1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tính tích cực học tập của học viên cao học, tác động của các yếu tố cá nhân và các yếu tố môi trường đào tạo (Nghiên cứu trường hợp tại ĐHKHXH&NV, ĐHKHTN - ĐHQG

104 1,1K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các yếu tố chủ quan xuất phát từ chính bản thân người học, các yếu tố khách quan có thể kể đến như: cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị học tập, phương pháp giảng dạy của giảng viên,

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 L ý do chọn đề tài 1

2 Ý nghĩa l ý luận và thực tiễn 2

3 Mục đích nghiên cứu của đề tài 3

4.Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 3

5 Giới hạn nghiên cứu của đề tài 4

6 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết và khung lý thuyết 4

7 Phương pháp nghiên cứu 8

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 14

1.1 L ý thuyết áp dụng 14

1.1.1 L‎ý thuyết‎hành‎động‎xã‎hội‎của‎Max‎weber 14

1.1.2‎Quan‎điểm‎về‎giáo‎dục‎của‎Emile‎Durkhiem 16

1.1.3 Lý thuyết‎lựa‎chọn‎hợp‎lý……… 18

1.2 Cái khái niệm công cụ……….20

1.2.1Tính‎tích‎cực 20

1.2.2 Tính tích cực‎học‎tập 22

1.3 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 25

Chương 2: THỰC TRẠNG TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP CỦA HỌC VIÊN CAO HỌC 32

2.1 Hành vi học tập tích cực của học viên cao học 32

2.1.1‎Hành‎vi‎thường‎đặt‎câu‎hỏi‎với‎giảng‎viên‎khi chưa‎hiểu‎bài ……35

2.1.2‎Hành‎vi‎thường‎tranh‎luận‎với‎giảng‎viên‎về‎bài‎học ………41

2.1.3‎Hành‎vi‎hoàn‎thành‎đầy‎đủ‎và‎đúng‎hạn‎các‎bài‎tập‎mà‎giảng‎viên‎giao‎về‎ nhà………43

2.2 Hành vi học tập thụ động và phản học tập của học viên cao học……45

2.2.1‎Hành‎vi‎không‎tích‎cực‎tham‎gia‎bài‎tập‎nhóm‎trên‎lớp………….45

2.2.2‎Hành‎vi‎thường‎xuyên‎đi‎học‎muộn 47

2.2.3‎Hành‎vi‎nghỉ‎học‎nhiều 49

2.2.4‎Hành‎vi‎thường‎bỏ‎về‎giữa‎buổi‎học 52

Trang 2

2.2.6‎Hành‎vi‎không‎đóng‎góp‎‎ý‎kiến‎xât‎dựng‎bài 54

2.2.7‎Hành‎vi‎ít‎trao‎đổi‎bài‎học‎với‎bạn……….56

2.2.7‎Hành‎vi‎có‎ít‎nhất‎một‎lần‎sử‎dụng‎tài‎liệu‎mà‎chưa‎được‎phép 57

Chương 3:MÔ HÌNH HÓA VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ ĐẶC ĐIỂM NHÂN KHẨU HỌC VÀ ĐẶC ĐIỂM MÔI TRƯỜNG ĐÀO TẠO TỚI TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP CỦA HỌC VIÊN CAO HỌC 59

3.1 Mô hình hồi quy thứ nhất 63

3.2 Mô hình hồi quy thứ hai 70

3.3 Mô hình hồi quy thứ ba 74

3.4 Mô hình hồi quy thứ tư 78

3.5 Mô hình hồi quy thứ năm 79

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 80

Trang 3

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Chỉ số thực hành học tập tích cực của học viên cao học 32 Bảng 2.2: So sánh điểm chỉ số thực hành học tập tích cực theo ngành học 34 Bảng 3.1 Mô hình hóa các yếu tố tác động tối tính tích cực học tập của học viên cao học 60

Trang 4

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1: Giới tính và hành vi thường đặt câu hỏi với giảng viên 35

Biểu đồ 2: Tình trạng hôn nhân và hành vi thường đặt câu hỏi với giảng viên 36 Biểu đồ 3: Nơi cư trú và hành vi thường đặt câu hỏi với giảng viên 38

Biểu đồ 4: Vị trí chỗ ngồi và hành vi thường đặt câu hỏi với giảng viên khi chưa hiểu bài 40

Biểu đồ 5: Giới tính và hành vi thường tranh luận với giảng viên 41

Biểu đồ 6: Vị trí chỗ ngồi và hành vi thường tranh luận với giảng viên 42

Biểu đồ 7: Nơi cư trú và hành vi hoàn thành đầy đủ và đúng hạn bài tập giảng viên giao về nhà 44

Biểu đồ 8: Vị trí chỗ ngồi và hành vi không tích cực tham gia bài tập nhóm trên lớp 45

Biểu đồ 9: Giới tính và hành vi thường xuyên đi học muộn 46

Biểu đồ 10: Tình trạng hôn nhân và hành vi thường xuyên đi học muộn 47

Biểu đồ 11: Ngành học và hành vi thường xuyên đi học muộn 48

Biểu đồ 12: Tình trạng hôn nhân và hành vi nghỉ học nhiều 49

Biểu đồ 13: Ngành học và hành vi nghỉ học nhiều 51

Biểu đồ 14: Ngành học và hành vi thường bỏ về giữa buổi học 53

Biểu đồ 15: Ngành học và hành vi không tập trung nghe giảng 54

Biểu đồ 16: Ngành học và hành vi không đóng góp kiến xây dựng bài 55

Biểu đồ 17: Ngành học và hành vi ít trao đổi bài với bạn học 56

Biểu đồ 18: Giới tính và hành vi có ít nhất một lần sử dụng tài liệu mà chưa được phép 57

Trang 5

DANH MỤC HỘP

Hộp 1: Mức độ điểm danh và tính tích cực học tập của học viên cao học 70 Hộp 2: Sỹ số lớp và tính tích cực học tập của học viên cao học 74

Trang 6

DANH MỤC VIẾT TẮT

ĐHKHXH&NV Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn ĐHKHTN Đại học Khoa học Tự nhiên

ĐHBKHN Đại học Bách Khoa Hà Nội

ĐHKTQDHN Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội ĐHQGHN Đại học Quốc gia Hà Nội

PVS Phỏng vấn sâu

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong mọi thời đại, ở tất cả các quốc gia trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, giáo dục luôn giữ một vai trò quan trọng đối với sự phát triển của xã hội Bởi giáo dục quyết định chất lượng nguồn nhân lực, góp phần tạo ra một lực lượng lao động có tri thức khoa học, trình độ chuyên môn

kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp - nòng cốt của sự nghiệp xây dựng một quốc gia giàu mạnh và thịnh vượng

Với tư cách một tiểu hệ thống trong hệ thống xã hội, hệ thống giáo dục biến đổi theo sự chuyển mình của hệ thống xã hội Ở nước ta kể từ năm 1986, đất nước bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện về mọi mặt kéo theo sự biến đổi của giáo dục Quá trình toàn cầu hóa, hội nhập khu vực diễn ra mạnh mẽ đặt giáo dục trước những thử thách to lớn Vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục đặc biệt là giáo dục đại học và sau đại học, đáp ứng nhu cầu, đỏi hỏi ngày càng cao của xã hội, theo kịp bước tiến của các nước trong khu vực và trên thế giới được nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm Chất lượng giáo dục bị chi phối bởi nhiều yếu tố chủ quan và khách quan khác nhau Các yếu tố chủ quan xuất phát từ chính bản thân người học, các yếu tố khách quan có thể kể đến như: cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị học tập, phương pháp giảng dạy của giảng viên, bầu không khí học tập đều có những ảnh hưởng nhất định tới chất lượng giáo dục, đặc biệt là tới tính tích cực học tập của sinh viên, học viên Chú ý nhiều hơn vào việc phát huy những yếu tố chủ động, tích cực học tập của bản thân người học được xem như một sự đổi mới về phương pháp, cách thức giáo dục để đạt được chất lượng giáo dục cao hơn

Tính tích cực học tập được hiểu là sự tổng hợp các yếu tố bên trong như: nhận thức, xúc cảm và những hành vi bên ngoài biểu hiện thành phương pháp

Trang 8

học tập tích cực - yếu tố quyết định đến chất lượng giáo dục kể cả từ phía thành công của giảng viên và hiệu quả, kết quả học tập của sinh viên, học viên

Đề cập đến mảng giáo dục sau đại học, chúng ta bắt gặp rất nhiều những vấn đề vướng mắc hiện chưa được giải quyết, trong đó việc nâng cao tính tích cực học tập của học viên cao học là một vấn đề cần được quan tâm Chất lượng đào tạo sau đại học tại Việt Nam hiện nay nhìn chung chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội, nguyên nhân là do chương trình đào tạo được thiết kế chưa hợp lý, không khác nhiều với chương trình đạo tạo đại học; phương pháp giảng dạy của giảng viên chưa có những thay đổi phù hợp với nội dung đào tạo và trình độ nhận thức của đối tượng được đào tạo và một phần do bản thân học viên cao học chưa phát huy được tính chủ động, tích cực của mình trong học tập Theo ý kiến của TS Huỳnh Thanh Triều - giảng

viên Pháp văn, ĐHQG TP.HCM: “Học viên cao học hiện nay có phong cách

làm việc của một sinh viên đại học, thậm chí một sinh viên kém năng động”

Các nghiên cứu tìm hiểu về các yếu tố tác động tới tính tích cực học tập của học sinh các cấp và sinh viên Đại học trong giáo dục học, tâm lý học được tiến hành ngày càng nhiều tuy nhiên tại Việt Nam thời điểm này hiện chưa có một tài liệu nào tìm hiểu tính tính cực học tập của đối tượng học viên

sau đại học, do đó tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu “Một số yếu tố tác động tới

tính học tập của học viên cao học” với mục đích tìm hiểu ảnh hưởng của các

yếu tố chủ quan và khách quan tới hành vi học tập tích cực của học viên cao học, từ đó đưa ra một số giải pháp và gợi ý về mặt chính sách nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo sau đại học tại Việt Nam hiện nay

2 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Ý nghĩa lý luận

Đề tài mang tính thực nghiệm, được tiến hành nghiên cứu trên cơ sở vận dụng các lý thuyết xã hội học của Max Weber, Maslow và George

Trang 9

Homans về hành động xã hội, về nhu cầu và sự lựa chọn hợp lý để phân tích,

lý giải sự tác động của các yếu tố cá nhân và môi trường đào tạo tới tính tích cực học tập của người học Đồng thời đề tài cũng sử dụng bộ công cụ nghiên cứu đặc thù của xã hội học gồm có: hệ thống các phạm trù, khái niệm liên quan tới tính tích cực học tập và hệ thống các phương pháp nghiên cứu cụ thể nhằm thu thập những thông tin về vấn đề tính tích cực học tập của học viên cao học và các yếu tố tác động

Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu mong muốn cung cấp những thông tin thực nghiêm có giá trị về các yếu tố tác động tới tính tích cực học tập của học viên cao học góp phần giúp cho các nhà quản lý giáo dục, đào tạo hoạch định những kế hoạch, chương trình giáo dục và quản lý học viên cao học có hiệu quả, nhằm nâng cao chất lượng dạy và học cao học ở nước ta hiện nay

3 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Tìm hiểu thực trạng các dạng hành vi học tập của học viên cao học

Tìm hiểu thực trạng các phương pháp giảng dạy và các hình thức tổ

chức giảng dạy cao học

Mô hình hóa các yếu tố cá nhân và môi trường đào tạo tác động tới tính

tích cực học tập của học viên cao học

4 Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu:

Tính tích cực học tập của học viên cao học: Tác động của các yếu tố cá nhân và các yếu tố môi trường đào tạo

Khách thể nghiên cứu:

Học viên cao học tại bốn trường Đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội được lựa chọn gồm có:

Trường ĐHKHXH&NV - ĐHQG HN

Trang 10

Trường ĐHKHTN - ĐHQG HN

Trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội

Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Phạm vi nghiên cứu

Không gian: 4 trường nói trên

Thời gian: Nghiên cứu được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng

12 năm 2010 tới tháng 9 năm 2011

5 Giới hạn nghiên cứu của đề tài:

Trong khuôn khổ của luận văn thạc sỹ này: Tôi chỉ tập trung nghiên cứu về: Tính tích cực học tập của học viên cao học thuộc 4 khối ngành: Khối Khoa học xã hội (ĐHKHXH&NV, Khối Khoa học tự nhiên (ĐHKHTN); Khối Kinh tế (ĐHKTQD)và Khối kỹ thuật (Trường ĐHBK)

Tác động của một số yếu tố được coi là có ảnh hưởng tới tính tích cực học tập của học viên cao học như: Các yếu tố thuộc về đặc điểm nhân khẩu của học viên như: giới tính, tuổi, tình trạng hôn nhân và các yếu tố thuộc về môi trường đào tạo như: Phương pháp giảng dạy của giảng viên, các hình thức thi/kiểm tra, quy chế lớp học, cơ sở vật chất và trang thiết bị hỗ trợ học tập, sĩ số lớp

6 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết:

Câu hỏi nghiên cứu:

Câu hỏi 1: Những đặc điểm dân số học của học viên cao học như:

- Yếu tố giới tính

- Yếu tổ tuổi tác

- Yếu tố nghề nghiệp

- Yếu tố tình trạng hôn nhân

- Yếu tố mục đích theo học cao học

- Yếu tố nơi cư trú

Trang 11

Có ảnh hưởng như thế nào tới tính tích cực học tập của học viên cao học

Câu hỏi 2: Những yếu tố khách quan như:

- Yếu tố ngành học

- Yếu tố quy mô lớp học

- Yếu tố vị trí chỗ ngồi

- Yếu tố phương tiện hỗ trợ học tập

- Yếu tố phong cách giảng dạy của giảng viên

- Yếu tố bầu không khí học tập

- Yếu tố nội quy, quy chế học tập

Có ảnh hưởng như thế nào tới tính tích cực học tập của học viên cao học

Giả thuyết nghiên cứu:

Giả thuyết 1: Các yếu tố về dân số học của học viên cao học:

H1.1 Học viên cao học là nữ thường tập trung nghe giảng, chăm chỉ ghi chép bài, làm bài tập hơn học viên nam

H1.2 Học viên tuổi càng cao thì có tính tích cực học tập càng thấp H1.3 Học viên có nghề nghiệp thuộc nhóm các ngành sư phạm có hành

vi tranh luận với giảng viên về bài học nhiều hơn học viên thuộc các nghề nghiệp khác

H1.4 Những học viên đã kết hôn có xu hướng trao đổi mạnh dạn và thường xuyên về bài học với giảng viên hơn những học viên chưa kết hôn

H1.5 Học viên xuất thân từ nông thôn có xu hướng tập trung nghe giảng và ghi bài chăm chỉ hơn học viên xuất thân từ thành thị

H1.6 Học viên có mục đích học tập để nâng cao trình độ có xu hướng

đi học đầy đủ, tập trung nghe giảng, tham gia phát biểu ý kiến xây dựng bài, làm bài tập nghiêm túc hơn học viên có các mục đích học tập khác

Giả thuyết 2: Các yếu tố khách quan tác động tới tính tích cực học tập

của học viên cao học

Trang 12

H2.1 Học viên khối ngành xã hội có tính tích cực học tập cao hơn so với học viên khối ngành tự nhiên, kinh tế và kỹ thuật

H 2.2 Quy mô lớp học nhỏ thì học viên có xu hướng tập trung nghe giảng, ghi chép bài chăm chỉ hơn quy mô lớp học lớn

H2.3 Học viên ngồi ở vị trì đầu lớp chăm chú nghe giảng hơn học viên ngồi ở vị trí giữa và cuối lớp

H2.4 Khi được sử dụng các phương tiện hỗ trợ giảng dạy, học viên tham gia đóng góp ý kiến xây dựng bài học và chủ động trao đổi kiến thức nhiều hơn khi không được sử dụng

H2.5 Giảng viên khi có phương pháp giảng dạy tích cực sẽ kích thích được tính chủ động, tư duy sáng tạo, tính mạnh dạn của học viên, do đó học viên sẽ bày tỏ ý kiến và trao đổi về bài học tích cực hơn

H2.6 Học viên trong các lớp học có bầu không khí học tập sôi nổi đi học đầy đủ, trao đổi ý kiến về bài học thường xuyên hơn so với học viên trong các lớp học có bầu không khí học tập kém sôi nổi

H2.7 Học viên đi học đầy đủ hơn trong các lớp học mà nội dung, quy chế lớp học được thực hiện thường xuyên

Trang 13

Khung lý thuyết:-

Các yếu tố môi trường đào tạo

Các yếu tố cá nhân

của học viên cao học

Điều kiện KT-XH

Tính tích cực học tập của học viên cao học

Trang 14

7 Phương pháp nghiên cứu

Quan điểm của các nhà triết học: Các nhà triết học cho rằng mỗi một sự vật bao giờ cũng thể hiện tính tích cực của nó bởi vật chất luôn vận động và phát triển không ngừng

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã coi cá nhân là sản phẩm của các quan hệ xã hội và cho rằng cá nhân tích cực tác động vào đời sống xã hội và trở thành con người hoạt động làm phát triển xã hội Tính tích cực thể hiện ở sức mạnh của con người trong việc chinh phục, cải tạo thế giới tự nhiên, xã hội và cải tạo chính bản thân mình Theo V.I Lênin, tính tích cực là thái độ cải tạo của chủ thể với khách thể, đối với sự vật xung quanh, là khả năng của mỗi người đối với việc tổ chức cuộc sống, điều chỉnh nhu cầu, năng

Trang 15

lực của họ thông qua các mối quan hệ xã hội của họ thông qua các mối quan

hệ xã hội Quan điểm này được vận dụng trong toàn bộ đề tài để tìm hiểu các dạng hành vi học tập của người học, những biểu hiện mang bản chất tích cực trong quá trình học tập và các yếu tố tác động, ảnh hưởng tới tính tích cực đó

Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp được sử dụng trong đề tài nghiên cứu bao gồm:

- Phương pháp chọn mẫu:

Quy trình chọn mẫu được thực hiện một cách ngẫu nhiên với dung lượng mẫu dự kiến là 400 Nghiên cứu trường hợp tại 4 trường Đại học công lập của Hà Nội, tương ứng với 4 nhóm ngành là: Khối Khoa học xã hội (ĐHKHXH&NV, Khối Khoa học tự nhiên (ĐHKHTN); Khối Kinh tế (ĐHKTQD) và Khối kỹ thuật (Trường ĐHBK)

Ở mỗi trường lựa chọn khảo sát 100 học viên:

Trang 16

100 100%

56%

44 44%

100 100%

89%

11 11%

100 100%

44%

56 56%

100 100%

Do giới hạn thời gian đào tạo cao học ở mỗi trường là khác nhau nên chúng tôi không chọn mẫu theo cơ cấu năm học, mà căn cứ vào sự phân chia nội dung chương trình để chọn tại mỗi trường một lớp cao học học các môn chung (Triết học và ngoại ngữ) và một vài lớp cao học học các môn chuyên ngành (phụ thuộc vào quy mô lớp học để chọn một hay nhiều lớp chuyên ngành, đảm bảo số lượng mẫu quy định) Do đặc thù của các lớp học môn chung thường là ghép học viên của nhiều khoa lại với nhau nên sĩ số những lớp này thường rất đông, ngược lại các lớp học môn chuyên ngành có sĩ số thường thấp hơn rất nhiều (trung bình mỗi lớp chỉ hơn 20 học viên hoặc thấp hơn) Sở dĩ chúng tôi lực chọn theo phương pháp này nhằm xem xét chính xác sự tác động của yếu tố sĩ số lớp tới chất lượng học tập của học viên cao học

Trang 17

Cơ cấu về sĩ số của mẫu nghiên cứu:

Cách chọn tương ứng với từng lớp như sau:

Chọn học viên ngồi giữa dãy bàn từ dãy trên xuống dãy dưới

Không chọn hai học viên ngồi cạnh nhau để hỏi

-Phương pháp thu thập thông tin:

Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi:

Chúng tôi xây dựng bảng hỏi trên cơ sở của nội dung nghiên cứu gồm 3 phần sau đây:

Phần 1: Để khảo sát về các dạng hành vi học tập của học viên cao học,

chúng tôi đưa ra cho người trả lời 16 nhận định về các dạng hành vi học tập với hai mức đánh giá Đúng - Sai, trong đó có 9 nhận định về các dạng hành vi học tập mang tính tích cực, chủ động và 7 nhận định về các dạng hành vi học tập mang tính chất tiêu cực, thụ động và phản học tập

Phần 2: Chúng tôi tiến hành khảo sát về các yếu tố môi trường đào tạo

và tổ chức giảng dạy gồm có: phương pháp giảng dạy của giảng viên, các hình thức thi/kiểm tra, cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ học tập, bầu không khí học tập, sĩ số lớp học và mức độ điểm danh của giảng viên Phần câu hỏi này nhằm mục đích xem xét tương quan, tác động của các yếu tố thuộc về môi trường đào tạo tới tính tích cực học tập của người học

Trang 18

Phần 3: Cuối cùng, chúng tôi thu thập các thông tin cá nhân của học

viên cao học gồm có: giới tính, tình trạng hôn nhân, ngành học, nghề nghiệp, nơi cư trú hiện tại và trước khi theo học cao học, vị trí chỗ ngồi Những thông tin này hướng tới mục đích xem xét mối tương quan giữa các yếu tố cá nhân của học viên cao học và tính tích cực học tập

Phương pháp phỏng vấn sâu:

Để bổ sung thông tin cho các phân tích định lượng, chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu cá nhân với 8 học viên thuộc 4 trưởng Đại học trong mẫu nghiên cứu, mỗi trường chọn 2 đối tượng để phóng vấn Nội dung phỏng vấn xung quanh vấn đề hành vi tranh luận với giảng viên về bài học và tác động của nó

 Phương pháp quan sát

-Phương pháp xử lý thông tin:

Thông tin định lượng được xử lý bằng phần mềm thống kê chuyên dụng SPSS 16.0:

Chúng tôi thiết lập biến phụ thuộc: Chỉ số thực hành học tập tích cực của học viên cao học trên cơ sở tính toán tổng điểm trung bình các nhận định

về các dạng hành vi học tập Trong đó có 9 nhận định về dạng hành vi học tập tích cực, và 7 nhận định về dạng hành vi học tập tiêu cực, tổng là 16 nhận định tương ứng với 16 điểm, mỗi câu trả lời đúng về dạng hành vi học tập tích cực cho 1 điểm, câu trả lời sai cho dạng hành vi này là 0 điểm, và ngược lại với dạng hành vi học tập tiêu cực Chúng tôi tính điểm phần trăm cho chỉ số thực hành học tập tích cực của học viên cao học, điểm tối đa là 16 điểm, tương ứng với 100%

Trong phần các kết quả thống kê mô tả, chúng tôi sủ dụng các xử lý về:

Tần suất cho các biến về phương pháp giảng dạy của giảng viên, các

hình thức thi/kiểm tra, điểm cho cơ sở vật chất và trang thiết bị hỗ trợ giảng

Trang 19

dạy và học tập, bầu không khí học tập của lớp học và các thông tin cá nhân của người học Ngoài ra chúng tôi sủ dụng các kiểm định giá trị trung bình (T-test cho phân tích mối quan hệ giữa một biến định lượng: chỉ số thực hành học tập tích cực và 1 biến phân loại gồm 2 nhóm như biến giới tính; One Way Anova cho phân tích mối quan hệ giữa 1 biến định lượng: chỉ số thực hành học tập tích cực và 1 biến phân loại gồm nhiều nhóm như biến ngành học); kiểm định Cramer’V cho 2 biến phân loại, ví dụ như: kiểm định mối quan hệ giữa biến giới tính và dạng hành vi ít tranh luận với giảng viên trong giờ học

Trong phần mô hình hóa các yếu tố cá nhân và các yếu tố môi trường đào tạo tác động tới tính tích cực học tập của học viên cao học, chúng tôi xây dựng 5 mô hình hồi quy độc lập xem xét ảnh hưởng của các yếu tố về đặc điểm nhân khẩu học của học viên (giới tính, tuổi, ngành học); đặc điểm nơi cư trú; ngành nghề; tổ chức giảng dạy (gồm các yếu tố: cơ sở vật chất, trang thiết

bị hỗ trợ giảng dạy); phương pháp giảng dạy tới tính tích cực học tập

-Phương pháp phân tích tài liệu: Tiến hành phân tích các sách chuyên

môn, báo, tạp chí, giáo trình, báo mạng để khai thác những thông tin có liên quan tới vấn đề nghiên cứu

Trang 20

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Lý thuyết áp dụng:

1.1 1 Lý thuyết hành động xã hội của Max Weber

Luận điểm cơ bản của lý thuyết hành động xã hội của Max Weber là

hướng tới việc phân tích và làm sáng tỏ tính chất xã hội trong hành động của con người, để phân biệt ranh giới rõ ràng giữa hành động mang tính chất xã

hội và những hành vi thuần túy “phản ứng”, mang tính bản năng của con

người Cụ thể Max Weber lý giải tính xã hội trong hành động của con người thông qua hai yếu tố: thứ nhất, một hành động được coi là hành động xã hội

luôn luôn có sự tham gia của ý thức con người “Hành động xã hội là hành

động được chủ thể gắn cho một ý nghĩa chủ quan nào đó ” M Weber thì

gọi yếu tố ý thức đó chính là ý nghĩa chủ quan và ý nghĩa chủ quan này có tác dụng định hướng mục đích của hành động Vậy những nhân tố nào tham gia vào ý nghĩa chủ quan chi phối hành động của cá nhân? Max Weber đã hướng tới lý giải động cơ, nhu cầu và ý nghĩa của hành động xã hội Như vậy, trong cấu trúc của hành động xã hội, yếu tố đầu tiên phải nhắc đến là nhu cầu, lợi ích cá nhân Nhu cầu của chủ thể tạo ra động cơ thúc đẩy hành động để thỏa mãn nó Nhu cầu xuất phát từ những trạng thái tâm lý, tình cảm, tinh thần của mỗi con người Động cơ là yếu tố bên trong, khó nắm bắt, tuy nhiên nó lại

tạo nên tính tích cực hành động của chủ thể, tham gia định hướng hành

động, và qui định mục đích của hành động Các động cơ này cũng hướng các hành động xã hội đến việc đạt được những mục đích nhất định hay đến những điều kiện sống và làm việc, điều kiện hoạt động nói chung Như vậy, hành động xã hội luôn gắn với tính tích cực của cá nhân Tính tích cực này lại bị qui định bởi hàng loạt các yếu tố như nhu cầu, lợi ích, định hướng giá trị của

Trang 21

chủ thể hành động Tất cả các yếu tố và quá trình đó là phương thức tồn tại của chủ thể.[ 7, tr.130]

Thông qua lý thuyết hành động xã hội, chúng ta có thể hiểu được tính tích cực trong hoạt động học tập của học viên cao học Khi tham gia vào quá trình học tập, học viên cũng là chủ thể hành động Hoạt động học tập của học viên là tập hợp những hành vi học tập được học viên gắn cho ý nghĩa chủ quan và mục đích nhất định, đồng thời cũng có sự hướng tới hành vi của người khác trong quá trình thực hiện Nghĩa là học viên xác định rõ việc thực hiện những hành động như đi học đúng giờ, ghi chép bài đầy đủ, nghe giảng, tìm kiếm thêm tài liệu trên thư viện, ôn thi v.v… để làm gì, có ý nghĩa gì với chính bản thân họ và ảnh hưởng như thế nào đến những người xung quanh Những hành vi học tập là sản phẩm của ý thức chủ quan của mỗi học viên Khi những động cơ và mục đích học tập của mỗi học viên khác nhau sẽ dẫn đến việc thực hiện hành vi khác nhau Một học viên đến lớp chỉ để điểm danh cho đủ sĩ số lớp sẽ có hành vi ghi bài và nghe giảng khác với một học viên đến lớp tiếp nhận kiến thức để trả bài tốt, một học viên có mục đích học tập để nâng cao trình độ và tiếp nhận thêm tri thức cũng sẽ có những hành vi tham gia vào các bài tập nhóm trên lớp, tìm kiến thêm tài liệu học tập, trao đổi với bạn học và tranh luận với giảng viên khác hơn những học viên đi học theo phong trào hay để học chỉ để lấy tấm bằng Tính tích cực trong hoạt động học tập của học viên chính là việc sinh viên đề ra ý nghĩa, đề ra mục đích cho hành

vi học tập của mình và sự ý thức được cần thiết phải thực hiện nó Ý nghĩa của hành động tùy vào nhận thức chủ quan của mỗi học viên, nhưng tính tích cực thì luôn gắn liền với hành động ấy Như vậy, chúng ta có thể phân tích tính tích cực của học viên thông qua tìm hiểu động cơ, mục đích và việc học viên gắn ý nghĩa vào từng hành động của mình Thông qua lý thuyết hành động xã hội giúp chúng ta hiểu hơn về bản chất hành vi học tập của học viên

Trang 22

1.1.2 Quan điểm xã hội học về giáo dục của Emilie Durkheim

Quan điểm về giáo dục của Emile Durkheim được thể hiện trong cuốn

sách “Giáo dục học và xã hội học” được xuất bản năm 1911 trong bối cảnh

các thành tựu của khoa học tự nhiên đang đưa phương pháp luận khoa học tự nhiên lên vị trí độc tôn trong xã hội, vì vậy ông tham gia vào cuộc đấu tranh dành lại vị trí và ý nghĩa cho phương pháp luận khoa học xã hội Ông đã quan tâm nghiên cứu giáo dục với tư cách là một phần của hệ thống khoa học xã hội Nhìn nhận giáo dục dưới góc độ xã hội học, Emilie Durkheim đã phân tích chức năng xã hội của hệ thống giáo dục trên cơ sở lý thuyết cấu trúc - chức năng, từ đó chỉ ra sự tồn tài và phát triển của giáo dục với tư cách một tiểu hệ thống xã hội xuất phát từ việc đáp ứng các nhu cầu cơ bản của xã hội tổng thể, cụ thể ở đây là nhu cầu tiếp nhận tri thức, nhu cầu học hỏi, nhu cầu rèn luyện đạo đức, kỹ năng Điểm then chốt trong nhiệm vụ của giáo dục là

tạo ra “một lý tưởng của con người, một lý tưởng quy định về trí tuệ, thể chất

và đạo đức.” Để thực hiện điều này giáo dục đã duy trì và củng cố sự thuần

nhất giữa các cá nhân - cơ sở của tồn tại xã hội, bằng việc “ghi dấu ấn vào

trong đầu óc của đứa trẻ những mối quan hệ cơ bản cần thiết trong cuộc sống của chúng tại cộng đồng Thông qua giáo dục, các tồn tại cá nhân trở thành con người xã hội” [ 26, tr.78] Luận điểm này đã bao hàm toàn bộ mục đích

của một nền giáo dục: đó là việc giáo dục toàn diện mọi mặt đối với một cá nhân, đồng thời cũng đã chỉ ra giáo dục là một quá trình xã hội hóa thế hệ trẻ, khi tham gia vào môi trường nhà trường, quá trình xã hội hóa cá nhân bắt đầu mang tính hệ thống, và trường học chính là môi trường quan trọng nhất giúp

cá nhân hòa nhập với các thành viên khác, hình thành và duy trì sự kết nối xã hội một cách liên tục và bền vững Bởi vì không chỉ được chuyển giao các tri thức về khoa học cơ bản, các kỹ năng, giá trị trong môi trường nhà trường, cá nhân còn học hỏi được các kinh nghiệm xã hội, tham gia vào các mối quan hệ

Trang 23

xã hội - điều kiện tiền đề cho quá trình hội nhập xã hội Vận dụng quan điểm này trong nghiên cứu để thấy được tầm quan trọng và sự tác động của yếu tố môi trường đào tạo tới sự hình thành, hoàn thiện nhân cách cá nhân nói chung

và tới tính tích cực học tập của học viên nói riêng Bên cạnh những yếu tố về đặc điểm nhân khẩu, nơi cư trú, nghề nghiệp của cá nhân người học thì các yếu tố khách quan đến từ môi trường đào tạo như: cơ sở vật chất, trang thiết

bị kỹ thuật hỗ trợ giảng dạy và học tập; đội ngũ giảng viên, nội dung, chương trình và phương pháp giảng dạy; nội quy, quy chế lớp học ; bầu không khí học tập góp phần không nhỏ vào quá trình học tập của học viên Dựa trên quan điểm này chúng tôi xem xét đưa ra giả thuyết về tác động của các yếu tố thuộc môi trường đào tạo tới tính tích cực học tập của học viên cao học, chẳng hạn như: những lớp học có bầu không khí học tập sôi nổi sẽ kích thích học viên hăng hái, nhiệt tình học tập hơn; hay giảng viên khi kết hợp nhiều phương pháp giảng dạy, sử dụng phương tiện kỹ thuật hỗ trợ sẽ tăng chất lượng, hiệu quả của bài giảng và làm tăng tính tích cực học tập của người học; hay những môn học giảng viên xiết chặt hơn về kỷ luật như: điểm danh thường xuyên, trừ điểm khi nghỉ học thì học viên cũng sẽ có xu hướng đi học chăm chỉ hơn những môn học mà giảng viên ít điểm danh hoặc không có một hình phạt nào cho việc nghỉ học tự do và đi học muộn

Một luận điểm quan trọng nữa mà Emile Durkheim nhấn mạnh trong quan điểm về giáo dục nữa chính là mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh

Ông cho rằng “bất kỳ sự thay đổi nào trong hệ thống giáo dục cũng phải được

các giáo viên thúc đẩy trước tiên để đáp ứng được các nhu cầu mới của xã hội và cũng đáp ứng nhu cầu mới của hệ thống ”[ 26, tr.90] Luận điểm này

của ông nhấn mạnh vai trò quan trọng của người thầy giáo trong quá trình chuyển giao những tri thức khoa học, kỹ năng, kinh nghiệm, các khuôn mẫu giá trị, khuông mẫu hành vi tới người học sinh Có thể nói người thầy giáo là

Trang 24

người đi đầu trong việc lĩnh hội mọi sự cải biến theo hướng tích cực và tiến

bộ của xã hội để truyền đạt lại cho thế hệ học sinh, họ có vai trò là cầu nối giữa người học và những nhu cầu ngày càng cao của xã hội, họ càng làm tốt nhiệm vụ cầu nối này thì kết quả đầu ra của giáo dục sẽ là những nguồn nhân lực, đội ngũ tri thức, đội ngũ lao động có chất lượng cao của xã hội Vận dụng quan điểm này trong nghiên cứu của mình, chúng tôi xem xét ảnh hưởng của yếu tố phương pháp giảng dạy của giảng viên tới tính tích cực học tập của học viên, cụ thể là những thay đổi, cải tiến về phương pháp giảng dạy như: chuyển từ phương pháp giảng dạy truyền thống (độc chép, độc thoại, thuyết trình kết hợp đọc chép) sang phương pháp giảng dạy mới (thảo luận nhóm theo chủ để, định hướng, gợi mở vấn đề, sủ dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại hỗ trợ giảng dạy ) sẽ kích thích tính chủ động tư duy và làm việc độc lập của học viên, từ đó tăng tính tích cực học tập của họ

1.1.3 Lý thuyết lựa chọn hợp lý:

Trung tâm của thuyết lựa chọn hợp lý là chủ thể hành động Việc phân

công chủ thể hành động tập trung vào phân tích mục đích và tính chủ động

tích cực của chủ thể đó trong nội dung hành động Chủ thể hành động là con

người vì thế nó mang các đặc tính như có sở thích, nguyện vọng, ước mơ Tuy nhiên trong quá trình tương tác với người khác không phải mọi sở thích, ước

mơ đều được thực hiện Vì thế theo quan điểm của các nhà lý thuyết lựa chọn hợp lý thì cần phải tập trung vào nghiên cứu tính hợp lý của mục đích trong quá trình thực hiện hành động của chủ thể Tuy nhiên mục đích mà chủ thể đạt tới không thể không liên quan đến sở thích và động cơ của chủ thể hành động vì kết quả của hành động được thể hiện qua mục đích mà nó đạt được cho nên cả động cơ, ý nghĩa, phương tiện đều được phản ánh trong kết quả hành động đó Lý thuyết lựa chọn hợp lý xuất phát từ mục đích mà ý thức chủ quan về ý nghĩa mà hành động đạt tới Do vậy nó tính tới yếu tố hiệu quả của

Trang 25

hành động Muốn xem xét yếu tố hiệu quả mà chủ thể cho là hợp lý cần phải phân tích những khả năng khác nhau biểu hiện qua mức độ (cấp độ hành động) Như vậy yếu tố thứ nhất quyết định hiệu quả của hành động liên quan đến khả năng chủ quan của chủ thể hành động Yếu tố thứ hai ảnh hưởng đến kết quả hành động chính là nhận thức của chủ thể về những chi phí cơ hội hay những chi phí liên quan đến những sự kiện xảy ra trước khi hành động với tư cách là những tham số để tham khảo Những chi phí này đều rơi vào trường tư duy của chủ thể hành động Để đạt được mục tiêu nào đó chủ thể hành động

đã để ý, quan tâm đến những chi phí sẽ phải bỏ qua trong tương quan với thu nhập hay phần thưởng nhận được Tương quan này phải có đủ hấp dẫn và lôi cuốn thì chủ thể mới quyết định hành động

Theo Friedman và Hechter thì đối với chủ thể hành động được xem là những nhân vật hoạt động có mục đích và có các sở hữu riêng, có hai cơ chế ảnh hưởng quan trọng đối với sự lựa chọn hợp lý:

1) Tính tổng thể hay tính quá trình xã hội gây một áp lực đối với hành động đơn lẻ của các cá nhân

2) Tầng thông tin hay tầng giá trị của những thông tin trong việc chủ thể lựa chọn phương án hành động.Tóm lại các chủ thể hành động sẽ lựa chọn phương án hành động phù hợp với khả năng của bản thân và hợp lý trong tương quan với những chi phí cơ hội, những áp lực từ phía những cơ chế tác động của các thể chế của xã hội

Vận dụng lý thuyết lựa chọn hợp lý, nghiên cứu đi sâu phân tích

những yếu tố tác động tới tính cực học tập của học viên cao học Có thể thấy giữa các nhóm học viên có những đặc điểm khác nhau về năng lực bản thân hay môi trường sống khác nhau sẽ có những lựa chọn khác nhau cho việc thực hiện các dạng hành vi học tập Mỗi một dạng hành vi học tập mà họ lựa chọn thực hiện và mức độ thức hiện chính là sự biểu hiện ăn khớp, phù hợp với mô

Trang 26

hình nhân cách của mỗi một cá nhân và khuôn mẫu chuẩn mực, giá trị mà họ tiếp nhận từ điều kiện, hoàn cảnh sống

1.2 Các khái niệm công cụ

Theo quan điểm của các nhà tâm lý học:

S Freud - nhà phân tâm học cho rằng tính tích cực của con người được hiểu như một sức mạnh tự nhiên, sinh vật giống như bản năng động vật Luận điểm cơ bản của ông là: Con người gồm ba khối (cái ấy, cái vô thức bao gồm các bản năng vô thức như ăn uống tình dục, tự vệ trong đó bản năng tình dục giữ vai trò trung tâm quyết định toàn bộ đời sống tâm lý và hành vi của con người, cái ấy tồn tại theo nguyên tắc thỏa mãn và đòi hỏi; cái Tôi là con người thường ngày, con người có ý thức, tồn tại theo nguyên tắc hiện thực Cái tôi

có ý thức theo ông là cái tôi giả hiệu, cái tôi bề ngoài của cái nhân lõi bên trong là “cái ấy”; Cái Siêu Tôi là cái siêu phàm, cái tôi lý tưởng không bao giờ vuơn tới được và tồn tại theo nguyên tắc kiểm duyệt, chèn ép

Tâm lý học hành vi quan niệm: Hành vi của con người cũng như hành vi của động vật là tổng số các cử động bên ngoài nảy sinh ở cơ thể nhằm đáp lại một kích thích nào đó Toàn bộ hành vi, phản ứng của con người và động vật phản ánh bằng công thức:

S R

( Stimulant Reaction )

Kích thích Phản ứng

Trang 27

Chủ nghĩa hành vi không thấy sự khác biệt giữa con người và động vật

Họ coi con người là một thực thể giống như máy móc, phản ứng bằng bắp thịt dưới tác động vật lý Sau này, các đại biểu của chủ nghĩa hành vi mới như Tomen, Hulơ … có đưa vào những biến số trung gian bao hàm một số yếu tố như nhu cầu, trạng thái chờ đón, kinh nghiệm sống của con người hoặc hành

vi tạo tác nhằm đáp ứng các kích thích có lợi cho cơ thể nhưng về cơ bản cũng vẫn coi hành vi con người có tính chất cơ học,, máy móc Chủ nghĩa hành vi loại trừ ý thức và vai trò quyết định của ý thức trong sự lựa chọn các

ấn tượng và cải biến chúng trong tâm hồn, cũng như việc lập kế hoạch cho bản thân hoạt động [7, tr131]

Từ sự phân tích trên chúng tôi cho rằng tính tích cực của cá nhân gắn liền với trạng thái hoạt động của chủ thể Tính tích cực bao hàm tính chủ động, sáng tạo, tính có ý thức của chủ thể trong hoạt động Tính tích cực của cá nhân là một thuộc tính của nhân cách được đặc trưng bởi sự chi phối mạnh

mẽ của các hành động đang diễn ra đối với đối tượng, tính trương lực của các trạng thái bên trong của chủ thể ở thời điểm hành động, tính qui định của mục đích hành động trong hiện tại, tính siêu hoàn cảnh và tính bền vững tương đối của hành động trong sự tương quan với mục đích đã thông qua Tính tích cực thể hiện ở sụ nỗ lực cố gắng của bản thân, ở sự chủ động, tự giác hoạt động và cuối cùng là kết quả cao của hoạt động có mục đích của chủ thể Tính tích cực được nảy sinh, hình thành và phát triển trong hoạt động

Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người trong đời sống xã hội Để tồn tài và phát triển, con người luôn tìm tòi, khám phá và cải biến môi trường để phục vụ cho cuộc sống của mình Tuy vật tính tích cực có mặt tự giác và tự phát Theo Thái Duy Tuyên, tính tích cực tự phát chính là những yếu tố tiềm ẩn bên trong con người, bẩm sinh, bao gồm tính tò mò, hiếu kỳ mặt tự phát của tính tích cực đôi khi không đem lại những thuận lợi cho

Trang 28

chủ thể hành động Mặt tự giác của tính tích cực là trạng thái tâm lý tính tích cực có mục đích và đối tượng rõ rệt, và có những biểu hiện như: óc quan sát tinh tế, trí tò mò trong nghiên cứu khoa học, phát hiện các vấn đề mới; tư duy

có phê phán Nghĩa là ở mặt này tính tích cực của con người mang ý thức rõ ràng Như vậy nhờ có tính tích cực tự giác, con người có thể đạt được những tiến bộ trong đời sống xã hội Vì vậy hình thành và duy trì và phát triển tính tích cực tự giác của các chủ thể hành động là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục để tạo ra những con người có khả năng thích nghi, đáp ứng được những nhu cầu ngày càng cao của quá trình phát triển

1.2.2 Khái niệm tính tích cực học tập

Học tập là hoạt động chủ đạo của con người trong suốt quá trình sống Thông qua quá trình học tập, con người nhận thức là lĩnh hội được những tri thức mà con người đã tích lũy được, đồng thời nhờ có tính tích cực mà con người có thể vận dụng những tri thức được tiếp nhận vào các hoạt động thực tiễn nhằm cải biến cuộc sống của mình theo hướng đi lên, hơn nữa có thể sáng tạo ra những tri thức khoa học mới, góp phần làm giàu thêm kho tàng tri thức của nhân loại

Tính tích cực học tập là một khái niệm dùng để chỉ quá trình huy động các yếu tố bên trong (nhận thức, cảm xúc ) kết hợp với các biểu hiện bên ngoài thông qua các cử chỉ, lời nói, hành vi để nhằm thực hiện mục đích học

tập mà chủ thể hành động hướng tới [23, tr13]

Tính tích cực của chủ thể hành động có thể được phân chia thành ba dạng sau đây:

Thứ nhất là tính tích cực trí tuệ: là một thành tố cơ bản của tính tích cực

cá nhân ở hình thái hoạt động bên trong (sinh lý và tâm lý), thường đươc gọi

là hoạt động trí tuệ hay trí óc ( tri giác, ghi nhớ, nhớ lại, tưởng tượng, tư duy… ) Trong nhận thức và học tập, hoạt động trí tuệ giữ vai trò thiết yếu vì

Trang 29

vậy tính tích cực trí tuệ là cốt lõi của tính tích cực nhận thức và cúng với tính tích cực nhận thức tạo nên nôi dung chủ yếu của tính tích cực học tập [23, tr13]

Thứ hai là tính tích cực nhận thức: Là trạng thái hay dạng phân hóa của tính tích cực cá nhân được hình thành và thực hiện trong quá trình nhận thức của chủ thể Nó là tính tích cực chung được huy động để giải quyết các nhiệm

vụ nhận thức và đạt các mục tiêu nhận thức Hình thái bên trong của tính tích cực nhận thức gồm các hoạt động trí óc, tâm vận, các chức năng cảm xúc, ý chí, các phản xạ thần kinh cấp cao, các biến đổi của nhu cầu, hứng thú, tình cảm Hình thái bên ngoài gồm các hoạt động quan sát, khảo sát, ứng dụng thực nghiệm, đánh giá, thay đổi, dịch chuyển đối tượng Tính tích cực nhận thức biểu hiện sự nỗ lực của chủ thể khi tương tác với đối tượng trong quá trình học tập, nghiên cứu, thể hiện sự nỗ lực của hoạt động trí tuệ, sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lý như: hứng thú, chú ý nhằm đạt được mục đích đặt ra.Tính tích cực nhận thức phát sinh không chỉ từ nhu cầu nhận thức mà còn từ nhu cầu sinh học, nhu cầu đạo đức thẩm mỹ, nhu cầu giao lưu văn hóa Hạt nhân cơ bản của tính tích cực nhận thức là hoạt động

tư duy của cá nhân được tạo nên do sự thúc đẩy của hệ thống nhu cầu đa

dạng [23, tr14]

- Tính tích cực học tập: là tính tích cực cá nhân được phân hóa và hướng vào giải quyết các vấn đề, nhiệm vụ học tập để đạt các mục tiêu học tập Tính tích cực học tập bao gồm hai hình thái bên trong và bên ngoài Hình thái bên trong của tính tích cực học tập chủ yếu bao hàm những chức năng sinh học, sinh lý, tâm lý, thể hiện rõ ở đặc điểm khí chất, tình cảm, ý chí, các chức năng

và đặc điểm nhận thức như mức độ hoạt động trí tuệ, tư duy, tri giác, tưởng tượng …và các chức năng vận động thể chất bên trong (các nội quan, các quá trình sinh lý, sinh hóa) Hình thái bên ngoài của tính tích cực học tập bao hàm

Trang 30

các chức năng, khả năng, sức mạnh thể chất và xã hội, thể hiện ở những đặc điểm hành vi, hành động di chuyển, vận động vật lý và sinh vật, nhất là hành động ý chí, các phương thức tiến hành hoạt động thực tiễn và tham gia các quan hệ xã hội Nó được hình thức hóa bằng các yếu tố cụ thể như cử chỉ, hành vi, nhịp điệu, cường độ hoạt động, sự biến đổi sinh lý … chúng ta có thể quan sát, đo đạc, đánh giá [23, tr14]

Tính tích cực trong quá trình học tập của người học thực chất là sự tổng hợp của bà dạng tính tích cực trên Tính tích cực học tập và tính tích cực nhận thức tuy có mối liên hệ chặt chẽ với nhau (tính tích cực nhận thức là tiền đề thúc đẩy tính tích cực học tập) nhưng không phải là một, có nhiều trường hợp tính tích cực học tập thể hiện ra bên ngoài chứ không phải là tính tích cực trong tư duy, đây chính là hình thái bên ngoài của tính tích cực (hành vi, hành động, phương thức hành động ) Ngoài ra tính tích cực học tập còn có mối quan hệ nhân quả với các phẩm chất nhân cách của người học như: tính tự giác, tính độc lập tư duy, tính chủ động và tính sáng tạo

Tính tích cực học tập biểu hiện dưới những hình thức sau đây:

Thứ nhất là xúc cảm học tập: thể hiện ở niềm vui, sự hứng thú, sự sốt sắng với việc học tập Đây là những biểu hiện thuộc yếu tố tâm lý bên trong các chủ thể hành động

Thứ hai là sự chú ý: Thể hiện ở sự tập trung trí tuệ và suy nghĩ trong quá trình học tập (chăm chú nghe giảng, không làm việc riêng; chăm chú làm bài tập được giao theo sự hướng dẫn của giảng viên)

Thứ ba là hành vi: Đây là biểu hiện bên ngoài của tính tích cực, dễ nhận thấy (hăng hái tham gia vào mọi hình thức của hoạt động học tập: giơ tay phát biểu ý kiến của mình; nhiệt tình trao đổi bài học với bạn học; đặt câu hỏi với giảng viên khi có vấn đề băn khoăn; ghi chép bài cẩn thận, đầy đủ, logic; cử chỉ nhanh nhẹn, khẩn trương trong khi thực hiện mọi hoạt động tư duy )

Trang 31

Cuối cùng là sự lĩnh hội: Kết quả của một một loạt những yếu tố bên trong và bên ngoài của tính tích cực học tập (xúc cảm học tập tích cực, sự chú

ý, và hành vi tích cực) cuối cùng sẽ dẫn đến một sự tiếp nhận kiến thức một cách tích cực và hiệu quả: lĩnh hội kiến thức nhanh, đúng, tái hiện được khi cần, chủ động vận dụng được kiến thức, kinh nghiệm và kỹ năng khi gặp tình huống mới để nhận được những vấn đề mới [23, tr16]

1.3 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Tư tưởng nhấn mạnh vai trò tích cực, chủ động của người học, xem người học là chủ thể của quá trình nhận thức đã có từ lâu đời Vào thế kỷ thứ

XVII, A.Komenxki đã viết “giáo dục có mục đích đánh thức năng lực nhạy

cảm, phán đoán đúng đắn, phát triển nhân cách Hãy tìm ra phương pháp cho phép giáo viên dạy ít hơn, học sinh học nhiều hơn” Tư tưởng này bắt đầu

rõ nét từ thế kỷ 18, 19 và đa dạng trong thế kỷ XX Trào lưu giáo dục hướng vào người học xuất hiện đầu tiên ở Mỹ, sau đó lan sang Tây Âu và châu Á

đặc biệt là ở Nhật Bản, thể hiện ở các mục tiêu: “Dạy học hướng vào người

học; lấy học sinh, sinh viên làm trung tâm”

Có rất nhiều các nghiên cứu về tính tích cực học tập của học sinh, sinh viên ở trong và ngoài nước Nhìn chung các nghiên cứu này đi theo 2 xu hướng chính là: Xu hướng thứ nhất chỉ ra các hình thức biểu hiện và các phương pháp thúc đẩy hành vi học tập tích cực Xu hướng thứ hai là nghiên cứu các yếu tố tác động tới hành vi học tập tích cực của học sinh, sinh viên

Xu hướng phân tích các hình thức biểu hiện và các phương pháp

nhằm thúc đẩy tính tích cực học tập của học sinh, sinh viên:

Meyers and Jones(1993) định nghĩa tính tích cực học tậplà các phương pháp, kỹ thuật giúp sinh viên tiếp thu bài học một cách dễ dàng hơn Tính tích cực học tập xuất phát từ 2 giả định: thứ nhất, việc học tập bắt nguồn từ những

nỗ lực tự nhiên của người học; thứ hai, mỗi cá nhân khác nhau có các phương

Trang 32

pháp học tập khác nhau Hai tác giả này cũng đã đề xuất một số phương pháp học tập có hiệu quả, thúc đẩy được tính tích cực học tập của sinh viên như: Làm việc nhóm, chơi trò chơi, tranh luận, phân tích các bài tập tình huống, bản đồ hóa các khái niệm l‎ý thuyết…

Michael Prince (2004) định nghĩa hành vi học tập tích cực là nói đến các phương pháp có sự tham gia của sinh viên trong quá trình học tập Phương pháp học tập tích cực đòi hỏi sinh viên có những hoạt động học tập

có ý nghĩa và luôn đặt câu hỏi về việc họ sẽ làm Khác với phương pháp học tập truyền thống chỉ đánh giá tính tích cực học tập của sinh viên dựa vào các hoạt động thực hiện ở nhà như: thực hành và làm bài tập ở nhà thì phương pháp học tập tích cực kiểu mới lại đề cập tới việc thiết kế, tổ chức các hoạt động học tập mang tính tích cực ngay trên lớp

Kathleen McKinney, Cross Chair (2010) định nghĩa tính tích cực học tập là các phương pháp giúp sinh viên tiếp thu bài học một cách dễ dàng hơn Các phương pháp học tập tích cực: học tập theo nhóm, chơi trò chơi, thảo luận, phân tích các bài tập tình huống, mô hình hóa các khái niệm và cấu trúc bài học

Về vấn đề các phương pháp học tập giúp phát huy tính tích cực học tập của sinh viên, Wilbert J McKeachie (1998) đã kết luận rằng mọi hoạt động tham gia học tập thụ động nhìn chung đều hạn chế khả ghi nhớ kiến thức của sinh viên Theo Ronald A Berk trong cuốn sách viêt về “Professors are from

Mars Students are from Snickers" (Mendota Press) ” thì 100% sinh viên ghi nhớ thông tin qua các kênh: nghe, nhìn, cảm nhận ,cùng một số hoạt động ngoài lề khác Tuy nhiên nghiên cứu cũng chỉ ra nếu có sự tổ chức lại và thay đổi cách thức giảng viên giới thiệu tài liệu cho sinh viên của họ sẽ tạo ra môi trường làm tăng đáng kể sự tiếp thu kiến thức của sinh viên Việc tạo ra một

Trang 33

tình huống cụ thể liên quan tới bài học và yêu cầu các sinh viên phải hợp tác làm việc cùng nhau là một ví dụ Nó là một trong những phương pháp phát huy được tính tích cực học tập của người học Theo tác giả, phương pháp phát huy tính tích cực học tập của người học được đề xuất ở đây là thúc đẩy sự tham gia trực tiếp, chủ động của sinh viên vào quá trình học tập ngay trên lớp Nghĩa là thay vì cách tiếp nhận thông tin đơn giản qua nghe và nhìn, sinh việc tiếp nhận thông tin đồng thời tham gia vào việc phân tích thông tin đó Ngoài việc lắng nghe giảng viên thuyết trình, sinh viên hoàn toàn có thể cùng trao đổi, phản hồi ý kiến của mình về vấn đề với giảng viên, hoặc trao đổi với những sinh viên khác Tác giả nêu lên một phương pháp cụ thể mà ông thường sử dụng trong lớp học của mình để thúc đẩy sự tham gia tích cực của sinh viên đó là hoạt động hợp tác học tập Biểu hiện cụ thể của hoạt động này

là tạo điều kiện cho sự tương tác giữa các sinh viên với nhau trong quá trình học và tiếp nhận các tài liệu bằng cách hình thành các nhóm sinh viên làm việc cùng nhau, giảng viên thường xuyên đặt các câu hỏi về vấn đề, và cho phép các nhóm thảo luận trong một khoảng thời gian nhất định, sau đó sẽ chỉ định ngẫu nhiên nhóm trình bày Tác giả chỉ ra những tác động rất tích cực của phương pháp làm việc cùng nhau này:

- Tăng sự tương tác giữa sinh viên và giảng viên

- Tăng sự tương tác giữa các sinh viên với nhau

- Cải thiện kết quả học tập

- Phát triển các kỹ năng giao tiếp

- Tăng hiệu quả làm việc nhóm

- Tăng thái độ tích cực quan tâm tới vấn đề và động cơ học tập

Trang 34

Tác giả củng chỉ ra một số nguyên nhân khiến cho phương pháp này đem lại hiệu quả cao:

- Khi làm việc độc lập, các cá nhân có thể cảm thấy mệt mỏi và từ bỏ công việc, ngược lại khi làm việc trong nhóm, các thành viên trong nhóm luôn có

xu hướng làm tiếp công việc do có sự hợp tác, phân công và giúp đỡ lẫn nhau

- Khi làm việc theo nhóm, các cá nhân giảm sự lo lắng, sợ hãi hơn khi bày

tỏ ý kiến, trả lời câu hỏi của mình hơn là việc một mình cá nhân đó trực tiếp đối mặt với giảng viên và trước cả lớp

- Cá nhân cũng có nhiều chọn lọc, thu thập được nhiều phướng án để giải quyết vấn đề từ ý kiến của các thành viên khác trong nhóm

Có rất nhiều các nghiên cứu tại Việt Nam đi theo hướng tìm hiểu các phương pháp thúc đẩy tính học tập tích cực của học sinh, sinh viên được thực hiện, phần lớn là các nghiên cứu về giáo dục học và tâm lý học :

Nghiên cứu “Phát huy tính tích cực của sinh viên trong dạy – học học

phần Đại số tuyến tính theo chương trình Cao đẳng Sư phạm mới” của Th.s

Nguyễn Thiết – trường Cao Đẳng Sư phạm Kon Tum đã phân tích phương pháp dạy học phát huy tính tích cực học tập của sinh viên Theo tác giả phương pháp dạy học tích cực ở đây phải hướng tới mục tiêu phát huy tính tích cực, chủ động của người học Một số phương pháp dạy học tích cực được

đề cập đến như: dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của sinh viên (đặt sinh viên vào những tình huống có vấn đề hoặc tự đặt vấn đề theo cách nghĩ của mình và tự giải quyết Theo cách này sinh viên không chỉ nắm được kiến thức mà còn học được phương pháp tự tạo ra kiến thức, phát huy được tiềm năng sáng tạo của họ); dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học; tăng cường học tập cá thể phối hợp với học tập hợp tác; kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò

Trang 35

Đề tài: “Phát huy tính tích cực nhận thức của người học” do

GS.TSKH Thái Duy Tiên thực hiện đã đề cập tới phương pháp dạy học tích cực để phát huy tính tích cực nhận thức của người học Tác giả đã đưa ra một số phương pháp dạy học tích cực đối với người dạy như: cung cấp kiến thức cơ bản có chọn lọc, thúc đẩy sinh viên tự học, kết hợp với học tập tập thể (theo nhóm, tổ), sơ đồ hóa và mô hình hóa cấu trúc bài học giúp học sinh

dễ nhớ và vận dụng

Th.s Lê Thị Xuân Liên với đề tài “Phát huy tính tích cực của học sinh –

sinh viên trong dạy toán ở trường Cao đẳng Sư phạm” tập trung phân tích các

biểu hiện của tính tích cực học tập và các phương pháp dạy học nhằm thúc đẩy tính tích cực học tập của học sinh, sinh viên Theo tác giả, có thể chia các hình thức biểu hiện tính tích cực học tập của học sinh, sinh viên thành hai nhóm cơ bản: nhóm thứ nhất là những biểu hiện về mặt tâm lý bao gồm: sự chú ý, sự nỗ lực của ý trí, tính tự giáo, tính độc lập tư duy, tính chủ động, tính sáng tạo Nhóm thứ hai là các yếu tố liên quan tới hành vi của người học gồm có: hăng hái tham gia vào mọi hình thức của hoạt động học tâp, giơ tay phát biểu ý kiến, bổ sung các câu trả lời của bạn, ghi chép bài cẩn thận, đầy đủ, cử chỉ khẩn trương khi thực hiện các hành động tư duy Tác giả vận dụng hai phương pháp dạy học tích cực mà hai nhà nghiên cứu P.I.Picatxixtưi và B.I.Côrôtiatiev đã đề cập đến : thứ nhất là phương pháp tái hiện kiến thức (định hướng đến hoạt động tái tạo, được xây dựng trên cơ sở học sinh, sinh viên lĩnh hội các tiêu chuẩn, hình mẫu có sẵn); thứ hai là tìm kiếm kiến thức (định hướng tới hoạt động cải tạo tích cực, dẫn đến việc phát minh ra kiến thức và kinh nghiệm hoạt động) Theo tác giả thì đây là hai phương pháp dạy học nếu kết hợp nhuần nhuyễn sẽ mang lại hiệu quả cao trong việc tích cực hóa quá trình học tập của học sinh, sinh viên

Trang 36

Xu hướng thứ hai trong các nghiên cứu về tính tích cực học tập là: phân tích các yếu tố tác động tới tính tích cực học tập của học sinh, sinh viên

Các nghiên cứu trong nước xem xét các yếu tố tác động tới tính tích cực học tập và chia ra thành hai nhóm cơ bản: nhóm thứ nhất là các yếu tố thuộc về bản thân người học (hay các yếu tố về dân số học của người học ), nhóm yếu tố thứ hai là các yếu tố khách quan tác động lên tính tích cực học tập của học sinh, sinh viên

Đề tài “Nhận thức, thái độ và thực hành của sinh viên với phương

pháp học tích cực” của PGS.TS Nguyễn Qu‎ý Thanh đã phân tích các yếu tố

quy định nhận thức và thực hành của sinh viên đối với phương pháp học tập tích cực Trong đó, tác giả đưa ra năm yếu tố có ảnh hướng tới nhận thức về phương pháp học tập tích cực của sinh viên là: yếu tố giới tính, điểm trung bình học tập kỳ gần nhất, phương pháp thuyết trình kết hợp đọc sinh viên ghi

và khả năng đáp ứng của tài liệu; các yếu tố ảnh hưởng tới việc thực hành tích cực bao gồm: ngành học, cách chọn ngành học, vị trí ngồi trong lớp, tính cách, phương pháp giảng dạy của giảng viên, trạng thái xúc cảm của người học Trong các yếu tố tác giả đưa ra, có sự tổng hợp của cả các yếu tố thuộc

về đặc điểm cá nhân của người học và các yếu tố khách quan bên ngoài

Đề tài “Phát huy tính tích cực nhận thức của người học” của GS.TSKH

Thái Duy Tiên – Viện Khoa học Giáo dục phân tích những nhân tố ảnh hưởng tới tính tích cực nhận thức của người học, cũng bao gồm nhóm yếu tố bên trong người học: đặc điểm hoạt động trí tuệ (khả năng tái hiện, ghi nhớ, sáng tạo), trạng thái tâm lý (hứng thú, xúc cảm, chú ý, nhu cầu, động cơ, ý chí…), tình trạng sức khỏe; và nhóm yếu tố bên ngoài người học như: điều kiện vật chất, tinh thần (thời gian, tiền của không khí đạo đức), môi trường tự nhiên

Trang 37

và xã hội, chất lượng dạy học (nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức kiểm tra đánh giá), điều kiện gia đình

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Lê Vân Dung “ Tìm hiểu một số yếu tố

ảnh hưởng đến kết quả học tập môn toán và Tiếng Việt của học sinh lớp năm”

cũng chỉ ra các yếu tố từ phía người học như : hứng thú học , thái độ học , ý thức học tập môn Toán và các yếu tố từ phía bên ngoài người học như: sự quan tâm của gia đình, điều kiện học tập, phương pháp giảng dạy của giáo viên

Tôi lựa chọn đề tài “Tìm hiểu các yếu tố tác động tới tính tích cực học

tập của sinh viên cao học” nhằm mục đích tiếp tục đi theo hướng nghiên cứu

về các yếu tố tác động tới tính tích cực học tập của nhóm đối tượng học viên cao học để có được các nhìn tổng quan và khái quát nhất về chất lượng dạy và học Đại học cũng như sau Đại học tại Việt Nam hiện nay

Trang 38

Chương 2

THỰC TRẠNG TÍNH TÍCH CỰC HỌC TẬP CỦA HỌC VIÊN CAO HỌC

2.1 Hành vi học tập tích cực của học viên cao học

Tính tích cực học tập của học viên cao học được biểu hiện ra bên ngoài chính là các dạng hành vi học tập tích cực mà người học thực hiện trong suốt quá trình học tập Hành vi học tập của học viên được thúc đẩy bởi yếu tố động

cơ bên trong, động cơ mang tính tích cực sẽ định hướng cho hành động, hành

vi của chủ thể mang tính mục đích rõ ràng và có ý nghĩa Những cá nhân xác định được mục đích; phương tiện, cách thức hành động và ý thức được hệ quả hành động của mình có xu hướng thực hiện các dạng hành vi học tập tích cực

và ngược lại, VD: học viên xác định học tập để có thêm kiến thức sẽ thực hiện các hành vi như: nghe giảng chăm chú, ghi chép bài đầy đủ, hăng hái tham gia đóng góp ý kiến xây dựng bài Trong nghiên cứu của mình, chúng tôi đã tiến hành đo chỉ số thực hành học tập tích cực của học viên cao học thông qua việc đưa ra 16 nhận định về các dạng hành vi học tập tương ứng với hai phương án trả lời: Đúng, sai Mỗi một câu trả lời đúng cho dạng hành vi học tập tích cực chúng tôi cho 1 điểm và một câu trả lời sai chúng tôi cho 0 điểm, cách làm ngược lại với dạng hành vi học tập tiêu cực và thụ động Sau đó chúng tôi tiến hành cộng điểm và tính tỷ lệ trung bình ,kết quả thu được là chỉ số thực hành học tập tích cực của người học được thể hiện trong bảng số liệu dưới đây:

Bảng 2.1: Chỉ số thực hành học tập tích cực của học viên cao học

Chỉ số thực hành học tập tích cực 56/100

Trang 39

Nhìn vào bảng số liệu ta thấy chỉ số thực hành các hành vi học tập tích cực của học viên cao học là 56 điểm phần trăm, đây là một chỉ số ở mức độ trung bình và thấp hơn so với những nghiên cứu đã được thực hiện trước đó

về tính tích cực học tập của đối tượng sinh viên đại học Trong nghiên cứu về

“Nhận thức, thái độ và thực hành của sinh viên với phương pháp học tập tích

cực” của PGS.TS Nguyễn Quý Thanh thực hiện năm 2008 thì chỉ số thực

hành học tập tích cực của sinh viên đại là 62 điểm phần trăm; chỉ số này là

64,6 điểm phần trăm trong đề tài “Nghịch lý Lapie và tính tích cực của sinh

viên” của Trần Thị Minh Giang Như vậy đối tượng học viên cao học có mức

độ thực hiện các dạng hành vi học tập tích cực thấp hơn đối tượng sinh viên đại học, hay nói cách khác so với sinh viên thì học viên cao học thiếu chủ động, tự giác trong học tập hơn Đây là một thực tế đáng phải suy nghĩ đối với giáo dục Việt Nam nói chung và giáo dục sau đại học nói riêng

Trong số các dạng hành vi tích cực, chủ động được chúng tôi đưa ra thì

“Ghi bài theo cách hiểu” là dạng hành vi được nhiều học viên cao học thực

hiện nhất, có tới 93,2% số học viên được hỏi thực hiện việc ghi bài theo cách hiểu của mình Đây là một biểu hiện tích cực của đối tượng học viên cao học

so với đối tượng sinh viên đại học, điều này chứng tỏ học viên cao học thoát

ly được cách ghi bài truyền thống, ghi theo lời thầy cô giáo đọc mà đã lựa chọn cách lưu giữ kiến thức trên cơ sở có sự tư duy, động não Ghi bài theo cách hiểu được đặc trưng bằng các phương pháp như: tóm tắt và tổng hợp nội dung bài học theo ý hiểu; ghi những gì cần thiết (không chép bài lan man, dàn trải, chép tất cả lời thầy cô giảng) hay có một số cách trình bày lại kiến thức tiếp thu được theo cách thức riêng của mỗi một cá nhân để đạt được hiệu quả lưu giữ thông tin cao nhất, VD: Sử dụng sơ đồ hình cây, kẻ bảng tổng hợp kiến thức

Trang 40

“….mình chỉ tóm tắt lại một số ý mình cho là trọng tâm trong khi

nghe giảng để ghi lại thôi, và thường là ghi theo sơ đồ hình cây, một ý lớn

có mấy ý nhỏ rồi nhỏ nữa, viết như thế khi đọc lại dễ hiểu lắm, nhìn vào là biết ngay phải học cái gì Chứ không cắm cúi cặm cụi chép như hồi còn sinh viên nữa, mải chép chẳng biết thầy giảng cái gì, mà lúc xem lại vở cũng chẳng hiểu là mình viết cái gì”

(PVS số 1 - Nam - ĐHBK HN)

Như vậy có thể nói ghi bài theo cách hiểu là một trong những phương pháp học tập rất tích cực làm tăng hiệu quả ghi nhận và lưu giữ kiến thức, thông tin, cũng như cải thiện chất lượng học tập của người học Khi thực hiện việc ghi bài theo cách hiểu đồng nghĩa với việc học viên đang thực hiện đồng thời các hoạt động tư duy như: tóm tắt, tổng hợp, phân tích, nhìn nhận vấn đề,

do đó hành động ghi chép bài ở đây không còn là một hành vi thuần túy bản năng, theo quán tính nữa mà trở thành một hành vi có mục đích và ý nghĩa đối với người học Do đó để có được một kết quả học tập tốt, thì người học phải lên kế hoạch và thực hiện tốt ngay từ những công việc tưởng chừng như đơn giản như ghi chép bài

Ngày đăng: 31/03/2015, 14:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo – Viện nghiên cứu phát triển giáo dục (2002), Chiến lược phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI – kinh nghiệm của quốc gia, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI – kinh nghiệm của quốc gia
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo – Viện nghiên cứu phát triển giáo dục
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
3. Đỗ Minh Cương – Nguyễn Thị Doan (2003), Phát triển nguồn nhân lực giáo dục Đại học Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lực giáo dục Đại học Việt Nam
Tác giả: Đỗ Minh Cương – Nguyễn Thị Doan
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
4. Đỗ Thị Coỏng (2003), Nâng cao tính tự giác tích cực trong hoạt động học tập của sinh viên, Tạp chí tâm lý học, số 3, tr 60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí tâm lý học
Tác giả: Đỗ Thị Coỏng
Năm: 2003
5. Đổ Thị Coỏng (2004), Nghiên cứu tính tích cực học tập môn tâm lí học của sinh viên đại học sư phạm Hải Phòng, Luận án Tiến Sỹ Tâm lí học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tính tích cực học tập môn tâm lí học của sinh viên đại học sư phạm Hải Phòng
Tác giả: Đổ Thị Coỏng
Năm: 2004
6. Đổ Thị Coỏng (2003): Tính tích cực học tập và vấn đề tích cực hóa hoạt động học tập của sinh viên, Tạp chí tâm lý học, số 6, tr 58-61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí tâm lý học
Tác giả: Đổ Thị Coỏng
Năm: 2003
7. Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng (1998), Xã hội học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học
Tác giả: Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1998
8. Bùi Quang Dũng (2004), Nhập môn Lịch sử xã hội học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn Lịch sử xã hội học
Tác giả: Bùi Quang Dũng
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2004
9. Huỳnh Trọng Dương (2005), Phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức của học sinh phổ thông trong dạy học vật lí, Tạp chí giáo dục, số 121, tr32-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí giáo dục
Tác giả: Huỳnh Trọng Dương
Năm: 2005
10. Trần Thị Minh Giang (2004), Nghịch lý Lapie và tính tích cực trong học tập của sinh viên, Khóa luận Xã hội học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghịch lý Lapie và tính tích cực trong học tập của sinh viên
Tác giả: Trần Thị Minh Giang
Năm: 2004
11. Đỗ Minh Hưng (2005), Tác động tích cực vào quá trình nghe để nâng cao kỹ năng nghe – hiểu Tiếng anh cho sinh viên, Tạp chí Giáo dục, số 108, tr.38-40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Đỗ Minh Hưng
Năm: 2005
12. Cấn Thị Thanh Hương (2005), Đổi mới phương pháp dạy học ở Đại học Quốc gia Hà Nội, Kỷ yếu Hội thảo quốc gia đánh giá hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học của giảng viên của Đại học Quốc gia, tr,10-15, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp dạy học ở Đại học Quốc gia Hà Nội
Tác giả: Cấn Thị Thanh Hương
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2005
13. Bùi Thị Hường (2005) Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong dạy học giải các bài toán có lời văn ở phổ thông, Tạp chí Giáo dục, số 127, tr37-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Giáo dục
14. Nguyễn Ngọc Hợi (2003), Đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên, Tạp chí Giáo dục, số 49, tr.39-40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hợi
Năm: 2003
15. Lê Ngọc Hùng (2009), Lịch sử và lý thuyết Xã hội học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử và lý thuyết Xã hội học
Tác giả: Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2009
16. Đào Lan Hương (2000), Nghiên cứu sự tự đánh giá thái độ học tập môn toán của sinh viên Cao đẳng sư phạm Hà Nội, Luận án Tiến Sỹ Tâm lí học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sự tự đánh giá thái độ học tập môn toán của sinh viên Cao đẳng sư phạm Hà Nội
Tác giả: Đào Lan Hương
Năm: 2000
17. Nguyễn Ngọc Lan (2007), Đặc điểm tự đánh giá tính tích cực học tập của học sinh nghề trường Cao đẳng nghề công nghiệp Việt Bắc Thái Nguyên, Luận văn Thạc sỹ Tâm lý học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm tự đánh giá tính tích cực học tập của học sinh nghề trường Cao đẳng nghề công nghiệp Việt Bắc Thái Nguyên
Tác giả: Nguyễn Ngọc Lan
Năm: 2007
18. Đỗ Thị Minh Liên (2005), Phát huy tính tích cực nhận thức của trẻ trong hoạt động cho trẻ làm quen với toán ở trường mầm non, Tạp chí giáo dục, số 124, tr28-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí giáo dục
Tác giả: Đỗ Thị Minh Liên
Năm: 2005
19. Bùi Tiến Lâm (2005), Một số khó khăn của giảng viên đại học trong việc tích cực hóa hoạt động học tập của sinh viên, Tạp chí Giáo dục, số 119, tr 23-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Bùi Tiến Lâm
Năm: 2005
20. Lê Thị Xuân Liên, Phát huy tính tích cực của học sinh – sinh viên trong dạy, học toán ở trường Cao đẳng sư phạm, http://http://www.qtttc.edu.vn/nghiencuukhoahoc/74-hoi-thao-hoi-nghi/171-hi-tho-qi-mi-ppdh-cac-mon-khoa-hc-t-nhienq.html,cậpnhật ngày 30/03/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy tính tích cực của học sinh – sinh viên trong dạy, học toán ở trường Cao đẳng sư phạm
21. Vũ Thị Quỳnh Nga (2009), Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc đánh giá của sinh viên đối với hoạt động giảng dạy, Luận văn Thạc sỹ Quản lý giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc đánh giá của sinh viên đối với hoạt động giảng dạy
Tác giả: Vũ Thị Quỳnh Nga
Năm: 2009

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Mô hình hóa các yếu tố tác động tới thực hành học tập tích cực  của học viên cao học - Tính tích cực học tập của học viên cao học, tác động của các yếu tố cá nhân và các yếu tố môi trường đào tạo (Nghiên cứu trường hợp tại ĐHKHXH&NV, ĐHKHTN - ĐHQG
Bảng 3.1 Mô hình hóa các yếu tố tác động tới thực hành học tập tích cực của học viên cao học (Trang 66)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w