1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng tìm kiếm tài liệu của sinh viên trong quá trình chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ (nghiên cứu trường hợp Trường Đại học Khoa học Xã hội

94 940 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dù là ngành khoa học mới hay những ngành đã làm nên bề dày truyền thống giảng dạy – đào tạo trong nhà trường thì nhiệm vụ chính của sinh viên luôn là học tập đạt chất lượng cao và bước đ

Trang 1

đại học quốc gia hà nội trờng đại học khoa học xã hội và nhân văn

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 3

1 Lí do chọn đề tài: 3

2 Ý nghĩa khoa học & ý nghĩa thực tiến: 4

2.1 Ý nghĩa khoa học: 4

2.2 Ý nghĩa thực tiễn: 4

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu: 4

3.1 Mục đích nghiên cứu: 4

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: 5

4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu, mẫu nghiên cứu: 5

4.1 Đối tượng nghiên cứu: 5

4.2 Khách thể nghiên cứu: 5

4.3 Phạm vi nghiên cứu: 6

4.4 Mẫu nghiên cứu: 6

5 Phương pháp nghiên cứu: 6

6 Giả thuyết nghiên cứu, khung lý thuyết: 8

6.1 Giả thuyết nghiên cứu: 8

6.2 Sơ đồ khung lý thuyết 8

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 10

1 Cơ sở lý luận 10

1.1 Phương pháp luận nghiên cứu: 10

1.2 Lý thuyết áp dụng: 11

1.2.1 Lý thuyết hành động xã hội của Max Weber 11

1.2.2 Lý thuyết chức năng cấu trúc của T Parsons: (AGIL) 13

1.3 Các khái niệm công cụ: 15

1.3.1 Sinh viên: 15

1.3.3 Đào tạo theo niên chế: 19

1.3.4 Tài liệu: 19

Trang 3

2 Cơ sở thực tiễn: 19

2.1 Tổng quan địa bàn nghiên cứu: 19

2.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu: 25

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NGUỒN TÀI LIỆU, LOẠI TÀI LIỆU VÀ MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG VIỆC TÌM KIẾM TÀI LIỆU CỦA SINH VIÊN 29

2.1 Thực trạng nguồn tài liệu, loại tài liệu và mức độ đáp ứng việc tìm kiếm tài liệu của sinh viên : 29

2.1.1 Các nguồn tài liệu sinh viên hay tìm kiếm : 29

2.1.2 Loại tài liệu sinh viên hay tìm kiếm: 36

2.1.3.Mức độ tìm kiếm tài liệu của sinh viên: 42

2.1.4 Mức độ hài lòng của sinh viên về các nguồn tài liệu hay tìm kiếm: 49

2 2 Các yếu tố tác động tới việc tìm kiếm tài liệu của sinh viên: 53

2.2.1 Chương trình đào tạo và nguồn nhân lực của nhà trường : 54

2.2.2 Điều kiện cơ sở vật chất, hệ thống tài liệu, phục vụ tra cứu tại thư viện: 58

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 64

1 Kết luận: 64

2 Khuyến nghị: 65

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

PHỤ MỤC 71

PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN 71

BIÊN BẢN PHỎNG VẤN SÂU 76

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài:

Chưa khi nào vai trò của giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học được Đảng và nhà nước quan tâm như hiện nay.Đứng trước bất cập của tình hình giáo dục hiện nay, Bộ giáo dục và đào tạo đã có chủ trương từ nay đến năm

2010 tất cả các trường đại học trong cả nước phải chuyển từ hình thức đào tạo niên chế sang hình thức đào tạo tín chỉ

( hptt//vietnamnet.vn/giaoduc/vande/2006/605425) Đây là mô hình

đào tạo khá mới mẻ đối với giáo dục Việt Nam Việc chuyển đổi từ hình thức đào tạo niên chế sang hình thức đào tạo tín chỉ sẽ giúp sinh viên Việt Nam có cơ hội hội nhập với bạn bè quốc tế vì hầu hết các trường đại học trên thế giới đào tạo theo hình thức đào tạo tín chỉ Tuy nhiên, để việc chuyển sang hình thức đào tạo tín chỉ được thành công đòi hỏi sự cố gắng không chỉ của giảng viên mà còn của cả những người quản lý, những nhà hoạch định chính sách giáo dục trong việc đưa ra những chính sách phù hợp lý Trên cơ

sở đó, cùng với một số trường Đại học khác, năm học 2007-2008 Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội bắt đầu áp dụng hình thức đào tạo tín chỉ thay cho đào tạo niên chế Tuy nhiên,

do mới chuyển sang hình thức đào tạo tín chỉ nên chưa hoàn thiện được phương pháp giảng dạy và học tập để phù hợp với hình thức đào tạo tín chỉ

Dù là ngành khoa học mới hay những ngành đã làm nên bề dày truyền thống giảng dạy – đào tạo trong nhà trường thì nhiệm vụ chính của sinh viên luôn

là học tập đạt chất lượng cao và bước đầu tham gia nghiên cứu khoa học thông qua các hoạt động đa dạng như: làm seminar, viết tiểu luận cho tới báo cáo thực tập, khóa luận hoặc tham gia vào đề tài nghiên cứu khoa học…Việc tìm kiếm các loại tài liệu này dường như là nhu cầu tất yếu của mỗi

sinh viên Ở mức độ nào đó, nếu việc tìm kiếm trên được thoả mãn, nó sẽ khuyến khích, tạo nên động lực cũng như hứng thú và tăng cường tính tích cực chủ động cho họ trong hoạt động học tập, nghiên cứu

Trang 5

Xác định được tầm quan trọng của việc tìm kiếm tài liệu của sinh viên trong quá trình chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ, đặc biệt với mong muốn góp phần giúp lãnh đạo nhà trường, lãnh đạo các khoa có những thông tin cần thiết để nâng cao hơn chất lượng học tập - giảng dạy,

chúng tôi lựa chọn nghiên cứu: “ Thực trạng tìm kiếm tài liệu của sinh viên trong quá trình chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ”

2 Ý nghĩa khoa học & ý nghĩa thực tiến:

2.1 Ý nghĩa khoa học:

Các kết quả thu được ghi nhận về mặt lý thuyết cũng như thực nghiệm của nghiên cứu nhằm vận dụng những quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, lý thuyết hành động xã hội của M.Weber, lý thuyết hệ thống xã hội của Parson trong xã hội học

2.2 Ý nghĩa thực tiễn:

Từ thực trạng về tìm kiếm tài liệu của sinh viên trong quá trình chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tao tín chỉ, đề tài hướng tới tìm hiểu những nguyên nhân tác động tới việc tìm kiếm đó Đồng thời, người nghiên cứu đề xuất một số giải pháp làm cơ sở tham khảo cho lãnh đạo nhà trường, các phòng tư liệu khoa, giúp nhà quản lý nắm được tâm tư, nguyện vọng của sinh viên, từ đây tìm ra cách thức phù hợp đáp ứng nhiều hơn nữa việc tìm kiếm tài liệu của sinh viên trong đào tạo tín chỉ nhằm nâng cao chất lượng học tập của sinh viên

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu:

3.1 Mục đích nghiên cứu:

Nghiên cứu hướng tới việc đánh giá thực trạng tìm kiếm các tài liệu của sinh viên như: nguồn và loại tư liệu sinh viên hay tìm trong quá trình chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ sau khi đã qua một năm học đào tạo theo học chế tín chỉ Qua đây, người nghiên cứu phần nào có được cái nhìn tổng quan về thực trạng tìm kiếm tài liệu của sinh viên hiện nay, từ đó đưa ra giải pháp thiết thực để nâng cao hơn nữa hiệu quả học tập, nghiên cứu cho sinh viên trong quá trình chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ

Trang 6

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

 Tìm hiểu thực trạng tìm kiếm tài liệu của sinh viên trong quá trình chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ gồm: nguồn tài liệu hay tìm đọc, mức độ hài lòng về các nguồn tìm kiếm, mức độ tìm kiếm tài liệu, loại tài liệu sinh viên hay tìm kiếm

 Phân tích một số yếu tố tác động tới việc tìm kiếm tài liệu của sinh viên tróng quá trình chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ như: Giới tính, Khoa, chương trình giảng dạy - đào tạo của nhà trường; nguồn nhân lực, điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị, hệ thống tài liệu phục vụ tra cứu của thư viện trường, phòng tư liệu các khoa và bộ môn trực thuộc

 Thời gian phục vụ, phương thức phục vụ đã đáp ứng nhu cầu của sinh viên chưa?

 Đề xuất giải pháp cải tiến cách thức phục vụ và kinh phí phục

vụ

4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu, mẫu nghiên cứu:

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Thực trạng tìm kiếm tài liệu của sinh viên trong quá trình chuyển đổi

từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ

4.2 Khách thể nghiên cứu:

Sinh viên K.51 trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn (hiện đang học tại trường) là khóa học theo cả 2 hình thức đào tạo niên chế và đào tạo tín chỉ Do điều kiện thời gian và kinh phí không cho phép nên tác giả đề tài đã tiến hành khảo sát một số khoa trong trường như: khoa Lịch sử, khoa Triết học (hai khoa có truyền thống lâu đời của trường), khoa Xã hội học, khoa Văn thư lưu trữ và Quản trị văn phòng, Khoa Du lịch học ( ba khoa tương đối mới) với sinh viên năm K.51 Lựa chọn như vậy, người nghiên cứu có thể xem xét thực trạng tìm kiếm tài liệu của sinh viên trong quá trình chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ phù hợp với mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu mà đề tài đặt ra

Trang 7

4.3 Phạm vi nghiên cứu:

Thời gian: Tháng 9 năm 2008 đến tháng 11 năm 2009

Không gian: Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội

4.4 Mẫu nghiên cứu:

 Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên thuận tiện: Phát phiếu tại các lớp học vào buổi sáng & chiều tại khu giảng đường nhà G, nhà nối A – B, nhà nối B – C và phòng tư liệu các khoa thuộc trường Đại học Khoa học Xã hội

& Nhân văn vào hai ngày 26, 27 tháng 12 năm 2008

 Dung lượng mẫu: 290 phiếu dành cho các đối tượng là sinh viên hệ chính quy K.51 khoa Lịch sử, Triết học, Xã hội học, Du lịch học, Lưu trữ và quản trị văn phòng thuộc trường Đại học Khoa Học Xã hội & Nhân văn

 Cơ cấu mẫu:

 Giới tính:

Nam: 33 người (11.4 %)

Nữ: 257 người (88.6 %)

 Khoa:

Khoa Lịch sử: 57 sinh viên (19.7 %)

Khoa Triết học: 59 sinh viên (20.3%)

Khoa Xã hội học: 58 sinh viên ( 20%)

Khoa Du lịch học: 52 sinh viên (18 %)

Khoa Văn thư lưu trữ và Quản trị văn phòng: 64 sinh viên ( 22%)

5 Phương pháp nghiên cứu:

Để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài luận văn sử dụng các phương pháp sau: phương pháp phân tích tài liệu, điều tra bằng phiếu

trưng cầu ý kiến, phương pháp phỏng vấn sâu,

Phương pháp phân tích tài liệu:

Trang 8

- Nghiên cứu các lý thuyết để làm rõ cơ sở lý luận cho việc phân tích sự tác động của các nhân tố đến thực trạng tìm kiếm tài liệu của sinh viên trong quá trình chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ

- Nghiên cứu tài liệu, các công trình khoa học liên quan để trình bày tổng quan về vấn đề nghiên cứu và thu thập cơ sở thực tiễn cho việc phân tích các nguyên nhân ảnh hưởng tới quá trình tìm kiếm tài liệu của sinh viên trong quá trình chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ

- Thu thập số liệu thống kê về sinh viên ở Trường Đại học Khoa học xã hội

và Nhân văn khóa K.51

Phương pháp trưng cầu ý kiến:

- Phương pháp này được người nghiên cứu sử dụng nhằm thu thập những thông tin cơ bản & có ý nghĩa nhất cho đề tài

- Đối tượng điều tra: Sinh viên K51 khoa Xã hội học, khoa Du lịch, khoa Lưu trữ và Quản trị văn phòng, khoa Lịch sử, khoa Triết học

- Nội dung điều tra: Hướng trọng tâm vào tìm hiểu thực trạng tìm kiếm tài liệu của sinh viên trong quá trình chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ

Phương pháp trao đổi, phỏng vấn sâu cá nhân:

- Trao đổi với các cán bộ phụ trách phòng tư liệu các khoa và bộ môn trực thuộc trường, các thủ thư của thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội

- Phỏng vấn sâu sinh viên K.51 để thu thập thêm các ý kiến về việc tìm kiếm tài liệu của họ trong quá trình chuyển đổi từ đàíao tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ Số lượng 09 sinh viên K.51

Trang 9

6 Giả thuyết nghiên cứu, khung lý thuyết:

6.1 Giả thuyết nghiên cứu:

- Trong quá trình chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ sinh

viên tích cực và chủ động hơn trong việc tìm kiếm tài liệu phục vụ cho quá

trình học tập và nghiên cứu

- Chương trình đào tạo và phương pháp giảng dạy của giảng viên có tác động

rất lớn đến việc tìm kiếm tài liệu của sinh viên trong quá trình chuyển đổi từ

đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ

- Phòng tư liệu các khoa chưa đáp ứng được hết các nhu cầu tìm kiếm tài

liệu của sinh viên trong quá trình chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào

tạo tín chỉ

6.2 Sơ đồ khung lý thuyết

Có rất nhiều nhân tố tác động đến thực trạng tìm kiếm tài liệu của sinh

viên trong quá trình chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ, đề

tài chỉ hướng vào phân tích nguồn tài liệu, loại tài liệu và mục đích tìm tài

liệu của sinh viên và 3 yếu tố chủ yếu tác động đến thực trạng đó là: chương

trình đào tạo của nhà trường, phương pháp giảng dạy của giáo viên và điều

kiện cơ sở vật chất, hệ thống kho tư liệu

Trang 10

của sinh viên

Cơ sở vật chất, hệ thống tra cứu tài liệu của thư viện trường, phòng tư liệu khoa và các loại

Loại tài liệu tìm kiếm

Mục đích tìm kiếm tài liệu

Mức độ tìm kiếm tài liệu

Nguồn tài liệu tìm kiếm

Trang 11

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1 Cơ sở lý luận

1.1 Phương pháp luận nghiên cứu:

* Lý luận xã hội học Mác Lênin:

Nghiên cứu được thực hiện dựa trên cơ sở nguyên tắc của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử luôn xem xét sự vật hiện tượng trong quá trình phát triển và các mối liên hệ phổ biến.Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử được coi là phương pháp luận để

lý giải các hiện tượng được nghiên cứu, hiện tượng nhu cầu xã hội cần ìm kiếm tài liệu và thực trạng của việc tìm kiếm đó diễn ra như thế nào

Nghiên cứu các hiện tượng xảy ra một cách bình thường, xem xét và nghiên cứu nó như nó đang tồn tại khách quan Cụ thể, chúng tôi nghiên cứu các hoạt động tìm kiếm tài liệu của sinh viên diễn ra hàng ngày trên thư viện

và các phòng tư liệu đúng như những gì nó tồn tại Quá trình nhận thức không chỉ dừng lại ở các hiện tượng bên ngoài mà cần nhận thức được bản chất bên trong của nó Cụ thể là khi nghiên cứu thực trạng tìm kiếm tài liệu của sinh viên trong quá trình chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ chúng tôi không chỉ dừng lại ở việc mô tả thực trạng đó mà còn hướng tới nghiên cứu để tìm ra nguyên nhân của thực trạng đó Nghiên cứu xã hội học phải xuất phát từ thực tế lịch sử của mỗi xã hội cụ thể Khi nghiên cứu thực trạng tìm kiếm tài liệu của sinh viên trong quá trình chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ, rõ ràng chúng ta phải đặt nó trong bối cảnh điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay của đất nước và đặt nó trong bối cảnh của nền giáo dục ở Việt nam trong giai đoạn hiện nay đó là muốn hội nhập với nền giáo dục tiên tiến chúng ta phải thay đối chương trình học Các trường Đại học nổi trên thế giới đều đào tạo theo học chế tín chỉ, do đó thay đổi từ học đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ là một tất yếu để giáo dục Việt Nam tiến dần đến hội nhập với nền giáo dục chung của thế giới

Trang 12

* Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục:

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất đề cao vai trò của giáo dục Bởi vì theo Người, muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, trước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa; tính người trong mỗi con người phần nhiều do giáo dục mà nên Hồ Chí minh xác định, xây dựng nền giáo dục mới là một nhiệm

vụ cấp bách, mang tính chiến lược Mục tiêu của giáo dục phải vừa nâng cao dân trí, vừa bồi dưỡng lý tưởng và tình cảm cách mạng, vừa bỗi dưỡng phẩm chất tốt đẹp trong mỗi con người Phương châm giáo dục của Người là “ học

đi đôi với hành”; “ lý luận đi đôi với thực tiễn”, kết hợp gia đình – nhà trường – xã hội để giáo dục; dân chủ, bình đẳng trong giáo dục; học suốt đời,

tự học, tự đào tạo Trong giáo dục phải coi trọng xây dựng những đội ngũ những người thầy xứng đáng là thầy giáo Thầy giáo là những người thật là yêu nghề, yêu người, giỏi chuyên môn, thuần thục về phương pháp và ham học hỏi Để giáo dục đạt hiệu quả cao, Hồ Chí Minh yêu cầu Đảng phải luôn

tự vươn lên về trình độ mọi mặt, đủ sức lãnh đạo công cuộc giáo dục, cải tổ nền giáo dục của đất nước; mọi cán bộ , đảng viên của Đảng phải ra sức học tập để làm gương cho quần chúng Tư tưởng Hồ Chí Minh có thể rút ra những vấn đề về phương pháp chỉ đạo trong đào tạo đội ngũ giáo viên Hồ

Chí Minh căn dặn: “ Giáo viên thi đua tìm cách dạy cho dề hiểu, cho chóng tiến bộ Học sinh thì thi đua học cho chóng, cho nhiều, cho tốt” và “nhà trường phải tạo điều kiện để giáo viên dạy tốt, học viên học tốt”( Hồ Chí

Minh toàn tập, tập 6, trang 319) Điều này rất phù hợp với cách dạy trong đào tạo tín chỉ hiện nay đó là đổi mới phương pháp giảng dạy trong đào tạo tín chỉ

1.2 Lý thuyết áp dụng:

1.2.1 Lý thuyết hành động xã hội của Max Weber

Hành động xã hội là một phạm trù trung tâm trong lý thuyết xã hội học của Max Weber Ông cho rằng, xã hội học là khoa học giải nghĩa hành

Trang 13

động xã hội Không phải mọi hành vi của con người đều được coi là hành động xã hội, nó chỉ trở thành hành động xã hội khi chủ thể gán cho nó một ý nghĩa chủ quan và hướng tới người khác Hành động có nghĩa là một thái độ của con người (tự có hành động bên ngoài hoặc bên trong, không được phép hoặc được phép), khi và chỉ khi chủ thể gắn liền thái độ của mình với một ý nghĩa chủ quan “ Hành động xã hội” thì lại là hành vi có định hướng ý nghĩa theo thái độ của những người khác < Hermann Korte, Nhập môn lịch sử Xã hội học, NXB thế giới,1997, tr157> Theo cách lý giải của M.Weber, hành động xã hội là sản phẩm của hoàn cảnh xã hội, đồng thời nó là sản phẩm của

ý chí chủ thể - tức con người xã hội

M.Weber cho rằng phân loại các hành động xã hội là một cơ sở đề nhận diện, mô tả các hành động xã hội phong phú, đa dạng của con người Trong lý thuyết của mình, M.Weber phân chia ra 4 hành động xã hội: hành động duy cảm, hành động duy lý truyền thống, hành động duy lý giá trị và hành động duy lý công cụ (hành động phù hợp với mục đích; hành động phù hợp với gía trị; hành động truyền thống và hành động cảm xúc) Để có cơ sở phân tích hành động xã hội, M.Weber đã đề xuất phương pháp “thông hiểu”

và vận dụng các kiểu điển hình lý tưởng Thực chất, theo ông khi phân tích, giải nghĩa hành động xã hội phải kết hợp kinh nghiệm của nhà xã hội học với

sự thấu hiểu văn hóa Lý thuyết hành động xã hội của M.Weber đã gợi mở những vấn đề phương pháp luận: hành động xã hội của con người dù ở kiểu loại nào đều tính đến yếu tố ngoại cảnh, đều chịu sự chi phối, tác động của

xã hội ở mức khác nhau Khi phân tích các trạng thái hành động xã hội của con người phải căn cứ vào ý chí, nhu cầu, động cơ chủ thể; đồng thời phải chú ý sự chi phối, tác động của các yếu tố xã hội

Nghiên cứu lý thuyết hành động xã hội của M.Weber cho phép chúng

ta rút ra một số vấn đề về phương pháp luận: Mọi hành động xã hội của con người xét cho cùng đều ít nhiều có liên quan hoặc chịu sự tác động của môi trường xã hội Do đó, trạng thái hành động của họ hợp chuẩn hay lệch chuẩn

Trang 14

hoàn toàn không phải do trạng thái tâm lý của họ quyết định, mà còn chịu sự tác động của các yếu tố xã hội trong môi trường hoạt động của họ Như vậy, xét về mặt lý thuyết, thực trạng tìm kiếm tài liệu của sinh viên trong quá trình chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ luôn chịu sự tác động của nhiều yếu tố của môi trường giáo dục đại học Trong trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn chương trình đào tạo của nhà trường, phương pháp giảng dạy của giáo viên, cơ sở vật chất có tác động rất lớn đến việc tìm tài liệu của sinh viên

1.2.2 Lý thuyết chức năng cấu trúc của T Parsons: (AGIL)

Parsons nổi tiếng với lý thuyết về hệ thống chức năng AGIL Theo ông, hệ thống bất kì trong đó kể cả hệ thống hành động phải được đáp ứng bằng hệ thống chức năng AGIL

 Thích nghi (Adaption): Một hệ thống phải đương đầu với các nhu cầu khẩn thiết của hoàn cảnh bên ngoài Nó phải thích nghi với môi trường của

nó và làm cho môi trường thích nghi với các nhu cầu của nó

 Đạt được mục tiêu (Goal attainment): Một hệ thống phải xác định và đạt được các mục tiêu cơ bản của nó

 Hòa hợp (Integration): Một hệ thống phải điều hòa mối tương quan của các thành tố bộ phận Nó cũng phải điều hành mối quan hệ trong ba yếu tố tất yếu chức năng còn lại (A,G,L)

 Sự tiềm tàng (Sự duy trì khuôn mẫu)( Latency): Một hệ thống phải cung cấp, duy trì và tân tạo cả động lực thúc đẩy của các cá thể cũng như các khuôn mẫu văn hóa đã sáng tạo và duy trì động cơ thúc đẩy

Trong đề tài này, chúng ta chỉ quan tâm tới chức năng về sự thích ứng (Adaption) Ông đã định nghĩa chức năng là phức hợp các hành động nhằm đáp ứng một hay nhiều nhu cầu của hệ thống Với chức năng Adaption, ông đưa ra luận điểm: một hệ thống bất kì cần phù hợp với đòi hỏi của môi

Trang 15

trường bên ngoài & những đòi hỏi của môi trường phải đáp ứng được nhu cầu của hệ thống

Từ đó vận dụng vào đề tài, nếu coi trường đại học như một hệ thống xã hội, trong đó các khoa, bộ môn là bộ phận nằm trong hệ thống với nhiệm vụ đào tạo sinh viên có chất lượng cao thì hệ thống thư viện trường, thư viện khoa chính là những tiểu hệ thống đảm nhận chức năng cung cấp thông tin, tài liệu hữu ích Do đó, mọi hoạt động của tiểu hệ thống này cần phải hướng vào thích ứng với chức năng, nhiệm vụ, yêu cầu của hệ thống tức là đảm bảo đáp ứng nhu cầu tìm đọc tài liệu của sinh viên học trong nhà trường, trong mỗi khoa Và để tiểu hệ thống thư viện hoạt động hiệu quả, hệ thống nhà trường, các khoa cũng nên tạo điều kiện nhất định về cán bộ, cơ sở vật chất, kinh phí, đào tạo nhân lực…

1.2.3 Lý thuyết trao đổi của G Homans:

Với lý thuyết này, ông đưa ra một số định đề cơ bản về hành vi con

người trong đó có định đề về giá trị Theo Homans, “kết quả hành động càng

có giá trị cao với chủ thể bao nhiêu thì chủ thể càng có xu hướng thực hiện hành động đó bấy nhiêu”

Từ định đề của Homans, đối chiếu vào đề tài, rõ ràng nguồn tài liệu nào càng có giá trị thì sinh viên sẽ khai thác nguồn đó nhiều hơn do nhu cầu bản thân Nói cách khác, nếu việc tìm kiếm tài liệu từ nguồn như thư viện trường, phòng tư liệu các khoa hay bộ môn trực thuộc, mạng internet… có thể đáp ứng một cách hiệu quả nhu cầu của sinh viên thì họ sẽ tìm kiếm tài liệu càng nhiều cũng như sẽ tích cực tìm kiếm thêm những gì họ cần

1.2.4 Lý thuyết lựa chọn hợp lý của Coleman

Coleman cho rằng xã hội tồn tại khách quan bên ngoài cá nhân và thực tại xã hội là một hiện tượng khách quan Tuy nhiên, cá nhân tồn tài trong thực tại đó chỉ lựa chọn những nhân tố hợp lý với hoạt động của mình nhằm đạt tới những mục tiêu chủ quan, có ý thức Coleman đưa ra mô hình hành động hợp lý để giải thích mối quan hệ duy lý Vận dụng cách tiếp cận chọn

Trang 16

lựa hợp lý của mình, Coleman lý giải một loạt hiện tượng ở cấp độ vĩ mô Điều quan trọng trong lý thuyết này thể hiện ở chỗ các cá nhân lý giải các sự kiện xã hội dựa trên cơ sở nhận thức chủ quan của cá nhân Hành động mà anh ta thực hiện bao giờ cũng thể hiện một mục đích nào đó Hành vi của các

cá nhân mà xã hội quan sát được liên quan đến động cơ nào đó trong chủ thể hành động Tính hợp lý về mặt mục tiêu chỉ có thể giải thích được bằng chính chủ thể hành động Sự hài hòa giữa cá nhân và thực tại xã hội là ở chõ

cá nhân lựa chọn lĩnh vực hay loại hành động nào để phù hợp với môi trường hành động của nó ( môi trường xã hội)

Lý thuyết lựa chọn hợp lý của Coleman được vận dụng vào lý giải nhận thức của sinh viên về lợi ích tìm kiếm tài liệu trong điều kiện môi trường xã hội là trường đại học hiên nay Với việc trường Đại học Khoa học

xã họi và Nhân văn chuyển đổi sang hình thức đào tạo tín chỉ thay cho đào tạo niên chế thì sinh viên phải lựa chọn nguồn tìm tài liệu hợp lý cho môi trường học tập mới Nói cách khác sinh viên cần có sự thay đổi trong việc tìm nguồn tài liệu phục vụ học tập và nghiên cứu để có thể thích ứng được với hình thức đào tạo mới Những sinh viên này muốn học tập tốt hơn thì họ cần lựa chọn cho mình một phương pháp học tập hợp lý và hoạt động tìm kiếm tài liệu của sinh viên bao giờ cũng thể hiện một mục tiêu chủ quan, có

ý thức của sinh viên Việc tìm kiếm tài liệu của sinh viên ở các phòng tư liệu khoa và bộ môn trực thuộc cũng thể hiện sự lựa chọn hợp lý của họ trong môi trường học tập mới – đào tạo tín chỉ, qua đó sinh viên có thể đạt tới những mục tiêu trong học tập của mình

1.3 Các khái niệm công cụ:

Trang 17

 Theo quy chế đào tạo công tác học sinh – sinh viên trong trường đào tạo: Sinh viên là những người đang học trong hệ đại học, cao đẳng

 Có thể hiểu: sinh viên là những người đang học tập, rèn luyện, trau dồi tri thức trong các trường cao đẳng - đại học Họ sẽ là tầng lớp trí thức, đội ngũ, cán bộ kế cận của đất nước Nói đến sinh viên là nói đến hoạt động học tập của một bộ phận thanh niên có mục đích, có lý tưởng; là lớp người tiên tiến, nắm bắt khoa học – kỹ thuật nhanh nhạy, có năng lực làm chủ Sinh viên có kiến thức vững vàng cho thấy một nền giáo dục tiên tiến, một đất nước phát triển

 Sinh viên là những người theo học ở bậc Đại học (từ điển tiếng Việt)

Sinh viên là nhóm xã hôi luôn phấn đấu trong học tập và các hoạt động khác

ở trọng và ngoài trường, luôn hình thành cho mình một lý tưởng sống, những mục đích trong cuộc sống và phấn đấu, rèn luyện để đạt được những mục đích đó Đặc biệt họ chính là nguồn nhân lực, có vai trò là đàu tầu đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước

Trong đề tài này người nghiên cứu sử dụng khái niệm “ Sinh viên” theo từ điển Tiếng Việt

1.3.2 Đào tạo theo tín chỉ:

- Tín chỉ ( có góc tiếng Anh là “ credit”) là đơn vị đo lường kiến thức mà sinh viên tích luỹ được qua quá trình nghe giảng lý thuyết, làm bài tập, tự nghiên cứu và tham gia các hoạt động thảo luận, thuyết trình việt tiểu luận… theo yêu cầu và hướng dẫn của giáo viên Học chế tín chỉ cho phép sinh viên đạt được văn bằng Đại học qua việc tích luỹ đủ số tín chỉ theo quy đinh của chương trình đào tạo Một tín chỉ bao gồm nội dung 1 tiết lý thuyết trong một tuần và kéo dài suốt một học kỳ ( 15 – 18 tuần) Các tiết học loại khác nhau như thực hành, thực tập, 1 tín chỉ được tính bằng 3 tiết học trong một tuần và kéo dài suốt một học kỳ Để tiếp thu được nội dung 1 tiết học lý thuyết, sinh viên bắt buộc phải có thời gian chuẩn bị, tự học, tự nghiên cứu bằng 2 tiết Ở Việt nam hiện nay, theo yêu cầu của Quyết định 31/2001/QĐ-BGD&ĐT ngày

Trang 18

30/7/2001, số tín chỉ tối thiểu để sinh viên đạt được bằng cử nhân là 140 tín chỉ Trong đó 1 tín chỉ được quy định bằng:

- 15 giờ học lý thuyết (mỗi tiết học bằng 45 phút)

- 30 giờ thảo luận trên lớp, bài tập, thực hành

- 45 đến 60 giờ làm tiểu luận

- 45 giờ thực tập tại cơ sở

Chương trình đào tạo bao gồm 2 khối kiến thức: Khối kiến thức gíao dục đại cương và khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp.Mỗi khối kiến thức có 2 học phần:

* Nhóm học phần bắt buộc: Bao gồm những nội dung kiến thức chính yếu của ngành đào tạo bắt buộc sinh viên phải tích luỹ

* Nhóm học phần tự chọn bao gồm những học phần chưa đựng những kiến thức cần thiết nhưng sinh viên có thể lựa chọn theo nhu cầu tích lũy kiến thức

và đảm bảo đủ số học phần quy định

- Học phần là khối kiến thức tương đối trọn vẹn, thuận lợi cho người học tích luỹ trong quá trình học tập Mỗi hoc phần có số lượng tối thiểu là 2 tín chỉ và tối đa là 6 tín chỉ, được bố trí trọn vẹn và phân bổ trong cùng 1 học kỳ

Với hình thức đào tạo tín chỉ, sinh viên có thể rút ngắn thời gian học tối

đa 2 học kỳ và kéo dài tối đa 4 học kỳ

Điều kiện cần có để tiến hành hình thức đào tạo tín chỉ:

- Đã thiết kế hoàn chỉnh chương trình đoà tạo theo học chế tín chỉ Mỗi ngành dào tạo phải có nhiều học phần tự chọn để sinh viên có thể lựa chọn theo định hướng phát triển nghề nghiệp

- Có đủ các hướng dẫn về tổ chức đào tạo, chương trình đào tạo của từng ngành đào tạo, chương trình chi tiết các học phần sẽ bố trí giảng dạy trong từng học kỳ và lịch trình giảng dạy để cung cấp cho sinh viên

- Có đủ số lượng giảng viên có trình độ chuyên môn để giảng dạy về lý thuyết, thực hành, thực tập theo yêu cầu chuyên môn

- Có đội ngũ tham gia làm cố vấn học tập để giúp đỡ sinh viên trong quá trình học

Trang 19

Hiện nay Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã bước đầu thực hiện hình thức đào tạo tín chỉ Theo “ Quy định đào tạo đại học hệ chính quy theo tín chỉ ở Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn” có quy định về tín chỉ học tập như sau:

1/ Tín chỉ là đại lượng xác định khối kiến thức, kỹ năng ( trung bình) mà sinh viên tích luỹ được từ môn học trong 15 giờ tín chỉ ( cùng loại hoặc khác loại) được thực hiện mỗi tuần 01 giờ tín chỉ và kéo dài trong học kỳ gồm 15 tuần Tín chỉ được sử dụng làm đơn vị để tích luỹ khối lượng học tập của sinh viên 2/ Giờ tín chỉ là đại lượng được dùng làm đơn vị để đo thời lượng lao động học tập của sinh viên Giờ tín chỉ được phân thành 3 loại theo cơ cấu các hình thức dạy – học, định lượng thời gian và được xác định như sau:

- Giờ tín chỉ lên lớp gồm 1 tiết lên lớp và 2 tiết tự học

- Giờ tín chỉ thực hành gồm 2 tiết thực hành và 1 tiết tự học

- Giờ tín chỉ tự học gồm 3 tiết tự học

( Mỗi tiết học được tính bằng 50 phút)

Hình thức tổ chức giờ tín chỉ là cách thức tổ chức thực hiện các hoạ động của giảng viên và sinh viên theo quy định cảu đề cương môn học, trong

đó coi trọng khâu tự học, năng lực nghiên cứu, thực tập, thực hành, thực tế nhằm tích luỹ đủ khối lượng kiến thức theo yêu cầu của môn học

* Các hình thức tổ chức giờ tín chỉ như sau:

+ Dạy và học trên lớp: Dạy và học lý thuyết, làm bài tập, thảo luận và các hoạt động khác do giảng viên yêu cầu

+ Dạy và học trong phòng thí nghiệm, studio, hiện trường: Làm thí nghiệm, thực hành

+ Dạy và học ngoài lớp, ngoài phòng thí nghiệm: Tự học, tự nghiên cứu, các hoạt động theo nhóm để hỗ trợ thảo luận, thực hành, thực tập

* Đặc điểm của chương trình đào tạo tín chỉ:

( Theo hướng dẫn chuyển đổi chương trình đào tạo của Đại học Quốc Gia) chương trình đào tạo tín chỉ có những đặc điểm cơ bản sau:

- Khối lượng từ 120 đến 140 tín chỉ

- Khung chương trình mỗi môn học gồm có:

Trang 20

+ Thời gian học tập trên lớp

+ Thời gian thực tập, thực hành

+ Thời gian tự nghiên cứu, chuẩn bị bài ở nhà

Ngoài các môn bắt buộc, các ngành học đếu có các môn học tự chọn, tạo điều kiện thuận lợi cho người học lựa chọn, bố trí kế hoạch học tập phù hợp với điều kiện, khả năng của mình

* Ưu điểm của đào tạo tín chỉ: Lấy người học làm trung tâm của quá trình đào tạo Chương trình đào tạo phải mềm dẻo, linh hoạt để đại học dễ dàng đáp ứng các nhu cầu luôn biến động của thị trường nhân lực

1.3.3 Đào tạo theo niên chế:

Chương trình đào tạo bao gồm 2 khối kiến thức: Khối kiến thức giáo dục đại cương và khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp.Mỗi môn học được tính bằng số đơn vị học trình ( 1 đơn vị học trình 15 tiết) Chương trình học được chia làm 4 năm, mỗi năm học 10 tháng và chia ra làm 2 học kỳ mỗi học kỳ sinh viên học từ 20-22ĐVHT và sau 4 – 5 năm học sinh viên sẽ thi tốt nghiệp và được cấp bằng Sinh viên học theo khóa học nhất định

1.3.4 Tài liệu:

Là dạng vật chất ghi nhận những thông tin dưới dạng văn bản, âm thanh, đồ hoạ, hình ảnh, phim, video nhằm mục đích bảo quản, phổ biến và

sử dụng

(Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam)

Tài liệu trong nghiên cứu của đề tài là khóa luận, luận văn, luận án, sách báo chuyên ngành

2 Cơ sở thực tiễn:

2.1 Tổng quan địa bàn nghiên cứu:

Đại học Quốc gia Hà Nội (tên giao dịch bằng tiếng Anh: Vietnam National University, Hanoi; viết tắt là VNU) được thành lập theo Nghị định

số 97/ CP ngày 10 tháng 12 năm 1993 của Chính phủ trên cơ sở tổ chức, sắp xếp lại 3 trường đại học lớn ở Hà Nội: Đại học Tổng hợp Hà Nội, Đại học

Sư phạm Hà Nội I và Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội Đại học Quốc gia

Trang 21

Hà Nội (ĐHQGHN) chính thức bước vào hoạt động theo Quy chế do Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 5/9/1994

Truyền thống của ĐHQGHN gắn với lịch sử hình thành và phát triển của những trường đại học tiêu biểu ở Việt Nam trong suốt bề dày của thế kỷ XX, bắt đầu từ Trường đại học Đông Dương (16/5/1906) có cơ sở tại 19 Lê Thánh Tông, Hà Nội Đây là trường đại học kiểu hiện đại đầu tiên ở Việt Nam (thời kỳ Pháp thuộc) được tổ chức theo mô hình trường đại học đa ngành, đa lĩnh vực Hiện nay Đại học Quốc gia có 6 trường thành viên:

- Trường Đại học khoa học xã hội và Nhân văn

- Trường Đại học Khoa học tự nhiên

- Trường Đại học Ngoại ngữ

- Trường Đại học Khoa học Công nghệ

- Trường Đại học Kinh tế

- Trường Đại học giáo dục

Bảng 1: Thống kê hàng năm nhân lực khoa học ĐHQGHN

(Nguồn: Thống kê nhân lực KH&CN-Ban Tổ chức Cán bộ, ĐHQGHN, 7/2008)

Tổ chức tiền thân của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội là Trường Đại học Văn khoa Hà Nội (thành lập theo sắc lệnh số số 45 do Chủ tịch Hồ Chí Minh kí ngày 10/10/1945), tiếp đó

là Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (thành lập ngày 05/06/1956) Ngày 10/12/1993, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định 97/CP thành lập Đại

Trang 22

học Quốc gia Hà Nội, trong đó có Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, được thành lập trên cơ sở các khoa xã hội của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội

Trong hơn sáu mươi năm xây dựng và phát triển, Trường Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân văn luôn được nhà nước Việt Nam coi là một trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn lớn nhất của đất nước, có nhiệm

vụ đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học cơ bản trình độ cao, phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc

Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn trực thuộc Đại học

Quốc gia Hà Nội chính thức thành lập tháng 9/ 1995 Hiệu trưởng đầu tiên của Nhà trường là PGS.TS Phùng Hữu Phú Sự nghiệp đào tạo của trường gắn với tên tuổi các đại học lớn của Việt Nam trong lịch sử Tiền thân của trường là Đại học Tổng hợp Hà Nội được thành lập ngày 5/6/1956 Trường

có đội ngũ giảng viên chuyên môn cao, có nhiều giáo sư đầu ngành đã được phong các danh hiệu cao quý: nhà giáo Nhân Dân, nhà giáo Ưu tú Thành tích về đào tạo và nghiên cứu khoa học của nhà trường được thể hiện thông qua các danh hiệu: Huân chương Lao động hạng Nhất năm (1981), Huân chương Độc lập hạng Nhất (2001), danh hiệu Anh hùng Lao động thời

kì đổi mới (2005); 8 nhà giáo được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh và 13 nhà giáo được tặng Giải thưởng Nhà nước về khoa học, công nghệ; 23 nhà giáo được phong tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân và 40 nhà giáo được phong tặng danh hiệu Nhà giáo Ưu tú

Trung kiên và tiên phong, chuẩn mực và sáng tạo là những giá trị truyền thống cốt lõi của nhà trường, luôn được các thế hệ cán bộ, sinh viên giữ gìn

và phát huy

Là một trường đại học trọng điểm, đầu ngành, có uy tín và truyền thống lâu đời, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội có sứ mệnh đi đầu trong sáng tạo, truyền bá tri thức và đào tạo

Trang 23

nguồn nhân lực chất lượng cao về khoa học xã hội và nhân văn, phục vụ sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước

Các chương trình đào tạo:

- Đào tạo đại học: 27 chương trình / 18 ngành

- Đào tạo thạc sĩ: 26 chuyên ngành

- Đào tạo tiến sĩ: 28 chuyên ngành

Các loại hình đào tạo:

- Chính quy: 18/18 ngành

- Không chính quy: 11/18 ngành

- Liên kết quốc tế: 06 ngành (đại học: 03; sau đại học: 03)

* Tổng số cán bộ, sinh viên của trường (tính đến 30/11/2008)

Tổng số cán bộ: 513, bao gồm 134 cán bộ hành chính và 379 giảng viên

Tính đến 11/2008 nhân lực khoa học trường Đại học khoa học xã hội và Nhân văn theo học hàm, học vị như sau

Ngoài số giảng viên cơ hữu trên còn có 176 giảng viên thỉnh giảng

* Sinh viên nước ngoài: 562, bao gồm:

+ Sinh viên đại học: 26

+ Học viên cao học: 21

+ Nghiên cứu sinh: 8

+ Học tiếng Việt: 507

Tổng số sinh viên chính qui là 5.472 sinh viên; tổng số sinh viên tại chức là

4.571 sinh viên ( Nguồn: Phòng chính trị và công tác sinh viên, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn); tổng số học viên cao học 2.122 là học

Trang 24

viên; tổng số nghiên cứu sinh là 161 NCS ( Nguồn: Phòng Sau đại học, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn)

Về cơ sở vật chất hiện tại, trường đóng trên địa bàn Thanh Xuân có tổng diện tích là 23.000m2

Phòng làm việc và phòng học với các trang thiết

bị thiết yếu phục vụ việc dạy và học như hệ thống âm thanh, máy vi tính và các thiết bị trình chiếu như Overhead, Slide, Video, Projector…Năm học 2008-2009 nhà Trường đưa vào sử dụng 02 phòng học tầng 4 nhà nối A-B và nhà I tăng thêm diện tích phòng học cho sinh viên Năm học 2009-2010 Nhà trường đã trang bị cho mỗi bộ môn trực thuộc khoa 01 máy tính xách tay Đây thực sự là sự cố gắng nỗ lực của nhà trường về cơ sở vật chất nhằm nâng cao chất lượng dạy và học trong đào tạo tín chỉ

Từ nay đến năm 2010, nhà Trường thực hiện 6 chương trình hướng tới mục tiêu chuẩn hoá và hiện đại hoá các mặt hoạt động của nhà Trường

1 Tiếp tục đổi mới công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức trong Nhà Trường

2 Chuẩn hoá đội ngũ cán bộ và công tác tổ chức, quản lý trong nhà Trường

3 Tiếp tục đổi mới các hoạt động đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo đại học và sau đại học

4 Mở rộng và nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác nghiên cứu khoa học và hợp tac quốc tế

5 Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, hiện đại hoá cơ sở vật chất phục

vụ các hoạt động của nhà Trường

6 Chuẩn hoá các hoạt động lao động, học tập và tiếp tục xây dựng môi trường văn hoá nhân văn

Lý do chúng tôi chọn trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn làm đại bàn nghiên cứu vì những lý do sau:

Thứ nhất, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn là ngôi trường giàu truyền thống Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn chính là sự tiếp nối và phát triển lên một bước truyền thống của Trường Đại

Trang 25

học Văn Khoa Trong quá trình hình thành và phát triển, các thế hệ thầy và trò của Nhà Trường đã không ngừng phấn đấu, phát huy những truyền thống tốt đẹp của trường, đồng thời khắc phục những mặt chưa mạnh để đưa Nhà Trường trở thành một trong những trung tâm đào tạo và nghiên cứu hàng đầu của đất nước theo hướng công nghiệp hoá – hiện đại hoá

Thứ hai, trong năm học 2007-2008 Trường Đại học Khoa học Xã hội

và Nhân văn đã chuyển đổi từ hình thức đào tạo niên chế sang hình thức đào tạo tín chỉ Trong quy định đào tạo Đại học chính quy theo tín chỉ ở Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã đưa ra mục tiêu đào tạo như sau: Đào tạo cử nhân các ngành khoa học xã hội nhân văn:

1/ Có lập trường tư tưởng, chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, ý thức nghề nghiệp đúng đắn, trung thực trong khoa học; nhận thức đúng đắn

về các giá trị xã hội và có thái độ ứng xử phù hợp với các giá trị đó; thể hiện

rõ ràng trách nhiệm nghề ngiệp và ý thức cộng đồng

2/ Có kiến thức chuyên môn đủ sâu và rộng để hoạt động tốt trong lĩnh vực chuyên môn của mình, có khả năng áp dụng kiến thức vào hoạt động thực tế 3/ Có khả năng tự học hỏi và học tập suốt đời nhằm tự nâng cao năng lực cá nhân và đạt được thành công trong hoạt động chuyên môn; có khả năng tự đánh giá và thẩm định kiến thức hiện có của mình; hiểu và chấp nhận các điểm yếu, điểm mạnh của bản thân, nắm được phương pháp và chiến lược học tập phù hợp với bản thân; chủ động và linh hoạt trong việc thích ứng với những thay đổi của môi trường làm việc cũng như trong cuộc sống

4/ Có khả năng làm việc theo nhóm làm việc độc lập; có kỹ năng giải quyết vấn đề một cách tích cực, sáng tạo và hiệu quả

Đối với sinh viên chất lượng cao, ngoài việc đảm bảo mục tiêu về kiến thức, kỹ năng và thái độ như trên, sinh viên còn phải đáp ứng các yêu cầu: Có kiến thức chuyên môn giỏi, có năng lực sáng tạo; có khả năng sử dụng ngoại ngữ trong giao tiếp với các đồng nghiệp nước ngoài về chuyên môn và những vấn đề xã hội thông thường; có khả năng sử dụng tốt các công

Trang 26

cụ tin học, tài nghiên mạng để phục vụ công tác chuyên môn; có khả năng hoà nhập với các mô hình đào tạo bậc cao của các trường đại học tiên tiến trong khu vực và quốc tế

Với những nguyên nhân trên, chúng tôi quyết định lấy trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn làm địa bàn nghiên cứu của mình

Kho sách và các nguồn dữ liệu khác về khoa học xã hội và nhân văn

của Trung tâm Thông tin - Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội đặt trong khuôn viên của trường để phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu của cán bộ

và sinh viên trong trường Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn cũng đang vận hành một trung tâm đào tạo tin học với gần 100 máy vi tính

và một phòng Internet gồm 40 máy vi tính ở nhà I, phục vụ miễn phí cho sinh viên trong toàn trường Tính đến nay, các khoa và bộ môn trực thuốc trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đều có phòng tư liệu

2.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu:

Cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu trực tiếp về thực trạng tìm kiếm tài liệu của sinh viên trong quá trình chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ ở trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Tuy nhiên, trong một số công trình khoa học đã đưa ra một vài nhận định có liên quan đến vấn đề nghiên cứu của luận văn Các luận cứ khoa học này cung cấp thêm cơ sở lý thuyết và thực tế cho quá trình phân tích vấn đề nghiên cứu của luận văn

Đối với sinh viên, học tập là một trong những vấn đề hàng đầu được nghiên cứu bởi nhiều lĩnh vực khác nhau như: tâm lí học, sư phạm, xã hội học, thông tin – thư viện, khoa học quản lí… Ở mỗi lĩnh vực sẽ có cách tiếp cận riêng & mang đặc trưng riêng song nhìn chung đều nhằm hướng tới các giải pháp nâng cao hơn nữa chất lượng học tập và nghiên cứu cho sinh viên tại trường họ đang theo học

Vấn đề học tập của sinh viên hiện nay đã và đang trở thành mối quan tâm của toàn xã hội, đặc biệt là trong giai đoạn chuyển đổi từ hình thức đào

Trang 27

tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ như hiện nay Đã có nhiều cuộc hội thảo về giáo dục, nhiều công trình nghiên cứu khoa học về vấn đề này Đó là những hội thảo về đổi mới hình thức giáo dục đào tạo, những buổi simena về thực trạng học tập của sinh viên hiện nay Tháng 6/ 2008 Công đoàn Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn tổ chức hội thảo đào tạo theo tín chỉ với

19 báo cáo tham luận Điển hình TS Lê Đình Chỉnh với “ Vài suy nghĩ về phương pháp nâng cao chất lượng dạy và học theo tín chỉ” chỉ ra rằng để

thực hiện nâng cao chất lượng đào tạo theo tín chỉ mỗi môn học, mỗi sinh viên cần nâng cao hơn nữa khả năng chủ động của mình trong việc tìm kiếm tài liệu phục vụ học tập và nghiên cứu

Đề tài khoa học cấp trường “Đặc điểm của hoạt động học tập trong lối sống của sinh viên Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội”, do thạc sỹ Trần Thu Hương là chủ nhiệm, nghiệm thu

năm 2006 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài đi sâu tìm hiểu khá nhiều chiều cạnh chẳng hạn: thái độ học các môn đại cương và chuyên ngành, thái độ của sinh viên với các hiện tượng lệch chuẩn trong học tập, thi cử… đặc biệt là tính tích cực của sinh viên khi theo học tại trường

Đề tài “Tìm hiểu 1 số yếu tố tác động tới hành vi học tập của sinh viên hệ tại chức” - một nghiên cứu trường hợp tại Trường Đại học Khoa học

xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội do sinh viên Nguyễn Việt Nga

- lớp K47 chính quy Xã hội học thực hiện năm 2006 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là phân tích các yếu tố chính tác động đến hành vi học tập của sinh viên ( tại chức) trong quản lý và giảng dạy tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Đồng thời đánh giá đúng thực trạng học tập của sinh viên hệ tại chức trong giai đoạn hiện nay

Ngoài ra, ở phạm vi rộng hơn, tác giả Nguyễn Trung Hiếu cho chúng

ta cái nhìn bao quát về “Hành vi học tập của sinh viên trong bối cảnh hội nhập quốc tế” - Luận văn Thạc sĩ Xã hội học năm 2007

Trang 28

Các nghiên cứu sau đó với mức độ khác nhau tập trung ở một số đề tài

về nhu cầu, về việc đọc tài liệu của sinh viên như: Đề tài khoa học cấp Đại

học Quốc gia năm 2005 – 2007 khảo sát “Thực trạng đọc tài liệu chuyên môn của sinh viên Trường Đại học khoa học Xã hội và Nhân văn hiện nay”

Gần đây đáng chú ý nhất là khóa luận tốt nghiệp K49 khoa Xã hội học

nghiên cứu với đề tài: “Sự thích ứng của sinh viên đối với hình thức đào tạo tín chỉ ” Đây là đề tài đưa ra một hướng nghiên cứu mới về hình thức đào

tạo tín chỉ Nghiên cứu này chỉ ra được phần nào sự thích ứng của sinh viên trong quá trình chuyển đổi sang đào tạo tín chỉ ở Trường Đại học khoa học

Xã hội và Nhân văn hiện nay

Đề tài khoa học cấp trường “ Hiện đại hóa và xây dựng cơ sở dữ liệu điện tử cho các phòng tư liệu của các khoa và bộ môn trực thuộc Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn” do Đỗ Văn Hùng chủ trì năm 2008

hướng tới hiện đại hóa phòng tư liệu và quản lý tài liệu trên máy tính thông qua đó kiểm soát và phục vụ tài liệu một cách hiệu quả hơn Theo cách lập luận của đề tài, hiện đại hóa phòng tư liệu của các khoa và bộ môn trực thuộc Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn chính là phục vụ việc tìm kiếm tài liệu của sinh viên được thuận lợi và nhanh chóng hơn Sinh viên sẽ được tiếp cận với nhiều nguồn tài liệu khác nhau do đó khắc phục được tình trạng thiếu tài liệu nhằm không ngừng nâng cao hiệu kết quả học tập của họ

Đề tài: Nhu cầu tìm đọc tài liệu chuyên môn của sinh viên và ý tưởng website thư viện số hóa” khóa luận tốt nghiệp do tác giả Đỗ Thu Thủy , sinh viên khoa Xã hội học thực hiện Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là làm rõ nhu cầu tìm đọc các tài liệu chuyên môn của sinh viên cũng như một số yếu tố tác động đến nhu cầu này, đề xuất các giải pháp hữu hiệu để nâng cao hơn nữa chất lượng học tập, nghiên cứu cho sinh viên Từ những khái quát lý luận và kết quả điều tra thực tế, một trong những nội dung đề tài nhấn mạnh là: sự chuyển đổi về hình thức đào tạo của nhà trường ảnh hưởng tới nhu cầu tìm đọc tài liệu chuyên môn của sinh viên

Trang 29

Tóm lại, kết quả nghiên cứu của các công trình nói trên mới chỉ đưa ra cái nhìn tổng quan cũng như phân tích một số yếu tố tác động tới thực trạng học tập trong đó có nhu cầu về tài liệu chuyên môn của sinh viên, hoạt động của các phòng tư liệu khoa và các bô môn trự thuộc trường Đại học Khoa học

xã hội và Nhân văn mà chưa có phương hướng thật sự rõ ràng Vì thế, việc vận dụng lý thuyết xã hội học để phân tích, tiến hành điều tra xã hội học để tìm hiểu chính kiến của đội ngũ sinh viên K51, cán bộ phòng tư liệu các khoa

và bộ môn trực thuộc về việc tìm kiếm tài liệu cảu sinh viên trong quá trình chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ là hướng tiếp cận mới, là đóng góp mới của luận văn

Trang 30

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NGUỒN TÀI LIỆU, LOẠI TÀI LIỆU VÀ MỨC ĐỘ

ĐÁP ỨNG VIỆC TÌM KIẾM TÀI LIỆU CỦA SINH VIÊN

2.1 Thực trạng nguồn tài liệu, loại tài liệu và mức độ đáp ứng việc tìm kiếm tài liệu của sinh viên :

Đối với sinh viên, kỹ năng và thói quen tìm kiếm tài liệu có liên quan mật thiết tới sự phát triển năng lực nhận thức, bản lĩnh học tập và làm việc Biết cách tìm kiếm và đọc tài liệu sẽ giúp họ rèn luyện khả năng tư duy logic, phương pháp làm việc khoa học, phương pháp làm việc nhóm cũng như tăng thêm lòng yêu nghề, yêu ngành học đã lựa chọn Vậy thực trạng tìm kiếm này hiện nay ra sao? Chúng ta sẽ tìm hiểu về thực trạng tìm kiếm tài liệu của sinh viên trong quá trình chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ biểu hiện qua nguồn tài liệu và mức độ hài lòng của sinh viên, hay thời gian họ dành cho việc tìm kiếm các loại tài liệu đó

2.1.1 Các nguồn tài liệu sinh viên hay tìm kiếm :

Sinh viên khi chuyển sang học theo hình thức đào tạo tín chỉ, việc tìm tài liệu phục vụ cho học tập có vai trò rất lớn trong việc giúp sinh viên có kiến thức bổ sung cho các bài học trên lớp Đặc biệt hơn khi học theo hình thức tín chỉ sinh viên không còn được các thầy cô giáo cung cấp đầy đủ kiến thức về bài học như khi học niên chế nữa thì vai trò của các nguồn tài liệu càng quan trọng hơn đối với sinh viên Nếu như chỉ dựa vào các kiến thức giáo viên giảng trên lớp thì sinh viên không có đủ kiến thức để làm bài tập cũng như để trả bài thi cuối kỳ Chúng ta biết rằng tài liệu là tri thức thuộc về một lĩnh vực nhất định và để có được nó, người nghiên cứu buộc phải tìm kiếm ở nhiều nguồn khác nhau Theo quan niệm chung, loại tài liệu đặc biệt này thường có

ở các thư viện chuyên ngành mà trong trường đại học đó chính là phòng tư liệu của các khoa và bộ môn trực thuộc trường Kết quả khảo sát bước đầu ở sinh viên K51, người nghiên cứu nhận thấy phòng tư liệu khoa chưa phải là nơi họ hay tìm đọc tài liệu nhất, thay vào đó thư viện trường vẫn là lựa chọn

số 1 với 74.5%, tiếp theo mạng internet ở vị trí thứ hai và sau đó mới tới phòng tư liệu khoa Nhằm làm rõ vấn đề này, người nghiên cứu so sánh sự lựa

Trang 31

chọn nguồn tài liệu chuyên ngành của sinh viên các khoa khác nhau thông qua bảng sau:

Bảng 2: Tương quan chuyên ngành học của sinh viên

với nơi tìm kiếm tài liệu

Nơi tìm

kiếm

Tần suất

và tỷ lệ phần trăm

Khoa

Tổng

Du lịch

Lưu trữ

Xã hội học

Lịch

sử

Triết học

Trang 32

trình luận văn Thạc sĩ, luận án Tiến sĩ… của hầu hết các khoa, các chuyên ngành trong trường nên khá tiện lợi cho sinh viên khi tra cứu, tìm kiếm

Nguồn tài liệu tiếp theo mà sinh viên các khoa thường tìm kiếm nhất

là phòng tư liệu các Khoa và bộ môn trực thuộc trường chiếm 26.2% Khoa Lịch sử và khoa Triết học – 2 khoa vốn có truyền thống lâu năm trong trường song chỉ có khoảng 29.8 % sinh viên khoa Sử và 20.3 % sinh viên khoa Triết tìm đọc tài liệu ở phòng tư liệu khoa Con số này ở hai khoa mới hơn là Du lịch và Xã hội học có thấp hơn một chút lần lượt ở mức 19.2 % &

19 % Điếu này cho thấy phòng tư liệu các khoa chưa phát huy được lợi thế của mình Như chúng ta được biết, phòng tư liệu các khoa là cơ sở vật chất không thể thiếu và rất cần thiết trong sự tồn tại và phát triển của Nhà trường nói chung, của các khoa nói riêng Phòng tư liệu các khoa và bộ môn là một

bộ phận trong cơ cấu tổ chức của khoa và bộ môn trực thuộc trường, có chức năng thu thập, xử lý, lưu trữ và tổ chức phục vụ tài liệu chuyên ngành, góp phần đảm bảo và nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học cho cán bộ và sinh viên Song song với sự tồn tại của trung tâm thông tin

- thư viện Đại học quốc gia Hà Nội, phòng tư liệu đóng vai trò như là nơi cung cấp tài liệu chuyên biệt cho mỗi chuyên ngành được đào tạo trong Nhà trường Ở đây tập hợp những tài liệu quý của các giáo sư, nhà giáo, các nhà khoa học và được chọn lọc một cách kỹ càng Chính vì vậy đây là nguồn tài liệu đặc biệt quan trọng và cần khai thác tối ưu nguồn tài liệu này

Trả lời cho câu hỏi “tại sao em không hay tìm tài liệu ở phòng tư liệu khoa?”, người nghiên cứu thu được ý kiến sau: “Phòng tư liệu khoa em ít tài liệu mới lắm, em tìm ở thư viên trường cũng có nên ít lên khoa Với lại thời gian và không gian ở thư viên trường hợp lý hơn”

( Phỏng vấn sâu số 7, nam K.51 khoa Triết học)

Câu trả lời trên phản ánh phần nào tình trạng phòng tư liệu các khoa chưa đáp ứng được nhiều nhu cầu tìm kiếm tài liệu của sinh viên bởi việc

cập nhật bổ sung tài liệu còn hạn chế

Trang 33

”Em thấy tài liệu tham khảo cho các môn học còn thiếu, thư viện trường chỉ

có hầu hết là giáo trình của các môn học nên em phải lên thư viện khoa để mượn Em theo để học tốt hơn theo học chế tín chỉ, nhà trường và khoa cần cung cấp tài liệu cho chúng em hơn nữa để chúng em đỡ mất thời gian đi tìm tài liệu”

(Phỏng vấn sâu số 1, Nữ K.51 khoa Xã hội học)

Bên cạnh đó, có thể thấy rằng internet có vai trò khá lớn trong việc tự học của sinh viên Trong số sinh được hỏi ở các khoa có tới 55.9% trả lời tìm tài liệu trên mạng internet Điều này phù hợp khi sinh viên chuyển từ hình thức đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ, đòi hỏi sinh viên phải tự học, tự nghiên cứu, tự tìm kiếm tài liệu nhiều hơn Nhìn bảng tương quan, chúng ta còn thấy nguồn khác không kém phần quan trọng chỉ đứng sau thư viện trường, đó chính là mạng internet Có tới 82.8% sinh viên Xã hội học ( khi nghiên cứu, chúng tôi tập trung vào ngành Công tác xã hội, chính vì thế nên tài liệu của ngành chủ yếu sinh viên tìm trên mạng), 57.8 % sinh viên khoa Lưu trữ và Quản trị văn phòng được hỏi trả lời tìm kiếm tài liệu chuyên ngành trên mạng internet Con số này ở sinh viên khoa Lịch sử đạt 40.4 %, khoa Triết học 44.1 % Đối với mạng internet , chúng ta có thể thấy rằng đây cũng là nguồn cung cấp tài liệu khá phong phú và đa dạng Như chúng ta đã biết sự xuất hiện, phát triển mở rộng của internet tại Việt Nam những năm gần đây đã góp phần làm cho nó trở thành một trong những nguồn cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết cho sinh viên

Vậy vấn đề đặt ra ở đây có thể là sinh viên chưa quan tâm đúng mức tới tầm quan trọng của phòng tư liệu khoa, hoặc là phòng tư liệu các khoa còn tồn tại nhiều hạn chế khiến sinh viên không hứng thú với việc tìm kiếm tài liệu ở đó

Nhằm làm rõ vấn đề trên, đề tài tiếp tục so sánh sự lựa chọn nguồn tài liệu với nơi ở của sinh viên để xem nơi ở có ảnh hưởng thế nào đến nguồn tìm kiếm tài liệu của sinh viên

Trang 34

Bảng 3: Tương quan giữa nơi ở và nơi tìm kiếm tài liệu của sinh viên

Sinh viên ở nhà trọ tìm kiếm tài liệu ở các nguồn nhiều hơn sinh viên

ở ký túc xá và ở với gia đình Nhìn vào kết quả trên ta thấy sinh viên ở nhà trọ (80.9%) và ký túc xá ( 70.7%) tìm kiếm tài liệu ở phòng tư liệu khoa, trong khi đó sinh viên sống cùng gia đình lại tìm kiếm tài liệu trên internet cao hơn hẳn sinh viên ở ký túc xá và nhà trọ (73.%) Điều này cho thấy vai trò của nơi ở ảnh hưởng khá nhiều tới việc tìm kiếm tài liệu của sinh viên hiện nay Trong quá trình trả lời phỏng vấn sâu, nhiều sinh viên cho rằng, ký túc và nhà trọ rất ồn ào nên họ khó có thể học bài, do đó họ lên thư viện tìm kiếm tài liệu và tranh thủ học luôn về nhà không có chỗ học Sinh viên sống cùng gia đình phần lớn đều có phòng riêng và máy tính nên thời gian tìm tài liệu trên mạng là chủ yếu Qua bảng trên cũng phản ánh một thực tế là đa phần sinh viên ở nhà trọ trong khi đó nhà trọ thường thiếu điều kiện tối thiểu

để sinh viên có thể học tập Số liệu trên một lần nữ khẳng định internet đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc tìm kiếm tài liệu của sinh viên hiên nay Vậy thì trước đây học theo hình thức đào tạo niên chế nguồn tài liệu sinh viên thương tìm kiếm là ở đâu?

Trang 35

Bảng 4 : Tương quan giữa hình thức đào tạo và nơi tìm kiếm tài

liệu của sinh viên

Hình thức

đào tạo

Phòng tư liệu khoa

Thư viện

trường

Thư viện ngoài trường Internet

Nơi khác

Sở dĩ ít có sự khác biệt vì đề tài này nghiên cứu sinh viên K51 tại thời điểm tháng 12/2008 khi mà sinh viên và giáo viên mới chuyển sang học theo hình thức tín chỉ được 2 kỳ Qua thực tế đào tạo của nhà trường thấy rằng điều kiện đào tạo theo học chế tín chỉ vẫn đang trong quá trình hoàn thiện Bước đầu đào tạo theo chương trình học chế tín chỉ nhưng thời khóa biểu lại sắp xếp theo đào tạo niên chế Đây chính là một bất cập lớn cần tháo gỡ vì nó ảnh hưởng rất lớn đến việc tìm kiếm tài liệu của sinh viên Theo quyết định

số 31/2001/QĐ-BGD&ĐT ngày 30/7/2001 của bộ Giáo dục và đào tạo có

quy định về điều kiện đào tạo theo học chế tín chỉ trong đó có ghi: “ Có đủ

số lượng giảng viên có trình độ chuyên môn để giảng dạy về lý thuyết, thực

hành, thực tập theo yêu cầu của chuyên môn.” Nhưng thực tế hiện nay,

trong quá trình chuyển đổi, đội ngũ giảng viên chuyên ngành còn thiếu Do

đó, sinh viên học theo học chế tín chỉ không có sự lựa chọn giảng viên và

Trang 36

thời gian học Trong triển khai kế hoạch đào tọa theo tín chỉ ở bậc đại học của trương Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn có ghi rõ :” Đối với K.51 đào tạo theo chương trình và đề cương môn học của học chế tín chỉ; thời

khóa biểu xếp cố định theo niên chế Nguồn: Phòng Đào tạo)

Muốn khắc phục tình trạng trên cần có thời gian bởi vì trước đây học theo niên chế lấy việc dạy làm trung tâm, chuyển sang tín chỉ lấy việc học làm trung tâm Điều này cần sự nỗ lực của Nhà trường, giáo viên và chính bản thân sinh viên nữa Chúng ta hãy xem xét tài liệu ở phòng tư liệu các khoa và

bộ môn trực thuộc Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn

Bảng 5 : Tổng kết số liệu điều tra nguồn học liệu tại các phòng tư liệu

Khóa luận, luận văn

Sách tiếng Việt

Sách tiếng nước ngoài

Trang 37

Nhìn vào bảng tổng kết trên chúng ta thấy nguồn tài liệu ở các khoa cũ

là tương đối nhiều như Khoa Lịch sử, khoa Triết học, Khoa văn học…còn các khoa mới thì ít hơn Nhưng một điều người nghiên cứu thấy rằng các khoa mới thành lập có nhiều tài liệu tiếng nước ngoài hơn các khoa cũ Một

số khoa đã chú trọng phát triển kho tư liệu, số lượng tài liệu không ngừng tăng lên, điển hình là khoa khoa Ngôn ngữ (5000 tài liệu)

Hiện nay nhà trường đang triển khai đổi mới phương pháp giảng dạy trong đào tạo tín chỉ thì việc thiếu hụt tài liệu là một vấn đề cấp bách cần giải quyết Trung tâm Thông tin Thư viện trong trường nhiều lúc cũng trở nên quá tải vì không đáp ứng nổi số lượng sinh viên quá đông nhất là thời điểm

ôn thi đến tìm kiếm tài liệu Ngoài một số sách chuyên khảo, từ điển chuyên ngành, hầu hết phòng tư liệu ở các khoa mới như Lưu trữ và quản trị văn phòng, Du lịch học và khoa Xã hội học thường chỉ lưu giữ khoá luận tốt nghiệp hay nghiên cứu khoa học tiêu biểu Còn tại khoa Triết học, khoa Lịch

sử, qua quan sát của người nghiên cứu, phòng tư liệu được xây dựng từ khá lâu, lượng sách vở, tài liệu tham khảo có nhiều hơn so với hai khoa trước Song do điều kiện bảo quản chưa tốt cộng thêm yếu tố môi trường, khí hậu nóng ẩm, nhiều tài liệu quý đã bị ngả màu, chữ khó đọc… cũng khiến sinh viên ngại không muốn lên thường xuyên Bởi thế, sinh viên các khoa đặc biệt khoa Triết học, khoa Lịch sử phần lớn tìm đọc tài liệu tại thư viện trường

2.1.2 Loại tài liệu sinh viên hay tìm kiếm:

Sinh viên được tiếp cận với nhiều nguồn tài liệu khác nhau sẽ khắc phục được tình trạng thiếu tài liệu phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu của mình Đây là những điều kiện góp phần giúp sinh viên có thể thực hiện việc

tự học và tự nghiên cứu trong quá trình học theo hình thức tín chỉ

Trong trường đại học, tài liệu dạng văn bản thường bao gồm: giáo trình, sách báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu khoa học, luận văn, luận

án cao học hay thậm chí là khoá luận tốt nghiệp, các báo cáo nghiên cứu của sinh viên các khoá từ những chuyến đi thực tập, thực tế… Nói chung, tài liệu dạng này khá đa dạng, tuỳ theo đặc điểm về ngành học, quá trình học… mà

Trang 38

sinh viên có lựa chọn khác nhau phù hợp việc tìm kiếm tài liệu của chính mình Khi chuyển từ hình thức đào tạo niên chế sang hình thức đào tạo tín chỉ, giảng viên ra chủ đề, vấn đề cho sinh viên tự tìm tài liệu nghiên cứu thông qua chỉ dẫn về nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu Bảng số liệu sau cho chúng ta thấy loại tài liệu sinh viên hay tìm kiếm hiện nay

Bảng 6 : Tương quan giữa các khoa và mục đích đọc tài liệu

Xã hội học

Lịch

sử Triết học Làm

và 56.1% số sinh viên được hỏi trả lời tìm kiếm tài liệu để làm các bài tập

Trang 39

được giao Như vậy có thể thấy rằng hình thức đào tạo tín chỉ đã tác động rất lớn đến việc tìm kiếm tài liệu của sinh viên Việc sinh viên tìm tài liệu để làm khóa luận tốt nghiệp chiếm tỉ lệ thấp nhất so với các mục đích khác Nhìn vào bảng trên, chúng ta thấy sinh viên khoa Du lịch được hỏi về mục đích tìm kiếm tài liệu làm bài tập được giao chiếm tỉ lệ thấp nhất so với các khoa khác Nhưng việc tìm kiếm tài liệu để bổ sung thêm kiến thức của họ lại đạt tỉ lệ cao nhất so với các khoa khác (38.5%) Điều này lý giải khoa Du lịch là 1 khoa mới thành lập với đặc thù như một nghề đòi hỏi sinh viên luôn cập nhập kiến thức để phù hợp với xu hướng phát triển chung của xã hội về ngành du lịch Do đó, việc tìm kiếm tài liệu của sinh viên để bổ sung thêm kiến thức của mình là rất quan trọng Bên cạnh đó, bảng số liệu cũng cho chúng ta thấy trong số sinh viên được hỏi, 42.1% sinh viên khoa Lịch sử trả lời tìm tài liệu để phục vụ cho việc nghiên cứu khoa học, cao hơn hẳn các khoa khác Điều này lý giải cho việc những khoa có bề dày lịch sử thì sinh viên được hướng làm nghiên cứu khoa học rất rõ nét Hỏi về vấn đề nghiên

cứu khoa học chúng tôi nhận được câu trả lời như sau: “Nghiên cứu khoa học với em cũng là một hình thức học rất hiệu quả, qua tìm hiểu nghiên cứu về

đề tài hiểu sâu thêm về những kiến thức đã học”

(Phỏng vấn sâu số 1, Nữ K.51Khoa Xã hội học)

Bảng 7 : Tương quan giữa năm học với nhu cầu về loại tài liệu

chuyên môn của sinh viên

Năm thứ 1 Năm thứ 2 Năm thứ 3 Năm thứ 4 Luận văn,

luận án

16 14.2 %

22 13.0 %

22 13.7 %

12 7.1 %

13 8.1 %

4 2.3 %

7 4.3 %

11

11.2 %

Trang 40

36 22.5 %

14 14.2 %

Sách, báo, tạp

chí…

51 45.5 %

Loại khác

7

6.6 %

6 3.8 %

2 1.4 %

1 1.3 %

%) Điều này có thể hiểu được bởi sinh viên những năm đầu như năm thứ nhất bắt đầu làm quen với chương trình đào tạo tín chỉ, do đó các nghiên cứu khoa học chính là loại tài liệu vô cùng hữu ích đối với họ để khám phá, tự tìm hiểu Ngoài ra, chúng ta thấy rằng so với các khoá còn lại, sinh viên năm cuối có xu hướng tìm đọc những loại tài liệu như luận văn, luận án, khoá luận tốt nghiệp hay báo cáo thực tập nhiều hơn, tỷ lệ tương ứng là 19.3%; 17.3 % và 11.2 % Đây cũng chính là cách học thụ động của đào tạo niên chế, sinh viên khi thi mới tập trung học do đó dẫn đến mùa thi thư viện và các phòng tư liệu khoa quá tải

Qua số liệu khảo sát trên thời gian khảo sát 3/2008 nhưng kết quả cho thấy sinh viên khi theo học theo học chế tín chỉ có nhiều thay đổi trong việc tìm tài liệu hơn niên chế Sinh viên đã bắt đầu chủ động và bỏ dần thói quen thi mới học mà họ tìm kiếm tài liệu cho các môn học thường xuyên hơn Bảng 4 càng chứng minh cho nhận định này vì chỉ có 41/249 sinh viên trả lời

Ngày đăng: 31/03/2015, 14:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Lê Thị Minh Loan, Phân tích thực trạng đọc tài liệu chuyên môn của sinh viên trường Đại học KHXH &amp; NV hiện nay, Tạp chí Tâm lí học, số 10 (103), 2007, p36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích thực trạng đọc tài liệu chuyên môn của sinh viên trường Đại học KHXH & NV hiện nay
Tác giả: Lê Thị Minh Loan
Nhà XB: Tạp chí Tâm lí học
Năm: 2007
15. Nguyễn Việt Nga, Tìm hiểu 1 số yếu tố tác động tới hành vi học tập của sinh viên hệ tại chức, Khoá luận tốt nghiệp, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu 1 số yếu tố tác động tới hành vi học tập của sinh viên hệ tại chức
16. Nhu cầu đọc sách báo, tạp chí trên thư viện của sinh viên ĐHQGHN, Báo cáo khoa học, nhóm SV K47 Xã hội học, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu đọc sách báo, tạp chí trên thư viện của sinh viên ĐHQGHN
Tác giả: nhóm SV K47 Xã hội học
Nhà XB: Báo cáo khoa học
Năm: 2006
17. Phạm Văn Quyết, Nguyễn Quý Thanh, Phương pháp xã hội học, NXB ĐHQG Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp xã hội học
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
18. Richard T.Schaefer – Xã hội học, NXB Thống Kê, 2005 19. Tạp chí Xã hội học số 2 – 2003; số 4 – 2007; số 1 – 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học
Tác giả: Richard T. Schaefer
Nhà XB: NXB Thống Kê
Năm: 2005
22. Nguyễn Khắc Viện: “ Từ điển xã hội học” NXB Thế giới, Hà Nội, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Từ điển xã hội học”
Nhà XB: NXB Thế giới
13. Ký yếu hội thảo khoa học khai thác và phát huy giá trị của tài liệu lưu trữ trong nghiên cứu Khoa học xã hội và Nhân văn, 12/2009 Khác
20. Đỗ Thu Thủy (2008), Nhu cầu tìm đọc tài liệu chuyên môn của sinh viên và ý tưởng website thư viện số hóa chuyên ngành, khóa luận tốt nghiệpK.49 xã hội học Khác
21. Mai Thanh Tú (2006) Hành vi đọc sách giải trí của sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Thống kê hàng năm nhân lực khoa học ĐHQGHN - Thực trạng tìm kiếm tài liệu của sinh viên trong quá trình chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ (nghiên cứu trường hợp Trường Đại học Khoa học Xã hội
Bảng 1 Thống kê hàng năm nhân lực khoa học ĐHQGHN (Trang 21)
Bảng 2: Tương quan chuyên ngành học của sinh viên - Thực trạng tìm kiếm tài liệu của sinh viên trong quá trình chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ (nghiên cứu trường hợp Trường Đại học Khoa học Xã hội
Bảng 2 Tương quan chuyên ngành học của sinh viên (Trang 31)
Bảng 3: Tương quan giữa nơi ở và nơi tìm kiếm tài liệu của sinh viên - Thực trạng tìm kiếm tài liệu của sinh viên trong quá trình chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ (nghiên cứu trường hợp Trường Đại học Khoa học Xã hội
Bảng 3 Tương quan giữa nơi ở và nơi tìm kiếm tài liệu của sinh viên (Trang 34)
Bảng 4 : Tương quan giữa hình thức đào tạo và nơi tìm kiếm tài - Thực trạng tìm kiếm tài liệu của sinh viên trong quá trình chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ (nghiên cứu trường hợp Trường Đại học Khoa học Xã hội
Bảng 4 Tương quan giữa hình thức đào tạo và nơi tìm kiếm tài (Trang 35)
Bảng 5 : Tổng kết số liệu điều tra nguồn học liệu tại các phòng tư liệu - Thực trạng tìm kiếm tài liệu của sinh viên trong quá trình chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ (nghiên cứu trường hợp Trường Đại học Khoa học Xã hội
Bảng 5 Tổng kết số liệu điều tra nguồn học liệu tại các phòng tư liệu (Trang 36)
Bảng 6 : Tương quan giữa các khoa và mục đích đọc tài liệu - Thực trạng tìm kiếm tài liệu của sinh viên trong quá trình chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ (nghiên cứu trường hợp Trường Đại học Khoa học Xã hội
Bảng 6 Tương quan giữa các khoa và mục đích đọc tài liệu (Trang 38)
Bảng 7 : Tương quan giữa năm học với nhu cầu về loại tài liệu - Thực trạng tìm kiếm tài liệu của sinh viên trong quá trình chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ (nghiên cứu trường hợp Trường Đại học Khoa học Xã hội
Bảng 7 Tương quan giữa năm học với nhu cầu về loại tài liệu (Trang 39)
Bảng tương quan cho ta thấy có sự khác nhau giữa các năm học. Sách,  báo tạp chí chuyên ngành được sinh viên năm thứ hai, thứ ba quan tâm nhiều  nhất với tỷ lệ tương ứng là 50.8 % &amp; 50.0 % - Thực trạng tìm kiếm tài liệu của sinh viên trong quá trình chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ (nghiên cứu trường hợp Trường Đại học Khoa học Xã hội
Bảng t ương quan cho ta thấy có sự khác nhau giữa các năm học. Sách, báo tạp chí chuyên ngành được sinh viên năm thứ hai, thứ ba quan tâm nhiều nhất với tỷ lệ tương ứng là 50.8 % &amp; 50.0 % (Trang 40)
Bảng 8 : Tương quan giữa học lực và loại tài liệu tìm kiếm - Thực trạng tìm kiếm tài liệu của sinh viên trong quá trình chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ (nghiên cứu trường hợp Trường Đại học Khoa học Xã hội
Bảng 8 Tương quan giữa học lực và loại tài liệu tìm kiếm (Trang 41)
Bảng 9 : Tương quan giữa hình thức đào tạo và mức độ - Thực trạng tìm kiếm tài liệu của sinh viên trong quá trình chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ (nghiên cứu trường hợp Trường Đại học Khoa học Xã hội
Bảng 9 Tương quan giữa hình thức đào tạo và mức độ (Trang 44)
Bảng 10: Tương quan giới và mức độ tìm kiếm tài liệu - Thực trạng tìm kiếm tài liệu của sinh viên trong quá trình chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ (nghiên cứu trường hợp Trường Đại học Khoa học Xã hội
Bảng 10 Tương quan giới và mức độ tìm kiếm tài liệu (Trang 45)
Bảng 11: Tương quan giữa mục đích với  mức độ tìm kiếm tài liệu - Thực trạng tìm kiếm tài liệu của sinh viên trong quá trình chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ (nghiên cứu trường hợp Trường Đại học Khoa học Xã hội
Bảng 11 Tương quan giữa mục đích với mức độ tìm kiếm tài liệu (Trang 47)
Bảng 13: Tương quan chuyên ngành học của sinh viên - Thực trạng tìm kiếm tài liệu của sinh viên trong quá trình chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ (nghiên cứu trường hợp Trường Đại học Khoa học Xã hội
Bảng 13 Tương quan chuyên ngành học của sinh viên (Trang 51)
Bảng 14 : Đánh giá của sinh viên các khoa về hạn chế của phòng tư liệu - Thực trạng tìm kiếm tài liệu của sinh viên trong quá trình chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ (nghiên cứu trường hợp Trường Đại học Khoa học Xã hội
Bảng 14 Đánh giá của sinh viên các khoa về hạn chế của phòng tư liệu (Trang 60)
Bảng 15 : Tương quan giữa các hạn chế của việc tìm tài liệu ở các phòng - Thực trạng tìm kiếm tài liệu của sinh viên trong quá trình chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ (nghiên cứu trường hợp Trường Đại học Khoa học Xã hội
Bảng 15 Tương quan giữa các hạn chế của việc tìm tài liệu ở các phòng (Trang 62)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w