123 ĐẠI HỌC QUÔC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THU QUỲNH KIẾN THỨC VỀ ĐAU ỐM VÀ SỰ LỰA CHỌN CÁCH CHỮA TRỊ CỦA NGƯỜI TÀY Ở NÔNG THÔN MIỀN NÚI TỈNH YÊN BÁI NGHI
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THU QUỲNH
KIẾN THỨC VỀ ĐAU ỐM VÀ SỰ LỰA CHỌN CÁCH CHỮA TRỊ CỦA NGƯỜI TÀY Ở NÔNG THÔN MIỀN NÚI
TỈNH YÊN BÁI (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP XÃ KIÊN THÀNH, HUYỆN TRẤN YÊN)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2013
Trang 2123
ĐẠI HỌC QUÔC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THU QUỲNH
KIẾN THỨC VỀ ĐAU ỐM VÀ SỰ LỰA CHỌN CÁCH CHỮA
TRỊ CỦA NGƯỜI TÀY Ở NÔNG THÔN
MIỀN NÚI TỈNH YÊN BÁI
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP XÃ KIÊN THÀNH, HUYỆN TRẤN YÊN)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ Chuyên ngành Dân tộc học
Mã số: 60 22 70
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS NGUYỄN VĂN CHÍNH
HÀ NỘI - 2013
Trang 3MỤC LỤC
DẪN LUẬN 130
1 Mục đích, ý nghĩa của đề tài 130
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 132
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 140
4 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu 141
5 Cấu trúc của luận văn 147
CHƯƠNG 1: SƠ LƯỢC VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 149
1.1 Điều kiện tự nhiên của xã Kiên Thành 149
1.2 Một số đặc điểm kinh tế xã hội của xã Kiên Thành 157
1.3 Vài nét về người Tày ở địa phương 166
Tiểu kết chương 1 170
CHƯƠNG 2: QUAN NIỆM VỀ ĐAU ỐM 171
2.1 Quan niệm về tình trạng ốm đau 171
2.1.1 Ranh giới giữa các khu vực chữa trị 172
2.1.2 Những lí giải khác biệt 176
2.2 Hình dung về cơ thể con người và cách thức xác định đau ốm 179
2.2.1 Hình dung về cơ thể con người 179
2.2.2 Các cách thức xác định ốm đau 182
2.3 Biểu hiện, phân loại ốm đau và nguyên nhân gây ốm 187
2.3.1.Biểu hiện, phân loại ốm đau thuần túy thuộc về thể chất 187
2.3.2.Biểu hiện và phân loại ốm đau do các thế lực siêu nhiên gây ra 192
Tiểu kết chương 2 194
CHƯƠNG 3: LỰA CHỌN PHƯƠNG THỨC CHỮA TRỊ 195
3.1 Lựa chọn phương thức chữa trị 195
3.1.1 Tự chữa trị 195
3.1.2 Tìm đến khu vực y học dân gian 197
3.1.3 Khám chữa bệnh ở trạm y tế và bệnh viện 203
3.1.4 Chữa trị đồng thời ở nhiều khu vực y tế khác nhau 205
3.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới lựa chọn chữa trị 207
Trang 4127
3.2.1.Quan hệ thân tộc 207
3.3.2.Kiến thức về đau ốm 208
3.3.3 Điều kiện kinh tế 209
3.3.4 Điều kiện giao thông 211
Tiểu kết chương 3 213
CHƯƠNG 4: CÁC DỊCH VỤ Y TẾ Ở ĐỊA PHƯƠNG 214
4.1.Khu vực y học dân gian 214
4.1.1.Bà lang vườn 214
4.1.2.Thầy cúng 216
4.2.Khu vực y học hiện đại 218
4.2.1.Các cơ sở khám chữa bệnh 218
4.2.1 Nơi mua thuốc Tây 225
4.2.3.Tình trạng bán dạo thuốc và thiết bị hỗ trợ chăm sóc sức khỏe 226
Tiểu kết chương 4 228
KẾT LUẬN 229
Trang 6129
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Biểu đồ 1.3 Tỉ lệ hộ gia đình người Tày phân theo các nguồn thu chính 41 Biểu đồ 1.4 Tỉ lệ các hộ gia đình sử dụng các nguồn nước khác nhau 43
Biểu đồ 3.2 Quan niệm của người dân về tác dụng phụ của thuốc Tây 79 Biểu đồ 3.3 Tỉ lệ người khám chữa bệnh ở trạm xá phân theo thôn bản 93 Biểu đồ 4.1 Tỉ lệ người dân tin rằng cúng bái góp phần khỏi ốm 98 Biểu đồ 4.2 Tỉ lệ bệnh nhân đến khám chữa tại trạm xá phân theo nhóm tuổi 101 Danh mục bảng
Bảng 1.1: Số hộ, nhân khẩu trong xã Kiên Thành phân theo dân tộc 35
Bảng 2.1 Thống kê một số một số cách lí giải về “ốm đau” và “bệnh tật”
của người dân
Trang 7Các nghiên cứu trong nước đề cập nhiều tới vấn đề chăm sóc sức khỏe của người dân Tuy vậy, vẫn ít người quan tâm tới hành vi lựa chọn trong chữa trị, nó diễn ra như thế nào trong bối cảnh văn hóa và không gian tộc người cụ thể? Nó là sản phẩm của những tính toán duy lý cá nhân hay được quy định bởi kiến thức, niềm tin và các thiết chế truyền thống?
Với mong muốn trả lời những câu hỏi đó, góp phần tìm hiểu những lí giải của người trong cuộc về ốm đau, chúng tôi lựa chọn đề tài “kiến thức về đau ốm và lựa chọn trong chữa trị của người Tày ở nông thôn miền núi tỉnh Yên Bái, nghiên cứu trường hợp xã Kiên Thành, huyện Trấn Yên”
Mục tiêu của nghiên cứu này là tìm hiểu kiến thức về ốm đau và hành vi lựa chọn chữa trị của người dân tại địa bàn một xã miền núi phía Bắc Để trả lời được câu hỏi nghiên cứu chính đó, chúng tôi mong muốn giải quyết được các vấn đề sau:
- Quan niệm, sự phân loại về ốm đau, bệnh tật của người dân:
Trang 8131
Kiến thức về ốm đau của người dân luôn có độ chênh với tri thức khoa học Người dân giải thích hiện tượng đau ốm bằng thế giới quan, kinh nghiệm của họ, nhiều khi những giải thích đó còn mang đậm màu sắc tôn giáo, huyền bí thậm chí có phần phi lý Phải tìm hiểu được kiến thức, quan niệm của người dân về ốm đau để hiểu các kiến thức
ấy chi phối như thế nào tới các thực hành chăm sóc sức khỏe
- Sự lựa chọn các khu vực chữa trị (khu vực y học chuyên nghiệp, y học dân gian hay tự chữa trị), quá trình chữa trị của người dân khi ốm đau như thế nào:
Đây có thể là một hành động hoặc là chuỗi hành động của người ốm và gia đình họ khi gặp phải các vấn đề về sức khỏe Hành động của mỗi cá nhân là kết quả của quá trình văn hóa thẩm thấu vào, là sự phản ánh của các hệ giá trị, tư duy và hình ảnh cộng đồng
Do đó, sự lựa chọn các khu vực chữa trị bao giờ cũng chịu ảnh hưởng bởi kiến thức, niềm tin về đau ốm và cách thức chữa trị Đặc điểm, tính sẵn có của các khu vực chữa trị
mở ra các lựa chọn cho người dân Trong khi đó, khả năng chi trả cũng có vai trò rất quan trọng đối với lựa chọn khu vực chữa trị và cả quá trình chữa trị Mặt khác, chúng tôi cũng duy trì quan điểm cho rằng mỗi con người chịu sự chi phối của nhiều mối quan hệ trong cộng đồng (cấu trúc, thiết chế, quan hệ mạng lưới ), do đó, các mối quan hệ này
sẽ tác động lên quyết định chữa trị
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Chúng tôi hi vọng nghiên cứu này sẽ đóng góp một mô tả sâu về kiến thức, hành vi lựa chọn của người dân ở khu vực nông thôn trong việc chăm sóc sức khỏe Với lối tiếp cận toàn thể, sự lựa chọn chữa trị bệnh tật được hiểu như là một quá trình chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội khác nhau Chúng tôi hi vọng tiếp cận này sẽ mang tới một cái nhìn đầy đủ về vấn đề chăm sóc sức khỏe này
Trong thực tiễn, những người làm công tác y tế cũng thừa nhận mối quan hệ giữa bệnh tật và văn hóa là hiển nhiên và có tác động tới sức khỏe con người, họ không phủ nhận thế giới quan quy định đến suy nghĩ và thực hành về thuốc Nhiều người vẫn nghĩ y học hiện đại được chào đón ở các nước đang phát triển, nhưng không hẳn vậy, trong quan điểm của người bệnh, nhiều khi, tác động của hệ thống y tế hiện đại không được đánh giá cao hơn y học dân gian; thậm chí kể cả khi hệ thống y học hiện đại rất phổ biến,
Trang 9người dân vẫn tự chữa trị Và việc làm rõ những điều đó có tính ứng dụng cao (Chen, L.C, Kleinman, A., Ware, N.C.: 275-299, 1993; Foster, G.M., Anderson, B.G., 1978: 248-261)
Do đó, việc tìm hiểu mối quan hệ giữa quan niệm về đau ốm và thực hành chăm sóc sức khỏe của nghiên cứu này cũng có đóng góp thực tiễn đối với công tác chăm sóc sức khỏe cho người dân tộc thiểu số Nhiều băn khoăn vẫn để ngỏ về hành vi khám chữa bệnh của người dân tộc thiểu số: tại sao họ lại tự chữa trị nhiều hơn là tìm tới bệnh viện? tại sao họ lại sử dụng đồng thời nhiều phương pháp chữa trị khác nhau? do chưa có sự thấu hiểu cặn kẽ quan niệm của người dân Về các chính sách của Nhà nước trong chăm sóc sức khỏe cho người dân tộc thiểu số, đã có nhiều câu hỏi đặt ra về hiệu quả của chính sách ấy, như chính sách bảo hiểm y tế cho người nghèo có khả năng can thiệp vào hành
vi khám chữa bệnh của người dân tộc thiểu số như thế nào? Vai trò thực sự của các chương trình truyền thông tuyên truyền chăm sóc sức khỏe? Chúng tôi cũng hi vọng rằng với việc mô tả kĩ lưỡng, sẽ có thể giải thích được một phần những câu hỏi đó
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong nhân học Việt Nam, mảng nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe đã được quan tâm nhưng chưa phải là chủ đề được đông đảo nhà nghiên cứu theo đuổi Những năm gần đây, chủ đề này được chú ý vì tính ứng dụng của nó Nhiều kết quả nghiên cứu được phục vụ trực tiếp cho các dự án chăm sóc sức khỏe cộng đồng Nhưng không chỉ có các nhà nhân học mới quan tâm tới chăm sóc y tế như là một vấn đề của văn hóa xã hội Mà
y học, y tế công cộng cũng xây dựng nhiều nghiên cứu trong bối cảnh riêng của từng cộng đồng Ngoài ra, những cuộc điều tra, khảo sát thường kỳ đã đóng góp nguồn thông tin chính xác, cập nhật và các đánh giá sát với thực tế chăm sóc sức khỏe ở khu vực nông thôn
Khi phân loại về khuynh hướng tiếp cận các vấn đề trong nhân học y tế, giới học giả nước ngoài thường phân ra các cách tiếp cận chủ yếu: tiếp cận sinh thái – chú trọng tới thích nghi, tiếp cận giải thích đặt trong bối cảnh văn hóa xã hội và tiếp cận phê phán nhấn mạnh tới sự bất công bằng trong thụ hưởng chính sách (Sargent, C.F & Johnson
Trang 10133
T.M., 1996:12) Ở Việt Nam có thể thấy hai khuynh hướng khá phổ biến là: 1) mô tả truyền thống chăm sóc sức khỏe trong bối cảnh văn hóa; 2) các khảo sát thực trạng chăm sóc y tế với những những ngụ ý phê phán bất bình đẳng trong thụ hưởng chính sách của Nhà nước 3) Khuynh hướng tiếp cận sinh thái chủ yếu được thể hiện dưới các miêu thuật tri thức bản địa về chăm sóc sức khỏe cộng đồng Đôi khi hướng tiếp cận sinh thái cũng được nhắc tới trong những giải thích của tác giả khi cho rằng các hành vi ăn uống, chăm sóc sức khỏe cũng được coi là cơ chế thích nghi của con người với môi trường sống Trước đây, nghiên cứu dân tộc học trong nước vẫn đề cập đến các hoạt động chăm sóc sức khỏe trong các mô tả sâu về văn hóa truyền thống của nhiều tộc người khác nhau Phần viết này không chiếm nhiều trong toàn bộ khảo tả nhưng tương đối kỹ, bao giờ cũng mô tả kỹ và cố gắng lý giải các kiêng kị trong chăm sóc sức khỏe Càng về thời gian gần đây, càng có nhiều miêu tả rất tỉ mỉ, chi tiết về kiến thức, thực hành y tế của người dân Với dân số đông, người Kinh được quan tâm nhiều, hàng loạt cuốn sách, bài viết ra đời ở mọi khía cạnh chuyên biệt nhất Đồng thời, cũng xuất hiện nhiều nghiên cứu
xã hội học chỉ ra sự khác biệt trong lựa chọn chăm sóc y tế giữa các nhóm cư trú ở các khu vực khác nhau Còn với cộng đồng dân tộc thiểu số, nhiều tác giả viết rất sâu, trong
đó các kiêng kị được đặc tả và giải thích cặn kẽ
Đóng góp lớn nhất của khuynh hướng tiếp cận giải thích văn hóa này là trình bày quan niệm, kiến thức của người dân về ốm đau - vấn đề kinh điển trong nghiên cứu nhân học y tế Thông thường, người ta tự nhận biết tình trạng bệnh tật của mình bằng các giác quan Định nghĩa và cách phân loại bệnh tật chịu sự ảnh hưởng bởi thế giới quan, quan niệm về tôn giáo tín ngưỡng, thậm chí là những niềm tin mơ hồ chính người dân cũng không thể lý giải được Cách giải thích nguyên nhân ốm đau vừa mang tính khoa học vừa mang tính siêu hình Người ta cho rằng ốm đau có thể do tác động của thời tiết, chế độ làm việc, chế độ ăn uống sinh hoạt, quan hệ xã hội hay do sự tách rời của linh hồn khỏi
cơ thể, sự trừng phạt của các thần (Nguyễn Văn Thắng, 2006) Thế giới quan đó ảnh hưởng tới các chữa trị của người dân, dẫn với việc họ sẽ lựa chọn việc chữa trị bằng thảo dược hay tìm đến các cơ sở y tế Hoặc trong nhiều trường hợp, người bệnh tìm đến thầy cúng, cầu xin chữa khỏi và chịu các nghi thức phức tạp, sử dụng bùa chú, rồi kết thúc
Trang 11bằng nghi lễ buộc chỉ vào tay để hồn không rời khỏi cơ thể người bệnh (Đặng Thị Hoa, Khổng Thị Kim Anh, 2004)
Chủ đề chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ và trẻ sơ sinh được tiếp cận nhiều vì ở đây còn bảo lưu nhiều thực hành chăm sóc sức khỏe đặc biệt, hiện rõ những dấu ấn tôn giáo tín ngưỡng, quan niệm về sự uế tạp/ trong sạch cũng như các quan niệm khác về sự cân bằng trong cơ thể người Hầu hết các dân tộc ở Việt Nam đều cho rằng máu của người phụ nữ sau khi sinh hoặc trong thời kỳ kinh nguyệt là “vấy bẩn”, sẽ làm ảnh hưởng tới những đấng thiêng liêng (Nguyễn Thị Song Hà, 2005; Nguyễn Thị Quế Loan, 2006; Bế Viết Đẳng, 1971) Sản phụ kiêng đến những nơi thờ cúng, không ra gian nhà lớn, không ngồi cạnh bếp nấu ăn hay nơi tiếp khách Điều đó ảnh hưởng nhiều tới hành vi tìm kiếm
sự chữa trị của người dân, thậm chí, trong nhiều trường hợp ảnh hưởng không tốt tới sức khỏe của người bệnh Trước đây, nhiều phụ nữ phải chịu những kiêng kị ngặt nghèo, nhiều khi hà khắc như phải sinh con trong những căn lều ở trong vườn, trong rừng vì kiêng “vận xui”, “máu bẩn” Người dân có niềm tin rằng việc tuân thủ/ hoặc không tuân thủ kiêng kị có liên quan tới sức khỏe của sản phụ, của đứa trẻ theo một cách riêng nào
đó mà chính bản thân họ cũng chưa chắc đã định hình cụ thể được
Mặt khác, những nghiên cứu kiểu này có tính ứng dụng rất cao, vì nhà nước và các
tổ chức phi chính phủ liên tục triển khai nhiều cuộc điều tra về thực trạng chăm sóc sức khỏe của bà mẹ, trẻ em Điều này cũng giống nhân học thế giới, phân nhánh nhân học y
tế ra đời và phát triển vì những nhu cầu của thực tế, có nhiều chương trình cung cấp, khảo sát chất lượng dịch vụ y tế cần tới vai trò của những nhà nhân học (Schultz, E.A
& Lavenda, R.H.2001) Ở Việt Nam, nhiều chương trình chăm sóc sức khỏe, dinh dưỡng của bà mẹ trẻ em, HIV/ AIDS, sức khỏe cộng đồng đã dẫn đến yêu cầu chú trọng nghiên cứu những vấn đề thiết thực này Tuy vậy, có sự khác biệt giữa nghiên cứu của các nhà dân tộc học so với xã hội học hay y tế công cộng Các khảo sát ngoài dân tộc học thường chỉ xem trọng thông tin định lượng, thống kê tình trạng sức khỏe, bệnh tật, nhu cầu của người dân với các ngụ ý chính sách Nghiên cứu dân tộc học thuần túy vẫn chú trọng mô tả tỉ mỉ về quan niệm, các tập tục truyền thống của người dân trong vấn đề sinh
đẻ, chăm sóc thai – sản phụ và trẻ sơ sinh
Trang 12135
Không chỉ dừng lại ở mô tả đơn thuần, các nhà nghiên cứu cố gắng đi tìm lời giải cho câu hỏi cái gì chi phối hành vi chăm sóc sức khỏe của người dân ở khu vực nông thôn? Ở thời điểm hiện tại có những biến chuyển gì xảy ra so với truyền thống trong quá khứ?
Hầu hết các tác giả đều thừa nhận người dân cúng bái khi bị ốm đau do quan niệm
về phần xác và phần hồn luôn hằn sâu trong tâm trí từ nhiều đời nay Do đó, nhiều nghiên cứu đặt trọng tâm tìm hiểu vấn đề niềm tin tôn giáo gây ảnh hưởng như thế nào tới việc chăm sóc sức khỏe, và có hay không sự thay đổi hành vi chữa trị khi có yếu tố tôn giáo mới đi vào Nguyễn Văn Thắng đã tìm hiểu rất kĩ cách giải thích mang tính tôn giáo về nguồn gốc bệnh tật trong nghiên cứu động thái ứng xử với bệnh tật của người Hmông Tác giả cho rằng tín ngưỡng truyền thống ảnh hưởng tới cách giải thích siêu hình về ốm đau Người Hmông theo tín ngưỡng đa thần giáo, họ tin có sự tồn tại của phần hồn trong cơ thể con người, động, thực vật, và tình trạng sức khỏe của mỗi người sẽ phụ thuộc vào trạng thái của linh hồn tồn tại bên trong hay di chuyển ra ngoài cơ thể Một trong những nguyên nhân gây ra bệnh tật là do linh hồn rời khỏi thể xác, điều này dẫn tới cách chữa bệnh rất phổ biến là gọi hồn Mặt khác, sự trừng phạt của các nhiên thần cũng gây ra tình trạng đau ốm, bệnh tật của con người Tác giả cũng cho rằng tôn giáo mới – đạo Tin lành du nhập vào làm thay đổi quan niệm và hành vi ứng xử với bệnh tật của người dân (Nguyễn Văn Thắng, 2006)
Ở một bình diện khác, một số nhà nghiên cứu chọn hướng xem xét điều kiện kinh tế
và chính sách y tế tác động tới xu hướng chữa bệnh của người dân như thế nào Có những nơi, người dân gần như “buộc” phải dùng thuốc nam khi mắc các bệnh nhẹ hoặc bệnh nan y vì không có một lựa chọn nào khả dụng hơn, chỉ có thuốc nam mới phù hợp với túi tiền của họ (Nguyễn Bảo Đồng, 2005) Trong khi đó, một trong những nguyên nhân chính gây nên khó khăn trong việc cải thiện tình hình chăm sóc sức khỏe của người dân tộc thiểu số là chất lượng của dịch vụ y tế chưa tốt Chính chất lượng dịch vụ y tế công yếu kém, điều kiện kinh tế gia đình khó khăn và việc chậm thay đổi hành vi chăm sóc sức khỏe tạo thành vòng luẩn quẩn mãi không cải thiện được chăm sóc y tế (Đoàn Kim Thắng, 2007) Cùng quan điểm này, Hoàng Thị Lê Thảo cho rằng cơ chế chính sách
Trang 13của Nhà nước, sự thay đổi điều kiện kinh tế gia đình, trình độ học vấn là các yếu tố chính làm thay đổi hành vi ứng xử trong phòng và chữa bệnh của người Nùng Tác giả miêu tả
kỹ lưỡng sự biến đổi trong quan niệm, định nghĩa về bệnh tật và quá trình chữa bệnh đồng thời áp dụng lý thuyết sự lựa chọn duy lý vào phân tích hành vi (Hoàng Thị Lê Thảo, 2009) Dù vậy những miêu tả chưa cho người đọc thấy rõ các quyết định, hành vi chăm sóc, điều trị bệnh là quyết định duy lý dựa trên sự cân nhắc kỹ càng giữa chi phí, lợi ích như thế nào Bản thân cách tiếp cận này cũng khó đem lại một sự giải thích thỏa đáng vì tìm kiếm khu vực chữa trị không đơn thuần là một hành vi duy lý Tính duy lý của nó có lẽ được thể hiện khi người nhà bệnh nhân lựa chọn và mong chờ một kết quả tốt nhưng không phải khi nào người ta cũng tính tới nguyên tắc an toàn, tránh rủi ro cho việc chữa bệnh được Đó là chưa kể tới các truyền thống văn hóa đã quy định nên cách hành xử ở mỗi cộng đồng người, con người sinh ra ở đâu sẽ chịu ảnh hưởng của cấu trúc
xã hội, của thiết chế ấy
Hành vi tìm kiếm điều trị chăm sóc sức khỏe cho người bệnh được cho là ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau, do vậy, một cái nhìn toàn diện là cần thiết Nguyễn Văn Chính là người đưa ra một nghiên cứu mẫu mực về chăm sóc sức khỏe của bà mẹ và trẻ em ở khu vực nông thôn Tác giả cho một bản mô tả đầy đủ về thực hành chăm sóc trẻ
sơ sinh và sản phụ ở nông thôn Việt Nam qua nghiên cứu trên diện rộng với các mẫu có tính đại diện cho nông thôn miền núi phía Bắc, miền Trung và Đồng bằng sông Cửu Long Một thực trạng thường thấy là thực hành chăm sóc trẻ sơ sinh và sản phụ ở nông thôn chịu ảnh hưởng rất lớn của thói quen, kiến thức và niềm tin tôn giáo Đồng thời, thực hành chăm sóc sức khỏe nói chung, chăm sóc trẻ sơ sinh và sản phụ nói riêng cũng chịu sự quy định của điều kiện kinh tế gia đình; tình trạng nghèo đói là một trong những nguyên nhân chính cản trở người dân tiếp cận với các dịch vụ y tế có chất lượng (Nguyễn Văn Chính, 2006)
Tương tự, trong công trình của mình, David Craig mô tả khá cụ thể về những kiến thức chữa trị và thực hành y tế thường ngày của người dân nông thôn Việt Nan Người
dân nông thôn không tìm tới một khu vực y tế duy nhất mà thường có bệnh thì vái tứ
phương David Craig cho rằng hành vi tìm kiếm nhiều khu vực y tế khác nhau như vậy
Trang 14137
hình thành do điều kiện lịch sử: ảnh hưởng các yếu tố văn hóa Trung Hoa, sang thời kỳ cận đại lại bắt đầu ảnh hưởng Pháp và phương Tây Còn việc thường xuyên tự chữa trị được cho là bắt nguồn từ việc chữa trị bằng đông y (Craig, D., 2002)
Tiếp cận chăm sóc sức khỏe dưới góc độ kinh tế chính trị được nhiều nghiên cứu hướng tới Tất cả khảo sát đều đưa ra một thực trạng kinh tế kém phát triển, tình trạng chăm sóc y tế của người dân ở nông thôn, đặc biệt là khu vực dân tộc thiểu số còn gặp nhiều khó khăn Cơ sở vật chất tạm bợ, trang thiết bị y tế thiếu, số bác sĩ với trình độ chủ yếu là chuyên tu, tại chức mới chỉ đáp ứng chưa được 50% nhu cầu, bệnh viện luôn ở trong tình trạng quá tải… phổ biến ở mọi vùng nông thôn Có rất nhiều người dân tự điều trị, không đến bệnh viện để khám bệnh Nhiều trường hợp không được khám, chữa bệnh kịp thời đã nặng hơn, chữa trị tốn kém và thời gian điều trị cũng kéo dài (Đức Thuận, 2010) Thiếu cơ sở vật chất y học hiện đại và ưu thế về khả năng tài chính là một trong những yếu tố tác động tới ứng xử với bệnh tật của người dân nông thôn; tỉ lệ mắc bệnh ở người nghèo là 13%, trong khi ở những người giàu có chỉ là 7% Tỉ lệ người dân tộc thiểu số có sức khỏe yếu và tỷ lệ suy dinh dưỡng rất cao do điều kiện nước sạch, vệ sinh môi trường, chất lượng bữa ăn ở vùng sâu vùng xa còn kém Tỉ lệ khai thác dịch vụ y tế công ở nông thôn cũng ở mức thấp Trên 50% số người bị ốm tự điều trị cho mình, 12 – 14% đến trạm y tế để được điều trị và số còn lại đi khám bác sĩ tư hoặc lên tuyến trên (Đôn Tuấn Phong, Amador F., Romero J.J., 2007) Cư dân sống ở vùng sâu vùng xa, các tộc người dân tộc thiểu số càng ít có cơ hội tiếp cận các dịch vụ công cơ bản vì giao thông khó khăn, tình trạng nghèo đói ở mức cao, trình độ học vấn thấp và chất lượng dịch vụ y tế cấp cơ sở vẫn còn rất hạn chế Hiện nay, mạng lưới y tế cơ sở đảm đương nhiệm vụ chăm lo sức khỏe, trực tiếp giải quyết những sự cố cho khoảng 75% dân số Nhưng vẫn có tới 98,8% trạm y tế xã hoạt động chỉ với 4 - 7 cán bộ, trong đó cán bộ có trình độ đại học là 8,5%; trung học 73,2% và sơ học 12,44% (Quỳnh Hương, 2009) Tập quán sinh hoạt của người dân tộc thiểu số cũng được coi là quá cũ kỹ, lạc hậu, không tốt cho sức khỏe, vì thế chính sách của Nhà nước phải làm sao thay đổi được tư duy, thói quen chăm sóc sức khỏe của người dân Nguyễn Văn Quyết khảo sát trong trường hợp tác động của yếu tố kinh tế, xã hội đến hai tộc người (người Kinh với các
Trang 15nhóm dân tộc thiểu số) là tương đương nhau thì vẫn tồn tại rất nhiều khác biệt trong chăm sóc sức khỏe sinh sản Sự khác biệt duy nhất ở đây là tập quán văn hóa, tâm lý tộc người và trình độ học vấn (Phạm Văn Quyết, 2006) Hay bằng phương pháp thống kê xã hội học, nhiều người cũng cho thấy các tập quán cũ ở người thiểu số có liên quan chặt chẽ với tỉ lệ bệnh tật cao Tình trạng sử dụng nước sạch, vệ sinh nhà ở, tỉ lệ sử dụng các công trình phụ, mức độ vệ sinh môi trường không đảm bảo vệ sinh dẫn tới bệnh tật đường hô hấp, đường tiêu hóa ở một người Dao rất cao (54,24% và 10,51%) (Đàm Khải Hoàn, Nguyễn Đình Học, Nguyễn Hương Nga, 2003) Do đó, một khuyến nghị tăng cường mạng lưới chăm sóc sức khỏe cũng như vai trò của tuyên truyền là cần thiết
Trên cơ sở khẳng định tập quán cũ vẫn tồn tại như là trở lực trong việc nâng cao chất lượng chăm sóc y tế ở người dân tộc thiểu số, các khảo sát cũng chỉ rõ sự bất bình đẳng trong việc thụ hưởng các chính sách y tế nói riêng, chính sách phát triển kinh tế xã hội nói chung Do sự thiếu thốn cơ sở vật chất y tế ở nông thôn, vùng sâu vùng xa, Nhà nước bù đắp bằng việc thực hiện cấp phát thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo, khu vực khó khăn Tuy vậy, chính sách cấp phát thẻ BHYT có thể làm thay đổi hành vi chữa trị hay làm tăng chất lượng chăm sóc sức khỏe của người dân vẫn chỉ là niềm tin có tính lí trí nhiều hơn là một thực tế được chứng minh Báo cáo của Nhà nước đưa ra kết quả khả quan: “Hệ thống y tế nông thôn được quan tâm xây dựng đã và đang trở thành tuyến chăm sóc sức khoẻ ban đầu quan trọng của nhân dân: hệ thống y tế thôn đã được mở rộng, nâng cấp, bình quân 1 trạm y tế xã có 0,63 bác sỹ và 1 vạn dân có 1 bác sỹ” (Tổng cục thống kê, 2006) Tuy vậy, con số 1 vạn dân có 1 bác sỹ không phải chỗ nào cũng giống nhau, với điều kiện địa hình núi non, chia cắt như miền núi và kiểu cư trú rải rác của người dân tộc thiểu số thì tỉ lệ đó không có ý nghĩa lớn lao Dịch vụ y tế chưa tốt, điều kiện dinh dưỡng, vệ sinh kém và chủ yếu tự điều trị bệnh nên tỉ lệ tử vong mẹ và trẻ
em giữa người Kinh và các dân tộc thiểu số chênh nhau rất lớn Tỉ suất chết trẻ em và tỉ suất chết trẻ em dưới 5 tuổi ở thành phố Hồ Chí Minh ở mức 1,05% còn ở tỉnh miền núi như Kon Tum lại lên tới 8,6% Luôn tồn tại mức bất bình đẳng trung bình về tử vong trẻ
em Việt Nam, chủ yếu ở phụ nữ nghèo và con cái của họ Những yếu tố góp phần vào sự
Trang 16Các báo cáo đều trình bày những yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội ảnh hưởng tới nhận thức, thái độ và hành vi chăm sóc sức khỏe Hoạt động kinh tế của người dân tộc chủ yếu vẫn dựa vào sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp tự cung tự cấp Hầu hết các xã người dân tộc thiểu số sinh sống có điều kiện kinh tế rất khó khăn, có nhiều nơi tỉ lệ các hộ gia đình thuộc diện thiếu ăn hơn 1 tháng chiếm 33,8% (Hoàng Quý Tỉnh, Nguyễn Thị Thùy Linh, Nguyễn Hữu Nhân, 2007) Địa bàn rừng núi, kinh tế không phát triển hạn chế nhiều tới việc triển khai và hiệu quả công tác chăm sóc bảo vệ sức khỏe cho người dân Diện tích các xã rất rộng, từ bản tới trung tâm xã phải đi cả ngày đường; việc đi lại, khám bệnh gặp nhiều khó khăn vì vậy người bệnh ngại đi khám tại trạm xá Nhiều gia đình còn du canh,
du cư hoặc định cư ở vùng sâu vùng xa đi lại càng khó khăn, khả năng tiếp cận dịch vụ y
tế càng khó Vẫn tồn tại tình trạng sinh nhiều con, đẻ dày, chưa thực hiện việc chăm sóc
và bảo vệ sức khỏe sinh sản Ngoài ra, trình độ học vấn thấp, dân trí chưa cao, phong tục tập quán lạc hậu cũng là vấn đề lớn Đến 1999 chỉ có 81% số xã đạt phổ cập tiểu học và chống mù chữ, 80% dân số ở vùng cao của tỉnh chưa biết chữ hoặc tái mù chữ, tỉ lệ trẻ
em 11 – 14 tuổi đi học trung học cơ sở đạt 54%, tỉ lệ trẻ em 15 – 17 đi học trung học phổ thông đạt 25%, ở vùng cao chỉ đạt 6,3% Trong khi đó lực lượng cán bộ y tế mỏng, trang thiết bị còn thô sơ và ít ỏi cũng khó đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh của người dân Trong nhiều năm qua, đã có những nỗ lực của nhiều chương trình y tế và chăm sóc sức khỏe được triển khai như chăm sóc sức khỏe ban đầu, chương trình dinh dưỡng, tiêm chủng mở rộng, phòng chống sốt rét hạn chế được những bệnh dịch phổ biến với các
Trang 17dân tộc thiểu số như sốt rét, tả, lỵ, đậu mùa Tuy nhiên, cho đến nay, chăm sóc sức khỏe cho người dân tộc thiểu số ở Yên Bái vẫn là một vấn đề cần quan tâm rất nhiều
Gần đây có nhiều cuộc điều tra trên phạm vi toàn quốc có tiến hành tại Yên Bái, trong đó có số liệu của tổng điều tra nông nghiệp, nông thôn và thủy sản năm 2006 Nguồn số liệu này chỉ dừng lại ở phạm vi nông thôn và cụ thể tới từng huyện của tỉnh Yên Bái sẽ rất hữu ích cho nghiên cứu của chúng tôi
3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu
Chúng tôi nghiên cứu tại xã Kiên Thành, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái Yên Bái là một tỉnh miền núi ở phía Bắc Việt Nam có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống, có điều kiện
tự nhiên khắc nghiệt, địa hình đồi núi khó khăn cho giao thông, thường chịu những ảnh hưởng nặng nề của thiên tai như lũ quét, lở đất vào mùa hạ, sương muối vào mùa đông Người dân nông thôn chủ yếu canh tác nông nghiệp lâm nghiệp Canh tác lúa nước và nương rẫy đóng vai trò chính yếu trong nông nghiệp, việc khai thác nguồn lợi từ rừng cũng đang suy giảm dần do điều kiện tự nhiên thay đổi và sự hạn chế của Nhà nước Chất lượng sống của người dân chưa cao, các dịch vụ công ở khu vực nông thôn vẫn còn thiếu thốn nhiều Tỉ lệ nghèo rất cao, 26,5% so với tỉ lệ nghèo của cả nước là 14,2% (Tổng cục thống kê, 2011) Tỉ lệ các cơ sở y tế công dành cho nông thôn được xây dựng kiên cố mới chỉ đạt mức 51,57% Hầu hết các xã chưa có cơ sở khám chữa bệnh tư nhân, chỉ có 11,32% trong tổng số xã có cơ sở khám bệnh và nhà thuốc tư nhân (Tổng cục thống kê, 2010) Chất lượng sống và cơ sở vật chất của y tế chưa cao có tác động tới chăm sóc sức khỏe của người dân
Xã Kiên Thành là xã miền núi đặc biệt khó khăn (theo phân loại của Nhà nước trong Chương trình Phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa 135 năm 1998) Xã có 734 hộ gia đình, cư dân chủ yếu làm nông nghiệp với 87,7% hộ canh tác nông lâm nghiệp, 7,2% hộ chỉ làm lâm nghiệp Đây là khu vực sinh sống chủ yếu của các tộc người: Tày, Hmông, Dao Điều kiện kinh tế xã hội của hai tộc người ở đây còn hết sức khó khăn
Trang 18áp lực xã hội, hành động của anh ta bị xác định bởi cấu trúc mà anh ta sống trong đó Trong nỗ lực tìm hiểu về con người, các nhà nhân học thường tiếp cận con người ở ba chiều cạnh: cấp độ cá nhân, cấp độ xã hội và cấp độ chính trị Trong đó, tiếp cận con người ở cấp độ xã hội là một đặc trưng của tiếp cận cấu trúc luận và thuyết biểu trưng
Và ở cấp độ đó, việc phân tích con người được đặt trong bối cảnh văn hóa xã hội (Nancy, S.H & Margaret M.L., 1987:8) Đối với các vấn đề sức khỏe, những hình dung của con người về cơ thể, cấu trúc bên trong, cũng như là những quan niệm về nóng/ lạnh, quan niệm về máu chịu ảnh hưởng của nền tảng văn hóa xã hội (Helman, C.G., 1990: 11)
Khái niệm “ốm đau” (sickness) và “bệnh tật”(disease): Bác sĩ và bệnh nhân có
cách nhìn rất khác nhau về “ốm – khỏe” kể cả khi có cùng một nền tảng văn hóa Những quan điểm của bác sĩ và bệnh nhân được định hình từ những hệ thống tri thức khác nhau,
do đó, những cách chữa trị cũng được thực hiện khác và có hiệu năng khác nhau Định nghĩa thế nào là “khỏe mạnh” và “ốm đau” giữa các cá nhân, nhóm xã hội cũng không giống nhau (Helman, C.G, 1990: 87-97) Những quan niệm của mỗi cá nhân, mỗi nhóm người trong những văn hóa khác nhau, bối cảnh khác nhau về sức khỏe, bệnh tật sẽ dẫn tới hành vi tìm kiếm quá trình chữa trị không giống nhau Trong nghiên cứu này, chúng tôi sẽ tìm hiểu những khuôn mẫu ốm đau của người dân, những kiến thức và cách phân loại bệnh tật của họ Trong bối cảnh cụ thể, họ sẽ có lý giải như thế nào là ốm đau, bệnh tật, nguyên nhân dẫn đến tình trạng ốm đau là gì, và họ có hình dung gì về cơ thể khi ốm
Khái niệm các khu vực chữa trị (medical sectors): Một cơ sở để phân loại sự lựa
chọn của người dân trong việc tìm kiếm phương thức chữa trị bệnh tật là sự phân loại khu vực chữa trị Theo lý thuyết của Athur Kleinman, hệ thống y tế là một đa nguyên văn hóa bao gồm các khu vực: “y học thường thức” (popular sector), “y học dân gian” (folk
Trang 19sector) và “y học hiện đại” (professional sector) Kleinman lưu ý rằng mỗi khu vực chữa trị có kiến thức mô hình giải thích khác nhau về tình trạng sức khỏe của con người (Helman, C.G., 1990: 55-71) Ví dụ: người dân tự chữa trị lý giải về tình trạng “ốm đau” của mình theo một cách riêng, nhưng khi đến bệnh viện, bác sĩ lại giải thích khác Khi một người bị ốm, tùy thuộc vào nhiều yếu tố, họ sẽ đứng giữa lựa chọn tự chữa trị, y học dân gian hay y học hiện đại; người bệnh là trung tâm của mạng lưới chữa trị
Hình 1: Mô hình đa nguyên về hệ thống y tế gồm 3 khu vực
(Nguồn: Tổng hợp, vẽ lại từ Helman, C.G., 1990: 55-71)
Với kiến thức, quan niệm khác nhau, mỗi khu vực chữa trị sẽ đưa ra mô hình giải
thích khác nhau về “ốm đau” Kleinman đã đưa ra mô hình giải thích (explanatory model) và sự lựa chọn phân cấp trong chữa trị bệnh
Mô hình giải thích về ốm đau của người dân gồm các yếu tố (Kleinman, A., 1980:
104-105):
+ Tri thức và niềm tin về dấu hiệu, định nghĩa, phân loại ốm đau;
+ Tri thức về nguyên nhân gây bệnh, sự tiến triển của bệnh và mức độ trầm trọng của nó; + Tri thức và niềm tin về các phòng ngừa đau ốm và cách chăm sóc sức khỏe
Mô hình giải thích có sự khác biệt giữa các khu vực y tế, bởi ở mỗi khu vực y tế
trên, người dân và người thực hành chữa trị lại có tri thức và cách giải thích khác nhau về
Y học thường thức
Y học hiện đại Y học dân gian
Bệnh nhân lựa chọn chữa trị
Trang 20143
ốm đau, bệnh tật Chúng tôi chú ý việc tìm hiểu kiến thức của người dân về ốm đau, họ
đưa ra các lý giải và phân loại như thế nào Kiến thức về đau ốm chính là một trong các yếu tố quan trọng chi phối đến sự lựa chọn chữa trị của người dân
Ba mô hình hành vi lựa chọn trong chữa trị:
+ Lựa chọn đồng thời: cùng lúc chữa ở nhiều thầy thuốc ở những khu vực y tế khác nhau,
theo đuổi nhiều biện pháp chữa trị;
+ Lựa chọn phân cấp: người bệnh lần lượt tìm đến các liệu pháp khác nhau;
+ Lựa chọn hỗn hợp: kết hợp hai mô hình trước
Ở đây, Kleinman đã phân tích hành động lựa chọn trong một bối cảnh văn hóa của người bệnh để đưa ra sự giải thích - xem xét hành động dưới cách tiếp cận toàn thể mà ở
đó hành vi lựa chọn chữa trị bị chi phối bởi:
+ Khả năng cung cấp dịch vụ ở các khu vực y tế;
+Tri thức về bệnh tật, các cách lí giải, phân loại ốm đau;
+ Khả năng chi trả của gia đình bệnh nhân
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sẽ cố gắng làm rõ sự lựa chọn của người bệnh, có hay không sự lựa chọn nhiều hình thức chữa trị khác nhau, sự lựa chọn ấy có đúng bị chi phối bởi 3 yếu tố như trên đã nêu hay không, hay nó còn bị chi phối bởi các yếu tố khác
nữa Đặc biệt, chúng tôi lưu ý tới quan niệm, các cách lí giải ốm đau của người dân
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập tài liệu ở thực địa: Để thực hiện nghiên cứu này, chúng tôi
sử dụng nhiều phương pháp khác nhau: quan sát tham gia; phỏng vấn sâu; bảng hỏi cấu
trúc; thảo luận nhóm; thu thập tài liệu báo cáo ở địa phương Trong đó quan sát tham gia vẫn là phương pháp trọng tâm vì những ưu điểm của nó trong mô tả dân tộc học
Chúng tôi có 2 đợt điền dã chính:
Đợt 1: 15 – 29/8/ 2011): Chúng tôi thu thập thông tin chung về tình hình kinh tế, xã hội của xã, làm quen với địa bàn và ghi chép một số số liệu thống kê cơ bản về bệnh tật trong sổ bệnh án của trạm y tế xã trong 6 tháng cuối năm 2009, 2010 và 6 tháng đầu năm
2011 (tổng số 2752 ca khám bệnh) Số liệu được nhập vào phần mềm SPSS để xác định
cơ cấu độ tuổi, giới, dân tộc, bệnh tật của những bệnh nhân đến khám ở trạm xá
Trang 21Đợt 2: 10 tháng 2 tới 01 tháng 4 năm 2012: Thực hiện bảng hỏi, phỏng vấn sâu, quan sát tham gia
+ Khảo sát bằng bảng hỏi cấu trúc: chủ yếu xoay quanh các nội dung chính:
- Hoàn cảnh kinh tế, nhân khẩu học của các gia đình
- Tình trạng ốm đau hiện nay của các thành viên trong gia đình
- Lựa chọn khu vực chữa trị, phương pháp chữa trị và phí tổn
- Đánh giá, quan điểm của người dân về các khu vực chữa trị khác nhau
Việc lựa chọn mẫu là ngẫu nhiên, cỡ mẫu được đưa ra theo nguyên tắc chọn cỡ mẫu
xã hội học (theo Krejcie, R.V., Morgan, D.W., Determining sample size for research
activities, Educational and psychologogical measurement, vol 30 1970, pg 607 – 610
Kỹ thuật xây dựng bảng hỏi được tham khảo từ: Bernard, H.R., Handbook of methods in
cultural anthropology, Walnut Creek, Lanham, New York, Oxford, AltaMira Press,
1998) Chúng tôi thực hiện 45 bảng hỏi (15 bảng hỏi/ 1 thôn) ở ba thôn tập trung chủ yếu người Tày là An Thịnh, Kiên Lao và Đồng An của xã Kiên Thành, tỉ lệ bảng hỏi được thực hiện trên tổng số hộ của từng thôn là tương đương nhau, ở mức từ 28 – 30% Tổng
số hộ ở các thôn Đồng An, Kiên Lao, An Thịnh tương ứng là 50, 53 và 51 hộ Tổng số hộ khẩu của ba thôn này là 154 hộ
Biểu đồ 0.1: Trình độ học vấn của người trả lời bảng hỏi
Nguồn: Nguyễn Thu Quỳnh, Điều tra bảng hỏi, tháng 2 năm 2012
Trang 22145
Trình độ học vấn của những người trả lời bảng hỏi chủ yếu là THCS (cấp 2) với tỉ lệ 67%, tỉ lệ có trình độ tiểu học (cấp 1) đứng thứ hai với 18% Có 9% người trả lời đã học trung học chuyên nghiệp hoặc trường nghề, 4% đã qua trung học phổ thông (cấp 3), chỉ
có 2% đã qua cao đẳng hoặc đại học
Bảng 0.2: Nghề nghiệp của người trả lời bảng hỏi
Nguồn: Nguyễn Thu Quỳnh, Điều tra bảng hỏi, tháng 2 năm 2012
Tương ứng với báo cáo của xã về nghề nghiệp chính của người dân nơi đây chủ yếu làm nông nghiệp và lâm nghiệp 75,6% số người trả lời bảng hỏi của chúng tôi là nông dân, chỉ có 8,9% là cán bộ, viên chức đang làm việc tại xã, 4,4% làm buôn bán nhỏ 4,4% trong số người trả lời bảng hỏi làm công tác đoàn thể và chỉ có 2,2% là học sinh sinh viên
+ Phỏng vấn sâu: tiến hành phỏng vấn sâu như một cuộc trò chuyện với mọi người, chúng tôi phân loại ra thành các nhóm khác nhau dựa trên sự khác biệt về giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp, vai trò trong xã hội Chúng tôi cũng dành nhiều thời gian trò chuyện với những người giữ vai trò thầy thuốc nam của cộng đồng, cán bộ y tế ở trạm xá xã và y
tế thôn bản Lắng nghe câu chuyện của họ để có thể hiểu được những trải nghiệm trong quá trình chữa trị bệnh tật như thế nào
Trong quá trình điền dã, chúng tôi đã tiến hành hơn 30 cuộc trò chuyện khác nhau Toàn bộ các cuộc trò chuyện này đều được ghi âm và có đánh mã số theo thời gian thực
Trang 23hiện và tên của người trả lời và số thứ tự cuộc phỏng vấn đó (có những trường hợp chúng tôi tiến hành nhiều cuộc phỏng vấn khác nhau trong vài ngày)
Ví dụ: KT.2012.MrTuyen01.amr, trong đó, KT là Kiên Thành; 2012 là năm thực hiện cuộc phỏng vấn; MrTuyen: là tên người trả lời, 01: là số thứ tự băng ghi âm cuộc phỏng vấn
Tương tự, khi gỡ băng, chúng tôi cũng tạo mã số theo trình tự này trên từng tên file word Trong nội dung file word đó có ghi rõ ràng ngày tháng thực hiện cuộc phỏng vấn + Thảo luận nhóm: Chúng tôi tiến hành thảo luận nhóm để lắng nghe ý kiến của nhiều người cùng một lúc, những tranh luận, trao đổi của họ về bệnh tật, nguyên nhân gây ra bệnh tật, thái độ của bác sĩ…Chúng tôi thực hiện được 5 cuộc thảo luận nhóm tại địa bàn Các cuộc thảo luận nhóm này không được chúng tôi chủ ý sắp xếp mà ngẫu nhiên ngồi cùng vài người đang nói chuyện về chủ đề chữa trị ốm đau, cách chăm sóc sức khỏe một người nào đó trong gia đình Khi đó, chúng tôi cùng ngồi nói chuyện, lắng nghe và cùng tham gia nói chuyện để hướng cuộc thảo luận tập trung vào nội dung xuyên suốt
+ Tiếp cận các nguồn báo cáo, ghi chép của địa phương: Các báo cáo kinh tế xã hội của xã: các báo cáo này đem lại hình dung chung về tình hình kinh tế xã hội, các chính sách phát triển kinh tế xã hội nói chung, y tế nói riêng đã được triển khai tại địa phương, những chuyển biến trong đời sống của người dân Tiếp cận nguồn tài liệu về chăm sóc sức khỏe ở trạm y tế sở tại: Các cơ quan y tế luôn có thông tin về tình hình chăm sóc sức khỏe người dân theo năm Chúng tôi đã tìm đến những nguồn tài liệu này để biết được những thông tin chung nhất về chăm sóc y tế, tình trạng cơ sở vật chất y tế của địa phương Trạm xá xã luôn có thống kê thường niên về các loại bệnh, số lượng bệnh nhân,
tỉ lệ sinh, tỉ lệ tử vong… Những thống kê cụ thể này giúp chúng tôi nắm được thực trạng bệnh tật của cả xã
+ Các nghiên cứu đi trước: Thu thập các tài liệu của nhiều nhà nghiên cứu đi trước
về chăm sóc sức khỏe của cư dân nông thôn, phong tục tập quán trong chăm sóc sức khỏe của người Tày trong các thư viện, viện nghiên cứu
Trang 24147
Phương pháp phân tích
+ Với các nghiên cứu đi trước: phân tích, so sánh các nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau để khái quát lên được xu hướng nghiên cứu, thành quả họ đã làm được là gì Các nghiên cứu đó đã đóng góp gì cho việc khám phá những quan niệm về bệnh tật, cách chữa trị, chăm sóc sức khỏe của người dân nông thôn
+ Với các nguồn tài liệu về chăm sóc sức khỏe:
- Phân tích các văn bản của các cơ quan y tế để thấy được chủ trương chính, mục tiêu, và các hoạt động cụ thể trong chăm sóc sức khỏe cho cư dân nông thôn là gì
- Phân tích và tổng hợp số liệu thống kê của xã: Cơ cấu bệnh tật trong xã là gì: loại bệnh gì hay mắc nhất, ở độ tuổi, giới nào; số lượng người mắc bệnh trong các năm: độ tuổi, giới nào hay đến khám ở trạm xá, số lượng người mắc bệnh tăng hay giảm qua các năm ra sao, tỉ lệ sinh, tử vong… Tình trạng sử dụng thuốc tây, thuốc nam của người dân:
số lượng thuốc cấp phát hàng năm, thống kê số người lấy thuốc từ một số bà lang trong vùng; công tác y tế dự phòng được thực hiện như thế nào ở xã
+ Với các nguồn dữ liệu định tính và định lượng
- Sử dụng phần mềm phân tích số liệu định lượng (phần mềm SPSS phiên bản 13.0)
- Lập các hồ sơ phỏng vấn, hồ sơ thực hiện bảng hỏi với từng cá nhân Khi phân tích sẽ đối chiếu kết quả phỏng vấn, kết quả thực hiện bảng hỏi với điều kiện của từng cá nhân đó (giới, tình trạng sức khỏe, độ tuổi, nghề nghiệp ) để hiểu được những lý giải của họ
5 Cấu trúc của luận văn
Dẫn luận
Chương 1: Sơ lược về địa bàn nghiên cứu
Chúng tôi trình bày những nét khái lược nhất về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh
tế xã hội của khu vực nghiên cứu Một số thông tin liên quan đến vệ sinh dịch tễ cũng được phân tích vì đây là những yếu tố ảnh hưởng tới sức khỏe con người
Trang 25Chương 2: Quan niệm về ốm đau
Trong chương này, chúng tôi mô tả quan niệm của người dân về “ốm đau”, quan niệm này có sự khác biệt với các lý giải của bác sĩ về “bệnh tật” Dựa vào kinh nghiệm truyền đời, người dân phân biệt được các loại ốm đau và nguyên nhân gây ra Sự phân loại ốm đau ấy chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi thế giới quan, tín ngưỡng Do đó, bên ngoài những nguyên nhân thuộc về thiên nhiên, lao động, nguồn nước uống, thực phẩm, con người cũng có thể bị “ốm” do ma làm hại Tùy thuộc vào nguyên nhân và biểu hiện bệnh tật mà người dân có cách chữa tương ứng
Chương 3: Lựa chọn phương thức chữa trị
Người dân thường tự chữa trị trong những trường hợp có thể dựa vào kiến thức bản địa để xác định, phân loại đau ốm và tìm kiếm thuốc Khi tình trạng đau ốm vượt quá khả năng chữa trị của mình, họ sẽ tìm tới khu vực chữa trị khác như khu vực dân gian hoặc khu vực y học hiện đại Sự kết hợp đồng thời nhiều cách chữa ở các khu vực chữa trị khác nhau cũng thường xuyên xảy ra
Chương 4: Các dịch vụ y tế ở địa phương
Lựa chọn chữa trị không chỉ chịu ảnh hưởng bởi quan niệm, kiến thức về đau ốm của người dân cũng như khả năng chi trả của gia đình họ mà còn liên quan đến tính sẵn
có của các dịch vụ y tế ở địa phương Nhìn chung, việc tiếp cận khu vực y học hiện đại khó khăn hơn khu vực y học dân gian Khu vực y học chuyên nghiệp ở địa phương mới chỉ đảm bảo được khâu khám chữa bệnh ban đầu đối với các loại bệnh thông thường Tiếp cận bệnh viện tuyến huyện/ tỉnh tương đối khó khăn trong điều kiện giao thông cách trở và nguồn tài chính của người dân còn hạn hẹp
Kết luận
Trang 26149
CHƯƠNG 1
SƠ LƯỢC VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1 Điều kiện tự nhiên của xã Kiên Thành
Bản đồ 1.1 Bản đồ xã Kiên Thành
Trang 27Nguồn bản đồ xã Kiên Thành: Nguyễn Thu Quỳnh chụp lại Bản đồ xã Kiên Thành
do UBND huyện Trấn Yên vẽ và phê duyệt năm 2007, Tỉ lệ 1/10.000
Nguồn bản đồ Liên hệ khu vực ở góc phải:
http://www.yenbai.gov.vn/vi/map/Pages/bando.aspx truy cập ngày 20/06/2012
Ghi chú: Bản đồ xã Kiên Thành và toàn bộ chú thích có màu đen trắng, tác giả tự vẽ lại các chú thích và tên các thôn để dễ quan sát
Vị trí địa lý
Xã Kiên Thành có diện tích 86,67 km2
, nằm ở phía Tây bắc của huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái, cách trung tâm huyện Trấn Yên 15km Phía Bắc giáp xã Hoàng Thắng của huyện Văn Yên, phía Tây và Tây bắc giáp xã Mỏ Vàng và Viễn Sơn, huyện Văn Yên Phía Đông và phía Nam giáp xã Quy Mông và Xã Y Can, xã Lương Thịnh huyện Trấn Yên Phía Tây Nam giáp xã Hồng Ca của huyện Trấn Yên Phía Đông Bắc giáp huyện Văn Chấn
Địa hình
Khu vực huyện Trấn Yên có địa hình chuyển tiếp từ trung du lên miền núi Xã
Kiên Thành nằm trong khu vực núi có địa hình cắt xẻ, núi hiểm trở Toàn bộ các đỉnh núi cao đều có sườn dốc, bị chia cắt rất sâu bởi những rãnh hẹp Xã Kiên Thành có một thung lũng ở trung tâm xã (tạm gọi là thung lũng trung tâm), bao bọc lấy thung lũng này
là các dãy núi cao Đứng ở thung lũng trung tâm xã nhìn ra tứ bề núi xung quanh cảm thấy các khối núi như đan vào nhau làm cho đường đi lối lại rất ngoắt ngoéo Điều kiện địa hình núi cao, cắt xẻ như vậy nên phân bố các thôn bản không tập trung và giao thông rất bất tiện Chỉ có khu vực trung tâm xã nằm trong thung lũng dễ dàng đi lại hơn cả, còn lại toàn bộ các thôn, bản đều nằm trên các sườn hoặc đỉnh núi
Các thôn ở khu vực thung lũng trung tâm xã gồm có: thôn An Thịnh, Yên Thịnh, Cát Tường, Kiên Lao Riêng thôn Đồng An nằm ở phía cuối của thung lũng, cách trung tâm xã khoảng 15 – 25 phút đi xe máy tùy thuộc vào điều kiện thời tiết hoặc khoảng 45 phút đi bộ Những thôn trung tâm này nằm trên trục đường giao thông của xã, đường giao thông ở khu vực này đã được san ủi tương đối bằng phẳng, tuy vậy mỗi khi mùa
Trang 28 Khí hậu
Khí hậu Yên Bái chia thành 2 tiểu vùng phía đông và phía tây1
, với ranh giới phân chia là dãy Hoàng Liên Sơn Xã Kiên Thành thuộc tiểu vùng khí hậu phía Đông, chịu ảnh hưởng mạnh của gió mùa Đông Bắc, mưa nhiều, lượng mưa đạt từ 1800 - 2000mm/năm, nhiệt độ trung bình năm từ 210 đến 220C Tiểu vùng này gồm huyện Văn Yên, thị xã Yên Bái, Ba Khe, nam Trấn Yên, Lục Yên, Yên Bình Khí hậu của địa phương này chia làm hai mùa tương đối rõ rệt:
Mùa đông tương ứng với mùa khô, kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Đây là nơi chịu nhiều ảnh hưởng của các đợt rét đậm, rét hại dài ngày, tác động tới sức khỏe và
1
Tiểu vùng phía Tây có độ cao địa hình trên 700 m, gồm các huyện Mù Căng Chải, Trạm Tấu, Văn Chấn, thị xã Nghĩa
Lộ Tiểu vùng này ít chịu tác động của gió mùa Đông Bắc nhưng lại có gió Tây Nam nóng và khô Vì thế, đặc điểm khí hậu vùng này là nắng nhiều, mưa tương đối ít và khí hậu có tính chất cận nhiệt
Trang 29sản xuất của người dân Điển hình trong thời gian gần đây là các năm 2009, 2010, lượng mưa ít vào các tháng mùa khô gây ra tình trạng hạn hán nghiêm trọng.
Mùa hạ từ tháng 4 đến tháng 10 tương ứng với mùa mưa Đây là thời kỳ nóng
ẩm, nhiệt độ trung bình năm trên 250C (tháng nóng nhất có thể lên tới 370
- 380C) Mưa nhiều, thường kèm gió xoáy, lũ quét gây sạt lở, cuốn trôi nhà cửa, hoa màu,
mưa đá cũng xuất hiện rải rác vào cuối mùa xuân đầu mùa hạ và thường đi kèm với hiện tượng gió xoáy cục bộ Trong thời gian gần đây, hai năm 2008, 2010 chịu hậu quả nặng
nề nhất của mưa lũ Mưa lớn trong 2 ngày 8 – 10/ 8 / 2008 gây ra lũ quét, sạt lở nghiêm trọng, làm thiệt hại nặng nề nhất trong vòng 40 năm gần đây Trong năm 2010, thiên tai ảnh hưởng nhiều tới sản xuất nông, lâm nghiệp và đời sống người dân xã Kiên Thành Chỉ riêng một đợt mưa lũ trong tháng 8/ 2010 đã quét 14,86 ha lúa, 4 ha hoa màu khác,
vỡ toàn bộ 10 ao nuôi cá, cuốn trôi 3 cầu tạm, sạt lở ta-luy của 90 hộ gia đình, sạt lở taluy làm cô lập giao thông liên thôn, liên xã
Ngoài ra, địa phương cũng ghi nhận thấy một số hiện tượng khí hậu cực đoan trong những năm gần đây như hiện tượng rét đậm, rét hại kéo dài vào các tháng 3, tháng 4, tháng 5, lượng mưa và lượng dòng chảy thường thấp hơn trung bình nhiều năm Đặc biệt trong 3 năm 2007, 2008, 2009, lưu lượng dòng chảy trên các khe suối chỉ bằng 70% của trung bình nhiều năm cùng kỳ, gây ảnh hưởng tới cây trồng và phát điện Ngược lại, những hiện tượng lốc xoáy, lũ lụt gây sạt lở đất có xu hướng gia tăng về cường độ và mức độ bất thường Theo thống kê của ban Phòng chống lụt bão và cứu nạn tỉnh Yên Bái, mỗi năm khu vực huyện Trấn Yên có từ 3 đến 5 trận lốc; 4 đến 6 trận lũ quét, còn hiện tượng sạt lở thì năm nào cũng xảy ra gây ra những thiệt hại nghiêm trọng về người
và tài sản Mưa to sớm và kéo dài làm cho mùa lũ trên hầu hết các sông xuất hiện sớm vào đầu tháng 7, sớm hơn so với quy luật lũ nhiều năm gần một tháng Lượng mưa ngày, mưa tháng đều tăng lên, đồng thời với việc gia tăng tần số các đợt mưa lớn trên diện rộng thì các đợt hạn hán cũng diễn ra khốc liệt Nền nhiệt 5 năm gần đây có sự tăng cao hơn các thập kỷ qua Sự gia tăng cả về trị số nhiệt độ và tần số các đợt nắng nóng Các hiện
Trang 30153
tượng thời tiết cực đoan đó tác động sâu sắc tới sản xuất và sức khỏe của người dân địa phương
Sông suối
Xã Kiên Thành có một mạng lưới khe (khuổi) suối (nặm) dày đặc, trong đó, lớn nhất
là suối Rào (nặm Rào) và ngòi Gùa (nặm Vùa) Ngòi Gùa chảy qua địa phận thôn Đồng
Song, qua xã Y Can và cuối cùng hòa vào dòng sông Hồng đổ về xuôi Các dòng chảy nhỏ của ngòi Gùa và dòng suối lớn này cung cấp nước cho khu vực thôn Đồng Song và
Đá Khánh Còn suối Rào2
bắt nguồn từ những thác nước (đát/ tát) lớn trong những đỉnh
núi cao ở địa phận thôn Đồng An và chảy uốn lượn men theo chân thung lũng ở khu vực trung tâm xã Con suối này chảy dọc qua các thôn Đồng An, Kiên Lao, một phần của thôn Yên Thịnh và hợp lưu với một khe suối nhỏ trước khi tạo thành một dòng lớn ở đầu thôn An Thịnh và chảy tiếp sang địa phận xã Y Can Tại xã Y Can, hai dòng suối lớn này gặp nhau, cộng thêm một số khe nhỏ nữa, nhập thành một dòng chảy lớn hơn và đổ ra
sông Hồng
Mạng lưới khe suối này cung cấp nước sinh hoạt và là hệ thống tưới tiêu nước cho toàn bộ đất canh tác trong xã Trên các đầu nguồn khe, suối, người dân thường đặt nhiều ống vầu hoặc nứa dại nối tiếp nhau, những ống nối tiếp này được giữ cố định trên các bờ
đất hoặc những cọc buộc chéo nhau để dẫn nước (hệ thống dẫn nước này được gọi là lần)
về tận nhà để sinh hoạt Thường vài hộ gia đình chung nhau một lần nước lấy từ khe suối
về và xẻ nhỏ ra các ống dẫn phụ trực tiếp vào từng nhà Trong khu vực sinh sống của người Tày, suối Rào chảy qua khu vực đất canh tác nông nghiệp ở thung lũng trung tâm
xã và gần như bao trọn lấy thung lũng này nên rất thuận lợi cho việc dẫn nước vào các thửa ruộng nằm sát ngay bên bờ suối Với những thửa ở xa hơn, người dân cũng dẫn nước bằng những con mương nhỏ từ suối Rào hoặc từ một vài khe nhỏ gần ruộng hơn Đặc điểm chung của những con mương ở khu vực này là tương đối ngắn bởi đã có dòng
2 Suối Rào được gọi bằng những cái tên khác nhau khi chảy qua từng khu vực trong xã Những thác nước từ trên đỉnh
núi tạo ra dòng chảy này được gọi là “thác Rào (Đát Rào)”, nhưng đoạn đi qua thôn Đồng An và khu thung lũng trung tâm được gọi là suối Chuổm (nặm Cuốm), đến khi gặp một số dòng chảy nhỏ hơn ở thôn An Thịnh, tạo thành con suối lớn lại được gọi là suối Rào (nặm Rào)
Trang 31suối chạy dọc theo thung lũng, chỉ cần có các con mương nhỏ chạy ngang để dẫn nước
Để thuận tiện hơn cho việc dẫn nước vào đồng ruộng, người Tày ở đây cũng thường chắn
ngang dòng suối bằng các phai để nước dâng cao hơn Trước đây, khi chưa có điện, trên các phai này, nhiều gia đình cũng tận dụng để đặt các máy phát điện nhỏ và tải điện về
thắp sáng Đến nay, điện lưới quốc gia đã được mắc ở khu vực trung tâm xã nên không ai
còn đặt máy phát điện ở các phai nước nữa Không chỉ cung cấp nước cho sinh hoạt, sản
xuất, những khe suối này còn gắn chặt với cuộc sống thường ngày của người dân Chỉ vài năm trước đây, khi chưa có bể chứa nước, các chị em phụ nữ hàng này phải mang quần
áo ra giặt giũ bên bờ suối Những dòng chảy này cũng cung cấp nguồn thủy sản thường xuyên, người dân vẫn thường ra suối Rào đánh bắt cá, tôm, mò cua, ốc, trai, hến
Nhìn chung, những dòng suối và các khe nhỏ này cung cấp đủ nước cho sản xuất và sinh hoạt của người dân ở đây Nhưng, vào mùa mưa, nước ồ ạt từ các núi cao chảy tràn xuống thấp làm nước lũ dâng lên rất đột ngột Những cơn lũ thường tới rất bất ngờ, dữ dội, khiến người qua suối không kịp quay vào bờ hoặc bơi qua suối Nhiều khi, buổi sáng lội qua suối Rào vẫn thấy dòng chảy êm đềm, nước trong, nhưng đến trưa hoặc chiều, thậm chí chỉ vài tiếng sau thì dòng suối đã đục ngầu, sôi sục, chảy băng băng, rộng và sâu gấp nhiều lần so với bình thường, có thể cuốn trôi mọi cầu cống bắc ngang qua suối
và nhấn chìm hoa màu hai bên bờ suối Những chiếc cống bắc qua suối Rào ở thôn Đồng
An năm nào cũng bị lũ tàn phá Ngược lại, khi mùa khô hanh đến, những khe suối này cạn trơ lại đá tảng và cát sỏi, chỉ còn lại ít nước chảy cầm chừng Các con suối, khe, thác nước vẫn gắn với đời sống sinh hoạt thường ngày, vừa hiền hòa, gần gũi với người dân lại vừa đe dọa, hung dữ mang theo ẩn họa khôn lường
Rừng
Rừng chiếm tới 92% tổng diện tích đất tự nhiên toàn xã Kiên Thành Ở khu vực thung lũng trung tâm, người dân sống tương đối tập trung kiểu mật tập, còn lại các thôn bản ở xa, cư dân đều sống khá thưa thớt, rải rác, gần như bị bao bọc trong những cánh rừng Thực ra, trong khu vực thung lũng, các gia đình người Tày cũng làm nhà ngay ở khu vực giáp ranh giữa vùng đất trũng của thung lũng sát với bìa rừng Những căn nhà ở
Trang 32155
khu vực này thường quay mặt ra phía thung lũng thấp, quay lưng lại phía sườn núi nên thường chỉ cần ra sau nhà vài trăm mét là đã lên tới khoảng rừng sau lưng
Theo phân loại của chính quyền xã, rừng ở địa phương được chia làm hai loại: rừng
tự nhiên phòng hộ và rừng sản xuất Những cánh rừng thuộc diện phòng hộ được bảo vệ, không cho phép phát nương làm rẫy Tuy được chính quyền xã hô hào bảo vệ rừng chặt chẽ, nhưng nhìn chung một diện tích rừng khá lớn của xã vẫn bị khai thác gỗ hoặc bị phát
để trồng các loại cây lâm nghiệp một cách lén lút Ở những vạt rừng sâu, kiểm lâm không thường xuyên kiểm tra được, việc chặt gỗ, trồng cây diễn ra khá tự nhiên và thường xuyên Còn lại, rừng sản xuất hiện nay được các hộ gia đình trồng cây lâm nghiệp hoặc trồng lúa nương và các hoa màu khác Những loại cây lâu năm phổ biến được trồng ở đây gồm quế, keo, bồ đề, măng tre bất độ
Về các loại lâm sản trong rừng, theo người dân ở địa phương, rừng gỗ quý nhiều
năm tuổi gần như không còn nữa, ở những khu rừng được gọi là “rừng sâu” (tầm khầm –
ở các thôn như Đồng Song, Đồng Ruộng) cũng đã có bước chân người vào khai thác gỗ
Nhưng vẫn còn những vạt rừng rậm chứa những loại cây quý như đinh, lim, sến, táu,
…Những vạt rừng này rất khó tiếp cận bởi núi cao hiểm trở nhưng vẫn là mục tiêu khai thác trái phép từ nhiều năm nay mặc cho đôi khi có vài vụ tai nạn nghiêm trọng dẫn tới tử vong tại những khu vực núi non trùng điệp này Trong rừng sâu vẫn còn một số loài động vật tự nhiên như hoẵng, hươu, nai, nhím, trăn, gà rừng…đôi khi có cả lợn rừng Từ hai,
ba mươi năm nay đã vắng bóng các loài hổ, báo quý hiếm
Ngoài rừng sâu, các cánh rừng phòng hộ ở gần khu trung tâm đã bị khai thác cạn kiệt, hầu như chỉ còn những loại cây không có giá trị, nhiều nhất là các loài tre, nứa Thậm chí những cánh rừng vốn dày đặc chuổm, giang, nứa cũng cũng bị đào xới sâu vài chục centimet để tìm măng khiến cho các loài cây này không sinh trưởng kịp so với sức khai thác của con người Quan sát từ xa, những quả núi này vẫn xanh ngắt nhưng thực ra bên trong đã bị khai thác, đào xới tới từng lớp đất Nhìn những người dân tộc thiểu số người Tày, Dao, Hmông ở đây lam lũ gùi từng gùi măng nặng nề sau cả ngày vác mai, thuổng đi đào, chúng tôi hiểu rằng họ không có nhiều lựa chọn để có tiền trang trải sinh
Trang 33hoạt phí Và rằng khai thác gỗ ở tầm khầm nguy hiểm nhưng sẽ giải quyết được nhiều
nhu cầu thiết yếu của cuộc sống hơn các chương trình sinh kế được tung hô là bền vững nhưng lại chậm triển khai, nhỏ giọt hoặc không đem lại hiệu quả rõ ràng Dẫu vậy, rõ ràng, việc khai thác rừng đó khiến cho các cơn lũ vốn rất hung dữ càng thêm khốc liệt cuốn phăng tất cả lớp mùn, đất bề mặt trong rừng mà không còn bị ngăn cản nhiều bởi thảm thực vật dày đặc như trước kia
Khu vực rừng sản xuất của người dân lại có hai diện mạo khác nhau Những cánh rừng trồng cây lâu năm luôn xanh tốt, thẳng tắp và đều đặn cho cảm giác địa phương này trồng, giữ rừng rất tốt Thường các loại cây quế, keo, bồ đề, măng tre bất độ… sẽ được thu hoạch theo chu kỳ hàng 7 đến 10 năm, và sau khi thu hoạch xong sẽ được trồng mới ngay nên ít khi vắng bóng màu xanh trên những quả núi này Ngược lại, những nương tương đối thấp được người dân trồng lúa khô, sắn, ngô nhìn khá trơ trụi mỗi khi tới mùa thu hoạch Ngay cả trong những ngày cây hoa màu xanh tốt hoặc gần thu hoạch vẫn mang lại cảm giác trống trải, trọc lốc trên những quả đồi vốn đã được gắn liền với màu xanh
Nhìn chung, rừng vẫn gắn chặt với đời sống thường ngày của người dân bởi nơi đây mang lại nguồn lợi thường xuyên, tương đối bền vững Mặc dù họ thấy rõ được nguy cơ trước mắt và lâu dài đối với việc khai thác trắng nguồn lợi rừng nhưng gần như họ chưa
có lựa chọn nào khác trước các đòi hỏi bức bách của nhu cầu sinh hoạt hàng ngày Dù được khai thác nhiều, nhưng nhìn ngược từ thung lũng hay các chân núi nhìn lên, các khu rừng vẫn xanh thẫm một màu, ẩn chứa trong đó những bí ẩn mà con người chưa thể hiểu hết được Và không gian lao động trong rừng, không gian sinh hoạt gần rừng khiến cho con người không thôi có những thắc mắc, ám ảnh và cả những nỗi lo sợ trước màn nhung đen thẫm của rừng thẳm Những đứa trẻ sinh ra, lớn lên đã thấy rừng, người qua đời nằm xuống ngay ở bìa rừng, thế hệ nối tiếp thế hệ chung sống với rừng khiến những câu chuyện kể về ma trong rừng luôn hiện hữu với mỗi ai Tóm lại, cho dù có vài sự đổi khác, suy kiệt đi, nhưng không gian rừng, suối vẫn luôn gắn chặt với đời sống tinh thần, vật chất của người dân nơi đây Không gian ấy bí ẩn, có những bất trắc rình rập, có thể xảy ra với bất cứ ai Và phải chăng sự bất trắc ấy khiến người dân luôn duy trì niềm tin
Trang 34Nguồn: Báo cáo kinh tế xã hội xã Kiên Thành, 2010
Đặc điểm gia đình của các hộ người Tày: Hầu hết các gia đình có từ 3 người trở lên, quy mô gia đình phổ biến ở các hộ trả lời bảng hỏi là gia đình có 4 hoặc 5 người (tương ứng là 37,8% và 22,2%), rất ít hộ gia đình chỉ có 2 người (6,7%) hoặc 7 người (2,2%)
Bảng 1.2: Quy mô gia đình của người Tày ở xã Kiên Thành
Trang 35Mô hình hộ gia đình gồm hai thế hệ (cha mẹ và con cái) phổ biến nhất với 68,9%3
có thể bổ sung cho nhau, làm phong phú tri thức về sức khỏe nhưng cũng có thể dẫn tới những mâu thuẫn nhất định trong thực hành chăm sóc sức khỏe ở cùng một gia đình có con/ cháu làm dâu/ rể là người khác tộc
Kinh tế
+ Cơ sở hạ tầng trong xã
Giao thông: Mạng lưới giao thông được hình thành , san ủi phẳng song chưa được hoàn chỉnh, chưa có đường tiêu chuẩn kỹ th uâ ̣t cao, phần lớn là đường cấp bốn, nhiều tuyến chưa vào cấp , chưa thông xe được tất cả các tháng trong năm, mùa mưa lũ nhiều đoa ̣n đường bi ̣ ngâ ̣p hoă ̣c sa ̣t lở nghiêm tro ̣ng Chỉ có một đoạn đường dốc rất dài, quanh
co ngay khu vực bắt đầu vào xã (giáp với xã Y Can) mới được đổ bê tông cho các phương tiện giao thông dễ qua lại Con đường giao thông liên xã qua Kiên Thành được san ủi từ năm 2004 đã dễ đi rất nhiều so với con đường cũ do lâm trường khai thác gỗ và trại tù để lại từ trước khi họ rời đi Con đường trước đây được mô tả là rất nhỏ, hẹp, nhiều đá hộc và rất dốc, nhất là ba đoạn đường bị dòng suối Rào chảy cắt ngang qua tạo
ra những rãnh sâu tới vài mét Trước năm 2004, xã Kiên Thành gần như biệt lập với bên ngoài, chỉ có một số lái buôn mua lâm sản qua lại mỗi khi tới mùa thu hoạch Từ khi con đường giao thông này được san ủi, giảm bớt độ cao của các con dốc dài dựng đứng và bắc ba cây cầu qua ba đoạn suối sâu, điều kiện đi lại của người dân nơi đây đã thay đổi hẳn Người dân dễ dàng đi tới các khu vực trung tâm, các lái buôn mang hàng hóa vào cũng như thu mua sản vật ở đây dễ dàng hơn so với trước Tuy vậy, những khó khăn vẫn
3
Để so sánh với tình hình chung trong cả nước, theo điều tra gia đình Việt Nam gần đây nhất vào năm 2006 cho thấy tỉ
lệ hộ gia đình có mô hình 2 thế hệ là 64,3%
Trang 36159
chưa hết hoàn toàn, đèo dốc vẫn còn và sạt lở taluy vào mùa mưa lũ vẫn xảy ra thường xuyên Mặt khác, kể từ khi ủi lại đường, chính quyền cho phép khai thác mỏ sắt thuộc thôn Đá Khánh, xã Kiên Thành khiến các xe chở quặng đi lại liên tục đã ảnh hưởng nhiều tới chất lượng đường Cho tới thời điểm chúng tôi đi điền dã, cán bộ của UBND xã Kiên Thành cho biết thời gian tới, xã sẽ có đường giao thông bằng bê tông do chương trình 135 bỏ vốn đầu tư
Điện: Trước năm 2000, Kiên Thành chưa có điện lưới Toàn bộ cư dân ở đây đều
thắp sáng bằng dầu hỏa; chỉ có 1 – 2 hộ gia đình có máy phát điện loại nhỏ đặt ở các phai
nước có bóng điện, tuy vậy, loại điện nước này rất yếu, chập chờn, đặc biệt vào những ngày mưa lũ Từ năm 2000, điện lưới quốc gia đã được mắc tại xã Kiên Thành, đây trở thành nguồn thắp sáng của toàn bộ các hộ gia đình trong xã Những năm gần đây, nhu cầu sử dụng điện không chỉ dừng lại ở thắp sáng, nhiều gia đình đã mua các thiết bị điện gia dụng khác như nồi cơm điện, quạt điện, thậm chí cả tủ lạnh Tuy vậy, chất lượng dịch
vụ cung cấp điện ở đây không tốt, điện rất yếu, thường không thể nấu chín một nồi cơm điện vào mùa hè, thậm chí các bóng điện cũng rất mờ
Chợ: Trước năm 2004, điều kiện giao thông từ Kiên Thành ra tới các địa phương khác cực kỳ khó khăn, muốn tới chợ huyện thường phải mất cả ngày đường cho cả đi lẫn
về Thời điểm đó cũng không có nhiều thương lái mang hàng hóa nhu yếu phẩm vào đây, chỉ có vài thương lái thu mua lâm sản kết hợp mang hàng nhưng bán với giá rất đắt so với chợ huyện Năm 2005, chợ phiên Kiên Thành được mở vào các ngày thứ 6 hàng tuần giúp người dân dễ dàng mua bán hơn Nhiều mặt hàng nhu yếu phẩm và thực phẩm được bày bán, ngược lại, người dân cũng có thể mang lâm sản bán ở đây Tuy vậy, cũng giống thực trạng ở nhiều chợ và các gian hàng nông thôn miền núi khác4, nhiều mặt hàng được bán ở chợ Kiên Thành có chất lượng rất kém, không rõ nguồn gốc, hết hạn sử dụng hoặc
là hàng hóa làm giả, làm nhái Theo quan sát của chúng tôi khi đi chợ, rất nhiều loại thực phẩm như cá đông lạnh, gà công nghiệp đông lạnh có mùi khó chịu vẫn được bày bán và
4 Đã có rất nhiều bài báo phản ánh thực trạng hàng kém chất lượng, hàng giả, hàng nhái tràn ngập chợ quê, chợ miền núi một cách không có kiểm soát:
Thụy Văn, Tràn ngập hàng kém chất lượng ở các chợ miền núi, Báo Biên phòng online, ngày 20/ 1/ 2011
PV, Hàng giả, hàng nhái tuồn về nông thôn, Trang tin Chất lượng Việt Nam online, ngày 19/ 10/ 2012
Trang 37nhiều người mua Nhiều loại dầu ăn, nước mắm được đóng bao bì không có nhãn mác, hạn sử dụng Trong thời gian chúng tôi điền dã, đã có một trường hợp người dân mua thức ăn ở chợ về nấu và bị tiêu chảy cấp, gia đình họ cho rằng thức ăn mua ở chợ không tốt gây ngộ độc thực phẩm Nhưng cán bộ của trạm y tế xã cho chúng tôi biết rằng trường hợp đó chỉ là rối loạn tiêu hóa, xã chưa ghi nhận trường hợp nào ngộ độc thực phẩm Có
lẽ việc thừa nhận có trường hợp ngộ độc thực phẩm không dễ dàng, bởi điều đó còn liên quan tới thành tích tuyên truyền, chống các loại hàng hóa kém chất lượng của xã
Trường học: Xã Kiên Thành có 1 trường liên cấp tiểu học – trung học cơ sở đặt tại trung tâm xã và các lớp mẫu giáo ở mỗi thôn Học sinh ở các thôn gần trung tâm đi học tương đối dễ dàng nhưng ở các thôn xa gặp rất nhiều khó khăn Nhiều em học sinh người Dao, Hmông ở các thôn xa như Đá Khánh, Đồng Song, Đồng Phay, Đồng Ruộng phải thuê nhà ở gần trường để có thể đi học hàng ngày, cuối tuần về nhà Một số em học sinh
và phụ huynh cho chúng tôi biết, kể từ năm 2012, những học sinh ở các thôn xa (Đồng
An, Đá Khánh, Đồng Song, Đồng Ruộng, Đồng Phay, Khe Ba) được nhận một khoản tiền trợ cấp nhỏ hàng tháng để giúp các em trả khoản tiền ăn và tiền thuê trọ Hết bậc trung học cơ sở, học sinh phải đi học ở trường phổ thông trung học của huyện Trấn Yên Không phải học sinh nào cũng có thể vào trường phổ thông dân tộc nội trú, mà các em phải trải qua một vòng thi đầu vào Vì vậy, đa số học sinh ở đây học ở trường phổ thông trung học Lê Quý Đôn của huyện Trấn Yên tại thị trấn Cổ Phúc Vì đường xa, phải qua
đò nên các học sinh này phải thuê nhà ở thị trấn, đến cuối tuần mới trở về nhà
+ Nguồn thu chính: nguồn thu chính của toàn bộ người dân trong xã từ nông nghiệp
và lâm nghiệp Tổng diện tích đất nông nghiệp toàn xã: 394,33 ha (chiếm 4,5% tổng diện tích đất tự nhiên), trong đó đất trồng lúa 2 vụ: 110 ha; tổng diện tích đất lâm nghiệp: 7.959,24 ha (chiếm 91,8% diện tích đất tự nhiên); đất khác: 311,07 ha (chiếm 3,7% diện tích đất tự nhiên)
Diện tích đất nông nghiệp ở Kiên Thành tuy không nhiều nhưng có ý nghĩa với người Tày ở đây bởi họ tập trung sinh sống chủ yếu ở khu vực thung lũng thấp của xã (địa bàn các thôn An Thịnh, Yên Thịnh, Kiên Lao, Đồng An, Đồng Cát, Cát Tường), sở
Trang 38Bên cạnh trồng trọt, người dân còn chăn nuôi nhiều loại gia súc, gia cầm khác nhau, thi thoảng có một vài hộ nuôi cá ở các ao nhỏ Loại gia súc lớn chủ yếu là trâu được nuôi
để lấy sức cày kéo Hầu hết các hộ gia đình đều nuôi lợn như một khoản dự trữ lúc cần đến tiền và để mổ vào các dịp tết hoặc phải làm lễ Gà là gia cầm phổ biến nhất, kế đến là vịt, rất ít hộ nuôi ngan hoặc ngỗng, đây là nguồn cung cấp thực phẩm, và cũng thường được dự trữ phòng đến các dịp lễ, tết Nhìn chung chăn nuôi ở các hộ gia đình chỉ ở mức nhỏ lẻ, chưa thấy có trường hợp đầu tư lớn vào nuôi nhiều gia súc hay gia cầm Người dân vẫn ưa thích làm rừng, rẫy hơn là tập trung chăn nuôi Có lẽ một phần nguyên do là các vấn đề về dịch bệnh khiến người dân lo lắng Ngoài ra, tập quán nuôi thả, nuôi tự nhiên cũng ảnh hưởng tới chăn nuôi của người dân
Trong vài năm qua, nhờ chủ chương, chính sách của nhà nước (trực tiếp từ chương trình giảm nghèo 135), chính quyền địa phương đã có nhiều động thái hỗ trợ sản xuất của người dân thông qua việc hỗ trợ trực tiếp đầu vào cho sản xuất nông nghiệp, bao tiêu sản phẩm lâm nghiệp Tuy vậy, đánh giá những chính sách này, người dân cho rằng những
hỗ trợ trực tiếp kiểu “cho không” của nhà nước và công việc xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng là có ích nhất Còn các mô hình sinh kế khác không hoàn toàn khả thi.5
5 Các hộ nghèo, cận nghèo thường nhận được phân bón, giống cây con và được hỗ trợ kỹ thuật Để tìm đầu ra cho một
số sản phẩm lâm sản, chính quyền địa phương đã liên hệ với một số công ty tư nhân (công ty TNHH Vạn Đạt) để bao tiêu đầu ra cho măng tre bất độ Ngoài ra, cũng bắt đầu có một tổ chức phi chính phủ (Tổ chức Tầm nhìn thế giới – World vision) đến hỗ trợ cho các hộ nghèo bằng việc hỗ trợ đầu vào sản xuất cho một số hộ gia đình nghèo, cận nghèo cũng như dạy kỹ thuật Những chương trình này mặc dù được cán bộ địa phương đánh giá rất cao nhưng từ phía người dân lại có nhiều phản ứng khác nhau Người dân hài lòng với các khoản “cho” trực tiếp như cho phân bón, giống cây…từ nhà nước, nhưng ngược lại, không hài lòng với hỗ trợ bao tiêu đầu ra vì có những tin đồn chính quyền cấu kết
Trang 39Bình quân lương thực đầu người và bình quân thu nhập đầu người: Bình quân lương thực có hạt là 310kg/người/ năm; Thu nhập bình quân 8,2 triệu đồng/ người/ năm Tỉ lệ
hộ nghèo của xã Kiên Thành năm 2010 là 22,8%, các thôn đặc biệt khó khăn hơn cả, có
tỉ lệ hộ nghèo cao đều tập trung người Hmông và người Dao sinh sống gồm: Đá Khánh, Đồng Song, Đồng Phay, Khe Rộng, Đồng Ruộng, Khe Ba (báo cáo Kết quả thực hiện chương trình 135 giai đoạn II năm 2006 – 2010 xã Kiên Thành)
Tại thời điểm chúng tôi tiến hành làm phiếu hỏi thu thập thông tin phục vụ luận
văn, khi trả lời câu hỏi về kinh tế hộ gia đình (câu hỏi: “theo nhận xét của ông/ bà, kinh
tế gia đình ta thuộc loại nào, trong tương quan tới điều kiện chung ở thôn”), trong tổng
số 45 mẫu phiếu tại các thôn An Thịnh, Kiên Lao, Đồng An, có 22,2% hộ nghèo, 62, 2%
hộ trung bình, 15,6% hộ khá
Đa số người Tày ở đây có nguồn thu chính từ làm kết hợp nông nghiệp và lâm nghiệp (48,9%) hoặc nông nghiệp (26,7%), chỉ có một số ít hộ gia đình có thu nhập chính
từ duy nhất lâm nghiệp (2,2%) hoặc dịch vụ (2,2%)
Biểu đồ 1.3 Tỉ lệ hộ gia đình người Tày phân theo các nguồn thu chính
Nguồn: Nguyễn Thu Quỳnh, Điều tra bảng hỏi tháng 2 năm 2012
với tư nhân ép giá măng tre bất độ Giống vật nuôi (gà, lợn) của tổ chức Tầm nhìn thế giới nhiều lần bị từ chối, đùn đẩy
và “nhận cho có” vì người dân cảm thấy bị “hèn kém” đi trong mắt người khác khi nhận hỗ trợ từ ai đó
Trang 40163
Về tài sản hiện có, nhìn chung, các hộ gia đình người Tày được hỏi đều có những tài sản thiết yếu cho cuộc sống như: điện thoại - công cụ truyền tải thông tin quan trọng (93,3% hộ được hỏi có điện thoại di động, 22,2% số hộ được hỏi có điện thoại bàn), mỗi gia đình có ít nhất một chiếc điện thoại để liên lạc khi cần thiết, mặc dù sóng điện thoại ở đây yếu, chập chờn, hay mất sóng (các thôn Đồng Song, Đá Khánh chưa có sóng điện thoại di động) do địa hình núi cao, chưa có trạm thu phát sóng Tỉ lệ hộ dân có xe máy là 95,6%, có xe đạp là 64,4%, đây là các phương tiện giao thông thiết yếu trong cuộc sống hàng ngày, đặc biệt là những khi có công việc đột xuất, cần di chuyển ngay tức khắc Việc có những phương tiện thông tin, phương tiện giao thông này cũng giúp ích nhiều trong việc chăm sóc y tế khi có sự cố về sức khỏe xảy ra Tuy vậy, địa bàn xã Kiên Thành thường hay bị cô lập mỗi khi có mưa bão, lũ, khi đó, ngay cả việc liên lạc bằng điện thoại bàn hoặc điện thoại di động cũng rất khó khăn Mưa, bão vào mùa hè thường gây ra tai nạn thương tích Mặt khác, đặc thù lao động của người Tày ở đây là thường hay lao động trên núi cao, tìm kiếm lâm thổ sản trong rừng sâu Việc tìm kiếm cứu nạn khẩn cấp trong rừng rất khó khăn6
100% hộ dân có ti vi (tính cả ti vi màu và đen trắng), ít nhất đây là kênh cập nhật nhiều luồng thông tin về xã hội, giáo dục, y tế… của người dân 64,4% các hộ gia đình
có đầu video, một số ít gia đình có dàn karaoke (6,7%)
Những phương tiện hỗ trợ đời sống hàng ngày cũng ngày càng được bổ sung nhiều, như quạt điện (100%), bếp gas (25,6%), tủ lạnh (25,6%), thậm chí có một số ít gia đình
đã mua được máy giặt (6,7%) và bình nóng lạnh (2,2%)
Điều kiện vệ sinh dịch tễ của người Tày ở địa phương
Đa phần người dân có nguồn nước an toàn và sử dụng nhà xí tương đối hợp vệ sinh Nước uống an toàn và hố xí hợp vệ sinh là những yếu tố thiết yếu nhằm đảm bảo sức khỏe tốt Nước uống không an toàn và hố xí không hợp vệ sinh có thể là yếu tố mang mầm mống các bệnh tật như đau mắt hột, tiêu chảy, bệnh tả, thương hàn và sán máng
6
Tháng 12 năm 2009, một nhóm người Tày ở thôn An Thịnh vào rừng tìm kiếm lâm sản, không may gặp tai nạn trọng thương nhưng không thể cấp cứu kịp thời, sau hơn 4 tiếng đường rừng, người bị nạn mới được đưa về trạm xá của xã để cấp cứu nhưng đã tử vong