Điểm khác biệt lớn nhất trong quan điểm về làm PTCĐ của các tổ chức nêu trên so với cách tiếp cận trong các chương trình của nhà nước là các tổ chức này đã tạo điều kiện tối đa để người
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN QUỐC PHONG
THÚC ĐẨY NGƯỜI DÂN KHU VỰC NÔNG THÔN MIỀN NÚI NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ PHÒNG TRÁNH THAI
VÀ VIÊM NHIỄM ĐƯỜNG SINH SẢN (Can thiệp tại huyện Tiên Yên, Quảng Ninh)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Hà Nội – 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN QUỐC PHONG
THÚC ĐẨY NGƯỜI DÂN KHU VỰC NÔNG THÔN MIỀN NÚI NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ PHÒNG TRÁNH THAI
VÀ VIÊM NHIỄM ĐƯỜNG SINH SẢN (Can thiệp tại huyện Tiên Yên, Quảng Ninh)
Chuyên ngành Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI Người hướng dẫn khoa học: GS – TS Phạm Huy Dũng
Hà Nội – 2013
Trang 3Tôi xin cảm ơn Công ty TNHH Tư vấn Đầu tư Y tế, Lãnh đạo UBND huyện Tiên Yên, Quảng Ninh đã giúp tôi có cơ hội để làm việc và hoàn thành đề tài luận văn này
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn tới GS.TS Phạm Huy Dũng, dù rất bận rộn nhưng
đã đã luôn dành thời gian và tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài này
Trong thời gian học tập và hoàn thành đề tài luận văn này, tôi hiểu đã có sự hy sinh không nhỏ của những thành viên trong gia đình mình, vì vậy, qua đây, tôi cũng muốn bày tỏ tình yêu thương vô hạn tới họ như một cách để thể hiện lòng biết ơn
Nguyễn Quốc Phong
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 7
1 Lý do chọn vấn đề can thiệp 7
2 Tổng quan những nghiên cứu, can thiệp liên quan đến đề tài 10
3 Ý nghĩa can thiệp 12
4 Mục đích can thiệp 13
5 Khách thể, vấn đề cần can thiệp 13
6 Phạm vi can thiệp 14
7 Phương pháp can thiệp 14
NỘI DUNG CHÍNH 17
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CAN THIỆP 17
1.1 Lý thuyết ứng dụng trong can thiệp 17
1.2 Phương pháp tiếp cận trong can thiệp 19
1.3 Các khái niệm chính trong can thiệp 21
1.4 Cơ sở pháp lý của can thiệp 29
Chương 2 CÁC HOẠT ĐỘNG THỰC HIỆNTRONG QUÁ TRÌNH CAN THIỆP 30
2.1 Kế hoạch can thiệp 30
2.2 Hoạt động thực hiện can thiệp 39
2.2.1 Giai đoạn 1: Thiết kế can thiệp 40
2.2.1.1 Nhận diện cộng đồng 40
2.2.1.2 Xác định nhu cầu 41
2.2.1.3 Thành lập ban điều hành tại cộng đồng 51
2.2.1.4 Xác định mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể 55
2.2.1.5 Đánh giá nguồn lực và các cản trở 56
2.2.1.6 Hoạch định các hoạt động 58
2.2.2 Giai đoạn 2: Thực hiện can thiệp 63
2.2.2.2 Hoạt động tập huấn 64
2.2.2.3 Hoạt động truyền thông 69
2.2.2.4 Hoạt động tư vấn 74
2.2.2.5 Họp rút kinh nghiệm 78
2.2.2.6 Hoạt động theo dõi, giám sát 79
2.2.2.7 Hoạt động quản lý 82
2.2.3 Giai đoạn 3: Đánh giá và bàn giao các hoạt động can thiệp 83
Trang 52.2.3.1 Đánh giá 83
2.2.3.2 Bàn giao 93
Chương 3 BÀI HỌC KINH NGHIỆM 95
3.1 Mức độ đáp ứng nhu cầu của đối tượng can thiệp 95
3.2 Mối liên hệ giữa kiến thức, lý thuyết, phương pháp ứng dụng và kiến thức thực tế 95 3.3 Những thuận lợi, khó khăn trong quá trình can thiệp và biện pháp khắc phục 98
KẾT LUẬN 101
KHUYẾN NGHỊ 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
PHỤ LỤC 109
Phụ lục 1: Bảng hỏi đánh giá định lượng 109
Phụ lục 2: Cách cho điểm các chỉ số của can thiệp đối với nhóm phụ nữ 121
Phụ lục 3: Một số kết quả đánh giá của can thiệp 123
Phụ lục 4: Một số đầu ra ghi nhận được sau can thiệp 124
Phụ lục 5: Ví dụ về kế hoạch tài chính 125
Phụ lục 6: Ví dụ bảng kiểm sử dụng trong giám sát kỹ năng tư vấn 126
Phụ lục 7: Ví dụ bảng kiểm sử dụng trong giám sát kỹ năng truyền thông 129
Phục lục 8: Ví dụ về sử dụng T-test để so sánh điểm số trung bình về kiến thức PTT và VNĐSS 131
Phục lục 9: Ví dụ về sử dụng kiểm định Khi bình phương để so sánh điểm số trung bình về kiến thức PTT và VNĐSS 132
Phụ lục 10: Một số thông tin nhân khẩu học huyện Tiên Yên (2009) 133
Phụ lục 11: Các bài truyền thông về PTT và VNĐSS 134
Phụ lục 12: Bộ câu hỏi điều tra dành cho Y tế thôn 135
Phụ lục 13: Cách tính điểm các chỉ số của can thiệp đối với nhóm y tế thôn bản về PTT và VNĐSS 141
Trang 6
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BĐH Ban điều hành
CTXH Công tác xã hội
NVXH Nhân viên xã hội
PTCĐ Phát triển cộng đồng
PTT Phòng tránh thai
SKSS Sức khỏe sinh sản
TTGDSK Truyền thông, giáo dục sức khỏe
UBND Ủy ban nhân dân
VNĐSS Viêm nhiễm đường sinh sản
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Kế hoạch can thiệp 34
Bảng 2: Cỡ mẫu của đánh giá nhu cầu 43
Bảng 3: Mẫu điều tra định lượng về kiến thức, thái độ, thực hành PTT và VNĐSS với nhóm khách thể là phụ nữ 49
Bảng 5: Cấu trúc những thành phần tham gia BĐH tại địa phương 52
Bảng 6: Ví dụ về kế hoạch hoạt động theo biểu đồ Grantt 60
Bảng 7: Các lớp tập huấn đã thực hiện 69
Bảng 8: Các loại hình truyền thông đã thực hiện cho phụ nữ 73
Bảng 9: Số ca tư vấn đã thực hiện trong can thiệp 76
Bảng 10: Bảng đánh giá ABCD 84
Bảng 11: Mẫu đánh giá định tính 87
Bảng 12: Quy trình thực hiện đánh giá 88
Bảng 13: So sánh kết quả điều tra định lượng trước và sau can thiệp 90
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 1: Mô hình phát triển cộng đồng 15
Hình 2: Mô hình thể hiện sự tham gia của cộng đồng 16
Hình 3: Mô hình lý thuyết Nhận Thức - Hành Vi 17
Hình 4: Mô hình can thiệp 18
Hình 5: Mô hình về cách tiếp cận của can thiệp 20
Hình 6: Mô hình thể hiện cơ sở hình thành can thiệp 29
Hình 7: Mô hình lập kế hoạch theo khung hợp lý 33
Hình 8: Các bước PTCĐ và các hoạt động phù hợp 37
Hình 9: Quy trình thực hiện can thiệp 39
Hình 10: Biểu đồ Venn thể hiện các vấn đề sức khỏe được người dân quan tâm 46
Hình 11: Biểu đồ xương cá thể hiện mối quan hệ nhân-quả 47
Hình 12: Sơ đồ hệ thống quản lý Y tế huyện Tiên Yên 51
Hình 13: Mô hình quá trình lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch 63
Hình 14: Sơ đồ hoạt động tập huấn trong can thiệp 68
Hình 15: Sơ đồ các bước thay đổi hành vi 71
Hình 16: Sơ đồ các bước thực hiện một buổi truyền thông nhóm nhỏ 72
Hình 17: Sơ đồ quy trình tư vấn 6 G và quy trình CTXH cá nhân 76
Hình 18: Mô hình thể hiện mục đích của đánh giá 86
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn vấn đề can thiệp
Tiên Yên là một huyện nghèo, miền núi, nằm ở trung tâm khu vực Đông Bắc của tỉnh Quảng Ninh, với 50% dân cư thuộc nhóm dân tộc thiểu số như Dao, Sán Chỉ, Tày và Sán Dìu Tổng diện tích đất của toàn huyện là 617 km2, trong đó 2/3 là đồi núi, 7.628 ha là đất nông nghiệp, 10.997 ha là đất rừng, còn lại là đất sử dụng cho các mục đích khác Tiên Yên gồm 12 xã, một thị trấn và 120 thôn bản Dân số
là khoảng gần 45 nghìn người, trong đó phụ nữ từ 15 – 49 là 10.695 người Tỷ lệ các hộ đói nghèo theo tiêu chí mới (thu nhập bình quân dưới 400.000đ/người/tháng,
áp dụng đối với vùng nông thôn giai đọan 2011 - 2015, theo QĐ TTCP) tính chung
cả huyện là 28,6% nhưng có sự khác biệt lớn giữa các xã, các thôn trong huyện(Phụ lục 10) Những năm qua, cũng như nhiều huyện vùng sâu, vùng xa, vùng núi, vùng dân tộc thiểu số khác trong cả nước, Tiên Yên nhận được nhiều chính sách ưu đãi của Đảng và Nhà nước như: các chương trình xóa đói giảm nghèo, chương trình
135, khám và chữa bệnh miễn phí…nhằm phát triển kinh tế, cải thiện đời sống, bảo đảm an sinh xã hội cho người dân, tuy nhiên đời sống của một bộ phận khá đông người dân ở Tiên Yên vẫn gặp rất nhiều khó khăn
Hệ thống y tế của Tiên Yên có sự thay đổi về cơ cấu từ đầu năm 2007 Theo nghị định số: 172 – 2005/ TTg năm 2005, Trung tâm y tế huyện được chia tách ra thành ba đơn vị, bao gồm: Bệnh viện, Phòng y tế và Trung tâm Y Tế dự phòng Tất
cả 13 xã và thị trấn của huyện Tiên Yên đều có Trạm y tế Các Trạm y tế đều nằm dưới sự quản lý trực tiếp của Phòng y tế Các Trạm y tế xã ở Tiên Yên thường nằm
ở vị trí trung tâm địa bàn xã Khoảng cách từ các thôn trong xã đến Trạm y tế trung bình khoảng 3 đến 4 giờ đi bộ Mỗi trạm có 4 -5 cán bộ y tế, cơ cấu gồm 1 đến 2 y
sỹ đa khoa, 1 đến 2 điều dưỡng, 1 nữ hộ sinh Cả huyện chỉ có 5 Trạm y tế xã có bác sỹ, 6 Trạm y tế xã còn cán bộ y tế có trình độ sơ cấp Tất cả 120 thôn bản trong huyện đều có y tế thôn bản
Ngoài việc triển khai các chương trình trình mục tiêu quốc gia như: Chương trình phòng chống sốt rét, phòng chống bướu cổ, vệ sinh an toàn thực phẩm, chương
Trang 9trình phòng chống lao, vệ sinh môi trường, y tế học đường, khám chữa bệnh thông thường…, các Trạm y tế còn có nhiệm vụ TTGDSKcho người dân Đội ngũ y tế thôn bản của huyện Tiên Yên tuy đông về số lượng nhưng trình độ chuyên môn nghiệp vụ nhìn chung còn thấp (10% có trình độ sơ cấp, 90% qua đào tạo ngắn hạn hoặc chưa được đào tạo) Công việc chủ yếu của họ là hỗ trợ Cán bộTrạm y tế xã trong việc thông báo tới người dân các chương trình y tế được triển khai tại địa phương và một số việc đơn giản khác như ghi chép sổ sách, cân, đo trẻ…
Trong những năm gần đây, công tác chăm sóc sức khỏe người dân ở huyện Tiên Yên nói chung còn rất nhiều hạn chế Tình trạng trẻ em suy dinh dưỡng, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh lây lan khá phổ biến Đặc biệt, hai vấn đề cấp thiết, đe dọa trực tiếp tới sức khỏe và đời sống của phụ nữ huyện Tiên Yên là vấn đề viêm nhiễm đường sinh sản (1176 mắc/1757 khám), chiếm 66,93%, và nạo phá thai (khoảng 700 ca/năm - Số liệu phòng Y tế huyện Tiên Yên, 2009) Theo lãnh đạo Trung tâm y tế huyện Tiên Yên, có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, trong
đó, một số nguyên nhân chính được nêu ra gồm: địa bàn rộng, nhân lực mỏng, năng lực của cán bộ y tế còn nhiều hạn chế, công tác phòng ngừa, truyền thông giáo dục sức khỏe người dân chưa được chú ý đúng mức, chưa phát huy được vai trò và khả năng của đội ngũ y tế thôn bản
Trong 10 năm qua, hầu hết các chương trình PTCĐ ở Tiên Yên đều là chương trình của nhà nước, được triển khai theo cách tiếp cận từ trên xuống (top-down) Các chương trình này được thiết kế và tổ chức thực hiện theo quan điểm và cách nhìn nhận vấn đề của những người làm quản lý nhà nước ở tầm vĩ mô hơn là dựa trên nhu cầu thực tế và tiềm năng sẵn có của người dân địa phương trong việc nhìn nhận, đánh giá và tự giải quyết nan đề của chính họ Vì thiếu hụt sự nỗ lực của người dân và cách tiếp cận vấn đề có tính áp đặt nên mặc dù có sự đầu tư lớn, nguồn lực dồi dào nhưng hiệu quả mang lại từ những chương trình này, theo đánh giá của lãnh đạo và người dân địa phương, là rất hạn chế Bởi vì, nó không đảm bảo tính bền vững và đôi khi còn tạo ra tâm lý trông chờ, ỉ lại của người dân vào những chính sách hỗ trợ của nhà nước Bên cạnh đó, một số chương trình PTCĐ được triển khai khá bài bản tại Tiên Yên, theo cách tiếp cận từ dưới lên (bottom –up) với sự
Trang 10giúp đỡ của các tổ chức bên ngoài, có thể kể đến là Dự án “Tăng cường tiếp cận giáo dục có chất lượng cho trẻ em vùng khó khăn ở Việt Nam nhằm giảm bớt khoảng cách và phát triển hội nhập” do Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF) và
Tổ chức cứu trợ trẻ em Anh (Save Children UK) hỗ trợ Dự án được triển khai ở các lớp mầm non tại một số xã, trong khoảng thời gian từ 2006 đến 2009, nhằm mở ra một hướng tiếp cận mới trong dạy và học song ngữ (dạy tiếng Việt song song với
tiếng mẹ đẻ của học sinh) cho học sinh người dân tộc thiểu số Dự án “Tăng cường dinh dưỡng cho trẻ em miền núi” do Công ty TNHH Tư vấn Đầu tư Y tế (CIHP)
triển khai từ 2005 đến 2007, nhằm nâng cao kiến thức và thực hành của người dân trong việc cung cấp bữa ăn dinh dưỡng cho trẻ em dưới 5 tuổi Điểm khác biệt lớn nhất trong quan điểm về làm PTCĐ của các tổ chức nêu trên so với cách tiếp cận trong các chương trình của nhà nước là các tổ chức này đã tạo điều kiện tối đa để người dân địa phương tham gia vào tất cả các khâu trong tiến trình thực hiện, từ phát hiện vấn đề, lập kế hoạch, triển khai hoạt động cho đến giám sát đánh giá kết quả Bản thân cán bộ, chuyên gia của các tổ chức này không trực tiếp làm giúp người dân mà họ chỉ đóng vai trò xúc tác và kết nối các nguồn lực để người dân địa phương có thể phát huy nó một cách hiệu quả nhất Với cách tiếp cận như vậy, các
tổ chức hỗ trợ không những đạt được mục tiêu trước mắt mà còn giúp nâng cao năng lực cộng đồng trong việc phát hiện, phòng ngừa và giải quyết những nan đề
mà họ gặp phải để tạo ra những thay đổi căn bản theo chiều hướng tích cực từ bên trong và mang tính bền vững
Từ những thông tin ban đầu thu thập được như trên, người thực hiện đề tài này đã xây dựng bản đề xuất ý tưởng về một can thiệp theo hướngPTCĐ để huy động nguồn hỗ trợ từ bên ngoài, sau đó thuyết phục chính quyền địa phương cấp phép và đưa vào thực hiện, cuối cùng là hoàn thành báo cáo đề tài đáp ứng những yêu cầu của một luận văn Thạc sĩ CTXH theo hướng thực hành
Kỳ vọng của tác giả là thông qua đề tài can thiệp này sẽ có cơ hội được áp dụng những kiến thức, kỹ năng của CTXH đã học được vào thực tế để giúp cải thiện đời sống của người dân huyện Tiên Chủ đề can thiệp về nâng cao năng lực về PTT
và VNĐSS chỉ được xác định sau khi tác giả đã thực hiện hàng loạt nghiệp
Trang 11vụchuyên môn CTXH (được mô tả chi tiết trong phần hoạt động) tại địa bàn, cùng với sự tham gia của người dân tại cộng đồng
Can thiệp này được sự hỗ trợ tài chính của tổ chức CORDAID – Hà Lan, do Công ty TNHH Tư vấn Đầu tư Y tế thực hiện Tác giả của luận văn này, người làm việc ở vị trí cán bộ dự án, là người chịu trách nhiệm chính trong việc viết đề xuất ý tưởng và trực tiếp triển khai các hoạt động của can thiệp Ngoài ra, can thiệp này còn có sự tham gia của hai thành viên khác, một người là lãnh đạo cơ quan, làm việc ở vị trí quản lý dự án, giữ vai trò quản lý chung và cố vấn kỹ thuật cho can thiệp, người còn lại là cán bộ hành chính tổng hợp, làm việc ở vị trí trợ lý, giữ vai trò hỗ trợ các hoạt động hành chính, tài chính liên quan tới dự án
2 Tổng quan những nghiên cứu, can thiệp liên quan đến đề tài
PTCĐ xuất hiện từ thập niên 40, tại một số nước là thuộc địa cũ của Anh Ở Ghana, một người Anh đã vận động chính quyền và người dân góp công hoặc của
để làm đường, trường, trạm Điều bất ngờ mà chiến dịch này mang lại là những dân nghèo, ít học, cam chịu cuộc sống khổ cực, đã tham gia tích cực, góp công, góp của
để thực hiện những dự án để cải thiện đời sống cộng đồng Kinh nghiệm này nhanh chóng lan rộng, trở thành một hoạt động phổ biến ở nhiều nước Đến năm1950, Liên Hợp Quốc công nhận khái niệm PTCĐ và khuyến khích sử dụng nó như là một công cụ để phát triển đất nước
PTCĐ xuất hiện ở Việt Nam từ những năm 1950, tại Trường tiểu học Lái Thiêu (Thủ Dầu Một-Bình Dương) với sự hỗ trợ của tổ chức UNESCO, nhằm gắn nhà trường với cộng đồng Học sinh, bên cạnh việc học chữ, còn được học thêm kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, vệ sinh để phục vụ phát triển nông thôn Thầy cô giáo vừa có trách nhiệm dạy học vừa có nhiệm vụ giúp đỡ, hướng dẫn cộng đồng, và ngược lại, cộng đồng có trách nhiệm hỗ trợ phát triển nhà trường Từ lĩnh vực giáo dục, PTCĐ đã nhanh chóng lan rộng ra nhiều lĩnh vực khác Ngay sau đó, ở Long
An đã có Trường Sư phạm cộng đồng, giảng dạy những kỹ năng về đời sống cho sinh viên Tiếp đó, PTCĐ được đưa vào giảng dạy tại một số Trường Cao đẳng và Đại học sư phạm Tuy nhiên, sốPTCĐ sinh viên theo học chuyên ngành này ít Đầu
Trang 12những năm 70, một số người tiên phong theo học PTCĐ ở nước ngoài về nước, theo
đó, bộ môn PTCĐđã được dạy tại Trường Đào tạo cán bộ xã hội Trong khoảng hơn
30 năm trở lại đây, ở Việt Nam, PTCĐ được biết đến rộng rãi hơn qua những chương trình viện trợ phát triển của nước ngoài, do các tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế thực hiện Các chương trình, dự án PTCĐ được triển khai rộng rãi trên hầu hết các tỉnh thành trong cả nước, đặc biệt là các tỉnh thuộc vùng sâu, vùng
xa, vùng biên giới, hải đảo và những vùng khó khăn Vấn đề can thiệp, phạm vi can thiệp, đối tượng can thiệp, phương pháp tiếp cận của các chương trình, dự án có thể giống hoặc khác nhau tùy theo mục tiêu, sứ mệnh, nguồn lực và tầm nhìn của mỗi
tổ chức Tuy nhiên, những lĩnh vực can thiệp được nhiều tổ chức quan tâm trong những năm gần đây là sinh kế cho người nghèo, chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân, phòng chống và thích ứng với biến đổi khí hậu, chăm sóc giáo dục trẻ
em, HIV/AIDS…
Trong khoảng 20 năm qua, những can thiệp PTCĐ, trong lĩnh vực SKSS, do nhà nước hoặc các tổ chức phi chính phủ khởi xướng, được triển khai tại nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước Trong chương trình mục tiêu quốc gia Dân số và Kế hoạch hóa gia đình đến năm 2005, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định phê duyệt Dự án Tăng cường dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản/kế hoạch hoá gia đình cho vùng nghèo, vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, với mục tiêu: đẩy mạnh sự tiếp cận dịch
vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản/kế hoạch hoá gia đình của nhân dâncác vùng nghèo, vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa thông qua việc tăng cường cung cấp thông tin, tư vấn và cung cấp dịch vụ có chất lượng cao nhằm giảm nhanh mức sinh, từng bước nâng cao chất lượng dân số ở các vùng này Chương trình này do Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với Ủy ban quốc gia Dân số và Kế hoạch hoá gia đình và các Bộ ngành liên quan triển khai (Quyết định số 18/2002/QĐ-TTg) Đến năm 2008, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Dự án Chăm sóc SKSS Đây là dự án thuộc Chương trình Mục tiêu Quốc gia Phòng chống các bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm và HIV/AIDS giai đoạn 2006 - 2010 Ngoài ra, lĩnh vực chăm sóc SKSS cũng nhận được sự quan tâm của một số tổ chức phi chính phủ quốc tế như: Quỹ dân số Liên hợp quốc (UNFPA), Quỹ cứu trợ trẻ em Anh (SAVE CHILDREN UK), Quỹ dân số
Trang 13thế giới (WPF) …,cùng với nhiều chương trình, dự án khác nhau đã và đang được triển khai Báo cáo kết quả thực hiện của các tổ chức này, trong những năm qua, đã cho thấy những chuyển biến tích cực trong nhận thức và thực hành của người dân vùng can thiệp về vấn đề SKSS Theo đó, tỉ lệ mắc bệnh và những tác động bất lợi
do tình trạng bệnh tật gây ra đã giảm đáng kể
Mặc dù có khá nhiều chương trình PTCĐ được triển khai như vậy, song việc đảm nhiệm thực hiện các chương trình này hầu hết là những người được đào tạo về chuyên ngành Y tế công cộng, Xã hội học, Tâm lý học hoặc những ngành khác, còn
số người được đào tạo chính quy về chuyên ngành CTXH thực hiện thì rất ít Trước thực tế này, một số tổ chức làm về PTCĐ đã chủ động mở các lớp đào tạo ngắn hạn
để trang bị những kiến thức và kỹ năng cơ bản về xây dựng, triển khai dự án cho cho nhân viên của mình Đến năm 2004 ngành CTXH đã chính thức có được mã đào tạo trong hệ thống giáo dục Đại học, Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp do
Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Theo thống kê của Đại học Thăng Long, tính đến năm 2012, đã có hơn 40 Trường Đại học và Cao đẳng tham gia đào tạo ngành CTXH tại Việt Nam Nhờ được đào tạo bài bản mà kiến thức và kỹ năng của đội ngũ làm CTXH nói chung và làm PTCĐ nói riêng từng bước được chuẩn hóa và đi vào áp dụng hiệu quả
Cũng giống như các huyện miền núi khác trong cả nước, Tiên Yên đã triển khai các chương trình chăm sóc SKSS cho người dân từ cấp huyện tới cấp xã, theo
hệ thống của ngành y tế Ngoài những chương trình do hệ thống y tế nhà nước triển khai, cho tới thời điểm trước khi can thiệp này đượcbắt đầu,huyện Tiên Yên chưa nhận được bất kỳ một sự hỗ trợ từ bên ngoài nào đối với công tác chăm sóc SKSS cho phụ nữ Chính vì vậy, can thiệp này được mong đợi là sẽ mang lại những tác động quan trọng, góp phần cải thiện SKSS và đời sống của người dân huyện Tiên Yên
3 Ý nghĩa can thiệp
Can thiệp đóng góp quan trọng vào việc cải thiện sức khỏe cho cộng đồng người dân huyện Tiên Yên, thông quaviệc:1) giảm tỉ lệ mang thai ngoài ý muốn và
Trang 14mắc VNĐSS của phụ nữ trong độ tuổi sinh sản huyện Tiên Yên; 2) nâng cao kiến thức, kỹ năng của cộng đồng trong việc phòng ngừa và giải quyết các vấn đề về SKSS
Ngoài ra, những kinh nghiệm rút ra trong quá trình thực hành nghề CTXH theo hướng PTCĐ,tại huyện Tiên Yên, cũng sẽđóng góp một phần nhỏvàophát tiển kho tàng tri thức nghề CTXH
4 Mục đích can thiệp
Mục đích của can thiệp là góp phần nâng cao sức khoẻ sinh sản cho phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ của huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh Những mục tiêu cụ thể cần đạt được sau hai năm thực hiện sự án này, được đặt ra trên cơ sở phân tích thực trạng và những kết quả khảo sát ban đầu, là:
a) 80% cán bộ y tế được đào tạo có kiến thức và kỹ năng đúng trong truyền thông GDSK, tư vấn về PTTvà VNĐSS
b) 70% phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ trên địa bàn huyện có kiến thức và kỹ năng đúng trong PTT và VNĐSS
a) Đối tượng hưởng lợi trực tiếp, hay còn gọi là đối tượng đích, là Phụ nữ trong độ tuổi sinh sản, từ 15 đến 49 tuổi
b) Đối tượng hưởng lợi gián tiếp là những cá nhân, nhóm, hoặc tổ chức cộng đồng, những người được thụ hưởng một phần lợi ích mà can thiệp mang lại thông qua việc tham gia vào các hoạt động hoặc có mối liên hệ với các khách thể khác của can thiệp,ở một khía cạnh nào đó Đối tượng hưởng lợi gián tiếp của can thiệp này là cán bộ y tế, từ cấp huyện, cấp xã, cho đếncấp thôn bản Ngoài ra, những
Trang 15đối tượng hưởng lợi gián tiếp còn bao gồm những thành viên trong gia đình của đối tượng đích
6 Phạm vi can thiệp
Thời gian can thiệp là 2 năm, từ tháng 3 năm 2011 đến tháng 3 năm 2013 Địa bàn can thiệp là toàn bộ 120 thôn bản, thuộc 12 xã và 1 thị trấn của huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh.Nội dung can thiệp tập trung vào việc nâng cao nhận thức của người dân huyện Tiên Yên về các biện pháp PTT và VNĐSS, thông qua việc nâng cao nhận thức, kỹ năng của cán bộ y tế cấp huyện, xã và y tế thôn bản trong truyền thông, tư vấn về SKSS
7 Phương pháp can thiệp
Can thiệp này sử dụng phương pháp PTCĐ Đây là một phương pháp của CTXH, được xây dựng trên cơ sở những nguyên lý, nguyên tắc và giả định của nhiều ngành khoa học xã hội khác nhau như: Tâm lý xã hội, Xã hội học, Chính trị học, Nhân chủng học… Phương này này được áp dụng để giải quyết một số vấn đề khó khăn, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng, hướng tới sự phát triển không ngừng về đời sống vật chất và tinh thần của người dân, thông qua việc nâng cao năng lực, tăng cường sự tham gia, đoàn kết, phối hợp chặt chẽ giữa người dân với nhau, giữa người dân với các tổ chức và giữa các tổ chức với nhau trong phạm vi một cộng đồng Nó đã được áp dụng ở nhiều nước và đã phát huy vai trò trong việc giải quyết các vấn đề của các nhóm cộng đồng nghèo, các nhóm yếu thế trong nhiều năm qua
Nội dung của phương pháp PTCĐ gồm có hai thành tố chính Thứ nhất là nỗ lực của bản thân cộng đồng và thứ hai là nguồn lực hỗ trợ từ bên ngoài NVXH chính là
cầu nối giữa hai thành tố này
Trang 16Hình 1: Mô hình phát triển cộng đồng
Nỗ lực của cộng đồng, còn gọi là nội lực, thể hiện ở việc người dân tham gia với sự tự lực tối đa vào các hoạt động can thiệp Sự tham gia của người dân không phải mang tính hình thức mà là sự tham gia với một sự cam kết lâu dài, chủ động và
có vai trò ngày càng cao trong quá trình phát triển, từ việc xác định vấn đề đến việc lập kế hoạch, thực hiện, giám sát, đánh giá các hoạt động nhằm nâng cao đời sống cộng đồng và bảo đảm sự phân chia công bằng các lợi ích của sự phát triển
Sự tham gia này thể hiện rằng người dân không chỉ được coi là đối tượng của các hoạt động mà là người chủ thực sự của các hoạt động đó Mục đích của việc tạo điều kiện cho người dân tham gia vào các hoạt động can thiệp là để:
a) Thực hiện dân chủ cơ sở
b) Hạn chế sự thất bại của các hoạt động có thể xảy ra
c) Tăng tính bền vững của các hoạt động
d) Khai thác hiệu quả các nguồn lực của cộng đồng
e) Tạo cơ hội cho người dân có thể tự nâng cao năng lực
Đối với một can thiệp theo hướng PTCĐ, sự tham gia của chính quyền địa phương, các hội đoàn thể, các cơ quan của nhà nước tại địa phương phải được xem
là một nhân tố bên trong,là một thành phần quan trọng của cộng đồng chứ không phải là một lực lượng đứng bên ngoài hoặc bên trên cộng đồng Vì vậy, trong can thiệp này, lãnh đạo UBND, các cơ quan y tế, từ cấp huyện cho đến cấp thôn
Trang 17bản,được xác định là nhân tố bên trong, một thành phần không thể tách rời của cộng đồng.Nguồn lực bên ngoài, còn gọi là ngoại lực, là sự hỗ trợ mang tính kỹ thuật hoặc sự hỗ trợ về mặt tài chínhđể các nỗ lực của người dân mang lại hiệu quả cao nhất.Trong can thiệp này, ngườithực hiện đề tàiđóng vai trò làNVXH, trong một số tài liệu gọi là Tác viên cộng đồng, là cầu nối giữa nguồn lực bên ngoàivà nguồn nội lực của cộng đồng để giúp cộng đồng phát triển NVXH không phải là thành viên của cộng đồngđó Vì vậy, những nội dung được đề cập trong luận văn sẽ thể hiện góc nhìn và quan điểm của người bên ngoài cộng đồng khi hỗ trợ cho những người bên trong cộng đồng làm công tác phát triển
Hình 2: Mô hình thể hiện sự tham gia của cộng đồng
Bên cạnh phương pháp PTCĐ là phương pháp chủ đạo được áp dụng trong can thiệp này, NVXH cũng sử dụng một số kỹ thuật của phương pháp CTXH nhóm
và CTXH cá nhân trong một số hoạt động cụ thể của can thiệp để tăng hiệu quả tác động
Trang 18NỘI DUNG CHÍNH Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CAN THIỆP
1.1 Lý thuyết ứng dụng trong can thiệp
Mục đích của can thiệp này là nhằm nâng cao nhận thức về sức khoẻ sinh sản cho phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ của huyện Tiên Yên, từ đó giúp họ thay đổi hành
vi chăm sóc sức khỏe của mình Trong hệ thống lý thuyết CTXH, lý thuyết Nhận Thức – Hành Vi được xem là phù hợp nhất để giúp NVXH đạt được mục tiêu can thiệp đề ra
Hình 3: Mô hình lý thuyết Nhận Thức - Hành Vi
Lý thuyết Nhận Thức – Hành Vi còn gọi là thuyết trị liệu nhận thức (behavioral cognitive therapy) bởi nền tảng của nó là các ý tưởng hành vi hoặc là trị liệu nhận thức xã hội do sự liên kết của nó với lý thuyết học hỏi xã hội Lý thuyết Nhận Thức – Hành Vi cho rằng, chính tư duy quyết định phản ứng chứ không phải
do tác nhân kích thích quyết định Như vậy, theo mô hình trên thì S không phải là nguyên nhân trực tiếp của hành vi mà thay vào đó chính nhận thức C về tác nhân kích thích và về kết quả hành vi mới dẫn đến phản ứng R
Các học giả theo quan điểm Nhận Thức – Hành Vi cho rằng, sở dĩ chúng ta
có những hành vi hay tình cảm lệch chuẩn vì chúng ta có những suy nghĩ không phù hợp Do đó, để làm thay đổi những hành vi lệch chuẩn đó, chúng ta cần phải thay đổi chính những suy nghĩ không thích nghi Hầu hết hành vi là do con người học tập (trừ những hành vi bẩm sinh), đều bắt nguồn từ những tương tác với thế giới bên
Trang 19ngoài, do đó con người có thể học tập các hành vi mới, học hỏi để tập trung nghĩ về việc nâng cao cái tôi, điều này sẽ sản sinh các hành vi, thái độ thích nghi và củng cố nhận thức Như vậy, lý thuyết này cho ta thấy rằng cảm xúc, hành vi của con người không phải được tạo ra bởi môi trường, hoàn cảnh mà bởi cách nhìn nhận vấn đề Con người học tập bằng cách quan sát, ghi nhớ và được thực hiện bằng suy nghĩ và quan niệm của mỗi người về những gì họ đã trải nghiệm Như vậy, lý thuyết Nhận thức – Hành vi đánh giá cao vai trò của chủ thể con người trong hành vi của họ (khác với thuyết hành vi coi trọng yếu tố tác nhân kích thích; thuyết học tập xã hội coi trọng yếu tố thói quen hay học tập).1
Trên cơ sở thuyết Nhận Thức – Hành Vi, can thiệp này đã xây dựng mô hình can thiệp như sau:
Hình 4: Mô hình can thiệp
Theo mô hình trên, hoạt động chủ đạo của can thiệp là truyền thôngvà tư vấn Các hoạt động này tác động vào nhận thức của người dân để giúp họ có nhận thức và thái độ đúng về vấn đề SKSS Khi đã có nhận thức và thái độ đúng, người dân sẽ thay đổi hành vi chăm sóc SKSS của mình, từ hành vi có hại thành hành vi
có lợi.Ngược lại, những hành vi có lợi cho sức khỏeđược tạo ra cũng tác động trở lại đối với nhận thức và thái độ người dân Điều này trở thành động lực giúp họ duy
Trang 20trì và phát huy những nhận thức, thái độ phù hợp hơn nữa và những hành vi có lợi cho sức khỏe được duy trì và phát triển
1.2 Phương pháp tiếp cận trong can thiệp
Trong nhiều năm qua, không ít chương trình, dự ánPTCĐ, đặc biệt là các cộng đồng nông thôn, do các cơ quanthuộc Chính phủ triển khai, mang lại kết quả rất hạn chế Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng này là phương pháp tiếp cận chưa phù hợp Các chương trình này thường sử dụng phương pháp tiếp cận từ trên xuống (top – down) Nghĩa là các chương trình, dự án đó được xây dựng theo lối áp đặt từ trên xuống Người dân chỉ là người thụ hưởng hoặc tham gia một cách thụ động
Ngược lại với cách tiếp cận của các chương trình, dự án PTCĐ của các cơ quan thuộc Chính phủ là những chương trình, dự án do các Tổ chức phi chính phủ (NGO) thực hiện Những tổ chức này thường sử dụng cách tiếp cận từ dưới lên (Bottom – up) Nghĩa là, trong quan điểm của họ, làm PTCĐ phải xuất phát từ chính nhu cầu của người dân và sự tham gia của người dân vào các hoạt động can thiệp là yếu tố then chốt đảm bảo sự thành công cũng như sự bền vững của can thiệp Tuy nhiên, những can thiệp áp dụng cách tiếp cận từ dưới lên không phải lúc nào cũng đạt được kết quả như mong muốn Bởi vì, kinh nghiệm thực tế cho thấy, các can thiệp rất khó được triển khai nếu như nó không dựa trên một hệ thống quản lý và hệ thống cung cấp dịch vụ đã có sẵn do nhà nước quản lý Đồng thời, việc thiết lập một
hệ thống quản lý mới hoặc một hệ thống cung cấp dịch vụ mới tại cộng đồng, trong nhiều trường hợp, không nhận được sự chấp thuận của cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vựcđó Ngay cả trong trường hợp đề xuấtcan thiệp được chấp thuận để triển khai thì sau khi kết thúc sự hỗ trợ, hệ thống quản lý và dịch vụ do dự án mang lại cũng rất khó duy trì hoạt động vì không có đủ nguồn lực và kinh phí
Cách tiếp cận của can thiệp này lồng ghép giữa cách tiếp cận từ trên xuống
và cách tiếp cận từ dưới lên, được áp dụng khá rộng rãi ở nhiều quốc gia khu vực Châu Á trong những năm gần đây[17, pg 8]
Trang 21Hình 5: Mô hình về cách tiếp cận của can thiệp
Trong khi, cách tiếp cận từ dưới lênđảm bảo rằng vấn đề can thiệpđược xuất phát từ nhu cầu của người dân, tiềm năng của cộng đồng và người dân là tác nhân chính trong giải quyết vấn đề của họ, thì cách tiếp cận từ trên xuống lại giúp đảm bảo về tính pháp lý, tính khoa học cho can thiệp, đồng thời tận dụng và phát huy được những nguồn lực quan trọng từ hệ thống dịch vụ đã được nhà nước thiết lập
Ngay từ ban đầu, can thiệp đã xác định rõ, hệ thống chính quyền và hệ thống
y tế địa phương là các bộ phận không thể tách rời của cộng đồng Việc tăng cường năng lực cho những cán bộ, nhân viên trong hệ thống này cũng chính là tăng cườngnăng lực của cộng đồng Khi năng lực của đội ngũ cán bộ, nhân viên trong hệ thống được nâng lên, họ tham gia chủ động, tích cực, sáng tạo hơn trong việc lập kế hoạch và thực thi nhiệm vụ được nhà nước giao phó Họ có thể thích ứng những chính sách, chương trình y tế,ở tầm vĩ mô, cho phù hợp với tình hình thực tế ở địa phương và nguyện vọng của người dân
Sự hỗ trợ của NVXH được xác định là nguồn lực bên ngoài cộng đồng, chỉ tham gia hỗ trợ, trong thời gian nhất định,và đóng vai trò là ngườigiúp đỡ mà không làm thay cộng đồng Vai trò này sẽ giảm dần khi năng lực cộng đồng dần được cải thiện và kết thúc khi cộng đồng đã có khả năng tự chủ
Trang 221.3 Các khái niệm chính trong can thiệp
Khái niệm về nhận thức: Theo "Từ điển Bách khoa Việt Nam", nhận thức là
quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể.2
Khái niệm về thái độ:Khi nói tới định nghĩa về thái độ, từ trước tới nay,
chúng ta không quên nhắc lại khái niệm thái độ đã được đưa ra lần đầu tiên vào năm
1918 của hai nhà tâm lý học người Mỹ là W.I.Thomas và F.Znaniecki Hai nhà tâm
lý học này cho rằng: “thái độ là định hướng chủ quan của cá nhân có hành động hay không hành động khác mà được xã hội chấp nhận” Hai ông cũng cho rằng : “thái
độ là trạng thái tinh thần của cá nhân đối với một giá trị” Như vậy, W.I.Thomas và F.Znaniecki đã đồng nhất thái độ với định hướng giá trị của cá nhân Trong can thiệp này, tác giả sử dụng khái niệm về thái độ theo từ điển tiếng Việt Thái độ được định nghĩa là: “Cách nhìn nhận, hành động của cá nhân về một hướng nào đó trước một vấn đề, một tình huống cần giải quyết Đó là tổng thể những biểu hiện ra bên ngoài của ý nghĩ, tình cảm của cá nhân đối với con người hay một sự việc nào đó”
Khái niệm về hành vi:Theo Lê Công Minh, Khoa Giáo dục và Nâng cao sức
khỏe Viện Vệ sinh – Y tế công cộng TP.HCM,hành vi là xử sự của con nguời trong một hoàn cảnh cụ thể, biểu hiện ra bên ngoài bằng lời nói, cử chỉ nhất định.3
Hành vi con người hàm chứa các yếu tố kiến thức, thái độ, niềm tin, giá trị xã hội cụ thể của con người, các yếu tố này thường đan xen nhau, liên kết chặt chẽ với nhau Hành vi sức khỏe là hành vi của con người có liên quan đến việc tạo ra, bảo vệ và nâng cao sức khỏe, hoặc liên quan đến một vấn đề sức khỏe nhất định.Hành vi sức khỏe bao gồm, hành vi tăng cường sức khỏe (có lợi cho sức khỏe), hành vi duy trì sức khỏe và hành vi có hại sức khỏe
Khái niệm về phát triển: Theo quan điểm Triết học Marx – Lenin, phát triển
được hiểu là sự thay đổi đi từ thấp đến cao, theo chiều hướng tốt hơn, chất lượng hơn Vì vậy, phát triển luôn mang tính thời gian và so sánh.4
Khái niệm cộng đồng: Hiện nay, khái niệm cộng đồng được nhiều nhà
nghiên cứu và thực hành PTCĐ chấp nhận là cộng đồng có 2 nghĩa: 1) là nhóm dân
Trang 23cư cùng sinh sống trong một địa vực nhất định, có cùng những giá trị và tổ chức xã hội cơ bản, 2) là nhóm dân cư có cùng những mối quan tâm cơ bản.5
Theo cách hiểu trên, một cá nhân thuộc về một cộng đồng này nhưng đồng thời họ cũng có thể là một thành phần của nhiều cộng đồng khác Ví dụ, một người dân thôn A thuộc về cộng đồng thôn A theo nghĩa thứ nhất, cũng ở thời điểm đó, theo nghĩa thứ hai, anh ta cũng có thể là một thành phần của một cộng đồng khác, cộng đồng có cùng tôn giáo, nghề nghiệp, sở thích…
Theo Fichter, cộng đồng gồm 4 yếu tố:1) mối quan hệ mật thiết giữa các cá nhân, 2) có mối liên hệ tình cảm/cảm xúc của cá nhân với những công việc của cộng đồng, 3) có sự hiến dâng/dấn thân đối với những giá trị cao cả của cộng đồng, 4) có ý thức đoàn kết giữa những thành viên của cộng đồng.6
Trong can thiệp này, người thực hiện luận văn có đồng quan điểm với tác giả
Tô Duy Hợp và cộng sự (2000) cho rằng: cộng đồng là một thực thể xã hội có cơ cấu tổ chức (chặt chẽ hoặc không chặt chẽ), là một nhóm người cùng chia sẻ và chịu ràng buộc bởi các đặc điểm và lợi ích chung được thiết lập thông qua tương tác và trao đổi giữa các thành viên.7
Dựa vào đặc trưng cộng đồng có thể phân loại cộng đồng thành hai loại, bao gồm: cộng đồng nông thôn và cộng đồng thành thị Trong đó, cộng đồng nông thôn
có đặc điểm là người dân cộng đồng có quan hệ dòng họ mạnh mẽ, có quan hệ trao đổi thân thuộc hàng ngày, có sự giúp đỡ, tương trợ lẫn nhau khi cần thiết, có những giá trị chung về luật tục, ý tưởng, mong đợi và có sự thống nhất dựa trên cơ sở giống nhau về đặc điểm Do có những đặc trưng như vậy nên khi làm việc với cộng đồng nông thôn, đòi hỏi người NVXH phải có sự am hiểu về nông thôn để đưa ra những phương pháp tiếp cận phù hợp
Phát triển cộng đồng: Khái niệm PTCĐ được Chính phủ Anh sử dụng đầu
tiên vào năm1940 Khi đó, PTCĐ là một chiến lược phát triển nhằm vận động sức dân trong các cộng đồng nông thôn cũng như đô thị để phối hợp cùng những nỗ lực của nhà nước nhằm cải thiện cơ sở hạ tầng và tăng khả năng tự lực của cộng đồng Cho đến nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về PTCĐ Điều đó thể hiện sự đa dạng trong quan điểm và cách tiếp cận Dưới đây là một số khái niệm tiêu biểu
Trang 24Theo Flora et al (1992): “Để PTCĐ, người dân trong cộng đồng phải tin tưởng làm việc cùng nhau có thể tạo ra sự khác biệt và và tổ chức để giải quyết các nhu cầu chung của họ”
Còn theo Sanders (1958): “PTCĐ giống như một quá trình chuyển dịch từ giai đoạn này sang một giai đoạn khác, một phương pháp làm việc hướng tới một mục tiêu, một chu trình của nhiều thủ tục và như một phong trào sâu rộng quấn hút người dân trong cả cảm xúc và niềm tin” 8
Murray G Ross (1955): “PTCĐ là một diễn tiến, qua đó cộng đồng nhận rõ nhu cầu hoặc mục tiêu phát triển của mình, biết sắp xếp các nhu cầu ưu tiên và mục tiêu này, phát huy sự tự tin và ý muốn thực hiện chúng, biết tìm đến tài nguyên bên trong và ngoài cộng đồng để đáp ứng chúng, thông qua đó sẽ phát huy những thái
độ và kỹ năng hợp tác trong cộng đồng”
Theo Th.S Nguyễn Thị Oanh(1995): “PTCĐ là một tiến trình làm chuyển biến cộng đồng nghèo, thiếu tự tin thành cộng đồng tự lực, thông qua việc giáo dục gây nhận thức về tình hình, vấn đề hiện tại của họ, phát huy các khả năng và tài nguyên sẵn có, tổ chức các hoạt động tự giúp, bồi dưỡng và củng cố tổ chức và tiến tới tự lực phát triển”
Theo định nghĩa của Liên hợp quốc: “PTCĐ là những tiến trình, qua đó những nỗ lực của dân chúng kết hợp với nỗ lực của chính quyền để cải thiện các điều kiện kinh tế, văn hóa của các cộng đồng, giúp cộng đồng đóng góp và hội nhập vào đời sống quốc gia” 9
Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng nhìn chung, mục đích và mục tiêu của PTCĐ đều giống nhau là nâng cao chất lượng đời sống của người dân và nhằm cung cấp cho họ những cơ hội để phát triển toàn diện các tiềm năng Trong luận văn này, PTCĐ được hiểu theo quan điểm của Liên hợp quốc Nghĩa là, nó không thể chỉ được hiểu như là sự tăng lên về thu nhập đầu người của một quốc gia, tăng các chỉ số sản phẩm sản xuất của địa phương, của vùng, hoặc tăng tiết kiệm của cá nhân hay nhóm Nó cũng không chỉ hàm ý sự tăng lên về tài nguyên và thêm
kỹ năng, mà còn là tạo ra những thay đổi, cải tiến tích cực Phát triển cần giúp những người dân thiệt thòi trước đây có thể cải thiện các điều kiện sống của họ và
Trang 25thỏa mãn những nhu cầu cơ bản như việc làm, nhà ở, môi trường an toàn Phát triển
có nghĩa là người dân thiệt thòi trong cộng đồng có khả năng tiếp cận thông tin, được chăm sóc về sức khỏe, đảm bảo an sinh xã hội Phát triển cũng có nghĩa là người dân trong cộng đồng có thể đạt được nhiều mặt cải thiện của đời sống, thông qua những cố gắng của họ và được tham gia vào những quyết định có ảnh hưởng đến đời sống của họ Điều này được xem như yếu tố chủ yếu để quyết định xem PTCĐ đúng nghĩa có xảy ra hay không Cuối cùng, phát triển tùy vào sáng kiến khởi sự của người dân trong cộng đồng, và phát triển chỉ có thể xem như đúng nghĩa đích thực nếu nghèo đói và thất nghiệp giảm đi, quyền con người và công bằng xã hội được củng cố.Để một can thiệp theo hướngPTCĐ phù hợp với cấu trúc quản lý và mối quan hệ đối tác với địa phương, nó cần phải đảm bảo bốn yếu tố sau: a) NVXH phải làm việc cho một tổ chức có tư cách pháp nhân;
b) NVXH cần có hiểu biết đầy đủ về vai trò của mình;
c) Có sự phù hợp về hình thức và chất lượng các mối quan hệ giữa những nhà quản
lý, NVXH và những thành viên chủ chốt trong cộng đồng;
d) Người dân địa phương cần hiểu đúng vai trò của NVXH gắn với bối cảnh về chính sách, chiến lược của địa phương cũng như quốc gia.[15, pg 86-87]
Đề tài can thiệp này đã đáp ứng được đầy đủ những thành tố nêu trên Chính vì vậy,
nó phù hợp với cấu trúc quản lý hiện hành và thiết lập được mối quan hệ đối tác hiệu quả giữa NVXH và đối tác địa phương
Tổ chức cộng đồng: là một quá trình tham gia của cộng đồng để có được một
sức mạnh hay quyền lực nhất định Giáo lý về tổ chức cộng đồng của Alinsky cho rằng, quyền lực không chỉ có nghĩa là cái mà họ có mà còn là cái mà người khác cho rằng họ có Tổ chức sẽ tạo ra sức mạnh và quyền lực và đến lượt nó, sức mạnh, quyền lực này sẽ tạo ra sư thay đổi trong cộng đồng (Iddagoda and Dale, 1997).Tổ chức là phương tiện cơ bản cho sự tham gia Nếu không có tổ chức, người dân không thể tạo dựng được quyền lực và khẳng định lợi ích của họ trong xã hội Vì vậy, tổ chức liên quan chặt chẻ với việc trao quyền (Oakley et al, 1991).10Một tổ chức cộng đồng có thể tồn tại và hoạt động được khi mục tiêu của nó tương thích với mục tiêu của cộng đồng và đáp ứng được nhu cầu của người dân Sự tương
Trang 26thích này sẽ giúp cho cộng đồng xác định và nói lên nói lên được nhu cầu của họ, trên cơ sở đó, tổ chức điều chỉnh quá trình ra quyết định và thực hiện quyết định của mình để đáp ứng tốt các nhu cầu này Điều này chỉ xảy ra khi các thành viên trong
tổ chức được trao quyền đồng thời cộng đồng phải được nâng cao năng lực
Trong can thiệp này, những tổ chức cộng đồng chính là BĐH huyện, BĐH xã, các nhóm phụ nữ tại các thôn bản tham gia vào hoạt động truyền thông
Sự tham gia: Sự tham gia là một quá trình trong đó cho phép người dân tự tổ
chức để xác định nhu cầu và cùng nhau thiết kế thực hiện, đánh giá hoạt động, và cùng nhau hưởng lợi từ các hoạt động đó Các hoạt động đó được tạo ra từ các nguồn lực mà người dân tiếp cận được thông qua sự hỗ trợ của chính phủ hoặc các những sự hỗ trợ khác từ bên ngoài Không nắm giữ quyền lực, người dân không thể
ra các quyết định có hiệu lực Ý nghĩa thực tiễn của sự tham gia ẩn chứa ở mức độ
mà quyết định được thực hiện Vì vậy, trao quyền lực là động cơ quan trọng đối với
sự tham gia
CTXH và NVXH: Theo Hiệp hội Quốc gia các nhân viên xã hội Mỹ - NASW
(1970), Công tác xã hội (Social Work) “là một hoạt động mang tính chuyên môn được sử dụng để giúp đỡ các cá nhân, nhóm hay cộng đồng tăng cường hoặc khôi phục năng lực thực hiện những chức năng xã hội của họ và tạo những điều kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu ấy”.11
NVXH, trong PTCĐ còn được gọi là Tác viên cộng đồng, “là những người được đào tạo một cách chuyên nghiệp về CTXH Hành động của họ nhằm mục đích tối ưu hóa sự thực hiện vai trò của con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần tích cực vào cải thiện, tăng cường chất lượng cuộc sống của cá nhân, nhóm và cộng đồng”.12NVXH, bên cạnh kiến thức và năng lực chuyên môn, cần phải có một số phẩm chất cần thiết như sự hòa đồng, sự trung thực, sự khách quan
vô tư, sự kiên trì nhẫn nại và tinh thần học hỏi không ngừng Những phẩm chất này
sẽ giúp ích rất nhiều cho NVXH trong quá trình làm việc với cộng đồng
Dự án: Dự án là một thuật ngữ được dùng tương đối rộng rãi ở nuớc ta trong
những năm gần đây Nó được định nghĩa là “một loạt các hoạt động được sắp xếp nhằm đạt được một kết quả cụ thể trong phạm vi ngân sách và thời gian nhất
Trang 27định”.13Có nhiều loại dự án và cấp độlàm dự án khác nhau (dự án cấp xã, huyện, tỉnh, quốc gia; dự án do cá nhân, tổ chức xã hội, chính phủ, chính quyền các cấp…thực hiện) Dự án có năm đặc trưng cơ bản, bao gồm: 1) Có một hay một hệ thống các mục tiêu cụ thể, rõ ràng và định lượng được; 2) Gồm một chuỗi các hoạt động liên tục, nối tiếp nhau mà kết quả của từng hoạt động là cơ sở cho những hoạt động tiếp theo; 3) Có sự ràng buộc về nguồn lực; 4) Có ràng buộc về thời gian; 5)
Có một tổ chức bộ máy hoạt động của dự án
Dự án PTCĐ: Các dự án PTCĐ được ra đời sau thế chiến thứ hai, trong các
cộng đồng dân định cư ở đô thị châu Âu Vào thập kỷ 50 và60, tại đây thường xảy
ra xung đột nên các dự án PTCĐ được xây dựng, hướng vào các khu dân cư thiệt thòi, huy động người dân, sự tham gia của giới nghiên cứu, nhằm tìm hiểu và hỗ trợ các hoạt động tập thể, tại chính các nhóm thiệt thòi đó Dự án PTCĐ được hiểu là một loại dự án hướng vào đối tượng là các cộng đồng, với mục đích cuối cùng là tạo
ra những chuyển biến xã hội tại cộng đồng Đây là một kế hoạch hành động có sự phối hợp của nhiều lực lượng xã hội bên trong và bên ngoài vì mục tiêu phát triển Mục tiêu của dự án không phải là mang tiền bạc vật chất đến cho cộng đồng mà nhằm phát huy sự tham gia của người dân trong cộng đồng, giúp cho cộng đồng xác định những nhu cầu đích thực của họ cần phải giải quyết, giúp họ tự lực, gây ý thức, nghĩa là mang lại cho họ quyền lực để tự giải quyết những vấn đề của cộng đồng Mục tiêu của các dự án PTCĐ nhằm giải quyết một hay một vài vấn đề hay đáp ứng các nhu cầu có thực của cộng đồng Nếu bên ngoài (Chính phủ, tổ chức xã hội, cá nhân trong và ngoài nước) có ý định đầu tư và bên trong có nhu cầu nhưng lại không có khả năng về nguồn lực tài chính, nhân lực, vật lực thì không thể xây dựng được một dự án Do đó, dự án PTCĐ phải là điểm hội tụ giữa ý định, nhu cầu và khả năng Đây là một điểm khác biệt cơ bản giữa dự án PTCĐ và các loại dự án khác, đặc biệt là so với các dự án mang tính cứu trợ, giải quyết các tình huống khẩn cấp Sự gặp nhau vì mục tiêu phát triển, sự thống nhất về triết lý và phương pháp hành động, đó là cơ sở quan trọng để cho các dự án PTCĐ có thể triển khai tại cộng đồng.Mục tiêu của các can thiệp do dự án đem lại là tạo ra sự thay đổi trong nhận thức và hành động tập thể của cộng đồng, nhờ đó, các lực lượng xã hội bên trong và
Trang 28bên ngoài cộng đồng quyết tâm thực hiện các kế hoạch hành động nhằm mang lại sự thay đổi về điều kiện hoặc môi trường sống Từ đó, nhận thức, năng lực và kỹ năng
tổ chức các hoạt động được nâng cao, tạo cơ sở cho việc hình thành những dự án mới, nhờ vậy tình trạng xã hội của cộng đồng lại được cải thiện ở mức cao hơn
Đề tài can thiệp này được xuất phát từ ý tưởng củaNVXH về việcáp dụng những kiến thức về CTXH để xây dựng một dự án PTCĐ, với mục đích thu hút tài trợ từ nước ngoài Vì vậy, nó có nhiều điểm giống với một dự án phát triển Tuy nhiên, tính khoa học trong đề tài can thiệp này vẫn được đảm bảo
Sức khỏe sinh sản: Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO), “Sức khỏe sinh sản là
trạng thái khỏe mạnh về thể chất, tinh thần và hòa hợp xã hội về tất cả các phương diện liên quan đến hệ thống sinh sản trong suốt các giai đoạn của cuộc đời Chăm sóc SKSS là một tập hợp các phương pháp, kỹ thuật và dịch vụ nhằm giúp cho con người có tình trạng SKSS khỏe mạnh thông qua việc phòng chống và giải quyết những vấn đề liên quan đến SKSS Điều này cũng bao gồm cả sức khỏe tình dục với mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống và mối quan hệ giữa con người với con người mà không chỉ dừng lại ở chăm sóc y tế và tư vấn một cách đơn thuần cho việc sinh sản và những nhiễm trùng qua đường tình dục”.14
Phòng tránh thai (hay các biện pháp kế hoạch hóa gia đình): là các biện
pháp được áp dụng nhằm để ngăn ngừa việc mang thai ở phụ nữ Các biện pháp tránh thai bao gồm hai nhóm Nhóm các biện pháp tránh thai tự nhiên, bao gồm: Tính vòng kinh, xuất tinh ngoài âm đạo, cho con bú vô kinh Nhóm các biện pháp tránh thai hiện đại, bao gồm: Thuốc tránh thai khẩn cấp, thuốc tránh thai hàng ngày, thuốc tiêm tránh thai, thuốc cấy tránh thai, bao cao su, đặt dụng cụ tử cung, thuốc diệt tinh trùng, triệt sản,
Trong can thiệp này, khái niệm PTT sử dụng để chỉ việc sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại, được cung cấp tại hệ thống các cơ sở y tế nhà nước trên địa bàn huyện Tiên Yên, bao gồm: Các biện pháp tránh thai do người dân tự quản lý (bao cao su, thuốc tránh thai khẩn cấp, thuốc tránh thai hàng ngày) và các biện pháp tránh thai do cán bộ y tế quản lý (thuốc tiêm tránh thai, dụng cụ tử cung)
Trang 29Viêm nhiễm đường sinh sản (hay nhiễm khuẩn đường sinh sản):là một thuật
ngữ rộng, bao gồm các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục và các nhiễm khuẩn đường sinh sản khác không lây truyền qua đường tình dục Đa số các trường hợp nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục đều để lại hậu quả về mặt sức khỏe nặng nề hơn so với nhiễm khuẩn đường sinh sản Các nhiễm khuẩn đường sinh sản được gây ra bởi các vi sinh vật thường có mặt tại đường sinh sản hoặc do các vi sinh vật từ bên ngoài vào, thông qua hoạt động tình dục hoặc qua các thủ thuật y tế Không phải tất cả các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục đều là các nhiễm khuẩn đường sinh sản và không phải tất cả các nhiễm khuẩn đường sinh sản đều có thể lây truyền qua đường tình dục Nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục nói đến cách thức lây truyền Trong khi đó, nhiễm khuẩn đường sinh sản lại đề cập đến
vị trí nơi các nhiễm khuẩn tiến triển[3, tr 315] Trong can thiệp này, thuật ngữ VNĐSS được sử dụng để nói về các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục, bao gồm: Trùng roi (trichomonas), lậu và chlamydia, giang mai, mụn rộp sinh dục, virus papilloma, bệnh hạ cam, viêm gan B, HIV; và các nhiễm khuẩn đường sinh sản khác không lây truyền qua đường tình dục
Trang 301.4 Cơ sở pháp lý của can thiệp
Đề tài can thiệp này được thực hiện bởi chính tác giả, với vai trò là người trực tiếp thiết kế, triển khai, đánh giá và viết báo cáo
Can thiệp được sự hỗ trợ kinh phí của tổ chức CORDAID – Hà Lan, được quản lý và hỗ trợ kỹ thuật bởi Công ty TNHH Tư vấn Đầu tư Y tế (CIHP), một Công ty có nhiều năm kinh nghiệm hoạt động trong triển khai các chương trình dự
án hỗ trợ phát triển phi lợi nhuận, được sở Kế hoạch Đầu tư cấp phép hoạt động năm 1999 15, nơi tác giả làm việc trong suốt thời gian xây dựng và thực hiện đề tài,
ở vị trí là cán bộ phụ trách dự án
Can thiệp được xuất phát từ nhu cầu chính đáng của người dân huyện Tiên Yên về quyền được chăm sóc SKSS, đượcUBND Tỉnh Quảng Ninh cấp phép triển khai, UBND huyện Tiên Yên phối hợp thực hiện.BĐHcan thiệp tại cộng đồng được thành lập với sự tham gia của các lãnh đạo địa phương Trưởng BĐH là Phó chủ tịch UBND phụ trách văn xã của huyện Tiên Yên Thành viên BĐHcấp huyện là các lãnh đạo của ngành y tế, bao gồm Trung tâm y tế dự phòng, Bệnh viện huyện, Phòng y tế
Những thông tin, số liệu của can thiệp được tác giả sử dụng làm đề tài luận văn thạc sĩ đã được sự đồng ý của nhà tài trợ, cơ quan chủ quản nơi tác giả đang làm việc trong thời gian triển khai can thiệp và chính quyền địa phương nơi can thiệp được thực hiện
Nói tóm tại, cơ sở của can thiệp được xây dựng trên cơ sở chính sách của nhà nước và sự hội tụ giữa ý định, nhu cầu và khả năng của các bên tham gia, như sơ đồ dưới đây
Hình 6: Mô hình thể hiện cơ sở hình thành can thiệp
Trang 31Chương 2 CÁC HOẠT ĐỘNG THỰC HIỆN TRONG QUÁ TRÌNH CAN THIỆP 2.1 Kế hoạch can thiệp
Hiểu một cách chung nhất, kế hoạch là một tập hợp những hoạt động được sắp xếp theo lịch trình, có thời hạn, nguồn lực, ấn định những mục tiêu cụ thể và xác định biện pháp tốt nhất để thực hiện một mục tiêu cuối cùng đã được đề ra Trong đề tài này, kế hoạch can thiệp được hiểu là một tài liệu chứa đựng toàn bộ các kế hoạch can thiệp ở các cấp độ khác nhau, ghi lại những giả định trong quá trình lập kế hoạch Nó là bản tóm lược quản lý những yếu tố cần thiết của mục tiêu can thiệp, lý lẽ, cách thức đạt được các mục tiêu này và được dùng để tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi thông tin với những đối tượng liên quan tới can thiệp Đồng thời, kế hoạch cũng là một tài liệu hướng dẫn thực hiện và kiểm soát toàn bộ các hoạt động can thiệp Nếu như coi can thiệp này là một dự án thì kế hoạch can thiệp tiến triển qua những giai đoạn liên tiếp trong dòng đời của dự án và được cập nhật mỗi khi có những thay đổi quan trọng trong dự án.16
Một bản kế hoạch can thiệptốt sẽ giúp những người thực hiện tiên lượng được các tình huống sắp xảy ra, phối hợp được mọi nguồn lực của cá nhân, nhóm, cộng đồng để tạo nên một sức mạnh tổng hợp, hướng vào mục tiêu cuối cùng mà can thiệp muốn hướng đến Đồng thời, nó cũng sẽ giúp những người tham gia hiểu biết sâu sắc hơn về các hoạt động can thiệp, giao tiếp dễ dàng hơn trong thực hiện
và quản lý các hoạt động can thiệp, từ đó có thể đưa ra những quyết định đúng đắn hơn Lập kế hoạch can thiệp phải thuân thủ theo những nguyên tắc nhất định
Tính mục tiêu: Trên cơ sở xác định đúng và rõ mục tiêu cần đạt được, NVXH
và BĐHđịa phương lựa chọn các giải pháp, phương pháp thực hiện cũng như các
Trang 32điều kiện hỗ trợ một cách phù hợp và xác định vị thế ưu tiên cho từng mục tiêu (trong những chương trình/kế hoạch có nhiều mục tiêu) Tính mục tiêu trong lập kế hoạch giúp đảm bảo được hiệu quả hoạt động, tránh lãng phí hoặc sử dụng nguồn lực không phù hợp, làm cơ sở cho theo dõi, giám sát và đánh giá
Tính khoa học: Mọi sản phẩm của quá trình lập kế hoạch (các văn bản, kế
hoạch hoạt động…) chỉ có hiệu quả nếu nó đạt đến những mức độ nhất định về căn
cứ khoa học Tính khoa học chính là yếu tố đảm bảo chất lượng và độ tin cậy của các kế hoạch được thảo ra
Tính cân đối: Tính cân đối là một nguyên tắc xuyên suốt quá trình lập kế
hoạch để đảm bảo kế hoạch đạt được các mục tiêu đề ra Cân đối ở đây không chỉ làcân đối giữa nhu cầu và khả năng trong lập kế hoạch mà còn là sự cân đối giữa các yếu tố, các bộ phận, các lĩnh vực và cácquá trình trong hệ thống tổ chức để đảm bảo thuận lợi nhất cho việc thực hiện mục tiêu đã lựa chọn
Tính chấp nhận: Kế hoạch được lập ra phải được sự chấp nhận của những
thành viên trong BĐH các cấp, những người lập kế hoạch, những người trực tiếp thực hiện và đối tượng can thiệp (cộng đồng) Chấp nhận ở đây bao gồm cả chấp nhận về chính trị, văn hóa, đạo đức,… giúp đảm bảo các kế hoạch thảo ra là hiệu quả, khả thi và phù hợp với tình hình thực tế của địa phương
Có nhiều cách lập kế hoạch khác nhau tùy theo nội dung, quy mô, mục đích, nguồn lực hay quan điểm của người thực hiện Trong can thiệp này, kế hoạch can thiệp được lập dựa trên lý thuyết về khung hợp lý (Logical framework) Đây là một cách xây dựng kế hoạchtrọng tâm vào kết quả, được áp dụng rất phổ biến trong các can thiệp theo hướngPTCĐ Những kết quả của can thiệp được thể hiện ở nhiều cấp
độ khác nhau, liên hệ với nhau bằng mối quan hệ logic nhân – quả
Đối với một can thiệp theo hướng PTCĐ, mọi hoạt động trước khi triển khai đều cần được bàn bạc, và sắp đặt một cách có hệ thống, có tính toán, có chỉ báo để
đo lường được những mục đích mong muốn Quá trình xây dựng kế hoạch can thiệp theo hướng PTCĐ nhất thiết phải có sự tham gia của cộng đồng cho dù đó là kế hoạch can thiệp tổng thể hay là kế hoạch can thiệp cụ thể cho một hoạt động Việc
Trang 33trao đổi lẫn nhau sẽ học hỏi đƣợc các tiến trình hoạch định và thi hành những quyết định do chính cộng đồng đề ra
Trang 34Hình 7: Mô hình lập kế hoạch theo khung hợp lý
Các nội dung trong khung hợp lý được mô tả như sau:
Đầu vào (input) là những nguồn lực của cộng đồng như tiền, nhân lực và vật
lực,… được sử dụng để thực hiện các hoạt động và từ đó tạo nên kết quả Ví dụ, sự
hỗ trợ về kỹ thuật của cơ quan hỗ trợ, sự hỗ trợ kinh phí nước ngoài, hoặc đội ngũ y
tế thôn bản đã được thành lập, …chính là những nguồn lực đầu vào quan trọng của can thiệp này
Hoạt động (activities) là quá trình sử dụng các yếu tố đầu vào để tạo ra các
sản phẩm cuối cùng ở đầu ra Hoạt động, theo ví dụ trên, chính là các các hoạt động
đã được hoạch định trong can thiệp như tập huấn, truyền thông, tư vấn, giám sát, đánh giá,…BĐH có trách nhiệm đảm bảo việc thực hiện đúng đắn các hoạt động này Hoạt động hoạch định kế hoạch được mô tả chi tiết trong mục 2.6
Đầu ra của can thiệp(outputs)là sản phẩm của các hoạt động can thiệp được
thực hiện với nguồn lực cho phép của Đó có thể là các sản phẩm, các dịch vụ, hoặc các đóng góp cần thiết để đạt được mục tiêu của can thiệp
Kết quả (outcomes) là các tác động, ảnh hưởng đến cộng đồng (chủ ý hoặc
không chủ ý) từ quá trình tạo ra một đầu ra hoặc nhóm các đầu ra Ví dụ, trong can thiệp này, một trong những kết quả đầu ra là việc đạt được các mục tiêu về thay đổi nhận thức người dân về PTT và VNĐSS thông qua truyền thông, tư vấn
Tác động (impacts) là những kết quả mang tính chất dài hạn nhờ việc đạt
được các kết quả đầu ra nói trên Đây cũng chính là việc đạt được đến những mục
Trang 35tiêu cuối cùng của một can thiệp Ví dụ, tác động của can thiệp này là giảm tình trạng mang thai ngoài ý muốn và VNĐSS ở phụ nữ Tác động này không xảy ra ngay lập tức sau khi can thiệp mà cần một thời gian dài
Các chỉ số là thước đo các kết quả thu được (định tính và định lượng) Mỗi
chỉ số phải thể hiện rõ người hưởng lợi, số lượng, chất lượng, thời gian và địa điểm
Nguồn thẩm địnhlà nơi hay nguồn lấy số liệu để kiểm tra xem mục tiêu hay
kết quả can thiệp đã đạt được ở mức nào Ví dụ: các báo cáo, số liệu thống kê hoặc
từ các cuộc phỏng vấn bên liên quan
Các giả định là các điều kiện cần phải có để một can thiệp có thể thành công Các rủi ro là những nguy cơ có thể xảy ra khi tiến hành can thiệp và cách
giảm thiểu hoặc khắc phục rủi ro đó
Như vậy, có thể nói, lập kế hoạch theo khung hợp lý là trọng tâm vào kết quả Tuy nhiên, quản lý theo kết quả không phải là từ bỏ hoàn toàn việc kiểm soát đầu vào và hoạt động để chuyển sang kiểm soát đầu ra, kết quả mà là cách thức giúp cho việc hoạch định kế hoạch được chuẩn xác, phù hợp với nguồn lực hiện có
Trong can thiệp này, kế hoạch can thiệp là sản phẩm của quá trình làm việc cùng nhau giữa NVXH, BĐH địa phương Cách tiếp cận có sự tham gia này giúp tất
cả các bên cùng hiểu rõ về mục đích, mục tiêu, hoạt động của can thiệp cũng như vai trò và trách nhiệm của mỗi tổ chức, cá nhân trong đó
Bảng 1: Kế hoạch can thiệp
và kỹ năng đúng về TTGDSK
- % cán bộ y tế được đào tạo có kiến thức
và kỹ năng đúng về tư
Báo cáo tập huấn Báo cáo giám sát
cán bộ y tế sau đào tạo được tham gia thường xuyên vào các hoạt động TTGDSK
Trang 36Các giả định/rủi
ro
vấn 1.1 Kết quả 1.1 Y tế thôn bản
được tăng cường năng lực
về truyền thông giáo dục
sức khỏe
-% y tế thôn bản được đào tạo về TTGDSK
Báo cáo tập huấn
1.2 Kết quả 1.2 Y tế thôn bản
được đào tạo về kỹ năng
tư vấn
- % y tế thôn bản được đào tạo về kỹ năng tư vấn
Báo cáo tập huấn
Đánh giá trước và sau can thiệp
Các buổi truyền thông được thực hiện theo đúng kế hoạch
2.1 Kết quả 2.1 Phụ nữ được
truyền thông, tư vấn về
PTT và VNĐSS
- % phụ nữ được truyền thông về PTT
và VNĐSS
Đánh giá sau can thiệp
Sổ theo dõi tư vấn 2.2 Kết quả 2.2 Các cặp vợ
chồng sử dụng BPTT hiện
đại
- % Cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ
sử dụng BPTT hiện đại
Đánh giá sau can thiệp
Báo cáo hàng năm của các Trạm y tế, Bệnh viện, Trung tâm y tế
Thành lập BĐH can thiệp tại cộng đồng
Xác định mục tiêu can thiệp
Đánh giá nguồn lực và cản trở
Điều tra cơ bản
Trang 37Xây dựng kế hoạch can thiệp
Giai đoạn 2: Thực hiện
Công bố triển khai can thiệp
Tập huấn giảng viên về kỹ năng truyền thông
Tập huấn cán bộ y tế xã và y thôn bản
Giám sát hỗ trợ hoạt động truyền thông của y tế thôn bản
Họp rút kinh nghiệm và lập kế hoạch hoạt động truyền thông
Tập huấn giảng viên về kỹ năng tư vấn
Tập huấn cho cán bộ y tế xã về kỹ năng tư vấn
Giám sát hỗ trợ hoạt động tư vấn của cán bộ y tế xã
Họp rút kinh nghiệm và lập kế hoạch hoạt động truyền thông
Y tế thôn bản thực hiện các buổi truyền thông nhóm nhỏ hàng tháng tại 120 thôn bản
Tổ chức cuộc thi Y tế thôn truyền thông giỏi
Cán bộ y tế huyện, xã viết bài tuyên truyền và phát trên hệ thống truyền thanh tại xãvà các thôn bản
In và phát tờ rơi, treo pa nô tại các cơ sở y tế xã, huyện
Cán bộ y tế xã thực hiện tư vấn tại 13 Trạm y tế trong huyện
Phát bao cao su và thuốc tránh thai đến tận thôn bản
Quản lý hoạt động can thiệp
Giai đoạn 3: Đánh giá và bàn giao
Đánh giá
Tổng kết và bàn giao
Trong một can thiệp theo hướng PTCĐ, khâu lập kế hoạch cần được đầu tư đúng mức, cả về thời gian và nguồn lực, trước khi nó được triển khai trên thực tế Bởi vì, khi các hoạt động can thiệp đã được khởi động mà bị ngừng lại hoặc mắc sai lầm ở một khâu nào đó, nó có thể gây hại đối với cộng đồng và làm mất đi sự tin tưởng của người dân đối với những can thiệp tương tự được triển khai trong tương lai Một bản kế hoạch được lập tốt sẽ mang lại rất nhiều lợi ích khác nhau
a) Tạo ra một khung làm việc mang tính dài hạn cho những quyết định và hành động
Trang 38b) Cung cấp một cách tiếp cận mang tính chính thống và có hiểu biết trong PTCĐ c) Tăng cường khả năng của cộng đồng trong việc đưa ra những quyết định với vấn
đề của chính họ
d) Là cơ sở quan trọng cho việc định hướng giao tiếp và hành động đối với những
cá nhân bên trong và bên ngoài cộng đồng
e) Xác định rõ những mục tiêu và hành động có thể đo lường được qua thời gian f) Dung hòa được quan điểm của những thành viên khác nhau trong cộng đồng.[16, pg 34]
Theo Nguyễn Thị Oanh, 2007, quá trình PTCĐ gồm 3 bước, bao gồm: cộng đồng thức tỉnh, cộng đồng tăng năng lực, cộng đồng tự lực Tương ứng với 3 bước này của PTCĐ là 3 giai đoạn của can thiệp với các hoạt động tương ứng
Hình 8: Các bước PTCĐ và các hoạt động phù hợp
Giai đoạn cộng đồng còn yếu kém: Theo sơ đồ trên, hoạt động can thiệp phù
hợpở giai đoạn này là tìm hiểu và phân tích cộng đồng Trong đề tài này, các hoạt động tìm hiểu, phân tích cộng đồng được thực hiện trong giai đoạn đầu tiên của quá trình can thiệp Nội dung cụ thể của các hoạtđộng này sẽ được trình bày rõở mục 2.2.1- Thiết kế can thiệp
Trang 39Giai đoạn cộng đồng thức tỉnh:Theo sơ đồ trên, hoạt động phù hợp của giai
đoạn này phát huy tiềm năng của cộng đồng, công tác huấn luyện và hình thành cácnhóm liên kết trong cộng đồng Đây là giai đoạn để cộng đồng hiểu rõ, đánh giá đúng và đầy đủ các nguồn lực nội tại; là giai đoạn mà cộng đồng cần phải hiểu rõ thực trạng, nhu cầu thiết thực và những vấn đề của chính họ
Giai đoạn cộng đồng tăng năng lực: Là hoạt động để cộng đồng có thể hiểu
rõ và biết cách khai thác, huy động những gì mình có mà chưa sử dụng (đất đai, cơ
sở, nhân tài), những nguồn hỗ trợ bên ngoài (kiến thức chuyên môn, tín dụng, đầu
tư, cơ quan tài trợ); là tiến trình tăng cường các nguồn lực của cộng đồng để cộng đồng có đủ khả năng vượt qua các khó khăn Theo sơ đồ trên, các hoạt động phù hợp trong giai đoạn này vẫn là phát huy tiềm năng cộng đồng, các hoạt động huấn luyện và hình thành các nhóm liên kết trong cộng đồng
Như vậy, có thể thấy, cả giai đoạn cộng đồng thức tỉnh và cộng đồng tăng năng lực có thể tiến hành những hoạt động giống nhau nhưng khác nhau về tính chất, mức độ, quy mô Trong đề tài này, những hoạt động của hai giai đoạn nêu trên được thể hiện ở giai đoạn hai của can thiệp với nhiều hoạt động khác nhau Nội dung cụ thể được trình bày tại mục 2.2.2 – Thực hiện can thiệp
Giai đoạn cộng đồng tự lực: Giai đoạn này vừa là tiến trình, vừa là mục đích
quan trọng nhất của PTCĐ Cộng đồng tự lực là cộng đồng có đủ các nguồn lực, nhất là nguồn nhân lực để tự thay đổi và phát triển Mục đích cuối cùng của một can thiệp theo hướng PTCĐ không phải là giải quyết các khó khăn, khủng hoảng trước mắt mà là mỗi khi có khó khăn nảy sinh, cộng đồng biết tự huy động tài nguyên bên trong và bên ngoài để giải quyết Hoạt động phù hợp của giai đoạn này là tiếp tục phát triển và cũng cố các nhóm liên kết và tăng cường động lực tự nguyện Trong
đề tài này, giai đoạn cộng đồng tự lực được thể hiện ở giai đoạn cuối cùng của can thiệp Nội dung cụ thể được trình bày tại mục 2.2.3 – Đánh giá và bàn giao
Nói tóm lại, kế hoạch can thiệp của đề tài này được lập dựa trên lý thuyết về khung hợp lý, các hoạt động can thiệp được kế phù hợp với mỗi giai đoạn khác nhau của PTCT theo mô hình của tác giả Nguyễn Thị Oanh Trong quá trình lập kế hoạch can thiệp, NVXH đã họp với BĐH địa phươngđể thảo luận và thống nhất về
Trang 40phương pháp lập kế hoạch Sau đó, cùng các thành viên của BĐH xây dựng một bản
kế hoạch tổng thể cho can thiệp (xem bảng 1- Kế hoạch can thiệp)
2.2 Hoạt động thực hiện can thiệp
Quy trình thực hiện can thiệp được tiến hành theo bốn bước, như được mô tả trong sơ đồ sau đây
Hình 9: Quy trình thực hiện can thiệp
Quy trình can thiệp được xây dựng tương ứng với các giai đoạn khác nhau của PTCĐ Trong đó, bước xác định nhu cầu cộng đồng và bước thiết kế can thiệp tương ứng với giai đoạn cộng đồng yếu kém và cộng đồng thức tỉnh Bước triển khai hoạt động tương ứng với giai đoạn cộng đồng được tăng năng lực và bước đánh giá, bàn giao tương ứng với giai đoạn cộng đồng tự lực Trong mỗi một bước của quy trình can thiệp sẽ bao gồm nhiều hoạt động khác nhau Các hoạt động này được xây dựng trên cơ sở các vấn đề, nguồn lực, giải pháp từthực tế và tuân thủ chặt chẽ những nguyên tắc đạo đức trong PTCĐ cũng như các nguyên tắc về sự tham gia của cộng đồng