1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hội đồng niên các vai trò, khuôn mẫu và ứng xử trong xã hội nông thôn đang chuyển đổi trường hợp làng Quan Đình, xã Văn Môn, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh

178 1,6K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 178
Dung lượng 3,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với những ý nghĩa đó mà việc được phục hồi trở lại của hàng loạt các tổ chức phi quan phương truyền thống trong các làng xã đương đại sau một thời gian dài bị gián đoạn đang đặt ra cho c

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ THANH HOA

HỘI ĐỒNG NIÊN: CÁC VAI TRÒ, KHUÔN MẪU VÀ ỨNG XỬ TRONG XÃ HỘI NÔNG THÔN ĐANG CHUYỂN ĐỔI: TRƯỜNG HỢP LÀNG QUAN ĐÌNH, XÃ VĂN MÔN, HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Người hướng dẫn: PGS.TS Lương Hồng Quang

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

4 Mục đích nghiên cứu và đóng góp của luận văn 10

CHƯƠNG 1: HỘI ĐỒNG NIÊN TRONG CƠ CẤU TỔ CHỨC LÀNG – XÃ CHÂU THỔ BẮC BỘ VÀ Ở LÀNG QUAN ĐÌNH 19

1.1.1 Làng Việt: khái niệm và cơ cấu tổ chức 19 1.1.2 Hội Đồng niên trong làng - xã cổ truyền: đi tìm một mối liên hệ 25 1.1.3 Những biến chuyển của làng - xã đương đại và sự phục hồi của HĐN 30

Trang 3

2.1.2.1 Các vai trò trong việc cộng cảm và tương trợ 61 2.1.2.2 Vai trò cùng tổ chức các hoạt động vui chơi, giải trí 72 2.1.2.3 Vai trò trong việc thoả thuận và kiềm chế mẫu thuẫn 76

2.2.2 Vai trò của HĐN trong đời sống làng – xã 85 2.2.2.1 Vai trò trong việc tổ chức hội làng 85 2.2.2.2 Vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội thông qua dư luận xã hội 90

CHƯƠNG 3 : HỘI ĐỒNG NIÊN VÀ SỰ PHẢN ÁNH MỘT XÃ HỘI NÔNG THÔN ĐANG CHUYỂN ĐỔI 95

3.2 Mở rộng xã hội dân sự: Dân chủ cơ sở và phát huy năng lực tự quản 106 3.3 Đa dạng hoá cấu trúc xã hội: sự phân hoá các nhóm xã hội và vai trò của cá

KẾT LUẬN 129 TÀI LIỆU THAM KHẢO 133

Trang 4

Comment [u1]: Các chữ viết tắt k có gạch đầu

dòng, thầy nghĩ vậy, xem lại, đúng thì thôi

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH VẼ

Khung phân tích

Hình 1.1: Thiết chế chính trị xã hội nông thôn năm 1945

Bảng 1.1: Cơ cấu dân cư làng Quan Đình theo giới tính

Bảng 1.2: Cơ cấu dân cư làng Quan Đình theo nghề nghiệp

Bảng 1.3: Thu nhập từ nông nghiệp, thủ công nghiệp và dịch vụ tại Quan Đình Bảng 2.1: Ghi chép về sinh hoạt ĐN (từ 1996 – 2002) của HĐN 1955

Bảng 3.1: Các đặc trưng cơ bản của xã hội nông thôn Việt Nam truyền thống và đương đại

Bảng 3.2: Các giá trị của xã hội nông thôn truyền thống và đương đại

Bảng 3.3: Nghề nghiệp và nơi làm việc của thành viên các HĐN

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cho đến hiện nay, dù đã trải qua một thời gian dài nhưng có lẽ những câu nói

của nhà dân tộc học Từ Chi vẫn còn nguyên giá trị khi ông cho rằng: “Hiểu được làng Việt là có trong tay cơ sở tối thiểu và cần thiết để tiến lên tìm hiểu xã hội Việt nói riêng và xã hội Việt Nam nói chung, trong sức năng động lịch sử của nó, trong ứng xử cộng đồng và tâm lý tập thể của nó, trong các biểu hiện văn hoá của nó, cả trong những phản ứng của nó trước tình huống mà lịch sử đương đại đặt vào nó”

(Trần Từ, 1984, tr.12) Do đó, thông qua làng Việt, ta có thể nhận diện được xã hội nông thôn đồng bằng sông Hồng trong lịch sử và hiện tại.Ý nghĩa đó khiến cho việc nghiên cứu về làng – xã dù không còn là một chủ đề mới nhưng vẫn là một chủ đề quan trọng cho các nhà nghiên cứu bàn luận, nhất là trong bối cảnh làng – xã đang chịu sự tác động rất mạnh mẽ của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá nông nghiệp – nông thôn

Vài thập kỷ trở lại đây, dưới tác động của quá trình đổi mới, các làng – xã đang có những thay đổi mạnh mẽ trên nhiều phương diện trong đó phải kế tới xu hướng phục hồi của các yếu tố truyền thống, đặc biệt là sự xuất hiện trở lại của hàng loạt các tổ chức phi quan phương

Trong lịch sử, các tổ chức phi quan phương là một phần cấu thành của cơ cấu

tổ chức làng – xã Các tổ chức này thể hiện các chiều cạnh quan hệ xã hội khác nhau của con người như nghề nghiệp, tuổi tác, giới tính, huyết thống… Mỗi loại hình tổ chức có một vai trò khác nhau đáp ứng các nhu cầu về văn hoá, xã hội, kinh tế… của người nông dân Các tổ chức này cũng chính là những cầu nối giữa các cá nhân với cộng đồng, là nơi truyền tải các giá trị và chuẩn mực, điều chỉnh những hành vi ứng xử của con người Không chỉ có vậy, trong tổng thể cơ cấu tổ chức, các

tổ chức phi quan phương không nằm ngoài mối quan hệ với các tổ chức quan

Trang 7

phương Mối quan hệ giữa các hệ thống thiết chế này thể hiện mối quan hệ cơ bản trong lịch sử Việt Nam Đó là mối quan hệ giữa nhà nước và làng – xã Bởi vậy, cùng với quá trình lịch sử, các hình thức tổ chức này đã góp phần tạo nên những đặc trưng cơ bản của làng – xã, đồng thời nó cũng là nơi phản ánh tương đối rõ nét những xu hướng biến đổi diễn ra trong cộng đồng làng - xã tại mỗi thời điểm lịch

sử Với những ý nghĩa đó mà việc được phục hồi trở lại của hàng loạt các tổ chức phi quan phương truyền thống trong các làng xã đương đại sau một thời gian dài bị gián đoạn đang đặt ra cho các nhà nghiên cứu cũng như những nhà quản lý nhiều vấn đề đáng quan tâm

Mặt khác, song song với quá trình phục hồi các truyền thống văn hoá và tái lập

cơ cấu xã hội phi quan phương, các làng – xã châu thổ Bắc Bộ hiện nay đang trải qua một quá trình chuyển đổi mạnh mẽ dưới tác động của công cuộc công nghiệp hoá và hiện đại hoá Hai quá trình kể trên diễn ra đồng thời và có tác động lẫn nhau,

từ đó đặt ra nhiều vấn đề cho nhà nghiên cứu Mối quan hệ giữa cái cũ và cái mới, giữa truyền thống và hiện đại là những câu hỏi đặt ra từ hiện tượng quay trở lại của các tổ chức phi quan phương Liệu trong bối cảnh đương đại, vai trò và các khuôn mẫu của các tổ chức này có thay đổi như thế nào so với quá khứ? Đâu là những yếu

tố của truyền thống được bảo lưu và đâu là những yếu tố mới được bổ sung từ cuộc sống hiện đại? Qua mối quan hệ giữa các yếu tố cũ và mới đó thể hiện những xu hướng biến đổi gì đang diễn ra trong đời sống xã hội nông thôn hiện nay? Đồng thời, ở tầm mức cao hơn, việc nghiên cứu các tổ chức phi quan phương trong bối cảnh đương đại cho thấy những thay đổi đang diễn ra trong mối quan hệ hằng xuyên của lịch sử làng – xã, mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân? Và từ đó, đặt ra vấn

đề về trình độ phát triển của xã hội nông thôn hiện nay ra sao?

Từ những vấn đề nêu trên có thể thấy, nghiên cứu về những biến đổi của cơ cấu tổ chức làng – xã và những biến đổi trong vai trò, khuôn mẫu của các tổ chức xã hội phi quan phương sẽ góp phần vào tìm hiểu các động thái biến đổi của đời sống

xã hội nông thôn hiện nay Đây là một loại nghiên cứu cơ bản ở tầm vĩ mô, cần phải tiến hành trong một thời gian dài mới có thể trả lời cho vấn đề này một cách khái

Trang 8

quát Tuy nhiên, nghiên cứu trong phạm vi một tổ chức xã hội cụ thể trong một khoảng không gian và thời gian nhất định cũng có thể cho thấy những biến đổi xã hội mang tính bộ phận đang diễn ra ở đây Những nghiên cứu trường hợp này nếu được đặt trong sự so sánh với các kết quả tại những không gian và thời điểm khác nhau, sẽ giúp ta thấy rõ hơn sự biến đổi qua thời gian của xã hội làng – xã trong quá trình đổi mới và phát triển

Trong số các tổ chức phi quan phương được phục hồi hiện nay, hội đồng niên (HĐN) được coi là một nhân tố nổi bật Tổ chức này có mặt tại nhiều làng – xã nông thôn vùng châu thổ Bắc Bộ, nhất là ở các tỉnh Bắc Ninh, Hà Tây, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nam, Nam Định…, thu hút một bộ phận đông đảo người dân tham gia Thông qua việc nghiên cứu đối tượng cụ thể này, có so sánh, đối chiếu một phần với các tổ chức khác, tác giả mong muốn tìm hiểu một cách sâu sắc về quá trình vận dụng các yếu tố truyền thống vào đời sống đương đại của người dân làng – xã hiện nay Qua đó có những cứ liệu cụ thể để hiểu rõ hơn những xu hướng biến đổi của các tổ chức phi quan phương nói riêng và đời sống xã hội nông thôn nói chung trong quá trình chuyển đổi hiện nay

Nghiên cứu về các HĐN được thực hiện tại làng Quan Đình, xã Văn Môn, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, một làng nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, tiếp giáp với Thủ đô Hà Nội Với vị trí này, làng Quan Đình nằm trong khu vực chịu sự tác động mạnh mẽ của xu thế công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá Làng trở thành tâm điểm của sự va đập giữa các yếu tố cũ và mới, giữa cái truyền thống và cái hiện đại Điều này đã dẫn tới những thay đổi sâu sắc trong đời sống xã hội nơi đây, thể hiện ở sự đa dạng trong kết cấu xã hội và cấu trúc văn hoá của làng Trong bối cảnh như vậy, các HĐN đã được phục hồi và nở rộ với số lượng lớn ở Quan Đình trong những năm vừa qua, đảm nhận nhiều chức năng xã hội được cộng đồng công nhận Thông qua HĐN, chúng ta có thể hiểu được các ứng xử của người nông dân đương đại với truyền thống và khả năng thích ứng của họ đối với đời sống đương đại Thực tế này và những nhu cầu nghiên cứu đặt ra ở phần trên đã

Trang 9

khiến tác giả quyết định lựa chọn các HĐN tại Quan Đình làm đối tượng nghiên cứu cho luận văn của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề làng - xã là vấn đề rất được quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong

và ngoài nước thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như Dân tộc học, Sử học, Xã hội học, Kinh tế học… Các tác phẩm của các nhà khoa học này với nhiều cách tiếp cận khác nhau đã tạo nên một kho tư liệu khá phong phú về làng – xã Về đại thể, có thể chia các công trình nghiên cứu này thành hai nhóm Nhóm thứ nhất là các nghiên cứu về làng - xã truyền thống, và nhóm thứ hai là các công trình nghiên cứu về sự biến đổi của làng – xã hiện tại

Các công trình nghiên cứu về làng – xã truyền thống đã được thực hiện từ rất sớm bởi các nhà nghiên cứu người Pháp như P.Ory (1894), Y.Henry (1932), C.Briffault (1939), P.Gourou (1936)… sau đó là học giả người Việt như Phan Kế

Bính với Việt Nam phong tục (1915), Đào Duy Anh với công trình Việt Nam văn hoá sử cương (1938), Nguyễn Văn Huyên với các tác phẩm được in trong Góp phần nghiên cứu văn hoá Việt Nam (1995),… các công trình này cho ta hiểu được những

nét đại cương về xã hội Việt Nam và truyền thống văn hoá Việt Nam trong lịch sử Đây là những công trình khảo cứu, mô tả khá đầy đủ về các lĩnh vực trong đời sống

xã hội Việt Nam cổ truyền Những nghiên cứu này cung cấp nguồn tư liệu rất giá trị

để có thể hình dung được bối cảnh xã hội Việt Nam cổ truyền

Bên cạnh những công trình mang tính khảo tả các làng – xã trên những nét đại cương, còn có những công trình nghiên cứu về quá trình biến đổi của làng – xã trong lịch sử sau khi các ngành khoa học xã hội được xây dựng trên quan điểm mác

xít Thuộc nhóm công trình này phải kể đến Xã thôn Việt Nam (1959) của Nguyễn Hồng Phong, Nông thôn Việt Nam trong lịch sử (1977,1978), Nông dân và nông thôn Việt Nam thời cận đại (1990, 1992) do Viện Sử học phát hành; Thiết chế làng -

xã cổ truyền và quá trình dân chủ hoá hiện nay ở nước ta (1992) của Vũ Minh

Giang… Những công trình này không hẳn chỉ quan tâm đến các vấn đề của làng -

Trang 10

xã cổ truyền mà là những nghiên cứu về làng - xã trong quá trình biến đổi của lịch

sử

Những năm gần đây, việc nghiên cứu về làng – xã đương đại được chú trọng theo hướng tiếp cận chuyên ngành và dựa trên các nghiên cứu trường hợp, được các nhà nghiên cứu nước ngoài và trong nước tiến hành Trong nhóm các công trình nghiên cứu về làng - xã đương đại phải kể đến những nghiên cứu trường hợp về

những làng - xã cụ thể như Hải Vân - một xã ở Việt Nam, Đóng góp của xã hội học vào việc nghiên cứu những sự quá độ (2001) của F.Houtart và G.Lemercinier - là hai tác giả người Bỉ, Làng Nguyễn (1994) của Diệp Đình Hoa và nhiều công trình

nghiên cứu khác Đặc biệt trong số các công trình nghiên cứu chuyên sâu về một làng, phải kể đến các công trình của các nhà nghiên cứu nước ngoài với cách tiếp cận nhân học đã phân tích rất tỉ mỉ và sâu sắc về đời sống làng Việt Đó là các tác

phẩm Cuộc cách mạng ở làng, truyền thống và sự chuyển đổi ở miền Bắc Việt Nam,

1925 – 1988 (Revolution in the village, Tradition and Transformation in North Vietnam, 1925-1988) (1992) của Hy V.Lương, hay Làng Việt đối diện tương lai, hồi sinh quá khứ (2007) của John Kleinen… Nhóm những công trình này là những

nghiên cứu chuyên sâu về các làng - xã cụ thể, và qua đó không chỉ cung cấp những

cứ liệu, những dẫn chứng hữu ích cho các nhà nghiên cứu mà còn có những kiến giải mới về làng – xã Việt, về sự phát triển khá đa diện, phức tạp của làng – xã Việt Nam trong truyền thống và trong giai đoạn hiện nay

Bên cạnh các nghiên cứu trường hợp là những nghiên cứu mang tính khái quát, định hướng về sự phát triển nông thôn đương đại trong đó làng - xã là một đơn

vị xã hội cơ bản Về xu hướng này phải kể đến những nghiên cứu như đề tài

KX07-05 về Những đặc trưng và xu thế phát triển của cơ cấu xã hội đang đổi mới 1995), đề tài KX 07-02 về Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay (1991-1995), đề tài cấp Bộ Văn hoá nông thôn trong phát triển (1996-1998) do

(1991-Viện Nghiên cứu Văn hoá Nghệ thuật (nay là viện Văn hóa – Thông tin) tiến hành,

công trình Tác động của quá trình đổi mới tới các quan hệ xã hội cơ bản trong làng

- xã đồng bằng Sông Hồng (1996-1998) do Tô Duy Hợp chủ biên, Luận cứ khoa

Trang 11

học cho việc điều chỉnh chính sách xã hội nhằm phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam ngày nay (2000-2001) của Tô Duy Hợp và các cộng sự, Đề tài nhà nước

KX 05-02 Đời sống văn hóa và xu hướng phát triển văn hóa vùng nông thôn đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá (2001-2005) do Viện Văn hoá – Thông tin chủ trì……Nhóm công trình này cung

cấp những tri thức về thực trạng của xã hội nông thôn đang chuyển đổi và đặt ra những vấn đề ở bình diện chính sách, chiến lược phát triển nông thôn đương đại Như vậy, các công trình nghiên cứu về làng – xã truyền thống và đương đại được thực hiện trong nhiều năm qua đã mang lại những nguồn tài liệu phong phú và

có vai trò quan trọng trong việc cung cấp các dữ kiện chung về đời sống làng xã Trong số các công trình viết về làng xã nói chung kể trên, ít nhiều cũng đã đề cập đến khía cạnh cơ cấu tổ chức của làng xã và các tổ chức phi quan phương Tuy nhiên, việc phân tích tỉ mỉ và hệ thống về các cơ cấu tổ chức làng – xã và các tổ chức phi quan phương chỉ được bắt đầu vào đầu thập kỷ 80, đặc biệt là với công

trình Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ (1984) của cố học giả Từ

Chi Tác phẩm cung cấp cho chúng ta một cái nhìn khá cụ thể, sinh động, về tổ chức giáp, về cơ cấu tổ chức, chức năng, cách thức vận hành, những tác động của nó trong đời sống làng Việt cổ truyền và đối với chính những thành viên trong lòng nó Tác phẩm còn đưa ra những luận giải rất khoa học về phe, giáp, về phường, hội cùng những cung cách vận hành của chúng Tác giả không chỉ dừng lại ở việc mô tả các tổ chức mà tập trung vào việc nghiên cứu các tổ chức truyền thống từ phương diện lý luận, trong đó đề cập đến khía cạnh vai trò của các tổ chức xã hội đối với đời sống cộng đồng Có thể coi đây là những viên gạch đầu tiên - những viên gạch khá vững chắc, đặt nền móng cho các công trình nghiên cứu tiếp theo về cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở đồng bằng Sông Hồng Sau này, tác phẩm này được biên soạn lại cùng với các công trình nghiên cứu khác của học giả Từ Chi trong

cuốn chuyên khảo Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người (2003)

Tiếp ngay sau đó, cuốn Lệ làng phép nước (1985) của Bùi Xuân Đính đã ra

mắt giới khoa học Đây là tác phẩm nghiên cứu chuyên sâu về lệ làng cổ truyền Việt

Trang 12

Nam từ tất cả các góc độ của nó, thông qua các bản hương ước cổ, ở tác phẩm này, các tổ chức xã hội cổ truyền được thể hiện ở một góc độ khác, thông qua những quy ước liên quan tới cơ cấu tổ chức và các quan hệ xã hội trong làng xã của hương ước:

về việc lập ra các tổ chức trong làng, chức năng, quyền hạn và lề lối làm việc của từng tổ chức cũng như của các thành viên trong đó, từ ngõ, xóm, dòng họ đến giáp, phe, phường, hội…

Năm 1991, tập thể tác giả của Viện Kinh tế học thuộc Viện Khoa học Xã hội

Việt Nam đã cho ra đời cuốn chuyên khảo Ảnh hưởng của các yếu tố truyền thống đối với tổ chức sản xuất nông nghiệp, trong đó diễn giải về các hình thức hội, họ cổ

truyền trong nông thôn (mà các tác giả cuốn sách gọi là các hình thức tín dụng cổ truyền trong nông thôn), cùng với mặt tích cực và hạn chế của chúng

Cùng với các tác phẩm trên, nhiều công trình nghiên cứu của GS Phan Đại Doãn đã góp phần quan trọng vào việc nhận diện rõ hơn các tổ chức xã hội truyền

thống cũng như sự vận động của nó, tiêu biểu là cuốn Làng xã Việt Nam một số vấn

đề kinh tế - văn hóa - xã hội (1992) Xuất phát từ góc độ lịch sử, xã hội học gắn với

thực tiễn nước ta và kinh nghiệm của các nước, nội dung cuốn sách đã tập trung phân tích những vấn đề chính thuộc làng xã Việt Nam, từ truyền thống đến hiện đại,

từ kết cấu kinh tế đến kết cấu văn hóa, xã hội Tiếp đến, tác giả lại biên soạn cuốn

Mấy vấn đề về văn hóa làng xã Việt Nam trong lịch sử (2004) đã góp phần nhận

diện về kết cấu cộng đồng làng - xã truyền thống đồng bằng sông Hồng và ảnh hưởng của nó trong nông thôn ngày nay

Gần đây nhất, các nghiên cứu về giáp của nhóm nghiên cứu do PGS.TS Lương Hồng Quang chủ trì đã cung cấp cho chúng ta những cách nhìn mới, cách xử

lý mới về đề tài các tổ chức xã hội cổ truyền, thông qua việc nghiên cứu tổ chức giáp trong làng xã vùng đồng bằng Sông Hồng, trên giả thiết cho rằng giáp là một tổ

chức có quyền lực cao hơn các tổ chức khác và không bình đẳng như các chiều tổ chức khác trong làng xã và nó không mất đi hẳn mà tồn tại ở những dạng thức khác,

đó là các HĐN hiện nay và một vài dạng thức giáp còn lại tại một số làng hiện nay

Trang 13

Bên cạnh các công trình nghiên cứu của các tác giả Việt Nam, còn phải kể

đến các nghiên cứu của các học giả nước ngoài Đáng chú ý là cuốn Làng ở châu thổ sông Hồng: vấn đề còn bỏ ngỏ (2002) do Philippe Papin – Olivier Tessier chủ

biên cùng tập thể đông đảo các học giả trong và ngoài nước tham gia nghiên cứu Các nhà khoa học cũng đã bàn về nguồn gốc và bản chất của các tổ chức xã hội cổ truyền, mối quan hệ của chúng với cơ cấu tổ chức của làng Việt Đây là những tài liệu tham khảo có ích đối với các nhà nghiên cứu và các nhà quản lý về văn hóa trong bối cảnh hiện nay

Rõ ràng là, trong những năm qua việc nghiên cứu về làng Việt cổ truyền nói chung và về các tổ chức xã hội truyền thống của nó nói riêng, đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước Những công trình này đã góp phần bảo lưu được giá trị văn hóa truyền thống của làng xã Việt Nam trên các tài liệu thành văn Từ đó giúp cho chúng ta có một cách nhìn toàn diện về giá trị của các tổ chức xã hội truyền thống để phát huy thế mạnh, khắc phục những điểm yếu kém của chúng trong đời sống cộng đồng; góp phần xây dựng văn hóa làng xã Việt Nam “tiên tiến” nhưng vẫn thể hiện rõ bản sắc dân tộc

Nhưng các nghiên cứu trên vẫn còn thiếu một sự tập hợp đi sâu về các tổ chức xã hội phi quan phương, mới chỉ tập trung vào nghiên cứu một vài tổ chức quan trọng như giáp, hay mới chỉ đưa ra những khái quát chung về một số tổ chức như Hội Tư văn, Ban Khánh tiết và các tổ chức xã hội phi quan phương khác, đặc biệt là các HĐN chưa được chú ý nghiên cứu đúng mức

Cho đến nay, có thể nói chưa có một công trình nghiên cứu riêng biệt nào về các HĐN Tổ chức này chỉ được nhắc đến trong một số công trình của các nhà dân

tộc học, sử học… Đặc biệt, trong tác phẩm Cơ cấu tổ chức làng Việt cổ truyền ở đồng bằng Bắc Bộ (1984), khi bàn về tổ chức giáp, tác giả Trần Từ đã đề cập một

cách sơ lược đến các HĐN và mô tả mối liên hệ giữa hai tổ chức này Sau này, HĐN cũng được nhắc đến trong các công trình của GS Phan Đại Doãn, của nhà dân tộc học Diệp Đình Hoa mà chúng tôi đã đề cập đến ở phần trên Tuy vậy, trong các tác phẩm này, HĐN chỉ được nhắc đến với tư cách là một loại hình tổ chức xã hội

Trang 14

phi chính thống ở làng xã cổ truyền.Việc mô tả tổ chức này chỉ dừng lại ở khía cạnh

cơ cấu tổ chức và nguyên tắc hoạt động của nó

Những năm gần đây, cùng với sự phát triển trở lại của các HĐN, các công

trình nghiên cứu về làng – xã đương đại cũng đã nhắc đến tổ chức này, điển hình

trong công trình Sự biến đổi của làng – xã Việt Nam ngày nay ở đồng bằng sông

Hồng (2000) của nhóm tác giả Tô Duy Hợp, Lương Hồng Quang… Ở nghiên cứu

này, các tác giả không chỉ mô tả về các HĐN mà còn đặt ra các vấn đề về sự biến

đổi của loại hình tổ chức này từ truyền thống đến hiện tại Tuy nhiên, việc đề cập

đến các HĐN cũng chỉ chiếm một dung lượng rất nhỏ bé trong nội dung của cuốn

sách này

Như vậy, thực tế nghiên cứu trong những năm qua cho thấy, tư liệu về các

HĐN không có nhiều, nhất là các HĐN ở thời điểm hiện tại Việc đề cập đến tổ

chức này trong các công trình nghiên cứu từ trước đến nay còn khá mờ nhạt và thiếu

hệ thống

Tóm lại, từ việc xem xét tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến

nội dung của luận văn, chúng ta có thể thấy rằng, các nghiên cứu về làng - xã ở trên

là nguồn tư liệu quan trọng trong việc cung cấp các ý tưởng, dữ kiện, cách nhìn

nhận, phân tích và đánh giá về các khía cạnh khác nhau của đời sống làng - xã góp

phần hình thành các ý tưởng cho nghiên cứu này, trong đó cần ghi nhận một số

nhận định sau:

- Cộng đồng làng - xã đóng vai trò quan trọng trong suốt tiến trình lịch sử

phát triển của đất nước và điều này vẫn tiếp nối trong hiện tại và tương lai

- Làng - xã đương đại đang đứng trước những thay đổi trên hầu hết các

lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá Điều này đặt làng - xã trước những vận

hội mới đồng thời cũng là những khó khăn, trở ngại không dễ vượt qua

- Các tổ chức phi quan phương là một phần quan trọng trong cơ cấu tổ

chức của làng – xã, góp phần tạo nên những đặc trưng về văn hoá, xã hội của làng –

xã, Cũng như các thành tố khác, các tổ chức phi quan phương tại các làng – xã cũng

Comment [u2]: Về các nhóm công trình, cần làm

nguồn ghi rõ trong loại vấn đề này có những tác phẩm nào, theo kiểu ghi tên tác giả, năm xuất bản, ví

dụ (Lương Văn Hy- 2000)

Trang 15

đang có những thay đổi nhất định và việc thay đổi đó có ảnh hưởng đến đời sống làng – xã

- Các nghiên cứu về các tổ chức phi quan phương cho đến nay chủ yếu vẫn là những nghiên cứu mô tả Các quan tâm về vai trò của các tổ chức phi quan phương truyền thống truyền và những biến đổi của nó trong xã hội đương đại hầu như ít được nhắc đến hoặc chỉ dừng lại ở những ý tưởng lẻ tẻ và mang tính gợi mở,

thiếu tính hệ thống

3 Đối tƣợng, phạm vi, địa bàn nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Luận văn phân tích vai trò, khuôn mẫu và ứng xử của

HĐN ở một làng châu thổ Bắc Bộ như là sự tiếp nhận truyền thống và thích ứng của người đương thời nhằm đảm bảo sự kết nối truyền thống và hiện đại Thông qua các phân tích này, tác giả muốn ghi nhận những động thái biến chuyển về văn hoá, xã hội đang diễn ra trong xã hội nông thôn đương đại

Phạm vi nghiên cứu: Có rất nhiều vấn đề khác nhau liên quan đến các HĐN,

tuy nhiên, trong khuôn khổ của luận văn này, tác giả chỉ xác định phạm vi nghiên cứu của mình là các HĐN trong xã hội đương đại mà không đi sâu vào nghiên cứu

về lịch sử hình thành cũng như hoạt động của các HĐN trong xã hội truyền thống

Địa bàn nghiên cứu: Luận văn được tiến hành trên cơ sở một nghiên cứu

trường hợp (case study) tại làng Quan Đình, xã Văn Môn, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh

4 Mục đích nghiên cứu và đóng góp của luận văn

Với việc nghiên cứu về các HĐN, luận văn đặt ra mục đích tìm hiểu về quá trình tiếp nhận các giá trị văn hoá và tổ chức truyền thống của người dân nông thôn đương đại, cũng như các thích ứng của các giá trị và tổ chức ấy nhằm đáp ứng nhu cầu của con người qua những biến đổi về thời gian Để làm được điều đó, tác giả luận văn sẽ tiến hành phân tích vai trò, các khuôn mẫu và các ứng xử liên quan đến các HĐN thông qua tiếng nói, sự trải nghiệm và câu chuyện của chính các thành viên trong các tổ chức này Đồng thời, từ một khảo sát có tính đại diện, luận văn muốn xác định rằng, các hoạt động của HĐN hiện nay đang phản ánh những xu

Trang 16

hướng biến đổi nhất định của xã hội nông thôn Trên cơ sở các nghiên cứu này, tác giả luận văn đề xuất một số gợi ý cho việc nghiên cứu và quản lý các tổ chức phi quan phương nói riêng và xã hội nông thôn vùng châu thổ Bắc Bộ nói chung trong thời gian tới

5 Các khái niệm cơ bản và khung phân tích

 Các khái niệm cơ bản được sử dụng trong nghiên cứu bao gồm: 1/ Tổ chức phi quan phương, 2/ Hội Đồng niên, 3/

Vai trò, 4/Khuôn mẫu văn hoá, 5/

Ứng xử,

6/

Xã hội nông thôn, 7/Chuyển đổi

- Tổ chức phi quan phương: Trong nhiều công trình nghiên cứu lịch sử,

khái niệm phi quan phương thường được sử dụng trong sự đối lập với khái niệm quan phương để chỉ mối quan hệ giữa các yếu tố nằm ngoài nhà nước và các yếu tố

thuộc về nhà nước Chẳng hạn, trong một bài viết về chủ đề lịch sử pháp luật Việt

Nam, GS.TSKH.Vũ Minh Giang đã cho rằng: “Luật pháp - những chế định quan phương của nhà nước chỉ có thể coi là “phần cứng” trong hệ thống điều chỉnh hành vi xã hội Để bổ sung cho pháp luật, xã hội còn cần tới những chế định không chính thức khác, chúng tôi gọi là những chế định phi quan phương.” (Vũ Minh

Giang, 1993)

Như vậy, khái niệm phi quan phương có thể được coi là đồng nghĩa với các

khái niệm phi chính thức (hay không chính thức), phi nhà nước đang được sử dụng

rộng rãi hiện nay Nó được dùng để chỉ tính chất của một yếu tố nào đó xét trong mối tương quan với hệ thống chính trị, trong đó, nhấn mạnh việc nằm ngoài sự kiểm soát, quản lý của nhà nước một cách trực tiếp, “nằm ngoài” hệ thống chính trị chính thức

Trong lịch sử Việt Nam, các yếu tố quan phương và phi quan phương, chính thức và không chính thức luôn tồn tại song hành cùng nhau Bên cạnh các tổ chức quan phương nằm trong cơ cấu quyền lực chính trị hay cơ quan chính quyền, còn có rất nhiều các tổ chức được thành lập một cách tự phát từ các liên hệ của những người có chung một nhu cầu nào đó Các tổ chức này chính là các tổ chức phi quan phương Khái niệmtổ chức phi quan phương được hiểu là các tổ chức xã hội, các

Trang 17

nhóm xã hội của quần chúng nằm ngoài cơ cấu quyền lực chính trị hay cơ quan chính quyền của nhà nước, không chịu sự điều hành, quản lý trực tiếp cũng như hỗ trợ về mặt tài chính của nhà nước Nó được phát triển trên nền tảng tự nguyện và cùng chia sẻ những giá trị và lợi ích chung của nhóm

- Hội đồng niên: Bản thân khái niệm này đã xác định đặc trưng của loại hình

tổ chức này Đó là một tổ chức tự nguyện, một tổ chức phi quan phương của những người có cùng năm sinh, HĐN còn có các tên gọi khác là Hội đồng tuế hay Hội đồng canh (HĐC) Trên lý thuyết, tất cả những người có cùng năm sinh đều có thể thành lập các HĐN và thực tế tại một số nơi cũng có các HĐN của nữ giới hay có

sự tham gia của cả nam và nữ trong cùng một hội Nhưng đa phần các HĐN chỉ dành riêng cho nam giới Việc nữ giới gia nhập vào tổ chức này chỉ mới xuất hiện thời gian gần đây Vì vậy, trong Từ điển Bách khoa Toàn thư Việt Nam1

, Hội đồng

niên vẫn được định nghĩa như sau: “Hội đồng niên còn được gọi là Hội đồng tuế, là

tổ chức của những người đàn ông sinh cùng một năm (tính theo tuổi và năm âm lịch) Hội tổ chức đơn giản, hằng năm hội họp với nhau một lần để ăn uống, vui chơi Mỗi năm hoặc có khi hai năm tuỳ theo từng nơi, bầu một người đăng cai lo công việc của năm đó Họ quý mến nhau vì cùng tuổi tác, tính tình dễ hợp nhau; họ cũng giúp đỡ nhau nhưng đấy không phải là nghĩa vụ bắt buộc của mỗi thành viên Nhìn chung, HĐN tổ chức ít chặt chẽ hơn so với các hội khác trong làng xóm”

- Vai trò: Trong nghiên cứu xã hội học và nhân học, khái niệm vai trò là một

khái niệm then chốt, gắn liền với trường phái lý thuyết chức năng và tên tuổi của nhà nhân học Mỹ Linton Ông cho rằng: một người giữ một địa vị khi họ được giao cho quyền hoặc nhiệm vụ ứng xử và được đối xử theo một cách nào đó trong giao tiếp xã hội Khi họ hành động như được mong đợi theo địa vị đó, họ thực hiện vai trò có liên quan Theo lý thuyết này:

- Một vị thế là một vị trí trong một dạng quan hệ xã hội

- Một vai trò bao gồm những hình thức ứng xử có liên quan đến địa vị đó

1http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn

Trang 18

Như vậy, vai trò trong lý thuyết nhân học và xã hội học không phải để chỉ những

vai trò một cách chung chung mà đó là các vai trò xã hội Khái niệm này diễn đạt sự tương tác xã hội, sự thực hiện chức năng của mỗi cá nhân trong tập đoàn, hay của cá nhân và tập đoàn trong toàn bộ xã hội Vai trò xã hội là hàng loạt những hành động, hành vi của cá nhân tương ứng với địa vị của cá nhân trong tập đoàn; đó là mặt động của địa vị xã hội 2

Ví dụ, các từ "mẹ", "lính gác", "thầy giáo" có nghĩa là địa vị

của con người trong một tập đoàn xác định, đồng thời cũng có nghĩa là cả một hệ thống những hành vi xác định Mỗi người có một địa vị xã hội nào đó, buộc phải quan tâm đến điều mà tập đoàn mong đợi, yêu cầu đối với vai trò xã hội tương ứng Tham gia vào nhiều tập đoàn khác nhau, mỗi người thường thực hiện một số vai trò; giữa những vai trò này, có thể phát sinh mâu thuẫn Sự tương tác xã hội đòi hỏi mọi thành viên phải nhất trí với nhau về nội dung của vai trò; quan niệm khác nhau về những vai trò có liên quan đến nhau thì dẫn đến sự căng thẳng, xung đột Không có một sự phân loại rành mạch nào về các vai trò xã hội Thường hay nêu ra những vai trò về yêu cầu hành động (vd thầy thuốc, lính gác), về phạm vi hay ngoại diên (vd công dân, hành khách), về ý nghĩa (vd bạn hữu, người quen) Có người nêu ra những vai trò đối xứng, vd, cha, con; những vai trò do tự nhiên mà có (tuổi, giới tính, xuất thân) và do thành đạt mà có (trong kinh doanh, học tập)

- Khuôn mẫu: Theo nguyên gốc của từ này, khuôn mẫu được dùng để chỉ

việc làm theo một cái gì đó để tạo ra hàng loạt cái khác cùng kiểu Hay một cái gì

đó có thể cho ta hiểu biết về hàng loạt những cái khác cùng một kiểu (Hoàng Phê,

1988, tr.649)

Như vậy, theo nghĩa hẹp, khuôn mẫu thể hiện các đặc trưng hợp thành tiêu chuẩn theo đó người khác làm theo, hay tạo ra các hàng loạt sản phẩm khác cùng kiểu Khái niệm khuôn mẫu được dùng nhiều trong toán học, tin học, tâm lý học,

ngôn ngữ học và các khoa học khác.Việc áp dụng khái niệm này trong từng lĩnh vực

2http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn

Trang 19

cụ thể đã làm thay đổi phần nào nội hàm và ngoại diện của nó, ở đề tài này, khái niệm khuôn mẫu được hiểu là các khuôn mẫu về văn hoá.

Khuôn mẫu văn hoá: Khái niệm văn hoá được coi là hệ thống các giá trị và

chuẩn mực xã hội Trong bài phát biểu khai mạc Thập kỷ thế giới phát triển văn hoá, ông Tổng thư ký UNESCO Federico Mayor Zaragoza coi văn hoá là tổng thể sống động của các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế

kỷ, hoạt động sáng tạo ấy hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống

và thị hiếu- những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc (Federico Mayor Zaragoza, 1998) Quan điểm này của ông khẳng định hệ thống giá trị và chuẩn mực

là kết quả của sự vận động lịch sử, biểu hiện thông qua các khuôn mẫu văn hoá và

biểu tượng

Như vậy, khái niệm khuôn mẫu được dùng trong luận văn này được đưa ra từ

góc độ tiếp cận nhân học văn hoá Nó bao gồm hệ thống các giá trị và chuẩn mực thể hiện những ước muốn, ý nguyện của cộng đồng và các tiêu chuẩn qui định cách

thức ứng xử và tư duy của con người

- Ứng xử: Từ điển tiếng Việt giải thích khái niệm ứng xử là "có thái độ, hành

động, lời nói thích hợp trong việc xử sự" Ứng xử theo nguyên gốc tiếng Anh là Behaviour, khi được dịch sang tiếng Việt, nó còn được dịch là “Hành vi” Hai từ ứng xử và hành vi thường được dùng thay thế cho nhau (Hoàng Phê,1988, tr.1091)

Các soạn giả của cuốn Từ điển Tâm lý cho rằng "Từ ứng xử chỉ mọi phản ứng của động vật khi một yếu tố nào đó trong môi trường kích thích; các yếu tố bên ngoài và tình trạng bên trong gộp thành một tình huống, và tiến trình ứng xử để kích thích có định hướng nhằm giúp chủ thể thích nghi với hoàn cảnh Khi nhấn mạnh về tính khách quan, tức là các yếu tố bên ngoài kích thích cũng như phản ứng đều là những hiện tượng có thể quan sát được, chứ không như tình ý bên trong, thì nói là ứng xử Khi nhấn mạnh mặt định hướng, mục tiêu thì gọi là hành vi." (Nguyễn Khắc Viện,

2001, tr.12)

Trong nghiên cứu nhân học văn hoá, khái niệm ứng xử được xem xét gắn liền với các yếu tố văn hoá Nhân học văn hóa không chú trọng đến hành động ứng

Trang 20

xử có tính chất cá biệt mà nghiên cứu môi trường xã hội văn hóa ảnh hưởng thế nào

đến ứng xử con người Những ứng xử của con người ở các nền văn hoá khác nhau

thì không giống nhau do họ có được định hướng bởi các khuôn mẫu văn hoá khác

nhau Trong khung cảnh văn hoá, con người có khả năng gán cho những ứng xử

một ý nghĩa ước định mà họ bắt buộc phải theo, các ý nghĩa đó thể hiện các khuôn

mẫu và biểu tượng văn hoá, đồng thời tương ứng với các vai trò của cá nhân trong

các tương tác

- Xã hội nông thôn: Khái niệm “nông thôn” là một khái niệm khá bất định

Hiện nay các nhà nghiên cứu thường sử dụng bộ ba phạm trù “nông thôn”, “nông

nghiệp”, “nông dân” để chứng tỏ nông dân và nông nghiệp là những đặc trưng cơ

bản của nông thôn Nhưng đó chỉ là những đặc trưng vốn có trong lịch sử chứ

không phải là đặc trưng duy nhất hiện có Theo tác giả Tô Duy Hợp, “xã h ội nông

thôn được hiểu là hệ thống xã hội, hay nói chính xác hơn là một khu vực của hệ

thống xã hội tổng thể, với hệ đặc trưng sau đây Nông thôn vốn là một khu vực cư

trú, hoạt động của nông dân, làm nông nghiệp, với tổ chức và thiết chế xã hội riêng

là xóm làng và với nền văn hoá đặc thù vốn có là văn hoá dân gian” (Tô Duy Hợp

và cộng sự, 2002, Tr.8) Những đặc trưng cơ bản nêu trên làm thành cái mà người

ta gọi là thuần nông (thuần nông nghiệp hoặc thuần nông thôn) Tuy nhiên, nông thôn

ngày nay không còn thuần nông như thế, hay nói một cách chính xác hơn, bộ phận thuần

nông đã và đang bị thu hẹp dần Nông thôn ngày nay đã bị biến dạng, thậm chí đã bị biến

chất đáng kể Đó là hệ quả tất yếu của quá trình phát triển theo các khuynh hướng đô thị

hoá, công nghiệp hoá, hiện đại hoá Như vậy, khái niệm xã hội nông thôn bao gồm bình

diện "nông thôn" là phạm trù xã hội tổng thể, tổng hợp; bình diện "nông nghiệp" thuộc

phạm trù kinh tế, bình diện "nông dân" là phạm trù nhân vật xã hội chủ yếu ở nông thôn

- Chuyển đổi: Nghiên cứu về cơ cấu xã hội thường gắn liền với khái niệm

biến đổi xã hội Cuốn Từ điển Xã hội học của G.Endruweit và G Trommsdorff

định nghĩa Biến đổi xã hội là sự thay đổi các cơ cấu xã hội (G.Endruweit,

G.Trommsdorff, 2002, tr.109) Ở đây chúng tôi dùng khái niệm chuyển đổi để chỉ

sự quá độ của một xã hội (transformated society) với những thay đổi về cơ cấu xã

Comment [u3]: Chú ý, transformation khac với

change, em đã lầm

Trang 21

hội, thể chế xã hội Sự chuyển đổi trong văn hóa ở nước ta thường mang tính tiếp

biến, chồng xếp lên nhau các lớp văn hoá, thay vì sự chuyển đổi có tính cách mạng,

thay cái cũ bằng một cái mới hoàn toàn, do một loạt các yếu tố môi trường tự nhiên, chính trị, kinh tế, xã hội khác chi phối Sự thay đổi của bản thân văn hoá cũng là một yếu tố góp phần vào quá trình trên

sẽ dẫn tới những thay đổi nhất định về cơ cấu tổ chức xã hội, trong đó có những biến đổi về vai trò, khuôn mẫu và các ứng xử của các HĐN (Khối 2)

- Tại mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể, với tư cách là một thành tố của cơ cấu tổ chức làng – xã, các HĐN không thể nằm ngoài các mối tương tác với các tổ chức xã

Các tổ chức quan phương truyền thống

Các tổ chức quan phương hiện nay

Cộng đồng làng hiện nay

Các tổ chức phi quan phương

Hội Đồng Niên

Trang 22

hội khác, trong đó tất yếu có cả các tổ chức quan phương Khối 2 thể hiện mối quan

hệ giữa các loại hình tổ chức này là sự tác động qua lại hai chiều Thông qua mối quan hệ này mà các vai trò, khuôn mẫu và các cách ứng xử của các HĐN được bộc

lộ

6 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

Các nguồn tư liệu được sử dụng cho luận văn bao gồm:

1 Nguồn thứ nhất: tư liệu điền dã dân tộc học: các biên bản phỏng vấn sâu, các ghi chép, ảnh… được ghi chụp tại địa bàn nghiên cứu Các bảng biểu thống kê, các báo cáo, tài liệu sưu tầm do UBND xã Văn Môn, thôn Quan Đình và một số cá nhân cung cấp

2 Nguồn thứ hai: sách, luận án, chuyên khảo, bài nghiên cứu từ tạp chí, các website về chủ đề có liên quan

Trong đó, nguồn tư liệu điền dã đóng vai trò quan trọng nhất được tác giả thu thập từ việc khảo sát và nghiên cứu thực địa

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

1 Phân tích tư liệu sẵn có: Đây là phương pháp quan trọng trong nghiên cứu này, cho phép tổng hợp những thông tin từ những nghiên cứu đi trước, phân tích các văn bản thu thập được trong quá trình nghiên cứu

2 Phỏng vấn sâu: Đây là phương pháp nghiên cứu chủ yếu trong quá trình điền dã dân tộc học nhằm ghi nhận các ý kiến, các câu chuyện của bản thân những người tham gia các HĐN Các phỏng vấn sâu cũng được sử dụng để thu thập các thông tin chung liên quan đến các vấn đề lịch sử của làng, lịch sử của các HĐN…

3 Quan sát - tham dự: Nghiên cứu cũng sử dụng các phương pháp này để tìm hiểu các hoạt động của các HĐN và đánh giá thái độ của họ khi tham dự các hoạt động này Đặc biệt bằng phương pháp quan sát tham dự, tác giả đã cùng tham gia một số hoạt động của các HĐN để có thể đánh giá chính xác và khách quan hơn

về những thái độ cũng như độ tin cậy về thông tin mà các thành viên HĐN cung cấp

Trang 23

7 Kết cấu của luận văn: Nội dung của luận văn được trình bày trong các

phần sau:

- Phần mở đầu (18 trang)

Phần này trình bày về tính cấp thiết của đề tài, sơ lược về tình hình nghiên cứu trước đó, nêu phạm vi, đối tượng, mục đích, các khái niệm cơ bản và khung phân tích, các nguồn tư liệu và phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu

- Chương 1: Hội đồng niên trong cơ cấu tổ chức làng – xã đồng châu thổ Bắc Bộ và ở làng Quan Đình (32 trang)

Chương này được chia thành 2 phần Phần đầu nêu tổng quát về cơ cấu tổ chức làng Việt cổ truyền và đương đại, trong đó đưa ra giả thuyết về nguồn gốc và mối liên hệ của các HĐN trong lịch sử và sự phục hồi của tổ chức này ở thời điểm hiện tại Phần thứ hai giới thiệu cụ thể về làng Quan Đình và các HĐN ở làng Quan Đình Chương này có tính chất xác định bối cảnh cho các phân tích ở các chương tiếp theo

- Chương 2: Hội đồng niên, các vai trò, khuôn mẫu và ứng xử (44 trang)

Chương này phân tích cụ thể về vai trò, khuôn mẫu và ứng xử của các HĐN trên hai phương diện: các tương tác giữa các thành viên bên trong hội và HĐN trong đời sống làng - xã

- Chương 3: Hội đồng niên và sự phản ánh một xã hội nông thôn đang chuyển đổi (34 trang)

Nội dung của chương 3 là sự nhận diện những xu hướng biến đổi về văn hoá,

xã hội đang diễn ra tại các làng – xã được phản ánh qua các HĐN như việc phục hồi

và biến đổi văn hoá truyền thống, sự thay đổi của cấu trúc xã hội, mối quan hệ cá nhân - cộng đồng và cộng đồng – nhà nước…

- Kết luận (4 trang)

Phần này tổng kết những kết quả nghiên cứu của luận văn, xem xét tính đúng đắn của các giả thuyết đặt ra ban đầu, từ đó đưa ra một vài kiến nghị về việc phát triển cộng đồng và quản lý xã hội tại các làng – xã hiện tại

Trang 24

xã hội đương đại, nhưng sẽ thật thiếu sót nếu không lưu tâm đúng mức đến lịch sử của tổ chức này Liệu HĐN đã từng hiện diện trong các làng - xã cổ truyền hay đơn giản nó chỉ là sản phẩm của xã hội đương đại? HĐN được định vị ở đâu trong tổng thể các tổ chức xã hội phức tạp của thôn làng truyền thống và đương đại? Thực chất của việc trả lời các câu hỏi trên là xác định một bối cảnh lịch sử của các HĐN Vấn

đề này sẽ được xem xét ở hai góc nhìn: tổng quan chung trên các làng - xã châu thổ Bắc Bộ và tại một làng cụ thể - làng Quan Đình

1.1 Bức tranh chung trên châu thổ Bắc Bộ

1.1.1 Làng Việt: khái niệm và cơ cấu tổ chức

Làng - xã của người Việt ở châu thổ Bắc Bộ luôn gợi ra cho các nhà nghiên cứu niềm hứng thú khám phá nhưng đồng thời cũng mang lại vô vàn những thách thức Bởi lẽ, cho đến nay, trải qua hàng thập kỷ tìm tòi, nghiên cứu, bức tranh về làng - xã vẫn còn dang dở và ẩn chứa những điều bí ẩn Thật khó có thể xác định một mô thức chung cho làng - xã Việt Nam bởi tính đa dạng là một phần tất yếu của thực thể này Tuy vậy, từ các nghiên cứu trong nhiều năm qua của các nhà khoa học, có thể mang lại cho chúng ta một khái niệm chung nhất có thể về làng – xã

Trang 25

Làng, theo nhà dân tộc học Nguyễn Từ Chi, là từ Nôm, chỉ đơn vị tụ cư nhỏ nhất nhưng hoàn chỉnh của người nông dân Xã, từ Hán chỉ đơn vị hành chính thấp nhất ở các vùng nông thôn Việt Trên vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ, xã của người Việt có thể bao gồm từ một đến nhiều làng, tùy từng trường hợp Được tích hợp vào một xã, làng trở thành yếu tố cấu thành của một đơn vị hành chính, và bấy giờ, mang tên thôn (lại một từ Hán) Như vậy, với làng và thôn, ta có hai thuật ngữ gần như đồng nghĩa, nhưng mang sắc độ khác nhau: làng với hàm nghĩa tình cảm -

sử dụng trong ngôn ngữ thông thường còn thôn, biểu nghĩa nặng chất hành chính.(Trần Từ, 1984, tr.135)

Xã là từ dùng để chỉ một cấp hành chính Nếu một xã chỉ gồm một làng, hay một làng là một xã mà người ta quen gọi là kết cấu “nhất xã nhất thôn” Trong bi ký

và các văn bản hành chính, tên các làng đó thường được gắn với khái niệm “xã” Ví

dụ làng Dương Liễu thuộc huyện Đan Phượng, phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây cũ là một xã thì các văn bản đều ghi là “Dương Liễu xã tục lệ”, “Dương Liễu xã địa bạ” Nếu một xã gồm nhiều làng thì trong bi ký, văn tế và các văn bản hành chính, từ làng được thay bằng từ thôn là một từ Hán-Việt và đứng sau là từ xã Chẳng hạn, xã Vân Canh (thuộc huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Nội cũ) gồm 3 làng: Kim Hoàng, Hữu Ái, An Trai thì các văn bản đều ghi: “Vân Canh xã, Hữu ái thôn khoán lệ”

Như vậy nếu hiểu theo nội dung trên đây thì trong cả hai trường hợp “nhất xã nhất thôn” hay “nhất xã nhị tam thôn”… làng đồng nhất với thôn hay nói một cách khác từ thôn trong các văn bản Hán Nôm là một làng truyền thống được nhà nước lắp ghép thành đơn vị hành chính cơ sở (xã) mà số làng được tích hợp tuỳ vùng, tuỳ giai đoạn lịch sử

Nghiên cứu về làng - xã, hầu hết các nhà nghiên cứu đều công nhận tính phức tạp trong mối quan hệ giữa làng và xã trong lịch sử Việt Nam Làng và xã đôi khi tích hợp vào nhau, hoặc ít nhất cũng có quan hệ phụ thuộc, liên thông, liên kết với nhau Sự phân biệt giữa làng và xã đặt ra vấn đề nan giải về mặt lý thuyết và cả

về thực tiễn Nó phản ánh mối quan hệ rắc rối giữa XHDS và nhà nước trong suốt

Trang 26

quá trình lịch sử biến đổi và phát triển của nông thôn đồng bằng sông Hồng nói riêng, nông thôn Việt Nam nói chung (Nguyễn Lâm Tuấn Anh, Nguyễn Thị Minh Phương, 2006, tr.70)

Trong lịch sử Việt Nam, làng được coi là “tế bào sống của xã hội Việt”, nó không chỉ là một đơn vị cư trú mà ở đó chứa đựng và phản ánh những đặc trưng lịch

sử và quá trình biến đổi của xã hội Việt Nam về kinh tế, chính trị, văn hoá Ở làng, người ta tìm thấy những dấu ấn của các công xã nông thôn còn sót lại qua mảnh ruộng công Ở làng, người ta sẽ một cộng đồng những người nông dân trồng lúa nước với sự đan xen của những người thợ thủ công và những người buôn bán Cũng

ở làng, người ta sẽ thấy những lễ hội, những sinh hoạt văn hóa dân gian, những hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của cộng đồng với trung tâm là đình làng, chùa làng…

Và còn quá nhiều điều để kể về làng nhưng tựu chung lại, có thể nói làng là một cộng đồng địa lý-chính trị, kinh tế, văn hoá

Tính cộng đồng dường như được coi là một đặc trưng không thể chối bỏ của làng Việt Từ đó đã hình thành nên các khái niệm “cộng đồng làng - xã” hay “làng truyền thống” Ở đó, mỗi người dân làng thường không tồn tại với tư cách cá nhân

mà luôn luôn là thành viên của một cộng đồng nhất định Và tổng thể cơ cấu tổ chức xã hội của làng là sự hợp thành của nhiều mối quan hệ, nhiều loại hình tổ chức với các chức năng và cách vận hành riêng Các hình thức tổ chức này đan xen và chồng chéo lên nhau, có lúc mâu thuẫn nhau, nhưng nhìn chung các quan hệ này được coi là bổ sung cho nhau, khiến cho làng dường như là một cộng đồng dân cư

đa chức năng, rất ổn định, liên kết chặt

Nhà dân tộc học Nguyễn Từ Chi là người đầu tiên cố gắng hệ thống hóa một cách đầy đủ về cơ cấu tổ chức xã hội làng Việt Theo ông, tổng thể cơ cấu xã hội ở làng - xã cổ truyền được tạo thành bởi 5 hình thức tập hợp người sau:

1 Tập hợp người theo địa vựa: ngõ, xóm…

2 Tập hợp người theo huyết thống: Họ tộc

3 Tập hợp người theo lớp tuổi: Giáp

Trang 27

4 Tập hợp người trong bộ máy chính quyền ở cấp xã: Dân hàng xã, Hội

Bán quan phương Quan phương Phi quan phương

Hình1.1: Thiết chế chính trị xã hội nông thôn năm 1945

Nguồn: GS Phan Đại Doãn – PTS Nguyễn Quang Ngọc (chủ biên): Kinh nghiệm tổ chức

quản lý nông thôn Việt Nam trong lịch sử - NXB Chính trị quốc gia, H, 1994, Tr 58.

Cơ cấu tổ chức như Trần Từ mô tả được nhiều nhà khoa học sau này đồng tình Các tác giả Phan Đại Doãn và Nguyễn Quang Ngọc đã mô hình hoá kết cấu chính trị - xã hội truyền thống ở nông thôn nước ta theo như hình vẽ trên đây Giữa

mô hình thiết chế này và những gì mà nhà dân tộc học Trần Từ mô tả có nhiều điểm tương đồng Tuy vậy, đằng sau cái mô hình tổ chức tưởng chừng như đã định hình thành một kết cấu ổn định đó là những giá trị và đặc trưng của xã hội nông thôn Việt Nam thì cho đến nay vẫn còn là một vấn đề gây nên nhiều tranh luận

Tổng

Chính quyền cấp

xã (lý dịch)

Tiên, thứ chỉ, quan viên (kỳ mục

Thị trường

Nghề nghiệp Tuổi

Tín ngưỡng

Trang 28

Đặc điểm lớn nhất về tổ chức của làng - xã người Việt theo mô hình trên là sự

đa hệ thống, với ít nhất là hai hệ thống thiết chế tổ chức cùng tồn tại song hành: các

tổ chức quan phương và phi quan phương Mỗi loại hình tổ chức khác nhau có những cách vận hành riêng và chức năng riêng Tuy nhiên, dưới cái vẻ bề ngoài tưởng như rời rạc, lẻ tẻ ấy là một sự thống nhất với nhau và phụ thuộc lẫn nhau chặt chẽ của các tổ chức xã hội Các tổ chức chính thức cùng với những tổ chức phi chính thức hợp thành một kết cấu chỉnh hợp, nhằm quản lý mọi mặt hoạt động của làng – xã Phương sách quản lý và vận hành của các tổ chức chính thức thông thường dựa vào thể chế kinh tế, chính trị và những văn bản pháp luật nhất định Còn phương sách vận hành và quản lý của các tổ chức phi chính thức chủ yếu thông qua tác dụng ràng buộc của những quy phạm đạo đức và dư luận xã hội được gọi tắt là

lệ làng Cái kết cấu tổ chức như trên được GS Phan Đại Doãn gọi là kết cấu quyền lực kép (Khoa Lịch sử, 2006, tr 67) Một mặt, nó thể hiện mối quan hệ giữa các tổ

chức, các lực lượng bên trong các làng - xã Mặt khác, nó cho thấy mối quan hệ giữa làng với cấp quản lý cao hơn của nó là Nhà nước Việc nhận thức và nghiên cứu về các quan hệ phức tạp trên trong cơ cấu tổ chức của làng Việt đã đem lại những quan điểm khác nhau giữa các nhà khoa học trong nhiều năm qua

Trong suốt một thời gian dài trước đây, các nhà khoa học xuất phát từ việc coi tính tự trị, năng lực tự quản và kết cấu chặt chẽ là đặc trưng nổi bật của làng Việt và việc đề cao khái niệm “cộng đồng làng - xã” đã trở nên bất biến đã dẫn tới việc mô

tả làng – xã như một cộng đồng đóng kín, mang tính hướng nội và được định hướng sâu sắc bởi truyền thống Ở đó, mỗi người dân đều cố gắng “hòa nhập với cộng đồng” hay “gắn bó với cộng đồng” Cơ cấu xã hội của làng vì vậy được coi là một tập thể hoàn hảo có những chức năng kỳ diệu, ở đó tư cách đạo đức của cộng đồng thay cho mỗi cá nhân trong làng (Philippe Papin, Olivier Tessier, 2002, tr.21) Tính cộng đồng của làng–xã do vậy được lý tưởng hóa, người ta thường mô tả thể chế làng–xã như là một hệ thống hài hòa hay ít ra là đang vươn tới sự hài hoà Và như vậy, người ta lờ đi những vấn đề về quyền lực, tranh chấp, tương quan lực lượng, đấu đá và những nguy cơ tiềm ẩn dẫn đến rạn nứt hay đổ vỡ của quan niệm

Trang 29

nêu trên Cuối cùng, chính vì làng được coi là khép kín và tự trị nên mối quan hệ làng - nước chỉ dừng lại ở ở ba nghĩa vụ cơ bản là: thuế, dân công, quân dịch Còn lại, làng hầu như thoát khỏi những can thiệp của nhà nước

Quan niệm trên về làng Việt là hoàn toàn không chính xác Các nghiên cứu về làng - xã hiện nay, nhất là các nghiên cứu nhân học của các học giả nước ngoài được tiến hành sau thời kỳ đổi mới đã đem lại những nhận định mới và chính xác hơn về cộng đồng làng – xã Các nghiên cứu mới đây đã chỉ ra rằng xã hội làng - xã

ở châu thổ Bắc Bộ luôn cởi mở và phóng khoáng hơn nhiều so với quan niệm cũ

trước đây (John Kleinen-2007; Philippe Papin, Olivier Tessier-2002; Hy.V

Lương-1992, Benedict J.Tria Kerkvliet - 2005) Làng-xã không phải là một thực thể gắn kết hoàn toàn và thụ động trong mối quan hệ với nhà nước Mà ngược lại, bên trong mỗi làng-xã đều có những đời sống chính trị đầy biến động, ở đó có sự tương tác, đồng thuận và cả những xung đột giữa các lực lượng, tổ chức xã hội Cơ cấu làng -

xã trải qua nhiều biến đổi và luôn có sức phản kháng đối với những đe dọa từ bên trong và bên ngoài Khi trình bày về quan điểm này, nhóm các tác giả Philippe

Papin và Olivier Tessier cho rằng: “Làng là một cộng đồng được hình thành nên từ quá trình tranh chấp, vi phạm, điều chỉnh, thỏa hiệp và trao đổi, rằng “làng” biến đổi không ngừng và những qui ước xã hội là nền tảng của “làng” thay đổi tùy thuộc vào hoàn cảnh, cơ cấu xã hội, chính trị, kinh tế và tôn giáo cũng như vào lợi ích của mỗi cá nhân” (Philippe Papin, Olivier Tessier, 2002, Tr 25) Chia sẻ quan điểm với các nhà nghiên cứu trên, John Kleinen cũng nhấn mạnh đến “sức mạnh nội lực” của cơ cấu làng – xã Ông viết: “Làng Việt Nam truyền thống không phải

là những cộng đồng tự nhiên, bền vững và có tính chất tương hỗ lẫn nhau, nơi mà cộng đồng và khu vực chồng chéo lên nhau, Thay vào đó, nó khá giống những thế giới thu nhỏ có tổ chức, cũng chịu sự đe dọa của cả các thế lực bên trong và bên ngoài” (John Kleinen, 2007, tr.240) Hơn thế nữa, làng không hề là một thực thể

đóng kín và thụ động trong mối quan hệ làng - nước Trong truyền thống, làng - xã châu thổ Bắc Bộ thường phản đối sự can thiệp của nhà nước, trước hết là ở vấn đề

Trang 30

nguồn lực lao động và đất đai mà hiện tượng di dân là một biểu hiện quan trọng (John Kleinen, 2007, tr.18)

Hộp 1.1: Đặc trƣng kép của làng - xã truyền thống

Thực ra nếu không tuyệt đối hoá các đặc trưng cơ bản của làng - xã truyền thống như tính tự trị, tính tự cung tự cấp, tính đồng thuận, tính biệt lập thì ta sẽ thấy làng

- xã với tư cách hệ thống tổ chức, thiết chế xã hội cơ bản của xã hội nông thôn có

đặc trưng kép, tức là lưỡng tính mâu thuẫn thống nhất:

1 Tự trị và phụ thuộc,

2 Tự cung tự cấp và thị trường,

3 Đồng thuận và xung đột,

4 Biệt lập và giao lưu,

Như vậy, các căn tính tự trị, tự túc, đồng thuận và bất biến một cách dai dẳng chỉ là những đặc tính ưu trội trong lịch sử, có khi áp đảo nhưng chưa bao giờ là duy nhất,

Đó chỉ là những hằng số chính của lịch sử biến đổi nông thôn Việt Nam, Những hằng số đối lập như phụ thuộc, thị trường, xung đột, giao lưu là những hằng số phụ

rất quan trọng xét theo quan điểm biện chứng lịch sử và cả theo quan điểm tương

lai học biện chứng

Nguồn: Tô Duy Hợp và cộng sự (2002), Luận cứ khoa học cho việc điều

chỉnh chính sách xã hội nhằm phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam ngày nay, Nhiệm vụ cấp Bộ, Đề tài do Trung tâm KHXH& NV (nay là Viện

KHXH Việt Nam) tài trợ, tr.50

Rõ ràng, quan niệm truyền thống coi làng Việt là một thực thể khép kín cần được thay đổi Xét về mặt cơ cấu tổ chức, làng Việt không phải là một cấu trúc đóng kín, không có mối liên hệ với bên ngoài, mà trong thực tế nó là một cấu trúc động luôn chịu sự tác động của các mối quan hệ bên trong và bên ngoài và luôn luôn biến đổi trong tiến trình lịch sử Việc vận dụng quan điểm này, cho phép chúng

ta có được một phương pháp luận hợp lý và những nguyên tắc làm việc khoa học Làng- xã cần được nhìn nhận trong sự biến đổi và vận động, trong mối liên hệ với môi trường chính trị, kinh tế, xã hội của vùng và quốc gia

1.1.2 Hội Đồng niên trong làng - xã cổ truyền: đi tìm một mối liên hệ

Từ việc xem xét cơ cấu tổ chức của làng - xã một cách tổng thể, và cách tiếp cận như đã xác định ở trên Việc tìm hiểu về nguồn gốc và các mối liên hệ có thể có của các HĐN trong quá khứ là điều rất cần thiết Bởi lẽ, ý nghĩa của việc vận dụng một tổ chức truyền thống trong bối cảnh xã hội đương đại sẽ có những ý nghĩa khác hẳn so với việc sáng tạo ra một hình thức tổ chức hoàn toàn mới

Trang 31

Như phần đầu đã xác định, HĐN là tổ chức dựa trên hai tiêu chí chính là giới tính và lứa tuổi Nó là hình thức tập hợp của các nam giới có cùng năm sinh Như vậy, trong cơ cấu tổ chức xã hội làng - xã truyền thống, HĐN được định vị ở đâu trong tổng thể hệ thống đó và nó có mối liên hệ nào với tổ chức khác cùng loại? Trong cơ cấu tổ chức xã hội ở làng Việt, giáp là tổ chức theo lớp tuổi được chú

ý nhiều nhất Theo cố học giả Từ Chi, giáp là một hình thức tổ chức dành riêng cho nam giới, mà ở đó tồn tại một loại quan hệ đặc biệt giữa người và người: quan hệ tuổi tác Các thành viên của một giáp là những nam giới và dân chính cư (dân sống

ở làng đã được trên ba đời) từ sau khi làm lễ trình làng hay lễ vọng giáp tại đình

làng, con trai trong làng được vào giáp.Và từ đó theo thứ bậc lớp tuổi mà lần lượt giữ các vị trí trong giáp, được hưởng quyền lợi và phải làm nghĩa vụ đối với giáp, với làng Từ 18 tuổi trở lên là lên đinh, 50 tuổi lên lão thì được miễn trừ nghĩa vụ Trong đời sống của làng, giáp là tổ chức đa năng, đảm nhận nhiều công việc hệ trọng: “phù sinh tống tử” (công nhận một người mới sinh, đưa người chết về với tổ tiên), quản lý nhân đinh (nam giới trong làng), phân cấp và quản lý công điền công thổ, tổ chức việc biện lễ và thờ cúng thành hoàng Giáp còn là đơn vị để thu thuế, điều động phu phen tạp dịch, binh dịch, giúp cho làng - xã đảm bảo những nghĩa vụ với Nhà nước phong kiến

Bàn về giáp, nhất là nguồn gốc của giáp, cho đến nay còn nhiều tranh luận khác nhau, một số người cho rằng, giáp có nguồn gốc từ một đơn vị hành chính của Trung Hoa được du nhập vào nước ta dưới thời Khúc Hạo (Trần Từ, 1984, tr.156-159) Về mặt dân tộc học, Từ Chi cho rằng, giáp là tàn dư của thiết chế lớp tuổi ở xã hội nông nghiệp sơ khai Ngược lại với ý kiến trên, nhà dân tộc học Diệp Đình Hoa

lại khẳng định giáp mang tính bản địa, „„ở góc độ Dân tộc học, việc hai giới nam và

nữ tự tổ chức ra những hội riêng, sinh hoạt theo giới tính thường gặp ở nhiều tộc người trên khắp thế giới Đối với người Việt cổ, việc tổ chức ra các câu lạc bộ nam giới, theo từ ngữ hiện nay, cũng là chuyện bình thường Đầu thế kỷ X, vào những năm 907-910, khi Tiết độ sứ Khúc Hạo đổi Hương thành Giáp thì sự kiện này không phải là chuyện du nhập một hình thức tổ chức chính quyền ngoại lai vào vùng đồng

Trang 32

bằng Bắc Bộ Sức sống của giáp và ảnh hưởng của nó đối với dân làng, từ lúc sinh cho đến lúc chết, cho phép lý giải rằng đó là một tổ chức mang sức sống bản địa mãnh liệt Vào đầu thế kỷ X, các nhà cai trị, bước đầu là Khúc Hạo đã sử dụng tổ chức này thành một đơn vị hành chính Đó là thời điểm cơ cấu tổ chức giới nam từ hình thức tương trợ, hình thức giới đi vào lĩnh vực chính trị” (Diệp Đình Hoa,

1998)

Cho dù có những ý kiến khác nhau về nguồn gốc của giáp nhưng điểm thống nhất của các học giả ở chỗ, thừa nhận rằng trước khi được chuyển giao cho các vai trò về chính trị, giáp là một thiết chế văn hoá - xã hội của những người dân nông nghiệp trong các xã hội cổ xưa Như vậy, về bản chất, trước hết giáp là một tổ chức

về lớp tuổi và giới tính

Là một môi trường tiến thân đặc biệt, các „„lễ chuyển tiếp‟‟ là các cột mốc quan trọng của mọi thành viên trong giáp Tuy nhiên, những cột mốc đó chỉ xuất hiện một vài lần trong đời mỗi con người Các mối quan hệ theo chiều dọc trong giáp được tính dựa trên các nấc thang mà mỗi thành viên đã trải qua Thành viên nào được sinh ra trước, anh ta sẽ may mắn được tham dự các lễ thành đinh, lên lão trước các thành viên khác và đương nhiên, anh ta sẽ có thân phận cao hơn so với những người sinh ra sau mình Tuy nhiên, không phải trong đời ai cũng được may mắn gánh hết các trọng trách trong lòng giáp, bởi lẽ, trong cùng một dịp lên đinh, lên lão sẽ có nhiều người cùng được tham dự Nhà dân tộc học Nguyễn Từ Chi đã lưu ý chúng ta đến vấn đề này và từ đó đề cập đến các HĐN

Theo cố học giả này, HĐN là một tổ chức phụ nằm trong lòng giáp Mỗi HĐN

là tập hợp của tất cả các thành viên có cùng một năm sinh trong một giáp Nếu như tôi và anh A, anh B sinh cùng năm nhưng ở hai Giáp khác nhau thì không được coi

là „„bạn đồng niên‟‟ Mục đích chính của các HĐN chủ yếu là tập hợp bạn bè cùng

tuổi trong một giáp để chè chén với nhau, và qua đó „„thắt chặt tình đồng niên, một mối tình thân ái đặc biệt nối liền những con người mà thân phận xã hội được đánh dấu bởi một nhịp điệu tiến thân chung‟‟ (Trần Từ, 1984, tr.55) Như vậy, HĐN chỉ

là một tổ chức không chính thức, không quyền lực và quyền lợi trong lòng các giáp

Trang 33

ở làng Việt cổ truyền Nó chỉ là hình thức liên kết tự nguyện giữa những thành viên cùng tuổi giáp Trong mối tương quan với toàn bộ cơ cấu tổ chức xã hội của làng -

xã, các HĐN hầu như không có tiếng nói và vai trò gì thực lực ngoài tư cách của các „„giáp viên‟‟

Những gợi ý của cố học giả Từ Chi đã giúp chúng ta định vị được vị trí của các HĐN trong lòng cơ cấu tổ chức làng - xã Việt cổ truyền Tuy nhiên, các HĐN

có từ bao giờ, nó được hình thành ngay từ khi có giáp hay là kết quả sau này? Đây vẫn có là một câu hỏi chưa thể có lời giải đáp Những nghiên cứu về đời sống làng -

xã của nhiều nhà nghiên cứu như Diệp Đình Hoa (1990, 2000), Phan Đại Doãn (1992, 2000) Nguyễn Tùng (2003) cũng nhắc đến HĐN, nhưng chỉ với tư cách là một tổ chức tự nguyện theo lớp tuổi mà không đề cập gì sâu hơn đến nguồn gốc cũng như những mối liên hệ của tổ chức này với các tổ chức khác Những nghiên cứu của nhóm tác giả Viện Xã hội học sau này cũng đã đưa ra giả thuyết về mối liên

hệ giữa giáp và các HĐN khi mà ở một số nơi như Mẫn Xá, Đồng Kỵ (tỉnh Bắc

Ninh) hiện nay, chức danh Cai đám hay anh Đám, ông Đám, vốn thuộc về người

đứng đầu các giáp xưa, nay lại được dùng một cách luân phiên trong HĐN, chỉ người đứng đầu, với trách nhiệm tổ chức, triệu tập hội viên (Tô Duy Hợp (chủ biên), 2000, tr.124)

Tuy nhiên, liệu mô hình mà nhà dân tộc học Từ Chi đưa ra ở trên về sự tích hợp các HĐN trong tổ chức giáp có phải là mô thức chung cho mọi làng - xã trên châu thổ Bắc Bộ? Những cuộc điền dã trong ba năm vừa qua của chúng tôi tại một

số làng cho thấy vẫn tồn tại những HĐN với tư cách là một tổ chức độc lập, ít nhất

là tại làng Giang Xá3, chúng tôi đã được các cụ già ở đây kể về việc sinh hoạt đồng niên xưa kia với những mô tả khác với những gì mà học giả Từ Chi đã đưa ra Làng Giang Xá xưa có 9 giáp được đặt tên từ giáp Nhất đến giáp Cửu Cách đây khoảng

80 năm, giáp Cửu ít người quá, nên làng cho sát nhập vào giáp Ba nên chỉ còn lại 8

Trang 34

giáp (bát giáp).Giáp ở Giang Xá được tổ chức theo dòng họ Nam giới của các họ

từ khi sinh ra đã gia nhập vào giáp theo nguyên tắc cha ở giáp nào thì con ở giáp ấy Nam giới ở các giáp cũng tham gia vào các HĐN (theo cách gọi của người Giang

Xá là Hội đồng canh) Tuy nhiên, khác với những gì mà cụ Từ Chi đã viết, các HĐC ở Giang Xá là tổ chức của những người nam giới có cùng năm sinh trong phạm vi cả làng Có thể anh và tôi là thành viên của hai giáp khác nhau nhưng chúng ta có cùng năm sinh tức là chúng ta là „„bạn đồng canh‟‟ của nhau Mục đích chính của HĐC vẫn chỉ là vui vẻ và tương trợ lẫn nhau nhưng so với giáp, nó là một

tổ chức độc lập, có tiếng nói riêng, có tư cách thành viên riêng, thậm chí nó còn có

cơ sở kinh tế riêng5

Như vậy, sự đa dạng của làng - xã Việt Nam cùng với những bí ẩn của nó một lần nữa mang lại cho chúng ta những thách thức trong việc khám phá Thật khó để đưa ra được một mẫu hình chung bởi mỗi làng là một thực thể đầy sống động và có những đặc điểm rất riêng biệt Nghiên cứu của những người đi trước cùng với tư

4 Giáp Nhất (còn gọi là giáp Đông) có bốn dòng họ Nguyễn, gọi là họ Nguyễn giáp Đông

Giáp Hai có hai dòng, họ Nguyễn Đức, họ Trịnh (nay họ Trịnh không còn ai nữa)

Giáp Ba có ba dòng, họ Nguyễn, họ Trần, họ Đỗ

Giáp Tư có ba dòng, họ Nguyễn Phú (còn gọi là họ Nguyễn lớn), Nguyễn Hữu (còn gọi là họ Nguyễn con),

họ Giang

Giáp Năm có ba dòng, họ Đỗ Phú, họ Bùi Trung, họ Hồ

Giáp Sáu có 2 dòng, họ Lê, họ Đỗ

Giáp Bảy có 4 dòng, Họ Trần, hai dòng họ Đỗ

Giáp Tám có ba dòng, họ Bùi, họ Nguyễn, họ Cao

5 Theo các cụ cao tuổi trong làng, ngày xưa các HĐC có ruộng, lần lượt canh điền Có hội có tới hàng mẫu ruộng Mỗi hội viên HĐC góp vào quỹ hội một số tiền và cho vay sinh lợi, từ đó sẽ tạo ra được một sào ruộng, ngày xưa một sào ruộng cấy được khoảng 1 tạ thóc, liên hoan hết không đáng bao nhiêu, chỉ khoảng hai chục cân, còn lại tám chục cân cho vay lãi tiếp, chỉ cho các thành viên trong Hội vay, mục đích là để giúp

đỡ nhau lúc khó khăn Khi một người trong hội chết đi thì ruộng đó được chuyển cho con trưởng hay con thứ của người đó, tùy theo tình hình kinh tế gia đình anh trưởng đã đầy đủ rồi, người em kinh tế kém hơn thì nhường cho em để em vào hội đó để hội giúp đỡ.Tức là đến đời con cũng được sinh hoạt trong HĐC của bố, cũng được dự lễ xuân thu nhị kỳ, ai canh điền thì biện lễ, còn lại sản phẩm thu được thì sẽ giúp đỡ nhau Cho nên, người ta gọi hội của những người con là Hội giúp đỡ, chứ không gọi là HĐC nữa Trong một gia đình

có thể có nhiều Hội giúp đỡ, giúp nhau về việc canh nông, bởi vì có thể vừa thừa kế được của ông, vừa thừa

kế được của bố Khi đã chuyển sang Hội giúp đỡ rồi thì không còn căn cứ vào tuổi nữa, những người con đã

có sẵn sào ruộng ấy thì chơi với nhau trong một hội Bây giờ, phương thức sinh hoạt Hội như thế không còn Các con cháu trong HĐC không còn có mối liên hệ gì với nhau nữa vì không còn ruộng

Năm 1945, nạn đói lớn xảy ra, HĐC giúp nhau mỗi người một cân thóc, cứu được các gia đình qua được năm tháng đói

Cho đến năm 1956, cải cách ruộng đất, toàn bộ số công điền đó đem chia cho nông dân, làm cho các hội đó mất đi

Trang 35

liệu thu thập được từ những cuộc điền dã của bản thân chưa mang lại cho chúng tôi những nhận thức thật rõ ràng về nguồn gốc và vị trí của các HĐN trong các làng -

xã cổ truyền Tuy vậy, những kí ức của lớp người già về những ngày „„sinh hoạt đồng niên‟‟ xa xưa cũng mang lại cho chúng ta ít nhiều sự tưởng tượng về một tổ chức xã hội đã từng hiện diện và tham gia vào đời sống của người nông dân Việt Nam ở các làng – xã Như vậy, ở một góc độ nào đó, tổ chức ấy cũng đã tham gia vào đời sống xã hội vô vàn phức tạp ở nông thôn châu thổ Bắc Bộ trước đây với những vai trò và chức năng nhất định Và trong bối cảnh nông thôn hiện nay, tổ chức ấy đã được phục sinh và được vận dụng trở lại trong những điều kiện nhất định để phục vụ cho những mục đích cụ thể của người dân đương đại

1.1.3 Những biến chuyển của làng - xã đương đại và sự phục hồi của HĐN

Vào thời kỳ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhất là sau năm 1954, làng -

xã châu thổ Bắc Bộ có những biến chuyển to lớn Công cuộc cải cách ruộng đất và phong trào hợp tác hóa ở nhiều nơi đã xóa bỏ cấp thôn, đưa xã trở thành đơn vị hành chính cơ sở Xã được hình thành với sự sáp nhập của nhiều làng lân cận Cơ cấu tổ chức làng - xã bị bãi bỏ, hương ước không còn cơ sở để tồn tại Xã hội làng -

xã trong các làng dần dần được cải tạo theo mô hình của chính quyền dân chủ nhân dân Mọi qui định của lệ làng dần dần được thay thế bằng qui định của pháp luật nhà nước Các tổ chức tự quản của người dân dần dần được thay thế bởi các tổ chức quần chúng với sự chỉ đạo theo mô hình kim tự tháp (chỉ đạo từ trung ương xuống đến các địa phương).(Nguyễn Tùng (chủ biên), 2003, tr.81)

Từ một cơ cấu xã hội đầy phức tạp với kết cấu chặt và đan xen, chồng xếp của nhiều loại hình tổ chức, sau Cách mạng tháng Tám, cơ cấu này đã có sự giảm sút rõ rệt Sự không tồn tại hay nói chính xác hơn là sự giảm sút của các loại hình tổ chức

xã hội, nhất là các tổ chức phi quan phương trong xã hội làng - xã giai đoạn này là

do nhiều nguyên nhân khác nhau Thứ nhất: chế độ ruộng công bị bãi bỏ đã làm mất

đi cơ sở kinh tế của các tổ chức này Thứ hai: mọi quyền hạn, nhất là nghĩa vụ của từng người dân được pháp luật hay các chỉ thị của cấp trên triển khai đến tận người

Trang 36

dân Thứ ba: công cuộc thay đổi lệ làng là một trong những nội dung phản đế, phản phong của Cách mạng tháng Tám (Khoa Lịch sử, 2006, tr.160 -161)

Tuy nhiên, sức sống lâu bền của làng - xã là điều không dễ bị lu mờ Những biến động về chính trị, kinh tế, xã hội trong giai đoạn đó không thể làm mất đi sức sống

đã được định hình của làng - xã, nó vẫn chảy như những mạch ngầm Công cuộc đổi mới được tiến hành ở nước ta đã đem lại những thay đổi căn bản cho nông thôn châu thổ Bắc Bộ Thực chất quá trình đổi mới ở nông thôn chính là việc đưa các làng - xã trở về với quá trình phát triển tự nhiên và bình thường của nó Làng - xã được khôi phục với việc tái lập cấp thôn, chức danh trưởng thôn được thừa nhận và chính thức hóa, hương ước vốn là một công cụ hiệu quả tổ chức quản lý nông thôn truyền thống được khuyến khích xây dựng

Kết quả của quá trình đưa làng - xã trở về đúng quy luật phát triển của nó đã dẫn tới sự phục hồi của hàng loạt những thành tố dân sự, những tổ chức, thiết chế truyền thống như các hộ gia đình, dòng họ và các tổ chức phi quan phương, các lễ hội truyền thống Quá trình phục hồi các yếu tố truyền thống tại các làng - xã được

coi là quá trình „„tái cấu trúc‟‟ hay một sự „„sáng tạo của truyền thống‟‟ Chính từ

quá trình hồi sinh này, một lần nữa người ta thấy được sự đúng đắn của quan điểm coi làng–xã là một cộng đồng „„mở‟‟ Bởi lẽ, khi đi tìm nguyên do của quá trình tái cấu trúc, nhiều nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh đến 2 yếu tố: 1./Những cải cách về kinh tế đã dẫn tới việc tổ chức lại cấu trúc chính trị, xã hội ở vùng nông thôn; 2/ Ảnh hưởng của những phản kháng từ phía các làng – xã đối với các chủ trương của Nhà nước buộc Nhà nước phải nới lỏng việc kiểm soát và tăng cường dân chủ cơ sở

ở nông thôn Như vậy, có thể thấy, trong một chừng mực nào đó, sự tác động của các làng-xã thông qua các truyền thống mới về văn hóa đã khiến nhà nước phải điều chỉnh chính sách của mình Tái cấu trúc văn hóa nông thôn được coi là một hệ quả tất yếu của quá trình đổi mới mà trong đó có một phần không nhỏ bắt nguồn từ những đòi hỏi thực tiễn của các làng - xã đối với nhà nước

Tuy nhiên, bối cảnh của xã hội nông thôn đương đại còn bị chi phối bởi quá trình công nghiệp hóa–hiện đại hóa và quá trình đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ

Trang 37

Điều này chắc chắn góp phần làm cho xã hội làng-xã mở hơn nữa Chính vì vậy, bên cạnh các tổ chức truyền thống được phục hồi, ở nông thôn hàng loại những quần thể xã hội mới với nhiều hình thức tổ chức đa dạng, phong phú nhưng cũng rất phức tạp Cùng với quá trình chuyển đổi kinh tế – xã hội, các thiết chế kinh tế, xã hội ở nông thôn đang có sự vận động Những thiết chế chính thống, quan phương; những thiết chế mới được phục hồi hay mới xuất hiện, có cái là chính thống, có cái ngoài chính thống (còn gọi là bán chính thống hay phi chính thống, bán phi quan

phương hay phi quan phương), có cái tập trung, có cái phân tán Có thể nói trong quá trình chuyển biến lớn nao này, con người – tổ chức – xã hội cũng sẽ có những thay đổi không bình thường và bình thường, trong cơ cấu, trong chức năng Sự thay đổi trên là không thể tránh khỏi, là một tất yếu lịch sử (Phan Đại Doãn, Nguyễn Quang Ngọc (chủ biên), 1994, tr.49) Hay nói cách khác, nhìn từ góc độ cơ cấu, xã hội nông thôn châu thổ sông Hồng là sự chống xếp của các cơ cấu văn hóa truyền thống, truyền thống bị biến dạng và hiện đại hóa (Tô Duy Hợp (chủ biên), 2000,

tr.116)

Nằm trong bối cảnh chung của việc phục hồi các thiết chế truyền thống, HĐN

ở nhiều làng - xã cũng đã sống dậy và tham gia vào đời sống của người nông dân đương thời, ở một số tỉnh như Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Vĩnh Phúc và ngoại thành Hà Nội…, các HĐN đang phát triển rất mạnh mẽ cùng với các tổ chức

Trang 38

cách tổ chức của Hội đồng niên, trong nhà có bao nhiêu nam (trừ các cụ ông từ 50 đổ lên) thì cũng có bấy nhiêu thành viên của các hội riêng Đã là hội tự nhóm họp, có lẽ không phải bất cứ “đồng niên” nào cũng phải gia nhập.Và có lẽ bất cứ hội viên nào cũng có quyền tuyên bố không tham gia hội nữa.Đấy là nói về nguyên tắc, về quyền

tự do của các “đồng niên”, nhưng có lẽ gia nhập hội vẫn có một lực tinh thần nào đó thúc đẩy, chí ít cũng do “cái tiếng” kẻ sống giữa làngmà nếu không đứng trong hội

dễ bị lên án ngầm, bị coi là kẻ lạc lõng”

Nguồn: Tô Duy Hợp (chủ biên) (2000), Sự biến đổi của làng-xã Việt Nam ngày

nay ở đồng bằng sông Hồng, Nxb Khoa học xã hội, H, Tr 125 -126

Cũng giống như ở Mẫn Xá, tại Giang Xá, các HĐN cũng được khôi phục ngày càng nhiều Năm 1989, nhân dịp cụm di tích đình và đền của làng được Nhà nước

công nhận là Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật, lễ hội truyền thống của làng

được phục hồi Lúc đó, các giáp không còn nữa, không còn tổ chức nào đảm nhiệm vai trò thù ứng việc làng nên anh em trong làng từ 25 tuổi trở lên mới tự vận động nhau vào HĐC để phục vụ hội làng Từ đó đến nay, phong trào thành lập HĐC ngày càng phổ biến và trở thành một hình thức sinh hoạt không thể thiếu của các lứa tuổi nam giới trong làng Ngoài mục đích cộng cảm, tương thân, tương ái, xây dựng tình đoàn kết trong hội, việc vào HĐC còn là cơ sở cho chính quyền nắm được lực lượng thanh niên và trung niên trong làng, để khi việc làng cần đến thì ông trưởng Ban tổ chức chỉ cần nắm được danh sách các Hội Đồng canh là có thể phân công công việc cho phù hợp Tính tới thời điểm mà cuộc khảo sát của chúng tôi được tiến hành vào năm 2005, làng Giang Xá có khoảng 53 HĐC với các thành viên có độ tuổi từ 22 (Hội Giáp Tý) đến 84 (Hội Nhâm Tuất) Không chỉ có nam giới mà phụ nữ cũng tham gia HĐC, tuy nhiên họ không vào chung các hội với nam mà thành lập hội của riêng mình và số lượng của các Hội HĐC cũng rất khiêm tốn (hiện nay ở Giang Xá chỉ có khoảng 2 HĐC nữ, đó là Hội Nhâm Thìn và Hội ất Mùi), điều đặc biệt là riêng Hội Giáp Tý cả nam và nữ cùng tham gia trong một HĐC

Với tư cách là một tổ chức tự tập hợp nhằm đáp ứng những nhu cầu nhất định của người dân làng - xã, các HĐN đang được phục hồi và hiện diện ở khắp nơi trên châu thổ Bắc Bộ ở nhiều nơi, các HĐN nhiều đến mức không thể đếm được nếu tính theo số lượng những người có cùng năm sinh Nếu như cố học giả Từ Chi cho

Trang 39

rằng, trong làng - xã truyền thống, các HĐN chỉ là một tổ chức phụ trong lòng các giáp thì trong xã hội đương đại, các HĐN dường như đã thoát ra khỏi cái bóng bao trùm đó và trở thành một tổ chức độc lập, có vai trò và chức năng cụ thể trong đời sống làng – xã Trong cơ cấu xã hội của làng - xã đương đại, các HĐN ngày nay có thể được xem như là những thiết chế văn hóa – xã hội cổ truyền còn lưu lại, dù dưới hình thức biến tướng (Tô Duy Hợp (chủ biên), 2000, tr.125)

1.2 Một trường hợp cụ thể: Làng Quan Đình

1.2.1.Tổng quan về làng Quan Đình

1.2.1.1.Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Từ thủ đô Hà Nội, qua cầu Chương Dương theo đường quốc lộ 1A khoảng 28

km đến trung tâm Thành phố Bắc Ninh, rẽ tay phải theo đường quốc lộ 286 đến thị trấn Chờ, rồi rẽ tay trái theo đường tỉnh lộ 271 khoảng 4 km là đến làng Quan Đình,

xã Văn Môn, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh

Xã Văn Môn nằm giáp ranh giữa hai huyện Yên Phong và Từ Sơn (xưa là Đông Ngàn), gồm 5 thôn và có vị trí địa lý như sau:

Phía Bắc giáp xã Yên Phụ và Thị trấn Chờ (cùng huyện); phía Nam giáp xã Hương Mạc (huyện Từ Sơn); phía Đông giáp xã Đông Thọ (cùng huyện); phía Tây giáp xã Thuỵ Lâm (Đông Anh - Hà Nội)

Nằm trong xã Văn Môn, làng Quan Đình có vị trí địa lý như sau: Phía Bắc giáp thôn Phù Xá (cùng xã); phía Nam giáp thôn Quan Độ (cùng xã); phía Đông giáp

thôn Mẫn Xá (cùng xã); phía Tây giáp xã Thuỵ Lâm (Đông Anh - Hà Nội)

Thôn Quan Đình có diện tích tự nhiên là 686.918 m2, trong đó diện tích đất canh tác là 524.160 m2, đất thổ cư là 116.000 m2, ao hồ, bờ bãi là 46.758 m2

Dân cư sống trong làng theo 5 xóm (ngõ): Ngõ Trại, Ngõ Đông, Ngõ Ngay, Ngõ Tiền, Ngõ Tây

Quan Đình nằm ở vùng đất giáp ranh giữa hai huyện Đông Ngàn (nay là huyện

Từ Sơn) và Yên Phong Huyện Đông Ngàn xưa nổi tiếng là vùng đất màu mỡ được bao bọc và chia cắt bởi các con sông cổ như: Sông Thiên Đức (sông Đuống), sông Ngũ Huyện Khê (sông Thiếp) và một phần của con sông Tiêu Tương thơ mộng Từ

Trang 40

xa xưa vùng đất nay đã là địa bàn tụ cư của các làng Việt cổ với các tên gọi như: Kẻ Sặt, Kẻ Bàng, Kẻ Cẩm, Kẻ Hồi, Kẻ Me, Kẻ Nét… Thuở ấy, con người đến đây cư trú ven bên bờ các con sông và trên các gò đồi như: Tam Sơn, Tiêu Sơn… ở đây các nhà khảo cổ đã khai quật và phát hiện thấy dấu tích những làng xóm cổ ở chân núi Tiêu, dấu ấn còn để lại ở những di vật gốm, đồng được xác định vào thời đại Hùng Vương, có niên đại cách ngày nay khoảng 3000 năm

Trong khi đó, huyện Yên Phong là vùng đất nằm dưới chân dãy Thất Diệu sơn, là nơi chuyển tiếp giữa miền núi trung du và châu thổ, nên vẫn còn những dãy núi sót lại giữa đồng bằng Đây là vùng đất vừa có núi, sông, đầm hồ, ruộng đồng,

bờ bãi, nên sớm là địa bàn tụ cư của người Việt cổ Chính dãy núi Thất Diệu và các con sông cổ Cà Lồ, sông Cầu, Ngũ Huyện Khê đã thu hút các cư dân Việt cổ về đây sinh cơ lập nghiệp, tạo lập nên các làng Việt cổ với những cái tên như: Kẻ Chờ, Kẻ

Nét, Kẻ Đọ, Kẻ Triền… Thư tịch, tài liệu cổ như “Đại Nam nhất thống chí”, “Lịch triều hiến chương loại chí”, “Bắc Ninh toàn tỉnh địa dư chí” đều có ghi chép về

dãy Thất Diệu sơn phản ánh dấu ấn lịch sử văn hoá thời Hùng Vương - An Dương Vương ở đây khá rõ nét Bên cạnh dãy núi Thất Diệu, vùng đất này còn được bao bọc bởi các con sông cổ: Cà Lồ, Nguyệt Đức (Cầu), Ngũ Huyện Khê đã mang nặng phù sa bồi đắp lên những cánh đồng màu mỡ ở hai bên bờ của nó, tạo điều kiện cho

cư dân ở đây sinh cơ lập nghiệp bằng nghề trồng lúa nước Đồng thời, nó cũng tạo điều kiện để họ phát triển nghề phụ như: đánh bắt thủy sản, các nghề thủ công và giao thương buôn bán

1.2.1.2 Lịch sử hình thành

Theo truyền kể lại thì xưa kia Quan Đình có tên là “Lan Đình” nằm ở chân

núi Sái thuộc dãy Thất Diệu Sơn, sau do dân cư phát triển đông đúc mà chuyển đến

vị trí hiện nay (cách dãy núi Thất Diệu chừng 1,5 km theo đường chim bay) Thời điểm làng Quan Đình chuyển về nơi ở mới có từ bao giờ? Đây là cả một vấn đề lớn cần được nghiên cứu, tìm hiểu Song căn cứ vào dấu ấn văn hoá vật chất là ngôi

đình làng còn nguyên kiến trúc của năm trùng tu lớn “Cảnh Hưng năm thứ 34”

(1773) thì đã cho biết ít nhất làng Quan Đình đã được chuyển về vị trí hiện nay trên

Ngày đăng: 31/03/2015, 14:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2: Cơ cấu dân cƣ làng Quan Đình theo nghề nghiệp - Hội đồng niên các vai trò, khuôn mẫu và ứng xử trong xã hội nông thôn đang chuyển đổi  trường hợp làng Quan Đình, xã Văn Môn, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh
Bảng 1.2 Cơ cấu dân cƣ làng Quan Đình theo nghề nghiệp (Trang 43)
Bảng 1.3: Thu nhập từ nông nghiệp, thủ công nghiệp và - Hội đồng niên các vai trò, khuôn mẫu và ứng xử trong xã hội nông thôn đang chuyển đổi  trường hợp làng Quan Đình, xã Văn Môn, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh
Bảng 1.3 Thu nhập từ nông nghiệp, thủ công nghiệp và (Trang 47)
Bảng 2.1:   Ghi chép về sinh hoạt ĐN (từ 1996 – 2002)  của HĐN 1955 - Hội đồng niên các vai trò, khuôn mẫu và ứng xử trong xã hội nông thôn đang chuyển đổi  trường hợp làng Quan Đình, xã Văn Môn, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh
Bảng 2.1 Ghi chép về sinh hoạt ĐN (từ 1996 – 2002) của HĐN 1955 (Trang 68)
Bảng 3.3 :  Nghề nghiệp và nơi làm việc của thành viên các HĐN - Hội đồng niên các vai trò, khuôn mẫu và ứng xử trong xã hội nông thôn đang chuyển đổi  trường hợp làng Quan Đình, xã Văn Môn, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh
Bảng 3.3 Nghề nghiệp và nơi làm việc của thành viên các HĐN (Trang 124)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w