Chính bằng những hiểu biết và thái độ, hành vi bảo vệ sức khoẻ sinh sản của chính vị thành niên; thái độ đánh giá, nhìn nhận hành vi QHTD ở lứa tuổi vị thành niên của cộng đồng đặc biệt
Trang 1Đại học Quốc gia Hà Nội
Tr-ờng Đại học khoa học xã hội và nhân văn
-
Phạm thị anh minh
TháI độ xã hội đối với hành vi quan hệ tình dục của vị thành niên
(Nghiên cứu tr-ờng hợp tại xã Liêm Cần - huyện Thanh Liêm - tỉnh Hà Nam và
ph-ờng Đồng Xuân - quận Hoàn Kiếm - Hà Nội)
Chuyên ngành: Xã hội học Mã số : 60 31 30
Luận văn thạc sỹ Xã hội học
Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Bá Thịnh
Hà Nội - 2011
Trang 2MỤC LỤC
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn 5
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5 Câu hỏi nghiên cứu 9
6 Giả thuyết nghiên cứu 9
7 Phương pháp nghiên cứu 9
8 Khung lý thuyết 12
9 Hạn chế của luận văn 13
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỀ TÀI 14
1.1 Cơ sở lý luận 14
1.1.1 Phương pháp luận Mácxít 14
1.1.2 Các lý thuyết xã hội học 14
1.1.3 Một số khái niệm công cụ 18
1.2 Cơ sở thực tiễn 25
1.2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 25
1.2.2 Một số đặc điểm địa bàn khảo sát và đối tượng khảo sát 31
CHƯƠNG 2: THÁI ĐỘ XÃ HỘI ĐỐI VỚI HÀNH VI QUAN HỆ TÌNH DỤC CỦA VỊ THÀNH NIÊN 33
2.1 Quan điểm của cộng đồng về SKSS và tình dục 33
2.1.1 Ý kiến của cộng đồng về giáo dục SKSS VTN 33
2.1.2 Nhận thức và quan niệm của cộng đồng về QHTD 36
2.2 Thái độ xã hội đối với hành vi QHTD của VTN 38
2.2.1 Quan hệ yêu đương của VTN 39
2.2.2 Ý kiến của cộng đồng về hành vi QHTD của VTN 41
2.2.3 Hiện tượng VTN mang thai 43
2.2.4 Giáo dục SKSS, QHTD đối với VTN 45
2.2.5 Công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức SKSS ở địa phương 46
Trang 3CHƯƠNG 3 CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NHẬN THỨC, THÁI ĐỘ CỦA CỘNG ĐỒNG ĐỐI VỚI HÀNH VI QHTD CỦA VỊ THÀNH NIÊN
49
3.1 Các yếu tố mang đặc điểm nhân khẩu học 49
3.1.1 Giới tính 49
3.1.2 Địa bàn cư trú 56
3.1.3 Trình độ học vấn 64
3.1.4 Nghề nghiệp 66
3.2 Các yếu tố môi trường, truyền thông và các mối quan hệ 68
3.2.1 Gia đình 69
3.2.2 Nhà trường 69
3.2.3 Truyền thông đại chúng 70
3.2.4 Các yếu tố quan hệ xã hội 70
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 71
1 Kết luận 71
2 Một số khuyến nghị 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Phụ lục………78
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 5DANH MỤC BẢNG, BIỂU TRONG LUẬN VĂN
I DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 2.1 Nội dung và nhu cầu cung cấp thông tin về SKSS cho VTN 33
Bảng 2.2 Ý kiến của cộng đồng về kênh giáo dục SKSS cho VTN 35
Bảng 2.3 Ý kiến của cộng đồng về hậu quả của việc
QHTD trước hôn nhân 38
Bảng 2.4 Ý kiến cộng đồng về hạu quả có thể xảy ra khi VTN có quan hệ tình dục 40
Bảng 2.5 Ý kiến của cộng đồng về hành vi QHTD của VTN 45
Bảng 2.6 Ý kiến của cộng đồng về hình thức để nâng cao nhận thức SKSS ở VTN 46
Bảng 2.7 Ý kiến cộng đồng về tổ chức sinh hoạt Đoàn, phổ biến kiến thức SKSS 47
Bảng 3.1 Ý kiến đối với việc giáo dục SKSS cho VTN theo giới tính 50
Bảng 3.2 Giới tính và quan hệ yêu đương của VTN dẫn đến QHTD 50
Bảng 3.3 Ý kiến về QHTD trước hôn nhân theo giới tính 51
Bảng 3.4 Ý kiến của cộng đồng về nguyên nhân của hành vi QHTD theo giới tính 52
Bảng 3.5 Ý kiến cộng đồng về nơi sinh sống có VTN mang thai theo giới tính 53
Bảng 3.6 Thái độ đối với hiện tượng VTN mang thai theo giới tính 53
Bảng 3.7 Kênh thông tin được người dân tìm hiểu về SKSS theo nơi ở 57
Bảng 3.8 Ý kiến đánh giá về hành vi QHTD của VTN theo trình độ học vấn 65
Bảng 3.9 Ý kiến đối với hiện tượng VTN vào nhà nghỉ
theo trình độ học vấn 65
Bảng 3.10 Thái độ của cộng đồng đối với hiện tượng VTN mang thai theo trình độ học vấn 66
Trang 6Bảng 3.11 Ý kiến cộng đồng về QHTD trước hôn nhân theo nghề nghiệp 67
Bảng 3.12 Thái độ của cộng đồng đối với hành vi QHTD của VTN theo nghề nghiệp 67
II DANH MỤC BIỂU SỐ LIỆU Biểu đồ 2.1 Nhận định của cộng đồng đối với hành vi QHTD của VTN 39
Biểu đồ 2.2 Thái độ của cộng đồng đối với việc học sinh phổ thông vào nhà nghỉ 43
Biểu đồ 2.3 Nhận định của cộng đồng về hiện tượng VTN mang thai ở nơi sinh sống 43
Biểu đồ 2.4 Phương án hạn chế hành vi QHTD của VTN 47
Biểu đồ 3.1 Giới tính đối với việc tìm hiểu thông tin về SKSS 49
Biểu đồ 3.2 Ý kiến của cha mẹ đối với hành vi QHTD ở tuổi VTN 53
Biểu đồ 3.3 Tương quan giới tính về xử trí khi con ở tuổi VTN có thai 54
Biểu đồ 3.4 Tương quan giới tính khi lựa chọn phương án hạn chế 55
Biểu đồ 3.5 Mức độ tìm hiểu thông tin SKSS qua tương quan nơi ở
Hành vi QHTD của VTN 55
Biểu đồ 3.6 Ý kiến về giáo dục SKSS cho VTN tương quan theo nơi ở 58
Biểu đồ 3.7 Ý kiến về việc VTN có thai ngoài ý muốn theo tương quan nơi ở 60
Biểu đồ 3.8 Thái độ đối với hành vi QHTD của VTN theo nơi ở 62
Biểu đồ 3.9 Cộng đồng nhận định về hiện tượng VTN có thai theo nơi ở 63
Biểu đồ 3.10 Thái độ của cộng đồng đối với hiện tượng VTN mang thai theo nơi ở 63
Biểu đồ 3.11 Ý kiến của cha mẹ đối với hành vi QHTD ở VTN theo nơi ở 64
Trang 71994, đối tượng chủ yếu của những nội dung tuyên truyền này chỉ là các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ VTN chỉ thực sự được coi là một trong các nhóm đối tượng chính sách quan trọng sau Hội nghị này Họ được xác định là một trong các nhóm có “hành vi nguy cơ cao” ảnh hưởng đến sự phát triển chung của đất nước Hiện nay, tình trạng VTN kết hôn sớm, quan hệ tình dục sớm, mang thai ngoài
ý muốn, tỷ lệ nạo phá thai cao, mắc các bệnh lây qua đường tình dục kể cả lây nhiễm HIV/AIDS, vi phạm pháp luật ở vị thành niên đang là thách thức lớn của đất nước Vị thành niên ở Việt Nam chiếm tỷ lệ lớn trong dân số, năm 1999 có 17,4 triệu người, chiếm 22,7% dân số cả nước; năm 2002 tỷ lệ này đã tăng lên 23,8% dân
số Hiện nay, trẻ vị thành niên (từ 10 đến 17 tuổi) có khoảng 23,8 triệu người, chiếm 31% dân số Theo thống kê của Hội Kế hoạch hoá gia đình thì Việt Nam là một trong ba nước có tỷ lệ phá thai cao nhất thế giới (1,2 - 1,6 triệu ca mỗi năm) trong đó 20% thuộc lứa tuổi vị thành niên
Theo số liệu điều tra gần đây của Ủy ban Dân số Gia đình và Trẻ em thì độ tuổi trung bình cho lần quan hệ đầu tiên là 19 tuổi Bên cạnh đó, theo ước tính cứ một triệu ca nạo phá thai thì có gần 30% xảy ra với thanh niên và phụ nữ chưa kết
Trang 8hôn Số trường hợp có thai và sinh con trong nhóm tuổi từ 15 đến 20 dự báo sẽ lên tới đỉnh năm 2010
Chính bằng những hiểu biết và thái độ, hành vi bảo vệ sức khoẻ sinh sản của chính vị thành niên; thái độ đánh giá, nhìn nhận hành vi QHTD ở lứa tuổi vị thành niên của cộng đồng đặc biệt là các bậc cha mẹ thông qua việc giáo dục SKSS, tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của lứa tuổi đang chập chững bước vào đời (VTN) sẽ giúp nâng cao nhận thức của VTN về SKSS, giảm phần nào tỷ lệ nạn nạo phá thai, sinh con ngoài ý muốn, các bệnh lây qua đường tình dục… ở lứa tuổi VTN Vì vậy thái
độ đánh giá, sự tham gia của cộng đồng trong việc chăm sóc SKSS VTN, nâng cao nhận thức và hành vi đối với vấn đề tình dục và QHTD là có ý nghĩa vô cùng quan trọng Sự tham gia của cộng đồng không những có tác động to lớn trong việc giáo dục VTN mà còn góp phần thay đổi thái độ nhìn nhận, đánh giá của chính họ trong việc giáo dục trẻ VTN biết cách bảo vệ SKSS của bản thân và cộng đồng
Chính vì vậy mà việc tìm hiểu thái độ xã hội đối với hành vi quan hệ tình dục của vị thành niên là việc làm hết sức cần thiết, góp phần đưa ra một cái nhìn tổng quan (mức độ tán thành hay phản đối) về vấn đề này, giúp các nhà hoạch định chính sách, những nhà quản lý đưa ra những giải pháp cụ thể nhằm hạn chế những rủi ro trong việc chăm sóc sức khoẻ sinh sản vị thành niên Chính vì thái độ xã hội có cấu trúc nhiều chiều, đa thành tố nên thông qua đó ta có thể thấy được các tác nhân văn hoá, xã hội, xã hội hoá của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập và giao lưu kinh tế toàn cầu ảnh hưởng đến nhân cách và hành vi bảo vệ sức khoẻ về thể lực và trí lực của vị thành niên Thái độ xã hội có chức năng đánh giá và điều hoà các quan hệ xã hội Do vậy việc phân tích thái độ xã hội đối với hành vi quan
hệ tình dục của vị thành niên sẽ mang lại một cái nhìn tổng quan về mức độ đánh giá của cộng đồng từ đó góp phần đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiểu biết của vị thành niên và quản lý giáo dục vị thành niên biết cách bảo vệ bản thân trước
những cám dỗ của môi trường xã hội Đó cũng chính là lý do tôi chọn đề tài “Thái
độ xã hội đối với hành vi quan hệ tình dục của vị thành niên (Nghiên cứu trường hợp tại xã Liêm Cần - huyện Thanh Liêm - tỉnh Hà Nam và phường Đồng Xuân
- quận Hoàn Kiếm - Hà Nội)”
Trang 92 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu tìm hiểu thực trạng thái độ đánh giá (mức độ ủng hộ, tán thành
hay phản đối…) của cộng đồng đối với hành vi quan hệ tình dục cũng như về sự hạn chế trong việc giáo dục nhân cách và sự phát triển toàn diện của vị thành niên,
để góp phần vào việc điều chỉnh chính sách, chương trình giáo dục sức khoẻ sinh sản của Nhà nước, tổ chức, đoàn thể xã hội giúp hạn chế những hậu quả do quan hệ tình dục khi không có đủ kiến thức hiểu biết bảo vệ sức khoẻ bản thân và cộng đồng
Nghiên cứu này có ý nghĩa thực tiễn là thông qua thái độ nhìn nhận, đánh giá của cộng đồng - như là một kênh để truyền tải những thông tin xác thực nhất về ý kiến đánh giá hành vi QHTD của VTN và hậu quả của việc quan hệ tình dục cũng như những tác động tâm lý từ việc quan hệ tình dục đến vị thành niên
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thái độ xã hội đối với hành vi quan hệ tình dục của vị thành niên nhằm tìm hiểu thực trạng thái độ đánh giá (ủng hộ, tán thành hay phản đối) của xã hội đối với hành vi quan hệ tình dục của VTN, đề xuất kiến nghị nhằm nâng cao nhận thức của vị thành niên về việc bảo vệ bản thân và cộng đồng
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Vận dụng khái niệm thái độ xã hội và các khái niệm, các lý thuyết liên quan vào nghiên cứu và phân tích thái độ xã hội đối với hành vi quan hệ tình dục của vị
Trang 10- Đề xuất một số biện pháp tác động thông qua thái độ đánh giá của cộng đồng góp phần nâng cao nhận thức của vị thành niên về tình dục và các biện pháp chăm sóc sức khoẻ sinh sản; nâng cao nhận thức của cộng đồng về việc đánh giá, nhìn nhận hành vi quan hệ tình dục của vị thành niên
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Thái độ xã hội đối với hành vi quan hệ tình dục của vị thành niên
4.2 Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu chính là người dân ở cộng đồng
4.3 Phạm vi nghiên cứu
a Không gian nghiên cứu:
Nghiên cứu được tiến hành trên phạm vi xã Liêm Cần - huyện Thanh Liêm - tỉnh Hà Nam và phường Đồng Xuân - quận Hoàn Kiếm - Hà Nội
b Thời gian nghiên cứu: năm 2010
5 Câu hỏi nghiên cứu
Trong điều kiện kinh tế - văn hoá - xã hội hiện nay thái độ xã hội đối với hành
vi QHTD của VTN như thế nào? Có sự khác biệt gì giữa nông thôn và đô thị trong
đánh giá về vấn đề này?
6 Giả thuyết nghiên cứu
- Các đặc điểm nhân khẩu học có ảnh hưởng đến thái độ đánh giá của xã hội đối với hành vi quan hệ tình dục của vị thành niên Nam giới có xu hướng tán thành nhiều hơn nữ giới
- Nông thôn và đô thị có sự khác biệt trong thái độ đánh giá hành vi QHTD của VTN trên các mức độ ủng hộ, tán thành hay phản đối
7 Phương pháp nghiên cứu
Trang 11+ Lý thuyết gán nhãn
7.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
7.2.1 Phương pháp nghiên cứu định lượng
Phương pháp nghiên cứu định lượng được sử dụng trong luận văn là điều tra chọn mẫu với bảng hỏi cấu trúc Nội dung của bảng hỏi được chia làm 3 nhóm chủ
đề sau:
- Hiểu biết về SKSS và QHTD
- Thái độ xã hội đối với hành vi QHTD của VTN
- Thông tin cá nhân
Để đảm bảo tính đại diện của thông tin, mẫu nghiên cứu của luận văn được chọn theo phương pháp phân cụm theo khu vực địa lý-kinh tế-hành chính cùng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên và chọn mẫu phân tầng tại cơ sở
Luận văn áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích Địa bàn nghiên cứu được chọn là phường Đồng Xuân, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội đại diện cho khu vực đô thị và xã Liêm Cần, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam đại diện cho khu vực nông thôn
Ở mỗi điểm nghiên cứu tiến hành chọn mẫu ngẫu nhiên các hộ gia đình Tại phường Đồng Xuân, chọn ngẫu nhiên 150 hộ gia đình dựa trên danh sách các hộ gia đình do Uỷ ban Nhân dân phường cung cấp Từ danh sách của phường, việc tính toán bước nhảy được thực hiện Số bước nhảy được chọn dựa trên kích cỡ hộ gia đình của phường Chúng tôi cũng chọn thêm 30 đại diện hộ làm mẫu dự phòng trong trường hợp hộ gia đình trong mẫu chính đi vắng dài ngày hoặc đại diện hộ không đủ khả năng thể chất trả lời câu hỏi
Cách thức chọn mẫu tại xã Liêm Cần cũng được tiến hành tương tự tại phường Đồng Xuân Như vậy, tổng số mẫu gia đình được chọn nghiên cứu là 300 hộ
Đặc điểm mẫu nghiên cứu:
Luận văn cũng áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng Ngoài việc chọn mẫu phân tầng theo khu vực lãnh thổ (đô thị: 150/300 = 50%; nông thôn: 150/300 = 50%), luận văn còn chọn mẫu phân tầng theo giới tính, tuổi, nghề nghiệp và mức thu nhập Cụ thể như sau:
Trang 12+ Công nhân viên chức: 50/300 = 16,7%
+ Buôn bán kinh doanh: 73/300 = 24,3%
+ Quan sát: Trong quá trình thực hiện phỏng vấn, nhóm nghiên cứu sẽ tiến hành
quan sát về hành vi ứng xử, thái độ của người được phỏng vấn đối với chủ đề nghiên cứu Kết quả quan sát nhằm củng cố các ghi nhận, phân tích của nghiên cứu nói chung
Trang 13- Phương pháp phân tích tài liệu:
Luận văn dựa trên các tài liệu có sẵn khác liên quan đến chủ đề nghiên cứu
Các biến can thiệp:
- Môi trường kinh tế - văn hoá - xã hội của xã Liêm Cần - huyện Thanh Liêm - tỉnh Hà Nam và phường Đồng Xuân - quận Hoàn Kiếm - Hà Nội
- Các hoạt động truyền thông giáo dục; Các dịch vụ tư vấn và các phương tiện thực hiện chăm sóc SKSS/KHHGĐ
Môi trường KT-VH-XH và môi trường của xã và phường của xã và phường
Mức độ ủng hộ
Mức độ phản đối
Truyền thông giáo dục + Dịch vụ tư vấn và biện pháp chăm sóc SKSS
Trang 149 Hạn chế của luận văn
Đây là nghiên cứu trường hợp nên những ý kiến nhận định và đánh giá của 2 cộng đồng được nghiên cứu không thể khái quát chung cho xã hội hiện nay Nghiên cứu chỉ tập trung tìm hiểu thái độ của cộng đồng trước hành vi quan hệ tình dục của
VTN chứ không phải là thái độ của nhóm VTN
Trang 15CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Phương pháp luận Mácxít
Đề tài này dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin Đây là cơ sở phương pháp luận có tính nguyên tắc, đóng vai trò nền tảng trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài Cụ thể là:
- Nguyên tắc đảm bảo tính khách quan, nghiên cứu bản thân sự vật, hiện tượng như chúng đang tồn tại trong thực tế, không phán đoán chủ quan, các kết luận phải được phản ánh từ thực tế
- Nghiên cứu sự vật, hiện tượng trong sự phát triển: Mỗi sự vật hiện tượng trong tự nhiên, xã hội đều có quá trình nảy sinh, vận động và phát triển của nó Vì vậy, khi nghiên cứu cần nhìn nhận sự tồn tại của sự vật trong một giai đoạn cụ thể
và trong cả quá trình vận động, phát triển của nó
- Nguyên tắc nghiên cứu sự vật trong một chỉnh thể toàn vẹn
Đề tài nghiên cứu được đặt trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế thế giới với sự phát triển mạnh mẽ của các phương tiện truyền thông đại chúng Và đồng thời với những giá trị mới của xã hội hiện đại, sự du nhập của văn hóa phương Tây vào Việt Nam đang từng ngày từng giờ tác động tới mọi mặt của đời sống xã hội, đến mọi tầng lớp nhân dân nói chung và đặc biệt hơn cả là vị thành niên, một nhóm xã hội đặc biệt, vì đây là nhóm tuổi ở giai đoạn thay đổi một cách toàn diện cả về thể chất, tâm lý và nhân cách Vị thành niên là lứa tuổi rất nhạy cảm
và có nhiều đột biến, chịu sự tác động hết sức mạnh mẽ từ nhiều phía như gia đình, nhà trường và xã hội
1.1.2 Các lý thuyết xã hội học
1.1.2.1 Lý thuyết xã hội hóa
Xã hội hóa là quá trình mà qua đó các cá nhân nội hóa những nguyên tắc, chuẩn mực và giá trị của một xã hội Sau đó, cá nhân sẽ ngoại hóa những gì hấp thụ
và học được qua hành động xã hội của mình Xã hội hóa trước hết được hiểu như là
Trang 16một quá trình theo đó đứa trẻ lớn lên trong xã hội Nhưng theo một nghĩa rộng hơn,
xã hội hóa chính là khả năng hội nhập của cá nhân vào một cộng đồng xã hội
Khi nghiên cứu thái độ xã hội của cộng đồng đối với hành vi quan hệ tình dục của vị thành niên, lý thuyết xã hội hóa có thể giải thích cho chúng ta hiểu được rằng trước những chuẩn mực xã hội đối với hành vi quan hệ tình dục của vị thành niên hiện nay thì thái độ, phản ứng của cộng đồng trước tình huống có vấn đề về sức khỏe sinh sản, và hành vi quan hệ tình dục của vị thành niên như thế nào?
Lý thuyết xã hội hóa được dùng làm cơ sở để nhìn nhận và lý giải vấn đề trong những hoàn cảnh cụ thể Có nhiều cách hiểu khác nhau về xã hội hóa Căn cứ vào tính chủ động của cá nhân trong quá trình xã hội hóa, chúng ta có thể chia thành hai loại:
- Loại 1: Ít đề cập đến tính chủ động của cá nhân trong quá trình thu nhận kinh nghiệm xã hội Các cá nhân vị khuôn sẵn vào các chuẩn mực
Một đại diện cho cách hiểu này là Neil Smelser Ông cho rằng “Xã hội hóa là quá trình mà trong đó cá nhân học cách thức hành động tương ứng với vai trò của mình”, nghĩa là vai trò cá nhân chỉ giới hạn trong việc tiếp nhận các kinh nghiệm, giá trị, chuẩn mực
- Loại 2: Khẳng định tính tích cực, sáng tạo của cá nhân trong quá trình xã hội hóa Cá nhân không chỉ tiếp thu những kinh nghiệm xã hội mà còn tham gia vào quá trình tạo ra những kinh nghiệm xã hội
- Nhà xã hội học Mỹ J.H Fichter đã chú ý hơn tới tính tích cực của cá nhân khi ông cho rằng xã hội hóa là một quá trình tương tác giữa người này với người khác, kết quả là một sự chấp nhận những khuôn mẫu hành động và thích nghi với những khuôn mẫu hành động đó Và theo G.Andreeva, xã hội hóa là quá trình hai mặt Một mặt, cá nhân tiếp nhận kinh nghiệm xã hội bằng cách thâm nhập môi trường xã hội, vào hệ thống các quan hệ xã hội Mặt khác, cá nhân tái sản xuất một cách chủ động các mối quan hệ xã hội thông qua chính việc họ tham gia vào các hoạt động và thâm nhập vào các mối quan hệ xã hội
Như vậy, cá nhân trong quá trình xã hội hóa không đơn thuần thu nhận kinh nghiệm xã hội, mà còn chuyển hóa nó thành những giá trị, xu hướng của cá nhân để
Trang 17tham gia tái tạo, “tái sản xuất” chúng trong xã hội Mặt thứ nhất của quá trình xã hội hóa là thu nhận kinh nghiệm xã hội thể hiện sự tác động của con người tới môi trường thông qua hoạt động của mình
Áp dụng vào đề tài này cho thấy nhận thức, thái độ của cộng đồng về hành vi quan hệ tình dục của vị thành niên được hình thành trên cơ sở tiếp thu những kinh nghiệm, giá trị, chuẩn mực của môi trường sống của xã Liêm Cần – huyện Thanh Liêm – tỉnh Hà Nam và phường Đồng Xuân quận Hoàn Kiếm, Hà Nội Bản thân họ cũng có khả năng tác động trở lại làm biến đổi những giá trị, chuẩn mực đó Nhận thức, thái độ của cộng đồng chịu sự tác động của các môi trường xã hội hóa: gia đình, nhà trường, nhóm bạn bè, cộng đồng nơi sinh sống và các phương tiện truyền thông
có tính tương đối và phụ thuộc vào tình huống tương tác xã hội cụ thể Ông cho rằng, lý thuyết dán nhãn tập trung vào sự phản ứng của người khác và ảnh hưởng của những phản ứng đó Chính điều đó tạo ra sự sai lệch Khi bị gắn với những hành vi lệch lạc, họ sẽ bị tách ra khỏi xã hội và bị chính xã hội gắn cho một cái
“mác” Ví dụ như “gái điếm”, “kẻ nghiện ngập”… Theo ông: Sự chia tách lớn này tạo ra xu thế “người ngoài cuộc”.[28]
Gắn nhãn là do những hành vi lệch lạc của mỗi cá nhân
Lý thuyết gán nhãn (Labeling Theory) là lý thuyết nghiên cứu hành vi ứng xử của con người theo phương pháp phân tích tương tác biểu tượng qua đó khẳng định
Trang 18hành vi tuân thủ hay lệch lạc của một người là do kết quả của quá trình người khác xác định hay gán nhãn hiệu Lý thuyết này nhấn mạnh đến tính tương đối trong việc đánh giá hành vi lệch lạc, cùng một hành vi có thể định nghĩa khác nhau trong các tình huống khác nhau
+ Quá trình dán nhãn
▪ Việc gán cho một người là lệch lạc hay phạm tội có nghĩa là chủ thể và những người xung quanh phải tự thích nghi với một “bản sắc bị tước đoạt” Nó để lại hậu quả quan trọng đối với sự tham gia xã hội thêm vào đó là hình ảnh tự thân của con người
▪ Một quá trình bêu xấu xảy ra, họ bị dán nhãn là một loại người nào đó
▪ Hành vi trong quá khứ của chủ thể được xem xét trong cái nhìn hoàn toàn mới, còn tương lai được dự báo trên cơ sở lệch lạc hiện tại
>> Kết quả của quá trình này là khóa các cá nhân vào những vai trò sai lệch và hướng họ theo những tiến trình lệch lạc >> Sản sinh ra sự lệch lạc nhiều hơn là ngăn chặn nó “khuyếch đại lệch lạc” (Lemert)
Lệch lạc thứ cấp:
- Lệch lạc thứ cấp là hành vi lệch lạc của cá nhân có tính đặc trưng và cá nhân
tổ chức đời sống của mình xung quanh hành vi lệch lạc đó, tiến đến mức cao hơn so với lệch lạc sơ cấp
- Xã hội nói chung không chấp nhận những hành vi lệch lạc như vậy
Trang 19- Những áp lực xã hội mạnh mẽ có xu hướng thúc đẩy hành vi cá nhân cho phù hợp với cái nhãn
Nhãn xã hội có thể phân chia thành các cấp độ khác nhau:
- Nhãn xã hội mang ý nghĩa tiêu cực: gán cho hành vi sai lệch bị cộng đồng phê phán, trái với chuẩn mực đạo đức, văn hoá của cộng đồng Ví dụ, con điếm, thằng nghiện
- Nhãn xã hội mang ý nghĩa trung tính: chỉ những biệt danh gán cho cá nhân dựa trên những đặc điểm riêng biệt của người đó (hình dáng, nghề nghiệp) Nhãn này phần lớn có tính hài hước Ví dụ: Giang còi, Thắng mũi to, v.v
- Nhãn xã hội mang ý nghĩa tích cực: chỉ những người có hành vi khác thường
nhưng không trái với chuẩn mực văn hoá, đạo đức, mà còn hàm ý khen ngợi Ví dụ, đãng trí bác học, quái nhân, v.v
Lý thuyết gán nhãn được áp dụng trong đề tài này để lý giải những phản ứng, thái độ của cộng đồng xã hội ở hai đơn vị nghiên cứu đối với hành vi QHTD của VTN, đây có thể là hành vi theo quan niệm truyền thống hay quan niệm hiện tại ở hai cộng đồng được nghiên cứu đều không thể coi là hành vi bình thường và phù hợp mà nó có thể là hành vi lệch lạc ở mức độ nào đó đối với lứa tuổi VTN (mà ở đây là hành vi lệch lạc sơ cấp) tùy theo cách đánh giá và xu hướng nhận thức của mỗi cộng đồng và tùy thuộc vào sự phát triển xã hội và thời điểm mà cá nhân nhận thức vấn đề
1.1.3 Một số khái niệm công cụ
1.1.3.1 Vị thành niên
Vị thành niên là giai đoạn đặc biệt của cuộc đời con người Đó là bước quá độ
từ tuổi ấu thơ trở thành người lớn Có nhiều quan điểm khác nhau về tuổi VTN Sự phân chia độ tuổi VTN ở các quốc gia, các chủng tộc và các khu vực khác nhau cũng rất khác nhau Tuy nhiên, có một điểm giống nhau nhất là VTN nghĩa là người chưa trưởng thành và còn do người lớn giám hộ
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), VTN có độ tuổi từ 10 đến 19 tuổi Trên
cơ sở quan niệm này, người ta thường phân chia VTN thành ba nhóm: VTN sớm:
10 - 14 tuổi; VTN trung: 15 - 17 tuổi; VTN muộn: 18 - 19 tuổi
Trang 20Ở Việt Nam, pháp luật quy định từ 18 tuổi trở lên thì một con người có đầy đủ những quyền lợi và nghĩa vụ của một công dân độc lập Từ 18 tuổi họ có quyền kết hôn và sinh con Nghĩa là, khi đó họ không còn là VTN nữa Như thế VTN ở nước
ta thường được xác định trong độ tuổi từ 10 đến trước 18 tuổi Đây là một điểm rất đáng lưu tâm trong nghiên cứu so sánh các chỉ báo về VTN ở nước ta và các nước trên thế giới Cũng từ quan niệm trên sự phân chia các nhóm VTN ở nước ta trước đây cũng không giống như các nước phát triển Ta chỉ phân theo hai thời kỳ: từ 15 tuổi trở xuống gọi là nhi đồng và từ 16 tuổi trở lên là thanh niên Thực ra, trước đây tuổi vị thành niên từ 10 - 19 không nằm trong tiêu chí phân chia nhóm thanh thiếu niên của chúng ta, do đó cũng không được xã hội quan tâm như một nhóm xã hội riêng
VTN là giai đoạn diễn ra và trải qua quá trình dậy thì ở cuộc đời con người Chính vì thế mà ở giai đoạn này từng bước có một sự thay đổi toàn diện về tâm - sinh lý và tình cảm [26]:
Thứ nhất, đó là sự phát triển của các cơ quan sinh sản, sự xuất hiện của ham muốn tình dục Nếu trước đây nhu cầu tình dục tồn tại ở dạng tiềm năng thì nay nó trở thành một động lực thực sự và được biểu hiện một cách nào đó trong các hành vi của chủ thể
Thứ hai, sự thay đổi những năng lực tâm lý Đó là sự biểu hiện của cá tính, sự thể hiện rõ nét của các kiểu dạng tâm lý - thần kinh của cá thể VTN tự ý thức về bản thân, đề cao cái tôi cá nhân, muốn khẳng định mình, muốn trở thành người lớn Thứ ba, xuất hiện những sắc thái tình cảm khác nhau do sự biến đổi của các năng lực tình dục và tâm lý Những trạng thái tình cảm luôn biến đổi và thất thường
là nét đặc trưng của tuổi VTN Vì thế ở VTN xuất hiện những tình cảm mới lạ, những bất thường trong ứng xử, hành vi và có một sự thay đổi rõ nét trong mối quan hệ với gia đình, bạn bè và xã hội
Như vậy, nhìn một cách chung nhất, trong giai đoạn không còn là trẻ con nhưng chưa trở thành người lớn này, đặc trưng cơ bản của nhóm xã hội này là sự tăng trưởng nhanh về thể chất với việc hoàn thiện cơ quan sinh sản và sự trưởng thành nhanh chóng về xã hội, nhất là về nhân cách Chính trong thời điểm này, ở trẻ
Trang 21VTN diễn ra một sự đổ vỡ và khủng hoảng trong tâm lý và tình cảm Chúng hầu như bị rơi vào tâm trạng đảo lộn các chuẩn mực thẩm mỹ và giá trị Và sự đảo lộn
ấy sẽ càng gay gắt hơn trong một môi trường nhiều biến động và thay đổi mạnh mẽ như xã hội Việt Nam giai đoạn hiện nay [16]
1.1.3.2 Hành vi
Theo Sigmund Freud:
- Hành vi là cách sử dụng năng lượng của mình Nếu thiếu năng lượng hành vi
+ Hành vi là để giải tỏa sự mất thăng bằng
+ Hành vi con người rất phức tạp, không có một yếu tố nào duy nhất giải thích
về hành vi con người Tuy nhiên trong môi trường xã hội, điều nổi bật là mỗi các nhân cố gắng thích nghi để sống còn Về mặt này, hành vi là cử chỉ động tác đáp lại của con người khi có một kích thích từ bên ngoài hoặc một động lực thúc đẩy từ bên trong của cá nhân để giải tỏa một sự mất thăng bằng để đạt mục đích là thỏa mãn nhu cầu, tức là tái lập sự thăng bằng Con người hành động để thích nghi với hoàn cảnh, để tồn tại và phát triển
Đơn vị của hành vi là hành động Toàn bộ hành vi là một chuỗi hành động Để
có thể dự đoán hành vi, chúng ta phải biết động cơ và nhu cầu nào dẫn đến một hành động nhất định ở một thời điểm nào đó
Có thể thấy rằng, để thỏa mãn nhu cầu tức là động cơ thúc đẩy hành vi, chính
là nguyên nhân của hành vi, đây là yếu tố chính của hành động Vì nhu cầu là một cái gì đó trong một cá nhân thúc đẩy cá nhân có hành động Còn mục đích của hành
vi là cái bên ngoài cá nhân, có khi nó là tác nhân kích thích con người có nhiều nhu cầu một lúc, vậy cái gì quyết định nhu cầu nào được thực hiện trước? Nhu cầu mạnh nhất sẽ dẫn đến hành động
Trang 22Hệ thống tác động đến hành vi: Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tương lai cuộc sống và quyết định tính chất hành động của mỗi con người:
+ Yếu tố di truyền
+ Sự tác động của cảm xúc và suy nghĩ lên hành vi
+ Yếu tố thuộc môi trường xã hội:
Cơ hội học hỏi
Những cá nhân xung quanh
Các mối quan hệ giữa cá nhân với nhau
Thỏa mãn các nhu cầu cơ bản
Vai trò đảm nhận
1.1.3.3 Quan hệ tình dục
“Tình dục” là một nhu cầu tự nhiên của con người, bắt đầu xuất hiện ở tuổi dậy thì và là một bản năng duy trì nòi giống Tình dục là một hoạt động sống mạnh
mẽ nhất, đam mê nhất, đồng thời đem lại khoái cảm mãnh liệt nhất, nhờ đó mà có
sự sinh sản để duy trì nòi giống
Tình dục (sex) là sự thể hiện:
- Tưởng tượng, mơ ước về quan hệ tình dục với đối tượng
- Quan hệ tình dục (âu yếm, giao hợp) với đối tượng
Quan hệ tình dục bắt đầu bằng giai đoạn khởi động để kích thích bạn tình nhằm làm cho dương vật cương cứng và bôi trơn âm đạo Để quan hệ, dương vật được đưa vào âm đạo và một hoặc cả hai cử động hông để di chuyển dương vật tới lui trong âm đạo để tạo ma sát Bằng cách này, họ tự kích thích và kích thích lẫn nhau thường là đến khi một hoặc cả hai đạt cực khoái
Tình dục là sản phẩm xã hội, bị quy định bởi các yếu tố văn hóa và xã hội Chúng ta nghĩ và làm theo/giống như người khác trong cộng đồng của mình Các nền văn hóa khác nhau có những quan niệm, thái độ và hành vi tình dục khác nhau Tình dục an toàn: Là tình dục giữa nam và nữ không dẫn đến việc thụ thai ngoài ý muốn và không bị lây nhiễm các bệnh LTQĐTD
Hành vi tình dục: Là các hành động (vuốt ve, hôn, kích thích, giao hợp) thể hiện tính dục của mỗi người Hoạt động tình dục hay hành vi tình dục là những gì
Trang 23liên quan đến tình dục mà con người thực hiện với nhau hoặc với bản thân Phụ thuộc vào cá nhân và nền văn hoá, mỗi người có thể có những quan niệm khác nhau
về hành vi tình dục, tuy nhiên tựu chung lại, đây là những hành vi tập trung vào việc tìm kiếm khoái cảm tình dục
Sức khỏe sinh sản vị thành niên là một trạng thái hoàn toàn khỏe mạnh và phát triển lành mạnh của bản thân mỗi VTN về thể chất, tinh thần và xã hội Đó là
sự phát triển toàn diện và hoàn thiện hệ thống cơ quan sinh sản, sự phát triển năng lực tình dục, sự phát triển một cách hài hòa về mặt nhân cách và tâm sinh lý tuổi dậy thì, tình bạn, tình yêu và tình dục.[36, tr.32]
1.1.3.5 Thái độ xã hội
Trong từ điển tiếng Việt, Thái độ được định nghĩa là: “Cách nhìn nhận, hành động của cá nhân về một hướng nào đó trước một vấn đề, một tình huống cần giải quyết Đó là tổng thể những biểu hiện ra bên ngoài của ý nghĩ, tình cảm của cá nhân đối với con người hay một sự việc nào đó”
Từ điển xã hội học do Nguyễn Khắc Viện chủ biên cũng nhấn mạnh: “tâm thế
- thái độ - xã hội đã được củng cố, có cấu trúc phức tạp, bao gồm các thành phần nhận thức, xúc cảm, hành vi”
Trong tâm lý học Macxít, đó là chức năng của thái độ trong hoạt động hợp tác” Trong tâm lý học xã hội Mỹ hiện đại, khi định nghĩa về thái độ, một số tác giả thường đề cập nhiều đến khía cạnh nhận thức hơn là về mặt chức năng của thái độ, như Davis Myers đã coi “thái độ” là “phản ứng có thiện chí hay không thiện chí về
Trang 24một điều gì đó, hay một người nào đó, được thể hiện trong niềm tin, cảm xúc hay hành vi có chủ định
Những quan niệm về thái độ cũng được phản ánh trong quan điểm của các nhà tâm lý học Việt Nam Đó là quan niệm cho rằng “thái độ là một bộ phận cấu thành, đồng thời là một thuộc tính cơ bản của ý thức” hay “thái độ, về mặt cấu trúc, bao hàm cả mặt nhận thức, mặt xúc cảm và mặt hành vi
Thuật ngữ thái độ (attitude) có nhiều định nghĩa khác nhau Thí dụ theo Shaver (1977) thì thái độ là “một tâm thế ủng hộ hay phản đối đối với một nhóm đối tượng nhất định”, hay theo Fishbein và Aen (1975) thì đó là “một vị trí trong thanh lưỡng cực về tình cảm hoặc đánh giá”[23, tr.164] Một định nghĩa khác của Tourangeau và Rasinksi (1988) thì cho rằng thái độ là “những mạng lưới của các niềm tin liên kết đan chéo nhau vốn được lưu giữ lâu dài trong trí nhớ của chúng ta
và được kích hoạt khi đối tượng của thái độ hoặc vấn đề liên quan” Nói tóm lại, thái độ luôn bao hàm những yếu tố sau:
- Nó được quy nạp, kết tinh và khái quát hóa từ kinh nghiệm sống
- Nó mang tính tổng hợp Một thái độ có thể tổng hợp nhiều hành vi khác nhau
- Nó có sẵn trong tâm trí của chúng ta Nó tiết kiệm thời gian tư duy và phản ứng của chúng ta nhờ việc đưa ra những mô hình đã chương trình hóa
- Nó được coi là nguyên nhân của hành vi
- Nó có hai cực Tuy nhiên, một cá nhân có thể có “tâm trạng nước đôi” Nhưng thực chất đấy chỉ là một trạng thái trong đó ở cá nhân tồn tại cả hai thái độ
“ủng hộ” hay “phản đối” chứ không phải một trạng thái thái độ mới
Nhiều khi khái niệm thái độ và ý kiến được sử dụng như những thuật ngữ đồng nghĩa Nói cách khác, khi một chủ thể có “ý kiến rõ ràng cũng được coi là có thái độ rõ ràng Hai khái niệm này có liên quan chặt chẽ với nhau, nhưng không nhất thiết trùng lặp Giữa thái độ và ý kiến có những quan hệ như sau:
- Ý kiến là biểu hiện vật chất của những thái độ cơ bản Vì vậy, ý kiến phù hợp với thái độ
- Ý kiến mang tính cụ thể hơn so với thái độ
Trang 25- Ý kiến đề cập đến một vấn đề đơn lẻ, trong khi đó thái độ mang tính khái quát và mang tính phân tán hơn
Về cấu trúc của thái độ dựa theo kết quả nghiên cứu của LaPierre cho rằng cấu trúc của thái độ không phải là một cấu trúc thuần nhất mà là cấu trúc đa thành tố Thí dụ, theo Krech, D và Crutchfield, thì thái độ gồm có 3 thành phần tri thức - tình cảm - hành vi Một cấu trúc khác do Fishbein và Ajzen thì đưa ra 3 thành phần niềm tin - tình cảm - hành vi Thành phần tri thức cho chúng ta biết thông tin về đối tượng Thí dụ, thông tin về cái gì, ở đâu, khi nào, như thế nào, của ai… Thành phần tình cảm của thái độ chỉ rõ chúng ta yêu hay ghét, ủng hộ hay phản đối hay một tâm trạng “nước đôi” với vấn đề hoặc đối tượng được đề cập đến Thành phần hành vi sẽ chỉ dẫn cho cá nhân phải làm thế nào với vấn đề hoặc đối tượng của thái độ
Thông thường người ta chỉ cấu trúc của thái độ gồm 3 thành phần, mỗi thành phần có một ngưỡng tình huống Đây là những điều kiện, bối cảnh xã hội mà trong
đó thành phần đó có thể biểu hiện ra hay là xác suất mà thành tố đó xuất hiện Thí
dụ, khi một cá nhân chỉ dám có ý kiến phản đối người khác khi không có cấp trên
có mặt Hoặc, một số người chỉ dám thể hiện quan điểm của mình nếu họ chắc chắn rằng sẽ không ai biết được đấy là ý kiến của họ Như vậy, tùy theo ngưỡng tình huống mà một thành phần trong một tình huống cụ thể sẽ hiện ra
Sơ đồ 1.1: Cấu trúc thái độ theo Fishbein và Ajzen
Như vậy, thực chất giữa hành vi và thái độ không hẳn là mâu thuẫn với nhau Nói cách khác sự mâu thuẫn ở đây là giả Thực chất, hành vi chỉ là một chiều cạnh biểu hiện của thái độ bên cạnh những biểu hiện khác (nhận thức và tình cảm), và mỗi thành phần đó chỉ xuất hiện khi có ngưỡng tình huống phù hợp Việc tìm ra ngưỡng tình huống cho từng thành phần sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về thái độ [23]
TÌNH CẢM
HÀNH VI NIẾM TIN
Trang 26Nói tóm lại, đã có nhiều định nghĩa khác nhau về thái độ Qua xem xét, phân
tích các định nghĩa đó, có thể kết luận rằng: Thái độ là một bộ phận hợp thành, một thuộc tính trọn vẹn của ý thức, quy định tính sẵn sàng hành động của con người đối với đối tượng theo một hướng nhất định, được bộc lộ ra bên ngoài thông qua hành
vi, cử chỉ, nét mặt và lời nói của người đó trong những tình huống, điều kiện cụ thể
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Hiện nay, vấn đề SKSS VTN/TN đang là một trong những nội dung thu hút sự quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới, bởi chăm sóc cho VTN/TN hôm nay là tạo bước khởi đầu tốt đẹp cho tương lai Hơn thế, giới trẻ ngày nay đang phải đối diện với nhiều thách thức, lối sống thay đổi, giá trị sống cũng có nhiều biến đổi Vì thế nếu không được trang bị kiến thức một cách đầy đủ sẽ khiến cho nhóm VTN/TN gặp lúng túng, khó khăn trong cuộc sống và có thể sẽ lựa chọn những hành vi sai lầm để lại nhiều hậu quả đáng tiếc
Trong những năm gần đây, có nhiều nghiên cứu tiến hành tại Việt Nam đã hướng sự quan tâm đến VTN/TN nhất là về nhận thức của VTN/TN về SKSS Tuy nhiên, các nghiên cứu thường được tiếp cận dưới góc độ y tế - bệnh học và cũng chưa có những dự án nghiên cứu một cách toàn diện với quy mô quốc gia về VTN
và SKSS VTN
Đề tài “Một số suy nghĩ về quan điểm của VTN đối với vấn đề tình dục” của
tác giả Nguyễn Bích Điểm cho thấy: Tình trạng có thai ngoài ý muốn và phải đi nạo hút thai ở tuổi VTN rất đáng báo động Thực tế này đang đặt ra cho công tác giáo dục SKSS cho VTN những bức xúc Quan niệm của VTN đối với vấn đề tình dục như thế nào? Có nên phổ biến và cung cấp các BPTT cho VTN hay không? để trả lời những câu hỏi này, tác giả đã đưa ra kết quả khảo sát của đề tài “Tuổi VTN với vấn đề tình dục và các BPTT”: Có 26% VTN đang đi học trả lời là đã yêu hoặc đang yêu Đối với VTN đã thôi học thì tỷ lệ này cao hơn (39,7%) Quan niệm của VTN về QHTD trước hôn nhân: Có 53,5% trả lời là không nên, 40% nghĩ tới và 0,45% cho rằng nên QHTD ở tuổi này Tuy nhiên có 1,4% VTN cho rằng có thể QHTD ở tuổi 15, 2,4% đối với tuổi 16; 9,5% ở tuổi 17 và 27,7% với tuổi 18 Đáng
Trang 27chú ý là 29,8% VTN đã yêu nhận là đã có QHTD Quan niệm cho rằng QHTD trước hôn nhân vì đó là thể hiện tình yêu: 11,4% VTN đồng ý; 62,7% không đồng ý
và 22,9% phân vân Quan niệm tình dục cũng có nghĩa là tình yêu: 33,34% đồng ý, 40,3% không đồng ý và 26,9% phân vân Nhiều VTN cho rằng không nhất thiết phải có hôn nhân mới có QHTD: 18,9% cho rằng có thể QHTD trước khi cưới; 17,7% cho rằng có thể QHTD nếu cả hai cũng thích
Một nghiên cứu về kiến thức, thái độ và hành vi SKSS của nhóm VTN Hà Nội cho thấy: Tỷ lệ thanh niên chưa kết hôn có QHTD nam chiếm 17,0% và nữ chiếm 2,6%; trong những trường hợp được khảo sát có 37% nam và 12,5% nữ chấp nhận
có thể QHTD trước hôn nhân, đa số cho rằng trinh tiết vẫn quan trọng nhưng không phải quan trọng như trước đây
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoài Đức, Anke Van Dam, Vũ Thu Hà, Phan Thanh Tuyền về “Kiến thức, thái độ, hành vi của vị thành niên liên quan đến sức khoẻ sinh sản và tình dục tại Hà Nội và Ninh Bình” được thực hiện năm 1999 tại Hà Nội và Ninh Bình Đối tượng được nghiên cứu là vị thành niên ở độ tuổi 15-19 Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là thảo luận nhóm Kết quả nghiên cứu chỉ
ra rằng nguồn cung cấp thông tin về sức khoẻ sinh sản cho vị thành niên từ trường học Tuy nhiên, lượng thông tin còn rất nghèo nàn và thiếu chi tiết Các giáo viên rất ngại khi đề cập đến vấn đề này Thông tin đại chúng là cung cấp nhiều nhất thông tin về lĩnh vực này Các biện pháp tránh thai thường được biết đến nhiều nhất
là vòng và bao cao su Đa số không chấp nhận quan hệ tình dục trước hôn nhân nhưng tự chịu trách nhiệm trong việc quyết định có quan hệ tình dục trước hôn nhân hay không Các em đều cho rằng cần được giáo dục về giới Cha mẹ và thầy cô giáo
Trang 28Đây là vấn đề cần được khắc phục ngay Cần phải cung cấp cho thanh niên và người dân hiểu biết đầy đủ về SKSS Đó là điều quyết định cho tương lai Giải quyết thật tốt mối quan hệ giữa VTN với cha mẹ, bạn bè, bạn trai, bạn gái và những sợ hãi của họ về kinh nguyệt, thủ dâm, mộng tinh trong bối cảnh giới tính Tạo điều kiện cho họ chủ động tham gia vào nghiên cứu, bảo vệ SKSS Cần đối xử tôn trọng, tin tưởng đối với các quyết định của VTN làm cho họ có trách nhiệm cao nhất về các hành vi của bản thân
"Tuổi VTN với vấn đề tình dục và các BPTT” là một đề tài được thực hiện khá
công phu dưới sự chủ trì và giám sát của Uỷ ban Quốc gia về Dân số và Kế hoạch hoá gia đình năm 1997 Nhóm tác giả Chu Xuân Việt và Nguyễn Văn Thắng đã triển khai nghiên cứu trên 8 tỉnh, thành phố đại diện các vùng miền trong cả nước, với 1033 VTN là học sinh phổ thông, 370 VTN đã thôi học, 207 VTN thôi học đã
có vợ, có chồng, 239 cha mẹ VTN, 223 cán bộ quản lý các ngành có liên quan và 37 chủ cửa hàng thuốc tư nhân Nghiên cứu kết luận rằng: đa số VTN có quan niệm về tình yêu, tình dục tương đồng với những quan niệm truyền thống Tuy nhiên, cũng
có 33,4% cho rằng tình dục có nghĩa là tình yêu; 15,7% chấp nhận QHTD trước khi cưới nếu cả hai cùng thích; 15,7% cho là được nếu chắc chắn sẽ lấy nhau Bên cạnh 78,8% VTN cho rằng QHTD gắn với lương tâm, trách nhiệm, cũng có 3,4% cho rằng QHTD là để mua vui, giải trí 26% VTN cho biết là đã có người yêu 37,3% trong số này có người yêu ở tuổi 18, 28,5% ở tuổi 17 và có đến 10,4% có người yêu
từ tuổi 14; 39,7% cha mẹ VTN cho rằng tình trạng QHTD hiện nay của VTN là không phổ biến nhưng nghiêm trọng, và nguyên nhân chủ yếu là do bị ảnh hưởng của phim xấu (41%) 84,8% người lớn tuổi thấy cần thiết phải cung cấp và hướng dẫn cho VTN kiến thức về tình dục và các BPTT đồng thời cần tăng cường hơn nữa công tác quản lý các hoạt động và sản phẩm văn hoá không lành mạnh
Cũng với đề tài: “Kiến thức, thái độ, hành vi của VTN liên quan đến SKSS và tình dục tại Hà Nội và Ninh Bình” đã nêu ở phần trên, các tác giả đã đưa ra nhận
định: Thuốc viên, vòng tránh thai và bao cao su là các BPTT được VTN biết nhiều nhất, sau đó là triệt sản Nhiều em còn hiểu sai hay không biết gì về con đường lây nhiễm của các bệnh lây truyền qua đường tình dục Đa số các em ở Hà Nội biết
Trang 29cách phòng các bệnh lây truyền qua đường tình dục bằng bao cao su, nhưng tỷ lệ này ở Ninh Bình chỉ đạt 1/2 Đa số không chấp nhận QHTD trước hôn nhân, nhưng
tự chịu trách nhiệm trong việc quyết định có QHTD trước hôn nhân hay không
Đề tài “Kết quả nghiên cứu tình hình QHTD và nạo phá thai lứa tuổi VTN ở
Hà Nội”do Daniele Belanger và Khuất Thu Hồng thực hiện đã đưa ra những nhận
định đáng phải lưu tâm: 85% số người được hỏi cho biết chưa bao giờ nói chuyện
về tình dục tại nhà nhưng gần 50% nói chuyện với bạn bè Nói chuyện về tình dục phổ biến hơn nói chuyện về các BPTT Ngoài ra, họ còn biết thông tin về tình dục
và BPTT từ các phương tiện thông tin đại chúng, trong đó phần lớn từ sách báo và tạp chí, sau đó là tivi và radio Đa số cho rằng nữ thanh niên cần được giáo dục về tình dục nhiều hơn Tỷ lệ sử dụng các BPTT thấp hơn nhiều so với tỷ lệ hiểu biết về các BPTT Hầu hết người trả lời đều có bạn trai tại thời điểm điều tra Tuổi trung bình có bạn trai là 18 và trên 1/3 đã từng có nhiều bạn trai Khoảng 1/3 có nói chuyện về tình dục với bạn trai, một số trường hợp chưa bao giờ đề cập về vấn đề hôn nhân nhưng vẫn QHTD thường xuyên Tuổi trung bình có QHTD lần đầu tiên khoảng 19,5; khoảng 1/2 số phụ nữ QHTD lúc đang là học sinh, sinh viên; 40% đang đi làm và số còn lại đang ở nhà Kiến thức và sử dụng BPTT ở lần QHTD đầu tiên rất thấp; 46% đã quen biết nhau 6 tháng đến 1 năm trước khi có QHTD, 38% sau 1 năm, 17% dưới 6 tháng
Cũng với chủ đề trên, tác giả Nguyễn Đức Vi và cộng sự đã nghiên cứu đề tài:
“Tình hình thanh niên đến nạo phá thai tại Viện Bảo vệ bà mẹ và trẻ sơ sinh”
Nghiên cứu hồi cứu bệnh án của thanh thiếu niên (15 – 24 tuổi) đến nạo hút thai tại Viện Bảo vệ bà mẹ và trẻ sơ sinh trong 6 tháng (từ tháng 3 – 8/2001) với tuổi thai dưới 3 tháng, nhóm tác giả đã đưa ra những kết quả sau: trong 6 tháng có 2344 phụ
nữ đến nạo hút thai ở tuổi thai dưới 3 tháng với 19,5% là thanh niên (16 - 24 tuổi)
và 27 ca (5,9%) VTN tuổi từ 16 - 19 Phần lớn thanh thiếu niên đến nạo hút thai là người Hà Nội (83%), họ buôn bán hoặc làm nghề thủ công là chính (51%); nữ học sinh, sinh viên chiếm trên 17% Gần 80% số thanh thiếu niên nạo hút thai tại Viện
tự khai chưa có chồng nhưng theo các nhà chuyên môn thì con số này trên thực tế còn cao hơn Khoảng 5% số thanh niên đến nạo hút thai đã từng có ít nhất 1 lần nạo
Trang 30hút thai trước lần này 93% không sử dụng BPTT tại tháng xảy ra có thai Nhóm VTN (16 - 19 tuổi) có tỷ lệ nạo thai cao hơn hẳn so với tỷ lệ hút thai (67% so với 33%), tức là có xu hướng phát hiện và giải quyết thai nghén ngoài ý muốn chậm hơn so với nhóm 20 – 24 tuổi (45% nạo thai và 55% hút thai) Đây là một hồi chuông báo động về SKSS, bệnh LTQĐTD và những hậu quả khôn lường đối với quá trình sinh sản sau này của VTN Ngoài ra, còn có thể kể đến các nghiên cứu của
Hoàng Thị Hoa và Lưu Minh Châu về “Nạo hút thai trong lứa tuổi VTN - Vấn đề cần quan tâm”, hay công trình của Nguyễn Quốc Anh và Hoàng Kim Dung với đề tài: “Nạo thai ở Việt Nam: tình hình, các yếu tố tác động và giải pháp”…
SAVY (*) là một điều tra quốc gia quy mô nhất từ trước tới nay với 7.584 đối tượng là thanh thiếu niên (TTN) trong độ tuổi từ 14 đến 25 về rất nhiếu góc cạnh cuộc sống như giáo dục, việc làm, tình trạng sức khoẻ Điều tra được tiến hành trong thời gian 10 tháng (từ 10-2003 đến 01-2004), ở 42 tỉnh thành Đối tượng của SAVY là thanh thiếu niên từ 14 đến 25 tuổi, hiện đang sống cùng gia đình
Nội dung điều tra xoay quanh các vấn đề có liên quan đến sự phát triển của thanh thiếu niên như giáo dục, việc làm, tình trạng sức khoẻ - sức khoẻ sinh sản và một số vấn đề khác như HIV/AIDS, sử dụng chất kích thích, tai nạn thương tích, bạo lực
80% TTN quan hệ sau hôn nhân: 19,6 tuổi là kết quả điều tra về tuổi quan hệ
tình dục (QHTD) của thanh niên VN 80% cho biết chỉ quan hệ khi đã lập gia đình Kết quả điều tra cũng cho thấy chỉ khoảng 7,6% có quan hệ trước hôn nhân, trong
đó 11,1% nam và 4% là nữ Đây là những con số khả quan Khoảng 1/3 nam TTN thành thị độc thân và 1/4 thanh niên nam nông thôn độc thân tuổi 22-25 đã có QHTD trước hôn nhân Một điều đáng quan tâm là QHTD trước hôn nhân khá phổ biến ở khu vực dân tộc thiểu số với 39,8% ở nam và 26,1% ở nữ
Bày tỏ quan niệm của cá nhân về vấn đề QHTD trước hôn nhân thì hầu hết các đối tượng đều không chấp nhận QHTD và khoảng 3/4 cho biết họ sẽ đợi đến khi kết hôn Tuy nhiên, khoảng 25-30% cho rằng QHTD trước hôn nhân là điều có thể chấp nhận được nếu có sự đồng thuận của 2 người, hoặc cả hai sẽ lấy nhau và biết cách ngừa thai
Trang 315,3% tổng số nam thanh niên trong mẫu điều tra cho biết đã có quan hệ với gái mại dâm Tính trên phương diện hôn nhân thì 21,5% nam thanh niên độc thân đã có QHTD với gái mại dâm, trong khi đó chỉ 1% nam thanh niên đã có gia đình có quan
hệ với gái mại dâm Về vấn đề an toàn khi quan hệ với gái mại dâm thì có đến 93,2% cho biết họ có sử dụng dụng cụ phòng hộ như bao cao su
TTN và sức khoẻ sinh sản: Mặc dù có đến 97% TTN cho biết họ có nghe nói
về HIV/AIDS nhưng khoảng 15% lại cho rằng người có bề ngoài khoẻ mạnh thì không thể nhiễm HIV, tỷ lệ này ở dân tộc thiểu số là 35%
Kết quả điều tra về các nguồn cung cấp thông tin về sức khoẻ sinh sản và giới tính cho thấy các phương tiện truyền thông đại chúng là nguồn cung cấp thông tin phổ biến nhất trong đó vị trí số một là đài truyền hình, sau đó là giáo viên, nhân viên y tế, cộng tác viên dân số
Tổng cục DS-KHHGĐ, Bộ Y tế đưa ra tại buổi công bố báo cáo chung Điều tra Quốc gia về Vị thành niên và Thanh niên Việt Nam lần 2 (SAVY 2), ngày 1/6/2010 SAVY 2 được tiến hành với 10.044 VTN/TN trong độ tuổi từ 14 – 25, hiện đang sống cùng gia đình ở khắp 63 tỉnh, thành trên toàn quốc về rất nhiều góc cạnh cuộc sống như giáo dục, việc làm, tình trạng sức khoẻ - SKSS, SKTD và một
số vấn đề khác như HIV/AIDS, sử dụng các chất gây nghiện, tai nạn thương tích, bạo hành gia đình, sức khoẻ thể chất, sức khỏe tinh thần
Số liệu của SAVY 2 cho thấy, có 9,5% thanh niên Việt Nam đã từng có QHTD trước hôn nhân (tỉ lệ này ở SAVY 1 là 7,5%) Tuổi QHTD lần đầu trung bình của thanh niên có xu hướng giảm từ 19,6 tuổi ở SAVY 1 xuống còn 18,1 tuổi ở SAVY 2 Từ kết quả của cuộc điều tra, các chuyên gia và đại diện các bộ, ngành đã
có khuyến nghị các bậc cha mẹ có con ở tuổi VTN/TN và nhà trường cần chú ý nhiều hơn đến việc giáo dục kỹ năng sống cho con em về tình yêu, tình dục, hôn nhân, KHHGĐ, phòng chống HIV/AIDS Các đại biểu cũng khuyến nghị cần đổi mới công tác đào tạo nghề cho thanh niên một cách phù hợp và hiệu quả; đẩy mạnh
và đổi mới hình thức truyền thông DS-KHHGĐ theo hướng thân thiện hơn với VTN/TN
Trang 32Có thể thấy rằng các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý, các cơ quan chức năng
ở nước ta đã dành sự quan tâm và lo lắng nhiều đến những vấn đề SKSS VTN Những chỉ báo về tình trạng QHTD ở tuổi VTN, về mang thai, nạo phá thai, kết hôn sớm, sinh con ngoài ý muốn, mại dâm, nghiện hút… và mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục nhất là HIV/AIDS ở VTN Việt Nam ngày càng có xu hướng gia tăng là hết sức đáng lo ngại và là vấn đề thực sự cấp bách khi nước ta hòa nhập với thế giới Tuy nhiên hiện có rất ít các đề tài nghiên cứu về sự đánh giá nhìn nhận của cộng đồng xã hội về hành vi QHTD VTN Chính vì vậy, đề tài này sẽ góp một phần nhỏ trong việc tìm hiểu thực trạng thái độ đánh giá của cộng đồng về hành vi QHTD VTN
1.2.2 Một số đặc điểm địa bàn khảo sát và đối tượng khảo sát
1.2.2.1 Xã Liêm Cần - huyện Thanh Liêm - tỉnh Hà Nam
Xã Liêm Cần nằm ở phía đông bắc huyện Thanh Liêm, gồm 8 thôn nằm dọc 2 bên quốc lộ 21A nối Phủ Lý và Nam Định cùng tuyến đường sắt Nam – Bắc chạy qua Dân số khoảng 1.500 người với cơ cấu kinh tế nông nghiệp là chủ yếu, không
có làng nghề truyền thống hay nghề phụ nên mặt bằng chung là kinh tế chậm phát triển Từ trước năm 1990, nghề đá cảnh đã bắt đầu xuất hiện ở thôn Nhất, ban đầu chỉ có vài nhà tham gia, trước là để chơi, sau thành để bán Dăm năm trở lại đây, nghề kinh doanh đá cảnh trở nên phát đạt đã thu hút khoảng gần 30 hộ trong xã tham gia và trở thành cả một làng nghề sầm uất Xã là vùng đồng bằng, không bị đô thị hóa, chưa bị mất ruộng đất để làm khu công nghiệp hay khai thác đá như các xã
khác của huyện nên cũng ít bị ảnh hưởng bởi các tệ nạn xã hội
Hoạt động chăm sóc sức khỏe nhân dân được trung tâm y tế xã thực hiện nhưng chủ yếu là các đợt tiêm phòng cho trẻ nhỏ chứ công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản chưa được quan tâm đúng mức Xã có 8 thôn, địa hình tương đối rộng, nhưng đội ngũ tuyên truyền viên về công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản lại quá mỏng, thiếu kinh phí hoạt động nên công tác tuyên truyền gặp rất nhiều khó khăn, khó khăn lớn nhất mà các cán bộ y tế thôn gặp phải là tâm lý e ngại của người dân, công tác tuyên truyền thông qua đội ngũ y tế thôn đã thường xuyên hơn, nhưng về phương tiện để đội ngũ này có thể thực hiện tốt nhiệm vụ của mình còn nhiều thiếu
Trang 33thốn Tuyến y tế cơ sở đội ngũ y bác sỹ có trình độ chuyên sâu còn thiếu và yếu, cơ
sở vật chất của các trạm y tế tuyến xã đã xuống cấp, trang thiết bị lạc hậu, công tác
vô khuẩn và thực hiện vệ sinh chưa tốt, các phòng dụng cụ còn bụi bẩn, cơ số thuốc cấp cứu tại phòng đẻ theo quy định của Bộ Y tế ở một số trạm y tế xã còn thiếu Công tác tuyên truyền vận động tại gặp rất nhiều khó khăn, thiếu phương tiện truyền thông, đặc biệt là các tài liệu về kiến thức chăm sóc sức khoẻ sinh sản, dinh dưỡng cho bà mẹ mang thai và cho con bú, về phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em chưa sâu rộng do vậy vẫn còn trẻ em bị suy dinh dưỡng, tỷ lệ sinh con thứ 3 chưa giảm
1.2.2.2 Phường Đồng Xuân - quận Hoàn Kiếm - Hà Nội
Phường Đồng Xuân nằm ở vị trí trung tâm của quận Hoàn Kiếm, nội thành Hà Nội, một nơi có chợ đầu mối giao thương lớn nhất phía Bắc - chợ Đồng Xuân Đây
là một phường có kinh tế phát triển, các gia đình nhìn chung đều có mức sống cao,
hệ thống cơ sở vật chất - kỹ thuật hạ tầng tốt và được đầu tư các trang thiết bị hiện đại Với số lượng dân số tương đối đông dàn trải trên 14 tổ dân phố, dân cư có nguồn gốc, nghề nghiệp và trình độ văn hóa khác nhau Trên địa bàn phường chủ yếu là dân gốc vốn sinh sống và an cư lạc nghiệp ở đây lâu đời gắn với nghề buôn bán nhỏ ven chợ Đồng Xuân Đồng Xuân là một phường phát triển toàn diện kinh tế
- văn hóa - xã hội
Về y tế, giáo dục và dân số - kế hoạch hóa gia đình, Đồng Xuân có tổ chức đều đặn các đợt tuyên truyền, phổ biến và trao đổi kiến thức về chăm sóc SKSS Công tác này cũng đạt được nhiều kết quả trong việc nâng cao kiến thức về SKSS của người dân Tuy nhiên, số lượng người tham gia, đặc biệt là VTN lại còn hạn chế Mặc dù vậy, công tác KHHGĐ, chăm sóc SKSS luôn được các cán bộ y tế, cán
bộ làm công tác dân số quan tâm cũng như được lãnh đạo phường chú trọng Trong những năm gần đây, hiệu quả công tác tuyên truyền và vận động người dân tham gia các buổi phổ biến kiến thức đã tăng về số lượng và đạt được những kết quả tốt
Và cũng chính đặc điểm về phát triển kinh tế, môi trường sinh sống thuận lợi mà người dân có thể tiếp cận với các phương tiện truyền thông về SKSS, DS-KHHGĐ được dễ dàng, thuận lợi
Trang 34CHƯƠNG 2: THÁI ĐỘ XÃ HỘI ĐỐI VỚI HÀNH VI QUAN HỆ TÌNH DỤC
CỦA VỊ THÀNH NIÊN
2.1 Quan điểm của cộng đồng về SKSS và tình dục
2.1.1.Ý kiến của cộng đồng về giáo dục SKSS VTN
VTN là những chủ nhân tương lai của đất nước, chính vì vậy mà các em cần phải có những kiến thức đầy đủ làm hành trang bước vào đời, do vậy chúng ta cần giúp các em nhận thức rằng việc tiếp thu những kiến thức SKSS là vô cùng cần thiết Việc giáo dục SKSS không những nâng cao được chất lượng sức khỏe cho chính các em mà còn mang lại những lợi ích cho cả gia đình và toàn xã hội
“Theo tôi, việc giáo dục SKSS cho VTN là công việc vô cùng cần thiết, vì khi được trang bị đầy đủ kiến thức về SKSS các em có thể chủ động và tự tin khi giao tiếp với các bạn khác giới hay những vấn đề tế nhị trong cuộc sống hàng ngày, biết làm chủ hành động của bản thân trước những tình huống khó xử và những lôi kéo của bạn bè” (nam, 30 tuổi, cán bộ viên chức)
Bảng 2.1 Nội dung và nhu cầu cung cấp thông tin về SKSS cho VTN
Kiến thức về SKSS và tình dục 259 86,3 Những tình huống giúp họ không hiểu sai khi
tự tìm hiểu về SKSS
Những kiến thức về hành vi tình dục an toàn 211 70,3 Những kiến thức tránh thai ngoài ý muốn 150 50,0
Khi được hỏi nên cung cấp cho vị thành niên những vấn đề gì, kết quả nghiên cứu cho thấy (bảng 2.1) có 259 người trả lời với tỷ lệ 86,3% cho rằng nên cung cấp cho VTN những kiến thức về SKSS và tình dục
Điều này cho thấy ý kiến cộng đồng phần lớn là đồng tình với việc cung cấp thông tin một cách toàn diện và đầy đủ kiến thức về SKSS và tình dục Bởi vì các
em đang ở lứa tuổi bắt đầu yêu và muốn trở thành người lớn, hơn nữa ở lứa tuổi này các em đang hình thành nhân cách và phát triển về thể chất với những biến đổi
Trang 35trong tâm sinh lý, do đó nhu cầu được cung cấp đầy đủ các kiến thức về SKSS và QHTD là phù hợp
Số liệu điều tra còn cho thấy một tỷ lệ tương đối là 63,0% ý kiến cho rằng nên cung cấp những tình huống giúp VTN không hiểu sai khi tự tìm hiểu về SKSS; 70,3% ý kiến trả lời là nên cung cấp những kiến thức về hành vi tình dục an toàn; và 50,0% ý kiến trả lời nên cung cấp cho VTN những kiến thức phòng tránh thai ngoài
ý muốn
Theo một nghiên cứu: “Tìm hiểu nhu cầu về giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản cho học sinh PTTH: nghiên cứu trường hợp bốn trường nội thành Hà Nội - 2001” nhóm tác giả Nguyễn Thị Văn, Đoàn Kim Thắng, Phạm Quốc Thắng đã chỉ ra: các em ở tuổi sinh viên thường có tỷ lệ quan tâm cao hơn ở một số nội dung như quan hệ tình dục (73,1%), nạo hút thai (64,4%), sự thụ thai (63,1%) trong khi các
em ở lứa tuổi học sinh Phổ thông trung học thì thường quan tâm nhiều hơn tới những vấn đề như các biện pháp phòng chống các bệnh LTQĐTD (93,9%), tâm lý tuổi dậy thì (88,4%) [34]
Còn theo một nghiên cứu của tác giả Trần Thị Trung Chiến và CS thì có 79,1% thanh thiếu niên cho rằng mình biết về sự thụ thai nhưng chỉ có 72% biết đúng; 60% không biết hoặc biết sai về khả năng có thai khi giao hợp sau hành kinh (26,0% không biết, 32,5% biết sai); 24,0% không biết có thể có thai vào thời điểm nào trong chu kỳ kinh nguyệt; 25,7% trả lời đúng thời điểm có thể thụ thai là giữa 2 chu kỳ kinh nguyệt, 40,3% không biết và 34% trả lời sai…[8]
Thực tế cho thấy rằng VTN/TN có những kiến thức về phòng tránh thai còn hạn chế thậm chí có nhiều trường hợp còn hiểu sai Vì vậy, việc cung cấp cho VTN những tình huống giúp họ không hiểu sai khi tự tìm hiểu về SKSS và những kiến thức phòng tránh thai ngoài ý muốn
Ý kiến của cộng đồng về kênh giáo dục SKSS cho VTN qua bảng 2.2 cho thấy phần lớn số người được hỏi (257 người) chiếm 85,7% có ý kiến cho rằng nên đưa chương trình giáo dục SKSS thông qua Nhà trường vì đây là nơi đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giáo dục kiến thức nói chung và giáo dục giới tính nói riêng cho VTN Hơn nữa, nhà trường sẽ là nơi tạo cho các em có môi
Trang 36trường được giao lưu và trao đổi khi tổ chức các buổi sinh hoạt lôi kéo các em tham gia Tiếp đến là tivi/đài với tỷ lệ là 64,7%; 58,0% qua sách/báo; 39% CLB; 29,7% qua dịch vụ tư vấn; 25,3% qua điện thoại; 12,3% ý kiến khác
Bảng 2.2 Ý kiến của cộng đồng về kênh giáo dục SKSS cho VTN
Kênh thông tin Số người Tỷ lệ (%)
và cung cấp thông tin nhằm định hướng hành vi của VTN” (nữ, 24 tuổi, vừa tốt
nghiệp đại học)
Như vậy, không chỉ có nhà trường mà các phương tiện truyền thông đại chúng như tivi/đài, sách/báo là những phương án được mọi người chọn lựa để truyền tải những thông tin về SKSS cho vị thành niên Nhưng trên thực tế chúng ta thấy rằng các chương trình truyền hình trên tivi chỉ cung cấp một giới hạn nhất định với những kiến thức nhất định, và hơn nữa truyền hình được phát sóng chỉ có một vài kênh nhất định để lồng ghép những chương trình về SKSS và HIV/AIDS cho thanh niên như kênh VTV6 Còn phương án Câu lạc bộ cũng là một lựa chọn mà mọi người cho là phù hợp đối với việc truyền tải thông tin và kiến thức về SKSS cho vị thành niên vì thông qua câu lạc bộ các em được tham gia vào nhiều hoạt động giao lưu và có thể trở thành người bạn gần gũi với vị thành niên Chính thông qua câu lạc bộ các em được thoải mái giao lưu, học tập kinh nghiệm cũng như chia sẻ thông tin và những thắc mắc của mình Còn qua dịch vụ tư vấn và sách báo có số người
Trang 37lựa chọn thấp hơn, có thể mọi người cho rằng hai phương án này khó gần gũi với các em Dịch vụ tư vấn là một giải pháp được phổ biến ở nhiều nước nhưng đối với Việt Nam thì chưa thực sự phổ biến vì thói quen của người dân Việt Nam là ngại trao đổi và ngại phải thăm khám bác sĩ, người việt Nam chưa hình thành được thói quen thăm khám bệnh
Việc vị thành niên hiện nay đã chủ động tìm kiếm thông tin về SKSS và tình dục là một dấu hiệu đáng mừng nhưng cũng đặt ra nhiều vấn đề mới mà chúng ta cần giải quyết Việc quan trọng là phải làm sao để định hướng và giáo dục các em không tìm kiếm thông tin tại các web “đen” trên internet? Do vậy phải tổ chức hệ thống tuyên truyền như thế nào để các em có thể dễ dàng tiếp cận với những nội dung thông tin lành mạnh về SKSS và các chủ đề liên quan một khi các em có nhu cầu tìm hiểu về nó? Để thực hiện được những vấn đề đặt ra trên thì cần phải có một định hướng cụ thể sẽ mang lại hiệu quả rất lớn cho những chương trình truyền thông về SKSS đang được thực hiện ở Việt Nam
2.1.2 Nhận thức và quan niệm của cộng đồng về QHTD
Có thể thấy rằng vị thành niên là nhóm dân số đặc biệt, dễ bị tổn thương và không được hưởng các dịch vụ chăm sóc SKSS một cách đầy đủ Các em thường chỉ nhận được những thông tin rất nghèo nàn về tránh thai và các bệnh lây qua đường tình dục
Về nhận thức của cộng đồng, theo kết quả điều tra cho thấy có 34,0% số ý kiến cho rằng QHTD là việc làm đáng xấu hổ, 23,0% ý kiến cho rằng QHTD là việc làm bình thường, 17,7% cho rằng là hành vi bản năng của mỗi người và 25,0% có ý kiến khác Điều này có thể thấy rằng quan điểm của cộng đồng hiện nay vẫn còn khắt khe với hành vi này họ cho rằng đó là hành vi đáng xấu hổ, họ vẫn còn e ngại,
né tránh khi nói đến vấn đề này
Theo số liệu điều tra cho thấy ý kiến của cộng đồng về QHTD trước hôn nhân
có 67,2% ý kiến phản đối và 32,8% ý kiến đồng tình Như vậy là có một tỷ lệ chênh lệch tương đối giữa hai luồng ý kiến về QHTD trước hôn nhân (34,4%)
“Hiện nay có một bộ phận vị thành niên và thanh niên đua đòi theo lối sống vật chất, quan niệm dễ dãi đã sống thử, nhưng theo tôi thì QHTD trước hôn nhân là
Trang 38không nên vì sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe và cuộc sống sau này của các em Hơn nữa, khi chia tay thì những bạn nữ sẽ là người thiệt thòi nhất.” (nữ, 30 tuổi, cán bộ
viên chức)
Có thể thấy rằng, cộng đồng hiện nay vẫn có nhận thức đúng đắn và thái độ đúng đắn, phù hợp với đạo lý truyền thống, nền nếp gia phong và đạo đức xã hội đối với các mối quan hệ tình bạn, tình yêu, QHTD… Hầu hết mọi người có thái độ như vậy thì chúng ta có thể nói rằng lối sống buông thả và những ảnh hưởng xấu của lối sống thực dụng, tác động xấu của tiêu cực xã hội chưa ảnh hưởng đến nhận thức và quan niệm của cộng đồng ở hai địa bàn được khảo sát Cũng có nhiều lý do
để họ phản đối việc QHTD trước hôn nhân
“Theo tôi, mọi thứ có thể thử nhưng QHTD trước hôn nhân thì không vì đa số tình yêu vị thành niên là tình yêu học trò, ngây thơ trong sáng, là sự khích lệ để học tập và quãng đời còn dài nên tình yêu đó khó có thể tồn tại lâu dài Nếu QHTD sớm
sẽ ảnh hưởng đến tương lai của các em” (nữ, 30 tuổi, cán bộ viên chức)
“Theo em nghĩ thì QHTD trước hôn nhân là không nên, vì ở tuổi của chúng
em việc học tập là trên hết, hơn nữa QHTD trước hôn nhân sẽ ảnh hưởng đến hạnh phúc sau này nếu chẳng may xảy ra có thai” (nữ, 16 tuổi, học sinh cấp 3)
Tuy nhiên, ngoài những lý do phản đối QHTD trước hôn nhân thì có một bộ phận không nhỏ vẫn chấp nhận việc QHTD trước hôn nhân là khá dễ dàng (32,8%)
Có thể thấy, hiện nay với điều kiện phát triển của kinh tế - xã hội, cuộc sống của người dân ngày được nâng cao với nhịp sống văn minh, hiện đại và do thế tuổi dậy thì ở vị thành niên đến sớm hơn, trong khi đó tuổi kết hôn lại muộn hơn làm cho giai đoạn tuổi VTN/TN trở nên dài hơn Do đó, có một giai đoạn khá dài có khả năng sinh sản, có nhu cầu về tình dục cộng thêm tâm lý muốn khám phá cái mới, muốn khẳng định bản thân, VTN/TN dễ bị lôi cuốn vào những hoạt động tình dục
“Theo tôi, QHTD không phải là vấn đề gì quá lớn, đó là nhu cầu khi mà hai người thực sự yêu nhau và thỏa mãn nhu cầu sinh lý đòi hỏi Quan trọng là chúng
ta biết cách tự bảo vệ nhau và bảo vệ chính bản thân mình để tránh những hậu quả đáng tiếc Nhưng đối với lứa tuổi VTN thì không nên vì các em còn phải học hành
Trang 39và đường đời còn dài, các em lại chưa làm chủ được bản thân và chưa có sự hiểu biết đầy đủ dễ dẫn đến hậu quả đáng tiếc” (nam, 30 tuổi, công nhân viên chức)
Hiện nay, QHTD trước hôn nhân trong giới trẻ rất dễ xảy ra do nhiều yếu tố tác động cả chủ quan và khách quan Tuy nhiên, họ không lường hết được những hậu quả của việc QHTD trước hôn nhân mang lại Chúng tôi đã tìm hiểu về ý kiến của người dân ở hai địa bàn nghiên cứu và cho kết quả như sau:
Bảng 2.3 Ý kiến của cộng đồng về hậu quả của việc
QHTD trước hôn nhân
Hậu quả của việc QHTD trước hôn nhân Số người Tỷ lệ (%)
2.2 Thái độ xã hội đối với hành vi QHTD của VTN
Vị thành niên là một giai đoạn phát triển rất nhanh về thể chất, tâm sinh lý và tinh thần Nhiều vấn đề về sức khỏe ở người lớn xuất phát từ những thói quen dung nhập trong giai đoạn vị thành niên, như hành vi tình dục, rượu chè, ma túy… Trong thời buổi bùng nổ thông tin như hiện nay, các giá trị văn hóa phương Tây xâm nhập
Trang 40vào từng thành phố, làng mạc ở các nước thứ ba, làm thay đổi và ảnh hưởng rất nhiều đến suy nghĩ và hành vi của lứa tuổi vị thành niên Các em đi kiếm tìm những giá trị từ bố mẹ, thầy cô, bạn bè cùng lứa, ngôi sao điện ảnh, ngôi sao nhạc nhẹ…
để tự khẳng định mình Trong bối cảnh này, sức khỏe, đặc biệt là sức khỏe sinh sản
vị thành niên là một trong những thách thức nghiêm trọng nhất đối với những nhà hoạch định chiến lược phát triển
Những biểu hiện ham muốn thể xác xuất hiện ở tuổi vị thành niên là bình thường, nhưng các em cần được giáo dục để hiểu rằng, con người không phải là nô
lệ của bản năng tính dục Khi giã từ tuổi thiếu nhi vô tư để bước vào lứa tuổi vị thành niên cũng là lúc cơ thể bắt đầu có những xung năng sinh lý do ảnh hưởng của các hoóc môn sinh dục (tín hiệu từ bên trong) và những tác động từ bên ngoài như phim ảnh, âm nhạc, sách báo, giáo dục gia đình (tín hiệu từ bên ngoài) Hai tín hiệu
đó đã tạo nên bản năng tính dục cho trẻ Vì vậy, các em trai và các em gái tuổi vị thành niên đều có thể có những biểu hiện của sự “bừng tỉnh” giới tính rất đặc trưng
Do đó dễ dấn đến hành vi tình dục nếu các em không được trang bị tốt về kiến thức SKSS và sự quan tâm của gia đình, nhà trường, bạn bè và xã hội
Qua phần tìm hiểu về ý kiến của cộng đồng về SKSS và QHTD ở trên, cộng đồng ở hai địa bàn nghiên cứu có cái nhìn tương đối rõ ràng về SKSS và QHTD, họ không tán thành QHTD trước hôn nhân và cho rằng QHTD trước hôn nhân sẽ xảy
ra những hậu quả đáng tiếc ảnh hưởng đến cuộc sống sau này
2.2.1 Quan hệ yêu đương của VTN
Theo kết quả nghiên cứu cho thấy, phần lớn mọi người cho rằng trong quan hệ yêu đương của VTN có xảy ra QHTD với ý kiến trả lời là 246 người chiếm 82,0%, chỉ có một tỷ lệ nhỏ cho rằng không có QHTD là 54 người chiếm 18,0% Thanh niên ngày nay có quan niệm cởi mở hơn về quan hệ tình dục trước hôn nhân, tuổi QHTD lần đầu có xu hướng “trẻ hóa” Tuy nhiên, do sự hiểu biết và thái độ với vấn
đề tình dục lại tích cực hơn Đây là nhận định khái quát mà Tổng cục DS-KHHGĐ,
Bộ Y tế đưa ra tại buổi công bố báo cáo chung Điều tra Quốc gia về VTN và thanh niên Việt Nam lần 2 (SAVY 2), ngày 1/6/2010