Thực hiện quan điểm trên của Đảng, Chính phủ đã giành nhiều nguồn lực cho XĐGN thông qua các chương trình dự án lớn, như: Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã ĐBKK miền núi và
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 1
DANH MỤC CÁC BẢNG 2
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ 2
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 5
3 Câu hỏi nghiên cứu 6
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 7
6 Giả thuyết và mô hình khung lý thuyết 8
7 Phương pháp nghiên cứu 10
NỘI DUNG CHÍNH 13
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 13
1.1 Cơ sở lý luận 13
1.1.1 Những lý thuyết XHH được vận dụng trong đề tài .13
1.1.2 Một số khái niệm công cụ của đề tài 18
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 23
1.2.1 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về dân tộc và chính sách xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số 23
1.2.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 27
1.2.3 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 30
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH 134 VÀ 135 TẠI XÃ MALYPHO, HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU .33
2.1 Khái quát nội dung chính của chính sách 134 và 135 33
2.2 Mục tiêu thực hiện chính sách tại địa phương 37
2.3 Thực trạng tổ chức, triển khai thực hiện các chính sách 41
2.4 Những khó khăn và thuận lợi trong quá trình thực hiện 46
Trang 2CHƯƠNG 3: NHỮNG THAY ĐỔI TRONG ĐỜI SỐNG ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI XÃ MALYPHO, HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH 134, 135 52
3.1 Sự thay đổi trong đời sống vật chất 52
3.1.1 Cơ sở hạ tầng 52
3.1.2 Ngành nghề và thu nhập 59
3.1.3 Tiện nghi sinh hoạt 68
3.2 Sự thay đổi trong đời sống tinh thần và môi trường 72
3.2.1 Giáo dục 72
3.2.2 Môi trường và chăm sóc sức khỏe 77
3.2.3 Sinh hoạt văn hóa 85
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 89
1 Kết luận 89
2 Khuyến nghị ……… 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
PHỤ LỤC 100
Trang 3XHH Xã hội học
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Các hộ nghèo tại xã được hưởng lợi từ chính sách 134 38
Bảng 2.2: Hỗ trợ đất sản xuất cho các hộ dân trong xã Malypho 42
Bảng 2.3: Hỗ trợ xây dựng công trình nước sinh hoạt phân tán 42
Bảng 3.1: Đánh giá của người dân về cơ sở hạ tầng so với trước năm 2006 59
Bảng 3.2: Tương quan giữa nghề nghiệp và thu nhập bình quân đầu người 62
Bảng 3.3: Tương quan giữa dân tộc và thu nhập bình quân đầu người 63
Bảng 3.4: Tương quan giữa trình độ học vấn và thu nhập 64
Bảng 3.5: Mục đích sử dụng vốn vay của các hộ dân 67
Bảng 3.6: So sánh việc sở hữu tiện nghi sinh hoạt trước và sau khi có CS 68
Bảng 3.7: Tương quan giữa thu nhập bình quân đầu người với sử dụng các tiện nghi sinh hoạt hiện nay 69
Bảng 3.8: Tương quan giữa dân tộc và sở hữu tiện nghi sinh hoạt 70
Bảng 3.9: Đánh giá về điều kiện giáo dục hiện nay so với trước kia 74
Bảng 3.10: Loại nhà vệ sinh gia đình sử dụng 83
Bảng 3.11: Tương quan giữa thu nhập bình quân đầu người với loại hình nhà vệ sinh gia đình sử dụng 84
Bảng 3.12: Hoạt động của người dân trong thời gian rảnh rỗi 86
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu 3.1: Điều kiện nhà ở của người dân trước và sau khi có chính sách 58
Biểu 3.2: Địa điểm khám bệnh của người dân trước và sau khi có chính sách 79
Biểu 3.3: Nguồn nước uống của gia đình 82
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nhân loại đã bước sang thế kỷ 21 và đã đạt được nhiều tiến bộ vượt bậc trên nhiều lĩnh vực như khoa học công nghệ, phát triển kinh tế, nhưng vẫn phải đối mặt với một thực trạng nhức nhối, nạn đói nghèo vẫn còn chiếm một tỉ lệ đáng kể ở nhiều nước mà nổi bật là ở những quốc gia đang phát triển Ở Việt Nam từ khi có đường lối đổi mới, chuyển sang kinh tế thị trường trong sản xuất nông nghiệp thực hiện giao khoán đến hộ đã nhảy vọt từ nước đang thiếu lương thực vươn lên thành một trong ba nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới từ đó đến nay, tốc độ tăng trưởng hàng năm đều ở mức cao, nhưng đồng thời cũng phải đương đầu với vấn
đề phân hoá giàu nghèo, hố ngăn cách giữa bộ phận dân cư giàu và nghèo đang có chiều hướng mở rộng nhất là giữa các vùng có điều kiện thuận lợi so với những vùng khó khăn, trình độ dân trí thấp như vùng sâu vùng xa
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra ba nhiệm vụ cấp bách của nhà nước ta cần phải giải quyết, đó là: Giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm Trong đó, Người đặt việc giải quyết “giặc đói” lên hàng đầu, vì dân tộc ta đánh đổ đế quốc, phong kiến để đem lại cơm ăn, áo mặc, học hành cho người dân nếu không giải quyết được vấn đề này thì độc lập cũng không có ý nghĩa gì
Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước ta đã nỗ lực quyết tâm xoá đói, giảm nghèo Xoá đói, giảm nghèo là một chủ trương lớn, một quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước, là sự nghiệp cách mạng của toàn dân, nhất là ở địa phương, cơ sở, là hướng ưu tiên trong toàn bộ các chính sách kinh tế và xã hội của đất nước, vì nếu không giải quyết được vấn đề nghèo đói sẽ không giải quyết được bất kỳ một mục tiêu nào của dân tộc ta đặt ra, như: hoà bình, ổn định, công bằng xã hội Trong nhiều năm qua, mặc dù ngân sách nhà nước còn hạn hẹp, song Đảng và Nhà nước ta đã thể hiện quyết tâm cao đối với
Trang 6công tác xoá đói, giảm nghèo trên các địa bàn khó khăn của cả nước, đặc biệt là các vùng DTTS ở Tây Bắc, Nam Trung bộ, Tây Nguyên, Tây Nam bộ Thực hiện quan điểm trên của Đảng, Chính phủ đã giành nhiều nguồn lực cho XĐGN thông qua các chương trình dự án lớn, như: Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã ĐBKK miền núi và vùng sâu, vùng xa (Chương trình 135); Chương trình về định hướng kế hoạch phát triển các vùng Tây Nguyên (Chương trình 168); Chương trình phát triển vùng đặc biệt khó khăn 6 tỉnh miền núi phía Bắc (Chương trình 186) và Quyết định 134/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào nghèo, đời sống khó khăn
Thành tựu XĐGN trong những năm qua đã góp phần tăng trưởng kinh tế và được cộng đồng quốc tế đánh giá cao Tỷ lệ nghèo chung trên toàn quốc đã giảm liên tục từ 58% vào năm 1993 xuống 37% sau năm năm, tỷ lệ này tiếp tục giảm xuống 29% vào năm 2002 Như vậy gần một phần ba dân số, tương đương với trên 20 triệu người đã thoát nghèo trong vòng chưa đầy mười năm Tuy nhiên, kết quả giảm nghèo chưa vững chắc, chênh lệch giàu - nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư không những không được thu hẹp mà lại càng tăng lên, đặc biệt là những vùng khó khăn, trình độ dân trí thấp như vùng núi, vùng sâu vùng xa Tỷ lệ người nghèo là người dân tộc thiểu số lại tăng lên từ 20% năm 1993 lên hơn 30% trong tổng số người nghèo ở Việt Nam trong năm 2002 [17, tr.32]
Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đến cuối năm 2006, cả nước có 61 huyện (gồm 797 xã và thị trấn) thuộc 20 tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo trên 50% Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách và dành nhiều nguồn lực để ưu tiên phát triển vùng này, nhưng mức độ chuyển biến còn chậm, đời sống của đồng bào DTTS vẫn còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo là người dân tộc thiểu số cao gấp 3,5 lần bình quân cả nước [6, tr 1]
Trang 7Như vậy, bên cạnh những kết quả đạt được, chính sách XĐGN đối với DTTS nói chung và đối với dân tộc thiểu số trên địa bàn ĐBKK nói riêng còn bộc lộ nhiều hạn chế, mặc dù nhận được một số ưu tiên cao về mặt chính sách, nhưng nhiều cộng đồng DTTS trên các địa bàn đặc biệt khó khăn vẫn chưa thoát ra khỏi tình trạng khó khăn vốn có của mình Kết quả thực hiện chính sách còn thiếu tính bền vững và chưa thật sự đi vào đời sống Mức thụ hưởng của người dân từ kết quả chính sách mang lại còn thấp
Do vậy, trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO và quá trình toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ thì việc nghiên cứu, phân tích tác động của chính sách tới vùng DTTS là hoạt động khoa học, thực tiễn hết sức cần thiết nhằm góp phần tiếp tục đổi mới tư duy hoạch định, xây dựng CSDT, từng bước giảm thiểu thách thức, tăng cơ hội hội nhập và phát triển của các DTTS trong xu thế phát triển mới của đất nước
Với các lý do trên, tôi chọn đề tài : “Tác động của chính sách xóa đói giảm nghèo đến đời sống các dân tộc thiểu số thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn (Nghiên cứu trường hợp chính sách 134, 135 tại xã Malypho - huyện Phong Thổ - tỉnh Lai Châu)” làm đề tài luận văn thạc sĩ Tác giả mong
muốn góp một phần nhỏ bé vào việc làm sáng tỏ mức độ thay đổi đời sống kinh tế
- xã hội các đồng bào DTTS dưới tác động của chính sách xóa đói giảm nghèo từ
đó đề xuất một số nội dung đổi mới, hoàn thiện nhằm nâng cao chất lượng của hệ thống chính sách XĐGN đối với các DTTS tại địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội ĐBKK
2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
2.1 Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu đề tài: “Tác động của chính sách xóa đói giảm nghèo đến đời sống các dân tộc thiểu số thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (nghiên cứu trường hợp chính sách 134; 135 tại xã Malypho - huyện Phong
Trang 8Thổ - tỉnh Lai Châu)” có một ý nghĩa khoa học nhất định Trước hết, nghiên cứu
góp phần đem lại cơ sở khoa học cho việc hoạch định và hoàn thiện những chính sách của nhà nước về XĐGN Đồng thời qua đề tài này người nghiên cứu có cơ hội áp dụng những kiến thức lí luận, những lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
xã hội học đã được học vào thực tế
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Thông qua các kết quả nghiên cứu, đề tài góp phần giúp các nhà quản lý, các cấp, các ngành, các tổ chức có cái nhìn đúng đắn, toàn diện hơn về những tác động của các chính sách đang được triển khai tại địa phương, những khó khăn và thuận lợi, những kết quả đạt được và những mặt còn hạn chế
3 Câu hỏi nghiên cứu
Việc thực hiện các hoạt động của chính sách 134, 135 tại địa phương đã đạt được những kết quả gì đối với đời sống vật chất và đời sống tinh thần của người dân?
Những thuận lợi và khó khăn chính khi thực hiện các chính sách là gì?
Liệu các kết quả XĐGN tại địa phương có tính bền vững không?
Làm thế nào để chính sách XĐGN đối với đồng bào DTTS đạt hiệu quả cao hơn?
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn tiến hành nghiên cứu, phân tích, đánh giá tác động của chính sách xóa đói giảm nghèo đến đời sống các dân tộc thiểu số tại xã Ma ly pho- huyện Phong Thổ- tỉnh Lai Châu Từ đó đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc triển khai các chính sách đối với các đồng bào DTTS tại địa bàn nghiên cứu
Trang 94.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Khái quát việc thực hiện chính sách XĐGN tại địa bàn nghiên cứu qua việc tìm hiểu mục tiêu thực hiện chính sách; tình hình tổ chức, triển khai thực hiện chính sách tại địa phương và những khó khăn và thuận lợi trong quá trình thực hiện
Đánh giá kết quả thực hiện chính sách ở địa phương qua việc so sánh hiện trạng đời sống của đồng bào DTTS hiện nay so với trước khi thực hiện chính sách,
ở các khía cạnh:
+Khía cạnh đời sống vật chất: Được xem xét qua các tiêu chí và sự phát
triển về cơ sở hạ tầng, ngành nghề, thu nhập và tiện nghi sinh hoạt
+Khía cạnh đời sống tinh thần và môi trường: Được xem xét qua các tiêu
chí về sự phát triển giáo dục, môi trường, chăm sóc sức khỏe và sinh hoạt văn hóa
Đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả và tính bền vững của các chính sách XĐGN trong thời gian tới
5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Tác động của chính sách xóa đói giảm nghèo đến đời sống các dân tộc thiểu
số thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn
5.2 Khách thể nghiên cứu
Cộng đồng dân tộc dân tộc thiểu số và chính quyền địa phương thuộc địa bàn
xã Malypho - huyện Phong Thổ- tỉnh Lai Châu
5.3 Phạm vi nghiên cứu
5.3.1 Phạm vi không gian: Đề tài được thực hiện tại xã Malypho - huyện
Phong Thổ- tỉnh Lai Châu
5.3.2 Phạm vi thời gian: Đề tài được thực hiện từ tháng 11 năm 2010 đến
tháng 10 năm 2011
Trang 105.3.3 Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu sự thay đổi trong đời
sống vật chất và đời sống tinh thần của người DTTS dưới tác động của việc thực hiện chính sách 134 và 135 tại địa phương
6 Giả thuyết và mô hình khung lý thuyết
6.1 Giả thuyết nghiên cứu:
Chính sách 134, 135 đã tác động lớn đến đời sống vật chất, đời sống tinh thần và môi trường của đồng bào DTTS tại địa phương Đời sống vật chất, đời sống tinh thần và môi trường của đồng bào đã có nhiều biến đổi mang tính tích cực hơn
về cơ sở hạ tầng, thu nhập, nghề nghiệp, tiện nghi sinh hoạt, giáo dục, chăm sóc sức khỏe và sinh hoạt văn hóa so với trước đây Tuy nhiên vẫn còn tồn tại nhiều yếu tố không đảm bảo tính bền vững
Kết quả tổ chức thực hiện chính sách XĐGN trước đó tại các địa phương
và sự quan tâm của Đảng, Nhà nước dành ưu tiên nguồn lực đầu tư là những thuận lợi chính đối với địa phương trong quá trình thực hiện chính sách Tuy vậy, điều kiện tự nhiên không mấy thuận lợi, năng lực thực hiện của chính quyền địa phương và tính thích ứng của người dân hưởng lợi từ chính sách là những khó khăn chính trong quá trình thực hiện chính sách XĐGN đối với đồng bào DTTS
Trang 116.2 Mô hình khung lý thuyết:
Sự thay đổi trong đời sống đồng bào
Sinh hoạt văn hóa
Những thay đổi trong đời
sống vật chất:
Cơ sở hạ tầng
Ngành nghề và thu nhập
Tiện nghi sinh hoạt
Thực trạng thực hiện chính sách xóa đói
giảm nghèo Điều kiện KT- CT- VH - XH của địa phương
Trang 127 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp luận
Đề tài áp dụng chủ nghĩa duy vật lịch sử và duy vật biện chứng để tiếp cận
và phân tích tác động của chính sách XĐGN đối với các DTTS thuộc địa bàn ĐBKK ở nước ta với tư cách là một hiện tượng kinh tế xã hội ra đời và vận hành trong một bối cảnh lịch sử cụ thể, có tính chất hệ thống; các yếu tố cấu thành chính sách quan hệ và tác động biện chứng với nhau Trên cơ sở đó nhìn ra quy luật vận động của nó
7.2 Phương pháp thu thập thông tin
Để tiếp cận nghiên cứu đạt kết quả đặt ra, luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu xã hội học để thu thập các thông tin sống động từ thực tiễn, phục
vụ cho các yêu cầu chính của nội dung đề tài đặt ra Đồng thời kết hợp với tiếp cận nghiên cứu theo phương pháp phân tích tài liệu nhằm kế thừa các thành quả nghiên cứu trước đây
Cụ thể là sử dụng những kỹ thuật thu thập thông tin sau:
7.2.1 Phương pháp định lượng
Đề tài thu thập thông tin định lượng bằng bảng hỏi với 200 hộ dân, tiến hành
ở xã Malypho thuộc huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu
Dung lượng mẫu
Đề tài áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống Đây là phương
pháp chọn mẫu bằng cách lấy ngẫu nhiên một đơn vị đầu tiên sau đó các đơn vị tiếp
theo được chọn theo hệ thống Áp dụng công thức chọn mẫu ngẫu nhiên k = N/n, trong đó k là khoảng cách giữa tổng thể và dung lượng mẫu cần chọn Trên cơ sở
danh sách hộ gia đình của xã Malypho (360 hộ), được đánh số ngẫu nhiên, trung bình cứ 2 hộ thì chọn 1 hộ để nghiên cứu Trong hộ gia đình, ta chọn đại diện một
Trang 13người là chủ hộ gia đình hoặc là người đóng vai trò chính trong các quyết định của gia đình
Người nghiên cứu tự nhận thấy rằng với cơ cấu mẫu như trong nghiên cứu này thì chưa thể suy rộng nếu xét trên phạm vị rộng của vấn đề nghiên cứu Chính
vì vậy, nghiên cứu này chỉ xem xét vấn đề trong phạm vi hẹp với trường hợp tác động của chính sách 134, 135 đối với đồng bào dân tộc thiểu số tại xã Ma Ly Pho
Cơ cấu mẫu khảo sát
Trang 14 Phương pháp phỏng vấn sâu: Đề tài tiến hành 11 cuộc phỏng vấn sâu trong
đó có chủ tịch xã và 02 trưởng bản để rà soát lại các chính sách xóa đói giảm nghèo được thực hiện trong thời gian qua, những khó khăn, vướng mắc mà họ gặp phải trong quá trình thực hiện…; phỏng vấn sâu 08 hộ dân trên địa bàn trong đó có 2 người dân tộc Kinh, 2 người dân tộc Hoa, 2 người dân tộc Dao, 1 người dân tộc Thái và 1 người dân tộc Khơ mú để nắm bắt được người dân đã được thụ hưởng những chính sách nào; mức sống của người dân so với trước đây ra sao, đánh giá của họ về điều kiện cơ sở vật chất ở xã hiện nay, đồng thời tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của họ đối với các cấp chính quyền địa phương và Trung ương khi ban hành
và thực thi các chính sách
Phương pháp quan sát: Sử dụng phương pháp quan sát để thu thập thông tin về tình hình cơ sở hạ tầng ở địa phương, cơ sở vật chất và điều kiện sống của người dân dưới tác động của các chính sách
7.2.3 Phương pháp phân tích tài liệu
Được sử dụng để phân tích các công trình nghiên cứu liên quan, các chính sách, các báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội từ năm
2005 đến năm 2010 của xã Malypho Phương pháp phân tích hệ thống cho phép đi sâu tìm hiểu những mặt ưu điểm và hạn chế của các chính sách từ nội dung văn bản chính sách đến quá trình tổ chức triển khai chính sách
Trang 15nghĩa như sau: “Phát triển bền vững là s phát triển nh m đáp ứng những yêu cầu của hiện tại nhưng không gây tr ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”
Hay nói cách khác: Đó là sự phát triển hài hòa cả về kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường nhằm không ngừng nâng cao chất lượng sống của con người ở các thế hệ hiện tại cũng như trong tương lai
Nội dung cơ bản của phát triển bền vững có thể được đánh giá bằng những tiêu chí nhất định về kinh tế, tình trạng xã hội, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và chất lượng môi trường:
Phát triển bền vững về kinh tế đòi hỏi phải đảm bảo kết hợp hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa – xã hội, cân đối tốc độ tăng trưởng kinh tế với việc sử dụng các điều kiện nguồn lực, tài nguyên thiên nhiên, khoa học, công nghệ, đặc biệt chú trọng phát triển công nghệ sạch
Phát triển bền vững về xã hội là xây dựng một xã hội có nền kinh tế tăng trưởng nhanh và ổn định đi đôi với dân chủ công bằng và tiến bộ xã hội, trong đó giáo dục, đào tạo, y tế và phúc lợi xã hội phải được chăm lo đầy đủ và toàn diện cho mọi đối tượng trong xã hội
Trang 16Phát triển bền vững về tài nguyên và môi trường là các dạng tài nguyên thiên nhiên tái tạo được phải được sử dụng trong phạm vi chịu tải của chúng nhằm khôi phục được cả về số lượng và chất lượng, các dạng tài nguyên không tái tạo được phải được sử dụng tiết kiệm và hợp lý nhất Môi trường tự nhiên (không khí, đất, nước, cảnh quan thiên nhiên…) và môi trường xã hội (dân số, chất lượng dân
số, sức khỏe, môi trường sống, lao động và học tập của con người…) nhìn chung không bị các hoạt động của con người làm ô nhiễm, suy thoái và tổn hại Các nguồn phế thải từ công nghiệp và sinh hoạt được xử lý, tái chế kịp thời, vệ sinh môi trường được đảm bảo, con người được sống trong môi trường trong sạch…
Những tiêu chí nói trên là những điều kiện cần và đủ để đảm bảo sự phát triển bền vững của một xã hội, nếu thiếu một trong những điều kiện đó thì sự phát triển sẽ đứng trước nguy cơ mất bền vững
Bởi vậy nghiên cứu đánh giá tác động của chính sách XĐGN đối với các DTTS theo 3 nhóm tiêu chí của lý thuyết phát triển bền vững: (1) Sự tăng trưởng kinh tế của các nhóm DTTS trên địa bàn ĐBKK (2) Công bằng xã hội diễn ra như thế nào khi các chính sách xã hội tác động vào các DTTS ở địa bàn ĐBKK Quá trình đó có làm sâu sắc thêm sự phân tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo trên địa bàn
và trong cộng đồng các dân tộc hay không Nó có củng cố các khối đại đoàn kết các dân tộc hay là gây ra mâu thuẫn dân tộc (3) Các chính sách đó có tác động gì đến môi trường tự nhiên, tạo ra các sự cố thiên tai và môi trường Các chính sách tác động gì đến phong tục tập quán và nếp sống của cộng đồng, của các hộ gia đình của các dân tộc thuộc địa bàn ĐBKK
1.1.1.2 Lý thuyết bẫy nghèo khổ
Theo Mathus, người được coi là ông tổ của dân số học hiện đại, nghèo khổ
là do hai yếu tố chính gây ra: một là năng suất lao động tăng chậm, hai là dân số tăng nhanh Ông chỉ ra quy luật của mối tương quan này là: dân số tăng theo cấp
Trang 17số nhân còn sản xuất tăng theo cấp số cộng, do vậy các phương tiện sống được sản xuất ra không đủ để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng dân số tăng rất nhanh đó
Karl Marx nhấn mạnh nguyên nhân của sự nghèo khổ ở trong cách tổ chức đời sống sản xuất của con người Do sự phân công lao động, sự phân chia giai cấp,
sự áp bức và bóc lột người nên trong xã hội có sự bất bình đẳng với một thiểu số người thống trị đa số người khác, trong đó có nhiều người rơi vào cảnh nghèo khổ Vấn đề đặt ra là phải biến đổi phương thức sản xuất và cấu trúc xã hội theo hướng tạo ra sự cân bằng, bình đẳng, tự do cho mọi người
Một hướng nghiên cứu khác tập trung vào tìm kiếm nguyên nhân sự nghèo khổ trong việc tạo cơ hội, phát triển năng lực và khả năng giảm nguy cơ bị tổn thương của các nhóm xã hội trong kinh tế thị trường Những đại diện tiêu biểu cho nghiên cứu này là Amartya Sen, Joseph Stiglitz và các đồng sự Nguyên nhân của
sự nghèo khổ là sự hạn chế các điều kiện sản xuất kinh doanh, thiếu quyền lực, sự hạn chế quyền tự do và năng lực yếu kém của các cá nhân, các nhóm xã hội trong việc thực hiện các quyền và thiếu khả năng, cơ hội tham gia vào các quá trình phát triển kinh tế xã hội trong nước và quốc tế [13, tr 234-235]
Tính chất phức tạp của mối quan hệ nhân quả và nhất là mối liên hệ nhiều chiều giữa các yếu tố của sự nghèo khổ tạo thành một vòng lẩn quẩn nghèo khổ hay cái bẫy nghèo khổ Thực chất, đó là cách gọi một mạng lưới gồm nhiều yếu
tố, có mối tương tác chặt chẽ với nhau đến mức chỉ cần vướng vào một mối quan
hệ nào đó là đủ để người ta bị rơi vào tình cảnh nghèo khổ như rơi vào một cái bẫy khó thoát ra được
Bẫy nghèo khổ được mô tả trong sơ đồ sau đây chỉ là nhấn mạnh bốn yếu tố chủ yếu - thiếu quyền lực, dễ bị tổn thương, ốm yếu, cô lập Trên thực tế, số lượng các mắt xích của bẫy nghèo khổ có thể kéo dài, bao gồm các yếu tố như học vấn thấp, thất nghiệp, mất mùa, thiên tai, bệnh dịch và nhiều yếu tố khác nữa, tùy thuộc vào tình huống xã hội cụ thể
Trang 18Điều có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn là việc phân tích xã hội học kinh tế về sự nghèo khổ sẽ làm giúp làm rõ các tác nhân và các hậu quả của sự nghèo khổ, các cơ chế duy trì sự nghèo khổ Trên cơ sở đó, nghiên cứu
có thể gợi ra suy nghĩ về chiến lược xóa đói giảm nghèo và giải quyết vấn đề bất bình đẳng xã hội trong kinh tế thị trường
Sơ đồ: Cái bẫy nghèo khổ
1.1.1.3 Lý thuyết phát triển và biến đổi xã hội
Nguyên lý phát triển của XHH Mác xít chỉ ra rằng phát triển là quá trình trong đó sự vật mới ra đời thay thế sự vật cũ, là hiện tượng diễn ra không ngừng trong tự nhiên, xã hội và tư duy Nguyên lý này chỉ ra rằng, mọi sự vật, hiện tượng đều nằm trong quá trình vận động và phát triển, nên trong nhận thức và hoạt động của bản thân, chúng ta phải có quan điểm phát triển Điều đó có nghĩa là khi xem xét bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng phải đặt chúng trong sự vận động, sự phát triển, vạch ra xu hướng biến đổi, chuyển hóa của chúng
Thuyết này chỉ ra rằng cũng như giới tự nhiên, mọi xã hội, mọi nền văn hóa đều không ngừng biến đổi Sự ổn định của xã hội chỉ là sự ổn định tương đối, còn
VÔ QUYỀN
ỐM YẾU
DỄ TỔN THƯƠNG
NGHÈO KHỔ
CÔ LẬP
Trang 19thực tế, nó không ngừng thay đổi từ bên trong bản thân nó Sự biến đổi trong xã hội hiện đại càng rõ hơn, con người là một đơn vị cơ bản của xã hội, với tư cách là chủ thể hoạt động xã hội, bản thân nó cũng luôn biến đổi Biến đổi từ khi sinh ra đến khi trưởng thành rồi mất đi Con người trên khía cạnh sinh học, cũng tuân thủ những quy luật tự nhiên, lớp người này mất đi, lớp người kia kế tiếp Các thế hệ thay thế nhau tạo ra những biến đổi không ngừng của lịch sử và xã hội Thuyết biến đổi xã hội ra đời coi xã hội là một sự vận động và tương tác không ngừng Chính sự vận động và tương tác này đã tạo ra sự đa dạng và phong phú của xã hội Như vậy, lý thuyết này lý giải rằng sự biến đổi về nhận thức, mức sống, điều kiện
cơ sở vật chất ở các vùng DTTS là một quá trình tất yếu
A Comte đã coi xã hội là sự chuyển hóa giữa hai mặt là mặt tĩnh (mặt cơ cấu của xã hội) và mặt động (mặt lịch đại của xã hội) Theo ông, trong xã hội, mọi cái đều vận động và biến đổi Tuy nhiên, sự biến đổi này không diễn ra một cách đơn điệu Mỗi sự vật hiện tượng và sự kiện xã hội lại có những cách thức và cường độ biến đổi khác nhau Sự biến đổi ít, biến đổi nhiều và sự tĩnh tại cùng tồn tại đan xen với nhau Tĩnh tại cũng là một trạng thái của sự biến đổi [22, tr 119]
Hai nhà XHH nổi tiếng, Gerhard Lenski và Jean Lenski đã nhấn mạnh tới vai trò của sự phát triển công nghệ đối với sự thay đổi xã hội Phân tích quá trình biến đổi xã hội từ xã hội săn bắn, hái lượm tới xã hội nông nghiệp và xã hội công nghiệp, họ thấy rằng, sự phát triển của công nghệ luôn đi trước và sau đó tạo cơ sở kinh tế, xã hội để cải thiện các khuôn khổ khác của đời sống xã hội Họ cũng nhấn mạnh rằng tiến bộ công nghệ cũng khiến cho sự bất bình đẳng xã hội diễn ra nhiều hơn, như vậy chỉ có ứng dụng khoa học công nghệ vào trong sản xuất của người nông dân nói chung và đồng bào DTTS nói riêng mới tạo điều kiện cho họ cải thiện đời sống, giúp giảm khoảng cách giàu nghèo giữa các dân tộc
Còn nhà XHH theo thuyết biến đổi xã hội coi hành vi con người thông qua các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa và giao tiếp là tác nhân của sự biến đổi
Trang 20Nhà XHH Mỹ William Orburn đã đưa ra khái niệm “ độ chậm văn hóa” để chỉ sự biến đổi xã hội mà theo ông trong đó văn hóa vật chất thường thay đổi nhanh hơn văn hóa phi vật chất Từ quan điểm này, quy chiếu vào những vấn đề XĐGN đối với đồng bào DTTS, cho thấy những thay đổi trong quan niệm nhận thức của đồng bào DTTS về XĐGN thường thay đổi chậm hơn những thay đổi có tính vật chất khác như điều kiện cơ sở hạ tầng tại địa phương, phương tiện sinh hoạt của người dân tộc
Thuyết biến đổi xã hội cho rằng việc nghiên cứu những tác nhân của sự biến đổi xã hội là yếu tố quan trọng để tìm ra các chiến lược phát triển tránh cho xã hội khỏi những biến đổi ngược chiều dẫn đến suy thoái Họ nghiên cứu hành vi con người thông qua các chuẩn mực và giá trị xã hội, coi nó là mô hình hành vi là sản phẩm của một nền văn hóa và cho rằng nó cũng biến đổi theo thời gian và theo những điều kiện xã hội Sự biến đổi mô hình hành vi là kết quả thay đổi của các hệ giá trị, chuẩn mực Nếu văn hóa xã hội luôn luôn tồn tại Nó không hề mất đi mà chỉ biến đổi từ hình thức này sang hình thức khác
Có nhiều quan niệm khác nhau về sự biến đổi xã hội thông qua biến đổi thông qua biến đổi hành vi Các nhà XHH theo thuyết biến đổi xã hội định nghĩa
“Biến đổi xã hội là một quá trình, qua đó những khuôn mẫu của hành vi xã hội, các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội và các hệ thống phân tầng xã hội thay đổi theo thời gian”
Các nhà XHH theo lý thuyết biến đổi xã hội nhìn chung ủng hộ sự biến đổi
xã hội theo xu hướng tiến bộ và ủng hộ một xã hội bình đẳng giữa các dân tộc
1.1.2 Một số khái niệm công cụ của đề tài
1.1.2.1 Chính sách
Thuật ngữ “chính sách” trên thực tế được sử dụng với nhiều nghĩa khác nhau
Tiếp cận từ góc độ chính sách công có thể định nghĩa: chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay các nhà quản lý đưa ra để giải quyết một vấn
đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình [10; tr 281] Chính sách được hiểu
Trang 21là hình thức của những mối liên hệ, tác động qua lại giữa các nhóm, tập đoàn xã hội gắn liền với tổ chức, hoạt động của nhà nước, của các đảng phái hay các thiết chế khác của hệ thống chính trị nhằm thực hiện các mục tiêu, lợi ích, nhiệm vụ của cá nhân và tập đoàn xã hội đó Chính sách là công cụ điều tiết lợi ích giữa các
cá nhân và giữa các nhóm xã hội của chủ thể quản lý để đạt được mục đích do chủ thể đó quy định Công cụ đó thường được thể hiện trong các quyết định, trong hệ thống pháp luật, trong quy chuẩn hành vi và những quy định khác của chủ thể quản lý Chủ thể quản lý có thể là tổ chức quốc tế, Đảng, Nhà nước hoặc các tổ
chức xã hội khác Trong đề tài này, chính sách được hiểu là chính sách công do nhà nư c ban hành bao g m các cấp có thẩm quyền trong bộ máy nhà nư c t trung ương đến địa phương Nó đối nghĩa với chính sách tư - chính sách riêng do
các tổ chức, các doanh nghiệp, các hiệp hội, đoàn thể đề ra - để áp dụng trong phạm vi của tổ chức, doanh nghiệp, hiệp hội hay đoàn thể đó
Đối với chính sách công, nhà nước vừa là chủ thể ban hành, vừa là chủ thể thực thi chính sách - một công cụ tác động đến đời sống của cộng đồng dân cư Chính sách công thực hiện các chức năng của nhà nước, quản lý và điều hành sự phát triển kinh tế - xã hội theo những mục tiêu đặt ra và được thể chế hoá thành các quyết định có hiệu lực pháp lý của cơ quan nhà nước Nó được thực thi dựa vào việc sử dụng quyền lực công của nhà nước Chủ thể điều hành thực thi chính sách công là các tổ chức trong bộ máy nhà nước sử dụng thẩm quyền được pháp luật thừa nhận Các chính sách công gắn với việc phân bổ và sử dụng nguồn lực công của nhà nước như ngân sách và các tài sản công khác do nhà nước quản lý Các cơ quan nhà nước và tổ chức của nhà nước là những chủ thể thực thi chủ yếu, song thực thi chính sách đó cũng là nghĩa vụ của mọi thành viên liên quan đến lĩnh vực mà chính sách điều tiết Nhìn chung, trong xu hướng quản trị xã hội theo nguyên tắc dân chủ, các lực lượng xã hội được huy động tham gia ngày càng sâu rộng vào xây dựng và thực thi chính sách công
Trang 221.1.2.2 Chính sách xóa đói giảm nghèo
Chính sách XĐGN là một hệ thống nhiều chính sách đồng bộ bao gồm trên nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội, cả về đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần Trong đó chính sách phát triển kinh tế là rất quan trọng
“Công tác xoá đói giảm nghèo là quá trình đưa các chủ trương, chính sách của Đảng Nhà nư c vào việc nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân đặc biệt là hộ nghèo xã nghèo trên cả nư c” [21, tr.4] Thông qua các chương trình,
chính sách của Đảng và Nhà nước, các cơ quan, đoàn thể, các địa phương… giúp
đỡ người nghèo, hộ nghèo, xã nghèo phát triển kinh tế, cải thiện đời sống, nâng cao mức thu nhập và các nhu cầu thiết yếu khác Qua đó từng bước giúp họ thoát nghèo từng bước rút ngắn khoảng cách chênh lệch giữa các vùng, các địa phương đặc biệt là giữa thành thị và nông thôn, giữa vùng núi và đồng bằng và giữa các dân tộc trong cả nước
Để giải quyết vấn đề đói nghèo, một trong những vấn đề cơ bản là xây dựng
và xác định nó trong tổng thể các chính sách xã hội Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định: chính sách XĐGN bao trùm mọi mặt của cuộc sống con người, điều kiện lao động và sinh hoạt, giáo dục và văn hoá, chính trị, đạo đức…coi nhẹ chính sách XĐGN tức là coi nhẹ yếu tố con người trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa
xã hội
Như vậy, chính sách XĐGN là sự thể chế hoá, cụ thể hoá đường lối, chủ trương giải quyết các vấn đề đói nghèo dựa trên những tư tưởng, quan điểm của chủ thể lãnh đạo phù hợp với bản chất chế độ chính trị - xã hội, phản ánh lợi ích
và trách nhiệm của cộng đồng xã hội nói chung và của nhóm xã hội nói riêng nhằm tác động trực tiếp vào con người hướng tới mục tiêu cao nhất là thoả mãn những nhu cầu ngày càng tăng về đời sống vật chất, văn hoá tinh thần của nhân dân
Trang 231.1.2.3 Dân tộc thiểu số
“Dân tộc thiểu số” là một khái niệm khoa học được sử dụng phổ biến trên thế giới hiện nay Các học giả phương Tây quan niệm rằng, đây là một thuật ngữ chuyên ngành dân tộc học (minority ethnic) dùng để chỉ những dân tộc có dân số
ít Trong một số trường hợp, người ta đánh đồng ý nghĩa “dân tộc thiểu số” với
“dân tộc lạc hậu”, “dân tộc chậm tiến”, “dân tộc kém phát triển”, “dân tộc chậm phát triển”… Có nhiều nguyên nhân, trong đó có sự chi phối bởi quan điểm chính trị của giai cấp thống trị trong mỗi quốc gia
Trên thực tế, khái niệm “dân tộc thiểu số” chỉ có ý nghĩa biểu thị tương quan về dân số trong một quốc gia đa dân tộc Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng dân tộc, thì khái niệm “dân tộc thiểu số” không mang ý nghĩa phân biệt địa vị, trình
độ phát triển của các dân tộc Địa vị, trình độ phát triển của các dân tộc không phụ thuộc ở số dân nhiều hay ít, mà nó được chi phối bởi những điều kiện kinh tế
- chính trị - xã hội và lịch sử của mỗi dân tộc
Vận dụng quan điểm trên vào điều kiện cụ thể của cách mạng nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định quan niệm nhất quán của mình: Việt Nam là một quốc gia thống nhất gồm 54 dân tộc thành viên, với khoảng trên 80 triệu người Trong tổng số các dân tộc nói trên thì dân tộc Việt (Kinh) chiếm 86,2% dân số, được quan niệm là “dân tộc đa số”, 53 dân tộc còn lại, chiếm 13,8% dân số được quan niệm là “dân tộc thiểu số” trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Khái niệm “dân tộc thiểu số”, có lúc, có nơi, nhất là trong những năm trước đây còn được gọi là “dân tộc ít người” Mặc dù hiện nay đã có qui định thống nhất gọi là “dân tộc thiểu số”, nhưng cách gọi “dân tộc ít người” vẫn không
bị hiểu khác đi về nội dung
Trang 24Như vậy, khái niệm “dân tộc thiểu số” dùng để chỉ những dân tộc có số dân
ít, chiếm tỷ trọng thấp trong tương quan so sánh về lượng dân số trong một quốc gia đa dân tộc Khái niệm “dân tộc thiểu số” cũng không có ý nghĩa biểu thị tương quan so sánh về dân số giữa các quốc gia dân tộc trên phạm vi khu vực và thế giới Một dân tộc có thể được quan niệm là “đa số” ở quốc gia này, nhưng đồng thời có thể là “thiểu số” ở quốc gia khác Chẳng hạn người Việt (Kinh) được coi là “dân tộc đa số” ở Việt Nam, nhưng lại được coi là “dân tộc thiểu số”
ở Trung Quốc (vì chỉ chiếm tỉ lệ 1/55 dân tộc thiểu số của Trung Quốc); ngược lại người Hoa (Hán), được coi là “dân tộc đa số” ở Trung Quốc, nhưng lại là dân tộc thiểu số ở Việt Nam (người Hoa chiếm tỉ lệ 1/53 dân tộc thiểu số của Việt Nam) Rõ ràng, quan niệm về “dân tộc thiểu số” và “dân tộc đa số” cũng như nội hàm của chúng hiện nay còn có những vấn đề chưa thống nhất và nó cũng được vận dụng xem xét rất linh hoạt trong từng điều kiện cụ thể, tuỳ theo quan niệm và mối quan hệ so sánh về dân số của mỗi quốc gia dân tộc Song, những nội dung được quan niệm như đã phân tích ở phần trên về cơ bản là tương đối thống nhất không chỉ ở nước ta mà trong cả giới nghiên cứu dân tộc học trên thế giới
1.1.2.4 Địa bàn đặc biệt khó khăn
Thuật ngữ “Địa bàn đặc biệt khó khăn” hay “Khu v c khó khăn” được đề
cập đến trong Thông tư số 41.UB-TT của ủy ban Dân tộc và miền núi (1996) trong việc phân định 3 khu vực (khu vực 1: khu vực bước đầu phát triển; khu vực 2: khu vực tạm ổn định; khu vực 3: khu vực khó khăn) Việc phân định các khu vực trên dựa theo 5 tiêu chí của trình độ phát triển: (1) Điều kiện tự nhiên, địa bàn
cư trú; (2) Cơ sở hạ tầng; (3) Các yếu tố xã hội; (4) Điều kiện sản xuất; (5) Về đời sống Tiêu chí cụ thể của khu vực 3 như sau:
Trang 25 Điều kiện tự nhiên, địa bàn cư trú: gồm các xã vùng sâu, vùng xa, vùng cao hẻo lánh, vùng biên giới, hải đảo Khoảng cách của các xã đến các khu trục động lực phát triển trên 20 km
Cơ sở hạ tầng chưa được xây dựng, hoặc còn tạm bợ Giao thông rất khó khăn, không có đường ô tô vào xã Các công trình điện, thuỷ lợi, nước sạch, trường học, bệnh xã, dịch vụ khác rất thấp kém hoặc không có
Các yếu tố xã hội chưa đạt mức tối thiểu Dân trí quá thấp, tỉ lệ mù chữ và thất học trên 60%, bệnh tật nhiều, tập tục lạc hậu, không có thông tin
Điều kiện sản xuất rất khó khăn, thiếu thốn Sản xuất mang tính tự nhiên hái lượm, chủ yếu phát rừng làm nương rẫy, du canh du cư
Về đời sống: Số hộ đói nghèo trên 60% số hộ của xã Đời sống thực sự khó khăn, nạn đói thường xuyên xảy ra
Sau đó trong việc thực hiện CSDT xuất hiện thuật ngữ mới liên quan đến địa
bàn trên, đó là “xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu vùng xa” (1998) theo
Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
Thuật ngữ “hộ đ ng bào dân tộc thiểu số nghèo” (2004) được đề cập trong
chính sách dân tộc lần đầu theo Quyết định 134/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Theo Quyết định trên, hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn là “hộ dân tộc thiểu số tại chỗ, định cư thường trú tại địa phương; là hộ nghèo sinh sống bằng nghề nông, lâm nghiệp chưa có hoặc chưa đủ đất sản xuất, đất ở và có khó khăn về nhà ở, nước sinh hoạt”
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.1 Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về vấn đề dân tộc và chính sách XĐGN cho đồng bào DTTS
Đảng và Nhà nước ta luôn xác định vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn
đề chiến lược của cách mạng Việt Nam Trong giai đoạn cách mạng, Đảng ta luôn
Trang 26có quan điểm nhất quán: “Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh, tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam” [9, tr.16]
Tổng kết thực tiễn nhiều năm thực hiện đường lối, CSDT và công tác dân tộc
của Đảng và Nhà nước ta, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX Về công tác dân tộc ngày 12 tháng 3 năm 2003 đã khẳng định
những quan điểm cơ bản của Đảng ta về vấn đề dân tộc, giải quyết vấn đề dân tộc trong giai đoạn hiện nay là:
Thứ nhất vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu
dài, đồng thời là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam
Thứ hai các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn
trọng, giúp đỡ nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc
Thứ ba phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh-
quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện tốt CSDT; quan tâm phát triển nguồn nhân lực; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ DTTS; giữ gìn và phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống các DTTS trong sự nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất
Thứ tư ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế- xã hội các vùng dân tộc và miền núi;
khai thác có hiệu quả và tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái; phát huy nội lực, tinh thần tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường hỗ trợ của Trung ương và sự tương trợ, giúp đỡ của các địa phương trong cả nước
Thứ năm công tác dân tộc và thực hiện CSDT là nhiệm vụ của toàn Đảng,
toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị
Trang 27Đại hội X tiếp tục bổ sung, hoàn thiện quan điểm, CSDT của Đảng, Nhà nước
xã hội chủ nghĩa
- Phát triển kinh tế, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, XĐGN, nâng cao trình độ dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, tiếng nói, chữ viết và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc
- Thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế- xã hội ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng căn cứ cách mạng; làm tốt công tác định canh, định cư và xây dựng vùng kinh tế mới Quy hoạch, phân bổ, sắp xếp lại dân cư, gắn phát triển kinh tế với bảo đảm an ninh, quốc phòng, củng
cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở vùng đồng bào DTTS…
- Thực hiện chính sách ưu tiên trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, tri thức là người DTTS Cán bộ công tác ở vùng DTTS và miền núi phải gần gũi, hiểu phong tục tập quán, tiếng nói của đồng bào dân tộc, làm tốt công tác dân vận
- Chống các biểu hiện kỳ thị, hẹp hòi, chia rẽ dân tộc [9, tr 121-122]
Trong các chính sách chủ yếu của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề dân tộc thì XĐGN là chính sách được ưu tiên hàng đầu trong việc hoạch định chiến lược
phát triển kinh tế- xã hội trong từng thời kỳ Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
nêu ra ba nhiệm vụ cấp bách của nhà nước ta cần phải giải quyết, đó là: Giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm Trong lúc giặc ngoại xâm vẫn chưa từ bỏ ý định thôn
Trang 28tính nước ta, Người đặt việc giải quyết “giặc đói” lên hàng đầu, là vì dân tộc ta đánh đổ đế quốc, phong kiến để đem lại cơm ăn, áo mặc, học hành cho người dân nếu không giải quyết được vấn đề này thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa
gì
Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước ta đã nỗ lực quyết tâm xoá đói, giảm nghèo Xoá đói, giảm nghèo là một chủ trương lớn, một quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước; là sự nghiệp cách mạng của toàn dân, nhất là ở địa phương, cơ sở; là hướng ưu tiên trong toàn bộ các chính sách kinh
tế và xã hội của đất nước, vì nếu không giải quyết được vấn đề nghèo đói sẽ không giải quyết được bất kỳ một mục tiêu nào của dân tộc ta đặt ra, như: hoà bình, ổn định, công bằng xã hội Trong nhiều năm qua, mặc dù ngân sách nhà nước còn hạn hẹp, song Đảng và Nhà nước ta đã thể hiện quyết tâm cao đối với công tác XĐGN trên các địa bàn khó khăn của cả nước, đặc biệt là các vùng DTTS ở Tây Bắc, Nam Trung bộ, Tây Nguyên, Tây Nam bộ Tư tưởng nhất quán của Đảng ta là “Tăng trưởng kinh tế phải tiến hành công cuộc XĐGN, thực hiện công bằng xã hội, bình đẳng giới, giảm sự phân hoá giàu nghèo”
Thực hiện quan điểm trên của Đảng, Chính phủ đã giành nhiều nguồn lực cho XĐGN thông qua các chương trình dự án lớn, như: Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa (Chương trình 135); Chương trình về định hướng kế hoạch phát triển các vùng Tây Nguyên (Chương trình 168); Chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bằng Sông Cửu Long (Chương trình 173); Chương trình phát triển vùng đặc biệt khó khăn 6 tỉnh miền núi phía Bắc (Chương trình 186) và Quyết định 134/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào nghèo, đời sống khó khăn Đồng thời phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức đoàn thể quần chúng động viên toàn dân tích cực tham gia công cuộc XĐGN và Chính
Trang 29phủ đã quyết định lấy ngày 17-10 hàng năm là “Ngày vì người nghèo” trong cả nước
Có thể nói, việc triển khai những chính sách, dự án quốc gia về XĐGN, điển hình là chương trình 135, chính sách 134 nêu trên đã huy động được đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia Những nỗ lực trong công cuộc XĐGN của toàn Đảng, toàn dân trong nhiều năm qua đã có tác dụng quan trọng củng cố và tăng cường khối đoàn kết toàn dân tộc, nâng cao niềm tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước Qua thực tế thực hiện các chương trình, dự án còn thu hút sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp, các ngành và các đoàn thể chính trị - xã hội từ Trung ương đến cơ sở, góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội các xã ĐBKK, giảm dần khoảng cách chênh lệch phát triển giữa các vùng, miền trong cả nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, góp phần thực hiện công bằng xã hội, thể hiện sự ưu việt của chế độ ta, chế độ xã hội “của dân, do dân, vì dân” Đồng thời công cuộc XĐGN trong nhiều năm qua, còn thể hiện quyết tâm của toàn dân tộc ta thực hiện tư tưởng của Bác Hồ vĩ đại nhằm thực hiện mục tiêu
“Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”
1.2.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Vấn đề nghèo đói và XĐGN ở nước ta là vấn đề được Đảng, Nhà nước và các cấp, các ngành cũng như nhiều cơ quan, nhà khoa học quan tâm nghiên cứu
Từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX đến nay đã có nhiều công trình khoa học, đề tài nghiên cứu, bài viết liên quan đến vấn đề xóa đói, giảm nghèo được công bố,
Trang 30các khuyến nghị khoa học làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách XĐGN, giúp phụ nữ nghèo nông thôn vươn lên
Nguyễn Thị Hằng, Vấn đề xóa đói giảm nghèo nông thôn nư c ta hiện nay,
Nxb Chính trị quốc gia, 1997 Cuốn sách đã đánh giá khá đầy đủ về thực trạng nghèo đói ở Việt Nam và biện pháp XĐGN ở nông thôn nước ta đến năm 2000
PGS.TSKH Lê Du Phong - PTS Hoàng Văn Hoa (đồng chủ biên), Kinh tế thị trường và s phân hóa giàu - nghèo vùng dân tộc và miền núi phía Bắc nư c ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999 Các tác giả đã đánh giá những
thành tựu về kinh tế - xã hội qua hơn 10 năm đổi mới và tiềm năng ở vùng dân tộc
và miền núi phía Bắc nước ta
TS Lê Xuân Bá (cùng tập thể tác giả), Nghèo đói và xóa đói giảm nghèo Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, 2001 Các tác giả đã phản ánh tổng quan về nghèo
đói trên thế giới; đưa ra các phương pháp đánh giá về nghèo đói hiện nay ở Việt Nam và nghiên cứu thực tiễn về nghèo đói ở tỉnh Quảng Bình; qua đó đưa ra một
số quan điểm, giải pháp chung về XĐGN ở Việt Nam
Vũ Minh Cường, Th c trạng và một số giải pháp chủ yếu nh m xóa đói giảm nghèo tỉnh Hà Giang, Luận văn tốt nghiệp cử nhân chính trị, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2003 Tác giả đã phân tích thực trạng nghèo đói
ở tỉnh Hà Giang, các chính sách hỗ trợ cho người nghèo ở tỉnh và đề xuất các giải pháp về mặt chính sách nhằm XĐGN cho đồng bào DTTS tại địa bàn tỉnh
Báo cáo nghiên cứu chính sách của Ngân hàng thế giới, Chính sách đất đai cho tăng trư ng và xóa đói giảm nghèo, Nxb Văn hóa- thông tin, 2004 Báo cáo
tập trung phân tích các chính sách đất đai đang thực hiện trên địa bàn DTTS và tác động của các chính sách đó đối với công cuộc XĐGN
Ngoài ra còn nhiều đề tài do Viện Dân tộc (Ủy Ban Dân tộc) thực hiện từ năm
2001 đến nay cũng đã phối hợp với các nhà khoa học, các nhà quản lý ở Trung ương
và địa phương tổ chức nghiên cứu các đề tài có tính chất đánh giá chính sách, như
Trang 31Chính sách dân tộc trong chiến lược đại đoàn kết toàn dân của Đảng ta (Lê Ngọc Thắng - Tạp chí cộng sản số 14, 05-2002) Chính sách và chế độ pháp lý đối v i
đ ng bào dân tộc và miền núi (Ủy ban dân tộc 1996) Bước đầu đề cập đến những
cơ sở lý luận và thực tiễn và đánh giá CSDT trong thời kỳ đổi mới
Một số vấn đề đổi m i nội dung quản lý Nhà nư c và phương thức công tác dân
tộc (Viện Dân tộc, 2003) Xóa đói giảm nghèo vấn đề và giải pháp vùng dân tộc thiểu số phía Bắc Việt Nam (Viện Dân tộc- Ngân hàng Thế giới 2004) Nghiên cứu
về định Canh định cư Việt Nam (Viện Dân tộc - Tổ chức phát triển Quốc tế Anh
- DFID) Giải pháp cải thiện đời sống cho đ ng bào dân tộc thiểu số (Viện Dân tộc
2005)… Các đề tài, dự án tập trung vào các lĩnh vực: chính sách XĐGN, vai trò của
hệ thống chính trị vùng DTTS đối với công tác dân tộc, vấn đề môi trường và phát triển bền vững ở vùng dân tộc, vấn đề phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ môi trường ở vùng dân tộc, tình hình thực hiện chính sách ở một số vùng dân tộc cụ thể (Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ), vấn đề trợ giúp pháp lý cho đồng bào DTTS, chính sách tài chính tín dụng đối với vùng dân tộc và miền núi, đào tạo cán bộ là người DTTS và cán bộ làm công tác dân tộc, vai trò của chương trình 135, 134 đối với việc XĐGN ở địa bàn ĐBKK Vấn đề bảo tồn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, vấn đề cơ hội và thách thức đối với các công tác dân tộc khi Việt Nam gia nhập các
tổ chức quốc tế, vai trò của già làng trưởng bản và người có uy tín trong công đồng đối với việc thực hiện CSDT, vấn đề nâng cao năng lực thực hiện CSDT…
Nhìn chung các công trình trên đã bước đầu cũng đã tiếp cận các vấn đề bức thiết của thực tiễn đặt ra, cung cấp được các luận cứ làm cơ sở cho việc rà soát, đánh
giá chính sách Đồng thời, còn có nhiều công trình khoa học khác nghiên cứu vấn
đề XĐGN ở nhiều khía cạnh khác nhau Có thể khẳng định, các công trình nghiên cứu về nghèo đói và XĐGN ở nước ta là rất phong phú Nhiều ý kiến khẳng định tính ưu việt của các chính sách, thừa nhận những thành tựu nhất định về kinh tế -
xã hội do chính sách XĐGN của Đảng và Nhà nước ta mang lại cho đồng bào các
Trang 32dân tộc… song cũng còn không ít ý kiến nhận thấy hiệu quả của chính sách còn rất hạn chế, thiếu tính bền vững và mục tiêu của chính sách nhằm rút ngắn khoảng cách giữa các dân tộc, các vùng hầu như chưa đáp ứng được là bao nếu như không muốn nói ngược lại ngày càng doãng xa ra
Như vậy có thể thấy, có rất nhiều các công trình nghiên cứu về các chính sách XĐGN trong thời gian gần đây, tuy nhiên vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu xã hội học đánh giá tác động của các chính sách XĐGN đối với đời sống người dân nghèo ở khu vực ĐBKK ở cả hai phương diện đời sống vật chất
và tinh thần
Đề tài nghiên cứu “Tác động của chính sách xóa đói giảm nghèo đến đời sống các dân tộc thiểu số thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (Nghiên cứu trường hợp chính sách 134, 135 tại xã Malypho - huyện Phong Thổ - tỉnh Lai Châu)” mong muốn đóng góp thêm một phần nhỏ vào xu hướng nghiên cứu chính sách XĐGN đối với vùng DTTS ở địa bàn ĐBKK ở nước ta
1.2.3 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
Địa hình:
Malypho là xã vùng cao biên giới nằm ở phía tây huyện Phong Thổ, có đường biên giới tiếp giáp với Trung Quốc dài 13km, địa hình chia cắt phức tạp bởi nhiều khe sâu do các triền núi đá tạo nên và hình thành các mái dốc trên 450
, nên đất bị rửa trôi và xói mòn mạnh Các dãy núi cao tập trung ở phía đông bắc và thấp dần ở phía Tây Nam Toàn xã có 9 bản với 532 hộ (2234 nhân khẩu), với 5 dân tộc anh em sinh sống, gồm: Dao, Thái, Hoa, Khơ mú, Kinh trong đó dân tộc Dao chiếm đa số (82%)
Đất đai
Đất dốc chiếm hầu hết diện tích tự nhiên của xã Nhiều khu đất phải đầu tư tốn kém mới có thể sử dụng lâu dài và hiệu quả, nói chung đất đai tầng mỏng, độ
Trang 33dốc cao, nghèo màu mỡ Đất thoái hoá dần mất khả năng sản xuất, mất cân bằng dinh dưỡng, bị rửa trôi vào mùa mưa, khô hạn vào mùa khô
Qua đó thấy được tình trạng đất đai ở đây ngày càng bị nghèo nàn chất dinh dưỡng, hiệu quả canh tác thấp Để khắc phục tình trạng trên cần có các biện pháp chống xói mòn, cải thiện tình trạng của đất, sử dụng kỹ thuật canh tác tiên tiến kết hợp với việc cải thiện môi trường sinh thái cân bằng mới có thể sử dụng đất lâu dài và hiệu quả
Khí hậu thuỷ văn
về mùa khô là 321,2 mm Ngoài ra còn có hiện tượng khí hậu thời tiết khác nhau, mưa đá thường xuyên xảy ra khoảng tháng 3 - 4 dương lịch kèm theo gió dật mạnh gây ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của cây trồng trong vụ đông xuân
Trang 34Độ ẩm không khí: Trung bình từ 82,2 % - 84% cao nhất trong năm lên đến
99 %, thấp nhất tuyệt đối có năm từ 22% đến 59 % được phân bố theo các vùng
Nhìn chung, với diễn biến khí hậu nơi đây, đặc biệt là nhiệt độ và lượng mưa cho thấy có tiềm năng phát triển cơ cấu cây trồng đa dạng Tạo điều kiện thuận lợi cho yêu cầu sinh trưởng, phát triển của cây trồng Với lượng bức xạ nhiệt độ cao, lượng mưa và độ ẩm đất cao đáp ứng nhu cầu của cây trồng
Thuỷ văn:
Trên địa bàn xã Ma ly pho hệ thống sông suối gồm 2 con suối chính là suối
Hu Lo dài khoảng 3,5km và suối Nậm Hồ dài khoảng 3 km, đã tạo ra các nhánh chảy qua các vùng trên địa bàn xã Tuy nhiên do địa hình phức tạp, độ dốc dòng suối lớn nên vào mùa mưa thường có lũ lớn, gây sạt lở bào mòn đã gây khó khăn cho việc xây dựng các vùng trên sông và đi lại
Ngược lại về mùa khô, lượng nước nhỏ, mùa kiệt dòng còn lại rất nhỏ ở các suối chính gây hạn hán khô hanh, ảnh hưởng lớn tới việc sản suất nông nghiệp đảm bảo nước cho ruộng vụ đông xuân
Trang 35CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH 134 VÀ 135 TẠI XÃ MALYPHO, HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
2.1 Khái quát nội dung chính của chính sách 134 và 135
2.1.1 Chính sách 134
Chính sách 134 có số hiệu là Quyết định 134/ 2004/QĐ-TTG được Thủ
tướng chính phủ phê duyệt ngày 20-07-2004 thực hiện một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào DTTS nghèo, đời sống khó khăn nhằm mục đích cùng với việc thực hiện các chương trình kinh tế -
xã hội, Nhà nước trực tiếp hỗ trợ đồng bào DTTS nghèo để có điều kiện phát triển
sản xuất cải thiện đời sống, sớm thoát nghèo
Đối v i đất sản xuất: mức giao đất sản xuất tối thiểu một hộ là 0,5 ha
đất nương, rẫy hoặc 0,25 ha đất ruộng lúa nước một vụ hoặc 0,15 ha đất ruộng lúa nước hai vụ Căn cứ quỹ đất cụ thể của từng địa phương, khả năng lao động
và số nhân khẩu của từng hộ và khả năng của ngân sách địa phương, UBND cấp tỉnh có thể xem xét quyết định giao đất sản xuất cho hộ đồng bào với mức cao hơn
Đối v i đất : mức giao diện tích đất ở tối thiểu 200 m2 cho mỗi hộ đồng bào sống ở nông thôn Căn cứ quỹ đất ở và khả năng ngân sách của địa phương, UBND cấp tỉnh có thể xem xét quyết định giao đất ở cho hộ đồng bào với mức cao hơn Việc hỗ trợ đất sản xuất và đất ở đối với hộ đồng bào dân tộc Khơme nghèo do đặc thù của vùng đồng bằng sông Cửu Long, Nhà nước sẽ có chính sách riêng
Về nhà : đối với các hộ đồng bào DTTS nghèo tại chỗ (kể cả đồng bào
dân tộc Khơme) hiện chưa có nhà ở hoặc nhà ở quá tạm bợ và đã hư hỏng, dột nát thì thực hiện phương châm: nhân dân tự làm, Nhà nước hỗ trợ và cộng đồng giúp đỡ
Trang 36 Ngân sách trung ương hỗ trợ với mức 5 triệu đồng/hộ để làm nhà ở Căn
cứ tình hình và khả năng ngân sách, các địa phương hỗ trợ thêm và huy động sự giúp đỡ của cộng đồng
Đối với các địa phương có rừng, có quy hoạch, kế hoạch khai thác gỗ hàng năm được duyệt thì cho phép UBND cấp tỉnh được khai thác gỗ theo quy định để hỗ trợ đồng bào làm nhà ở Mức gỗ hỗ trợ cụ thể cho mỗi hộ làm nhà ở
do UBND cấp tỉnh quyết định Nghiêm cấm việc lợi dụng khai thác gỗ hỗ trợ làm nhà ở để chặt phá rừng
Về hỗ trợ giải quyết nư c sinh hoạt:
Đối với các hộ đồng bào dân tộc ở phân tán vùng cao, núi đá, khu vực khó khăn về nguồn nước sinh hoạt thì ngân sách trung ương hỗ trợ 0,5 tấn xi măng/ hộ để xây dựng bể chứa nước mưa hoặc hỗ trợ 300.000 đồng/hộ để đào giếng hoặc tạo nguồn nước sinh hoạt
Đối với công trình cấp nước sinh hoạt tập trung: ngân sách trung ương
hỗ trợ 100% cho các thôn, bản có từ 50% số hộ là đồng bào DTTS trở lên hỗ trợ 50% đối với các thôn, bản có từ 20% đến dưới 50% số hộ đồng bào DTTS Các địa phương khi xây dựng các công trình cấp nước sinh hoạt tập trung cho đồng bào phải bảo đảm tính bền vững và hiệu quả
2.1.2 Chính sách 135
Chính sách 135 do Quyết định của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam phê
duyệt có số hiệu văn bản là 135/1998/QĐ-TTg Theo kế hoạch ban đầu, chương
trình sẽ kéo dài 7 năm và chia làm hai giai đoạn; giai đoạn 1 từ năm 1998 đến năm
2000 và giai đoạn 2 từ năm 2001 đến năm 2005 Tuy nhiên, đến năm 2006, Nhà nước quyết định kéo dài chương trình này thêm 5 năm, gọi giai đoạn 1997-2006 là giai đoạn I, giai đoạn 2006-2010 là giai đoạn II
Trang 37Giai đoạn I t năm 1997 đến 2006
Điều hành Chương trình 135 là Ban chỉ đạo chương trình phát triển kinh tế
xã hội các xã ĐBKK miền núi và vùng sâu, vùng xa Người đứng đầu ban này là một phó thủ tướng chính phủ; phó ban là Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc; và các thành viên là một số thứ trưởng các bộ ngành và các đại diện đoàn thể xã hội
Nâng cao đời sống văn hóa
Có nhiều biện pháp thực hiện chương trình này, bao gồm đầu tư kinh phí của nhà nước, các dự án nhà nước và nhân dân cùng làm (nhà nước và nhân dân cùng chịu kinh phí, cùng thi công), miễn giảm thuế, cung cấp miễn phí sách giáo khoa, một số báo chí, v.v
Năm 1999, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt danh sách 1.870 xã đặc biệt khó khăn và các xã biên giới làm phạm vi của Chương trình 135 Các năm tiếp theo, do có sự chia tách và thành lập xã mới, nên số xã thuộc phạm vi Chương trình 135 đã tăng lên Khi giai đoạn I kết thúc, Nhà nước Việt Nam đã chi khoảng
10 nghìn tỷ đồng, cả nước đã xây dựng và đưa vào sử dụng hơn 25 nghìn công trình thiết yếu các loại, góp phần thay đổi đáng kể bộ mặt nông thôn miền núi, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân
Giai đoạn II từ năm 2006 đến 2010
Chính phủ Việt Nam đã xác định có 1.946 xã và 3.149 thôn, buôn, làng, bản, xóm ấp ĐBKK thuộc các xã khu vực II thuộc 45 tỉnh, thành được đưa vào phạm vi của Chính sách 135
Trang 38Mục tiêu tổng quát
Tạo chuyển biến nhanh về sản xuất
Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất gắn với thị trường
Cải thiện nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân
Giảm khoảng cách phát triển giữa các dân tộc và giữa các vùng trong nước
Đến năm 2010: Trên địa bàn không có hộ đói, giảm hộ nghèo xuống còn dưới 30%
Nội dung chính chính sách
Hỗ trợ phát triển sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao trình độ sản xuất của đồng bào các dân tộc Đào tạo cán bộ khuyến nông thôn bản Khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư Xây dựng các mô hình sản xuất có hiệu quả, phát triển công nghiệp chế biến bảo quản Phát triển sản xuất: Kinh tế rừng, cây trồng
có năng suất cao, chăn nuôi gia súc, gia cầm có giá trị
Phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn Làm đường dân sinh từ thôn, bản đến trung tâm xã phù hợp với khả năng nguồn vốn, công khai định mức hỗ trợ nhà nước Xây dựng kiên cố hóa công trình thủy lợi: Đập, kênh, mương cấp 1-2, trạm bơm, phục vụ tưới tiêu sản xuất nông nghiệp
và kết hợp cấp nước sinh hoạt Làm hệ thống điện hạ thế đến thôn, bản; nơi ở chưa
có điện lưới làm các dạng năng lượng khác nếu điều kiện cho phép Xây dựng các công trình cấp nước sinh hoạt cho cộng đồng Xây dựng nhà sinh hoạt cộng đồng thôn, bản (tùy theo phong tục tập quán) ở nơi cấp thiết
Đào tạo bồi dưỡng cán bộ cơ sở, kiến thức kĩ năng quản lý điều hành xã hội, nâng cao năng lực cộng đồng Đào tạo nghề cho thanh niên 16 - 25 tuổi làm việc tại các nông lâm trường, công trường và xuất khẩu lao động
Hỗ trợ các dịch vụ, nâng cao chất lượng giáo dục, đời sống dân cư hợp vệ sinh giảm thiểu tác hại môi trường đến sức khỏe người dân Tiếp cận các dịch vụ y
tế, bảo hiểm và chăm sóc sức khỏe cộng động
Trang 392.2 Mục tiêu thực hiện chính sách 134, 135 tại địa phương
Ma Ly Pho là xã thuộc diện đặc biệt khó khăn của huyện Phong Thổ Trong những năm qua, xã đã được Đảng và Nhà nước quan tâm đầu tư phát triển Nhiều chính sách, chương trình (135, 134, 120, 500 bản, EU…) đã được đầu tư đến với các vùng dân tộc thiểu số tại đây, giải quyết được nhiều vấn đề bức xúc, phần nào đáp ứng được lòng mong mỏi của nhân dân, do đó đời sống vật chất tinh thần của nhân dân trong xã dần được tăng lên
Trước năm 2006, tình hình kinh tế - xã hội của xã nhìn chung còn gặp nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng còn thấp kém, chưa có đường nhựa rải vào tới trung tâm
xã, đường đi lại tại nhiều bản vẫn còn khó khăn chủ yếu là đường đất, khó khăn nhất là vào mùa mưa Các công trình khác như trường học, trạm y tế, công trình thuỷ lợi, công trình nước sinh hoạt đã được đầu tư song vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của nhân dân Trình độ canh tác còn lạc hậu chủ yếu còn tự cung tự cấp,
tự túc Tỷ lệ đói nghèo chiếm phần lớn và tỷ lệ tăng dân số vẫn còn ở mức cao, trình độ dân trí thấp, tình hình phân bố dân cư trong vùng vẫn chưa được hợp lý
Những hạn chế đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến công tác ổn định chính trị, kinh tế - xã hội và an ninh trật tự của xã hiện nay Vì vậy việc xây dựng dự án phát triển kinh tế - xã hội thuộc chính sách 135 giai đoạn II (2006-2010) và chính sách 134 đối với xã Malypho là quan trọng và cấp thiết, hợp với mong muốn của nhân dân trong toàn xã
2.2.1 Mục tiêu chính sách 134 tại xã Malypho
Theo quyết định của Thủ tướng chính phủ thì các hộ nằm trong chương trình được hỗ trợ là các hộ đồng bào DTTS tại chỗ, định cư thường trú tại địa phương; là hộ nghèo sinh sống bằng nghề nông, lâm nghiệp chưa có hoặc chưa
đủ đất sản xuất, đất ở và khó khăn về nhà ở, nước sinh hoạt Các hộ này sẽ được
hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt để có điều kiện phát triển sản xuất, cải thiện đời sống, sớm thoát nghèo Với nguyên tắc:
Trang 40 Hỗ trợ đất sản xuất, đất ở và nhà ở, nước sinh hoạt trực tiếp đến hộ đồng bào DTTS nghèo;
Bảo đảm công khai, công bằng đến từng hộ, buôn, làng trên cơ sở pháp luật và chính sách cuả Nhà nước;
Phù hợp với phong tục, tập quán cuả mỗi dân tộc, vùng, miền, bảo tồn bản sắc văn hóa của từng dân tộc, phù hợp với điều kiện thực tiễn và gắn với quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa phương;
Các hộ được hỗ trợ đất sản xuất, đất ở và nhà ở, nước sinh hoạt phải trực tiếp quản lý và sử dụng để phát triển sản xuất, cải thiện đời sống, góp phần xóa đói giảm nghèo Trường hợp đặc biệt, khi hộ được hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở
có nhu cầu di chuyển đến nơi khác thì phải ưu tiên chuyển nhượng quyền sử dụng đất sản xuất và đất ở cho chính quyền địa phương để giao lại cho hộ đồng bào dân tộc nghèo khác
Người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất không theo quy định này, Nhà nước sẽ thu hồi không bồi hoàn để giao cho hội đồng bào dân tộc chưa có đất hoặc thiếu đất
Bảng 2.1: Các hộ nghèo tại xã được hưởng lợi từ chương trình 134
3 Công trình nước sinh hoạt phân tán 90 25
4 Công trình nước sinh hoạt tập trung 50 14
(Ngu n:Ban thống kê xã Ma Ly Pho)
Năm 2004 toàn xã có 360 hộ nghèo với đa số các hộ đều có nhu cầu về nhà
ở, nước sạch và hỗ trợ về vốn để phát triển khai hoang làm nương Theo số liệu của