1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu hoạt động mô hình hỗ trợ phục hồi chức năng và hướng nghiệp dạy nghề cho trẻ nhiễm chất độc hóa học hiện đang sống tại làng Hữu Nghị Việt Nam (Xã Vân C161628

141 1K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách và triển khai nhiều hoạt động nhằm trợ giúp cho những người bị nhiễm chất độc hóa học, đặc biệt là con đẻ của họ như xây dựng chính sách

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

ĐOÀN THỊ PHƯƠNG LIÊN

TÌM HIỂU HOẠT ĐỘNG MÔ HÌNH HỖ TRỢ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VÀ HƯỚNG NGHIỆP DẠY NGHỀ CHO TRẺ NHIỄM CHẤT ĐỘC HÓA HỌC HIỆN ĐANG SỐNG

TẠI LÀNG HỮU NGHỊ VIỆT NAM

(Xã Vân Canh, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội)

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Công tác xã hội

Hà Nội – 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

ĐOÀN THỊ PHƯƠNG LIÊN

TÌM HIỂU HOẠT ĐỘNG MÔ HÌNH HỖ TRỢ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VÀ HƯỚNG NGHIỆP DẠY NGHỀ CHO TRẺ NHIỄM CHẤT ĐỘC HÓA HỌC HIỆN ĐANG SỐNG

TẠI LÀNG HỮU NGHỊ VIỆT NAM

(Xã Vân Canh, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội)

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Công tác xã hội

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những thông tin, số liệu trong luận văn hoàn toàn là

sự thật và đã được những người có liên quan đồng ý cho sử dụng Tôi xin chịu trách nhiệm về tính xác thực của các thông tin có trong luận văn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp với đề tài: Tìm hiểu hoạt

động mô hình hỗ trợ phục hồi chức năng và hướng nghiệp dạy nghề cho trẻ nhiễm chất độc hóa học hiện đang sống tại làng Hữu Nghị Việt Nam

Ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy, cô giáo, Ban giám đốc Làng Hữu Nghị Việt Nam và người thân

Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Xã hội học – Trường Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân văn Hà Nội Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo GS TS Tô Duy Hợp người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp này

Bên cạnh đó, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám đốc Làng Hữu Nghị Việt Nam cùng các y bác sỹ, giáo viên và đông đảo các em nhỏ khuyết tật đang sinh sống tại Làng Hữu Nghị Việt Nam đã giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp tại Làng

Vì thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế nên luận văn tốt nghiệp của tôi không tránh khỏi những thiếu xót nhất định, rất mong nhận được sự góp ý của các thầy, cô giáo, các bạn và những người quan tâm đến nghiên cứu này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 3 năm 2014

Học viên

Đoàn Thị Phương Liên

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 9

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 11

5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 12

6 Câu hỏi nghiên cứu 12

7 Giả thuyết nghiên cứu 13

8 Phương pháp nghiên cứu 14

9 Kết cấu của luận văn 17

PHẦN NỘI DUNG 19

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 19

1 Cơ sở lý luận 19

1.1 Khái niệm chủ chốt 19

1.1.1 Người hoạt động kháng chiến: 19

1.1.2 Chất độc hóa học: 19

1.1.3 Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học: 19

1.1.4 Trẻ em 20

1.1.5 Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt 21

1.1.6.Trẻ em bị nhiễm chất độc hóa học 21

1.1.7 Phục hồi chức năng 21

1.1.8 Nghề 23

1.1.9 Dạy nghề 23

1.1.10 Hướng nghiệp trong dạy nghề 23

1.1.2 Lý thuyết áp dụng trong đề tài 23

1.1.2.1 Lý thuyết chức năng 23

1.1.2.2 Lý thuyết quản trị công tác xã hội 26

Trang 6

1.2 Cơ sở thực tiễn 28

1.2.1 Tình hình thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước 28

1.2.2 Đặc điểm địa bàn khảo sát 31

1.2.3 Quy định tiêu chuẩn chăm sóc tại cơ sở bảo trợ xã hội 36

Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA MÔ HÌNH HỖ TRỢ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG, HƯỚNG NGHIỆP DẠY NGHỀ CHO TRẺ BỊ NHIỄM CHẤT ĐỘC HÓA HỌC ĐANG SỐNG TẠI LÀNG HỮU NGHỊ VIỆT NAM HIỆN NAY 45

2.1 Nền tảng triết lý của mô hình hỗ trợ phục hồi chức năng, hướng nghiệp dạy nghề cho trẻ bị nhiễm chất độc hóa học đang sống tại Làng Hữu Nghị Việt Nam 45

2.2 Tình hình hoạt động hỗ trợ phục hồi chức năng và hướng nghiệp dạy nghề ở Làng Hữu Nghị Việt Nam 47

2.2.1 Hoạt động chữa trị và phục hồi chức năng 47

2.2.2 Hoạt động hướng nghiệp dạy nghề 71

2.2.3 Nhân tố tác động tới hiệu quả hoạt động của Làng Hữu Nghị 89

CHƯƠNG 3 HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA MÔ HÌNH HỖ TRỢ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VÀ HƯỚNG NGHIỆP DẠY NGHỀ CHO TRẺ BỊ NHIỄM CHẤT ĐỘC HÓA HỌC SỐNG TẠI LÀNG HỮU NGHỊ VIỆT NAM 95

3.1 Đánh giá mô hình hỗ trợ phục hồi chức năng và hướng nghiệp dạy nghề cho trẻ nhiễm chất độc hóa học của Làng Hữu Nghị Việt Nam 95

3.1.1 Về điều kiện môi trường, khuôn viên nhà ở của các em ở Làng Hữu Nghị 95

3.1.2 Sức khỏe, dinh dưỡng 98

3.1.3 Về giáo dục, dạy nghề 101

3.1.4 Về văn hóa, thể thao và giải trí 104

Trang 7

3.2 Những việc cần làm để nâng cao hiệu quả của mô hình hỗ trợ phục hồi chức năng và hướng nghiệp dạy nghề cho trẻ bị nhiễm chất độc hóa học đang sống tại Làng Hữu Nghị sao cho phù hợp với tình hình Hà

Nội hiện nay 107

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 110

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 112

PHỤ LỤC 116

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Người bị nhiễm chất độc hóa học là một trong những vấn đề đang nhận được nhiều sự quan tâm không chỉ riêng ở Việt Nam mà còn trên toàn thế giới Theo con số thống kê của Bộ Lao Động - Thương binh và Xã hội ở Việt Nam có 4,8 triệu người bị phơi nhiễm chất da cam, trong đó có 3 triệu người

là nạn nhân chất độc da cam và 150.000 trẻ em- con của những người tham gia kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học bị dị tật bẩm sinh trực tiếp từ hậu quả của chất độc da cam/dioxin [38.2.1] Nguyên nhân gây nên tình trạng này chính là do ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp từ hậu quả của chiến tranh và dự báo trong nhiều năm tới số lượng người bị nhiễm chất độc hóa học ở Việt Nam vẫn chưa phải đã chấm dứt hẳn

Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách và triển khai nhiều hoạt động nhằm trợ giúp cho những người bị nhiễm chất độc hóa học, đặc biệt

là con đẻ của họ như xây dựng chính sách mới, thành lập các trung tâm nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công, trung tâm phục hồi chức năng, trung tâm dạy nghề… Nhiều chính sách, chế độ ưu đãi được thực hiện đã có những hỗ trợ hữu ích cho người hoạt động kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa học trong đời sống hằng ngày, nhất là trong việc phục hồi chức năng

và hướng nghiệp dạy nghề

Làng Hữu Nghị Việt Nam được xây dựng để nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa trị, dạy nghề, phục hồi chức năng có thời hạn cho một số người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học trong thời kỳ kháng chiến chống

Mỹ cứu nước và con của những cựu chiến binh bị khuyết tật do hậu quả của chất độc hóa học gây ra Mặc dù đây là Làng Hữu Nghị lớn nhất của Việt Nam, có đội ngũ cán bộ giáo viên tâm huyết với nghề, là trung tâm áp dụng

mô hình hoạt động giáo dục, dạy nghề cho trẻ khuyết tật khá hiệu quả nhưng bên cạnh những hoạt động đã làm được thì việc quan tâm đến các vấn đề tâm

Trang 9

lý, hỗ trợ nhóm đối tượng này như: chế độ ăn uống, chữa trị phục hồi chức năng, học nghề, tìm kiếm việc làm… vẫn chưa được nhìn nhận và đánh giá đúng đắn trong khi số lượng người bị nhiễm chất độc hóa học ở Việt Nam hiện nay lại quá đông và các kiến thức, kỹ năng mang tính bài bản chuyên nghiệp của của cán bộ, nhân viên trong làng Hữu Nghị - với tư cách là một nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp lại còn nhiều hạn chế

Tất cả những vấn đề trên đã gợi lên trong chúng tôi hướng nghiên cứu:

“Tìm hiểu hoạt động mô hình hỗ trợ phục hồi chức năng và hướng

nghiệp dạy nghề cho trẻ nhiễm chất độc hóa học hiện nay đang sống tại Làng Hữu Nghị Việt Nam xã Vân Canh, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội”

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Trẻ em là chủ nhân tương lai của đất nước chính vì vậy các em là một trong các nhóm đối tượng nhận được sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học, các chuyên gia từ trong nước đến quốc tế Trong phạm

vi nghiên cứu này tác giả lựa chọn và phân tích một số công trình nghiên cứu, bài viết tiêu biểu về trẻ em nói chung và trẻ em nhiễm chất độc hóa học nói riêng

Khi nói đến các các tổ chức quốc tế chuyên nghiên cứu về trẻ em thì trước tiên mọi người thường nghĩ tới các công trình của UNICEF Đây là tổ chức có uy tín, đi đầu thế giới trong việc chăm sóc, bảo vệ trẻ em trên phạm

vi toàn cầu

Năm 2009 Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với

UNICEF tiến hành nghiên cứu và xây dựng tài liệu “xây dựng môi trường bảo

vệ trẻ em Việt nam đánh giá pháp luật và chính sách bảo vệ trẻ em, đặc biệt

là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam” Tài liệu này đã trình bày một

cách tổng quan về tình hình trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và trẻ em dễ bị tổn thương ở Việt Nam, các hoạt động phòng ngừa sơ cấp và thứ cấp để bảo vệ trẻ em ở Việt Nam Cuốn sách này đã phân tích các quy định của quốc tế, tiêu chuẩn quốc tế trong việc chăm sóc từng nhóm trẻ em, hệ thống luật pháp,

Trang 10

chính sách và hoạt động thực tiễn chăm sóc các nhóm trẻ em, các hoạt đông trợ giúp chăm sóc về y tế và phục hồi Trong số các phân tích về về xây dựng môi trường bảo vệ các nhóm trẻ em thì phân tích về nhóm trẻ khuyết tật được phân tích khá kỹ Phân tích này đã chỉ ra quyền của trẻ em khuyết tật, hệ thống luật pháp, chính sách hỗ trợ trẻ em khuyết tật của Việt Nam, những dịch vụ chăm sóc y tế và phục hồi đối với các em, chính sách giáo dục đối với trẻ khuyết tật, các hoạt động trợ giúp cho gia đình các em, vấn đề chăm sóc thay thế và dạy nghề và tạo việc làm cho các em khuyết tật Có thể, nói với những phân tích chi tiết và cụ thể này cuốn tài liệu hướng dẫn đã chỉ ra thực trạng, đưa ra những khuyến nghị sát với thực tế để việc chăm sóc bảo vệ trẻ

em khuyết tật nói riêng và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được tốt hơn [5]

Năm 2010 UNICEF tiến hành thực hiện“Báo cáo Phân tích tình hình

trẻ em ở Việt Nam” Báo cáo lấy cách tiếp cận dựa trên quyền con người, xem

xét tình hình trẻ em dựa trên quan điểm các nguyên tắc chính về quyền con người như bình đẳng, không phân biệt đối xử và trách nhiệm giải trình Kết quả nghiên cứu đã làm rõ tình hình trẻ em nam và nữ, nông thôn và thành thị, dân tộc Kinh và dân tộc thiểu số, trẻ em giàu và trẻ em nghèo hiện nay ở Việt Nam Trong đó, nhóm trẻ em thiếu sự chăm sóc của bố mẹ ở Việt Nam có diễn biến phức tạp Các cơ sở chăm sóc cả công lập và dân lập có ở hầu hết các tỉnh thành trong cả nước dưới nhiều hình thức như chăm sóc tại nhà, chăm sóc tập trung và các hình thức chăm sóc hỗ trợ không chính thức khác Tình trạng số lượng cho con nuôi ra nước ngoài cao trong khi đây được quy định là biện pháp cuối cùng chỉ sử dụng khi không còn cách nào khác Ngoài ra, báo cáo cũng chỉ ra rằng Việt Nam còn thiếu các quy định cụ thể cho việc truy tố những đối tượng hoạt động môi giới cho nhận con nuôi trái pháp luật Báo cáo còn chỉ ra nguyên nhân của tình trạng bất bình đẳng giới ở trẻ em, sự bất cập trong chăm sóc, giáo dục trẻ em ở Việt Nam Không chỉ dừng lại ở đó báo cáo đưa ra khuyến nghị là cần phải lồng ghép vấn đề giới vào các chính

Trang 11

sách, chiến lược và các hoạt động thực tiễn, và sử dụng các số liệu phân tổ để giám sát vấn đề bình đẳng giới Bình đẳng giới, đặc biệt là bình đẳng giới cho trẻ em gái dân tộc thiểu số vẫn chưa được quan tâm đầy đủ [35]

Tháng 5 năm 2013 Báo cáo tình hình Trẻ em thế giới năm 2013 của

UNICEF với chủ đề: Trẻ em Khuyết tật cho biết trẻ em khuyết tật là nhóm ít

có khả năng được chăm sóc y tế hoặc được đi học nhất Báo cáo này chỉ ra trẻ khuyết tật và cộng đồng sẽ được lợi nhiều hơn nếu xã hội quan tâm tới những

gì trẻ khuyết tật có thể đạt được thay vì tập trung chú ý vào những khiếm khuyết của các em Quan tâm đến những khả năng và tiềm năng của trẻ khuyết tật sẽ tạo ra lợi ích cho toàn xã hội Báo cáo chỉ ra những cách thức để hòa nhập trẻ khuyết tật vào xã hội bởi vì khi các em được tham gia đầy đủ vào

xã hội thì tất cả mọi người đều có lợi Ví dụ, giáo dục hòa nhập mở mang tri thức cho mọi trẻ em và đồng thời mang lại cho trẻ em khuyết tật cơ hội thực hiện hoài bão của mình Rút cuộc trẻ em khuyết tật trở thành những người yếu thế nhất trên thế giới Trẻ em nghèo thuộc nhóm ít có khả năng được đi học hoặc chăm sóc y tế nhưng các em vừa nghèo lại vừa khuyết tật thì còn có ít khả năng hơn nữa trong việc tiếp cận các dịch vụ này Giới là một yếu tố quan trọng, vì trẻ em gái khuyết tật thường ít được nhận thức ăn và sự chăm sóc hơn trẻ em trai khuyết tật

Báo cáo kêu gọi các Chính phủ phê chuẩn và thực hiện Công ước về Quyền của Người khuyết tật và Công ước Quyền Trẻ em, và có những hỗ trợ cho các gia đình để họ có thể đáp ứng được các chi phí thường cao hơn mức bình thường trong chăm sóc trẻ em khuyết tật Đồng thời, báo cáo cũng kêu gọi các biện pháp chống phân biệt đối xử trong cộng đồng, những nhà hoạch định chính sách và những người cung cấp dịch vụ xã hội cơ bản như giáo dục

và y tế [36]

Ngoài các nghiên cứu của UNICEF còn có nhiều công trình nghiên cứu

về trẻ em của các tác giả trong nước được đánh giá cao Trong số các tác giả

Trang 12

và các nghiên cứu đó ta có thể kế tới tiến sỹ Mai Thị Kim Thanh với chuyên

đề “Tìm hiểu ảnh hưởng của quan hệ ứng xử giữa các thành viên trong gia

đình với nhau và với trẻ tới sức khỏe của trẻ em trong các gia đình Việt Nam hiện nay” Nghiên cứu này được đăng trên Kỉ yếu Hội nghị Khoa học nữ Đại

học Quốc gia Hà Nội lần thứ 6 năm 2001 Trong nghiên cứu này thông qua các biện pháp thu thập thông tin tác giả đã nhận định mức độ tâm sự của những người thân trong gia đình đối với trẻ em được thể hiện như sau: tâm sự giữa bố, mẹ với con chiếm 46,2%, ông bà với cháu chiếm 24,8%, mẹ với con chiếm 24,7%, ít tâm sự chiếm 8,0%, anh chị em với nhau chiếm 5,8%, bố với con chiếm 4,6% và không tâm sự chiếm 4,5% Với kết quả này nghiên cứu

đã chỉ ra tỷ lệ tâm sự giữa bố, mẹ, ông, bà với con cái càng thấp thì càng ảnh hưởng đến sự phát triển sức khỏe của con cái, đặc biệt là sự phát triển của sức khỏe tinh thần Từ nghiên cứu này tác giả đã đưa ra sự cảnh báo cho các bậc phụ huynh trong việc làm bạn với con mình, đây là một yếu tố quan trọng trong sự phát triển về tâm lý và thể chất của trẻ Các bậc phụ huynh và các thành viên trong gia đình cần có sự quan tâm, chia sẻ nhiều đối với trẻ, hãy là những người bạn lớn của trẻ Điều này không chỉ giúp cho sự phát triển về tâm lý của trẻ được tốt hơn mà còn làm gắn kết tình cảm gia đình đang có xu hướng rời rạc trong thời buổi kinh tế thị trường hiện nay [26]

Tác giả Trịnh Hòa Bình với nghiên cứu “Sự hiểu biết giữa gia đình và

trẻ em về vấn đề quyền trẻ em hiện nay” đăng trên Tạp chí Xã hội học số

4/2005 đã tập trung điều tra về kiến thức, thái độ, hành vi của cộng đồng về quyền trẻ em, (2004- 2005) trên quy mô 10 tỉnh, thành phố trong cả nước với

sự tham gia của 3.000 cha mẹ Một trong những phát hiện quan trọng trùng khớp với những kết quả nghiên cứu nêu trên là giữa cha mẹ và con cái thiếu hiểu biết lẫn nhau, thậm chí trong gia đình Việt Nam hiện nay thường sảy ra mâu thuẫn, xung đột giữa các thế hệ [8]

Trang 13

Ngoài các nghiên cứu về trẻ em và trẻ em khuyết tật nói chung của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu có chuyên môn và kinh nghiệm thì những năm gần đây còn có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết về chất độc hóa học, trẻ

em khuyết tật do nhiễm chất độc hóa học

Chất độc hóa học, một loại chất được tạp chí Time của Mỹ liệt vào danh sách “50 phát minh tồi tệ nhất của loài người ” Sở dĩ chất da cam bị liệt vào danh sách đó là bởi những tác hại lâu dài nó gây ra đối với sức khỏe con người và môi trường khi bị nhiễm phải Chính bởi tính chất độc hại của nó mà trong suốt nhiều năm qua các nhà khoa học đã không ngừng có những công trình nghiên cứu về nó Trong những năm gần đây các nhà khoa học Việt Nam và trên thế giới đã có những công trình nghiên cứu về các tác hại của chất da cam, ảnh hưởng của nó tới sức khỏe của con người như thế nào? Những bệnh tật nào mà con người mắc phải mà nguyên nhân là nhiễm chất da cam? Bao nhiêu thế hệ sẽ bị ảnh hưởng bởi chất da cam? Cách thức chữa trị, giải độc đối với người phơi nhiễm chất da cam như thế nào? Có cách nào để khắc phục môi trường nơi bị nhiễm chất độc da cam? Biện pháp nào có thể hỗ trợ nạn nhân chất độc da cam?

Trong phạm vi nghiên cứu này tôi quan tâm một số nghiên cứu, bài viết của một số tác giả về đề tài nạn nhân chất độc hóa học, trẻ em nhiễm chất độc hóa học

Bài viết: “Người mẹ 35 năm nuôi con bệnh tật” của tác giả Cao Tuân-

Duy Tuyên đăng trong cuốn sách “Khát vọng và sẻ chia” được Hội nạn nhân

chất độc da cam dioxin xuất bản năm 2011 Bài viết đã kể lại câu chuyện của một bà mẹ có con bị nhiễm chất độc hóa học, suốt 35 năm bà cố gắng làm việc kiếm tiền để có thể chăm sóc, thuốc men cho đứa con gầy gò, co quắp, người lở loét Suốt 35 năm mọi sinh hoạt của đứa con trai ấy chỉ nằm gọn trong một góc buồng chật hẹp Mọi chuyện ăn uống, vệ sinh, tắm giặt đều do một tay bà Bình người mẹ khổ hạnh đó lo toan Đến nay tuổi của người mẹ đó

Trang 14

đã cao, sức đã yếu việc lao động kiếm tiền lo cho bữa ăn hàng ngày của hai

mẹ con càng thêm khó khăn Kết thúc bài viết là hình ảnh người mẹ già hàng đêm thức trắng trông đứa con bệnh tật Một bài viết khiến cho tất cả những người đọc đều cảm thấy xót thương và cảm phục tấm lòng của người mẹ có con bị nhiễm chất độc hóa học đồng thời căm phẫn về tội ác chiến tranh mà

Mỹ đã để lại sau cuộc chiến ở nước ta [16; tr105-108]

Bài viết “Tiếng khóc của người lính già” của tác giả T Phan đăng trên

báo điện tử Vietnamnet.vn và sau đó đã được Hội nạn nhân chất độc da

cam/dioxin Việt Nam in trong cuốn sách “Khát vọng và sẻ chia” Bài viết đã

mô tả một cách chân thực, sinh động và cảm động hoàn cảnh sống đầy khó khăn giữa thủ đô Hà Nội của gia đình một cựu chiến binh Một gia đình hai

vợ chồng đều từng là quân nhân sống trong căn hộ tập thể 6 m2 với 2 người con, đứa con gái thì may mắn bình thường còn đứa con trai thì ngây dại suốt bao nhiêu năm chưa đi được một bước nào, chưa nói được một tiếng tròn vành rõ nghĩa, khuôn mặt méo mó và bị bệnh tim bẩm sinh Mọi việc tắm giặt, ăn uống của đứa con đó hoàn toàn theo bản năng chính vì vậy người mẹ

đó từ khi sinh con ra đã phải nghỉ việc ở nhà chăm sóc con Mọi khoản chi tiêu của gia đình chỉ trông chờ vào tiền lương hưu ít ỏi và tiền chở hàng thuê của người lính già Vậy đó, giữa thủ đô hai con người từng trải qua kháng chiến lại có cuộc sống khổ cực như vậy Vì đâu họ khổ đến vậy? Tất cả vì thứ chất độc hóa học mang tên chất độc màu da cam [16; tr 114- 119]

Ngày 11 tháng 3 năm 2011 trên báo điện tử của Hội khuyến học Việt

Nam có đăng tải bài viết “ Năm lần đào hố chôn con” của tác giả Nguyễn

Duy- Hậu Bá Các tác giả đã phản ánh hoàn cảnh bi thương của cựu chiến

binh là ông Nguyễn Văn Đính và vợ là bà Hoàng Thị Điểm 9 lần sinh con thì

5 lần ông phải tự tay mua quan tài, đào hố chôn con Những đứa con của ông đều chết vì các di chứng như: điếc, xuất huyết tiểu cầu, tràn dịch màng bụng, bầm tím da, lở loét toàn thân, phù toàn thân không đi lại được, vỡ u ở đầu,

Trang 15

hoại thân nặng và đái ra màng, thậm chí có đứa vừa ra đời chưa kịp đặt tên đã chết Đứa con út của gia đình ông là niềm hi vọng cuối cùng nhưng trong người luôn mang trọng bệnh, suy kiệt về sức khỏe, máu không đông, thân hình tiều tụy, đầy những vết lở loét, bầm tím Con trai cả của ông tuy đã lấy

vợ nhưng lại bị liệt bả vai trái và con gái anh cũng bị ảnh hưởng chất độc da hóa học dẫn tới khuyết tật co quắp tay chân Hiện tại bản thân ông Đính đang

bị viêm gan nặng, không thể lao động nuôi sống gia đình chứ nói gì đến chữa bệnh Căn nhà của ông mái nhiều chỗ có lỗ thủng mà chưa có tiền sửa chữa Chất độc hóa học đã khiến cho gia đình ông nghèo đói, bệnh tật, bất hạnh, con cháu sinh ra không sống được Đây là nỗi đau dai dẳng không chỉ về thể chất

mà còn cả tinh thần khiến cho bất kỳ ai có lương tri cũng phải rơi nước mắt khi thấy hoàn cảnh của những gia đình như gia đình ông Đính [38.4]

Bên cạnh những bài viết, những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học thì còn có những cuốn sách viết về đề tài nạn nhân chất độc da cam

như cuốn sách: “Vì nỗi đau da cam” của Thông tấn xã Việt Nam, cuốn “120

câu hỏi và đáp về chất độc da cam Dioxin do Mỹ sử dụng trong chiến tranh”

của Bộ Tài Nguyên môi trường Những cuốn sách này đã nói lên tác hại của chất da cam tới sức khỏe của con người cùng những căn bệnh nguy hiểm mà người nhiễm chất độc da cam có thể mắc phải

Gần đây vào năm 2010 Th.s Nguyễn Bá Đạt có đề tài nghiên cứu “Tư

vấn hướng nghiệp trong công tác dạy nghề cho thanh niên, thiếu niên khuyết tật nạn nhân chất độc hóa học” Nghiên cứu này đã tìm hiểu và đánh giá được

thực trạng và nhu cầu của thanh thiếu niên khuyết tật là nạn nhân chất độc hóa học Những khó khăn của các em thanh thiếu niên khuyết tật do nhiễm chất độc da cam khi tham gia học nghề Mặt khác nghiên cứu cũng chỉ ra vai trò của công tác tư vấn hướng nghiệp dạy nghề cho nhóm đối tượng này Với những kết quả nghiên cứu được tác giả còn đề xuất biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động hướng nghiệp trong dạy nghề cho nhóm đối tượng này [14]

Trang 16

Tuy nhiên hạn chế chung của tất cả các đề tài trên đều tập trung nghiên cứu tác hại của chất độc hóa học cùng với vai trò hướng nghiệp trong dạy nghề cho nhóm đối tượng khuyết tật do nhiễm chất độc hóa học mà chưa có công trình nào hướng tới việc nghiên cứu và tìm hiểu đặc điểm hoạt động của các mô hình phục hồi chức năng và hướng nghiệp trong dạy nghề cho trẻ bị nhiễm chất độc hóa học Đây chính là lý do chúng tôi lựa chọn và tiến hành nghiên cứu đề tài này tại Làng Hữu Nghị Việt Nam

Đề tài này hướng tới việc nghiên cứu mô hình hỗ trợ trẻ em bị khuyết tật là con đẻ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học phục hồi chức năng và học nghề hiện đang sống tại Làng Hữu Nghị Việt Nam Từ những hiểu biết đó sẽ có những so sánh với hoạt động hỗ trợ trẻ khuyết tật do

bị nhiễm chất độc hóa học ở các trung tâm khác Trên cơ sở đó tôi đề xuất những việc cần làm để nâng cao hiệu quả hỗ trợ cả về thể chất, tinh thần và nhu cầu học nghề cho nhóm đối tượng này

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu của đề tài nhằm kiểm chứng những phương pháp

và kỹ năng can thiệp phù hợp đối với đối tượng trẻ bị khuyết tật do nhiễm chất độc hóa học là con đẻ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học Từ đó kiểm chứng trong thực tế một số lý thuyết ứng dụng trong Công tác xã hội bao gồm: Lý thuyết chức năng và lý thuyết quản trị công tác

xã hội Đồng thời cũng nêu rõ vai trò của nhân viên công tác xã hội trong hoạt động hỗ trợ cho con đẻ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học tại Làng Hữu nghị, củng cố sâu sắc hơn những hiểu biết về các lý thuyết

và phương pháp, kỹ năng Công tác xã hội đã được học và thực hành

Bên cạnh đó thông qua việc tìm hiểu mô hình và tính hiệu quả của nó, nghiên cứu cũng góp phần cung cấp thêm tài liệu, kiến thức cho những người quan tâm đến vấn đề hỗ trợ kỹ năng sống, chăm sóc cho trẻ bị nhiễm chất độc

Trang 17

hóa học sống trong Làng Hữu Nghị Đặc biệt, nó còn góp phần hình thành lên nhãn quan khoa học về hoạt động của các mô hình hỗ trợ, chăm sóc đang diễn

ra hiện nay Vì trên thực tế vẫn còn những sai lầm khi cho rằng mô hình chăm sóc trẻ là con đẻ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học phải như một gia đình và hỗ trợ như người trong gia đình Nếu hoạt động hỗ trợ chưa làm được như vậy thì bị coi là kém hiệu quả, đây là một cách nhìn lệch lạc cần được điều chỉnh, khắc phục

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu góp phần cùng với Làng Hữu nghị xây dựng và hoàn thiện mô hình chăm sóc, giáo dục và dạy nghề cho trẻ khuyết tật do bị nhiễm chất độc hóa học kết hợp với dạy kỹ năng sống và hỗ trợ về mặt tâm lý cho những trẻ em ấy- một hoạt động gắn liền với đặc trưng của công tác xã hội Từ đó mở rộng áp dụng mô hình, nhằm giúp cho trẻ khuyết tật bị nhiễm chất độc hóa học là con đẻ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học tăng cường kỹ năng sống tiến tới hòa nhập cộng đồng được tốt hơn Nghiên cứu giúp cho ban lãnh đạo, cán bộ nhân viên nhận thức rõ hơn về tầm quan trọng của việc kết hợp chăm sóc và dạy nghề, dạy kỹ năng sống song song cùng các hoạt động hiện có tại Làng Hữu nghị

Nghiên cứu giúp cho trẻ khuyết tật do bị nhiễm chất độc hóa học trong Làng không những được chăm sóc chữa trị tốt hơn, được học nghề phù hợp với khả năng và có thể tự nuôi sống bản thân bằng chính sức lao động của mình mà còn được tham gia và quan tâm nhiều hơn về mặt tâm lý và được tiếp cận các khóa học về kỹ năng sống, nâng cao kỹ năng đối phó với các biến

cố xảy ra khi hòa nhập xã hội

Nghiên cứu này giúp cho gia đình người có công hiểu hơn về công việc

mà những nhân viên công tác xã hội ở Làng Hữu Nghị đang làm từ đó có sự quan tâm, trợ giúp họ trong việc chăm sóc, dạy nghề cho con mình và yên tâm

Trang 18

hơn khi trẻ được giáo dục và đào tạo một cách một cách đầy đủ và bài bản cả

về chuyên môn nghề nghiệp và tâm lý

Đồng thời thông qua tìm hiểu các hoạt động hỗ trợ cho trẻ khuyết tật do nhiễm chất độc hóa học ở Làng, nghiên cứu cũng chỉ ra vai trò cần có của Nhân viên Công tác xã hội trong các hoạt động hỗ trợ trẻ, từ đó đề xuất cách thức hoàn thiện mô hình và định hướng phát triển vai trò Nhân viên Công tác

xã hội trong tương lai

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích: Tìm hiểu, làm rõ đặc điểm hoạt động của mô hình hỗ trợ

phục hồi chức năng, hướng nghiệp dạy nghề cho trẻ bị nhiễm chất độc hóa học và đánh giá hiệu quả của mô hình đó Trên cơ sở đó đưa ra đề xuất những việc cần làm để nâng cao hiệu quả hoạt động cho mô hình

4.2 Nhiệm vụ:

- Xây dựng cơ sở lý thuyết và thao tác hóa các khái niệm

- Tìm hiểu những đặc điểm về nhóm trẻ bị nhiễm chất độc hóa học tại Làng Hữu nghị

- Tìm hiểu các hoạt động chăm sóc, hỗ trợ cho trẻ bị nhiễm chất độc hóa học trong Làng và đánh giá hiệu quả mà những hoạt động đó đem lại

- Tìm hiểu các hoạt động của Nhân viên Xã hội xem họ đã làm tốt vai trò của mình hay chưa trong việc chăm sóc, dạy nghề, dạy kỹ năng sống cho trẻ bị nhiễm chất độc hóa học

- Tìm hiểu: Các đối tượng được nuôi dưỡng phục hồi chức năng và học nghề tại Làng Hữu Nghị Việt Nam là những ai? Quy trình tiếp nhận đối tượng

ở đây như thế nào? Chữa trị phục hồi chức năng cho các em bị nhiễm chất độc da cam bao gồm bao nhiêu giai đoạn? Quá trình trị liệu tâm lý, hòa nhập cộng đồng của các em được tiến hành như thế nào, bằng các biện pháp nào?

Có hiệu quả ra sao? Các nghề mà các em bị nhiễm chất độc da cam có thể được học tại Làng Hữu Nghị Việt Nam là gì? Việc học nghề của các em có

Trang 19

hiệu quả không? Sau khi học nghề các em có xin được việc không? Các em tái hòa nhập cộng đồng có thành công không?

Tìm hiểu nhu cầu của trẻ hiện đang sống tại Làng và điều kiện thực tế của Việt Nam để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của mô hình hiện

có nhằm hỗ trợ cho đối tượng chính sách - trẻ em bị khuyết tật là con đẻ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học được nhiều hơn

5 Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng: Tìm hiểu hoạt động của mô hình hỗ trợ phục hồi chức

năng và hướng nghiệp trong dạy nghề cho trẻ khuyết tật do bị nhiễm chất độc

hóa học hiện nay đang sống tại làng Hữu Nghị Việt Nam

5.2 Khách thể: Ban lãnh đạo Làng Hữu Nghị Việt Nam, cán bộ làm

việc tại Làng, trẻ bị nhiễm chất độc hóa học đang sống tại Làng

5.3 Phạm vi: Trẻ bị nhiễm chất độc hóa học mà đề tài này hướng tới là

trẻ em khuyết tật do ảnh hưởng chất độc hóa học từ ông, cha, mẹ những người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học đã được Đảng và Nhà nước công nhận và được hưởng chính sách người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học

Nội dung của mô hình hỗ trợ phục hồi chức năng và học nghề cho trẻ khuyết tật do bị nhiễm chất độc hóa học bao gồm: chữa trị bệnh lý do hậu quả của chất độc hóa học, phục hồi chức năng cho đối tượng bị nhiễm chất độc hóa học, liệu pháp âm nhạc trị liệu, tổ chức chò trơi nâng cao khả năng hòa nhập cộng đồng, học nghề theo khả năng và sở thích… nhưng do điều kiện có hạn tôi chỉ tập trung vào hoạt động chữa trị bệnh lý, phục hồi chức năng và học nghề theo khả năng

6 Câu hỏi nghiên cứu

- Nền tảng triết lý cho hoạt động của mô hình chăm sóc, hỗ trợ trẻ bị nhiễm chất độc hóa học tại Làng Hữu nghị là gì?

Trang 20

- Những nội dung nào trong hoạt động chăm sóc, hỗ trợ trẻ nhiễm chất độc hóa học mà Làng Hữu nghị quan tâm và triển khai nhiều ? Hiệu quả ra sao?

- So với mô hình những cơ sở phục hồi chức năng, dạy nghề cho trẻ khuyết tật bị nhiễm chất độc hóa học khác thì mô hình Làng Hữu Nghị Việt Nam có sự khác biệt và ưu việt gì?

- Nhân viên Công tác xã hội cần bổ sung thêm hoạt động gì để đảm nhận được tốt hơn nữa vai trò của mình trong mô hình nâng cao này?

- Cần làm gì và làm như thế nào để nâng cao hiệu quả hoạt động hỗ trợ phục hồi chức năng và dạy học nghề cho con đẻ người hoạt động kháng chiến

bị nhiễm chất độc hóa học?

7 Giả thuyết nghiên cứu

- Đặc điểm hoạt động của mô hình chăm sóc, hỗ trợ trẻ cho trẻ bị nhiễm chất độc hóa học tại Làng Hữu Nghị là dựa trên nền tảng triết lý lấy con người làm trung tâm, tất cả vì sự phục hồi và sự hoàn thiện của con người, nhất là các em nhỏ bị khuyết tật do nhiễm chất độc da cam họ là con

đẻ của những người hoạt động kháng chiến

- Hoạt động chăm sóc, hỗ trợ trẻ bị nhiễm chất độc hóa học mà Làng Hữu nghị quan tâm và triển khai chủ yếu là chăm sóc, trị liệu và dạy nghề

- Đại đa số trẻ bị nhiễm chất độc hóa học khi sống trong Làng và sau này ra bên ngoài đều có thể hòa nhập với xã hội và có đủ sức khỏe, năng lực

tự kiếm sống nuôi bản thân

- So với mô hình những cơ sở phục hồi chức năng, dạy nghề cho trẻ bị nhiễm chất độc hóa học khác thì mô hình Làng Hữu Nghị Việt Nam ưu việt hơn bởi đây là mô hình lớn của cả nước được Đảng và Chính phủ quan tâm đầu tư cả về chuyên môn cho nhân viên công tác xã hội và cơ sở vật chất

Trang 21

8 Phương pháp nghiên cứu

hỗ trợ này của các Trung tâm chăm sóc nói chung, Làng Hữu Nghị nói riêng Quan điểm lịch sử, nguyên tắc lịch sử cụ thể, khách quan, toàn diện luôn được quan tâm vận dụng và tuân thủ một cách chặt chẽ Để tìm hiểu vấn đề nghiên cứu một cách chân thực và chính xác nhất chúng ta không được áp đặt những

ý chí chủ quan, nóng vội, phiến diện mà phải tìm hiểu một cách khách quan, đặt vấn đề nghiên cứu vào thời điểm lịch sử cụ thể và thực tế Soi vào đề tài nghiên cứu có thể thấy nhóm trẻ khuyết tật do bị nhiễm chất độc hóa học là một nhóm xã hội đặc thù, hiện nay vẫn còn gặp nhiều khó khăn cả về mặt tinh thần lẫn vật chất, vì vậy khi nghiên cứu hoạt động chăm sóc, hỗ trợ cho nhóm người này chúng ta cần phải lấy quan điểm lịch sử làm cơ sở phương pháp luận cho suốt quá trình nghiên cứu Nói một cách khác, phải đặt trẻ vào những

Trang 22

điều kiện cụ thể, có như vậy mới biết chính xác nguyên nhân và có những giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc và dạy nghề cho các em

8.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Đề tài được triển khai dựa trên các phương pháp: quan sát, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm, phân tích tài liệu

- Sự thích ứng của trẻ bị nhiễm chất độc hóa học trong môi trường hiện tại được thể hiện như thế nào? (Trong học tập và vui chơi, kết bạn)

- Giao tiếp của trẻ bị nhiễm chất độc hóa học đối với các thành viên trong Làng Hữu nghị

- Giao tiếp của trẻ bị nhiễm chất độc hóa học với cán bộ trung tâm và sinh viên thực tập, người lạ

- Sự tham gia của trẻ trong các hoạt động

Trang 23

8.2.2 Phương pháp phỏng vấn sâu

Tiến hành phỏng vấn sâu với:

- 1 Đại diện Ban lãnh đạo Làng Hữu Nghị

- 5 Cán bộ, nhân viên tại Làng Hữu Nghị

- 10 Trẻ bị nhiễm chất độc hóa học

- 2 người đại diện bên gia đình trẻ bị nhiễm chất độc hóa học

8.2.3 Thảo luận nhóm: 2 cuộc thảo luận nhóm (Nhóm trẻ bị nhiễm

chất độc hóa học và Nhóm cán bộ, nhân viên)

Đề cương thảo luận nhóm:

Nhóm trẻ bị nhiễm chất độc hóa học:

Mục đích: Tìm hiểu về suy nghĩ, cảm nhận của trẻ bị nhiễm chất độc hóa học về các hoạt động hỗ trợ trẻ trong Làng Những khó khăn, thuận lợi của trẻ khi sống tại Làng…

Số lượng trẻ tham gia: 10

Nhóm cán bộ, nhân viên:

Mục đích: Thu thập thông tin từ phía nhóm cán bộ, nhân viên về mô hình hoạt động của Làng Những khó khăn và thuận lợi khi triển khai các hoạt động mà Làng đang gặp phải, đồng thời tìm hiểu sáng kiến của họ (dựa trên nhận thức, kinh nghiệm đã có và điều kiện thực tế của Làng, của Việt Nam)

để bổ sung, hoàn thiện thêm mô hình đang có, ý kiến của cán bộ, nhân viên về công việc họ đang tham gia giúp trẻ…

Số lượng tham gia: 8 người

8.2.4 Phân tích tài liệu sẵn có

Công trình sử dụng, trích dẫn, tổng hợp các số liệu, thông tin từ các nguồn tài liệu có như:

+ Các báo cáo: Báo cáo phân tích tình hình trẻ em Việt Nam 2010 của UNICEF, báo cáo tình hình trẻ em thế giới năm 2013 của UNICEF, báo cáo

số liệu trẻ em năm 2010 của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, báo cáo

Trang 24

của Trung ương hội cựu chiến binh Việt Nam, báo cáo tình hình hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng, dạy nghề cho cựu chiến binh, trẻ khuyết tật của Làng Hữu Nghị Việt Nam

+ Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng số UBTVQH 11 ngày 29/6/2005 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội

26/2005/PL-+ Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng số 04/2012/UBTVQH 13 ngày 16/7/2012 của Ủy ban thường

vụ Quốc hội

+ Thông tư số 04 /TT-BLĐTBXH ngày 25 tháng 2 năm 2011 quy định tiêu chuẩn chăm sóc tại cơ sở bảo trợ xã hội

+ Các công trình nghiên cứu về đề tài chất độc da cam như: Thực trạng

ô nhiễm đất tại phía Nam và sân bay Đà Nẵng” do văn phòng 33 cùng với công ty tư vấn Hatfield dưới sự tài trợ của Quỹ Ford Nghiên cứu biến đổi một số chỉ tiêu sinh học về di truyền, sinh hóa, miễn dịch, huyết học ở bệnh nhân có nguy cơ phơi nhiễm Đioxin Tư vấn hướng nghiệp trong công tác dạy nghề cho thanh niên, thiếu niên khuyết tật nạn nhân chất độc hóa học…

+ Các bài viết về đề tài học nghề và việc làm của người khuyết tật nói

chung và trẻ nhiễm chất độc hóa học nói riêng

Thông tin trên mạng Internet: các trang web:www.vava.org.vn, trang http://cuuchienbinh.com.vn, http://vietnam-dioxine.org

9 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận - khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn chia làm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luân và thực tiễn của đề tài: Chương này giới thiệu

về các khái niệm chủ chốt, lý thuyết áp dụng, phương pháp nghiên cứu, địa bàn khảo sát của đề tài

Chương 2: Thực trạng hoạt động của mô hình hỗ trợ phục hồi chức

năng, hướng nghiệp dạy nghề cho trẻ bị nhiễm chất độc hóa học đang sống

Trang 25

tại Làng Hữu Nghị Việt Nam hiện nay: Chương này nói về tình hình chữa trị,

phục hồi chức năng và dạy nghề cho trẻ em nhiễm chất độc hóa đang sống tại Làng Hữu Nghị Việt Nam Những nhân tố tác động tới hiệu quả hoạt động của Làng

Chương 3: Hiệu quả hoạt động của mô hình hỗ trợ phục hồi chức năng

và hướng nghiệp dạy nghề cho trẻ nhiễm chất độc hóa học đang sống tại Làng Hữu Nghị Việt Nam: Chương này đánh giá hiệu quả hoạt động của Làng

Hữu Nghị và đề xuất những việc cần làm để nâng cao hiệu quả mô hình hỗ trợ phục hồi chức năng và hướng nghiệp dạy nghề cho trẻ khuyết tật do nhiễm chất độc hóa học đang sống tại Làng Hữu Nghị Việt Nam

Trang 26

PHẦN NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1 Cơ sở lý luận

1.1 Khái niệm chủ chốt

1.1.1 Người hoạt động kháng chiến:

Người hoạt động kháng chiến là người được cơ quan có thẩm quyền công nhận đã tham gia công tác, chiến đấu, phục vụ chiến đấu vì sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà và bảo vệ tổ quốc [33]

1.1.2 Chất độc hóa học:

Chất độc hóa học hay còn gọi là chất da cam là một chất diệt cỏ được sản xuất vào những năm 1940 và ở dạng lỏng sánh như dầu, màu nâu thẫm, không tan trog nước, tan trong diesel và mỡ, dễ xâm nhập vào màng tế bào của lá, đặc biệt là loài cây lá kép Chất này đã được quân đội Mỹ và đồng minh sử dụng nhiều nhất trong chiến tranh Việt Nam trong khoảng thời gian

từ 10- 8- 1961 đến 30- 6- 1971 để làm trụi rừng và rừng sú vẹt nhằm làm lộ ra các con đường vận tải và các căn cứ quân sự, phá hủy mùa màng ngăn ta không có lương thực dự trữ Để phân biệt với các chất khác nhau, các thùng được mang những cái băng màu nhận dạng Các màu trong sắc cầu vồng được dùng làm tên các chất diệt cỏ được gọi theo tên các băng màu trên thùng chứa nó: chất Xanh, chất Đỏ, chất Trắng… Tên “chất độc màu da cam” đại diện cho tất cả các chất diệt cỏ đã được sử dụng trong chiến tranh Việt Nam Thành phần chính của chất này là đioxin [38.1.1]

1.1.3 Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học:

Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học là người được

cơ quan có thẩm quyền công nhận đã tham gia công tác, chiến đấu, phục vụ chiến đấu từ tháng 8 năm 1961 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 tại các vùng quân đội Mỹ đã sử dụng chất độc hóa học và do nhiễm chất độc hóa hóa học

Trang 27

dẫn đến một trong các trường hợp sau đây: bị mắc bệnh làm suy giảm khả

năng lao động từ 21% trở lên, vô sinh, sinh con dị dạng, dị tật [33]

1.1.4 Trẻ em

Hiện nay, khái niệm “Trẻ em” được hiểu không đồng nhất tại nhiều

quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia lại có một cách hiểu khác nhau về trẻ em

Ở Australia và Anh, trẻ em được quy định là người dưới 18 Tại Singapore, trẻ em là người dưới 14 tuổi Trong khi đó ở Hồng Kông, trẻ em là nhóm người dưới 16 tuổi Sở dĩ có sự khác nhau này là do có sự khác biệt về điều kiện lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội Một lập luận khác để giải thích về sự khác biệt đó là khả năng của nền kinh tế của mỗi quốc gia, bởi vì việc quy định về độ tuổi trẻ em bao giờ cũng gắn liền với trách nhiệm đảm bảo các quyền của trẻ em, ngoài ra còn đảm bảo quyền công dân, quyền con người nói chung ở mỗi quốc gia

Theo quan điểm của một số tổ chức quốc tế trực thuộc Liên hiệp quốc như Quỹ Dân số Liên hiệp quốc (UNFPA), Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO),

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) xác định trẻ em là người dưới 15 tuổi

Theo Điều 1, Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em của Liên hiệp quốc

công bố năm 1989 xác định “Trong phạm vi công ước này, trẻ em có nghĩa là

người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” [11]

Tại Việt Nam, tại Điều 11, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em

có quy định “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” [21]

Trong phạm vi của đề tài này, các em nhỏ bị khuyết tật do nhiễm chất độc hóa học đều là khuyết tật nặng và khuyết tật trí tuệ có khả năng nhận thức

và phát triển chậm hơn các em khác rất nhiều nên khái niệm Trẻ em được hiểu theo quy định của Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em đó là các em dưới

18 tuổi Trên cơ sở đó, nhóm trẻ trong phạm vi nghiên cứu là những em bị

Trang 28

khuyết tật do ảnh hưởng của chất độc hóa học mà ông, cha, mẹ các em bị nhiễm được chăm sóc nuôi dưỡng, phục hồi chức năng và dạy nghề tại Làng Hữu Nghị Việt Nam

1.1.5 Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt bao gồm: trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em khuyết tật, trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học, trẻ em nhiễm HIV/AIDS, trẻ em phải lao động nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại, trẻ em phải làm việc xa gia đình, trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm hại tình dục, trẻ em nghiện ma túy, trẻ em vi phạm pháp luật [21]

1.1.6.Trẻ em bị nhiễm chất độc hóa học

Trẻ bị nhiễm chất độc hóa học là con đẻ người hoạt động kháng chiến

bị nhiễm chất độc hóa học được cơ quan có thểm quyền công nhận bị dị dạng,

dị tật do hậu quả của chất độc hóa học [33]

Mặc dù theo quy định của pháp luật Việt Nam trẻ em là những người dưới 16 tuổi nhưng do các em bị nhiễm chất độc hóa học bị khuyết tật, dị dạng, thiểu năng trí tuệ, thường đi học muộn hơn các em khác và nhận thức kém hơn nên trong đề tài này trẻ em bị nhiễm chất độc hóa học được xác định

là con đẻ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học có độ tuổi

từ 18 tuổi trở xuống

1.1.7 Phục hồi chức năng

Theo tổ chức Y tế Thế giới, phục hồi chức năng cho người khuyết tật là một quá tình nhằm mục đích tạo điều kiện cho họ đạt được và duy trì mức chức năng tối thiểu của họ về thể chất, giác quan, trí tuệ, tâm lý và xã hội Phục hồi chức năng bao gồm 4 hợp phần: Phục hồi chức năng y tế, phục hồi chức năng nhận thức, phục hồi chức năng lao động/ nghề nghiệp và phục hồi chức năng xã hội

Trang 29

Phục hồi chức năng y tế tập trung vào việc phục hồi chức năng về thể chất, trong đó chú trọng đến việc phục hồi về vận động để người khuyết tật có thể tự phục vụ, có những kỹ năng lao động giản đơn Công tác phục hồi này

có thể tiến hành tại cộng đồng, gia đình, tại cơ sở y tế các tuyến xã, huyện, tỉnh và Trung ương

Phục hồi chức năng nhận thức nhằm trang bị những kiến thức văn hóa, các kỹ năng sống theo khả năng của người khuyết tật Phục hồi chức năng nhận thức được tiến hành ở các trường lớp hòa nhập và bán hòa nhập các cấp học, các trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập, các cơ sở giáo dục chuyên biệt, tách biệt

Phục hồi chức năng xã hội nhằm xóa rào cản của cộng đồng xã hội đối với việc hòa nhập người khuyết tật Điều này được thể hiện ở việc thay đổi nhận thức của cộng đồng xã hội về sự tồn tại khách quan của người khuyết tật, chấp nhận sự đa dạng trong cộng đồng xã hội; cải thiện và tạo môi trường không vật cản đối với người khuyết tật; nâng cao nhận thức của bản thân người khuyết tật về quyền và nhu cầu của họ

Phục hồi chức năng lao động nhằm trang bị kiến thức/ hiểu biết về nghề nghiệp, đào tạo nghề, tìm kiếm, duy trì và hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật để họ có thể tự kiếm sống, sống độc lập và đóng góp cho cộng đồng xã hội Phục hồi chức năng lao động có thể bao gồm đánh giá khả năng nghề nghiệp, đào tạo kỹ năng nghề, việc làm có sự hỗ trợ, việc làm thuộc các chương trình của các nhà cung cấp dịch vụ và việc làm bình đẳng trong môi trường hòa nhập Các dịch vụ này cần có sự hỗ trợ của gia đình, người sử dụng lao động và các tổ chức cộng đồng

Qua các khái niệm trên ta thấy phục hồi chức năng cho trẻ nhiễm chất độc hóa học đang sống tại Làng Hữu Nghị Việt Nam bao gồm đầy đủ cả bốn hợp phần: phục hồi chức năng y tế, phục hồi chức năng nhận thức, phục hồi chức năng lao động/ nghề nghiệp và phục hồi chức năng xã hội [6; tr 3-4]

Trang 30

1.1.8 Nghề

Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội [38.5]

1.1.9 Dạy nghề

Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức chuyên môn, kỹ năng thực hành và thái độ nghề nghiệp một cách hoàn chỉnh nhằm giúp cho người học nghề có năng lực thực hành trọn vẹn một công việc của

một nghề [24]

1.1.10 Hướng nghiệp trong dạy nghề

Hướng nghiệp là hệ thống các biện pháp giúp đỡ học sinh làm quen, tìm hiểu nghề, lựa chọn, cân nhắc nghề nghiệp với nguyện vọng, năng lực, sở trường của mỗi người Với nhu cầu và điều kiện thực tế khách quan của xã hội [30; tr178]

1.1 2 Lý thuyết áp dụng trong đề tài

1.1.2.1 Lý thuyết chức năng

Lý thuyết chức năng gắn liền với tên tuổi của các nhà Xã hội học tiêu biểu như: August Comte, Emile Durkheim, Vilfredo Pareto, Talcott Parsons, Robert Merton, Peter Blau, N Luhman và nhiều người khác

Thuyết chức năng được phân chia thành các trường phái khác nhau như: lý thuyết chức năng – cấu trúc với đại diện tiêu biểu là T Parsons và thuyết cấu trúc – chức năng với đại diện là nhà xã hội học N Luhmann

Lý thuyết chức năng là bắt đầu từ truyền thống khoa học xã hội Pháp coi trọng sự ổn định, trật tự của hệ thống với các bộ phận có quan hệ chức năng – hữu cơ với chỉnh thể hệ thống Thứ hai: truyền thống khoa học Anh với thuyết tiến hóa Từ hai truyền thống này đã nảy sinh những ý tưởng khoa học về xã hội như là một hình thức cấu trúc hữu cơ bao gồm các thành phần

có những chức năng nhất định tương ứng với cấu trúc đó

Trang 31

Giả thuyết đầu tiên của thuyết chức năng dựa trên chủ nghĩa hữu cơ của các nhà sáng lập xã hội học thế kỷ 19, cho rằng tất cả các thể chế, các bộ phận, các tổ chức trong xã hội là những yếu tố gắn kết với nhau một cách hữu

cơ Mỗi một bộ phận đều đảm đương một chức năng và đóng góp một vai trò nhất định trong xã hội A.Comte (1798 – 1957) là người đặt vấn đề đầu tiên khi ông sử dụng khái niệm “tĩnh học xã hội” để nghiên cứu các quy luật duy trì trật tự và ổn định của cấu trúc xã hội H.Spencer (1820-1903) trong lý thuyết tiến hóa của mình, đã quan niệm xã hội được cấu trúc và tiến hóa giống như sinh giới theo hướng phân hóa chức năng từ đơn giản đến phức tạp Ông

đã vận dụng các thuật ngữ của sinh học để miêu tả các chức năng và vai trò cũng như sự biến chuyển của các thiết chế, các tổ chức, các bộ phận khác nhau trong xã hội E.Durkheim (1858-1917) đã đi xa hơn khi không chỉ đã nghiên cứu về cấu trúc, chức năng, vai trò của các bộ phận khác nhau trong

bộ máy xã hội mà ông đã biến các khái niệm này thành những công cụ phân tích của Xã hội học Ngoài ra còn có nhiều các nhà xã hội học khác đã đóng góp công sức xây dựng lý thuyết này trong suốt chiều dài lịch sử của nó

Như vậy, sự phát triển của lý thuyết chức năng đã nhấn mạnh tính cân bằng, ổn định và khả năng thích nghi của cấu trúc Thuyết này cho rằng một

xã hội tồn tại, phát triển được là do các bộ phận cấu thành của nó hoạt động nhịp nhàng với nhau để bảo bảm sự cân bằng chung của cả hệ thống - cấu trúc; bất kỳ sự thay đổi nào của một thành phần cũng kéo theo sự thay đổi ở các thành phần khác Sự biến đổi của cấu trú diễn ra theo quy luật tiến hóa, thích nghi khi môi trường sống thay đổi; sự biến đổi của hành động luôn hướng tới thiết lập trạng thái cân bẳng, ổn định Đối với cấu trúc xã hội, các đại diện của chủ thuyết chức năng vừa nhấn mạnh tính hệ thống của nó vừa

đề cao vai trò quan trọng của hệ giá trị văn hóa, hệ chuẩn mực xã hội trong việc tạo dựng sự nhất trí, thống nhất, ổn định, trật tự trong xã hội

Trang 32

Lý thuyết chức năng hướng vào giải quyết vấn đề bản chất của hệ thống cấu trúc xã hội và hệ quả của hệ thống cấu trúc xã hội Đối với bất

kỳ sự kiện, hiện tượng xã hội nào, những người theo thuyết chức năng đều hướng vào việc phân tích các thành phần cấu tạo nên cấu trúc của chúng, xem các thành phần đó có mối liên hệ với nhau như thế nào và đặc biệt xem xét quan hệ của chúng đối với nhu cầu chung của sự tồn tạ

và phát triển sự kiện, hiện tượng đó Đồng thời, chủ thuyết này đòi hỏi phải tìm hiểu cơ chế hoạt động của từng thành phần để biết chúng có chức năng, tác dụng gì đối với sự tồn tại một cách cân bằng ổn định của

em diễn ra như thế nào? Các hoạt động đó gặp thuận lợi, khó khăn gì trong quá trình triển khai Đồng thời nghiên cứu việc quan tâm chăm sóc, hỗ trợ nhóm đối tượng trẻ bị nhiễm chất độc da cam có vai trò như thế nào trong đời sống và sự phát triển xã hội

Trong cấu trúc tổng thể là Làng, mỗi bộ phận thực hiện các chức năng qua các mối quan hệ: Giám đốc – nhân viên, giám đốc – trẻ em, nhân viên – trẻ em, trẻ em – trẻ em Nếu mỗi bộ phận thực hiện đúng chức năng thì cấu trúc tổng thể hài hòa, phát triển; ngược lại nếu không thực hiện đúng chức năng (phản chức năng) thì cấu trúc có nguy cơ lỏng lẻo, hoặc bị phá vỡ

Trang 33

Mặt khác, xem xét một cấu trúc rộng lớn hơn đó là hệ thống bảo vệ trẻ

em thì Làng nằm trong mối quan hệ với gia đình, nhà trường, tổ chức xã hội, cộng đồng nơi cư trú, chính sách, chế độ ưu đãi Trong mối quan hệ này, các chức năng của gia đình và Làng có ảnh hưởng rất quan trọng đến sự phát triển toàn diện cả thể chất và tinh thần của trẻ em Giảm thiểu hay mất mát chức năng gia đình khiến cho các em mất đi môi trường xã hội hóa sơ cấp đặc biệt quan trọng

Một trong những giải pháp hữu ích là mang lại cho các em các chức năng gia đình thay thế Điều này hoàn toàn phù hợp với xu hướng chăm sóc,

nuôi dưỡng dưới hình thức “gia đình” đang ngày càng phổ biến tại các cơ sở bảo trợ xã hội dành cho trẻ em Cán bộ chăm sóc, bảo vệ trẻ được gọi là “bà,

mẹ”, người lớn tuổi hơn là các “anh, chị” còn người ít tuổi hơn gọi là “em”

Cách xưng hô, ứng xử tại trung tâm cũng được thực hiện nề nếp giống như một gia đình thực thụ Điều này được thể hiện rõ nét trong cách tổ chức nuôi dưỡng và xưng hô của các em sống trong Làng Hữu Nghị Các em sống ở Làng được bố trí sống trong các biệt thự từ T1 đến T6 mỗi biệt thự là một gia đình với mỗi gia đình có từ 2-3 cán bộ chăm sóc được gọi là các “mẹ” các em gọi nhau là anh em dựa trên độ tuổi của từng em mà xưng hô Ngoài ra các

em còn gọi các cựu chiến binh, thanh niên xung phong sống ở Làng là ông,

bà, các cán bộ, y bác sỹ là bác, cô, chú

1.1.2.2 Lý thuyết quản trị công tác xã hội

Trong nghiên cứu này người nghiên cứu còn vận dụng lý thuyết quản trị công tác xã hội vào việc tiếp cận tìm hiểu cách tổ chức, ủy quyền, cách triển khai thưc hiện mô hình hỗ trợ phục hồi chức năng và hướng nghiệp trong dạy nghề cho trẻ nhiễm chất độc da cam đang sống tại Làng Hữu Nghị Việt Nam Cụ thể ở đây là lý thuyết quản trị hành chính của Max Weber

Lý thuyết quản trị hành chính của Max Weber

Trang 34

M Weber (1864-1920) là nhà xã hội học người Đức, ông có nhiều đóng góp cho lý thuyết quản trị thông qua việc nghiên cứu tổ chức “quan liêu”- bàn giấy

Khái niệm tổ chức quan liêu bàn giấy được hiểu là hệ thống chức vụ và nhiệm vụ được xác định rõ ràng, có sự phân công, phân nhiệm cho từng thành viên, có các mục tiêu cụ thể cho các hoạt động và hệ thống quyền hành theo thứ bậc

M.Weber đã đưa ra những nguyên tắc mà một tổ chức hành chính cần phải thực hiện như sau:

- Hoạt động của tổ chức dựa vào các văn bản pháp quy, các quy định có

từ trước hoặc quy định do chính tổ chức của mình đặt ra

- Chỉ có những người đã được giữ chức vụ nhất định trong tổ chức mới

có quyền quyết định việc ra quyết định về một vấn đề gì đó trong phạm vi quyền hạn

- Chỉ giao chức vụ, quyền hạn cho người có năng lực và có khả năng tổ chức trên cơ sở chấp hành nghiêm túc luật lệ của tổ chức đó

- Một quyết định trong tổ chức phải mang tính khánh quan và tất cả phải vì mục tiêu và lợi ích chung

Về cơ bản các nguyên lý của nền quản lý hành chính tập trung theo kiểu bàn giấy của M.Weber vẫn còn được ứng dụng phổ biến trong các cơ quan, tổ chức ở nhiều quốc gia Hiện nay các cơ sở xã hội, trung tâm xã hội thuộc sự quản lý và hưởng lợi từ các chính sách của chính phủ Việt Nam đang

áp dụng phổ biến cơ chế hành chính tập trung [28; tr 21-23]

Lý thuyết quản trị hành chính của M Weber được vận dụng trong nghiên cứu ở Làng Hữu Nghị ở chỗ tìm hiểu phương thức, quá trình vận hành của một cơ sở xã hội mà ở đây là Làng Hữu Nghị được triển khai như thế nào Việc triển khai chính sách của Trung ương Hội cựu chiến binh, chính sách của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đối với người nhiễm chất độc hóa

Trang 35

học được triển khai ở Làng ra sao? Việc truyền đạt thông tin và hành động từ ban Lãnh đạo Làng Hữu Nghị tới các phòng, các tổ , các “gia đình” tức là trên xuống dưới diễn ra như thế nào? Có gặp phải những vướng mắc nào không? Chính sách có được thực hiện triệt để không? Việc sử dụng cách thức quản lý hành chính ở Làng Hữu Nghị Việt Nam đem lại hiệu quả như thế nào trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ?

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Tình hình thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước

Cơ sở thực tiễn để tiến hành nghiên cứu này là việc thực hiện các chính sách, chế độ ưu đãi của Đảng và Nhà nước đối với người tham gia kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học và con đẻ của họ qua các thời kỳ Bên cạnh

đó còn là kết quả những hoạt động mà Làng Hữu Nghị đã làm được kể từ khi

đi vào hoạt động

Đó là Pháp lệnh ưu đãi người có công 26/2005/PL-UBTVQH11ngày

29 tháng 6 năm 2005 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội đã đưa ra những quy định chung nhất về chính sách mà các đối tượng người có công được hưởng Trong đó có người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học và con

đẻ của họ Thực hiện Pháp lệnh Ưu đãi người có công trên địa bàn cả nước người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học và con đẻ của họ bị ảnh hưởng bởi chất độc hóa học dẫn tới khuyết tật, dị dạng đã làm hồ sơ và được hưởng ưu đãi như: được hưởng trợ cấp hàng tháng, được cấp thẻ bảo hiểm y tế để khám chữa bệnh, hỗ trợ mai táng phí [33] Tuy số tiền trợ cấp hàng tháng không lớn nhưng nó thể hiện sự ghi nhận công lao, sự cống hiến của họ đối với đất nước và phần nào giảm bớt những khó khăn trong tình hình

có nhiều biến động về giá cả Theo báo cáo của Bộ Lao động- Thương binh

và Xã hội thì cho đến cuối năm 2010 cả nước mới có 17.552 trẻ nhiễm chất độc hóa học được hưởng trợ cấp hàng tháng từ nguồn ngân sách nhà nước,

9097 em được khám chữa bệnh miễn phí, 16.705 em được cấp thẻ bảo hiểm y

Trang 36

tế miễn phí, 5.795 em được miễn giảm học phí [2] Bên cạnh đó một số trung tâm chữa trị phục hồi chức năng và dạy nghề cho trẻ khuyết tật bị nhiễm chất độc da cam được xây dựng và đi vào hoạt động Nhiều em nhỏ bị khuyết tật

do ảnh hưởng của chất độc hóa học đã được chữa trị phục hồi chức năng và học nghề và có được việc làm để tự nuôi sống bản thân Đã có 1.464 em được

hỗ trợ tìm kiếm việc làm với thu nhập ổn định, có thể trang trải cho cuộc sống hàng ngày [2] Tuy nhiên bên cạnh đó việc thực hiện chính sách đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học và con đẻ của họ vẫn còn nhiều bất cập như: thủ tục rườm rà, thời gian giải quyết hồ sơ mất nhiều thời gian, người chăm sóc người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học chưa được hỗ trợ nhiều Hiện nay vẫn còn rất nhiều người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học và con đẻ của họ bị ảnh hưởng bởi chất độc hóa học vẫn chưa được hưởng chính sách ưu đãi của Đảng và Nhà nước Mặt khác lợi dụng kẽ hở của chính sách nhiều đối tượng làm giả hồ sơ để hưởng chế độ chính sách, điều này làm mất đi tính nhân văn của chế độ Nhận thấy những bất cập của chính sách và cần phải sửa đổi sao cho phù hợp với tình hình thực tế đời sống xã hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã tiến hành sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh ưu đãi người có công

Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13 ngày 16/7/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng Qua một thời gian thực hiện Pháp lệnh ưu đãi người có công 26/2005/PL-UBTVQH11 ngày

29 tháng 6 năm 2005 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội đã có nhiều điểm không còn phù hợp với thời điểm hiện nay Chính vì vậy ngày 16/7/2012 Quốc Hội đã thông qua Pháp lệnh sửa đổi bổ sung một số điều của pháp lệnh

ưu đãi người có công với cách mạng Với việc ban hành Pháp lệnh số 04 công tác đền ơn đáp nghĩa nói chung và chính sách đối với người tham gia kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học đã được điều chỉnh sao cho phù hợp với tình hình thực tế hiện nay Đồng thời những quy định của Pháp lệnh 04 mở rộng

Trang 37

hơn đối tượng được hưởng các chế độ ưu đãi của nhà nước, mặt khác quy định chặt chẽ hơn về thủ tục, nhằm đúng đối tượng, đúng chính sách, để đảm bảo tính công bằng, minh bạch trong chính sách [34] Thực hiện Pháp lệnh

04, các Sở Lao động- Thương binh Xã hội trên cả nước đã tiến hành rà soát, thống kê lại các đối tượng chính sách đang hưởng chính sách trên địa bàn tỉnh

từ đó nắm bắt được tình hình, số lượng người có công và có báo cáo lên Cục Người có công Đồng thời phân loại đối tượng hưởng chế độ chính sách với người tham gia kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học theo các mức được quy định Trong thời gian chờ có Nghị định hướng dẫn việc thực hiện Pháp lệnh sửa đổi Pháp lệnh ưu đãi người có công thì việc tiếp nhận hồ sơ giải quyết chế độ, chính sách của các đối tượng người có công được tạm dừng theo quy định của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội tại công văn 3283/LĐTBXH-NCC ngày 17/9/2012 về việc triển khai thực hiện Pháp lệnh

ưu đãi Người có công với cách mạng Cũng như các đối tượng người có công khác hồ sơ giải quyết chế độ, chính sách của người tham gia kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học và con đẻ của họ cũng tạm dừng trong thời gian chờ văn bản pháp quy hướng dẫn

Ngày 9/4/2013 Chính phủ ban hành Nghị định số 31/2013/NĐ- CP quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng Nghị định này đã có những quy định, hướng dẫn một cách chi tiết việc thực hiện chính sách với người có công nói chung và người tham gia kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học nói riêng Tại Mục 8, Nghị định này mở rộng đối tượng được hưởng chính sách này, đồng thời có thêm những quy định mới về trợ cấp đối với thân nhân và người chăm sóc người tham gia kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học Nghị định 31 có hiệu lực công tác nhu nhận hồ sơ giải quyết chế độ đối với người tham gia kháng chiến

bị nhiễm chất độc hóa học và con đẻ của họ tiếp tục được thực hiện một cách đồng bộ tại các địa phương trên cả nước [10]

Trang 38

Ngoài cơ sở thực tiễn tổng thể nói trên thì cơ sở thực tiễn trực tiếp để tiến hành nghiên cứu này đó là hoạt động của của Làng Hữu Nghị Việt Nam Mặc dù mới được thành lập và đi vào hoạt động được 15 năm nhưng Làng đã tiếp nhận hơn 3.500 lượt Cựu chiến binh và hơn 600 lượt con em của cựu chiến binh bị nhiễm chất độc màu da cam về chăm sóc, điều trị, phục hồi chức năng và dạy nghề [1] Trong suốt 15 năm qua Làng luôn căn cứ vào quân số thực tế cần bổ sung để làm công văn gửi cho các Hội cựu chiến binh các tỉnh

để duy trì số lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, điều trị cho khoảng 160-170 người Hiện nay Làng Hữu Nghị đang nuôi dưỡng, chăm sóc, phục hồi chức năng cho 80 cựu chiến binh và 125 trẻ em bị nhiễm chất độc hóa học Hiện nay Làng thường duy trì 5 lớp giáo dục đặc biệt, các lớp từ 1 đến lớp 5 được phân loại theo trình độ nhận thức và trí tuệ Tùy theo trình độ nhận thức của từng đối tượng, giáo viên sẽ xây dựng lên giáo trình giảng dạy sao cho phù hợp với các em nhằm đem lại hiệu quả cao cho việc học của các em Làng thường xuyên duy trì 4 lớp dạy nghề cho các em đó là: học may, học thêu, lớp làm hoa và học tin học văn phòng Các lớp nghề thường có sỹ số từ 15-26 em Công tác dạy nghề diễn ra thường xuyên liên tục, các cán bộ, giáo viên tích cực nghiên cứu làm mới giáo cụ trực quan, giáo trình sao cho phù hợp với nhận thức và tay nghề của các em Sản phẩm các em làm ra được trưng bày và bán cho khách thăm quan số tiền thu được hàng tháng sẽ được trả cho các em sau khi các em tốt nghiệp và trở về sống với gia đình Qua đó ta thấy hoạt động chăm sóc, phục hồi chức năng và hướng nghiệp dạy nghề ở Làng Hữu Nghị diễn ra thường xuyên liên tục và thường xuyên cập nhật, đổi mới phương pháp điều trị, dạy học nhằm mang lại kết quả cao nhất cho các em

1.2.2 Đặc điểm địa bàn khảo sát

Làng Hữu Nghị Việt Nam được thành lập theo nguyện vọng của những người trước đây đã từng có những suy nghĩ và việc làm sai trái đối với Việt Nam, đã thức tỉnh lương tâm, ân hận và muốn được hợp tác góp phần xoa dịu

Trang 39

nỗi đau của những nạn nhân trong chiến tranh trước đây Điều đó hoàn toàn phù hợp với quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam là khép lại quá khứ, xoá bỏ hận thù, hướng tới tương lai

Nguyện vọng đó đã được sự ủng hộ của những người thành tâm từ các nước khác nhau Sự hợp tác của họ trong lĩnh vực nhân đạo là một đóng góp vào việc khắc phục hậu quả chiến tranh ở Việt Nam và tăng cường mối quan

hệ đoàn kết hữu nghị giữa các dân tộc

Sự hợp tác này thể hiện bằng cách thông qua sự tham gia của mỗi cá nhân có thể tác động và góp phần làm thay đổi được điều gì đó Đúng như ông George Mizo một trong những người có sáng kiến lập ra dự án này đã nói

“Bạn có thể làm thay đổi được điều gì đó”

Vào năm 1988, lần đầu tiên trở lại Việt Nam sau 13 năm kết thúc chiến tranh, ông George Mizo, một cựu chiến binh Mỹ tham gia chiến tranh ở Việt Nam có nguyện vọng xây dựng một biểu tượng của sự hàn gắn, hợp tác và hoà giải Trong những lần trao đổi đầu tiên với Uỷ ban hoà bình Việt Nam, sáng kiến này được nhiệt liệt hoan nghênh

Năm 1989, tại Sứ quán Việt Nam ở Pari, ông George Mizo đã gặp ông Phạm Bình – đại sứ Việt Nam tại Pháp và ông George Doussin (ARAC) Hội cựu chiến binh và nạn nhân chiến tranh của Pháp Họ đã cùng nhau bàn việc thành lập một dự án để giúp trẻ em và cựu chiến binh Việt Nam – ý tưởng thành lập “Làng Hữu Nghị Việt Nam” được hình thành từ đó

Tháng 10/1990 nhóm ủng hộ quốc tế được thành lập tại Pari (Pháp) bao gồm ông George Mizo, ông George Doussin (ARAC), ông Len Aldis (Hội Việt - Anh) và ông Takeo Yamanchi (Hội hoà bình Nhật)

Tháng 11/1990 nhóm này đã quyết định kế hoạch xây dựng một ngôi Làng ở Việt Nam Ông George Mizo được bầu làm chủ tịch, Ông George Doussin làm Phó chủ tịch và ông Nguyễn Phúc Kỳ làm thủ quỹ

Tháng 4/1992 dự án đó được lấy tên là “Làng Hữu Nghị Việt Nam”

Trang 40

Năm 1993, một số Cựu chiến binh và những người thành tâm ở các nước Đức, Anh, Pháp, Nhật, Mỹ và Việt Nam cùng bàn bạc ra quyết định thành lập Ủy ban Quốc tế về Làng Hữu Nghị Việt Nam, mỗi nước có một uỷ ban quốc gia và Ông George Mizo là chủ tịch Uỷ ban quốc tế đầu tiên của Làng Hữu Nghị và vào năm 2004, có thêm 1 nhóm ủng hộ Làng ở Canađa, từ

đó Ủy ban quốc gia Canađa được thành lập và trở thành thành viên thứ 7 của

Ủy ban Quốc tế về Làng Hữu Nghị

Chức năng nhiệm vụ của Ủy ban quốc tế về Làng Hữu Nghị Việt Nam

là soạn thảo nội dung xây dựng Làng theo bản thoả thuận của dự án và vận động sự ủng hộ về tài chính để xây dựng cũng như bảo đảm, duy trì, phát triển các hoạt động của Làng Hữu Nghị Uỷ ban quốc gia Việt Nam thuộc hội cựu chiến binh Việt Nam có trách nhiệm chỉ đạo và quản lý mọi hoạt động của Làng Hữu Nghị

Cũng trong năm 1993, được phép của Chính phủ Việt Nam, Làng Hữu Nghị Việt Nam đã được khởi công xây dựng trên đất của cánh đồng thuộc xã Vân Canh, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây nằm bên cạnh trục đường 70 (đường thị xã Hà Đông đi Nhổn), cách trung tâm Hà Nội khoảng 15km

Ngày 18/3/1998, 6 cựu chiến binh và 9 trẻ em đầu tiên đã được đưa đến Làng Từ đó đến nay đã được 15 năm và ngày 18/3 hàng năm đã trở thành ngày truyền thống của Làng [38.3]

Từ ngày thành lập tới nay Làng đã tiếp nhận điều dưỡng cho hơn 3500 lượt cựu chiến binh, thanh niên xung phong, nạn nhân chất độc da cam và hơn

600 em nhỏ bị khuyết tật do nhiễm chất độc da cam, các em là con đẻ của người hoạt động động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học ở 34 tỉnh thành

từ Quảng Bình trở ra [1] Thời gian các em sống ở Làng trung bình là từ 2-3 năm nhưng có một số trường hợp do sức khỏe yếu, bệnh tật nặng mà em sống

ở Làng tới 5 năm để các bác sỹ điều trị Hiện nay Làng Hữu Nghị đang nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa trị, phục hồi chức năng cho 80 cựu chiến binh và 125

Ngày đăng: 31/03/2015, 14:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Luật người khuyết tật và một số văn bản luật liên quan, NXB Lao động – xã hội, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật người khuyết tật và một số văn bản luật liên quan
Nhà XB: NXB Lao động – xã hội
4. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Kết quả khảo sát người khuyết tật 2011, NXB Lao động – Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả khảo sát người khuyết tật 2011
Nhà XB: NXB Lao động – Xã hội
5. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với UNICEF “xây dựng môi trường bảo vệ trẻ em Việt nam đánh giá pháp luật và chính sách bảo vệ trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: 5. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với UNICEF “xây dựng môi trường bảo vệ trẻ em Việt nam đánh giá pháp luật và chính sách bảo vệ trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam
8. Trịnh Hòa Bình “Sự hiểu biết giữa gia đình và trẻ em về vấn đề quyền trẻ em hiện nay” đăng trên Tạp chí Xã hội học số 4/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự hiểu biết giữa gia đình và trẻ em về vấn đề quyền trẻ em hiện nay
13. Phạm Huy Dũng (2007), “Bài giảng công tác xã hội lý thuyết và thực hành công tác xã hội trực tiếp”, NXB Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng công tác xã hội lý thuyết và thực hành công tác xã hội trực tiếp
Tác giả: Phạm Huy Dũng
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2007
14. Nguyễn Bá Đạt (2010), Tư vấn hướng nghiệp trong công tác dạy nghề cho thanh niên, thiếu niên khuyết tật nạn nhân chất độc hóa học” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư vấn hướng nghiệp trong công tác dạy nghề cho thanh niên, thiếu niên khuyết tật nạn nhân chất độc hóa học
Tác giả: Nguyễn Bá Đạt
Năm: 2010
15. Tô Duy Hợp, An sinh xã hội tam nông – một số vấn đề lý luận cơ bản, đăng trên Tạp chí Xã hội học số 1 năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An sinh xã hội tam nông – một số vấn đề lý luận cơ bản
18. Lê Văn Phú (2004), “Công tác xã hội”, NXBĐHQGHN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Công tác xã hội
Tác giả: Lê Văn Phú
Nhà XB: NXBĐHQGHN
Năm: 2004
23. Nguyễn Ngọc Toản (2011), “Xây dựng và hoàn thiện chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên ở Việt Nam”, NXB Đại học kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và hoàn thiện chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Toản
Nhà XB: NXB Đại học kinh tế quốc dân
Năm: 2011
24. Mai Thị Kim Thanh (2009), “Nhập môn công tác xã hội”, NXB GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn công tác xã hội
Tác giả: Mai Thị Kim Thanh
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2009
26. Phạm Văn Quyết, Nguyễn Quý Thanh (2000), “Phương pháp nghiên cứu xã hội học”. NXBĐHQGHN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu xã hội học
Tác giả: Phạm Văn Quyết, Nguyễn Quý Thanh
Nhà XB: NXBĐHQGHN
Năm: 2000
27. Phân tích tình hình trẻ em khuyết tật ở Việt Nam(2004), NXB Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích tình hình trẻ em khuyết tật ở Việt Nam
Tác giả: Phân tích tình hình trẻ em khuyết tật ở Việt Nam
Nhà XB: NXB Lao động xã hội
Năm: 2004
29. Trần Đình Tuấn, “Công tác xã hội lý luận và thực hành”, NXBĐHQGHN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội lý luận và thực hành
Nhà XB: NXBĐHQGHN
35. UNICEF Việt Nam (2010), Báo cáo Phân tích tình hình trẻ em ở Việt Nam 36. UNICEF (2013), Báo cáo tình hình Trẻ em thế giới năm 2013 với chủ đề:Trẻ em Khuyết tật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Phân tích tình hình trẻ em ở Việt Nam" 36. UNICEF (2013), "Báo cáo tình hình Trẻ em thế giới năm 2013 với chủ đề
Tác giả: UNICEF Việt Nam (2010), Báo cáo Phân tích tình hình trẻ em ở Việt Nam 36. UNICEF
Năm: 2013
38.2.1 http://www. vovnews.vn / Home/ Đàm Hoa: “Vi-nhung-nan-nhan-chat- doc-da-camdioxin-Viet-Nam/20098. Tác giả Đàm Hoa.” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vi-nhung-nan-nhan-chat-doc-da-camdioxin-Viet-Nam/20098. Tác giả Đàm Hoa
1. Báo cáo thành tích 15 năm hoạt động của Làng Hữu Nghị Việt Nam 2. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Báo cáo số liệu trẻ em của cácđịa phương năm 2010 Khác
6. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Tài liệu hướng dẫn quy trình cung cấp dịch vụ phục hồi chức năng lao động và việc làm cho người khuyết tật Khác
7. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2011), Thông tư số 04/TT- BLĐTBXH ngày 25 tháng 2 năm 2011 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định tiêu chuẩn chăm sóc tại cơ sở bảo trợ xã hội Khác
9. Chính phủ (2008), Nghị định 68/2008/NĐ- CP ngày 30 tháng 5 năm 2008 quy định điều kiện, thủ tục thành lập, tổ chức, hoạt động và giải thể cơ sở bảo trợ xã hội Khác
10. Chính phủ (2013), Nghị định số 31/2013/NĐ- CP ngày 9 tháng 4 năm 2013 quy định chi tiết, hướng dẫn một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w