đoàn cơ sở là kiểm tra, giám sát việc thực hiện những thoả thuận với người lao động cũng như thực hiện luật Lao động của người sử dụng lao động, thương lượng với chủ doanh nghiệp khi quyền lợi của người lao động bị xâm phạm, phổ biến và tư vấn cho người lao động những quy định của Luật lao động

2 “Biến đổi cơ cấu tổ chức của hệ thôgns Công đoàn Việt Nam thời kỳ đổi mới”, Luận án tiến sỹ, Vũ Đạt, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hn.2005

Trang 23

Khái niệm cấu trúc nhấn mạnh các yếu tố tạo thành khuôn mẫu định hình hệ thống một cách tương đối ổn định Khái niệm hệ thống nhấn mạnh một tập hợp các yếu tố được sắp xếp theo trật tự nhất định, nghĩa là được định hình vừa độc lập vừa liên tục trao đổi qua lại với hệ thống môi trường xung quanh

Môi trường pháp lý bao gồm các Luật lao động và Luật Công đoàn là

cơ sở cho cấu trúc trên tồn tại và thực hiện các chức năng của mình Lợi ích của chủ doanh nghiệp và lợi ích của người lao động có quan hệ khăng khít với nhau và với các luật định Các luật định là khuôn mẫu để chủ doanh nghiệp và người lao động thực hiện trách nhiệm của mình Trong trường hợp, quyền lợi của người lao động không được đảm bảo thì cũng có nghĩa

là đã có những hành vi vi phạm luật định

Tiếp cận theo hệ thống xã hội, luận văn xem xét Công đoàn cơ sở

như là một bộ phận của hệ thống xã hội, nó là một tiểu hệ thống Vì thế nó cũng thực hiện 4 chức năng cơ bản: thích nghi, theo đuổi mục tiêu, liên kết

và duy trì khuôn mẫu Và phân tích nó như một hệ thống xã hội, bao gồm các bộ phận và thực hiện các chức năng khác nhau Các chức năng của tổ chức Công đoàn cũng như trách nhiệm của các cán bộ Công đoàn cơ sở trong nghiên cứu này đều phải dựa vào những quy định trách nhiệm trong Luật Công đoàn

1.2.3 Lý thuyết lựa chọn hợp lý

Thuyết lựa chọn hợp lý cho rằng con người luôn hành động một cách

có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một cách

duy lý nhằm đạt được kết quả tối đa với chi phí tối thiểu

Lý thuyết về lựa chọn hợp lý đã được vận dụng rộng rãi trong các quan hệ kinh tế - xã hội Theo lý thuyết này, đối với tất cả những hành động, con người đều lựa chọn mang lại lợi ích cho mình Kết quả của hành động phụ thuộc vào nhận thức và kinh nghiệm mà chủ thể có được trong quá khứ Vận dụng lý thuyết này vào nghiên, tác giả muốn lý giải thực trạng hoạt động bảo vệ quyền lợi người lao động của Công đoàn cơ sở, lý giải thực trạng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Thông qua lý thuyết này, đặc biệt là định đề về phần thưởng tác giả muốn tìm ra những yếu tố

Trang 24

hợp lý để nâng cao trách nhiệm xã hội của chủ doanh nghiệp và nâng cao hiệu quả hoạt động nói chung của Công đoàn và hoạt động bảo vệ quyền lợi người lao động nói riêng

Lý thuyết lựa chọn hợp lý sẽ được vận dụng khi giải quyết về sự cân bằng lợi ích của chủ doanh nghiệp và người lao động Trong nhiều trường hợp, quyền lợi của người lao động không được đảm bảo thì ứng xử của chủ doanh nghiệp và cán bộ Công đoàn cơ sở như thế nào? Có những ứng xử nào của chủ doanh nghiệp dẫn tới việc quyền lợi của người lao động không được đảm bảo Khi xảy ra vấn đề này thì cán bộ Công đoàn cơ sở sẽ ứng phó như thế nào trong trách nhiệm của mình Họ đứng về phía người lao động hay chủ doanh nghiệp?

Trong quản lý doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp lựa chọn những ứng xử nào trong việc chi trả tiền lương, thưởng và các điều kiện làm việc khác để đáp ứng nhu cầu về lợi ích của người lao động? Cán bộ Công đoàn cơ sở đã làm gì để giám sát và theo dõi những hoạt động này của chủ doanh nghiệp?

1.3 Khái niệm vận dụng trong nghiên cứu:

1.3.1.Khái niệm vai trò xã hội

Khái niệm vai trò xã hội dùng để chỉ "vai diễn" hoặc trách nhiệm mà

cá nhân đảm đương thực hiện trong một thời gian nhất định do mọi người tín nhiệm, giao phó và mong đợi Ví như chủ tịch trong bộ máy chính quyền, Cán bộ Công đoàn trong tổ chức Công đoàn

Thông thường các cá nhân khi đảm trách một vai trò nào đó luôn luôn phải tuân thủ, thực hiện đúng vai trò mà xã hội mong đợi với "chức danh” của nó phải thường xuyên tự hoàn thiện nếu không muốn trở thành lạc hậu hoặc bị loại bỏ Xã hội luôn thông qua dư luận, đánh giá, nhận xét

về các vai trò của mỗi cá nhân Mỗi cá nhân cũng thường xuyên nhận biết

về vai trò của mình, nhất là về các vai trò chính yếu mà theo thời gian nó luôn biến đổi

Những tình huống khác nhau luôn luôn xảy ra khi cá nhân sắm một vai trò nhất định, thậm chí có trường hợp xảy ra xung đột giữa các vai trò,

sự học hỏi, rút kinh nghiệm từ các khuôn mẫu của các vai trò mà người đảm

Trang 25

nhiệm phải học hỏi liên tục, học hỏi suốt đời và trung thực Đó là bí quyết

để đạt tới thành công, đáp ứng sự mong đợi của xã hội

Cần phải nhấn mạnh một lần nữa, nghiên cứu này không đề cập trực tiếp đến vai trò của tổ chức Công đoàn mà nghiên cứu nó thông qua phân tích vai trò của các cán bộ Công đoàn cơ sở Chính vì vậy, khái niệm vai trò

ở đây được áp dụng trong nghĩa là vai trò xã hội của cá nhân chứ không phải vai trò của tổ chức xã hội Tuy nhiên, việc phân tích vai trò của cán bộ Công đoàn cơ sở phải được khái quát cho vai trò của tổ chức Công đoàn cơ

Một ý nghĩa không kém phần quan trọng đối với đặc điểm nhân cách là vai trò xã hội Theo Smelser, vai trò là hành vi mà được mong đợi

ở con người chiếm vị thế nhất định Ian Robertsons cho rằng, vai trò xã hội

là việc đảm nhiệm hay thể hiện đầy đủ các hành vi nghĩa vụ hệ thống chuẩn mực trên cơ sở vị thế Khi khẳng định một cách đặc biệt mối liên hệ không tách rời của vai trò với những giá trị T Parsons đã xem xét vai trò

xã hội với tư cách hành vi được điều chỉnh một cách chuẩn mực Những hành vi này dựa trên những giá trị được thừa nhận chung và cấu thành yếu tố cơ cấu cần thiết của hệ thống xã hội Ông cho rằng những vai trò

xã hội là phương tiện để cá nhân thể hiện những giá trị xã hội trong những hành động xã hội cụ thể của mình Mỗi cá nhân đều cố gắng chọn lựa vai trò xã hội đáp ứng được những định hướng giá trị, những quyền lợi và khuôn mẫu của nó

Trang 26

Nghiên cứu vai trò của cán bộ Công đoàn cơ sở, cần phải được chỉ

rõ trên những chỉ số đo đạc như mong đợi của người lao động đối với trách nhiệm của cán bộ Công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi của họ Chính vì vậy, khi thiết kế nghiên cúu, người nghiên cứu phải chú ý đến việc xác định đầy đủ những việc làm/hoạt động cụ thể của cán bộ Công đoàn Trong nghiên cứu này, vai trò của cán bộ Công đoàn trong việc bảo

vệ quyền lợi của người lao động được thể hiện thông qua một số các hoạt động như: thu thập và phản ánh ý kiến của người lao động để đề xuất với chủ doanh nghiệp; tuyên truyền, giáo dục và phổ biến cho người lao động kiến thức pháp luật liên quan, những quy chế của doanh nghiệp; theo dõi, kiểm tra và giám sát trách nhiệm của chủ doanh nghiệp trong việc đảm bảo quyền lợi của người lao động

Vai trò xã hội là hành vi mong đợi của con người, mà gắn liền với

vị thế xã hội và mang tính điển hình đối với người có vị thế phù hợp trong xã hội đó Điều này được thể hiện trong tổng hoà những mong đợi (“mong đợi vai trò”), được đưa ra bởi xã hội hay nhóm xã hội trước cá nhân có một vị trí xã hội nhất định

Nghiên cứu cá nhân xuyên qua lăng kính vị thế và vai trò xã hội cho phép mở ra cơ chế cụ thể những liên hệ qua lại và tương tác của nó với những yếu tố cơ cấu xã hội khác và với xã hội nói chung Trong nghiên cứu này, tác giả vận dụng khái niệm vai trò làm cơ sở phương pháp luận để tìm hiểu mối quan hệ giữa các vị trí và vai trò xã hội của chủ doanh nghiệp, tổ chức Công đoàn và người lao động trên cơ sở chỉ rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa quyền và trách nhiệm cũng như mong đợi xã

hội giữa ba vị trí này trong doanh nghiệp

1.3.2 Khái niệm Công đoàn

Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa Việt Nam 1992 có khẳng định: “ Công đoàn là một tổ chức chính trị, xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động cùng cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội,

Trang 27

chăm lo bảo vệ quyền lợi của cán bộ, công nhân, viên chức và người lao động khác; tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia giám sát hoạt động cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, giáo dục, cán bộ công nhân, viên chức và những người lao động khác xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”

Theo quan điểm của Hồ Chí Minh: “Tổ chức Công đoàn trước hết là

để công nhân đi lại với nhau cho có cảm tình, hai là để nghiên cứu với nhau,

ba là để sửa sang cách sinh hoạt của công nhân, bốn là để giữ gìn quyền lợi cho công nhân, năm là giúp cho quốc dân, giúp cho thế giới”

Qua các khái niệm Công đoàn trên ta thấy qua từng thời kỳ, vai trò của Công đoàn ngày càng được mở rộng Và sự mở rộng vai trò Công đoàn

là phù hợp với tính tất yếu, khách quan, tính qui luật trong vận động và phát triển của tổ chức Công đoàn, nó phù hợp với qui luật chung của quá trình xây dựng XHCN, nó là một bộ phận cấu thành quá trình nâng cao vai trò của tất cả các tổ chức chính trị- xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản

Hoạt động Công đoàn: Là sự cụ thể hoá việc phát huy các vai trò, và thực hiện chức năng của Công đoàn trong hoạt động cũng như trong đời sống

Mục đích của các hoạt động của tổ chức Công đoàn là vì: Sự tồn tại của bản thân hệ thống tổ chức Công đoàn Đáp ứng nhu cầu, lợi ích của công nhân, viên chức và lao động, đoàn viên Công đoàn Thực hiện các mục tiêu chính trị- kinh tế- xã hội của Đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng thông qua quần chúng, người lao động Góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị- xã hội cũng như hiệu quả sản xuất, kinh doanh của đơn vị doanh nghiệp…

Như vậy, cũng như mọi tổ chức chính trị- xã hội khác hoạt động Công đoàn nằm trong khuôn khổ, phạm vi quyền hạn của Công đoàn được Hiến pháp và pháp luật qui định Đồng thời những hoạt động này đảm bảo những nguyên tắc cụ thể Có như vậy mới nâng cao được tính hiệu quả và đáp ứng được những yêu cầu của thực tiễn

Vai trò, chức năng Công đoàn Việt Nam

Công đoàn có vai trò vận động, tổ chức cho công nhân, viên chức và lao động tham gia quản lý sản xuất, quản lý xí nghiệp, góp phần đổi mới cơ

Trang 28

chế quản lý nhằm xoá bỏ quan liêu, bao cấp, mở rộng dân chủ, tác động tích cực xây dựng và thực hiện việc đổi mới cơ chế kinh tế, hoàn thiện cơ cấu và chính sách kinh tế nhằm nâng cao hiệu quả và phát triển bền vững nền kinh

tế - xã hội đất nước

Như vậy, các chức năng cơ bản của Công đoàn là: “bảo vệ lợi ích”,

“tham gia quản lý” và “giáo dục” Trong đó “bảo vệ lợi ích” là mục tiêu của Công đoàn, “tham gia quản lý” là phương tiện để đạt mục tiêu, “giáo dục”

là động lực tinh thần, là điều kiện xã hội để đạt mục tiêu Các chức năng trên thể hiện trách nhiệm của Công đoàn trong việc đề xuất và tham gia tổ chức thực hiện chính sách kinh tế, chính sách xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, cụ thể:

- Để thực hiện toàn diện và có hiệu quả việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân, viên chức và lao động, Công đoàn không những trực tiếp tham gia với các cơ quan của Chính phủ xây dựng luật pháp, chính sách kinh tế, chính sách xã hội, đồng thời tuyên truyền, giáo dục trong công nhân, viên chức, lao động về pháp luật, về chính sách, đưa chính sách vào cuộc sống mà còn thực hiện quyền giám sát, kiểm tra việc thực thi các chính sách đó

- Công đoàn tham gia xây dựng pháp luật, chính sách xã hội liên quan đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động

- Công đoàn tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chế độ, chính sách có liên quan đến người lao động, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, các tổ chức kinh tế của Công đoàn đã được luật pháp quy định Công đoàn giám sát và kiểm tra việc chấp hành luật pháp về lao động, về hợp đồng lao động, tuyển dụng lao động, cho thôi việc, tiền lương, tiền thưởng, bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội và các chính sách liên quan đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động dưới các hình thức: Ban thanh tra nhân dân, tổ chức lấy ý kiến của người lao động, thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, hoạt động của các ban pháp luật, các văn phòng tư vấn pháp luật Công đoàn…

- Công đoàn thực hiện công tác tuyên truyền, giáo dục về pháp luật, chế độ, chính sách, quyền và nghĩa vụ của người lao động

Trang 29

1.3.3 Khái niệm doanh nghiệp

Theo Đại Từ điển tiếng Việt, doanh nghiệp được xác định là “Tổ chức hoạt động kinh doanh của những chủ sở hữu có tư cách pháp nhân nhằm mục đích kiếm lời ở một hoặc nhiều ngành” Dưới góc độ kinh tế, doanh nghiệp được xác định là một tổ chức kinh tế, được thành lập để thực hiện các hoạt động kinh doanh, thực hiện các chức năng sản xuất, mua bán hàng hóa hoặc làm dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu con người và xã hội, và thông qua hoạt động hữu ích đó mà kiếm lời Dựa trên các quy định của Nhà nước như Luật doanh nghiệp nhà nước, Luật doanh nghiệp tư nhân, Luật Công ty, Luật hợp tác xã, các nhà kinh tế định nghĩa về doanh nghiệp:

Doanh nghiệp là đơn vị kinh doanh được thành lập nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh của những chủ sở hữu ( nhà nước, tập thể, tư nhân) về một hay nhiều ngành Các hãng buôn, các công ty, các xí nghiệp sản xuất và dịch vụ…được thành lập chính thức trên cơ sở hợp pháp Những doanh nghiệp có tư cách pháp nhân được thành lập trên cơ sở có mục tiêu, ngành nghề kinh doanh rõ ràng, có vốn pháp định, vốn điều lệ phù hợp với quy mô và ngành nghề kinh doanh; người quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh phải có trình độ chuyên môn tương ứng mà pháp luật đòi hỏi với một số ngành nghề Những doanh nghiệp có tư cách pháp nhân dược thành lập trên cơ sở có mục tiêu

Như vậy, doanh nghiệp được xác định là một đơn vị kinh tế, tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân và có mục đích hoạt động rõ ràng Khi thực hiện phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, doanh nghiệp không chỉ giới hạn ở khu vực kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể nữa, mà doanh nghiệp được khuyến khích phát triển ở tất cả các thành phần kinh tế Sự khác nhau của các doanh nghiệp hiện nay chính là ở hình thức sở hữu của doanh nghiệp, và độ lớn của vốn đầu tư

Có nhiều loại hình doanh nghiệp, tùy theo đặc điểm về hình thức sở hữu, về tổ chức sản xuất, về quy mô, về lĩnh vực sản xuất, người ta có thể phân ra nhiều loại hình doanh nghiệp theo mục đích nghiên cứu Sau đây

xin đề cập doanh nghiệp dưới góc độ hình thức sở hữu: Doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Trang 30

Doanh nghiệp Nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn

thành lập và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế- xã hội do Nhà nước giao Luật doanh nghiệp Nhà nước Việt Nam ban hành theo pháp lệnh số 39L/CTN ngày 30.4.1996 quy định doanh nghiệp Nhà nước thuộc sở hữu toàn dân, do một

cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ra quyết định thành lập hoặc giải thể theo quy hoạch, kế hoạch phát triển chung của nền kinh tế quốc dân, của một ngành hoặc một địa phương Nó có vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, là đơn vị kinh tế sản xuất hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có tư cách pháp nhân và kinh doanh trong các ngành khác nhau, thực hiện quyền tự chủ sản xuất- kinh doanh dưới sự quản

lý của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền

Sự phân chia rạch ròi chức năng sở hữu, phân phối và điều hành quản

lý trong doanh nghiệp ngoài Quốc doanh góp phần to lớn vào hiệu quả hoạt động của công ty bởi đội ngũ các nhà quản lý tài năng sáng tạo chuyên nghiệp trong lĩnh vực kinh doanh của mình mà không bị sức ép, sự gò bó của người sở hữu chi phối

Các loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh: Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Công ty cổ phần, Công ty hợp danh Doanh nghiệp tư nhân Cá nhân

kinh doanh Hợp tác xã Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Doanh nghiệp tư nhân là một loại hình doanh nghiệp do một cá nhân

làm chủ và tư cách chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp Theo Luật doanh nghiệp 1999, chủ doanh nghiệp tư nhân là người đại diện của doanh nghiệp có toàn quyền quyết định đối với tất cả các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, sử dụng lợi nhuận sau khi nộp thuế và thực hiện các nghiệp vụ tài chính khác theo pháp luật qui định, có thể trực tiếp hoặc giao cho người khác quản lý điều hành hoạt động kinh doanh

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thành lập hoặc nhà đầu tư

nước ngoài hợp tác với một bên hoặc nhiều bên Việt Nam thành lập tại Việt Nam Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam được thành lập

Trang 31

và hoạt động theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ngày 12-11-1996, Nghị định số 10/1998/NĐ-CP ngày 23-1-1998 của Chính phủ và nhiều văn bản pháp lý khác Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có đủ tư cách pháp nhân, hoạt động tuân theo pháp luật của Việt Nam và không bị quốc hữu hoá

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gồm hai loại doanh nghiệp,

đó là doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài

Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp được hình thành do hai bên hoặc nhiều bên nước ngoài và Việt Nam cùng hợp tác Bên Việt Nam, do một doanh nghiệp hoặc nhiều doanh nghiệp tham gia Bên nước ngoài, do một hoặc nhiều doanh nghiệp cùng đầu tư vốn tham gia

Khái niệm trên được vận dụng để xác định khách thể nghiên cứu của

đề tài

1.3.4 Khái niệm về người sử dụng lao động và người lao động

Người sử dụng lao động (chủ doanh nghiệp) là người đứng đầu và điều hành một doanh nghiệp, chịu trách nhiệm hoàn toàn về sự tồn vong của doanh nghiệp trong thời gian quản lý doanh nghiệp Trong cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp ngoài quốc doanh, vốn của doanh nghiệp là do chủ doanh nghiệp là tư nhân hay các nhà đầu tư nước ngoài thành lập hay hợp tác trong nước góp vốn kinh doanh

và phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty cũng như đối với việc tăng trưởng hoặc suy vong của doanh nghiệp Chủ doanh nghiệp là người thành lập doanh nghiệp, đầu tư vốn và quản lý doanh nghiệp với tư cách là chủ doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt động kinh doanh của mình

Người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động Người lao động sử dụng sức lao động của mình để tạo ra những giá trị vật chất hay tinh thần trên cơ sở thoả thuận (bằng miệng hay bằng văn bản) với người sử dụng lao động và ngược lại, người lao động sẽ nhận được một khoản tiền nhất định từ công việc đó do người sử dụng lao động trả lương

Trang 32

1.3.5 Khái niệm hợp đồng lao động

Theo quy định của Bộ luật Lao động, hợp đồng lao động là sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động Có 3 loại hợp đồng lao động được Bộ luật Lao động quy định đó là: Hợp đồng lao động không xác định thời hạn (đây là loại hợp đồng mà người sử dụng lao động và người lao động không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng); hợp đồng lao động xác định thời hạn (là loại hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 12 đến 36 tháng); hợp đồng theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng

1.3.6 Khái niệm thoả ước lao động tập thể

Thỏa ước lao động tập thể là văn bản thỏa thuận giữa tập thể người lao động mà đại diện là Công đoàn với người sử dụng lao động về điều kiện làm việc, điều kiện sử dụng lao động, về quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên trong quan

hệ lao động Thỏa ước lao động tập thể do đại diện của tập thể lao động và người

sử dụng lao động thương lượng và ký kết theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, công khai Nội dung của thoả ước lao động tập thể không được trái với qui định của pháp luật lao động và pháp luật khác Nhà nước khuyến khích việc ký thoả ước lao động tập thể với những qui định có lợi hơn cho người lao động so với qui định của pháp luật lao động3

Các nhu cầu được sắp xếp theo thứ bậc từ thấp đến cao: Nhu cầu sinh

lý (Vật Chất), nhu cầu về an toàn (là những nhu cầu tránh sự nguy hiểm về

3 Nguyễn Viết Vượng, Hoạt động Công đoàn trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh, Nxb Lao động, HN 2006, tr130

Trang 33

thân thể và sự đe dọa mất việc, mất tài sản…), nhu cầu xã hội (về liên kết

và chấp nhận), nhu cầu được tôn trọng, nhu cầu tự hoàn thiện

Theo A Maslow, nhu cầu tự nhiên của con người được chia thành các thang bậc khác nhau từ "đáy lên tới đỉnh, phản ánh mức độ "cơ bản của

nó đối với sự tồn tại và phát triển của con người vừa là một sinh vật tự nhiên, vừa là một thực thể xã hội

Con người cá nhân hay con người trong tổ chức chủ yếu hành động theo nhu cầu Chính sự thỏa mãn nhu cầu làm họ hài lòng và khuyến khích

họ hành động

Đồng thời việc nhu cầu được thỏa mãn và thỏa mãn tối đa là mục đích hành động của con người Theo cách xem xét đó, nhu cầu trở thành động lực quan trọng và việc tác động vào nhu cầu cá nhân sẽ thay đổi được hành vi của con người Trong một doanh nghiệp hoặc tổ chức:

1) Nhu cầu cơ bản có thể được đáp ứng thông qua việc trả lương tốt

và công bằng, cung cấp các bữa ăn trưa hoặc ăn giữa ca miễn phí hoặc bảo đảm các khoản phúc lợi khác như tiền thưởng theo danh hiệu thi đua, thưởng các chuyến tham quan, du lịch, thưởng sáng kiến

2) Để đáp ứng nhu cầu an toàn, Nhà quản lý có thể bảo đảm điều kiện làm việc thuận lợi, bảo đảm công việc được duy trì ổn định và đối xử công bằng đối với nhân viên

3) Để bảo đảm đáp ứng nhu cầu quan hệ, người lao động cần được tạo điều kiện làm việc theo nhóm, được tạo cơ hội để mở rộng giao lưu giữa các bộ phận, khuyến khích mọi người cùng tham gia ý kiến phục vụ sự phát triển doanh nghiệp hoặc tổ chức Cũng để đáp ứng nhu cầu phát triển quan

hệ, doanh nghiệp hoặc tổ chức cần có các hoạt động vui chơi, giải trí nhân các dịp kỷ niệm hoặc các kỳ nghỉ khác

4) Để thỏa mãn nhu cầu được tôn trọng người lao động cần được tôn trọng về nhân cách, phẩm chất Bên cạnh được trả tiền lương hay có thu nhập thỏa đáng theo các quan hệ thị trường, họ cũng mong muốn được tôn trọng các giá trị của con người Các Nhà quản lý hoặc lãnh đạo, do đó, cần

có cơ chế và chính sách khen ngợi, tôn vinh sự thành công và phổ biến kết

Trang 34

quả thành đạt của cá nhân một cách rộng rãi Đồng thời, người lao động cũng cần được cung cấp kịp thời thông tin phản hồi, đề bạt nhân sự vào những vị trí công việc mới có mức độ và phạm vi ảnh hưởng lớn hơn

5) Đối với nhu cầu tự hoàn thiện, Nhà quản lý hoặc ông chủ cần cung cấp các cơ hội phát triển những thế mạnh cá nhân Đồng thời, người lao động cần được đào tạo và phát triển, cần được khuyến khích tham gia vào quá trình cải tiến trong doanh nghiệp hoặc tổ chức và được tạo điều kiện để họ tự phát triển nghề nghiệp Các tập đoàn kinh doanh lớn trên thế giới “thu phục” khá nhiều nhân viên giỏi, kể cả những nhân viên rất “khó tính” từ nhiều nước khác nhau do cơ chế hấp dẫn mạnh nguồn tài năng này qua việc tạo điều kiện cho họ có “nhà lầu xe hơi", việc làm ổn định, tiền lương trả rất cao và khả năng thăng tiến mạnh, kể cả giao cho họ những trọng trách và vị trí lãnh đạo chủ chốt trong Công ty

Vận dụng khái niệm này vừa là cơ sở để xem xét quyền lợi người lao động thông qua nhu cầu của họ và những qui định của pháp Luật, vừa là cơ

sở để xem xét vai trò của Công đoàn trong việc đáp ứng các nhu cầu của người lao động

Quyền lợi người lao động

Trong nghiên cứu này, khái niệm quyền lợi người lao động được hiểu là những quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng mà người lao động được hưởng Quyền lợi người lao động được cụ thể hóa trong hợp đồng lao động; Việc ký hợp đồng lao động, nội dung của hợp đồng lao động cũng như quá trình thực hiện hợp đồng lao động của người sử dụng lao động Lợi ích của người lao động được thể hiện trong nội dung của thỏa ước lao động tập thể

Trang 35

Tiền lương, tiền thưởng

Trong nền kinh tế thị trường, tiền lương được hiểu là số tiền trả cho người công nhân theo số lượng và chất lượng lao động mà họ đóng góp

Điều 55 Bộ Luật lao động xác định, tiền lương của người lao động do hai bên thoả thuận trong hợp đồng lao động, chất lượng và hiệu quả công việc Như vậy, tiền lương là biểu hiện bằng giá trị sức lao động và là giá cả sức lao động mà người sử dụng lao động trả cho người lao động khi họ hoàn thành công việc theo chức năng, nhiệm vụ được pháp luật qui định hay hai bên thoả thuận trong hợp đồng lao động làm công việc đơn giản nhất trong điều kiện làm việc bình thường bù đắp sức lao động đơn giản và một phần tích lũy tái sản xuất sức lao động và mở rộng và được dùng làm căn cứ

để tính mức lương cho các loại lao động khác

Tiền thưởng là khoản tiền người sử dụng lao động trả cho người lao động để vừa tăng thu nhập cho người lao động, vừa kích thích người lao động tích cực làm việc, hoàn thành vượt mức nhiệm vụ được giao Mức tiền thưởng được thỏa thuận trong hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể hoặc được qui định trong qui chế của doanh nghiệp4

Chế độ thưởng này được Bộ Lao động qui định tại điều 64 Bộ luật Lao động: “người sử dụng lao động có trách nhiệm trích từ lợi nhuận hàng năm để thưởng cho người lao động đã làm việc trong doanh nghiệp từ một năm trở lên theo qui định của Chính phủ, phù hợp với đặc điểm của từng loại doanh nghiệp” Công đoàn cơ sở căn cứ vào mức độ đóng góp của mỗi người vào hiệu quả sản xuất – kinh doanh qua năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, thâm niên công tác trong doanh nghiệp, tinh thần, thái độ, trách nhiệm trong công tác, tính hợp tác trong lao động, chấp hành kỷ luật lao động để quyết định mức thưởng cho người lao động

Bảo hiểm xã hội

Mặc dù Bảo hiểm xã hội đã được thực hiện từ khá lâu, nhưng cho đến nay hầu như chưa có một định nghĩa chính thống về khái niệm này Theo Từ điển bách khoa tập 1: "Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm sự thay thế

4 Sách đã dấn, tr.117,118

Trang 36

hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm khoản thu nhập từ nghề nghiệp do bị mất hoặc giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm, thông qua việc hình thành sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, nhằm góp phần bảo đảm an toàn đời sống của người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội"

Dưới góc độ pháp lý, BHXH được hiểu là một loại chế độ pháp định bảo vệ người lao động, sử dụng nguồn tiền đóng góp của người lao động, người sử dụng và được sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nước, nhằm trợ cấp vật chất cho người được bảo hiểm và gia đình trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập bình thường do ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, thất nghiệp, hết tuổi lao động theo qui định của pháp luật hoặc chết Theo Bộ Luật Lao động nước cộng hòa xã hội Việt Nam, nước ta hiện nay có hai loại hình BHXH; BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện

Người lao động khi tham gia vào các hình thức BHXH (hoặc bắt buộc hoặc tự nguyện) là đối tượng được hưởng bảo hiểm xã hội Khi đã tham gia vào hệ thống BHXH, theo điều 151 của Bộ Luật Lao động của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và điều lệ bảo hiểm xã hội, người lao động có các quyền:

- Được nhận sổ bảo hiểm xã hội do cơ quan bảo hiểm xã hội phát hành và quản lý

- Được nhận các khoản trợ cấp bảo hiểm xã hội đầy đủ, thuận tiện và đúng thời hạn khi có đủ điều kiện hưởng bảo hiểm xã hội theo quy định của điều lệ bảo hiểm xã hội

- Có quyền khiếu nại với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc yêu cầu giải quyết tranh chấp theo trình tự do pháp luật quy định khi người sử dụng lao động hoặc cơ quan bảo hiểm xã hội có hành vi vi phạm điều lệ bảo hiểm xã hội

Người sử dụng lao động có trách nhiệm phải đóng bảo hiểm xã hội đúng quy định; trích tiền lương của người lao động để đóng bảo hiểm xã hội đúng quy định; xuất trình các tài liệu, hồ sơ và cung cấp thông tin liên quan khi có kiểm tra, thanh tra về bảo hiểm xã hội của cơ quan Nhà nước có

Trang 37

thẩm quyền5

Điều kiện làm việc

Điều kiện làm việc tại nơi làm việc là tập hợp các yếu tố của môi trường

có tác động lên trạng thái chức năng của cơ thể con người, khả năng làm việc, thái độ lao động, sức khoẻ quá trình tái sản xuất lao động và hiệu quả lao động của họ trong hiện tại cũng như về lâu dài

Qua phân tích ảnh hưởng của các yếu tố điều kiện làm việc đến người lao động và nguồn gốc hình thành chúng, có thể chia nội dung điều kiện làm việc thành những nhóm sau: Nhóm yếu tố vệ sinh môi trường bao gồm các yếu tố vật lý, hoá học và sinh học Nó được tạo nên chủ yếu dưới tác động của công cụ lao động, đối tượng lao động và quy trình công nghệ Nhóm các yếu tố tâm lý được hình thành trong quá trình lao động bao gồm các yếu tố về bầu không khí trong tập thể lao động, thể lực, thần kinh…Nhóm các yếu tố thẩm mĩ phản ánh xúc cảm và hứng thú làm việc của người lao động Đó là kiến trúc không gian nơi làm việc, các màu sắc âm thanh và sự hài hoà của máy móc thiết bị, bầu không khí tâm lý tập thể lao động, tâm lý nghề nghiệp

An toàn lao động, vệ sinh lao động

An toàn lao động, vệ sinh lao động và phòng chống cháy nổ thực chất

là hoạt động Bảo hộ lao động trong các cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp, các cơ sở sản xuất, kinh doanh theo qui định của pháp luật

Tại điều 61 Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam (1992) qui định:

“Công dân có quyền được hưởng chế độ bảo vệ sức khỏe Nhà nước qui định chế độ viện phí, chế độ miễn, giảm viện phí Công dân có nghĩa vụ thực hiện các qui định về vệ sinh phòng bệnh và vệ sinh công cộng”

Công tác an toàn lao động, vệ sinh lao động được qui định cụ thể, chi tiết tại điều 95 - Bộ luật Lao động, khoản 1 ghi: người sử dụng lao động có trách nhiệm trang bị đầy đủ phương tiện bảo hộ lao động, bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao độngvà cải thiện điều kiện làm việc cho người lao

5 www.congdoanttd.org.vn/hoidap/BHXH.htm

Trang 38

động Người lao động phải tuân thủ các qui định về an toàn lao động, vệ sinh lao động và nội qui lao động của doanh nghiệp Một tổ chức, cá nhân

có liên quan đến lao động, sản xuất phải tuân theo pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động và bảo vệ môi trường

Đối tượng và phạm vi áp dụng của an toàn, vệ sinh lao động được qui định tại điều 1, Nghị định 06/NĐCP ngày 20/ 01/ 1995 của Chính phủ qui định chi tiết một số điều của Bộ luật Lao động về an toàn, vệ sinh lao động:

“Đối tượng và phạm vi được áp dụng các qui định về an toàn, vệ sinh lao động bao gồm: một tổ chức, cá nhân sử dụng lao động, mọi công chức, viên chức, mọi người lao động kể cả người học nghề, tập nghề, thử việc trong các lĩnh vực, các thành phần kinh tế, trong lực lượng vũ trang và các doanh nghiệp, tổ chức cơ quan nước ngoài, tổ chức quốc tế đóng trên lãnh thổ Việt Nam”

Công đoàn có trách nhiệm tham gia kiểm tra, giám sát việc thực hiện qui định về an toàn vệ sinh lao động, giáo dục, vận động người lao động chấp hành những qui định về an toàn vệ sinh lao động

Một số khái niệm trên được vận dụng làm cơ sở để định hướng vấn

đề nghiên cứu, giới hạn phạm vi nghiên cứu, thao tác hoá khái niệm và xây dựng công cụ đo lường trong quá trình nghiên cứu

1.4 Đánh giá khái quát về khung pháp lý

Luật định đã quy định tương rõ và đầy đủ các nội dung hoạt động Công đoàn, cũng như sự phối hợp giữa Công đoàn và các tổ chức chính trị xã hội khác trong việc chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động Dưới đây là một số thể hiện cụ thể về những nhận định này

Về vai trò của Công đoàn trong giải quyết việc làm cho người lao động, Bộ luật lao động bảo vệ quyền làm việc, lợi ích hợp pháp và các quyền khác của cả người lao động và người sử dụng lao động, tạo điều kiện cho mối quan hệ lao động hài hòa và ổn định Luật quy định mọi người đều có quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm và nghề nghiệp, học nghề và nâng cao trình độ nghề nghiệp, Không bị phân biệt đối xử về giới tính, dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng

Trang 39

và tôn giáo Mọi hoạt động tạo ra việc làm, tự tạo việc làm, dạy nghề để có việc làm, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh thu hút nhiều lao động đều được khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi hoặc được giúp đỡ từ Nhà nước

Về vị thế và trách nhiệm của Công đoàn trong doanh nghiệp, luật Công đoàn quy định

- Công đoàn đại diện và tổ chức người lao động tham gia với Nhà nước

và thực hiện chương trình phát triển kinh tế – xã hội, chính sách quản lý kinh tế, chính sách có liên quan đến quyền và lợi ích người lao động

- Công đoàn có trách nhiêm tuyên truyền hiến pháp, pháp luật, giáo duc người lao động chấp hành và tham gia đấu tranh bảo vệ pháp luật, tích cực xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ tài sản lao động có

- Công đoàn cơ sở cùng với cơ quan, tổ chức, đơn vị kinh tế quốc doanh, đơn vị sự nghiệp và hợp tác xã tổ chức thi đua phong tào xã hội chủ nghia, phát huy mọi tiềm năng của người lao động thực hiện các mục tiêu kinh tê- xã hội Khung pháp luật cũng đã thể hiện rõ về vai trò Công đoàn trong việc hài hoà quyền lợi người lao động và người sử dụng lao động Trên quan điểm bảo

vệ quyền lợi hợp pháp cho cả hai đối tượng điều chỉnh, đó là người lao động và người sử dụng lao động Hơn nữa, pháp luật bảo vệ quyền lợi cho người sử dụng lao động, chính là tạo điều kiện phát triển sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện việc làm cho người lao động và như vậy, pháp luật đang bảo vệ quyền lợi cho người lao động

1.5 Khái quát đặc điểm kinh tế xã hội địa bàn nghiên cứu và một

số doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn Hà Nội

1.5.1 Khái quát đặc điểm kinh tế- xã hội của Hà Nội

Hà Nội là thủ đô của cả nước, với vị trí là trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế - xã hội Đây là nơi tập trung các cơ quan đầu não của Trung ương Đảng, Nhà nước, các Đoàn thể xã hội, các Đại sứ quán trên 150 nước,

Trang 40

các Tổ chức Quốc tế…

Hiện nay, Hà Nội có 9 quận nội thành: Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Đống Đa, Ba Đình, Thanh Xuân, Tây Hồ, Cầu Giấy, Hoàng Mai, Long Biên; và 5 huyện ngoại thành: Gia Lâm, Thanh Trì, Đông Anh, Sóc Sơn, Từ Liêm Được chia thành các quận trung tâm, các quận ven và thị trấn trung tâm huyện Hà Nội có diện tích 920,97 km2 Mật độ dân số trung bình toàn thành phố là 3.317 người/km2

Hà Nội là Thủ đô, là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá của cả nước, nên cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá phải thể hiện được nét tiêu biểu cho nền văn hoá hiện đại, đậm đà bản sắc ngàn năm văn hiến, tiêu biểu cho văn minh, thanh lịch của đất Tràng An Vì vậy, cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở Thủ đô Hà Nội được triển khai với nhiều nội dung đã được người dân hưởng ứng nhiệt tình trong thời gian qua

Hà Nội là nơi hoạt động thương mại, giao lưu kinh tế diễn ra nhộn nhịp, có nhiều điều kiện thuận lợi để loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh hình thành và phát triển sớm hơn so với các địa phương khác ở Hà Nội, lĩnh vực thương nghiệp, nhà hàng, khách sạn là nơi thu hút nhiều doanh nghiệp ngoài quốc doanh nhất đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân

và công ty trách nhiệm hữu hạn Trong lĩnh vực thương nghiệp ở Hà Nội có nhiều đơn vị tham gia buôn bán máy móc thiết bị, vật liệu xây dựng, làm đại lý cho các xí nghiệp trong nước cũng như các hãng nước ngoài hoặc bán

lẻ những hàng hóa vật dụng gia đình cao cấp, mở siêu thị…

Chất lượng đội ngũ công nhân viên chức lao động trên địa bàn thành phố được nâng lên nhiều mặt và được trẻ hóa Số công nhân viên chức lao động có trình độ phổ thông trung học trở lên chiếm 76%, trung cấp nghiệp

vụ khoảng 25,91%, Đại học chiếm 26,23%, công nhân tay nghề bậc 4/5 chiếm 29%, công nhân tay nghề bậc 6/7 chiếm 94% Đa số công nhân viên

Ngày đăng: 31/03/2015, 14:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Bộ Luật lao động của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bổ sung sửa đổi năm 2002. Nxb Chính trị quốc gia. Hn.2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Luật lao động của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bổ sung sửa đổi năm 2002
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia. Hn.2002
4. Bộ Giáo dục và đào tạo: Triết học (dùng cho nghiên cứu sinh và học viên cao học không thuộc chuyên ngành triết học). Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997, tập 3, tr. 94 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học (dùng cho nghiên cứu sinh và học viên cao học không thuộc chuyên ngành triết học)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
5. Giáo trình lịch sử các học thuyết chính trị: Đại học quốc gia, Nxb Đại học quốc gia Hn.1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lịch sử các học thuyết chính trị
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hn.1995
6. Lịch sử các học thuyết chính trị trên thế giới. Nxb Chính trị quốc gia. Hn.1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử các học thuyết chính trị trên thế giới
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia. Hn.1993
7. Luật Công đoàn, Nxb Chính trị quốc gia, Hn.2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Công đoàn
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
9. Luật Doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành. Nxb Lao Động, Hn.2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành
Nhà XB: Nxb Lao Động
10. Nâng cao hiệu quả hoạt động Công đoàn trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài - Viện công nhân Công đoàn. Nxb Lao Động, Hn.2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả hoạt động Công đoàn trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Nhà XB: Nxb Lao Động
11. Nhập môn triết học (sách giáo khoa dùng cho các trường cao đẳng, đại học). Nxb Chính trị M, 1989, Phần II, tiếng Nga Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn triết học (sách giáo khoa dùng cho các trường cao đẳng, đại học)
Nhà XB: Nxb Chính trị M
12. Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động, Nxb Chính trị quốc gia, Hn.2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
13. Quyền và trách nhiệm của Công đoàn trong các văn bản pháp luật hiện hành. Ban pháp luật Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Nxb Lao Động, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền và trách nhiệm của Công đoàn trong các văn bản pháp luật hiện hành
Nhà XB: Nxb Lao Động
14. Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Kỷ yếu 70 năm Công đoàn Việt Nam, Nxb Lao Động, Hn.1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu 70 năm Công đoàn Việt Nam
Nhà XB: Nxb Lao Động
15. Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Công đoàn Việt Nam những chặng đường lịch sử, Nxb Lao Động, Hn.1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công đoàn Việt Nam những chặng đường lịch sử
Nhà XB: Nxb Lao Động
16. Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Những bài giáo dục chính trị cơ bản đối với công nhân lao động, Nxb Lao Động, Hn.1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bài giáo dục chính trị cơ bản đối với công nhân lao động
Nhà XB: Nxb Lao Động
17. Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Báo cáo về cơ cấu và một số tình hình lao động và đời sống của giai cấp công nhân, tập 1, tập 2, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về cơ cấu và một số tình hình lao động và đời sống của giai cấp công nhân
18. Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Xu hướng biến động giai cấp công nhân Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI, Nxb Lao Động, Hn.2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xu hướng biến động giai cấp công nhân Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI
Nhà XB: Nxb Lao Động
19. Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Giải pháp xây dựng giai cấp công nhân trong những năm đầu thế kỷ XXI, Nxb Lao Động, Hn.2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp xây dựng giai cấp công nhân trong những năm đầu thế kỷ XXI
Nhà XB: Nxb Lao Động
20. Tổng cục Thống kê, Báo cáo thống kê kinh tế xã hội Việt Nam năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng cục Thống kê
21. Trường Đại học Công đoàn, Giáo trình Lý luận và nghiệp vụ Công đoàn, Nxb Lao Động, Hn.1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và nghiệp vụ Công đoàn
Nhà XB: Nxb Lao Động
22. Trường Đại học Công đoàn, Kỷ yếu hội thảo khoa học "Giai cấp công nhân và Công đoàn Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước", Hn.2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giai cấp công nhân và Công đoàn Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
23. Triết học Mác - Lênin. Đề cương bài giảng trong các trường đại học và cao đẳng, Nxb Giáo dục 1994, tập 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học Mác - Lênin. Đề cương bài giảng trong các trường đại học và cao đẳng
Nhà XB: Nxb Giáo dục 1994

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

6. Sơ đồ khung phân tích - Vai trò của công đoàn đối với quyền lợi người lao động trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh (Nghiên cứu trường hợp tại một số doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên
6. Sơ đồ khung phân tích (Trang 10)
Bảng 2.2.  Mức độ hiểu biết về Luật Lao động - Vai trò của công đoàn đối với quyền lợi người lao động trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh (Nghiên cứu trường hợp tại một số doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên
Bảng 2.2. Mức độ hiểu biết về Luật Lao động (Trang 55)
Bảng 2.3. Mức độ hiểu biết về luật lao động theo giao ƣớc - Vai trò của công đoàn đối với quyền lợi người lao động trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh (Nghiên cứu trường hợp tại một số doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên
Bảng 2.3. Mức độ hiểu biết về luật lao động theo giao ƣớc (Trang 55)
Bảng 2.5. Nội dung của hợp đồng - Vai trò của công đoàn đối với quyền lợi người lao động trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh (Nghiên cứu trường hợp tại một số doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên
Bảng 2.5. Nội dung của hợp đồng (Trang 59)
Bảng 2.6. So sánh việc ký thoả ƣớc lao động tập thể - Vai trò của công đoàn đối với quyền lợi người lao động trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh (Nghiên cứu trường hợp tại một số doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên
Bảng 2.6. So sánh việc ký thoả ƣớc lao động tập thể (Trang 71)
Bảng 2.7. Thống kê thời gian làm việc trong ngày - Vai trò của công đoàn đối với quyền lợi người lao động trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh (Nghiên cứu trường hợp tại một số doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên
Bảng 2.7. Thống kê thời gian làm việc trong ngày (Trang 80)
Bảng 2.9. Kiểm định t cho hai mẫu độc lập - Vai trò của công đoàn đối với quyền lợi người lao động trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh (Nghiên cứu trường hợp tại một số doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên
Bảng 2.9. Kiểm định t cho hai mẫu độc lập (Trang 83)
Bảng 2.12. Việc trả lương làm ngoài giờ theo - Vai trò của công đoàn đối với quyền lợi người lao động trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh (Nghiên cứu trường hợp tại một số doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên
Bảng 2.12. Việc trả lương làm ngoài giờ theo (Trang 90)
Bảng 2.13.  Mức lương hiện nay - Vai trò của công đoàn đối với quyền lợi người lao động trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh (Nghiên cứu trường hợp tại một số doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên
Bảng 2.13. Mức lương hiện nay (Trang 95)
Bảng 2.14. Kiểm định T về sự khác biết mức lương trung bình - Vai trò của công đoàn đối với quyền lợi người lao động trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh (Nghiên cứu trường hợp tại một số doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên
Bảng 2.14. Kiểm định T về sự khác biết mức lương trung bình (Trang 96)
Bảng 2.15. Kiểm định T về mức lương trung bình - Vai trò của công đoàn đối với quyền lợi người lao động trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh (Nghiên cứu trường hợp tại một số doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên
Bảng 2.15. Kiểm định T về mức lương trung bình (Trang 97)
Bảng 2.16. Tình trạng chậm sửa đổi  bất hợp lý - Vai trò của công đoàn đối với quyền lợi người lao động trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh (Nghiên cứu trường hợp tại một số doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên
Bảng 2.16. Tình trạng chậm sửa đổi bất hợp lý (Trang 99)
Bảng 2.20 Công đoàn tham gia cải thiện điều kiện làm việc - Vai trò của công đoàn đối với quyền lợi người lao động trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh (Nghiên cứu trường hợp tại một số doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên
Bảng 2.20 Công đoàn tham gia cải thiện điều kiện làm việc (Trang 106)
Bảng 2.21. Ý kiến của người lao động về việc giải quyết vấn đề tai nạn - Vai trò của công đoàn đối với quyền lợi người lao động trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh (Nghiên cứu trường hợp tại một số doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên
Bảng 2.21. Ý kiến của người lao động về việc giải quyết vấn đề tai nạn (Trang 109)
Bảng 2.22. Việc phân phối phúc lợi tập thể theo mẫu điều tra - Vai trò của công đoàn đối với quyền lợi người lao động trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh (Nghiên cứu trường hợp tại một số doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên
Bảng 2.22. Việc phân phối phúc lợi tập thể theo mẫu điều tra (Trang 113)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w