1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biến đổi sinh kế của người Tày ở biên giới tỉnh Lạng Sơn từ đổi mới (1986) đến nay (nghiên cứu trường hợp thôn Bản Thẩu, xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng sơn

154 811 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 154
Dung lượng 5,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cũng như các thành tố khác của văn hóa tộc người, sinh kế có thể cung cấp các dữ liệu quan trọng trong việc tìm hiểu nguồn gốc, quá trình tộc người, quá trình thiên di, ảnh hưởng văn hóa

Trang 1

BIẾN ĐỔI SINH KẾ CỦA NGƯỜI TÀY

Ở BIÊN GIỚI TỈNH LẠNG SƠN

TỪ ĐỔI MỚI (1986) ĐẾN NAY

(Nghiên cứu trường hợp thôn Bản Thẩu, xã Tân Thanh,

huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Chuyên ngành: Dân tộc học

Hà Nội - 2012

Trang 2

BIẾN ĐỔI SINH KẾ CỦA NGƯỜI TÀY

Ở BIÊN GIỚI TỈNH LẠNG SƠN

TỪ ĐỔI MỚI (1986) ĐẾN NAY

(Nghiên cứu trường hợp thôn Bản Thẩu, xã Tân Thanh,

huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ Chuyên ngành: Dân tộc học

Mã số: 60 22 70

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Sỹ Giáo

Hà Nội - 2012

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 10

2 Mục đích nghiên cứu 12

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13

4 Nguồn tài liệu 13

5 Đóng góp của luận văn 5

6 Bố cục của luận văn 14

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 15

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 15

1.1.1 Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài 15

1.1.2 Nghiên cứu của các tác giả trong nước 17

1.2 Cơ sở lý luận và Phương pháp nghiên cứu 23

1.2.1 Cơ sở lý luận 23

1.2.2 Phương pháp nghiên cứu 23

1.3 Một số khái niệm cơ bản 24

1.3.1 Khái niệm sinh kế 24

1.3.2 Một số khái niệm khác 26

1.4 Hướng tiếp cận Lý thuyết 27

Tiểu kết chương 1 34

Chương 2 SINH KẾ TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI TÀY Ở XÃ TÂN THANH 36

2.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu - xã Tân Thanh 36

2.1.1 Địa lý tự nhiên 36

2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội 38

2.1.3 Dân cư, dân tộc 41

2.1.4 Người Tày ở xã Tân Thanh 41

Trang 4

2.2 Các thành phần của sinh kế truyền thống 46

2.2.1 Nông nghiệp 46

2.2.1.1 Trồng trọt 46

2.2.1.2 Chăn nuôi 53

2.2.2 Lâm nghiệp 46

2.2.3 Nghề thủ công 56

2.2.4 Kinh tế tự nhiên 58

2.2.5 Chợ phiên và trao đổi 60

Tiểu kết chương 2 63

Chương 3 BIẾN ĐỔI TRONG PHƯƠNG THỨC MƯU SINH CỦA NGƯỜI TÀY Ở TÂN THANH TỪ ĐỔI MỚI (NĂM 1986) ĐẾN NAY 65

3.1 Sự chuyển đổi sinh kế truyền thống 65

3.1.1 Trong trồng trọt 65

3.1.2 Trong chăn nuôi 71

3.1.3 Sinh kế từ rừng 72

3.2.Các hình thức sinh kế mới 74

3.2.1 Lao động làm thuê 74

3.2.2 Buôn bán, dịch vụ 85

Tiểu kết chương 3 86

Chương 4 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN BIẾN ĐỔI SINH KỀ CỦA NGƯỜI TÀY Ở XÃ TÂN THANH 88

4.1.Những yếu tố tác động 88

4.1.1 Tác động của yếu tố Chính sách 88

4.1.2.Mở cửa biên giới và bình thường hóa quan hệ Việt - Trung 90

4.1.3 Sự thành lập Khu kinh tế cửa khẩu Tân Thanh 95

4.1.4 Chương trình phát triển vùng biên của Trung Quốc - chiến lược “Hưng biên phú dân” 100

Trang 5

4.2 Tác động của biến đổi sinh kế tới đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội

của người Tày ở Tân Thanh 101

4.2.1 Đời sống kinh tế 101

4.2.2 Đời sống văn hóa 97

4.2.3 Đời sống xã hội 105

4.3 Những vấn đề đặt ra 109

4.3.1 Đất đai và sinh kế bền vững 119

4.3.2 Vấn đề gìn giữ văn hóa truyền thống 122

4.3.3 Những bất ổn, rủi ro và bất bình đẳng 114

4.3.4 Phát triển kinh tế gắn với đảm bảo an ninh biên giới 118

Tiều kết chương 4 119

KẾT LUẬN 121

TÀI LIỆU THAM KHẢO 124

PHẦN PHỤ LỤC 134

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1: Bảng giá giống vụ xuân năm 2012 69

Bảng 3.2: Diện tích và Năng suất cây trồng thôn Bản Thẩu năm 2011 70

Bảng 3.3.: Cây ăn quả chính trên địa bàn thôn Bản Thẩu năm 2011 70

Bảng 3.4: Thực trạng chăn nuôi của thôn Bản Thẩu năm 2011 72

Bảng 4.1: Cơ cấu lao động phi nông nghiệp thôn Bản Thẩu năm 2011 102

Bảng 4.2: Cơ cấu thu nhập của gia đình ông Hoàng Văn Điền năm 1987 (trước Đổi mới) 103

Bảng 4.3: Cơ cấu thu nhập của gia đình ông Hoàng Văn Điền hiện nay 94

Bảng 4.4: Cơ cấu thu nhập của gia đình ông Hoàng Văn Hoàn năm 2011 95

Bảng 4.5: Cơ cấu thu nhập của gia đình bà Nông Thị Xuyến năm 2011 105

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sinh kế là hoạt động tất yếu của con người để tồn tại, là cách thức con người tác động vào tự nhiên, môi trường để tạo ra của cải vật chất nhằm đảm bảo cuộc sống mưu sinh của mình

Sinh kế cũng là một trong những thành tố quan trọng của văn hóa tộc người, có mối quan hệ hữu cơ với văn hóa đảm bảo đời sống (văn hóa vật chất), văn hóa xã hội (cấu trúc, thiết chế, các quan hệ xã hội) và văn hóa nhận thức (tín ngưỡng, tôn giáo, ngôn ngữ…) Mặt khác, cũng như văn hóa tộc người, sinh kế cũng có quan hệ mật thiết với các yếu tố môi sinh (tự nhiên và

xã hội), có giao lưu, tiếp nhận và trao đổi với các cộng đồng khác Chính điều

đó làm cho văn hóa cũng như sinh kế tộc người luôn có những thích ứng để sinh tồn và phát triển

Cũng như các thành tố khác của văn hóa tộc người, sinh kế có thể cung cấp các dữ liệu quan trọng trong việc tìm hiểu nguồn gốc, quá trình tộc người, quá trình thiên di, ảnh hưởng văn hóa…Vì thế có thể cung cấp những cơ sở quan trọng trong việc hoạch định các chương trình, dự án phát triển kinh tế,

xã hội có tính chiến lược cho từng khu vực, lãnh thổ cụ thể

Việc nghiên cứu sinh kế cũng giúp chúng ta hiểu được hệ thống tri thức trong sản xuất đã tích lũy, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Ở những môi trường tự nhiên - xã hội khác nhau, các tộc người lại có những cách ứng xử khác nhau để tồn tại và phát triển Vì thế, nghiên cứu sinh kế giúp chúng ta hiểu được đặc thù, sắc thái riêng biệt của từng tộc người

Hiện nay, sự vận động, thay đổi và phát triển của xã hội ngày càng diễn

ra nhanh và toàn diện hơn Trong bối cảnh đó, văn hóa cũng như sinh kế của các tộc người cũng có những thay đổi để thích ứng Việc nghiên cứu sinh kế cũng như sự biến đổi của nó ở những thời điểm nhất định là công việc cần

Trang 9

thiết Điều đó chẳng những góp phần hiểu biết toàn diện hơn về văn hóa tộc người mà còn thấy được sự thay đổi, thích ứng của các cộng đồng trong những giai đoạn cụ thể của lịch sử

Khu vực biên giới Việt - Trung, trong đó có tỉnh Lạng Sơn là nơi không chỉ có đường biên giới chính trị phân định ranh giới mà còn có những đặc điểm lịch sử, kinh tế và văn hóa rất riêng cần được khám phá Trong tiềm thức

của người dân nói chung, vùng biên giới vẫn được hình dung là nơi “sơn cùng

thủy tận”, xa xôi hẻo lánh hay còn được gọi là “miền biên viễn” Dưới thời

phong kiến Việt Nam, các vua chúa cũng thường coi “miền biên viễn” là nơi lam

sơn chướng khí, khó cai trị nên thường thu phục các tù trưởng địa phương để thực thi chiến lược bảo toàn lãnh thổ Đây là nơi những nhân vật hoạt động xuyên biên giới nổi tiếng được biết đến trong lịch sử như Nùng Chí Cao, Lưu Vĩnh Phúc và cũng là nơi ẩn tích của nhà Mạc Vào thế kỷ XIV, tể tướng nhà Trần là Phạm Sư Mạnh, trên đường tuần thú xứ Lạng, dừng chân trước Ải Chi

Lăng, đã cảm thán về vùng biên trong bài Chi Lăng động bằng câu thơ:

Chi Lăng quan hiểm dữ thiên tề (Ải Chi Lăng hiểm trở tựa lên trời)

Dưới thời thực dân, các nhà tù nổi tiếng cũng được lập ra ở vùng biên nhằm đầy ải tù nhân Tuy nhiên, lịch sử dường như đã thay đổi, vùng biên viễn hiểm trở ấy xưa, nay đang trở mình thành một khu vực kinh tế năng động với các mối giao lưu kinh tế - văn hóa và xã hội xuyên biên giới, thu hút một lượng lớn

cư dân đến sinh cơ lập nghiệp Do đó, nghiên cứu những đổi thay đang diễn ra ở vùng biên, có ý nghĩa rất quan trọng trong nhận thức tình hình thực tế

Vùng biên giới Lạng Sơn cũng là khu vực được Nhà nước ta đặc biệt quan tâm Phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực này được xem là vấn đề sống còn trong chiến lược bảo vệ đất nước Nghiên cứu cư dân ở đây, những năng động kinh tế - xã hội và các mối quan hệ tộc người xuyên biên giới do đó có ý nghĩa đặc biệt, góp phần vào quá trình xây dựng chiến lược phát triển vùng

Trang 10

biên mà trong đó yếu tố con người phải được quan tâm đúng mức, phải là chủ thể của mọi chương trình phát triển ở khu vực này

Cho đến nay, phần lớn các công trình nghiên cứu về người Tày thường chỉ đi sâu tìm hiểu quá trình lịch sử tộc người, tổ chức xã hội cổ truyền, phong tục tập quán, hôn nhân gia đình, lễ hội…còn những vấn đề về văn hóa đương đại trong mối quan hệ với sự biến đổi kinh tế - xã hội và với quá trình giao lưu quốc tế hầu như chưa được đề cập nhiều

Tân Thanh là một trong những xã biên giới thuộc huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn, nằm trong khu kinh tế cửa khẩu Tân Thanh - Pò Chài, phía Đông giáp Trung Quốc, có đường biên dài 8 km, dân cư chủ yếu là người Tày - Nùng Nằm trong khu kinh tế cửa khẩu, có nền kinh tế thương mại - dịch vụ khá phát triển trong nhiều năm trở lại đây, Tân Thanh là nơi gặp gỡ, giao lưu, trao đổi mua bán giữa người Tày với cư dân ở bên kia biên giới Các hoạt động này đang tạo nên sự biến chuyển lớn về kinh tế, văn hóa, xã hội của

người Tày ở Tân Thanh Chính vì thế, tôi đã chọn đề tài “Biến đổi sinh kế của

người Tày ở vùng biên giới tỉnh Lạng Sơn từ Đổi mới (1986) đến nay - (Nghiên cứu trường hợp thôn Bản Thẩu, xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn)” làm luận văn thạc sĩ của mình

2 Mục đích nghiên cứu

- Làm rõ về sinh kế truyền thống cũng như những biến đổi trong sinh

kế hiện nay của người Tày ở thôn Bản Thẩu, xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn

- Nghiên cứu các yếu tố tác động đến hoạt động sinh kế của người Tày

và sự lựa chọn các chiến lược sinh kế của cư dân ở đây

- Góp phần tìm kiếm các giải pháp tốt nhất để ổn định đời sống, phát triển kinh tế cùng với việc bảo tồn các giá trị văn hóa của người Tày ở Tân Thanh

* Các câu hỏi nghiên cứu đặt ra đối với đề tài này là:

Trang 11

- Sinh kế truyền thống của người Tày ở thôn Bản Thẩu, xã Tân Thanh

là gì? Hiện nay nó có những thay đổi như thế nào? Nguyên nhân nào dẫn đến sinh kế của họ biến đổi như vậy?

- Hoạt động sinh kế chính hiện nay của các hộ gia đình người Tày ở thôn Bản Thẩu, xã Tân Thanh là gì?

- Những tác động hay hệ quả của biến đổi sinh kế tới đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của họ ra sao? Nó đặt ra những hiện trạng và khó khăn gì mà tộc người phải đối diện?

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sinh kế hay các phương thức mưu sinh

của người Tày ở thôn Bản Thẩu, xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các vấn đề có liên quan đến sinh kế và

sự biến đổi sinh kế Với khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, nghiên cứu được giới hạn ở dân tộc Tày tại thôn Bản Thẩu, xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn từ thời kỳ Đổi mới (năm 1986) đến nay Bản Thẩu là thôn giáp biên, nằm trong khu kinh tế cửa khẩu Tân Thanh nên chịu tác động mạnh của sự phát triển kinh tế và du nhập văn hóa so với các thôn khác, các nhóm xã hội nghề nghiệp cũng đa dạng Vì thế, tôi đã chọn đây làm địa bàn nghiên cứu

4 Nguồn tài liệu

Nguồn tư liệu của luận văn bao gồm có tài liệu thành văn và tài liệu điền dã Dân tộc học

- Tài liệu thành văn: Là các công trình nghiên cứu, sách, báo, tạp chí liên quan đến sinh kế của các dân tộc thiểu số nói chung và của người Tày nói riêng Bên cạnh đó là các nguồn tài liệu thứ cấp của UBND huyện Văn Lãng, UBND xã Tân Thanh

Trang 12

- Tài liệu điền dã: Được tác giả tiến hành khảo sát qua 2 đợt tại địa bàn Đợt 1 (kéo dài 2 tuần, vào tháng 10 năm 2011), đợt 2 (kéo dài 2 tuần, vào tháng 2 năm 2012)

5 Đóng góp của luận văn

- Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu về sinh kế truyền thống và những biến đổi trong sinh kế hiện nay của người Tày ở một địa phương cụ thể

- Trên cơ sở nguồn tư liệu mới về sinh kế của người Tày, luận văn đã chỉ ra

sự thích ứng, năng động của tộc người trong sự vươn lên tìm kiếm sinh kế mới ở vùng biên giới, cùng với đó là những yếu tố tác động đến sự chuyển đổi này

- Luận văn đóng góp thêm cơ sở khoa học giúp các nhà quản lý, hoạch định chính sách có những giải pháp hữu hiệu nhằm ổn định sinh kế bền vững đối với người Tày ở Tân Thanh

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phần phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 4 chương với nội dung như sau:

Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu

Chương 2: Sinh kế truyền thống của người Tày ở Tân Thanh

Chương 3: Sự biến đổi trong phương thức mưu sinh của người Tày ở Tân Thanh từ Đổi mới (năm 1986) đến nay

Chương 4: Những yếu tố tác động đến biến đổi sinh kế của người Tày ở Tân Thanh

Trang 13

Chương 1

TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài

Cho đến nay, công trình nghiên cứu của tác giả nước ngoài về người

Tày ở Việt Nam dưới thời thuộc Pháp có một số cuốn sách như Ghi chép về

người Thổ ở thượng du Bắc Bộ (1988) của Girard D’Henry; Sưu tập truyện cổ tích Thổ trên hai bờ sông Lô (1905) của A Bonifacy; Các dân tộc miền núi Bắc Bộ (1908) của E.Dignet; Lòng kiên nhẫn vô biên: truyện cổ tích Thổ

(1915) của A Bonifacy; Lễ hội Tày ở Hồ Bồ (1915) của L.M.Auguste và A Bonifacy; Những nghi lễ trong tang ma của người Thổ của A Bonifacy…Bên

cạnh đó, công trình nghiên cứu về người Tày ở Lạng Sơn nói riêng theo sự

hiểu biết của tôi mới chỉ có Vấn đề tộc người trong quốc gia dân tộc Việt

Nam - Lịch sử cận hiện đại trong dân tộc Tày - Nùng ở biên giới Việt - Trung

được tiến hành bởi tác giả người Nhật Bản Ito Masako

Những ý tưởng về sinh kế đã được giới thiệu trong các nghiên cứu của Robert Chambers vào giữa những năm 80 và sau đó được Chambers và Conway phát triển thêm vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX Theo hai ông, sinh kế bao gồm các khả năng, các tài sản (gồm cả nguồn lực vật chất và xã hội) và các hoạt động cần thiết như phương cách để sinh tồn Sinh kế là bền vững khi nó có thể giúp con người đối mặt, vượt qua sự căng thẳng và những thương tổn, bảo toàn hay tăng thêm các khả năng và các tài sản hiện tại và tương lai trong bối cảnh không phá hoại nguồn tài nguyên tự nhiên cơ bản

Trang 14

Trong vài thập kỷ qua, vấn đề môi trường đã nổi lên là một trong những vấn đề nhận được nhiều quan tâm nhất của nhân loại Vì thế, Năm

2003, tác giả Koos Neefjes đã cho ra mắt cuốn Môi trường và sinh kế: các

chiến lược phát triển bền vững Xuyên suốt cuốn sách là những đề xuất thực

tiễn dựa trên các nghiên cứu điển hình rút ra từ những kinh nghiệm phong phú của Oxfam về công tác phát triển và về cứu trợ với các cộng đồng bị lề hóa,

cả ở nông thôn lẫn thành thị Môi trường và sinh kế nhằm mục đích ủng hộ các cuộc vận động của các tổ chức phát triển địa phương và quốc tế, cải thiện việc soạn thảo và thực thi các chiến lược phát triển và tăng cường các dự án

hoạch định, giám sát với sự tham gia, đánh giá tác động

Trong công trình này, tác giả đã tìm hiểu mối quan hệ giữa con người với môi trường theo nghĩa rộng (bao gồm cả con người và các quan hệ xã hội)

để đề ra chính sách và chiến lược bảo vệ và phát triển môi trường bền vững, chống đói nghèo trên toàn thế giới Phải chăng có thể quy cho đói nghèo đã gây nên khủng hoảng môi trường toàn cầu hay ngược lại, sự xuống cấp của môi trường toàn cầu mới là nguyên nhân chính của nghèo khổ? Câu hỏi đó nằm ở tâm điểm của cuốn sách mà tác giả quan niệm “môi trường” theo nghĩa rộng nhất: Môi trường bao gồm cả con người và các quan hệ xã hội Trước hết, nó phản ánh những mối quan hệ giữa đói nghèo với sự thay đổi của môi trường, từ cả góc độ lý thuyết và thực hành Tiếp đó, cuốn sách giới thiệu các khung hành động của các cơ quan phát triển, thăm dò các quan hệ quyền lực

và tư tưởng về sự tham gia của những người có lợi ích thiết thân và đặc biệt là quan niệm về sinh kế bền vững Sau nữa, cuốn sách thảo luận những công cụ

và phương pháp tiếp cận dự án quản lý Cuối cùng, nó xem xét làm thế nào để các chiến lược và chính sách có thể giải quyết được những nguyên nhân cơ cấu của môi trường xuống cấp và nghèo đói

Trang 15

1.1.2 Nghiên cứu của các tác giả trong nước

Người Tày ở Việt Nam là một trong những tộc người có lịch sử và truyền thống văn hóa lâu đời Chính vì thế đã thu hút được nhiều nhà khoa học nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Ngay từ thời kỳ nhà Lê và nhà Nguyễn đã xuất hiện những tập sách viết về các dân tộc ở Việt Nam, trong đó

có người Tày như: Dư địa chí của Nguyễn Trãi; Kiến văn tiểu lục của Lê Qúy Đôn; Lịch triều hiến chương loại chí và Hoàng Việt địa dư chí của Phan Huy Chú; Cao Bằng lục của Phan Lê Phiên; Cao Bằng ký lược của Phạm An Phù;

Hưng Hóa ký lược của Phạm Thận Duật; Cao Bằng thực lục của Bế Hữu

Cung; Cao Bằng tạp chí của Bế Huỳnh; Cao Bằng sự tích của Nguyễn Đức Nhã; Hưng Hóa xứ phong thổ lục của Hoàng Bình Chính…Những công trình

này tuy còn sơ sài nhưng có ý nghĩa nhất định, giúp chúng ta hiểu được phần nào những sinh hoạt văn hóa dân gian của người Tày ở Việt Nam

Dưới thời thuộc Pháp, cũng có một số cuốn sách và bài báo viết về tộc

người Tày như Sưu tập dân ca đám cưới dân tộc Thổ ở Lạng Sơn và Cao

Bằng (1941) và Dân tộc Thổ (1943) của Nguyễn Văn Huyên; Tục hỏa táng của người Thổ của Đỗ Hoàng Lạc trên Tạp chí Tri tân số 97/1943

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhất là từ ngày hòa bình lập lại (1954) đến nay, việc tìm hiểu văn hóa, xã hội của người Tày ngày càng được đặc biệt chú ý để phục vụ cho chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta Các cơ quan nghiên cứu như Viện Dân tộc học, Viện Văn học, Viện Sử học, Viện Nghiên cứu Văn hóa…cũng như các trường Đại học (Sư phạm Việt Bắc,

Sư phạm Hà Nội I, Đại học Tổng hợp Hà Nội…) đã tiến hành nhiều cuộc điều tra thực địa và tích lũy được nhiều tư liệu khoa học giúp ích cho việc nghiên cứu xã hội, lịch sử và văn hóa của tộc người Tày Trên các tạp chí chuyên

ngành như Học tập, Dân tộc đoàn kết, Nghiên cứu Lịch sử, Văn học, Dân tộc

học, Văn hóa dân gian, Văn hóa nghệ thuật…đã đăng tải nhiều bài viết về

dân tộc Tày, giúp chúng ta hiểu được nguồn gốc lịch sử, phong tục tập quán,

Trang 16

tín ngưỡng tôn giáo và những sinh hoạt văn hóa dân gian của người Tày Có

thể kể đến một số công trình tiêu biểu như: Thơ ca Tày - Nùng (1961) của Vĩnh Đàm; Sơ lược giới thiệu các nhóm dân tộc Tày, Nùng, Thái Việt Nam của hai tác giả Lã Văn Lô và Đặng Nghiêm Vạn (1968); Truyện cổ Tày -

Nùng (1974) của Hoàng Quyết; Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc) (1978) của Viện Dân tộc học; Sli - lượn dân ca trữ tình Tày, Nùng

(1979) của Vi Hồng;Văn hóa Tày - Nùng của Lã Văn Lô - Hà Văn Thư (1984); Lượn cọi Tày, Nùng (1987) của Cung Văn Lược và Lê Bích Ngân;

Một số vấn đề lịch sử tộc người và những đặc điểm chủ yếu của văn hóa các dân tộc Tày, Nùng (1988) của Bế Viết Đẳng; Các dân tộc Tày - Nùng ở Việt Nam (1992) của Viện Dân tộc học; Văn hóa truyền thống Tày, Nùng (1993)

của Hoàng Quyết, Ma Khánh Bằng, Hoàng Huy Phách; Hôn nhân và gia đình

các dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam (1994) của Đỗ Thúy Bình… Các

công trình trên đã trình bày những nét khái quát về điều kiện tự nhiên và dân

cư, lịch sử tộc người, kinh tế truyền thống, văn hóa vật chất, tổ chức xã hội, tín ngưỡng tôn giáo và văn học của các dân tộc Tày - Nùng ở Việt Nam

Năm 1995 hai tác giả Hoàng Quyết và Tuấn Dũng đã cho ra mắt cuốn

Phong tục tập quán dân tộc Tày ở Việt Bắc Đây là công trình nghiên cứu về

những phong tục, tập quán trong sinh đẻ, hôn nhân, tang ma, quan hệ xã hội, trong lễ hội và ngày tết của người Tày

Năm 1999, tác giả Trần Văn Hà cho ra mắt cuốn Các dân tộc Tày,

Nùng với tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp Đây là một công trình

nghiên cứu thuộc lĩnh vực xã hội học - tộc người, đi sâu tìm hiểu về qúa trình phổ biến và tiếp nhận tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp cũng như những biểu hiện của sắc thái văn hóa sản xuất của hai dân tộc Tày, Nùng trong giai đoạn Đổi mới kể từ sau Khoán 10 (1989 - 1995) Xuất phát từ quan niệm coi tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp như là một quá trình kéo theo những biến đổi kinh tế - xã hội, với thời gian 15 năm (1981 – 1995) từ khi bắt đầu thay

Trang 17

đổi cơ chế trong quản lý nông nghiệp diễn ra đến thời điểm nghiên cứu, tác giả muốn đưa ra những đánh giá, nhận xét về hiệu quả tác động của chính sách Đổi mới với phát triển nông nghiệp và nông thôn miền núi, những nỗ lực của nhân dân lao động Tày, Nùng trong phát triển kinh tế hộ gia đình

Cuốn Tín ngưỡng dân gian Tày - Nùng (2009) của Nguyễn Thị Yên và

Văn hóa dân gian Tày - Nùng ở Việt Nam (2010) của Hà Đình Thành…đã

trình bày về nội dung văn học dân gian, nghệ thuật tạo hình, tín ngưỡng, tôn giáo

và lễ hội của hai dân tộc Qua đây, các tác giả đã nêu lên được hiện trạng đời sống văn hóa tín ngưỡng và vai trò của nó trong đời sống người Tày, Nùng

Gần đây, năm 2010, tác giả La Công Ý - một nhà Dân tộc học người

Tày đã cho ra mắt cuốn sách Đến với người Tày và văn hóa Tày Công trình

được hoàn thành dựa trên vốn tư liệu điền dã của bản thân tác giả và những tích lũy trong quá trình nghiên cứu hơn 30 năm Bên cạnh đó cũng là sự kế thừa những hiểu biết của các tác giả đi trước trong nghiên cứu Dân tộc học

Có thể nói đây là một công trình chuyên khảo công phu, đề cập một cách có

hệ thống về đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội của người Tày

Vấn đề sinh kế từ trước tới nay đã là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như kinh tế học, xã hội học, nhân học…và được nhìn nhận dưới khía cạnh là hoạt động kinh tế của tộc người

Năm 2001, tác giả Trần Bình đã cho ra mắt cuốn sách Tập quán hoạt

động kinh tế của một số dân tộc ở Tây Bắc Việt Nam và đến năm 2005 xuất bản

thêm cuốn Tập quán mưu sinh của các dân tộc thiểu số ở Đông Bắc Việt Nam

Dựa vào nguồn tư liệu thu thập qua các cuộc điền dã trong nhiều năm, tác giả

đã khái quát về môi trường tự nhiên và xã hội của hai vùng, cùng với đó là các hoạt động kinh tế của người La Hủ, Si La, Xinh mun, Khơ mú, Thái ở vùng Tây Bắc và người Tày, Dao, Sán Chay, Hà Nhì, Cơ Lao…ở vùng Đông Bắc Thông qua hai công trình trên, tác giả đã khẳng định hoạt động kinh tế là một

bộ phận quan trọng trong hệ thống các giá trị văn hóa tộc người Đồng thời

Trang 18

thấy được sự khác biệt và thế mạnh, môi trường tiềm năng giữa các vùng khác nhau, góp phần tìm hiểu được quá trình giao lưu kinh tế - văn hóa của các tộc người, vai trò của tộc người với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội.

Cuốn Phân cấp trong quản lý tài nguyên rừng và sinh kế người dân của

Trần Đức Viên, Nguyễn Vinh Quang được xuất bản năm 2005, là kết quả nghiên cứu giữa Trung tâm Sinh thái Nông nghiệp, trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội với Viện Tài nguyên thế giới (WRI) Cuốn sách đã giới thiệu

đề tài nghiên cứu về quá trình thực hiện phân quyền trong quản lý tài nguyên rừng tại các cộng đồng nghiên cứu Đồng thời cũng chỉ ra tác động của chính sách phân quyền đến sự thay đổi tài nguyên rừng ở các vùng khác nhau; xác định ảnh hưởng của chính sách phân quyền đến sinh kế của người dân địa phương và một số kiến nghị nhằm quản lý tốt hơn tài nguyên rừng

Cuốn Phát triển nông thôn bền vững - chính sách đất đai và sinh kế:

Một số kết quả nghiên cứu 2004 - 2007 của các tác giả Võ Tòng Xuân, Trần

Thị Phương, Lê Cảnh Tùng, được xuất bản năm 2008 với sự tài trợ của tổ chức SIDA/SAREC (Thụy Điển) Cuốn sách tập hợp những bài nghiên cứu liên quan tới chính sách đất đai và vấn đề sinh kế của người dân nông thôn như: sự phát triển của nông thôn và môi trường; các chính sách về đất đai cho người nghèo; ảnh hưởng của đô thị hoá đối với đời sống nông thôn…

Vấn đề sinh kế của người dân miền núi cũng được đăng tải nhiều trên

các tạp chí như Kinh tế gia đình trong đời sống các dân tộc ở Lạng Sơn hiện

nay của Lê Bé, Tạp chí Dân tộc học số 4/1982; Một số vấn đề về kinh tế gia đình hiện nay ở miền núi của Nguyễn Văn Huy, Tạp chí Dân tộc học số

4/1984; Thu nhập của nông dân miền núi và mối quan hệ gắn bó với hợp tác

xã của Trần Văn Hà, Tạp chí Dân tộc học số 3/1986; Kinh tế hộ gia đình ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số phía Bắc của Lê Sỹ Giáo, Tạp chí Thông

tin Lý luận số 5/1990…Các bài viết trên đã trình bày về đặc điểm kinh tế gia đình các dân tộc thiểu số nước ta trước Đổi mới Qua đó đã làm rõ kinh tế gia

Trang 19

đình là một hình thức sản xuất dựa trên sở hữu tuyệt đối của Nhà nước về đất đai, nó phát sinh và phụ thuộc vào sự phát triển của kinh tế - xã hội và là nguồn thu nhập bổ sung của người lao động Đó là cơ sở sản xuất nhỏ trong thời kỳ quá độ, chịu sự tác động cơ bản của quy luật giá trị và thị trường

Khi đề cập đến Sinh kế của một tộc người cụ thể, có bài viết Vai trò

giới trong cải thiện sinh kế của người Xơ đăng của Bùi Thị Thanh Hà, Tạp

chí Khoa học về phụ nữ, số 1/2005 Bên cạnh đó còn có bài viết “Sinh kế phụ

thuộc vào tài nguyên rừng của người Tà ôi (Pacoh) ở thôn Phú Thượng, xã Phú Vinh, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên - Huế trong bối cảnh hiện nay” của

tác giả Nguyễn Xuân Hồng và bài viết “Sinh kế người Cơ tu: Khả năng tiếp

cận và cơ hội – Nghiên cứu trường hợp ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên - Huế” của tác giả Trần Thị Mai An Hai bài viết này đều được đăng trên

Thông báo Dân tộc học năm 2005 Trong hai nghiên cứu trên, các tác giả đã nói đến mối quan hệ giữa môi trường tự nhiên, cụ thể là vùng rừng núi đã tác động đến kế sinh nhai truyền thống của các cộng đồng phụ thuộc vào rừng Rừng đã trở thành mạng lưới an toàn, bảo đảm cuộc sống cho cư dân nơi đây

Vấn đề sinh kế cũng đã trở thành đề tài của một số luận văn thạc sĩ

ngành Nhân học và Xã hội học như: Biến đổi sinh kế của người Mường vùng

hồ thủy điện Hòa Bình – Nghiên cứu trường hợp xã Hiền Lương, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình của tác giả Trịnh Thị Hạnh (2008) Trong luận văn này,

tác giả đã đi sâu tìm hiểu về sự thay đổi của môi trường sinh kế (bao gồm có môi trường tự nhiên và xã hội) của người Mường ở xã Hiền Lương trước và sau tái định cư Bên cạnh đó tác giả cũng trình bày về những biến đổi sinh kế

và những thích ứng về văn hóa của người Mường, đồng thời cũng đưa ra những biện pháp nhằm ổn định đời sống và phát triển sản xuất của người Mường ở Hiền Lương

Luận văn thạc sĩ Xã hội học Hoạt động sinh kế chính của hộ gia đình

tại một số làng nghề tái chế ở Bắc Ninh (2009) của tác giả Trương Thúy Hằng

Trang 20

đã làm rõ thực trạng các hoạt động sinh kế của các hộ gia đình ở Bắc Ninh và những ảnh hưởng của nó đến môi trường sống và bảo tồn văn hóa Trong luận văn, tác giả có sử dụng lý thuyết về Phát triển nông thôn bền vững Tác giả cho rằng nông thôn Việt Nam có bản chất hỗn hợp với biểu hiện tập trung nhất là sự mâu thuẫn và thống nhất giữa nông nghiệp và phi nông nghiệp Đó thực chất là một sự chuyển đổi từ nông thôn hỗn hợp cũ sang nông thôn mới tiến bộ hơn, từ nông nghiệp tự cung, tự cấp sang nền nông nghiệp hàng hóa Soi vào địa bàn nghiên cứu, tác giả đã khẳng định nông nghiệp không còn được coi là nguồn sinh kế đáng kể của các hộ gia đình ở đây, họ coi hoạt động sản xuất, mua bán phế liệu là hoạt động sinh kế chính đem lại nguồn thu nhập cho hộ Nghiên cứu cũng đã chỉ ra nếu biết nắm bắt cơ hội thị trường, sẽ tạo

đà thúc đẩy kinh tế phát triển Đó cũng là yếu tố giúp cho sinh kế người dân được đảm bảo

Gần đây, tác giả Nguyễn Văn Sửu đã giới thiệu hai công trình: “Tác

động của Công nghiệp hóa và đô thị hóa đến sinh kế người nông dân Việt Nam - trường hợp một làng ven đô Hà Nội” trong Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế

Việt Nam học lần thứ III (2008) và “Khung sinh kế bền vững - Một cách phân

tích toàn diện về phát triển và giảm nghèo” trên Tạp chí Dân tộc học số

2/2010 Trong hai bài viết này, tác giả đã giới thiệu về Khung sinh kế bền vững DFID, coi đó là một cách tiếp cận toàn diện về sinh kế của con người trong các bối cảnh khác nhau Đồng thời, nghiên cứu này cũng đi sâu tìm hiểu

về việc thu hồi đất nông nghiệp của Nhà nước đã tác động đến cuộc sống người nông dân ở làng Phú Điền từ cuối những năm 1990 trở lại đây

Hiện nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu sâu về biến đổi sinh

kế của người Tày trong giai đoạn hiện nay Mặt khác, những nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng tại Lạng Sơn đã có một bộ phận đáng kể người Tày tham gia vào các hoạt động buôn bán hàng qua biên giới hoặc từ biên giới về miền

Trang 21

xuôi Do đó, ngoài việc giao lưu kinh tế - văn hóa với các dân tộc sinh sống ở Việt Nam, dân tộc này còn có mối quan hệ với các tộc người ở Trung Quốc Chính vì vậy tôi đã chọn đề tài này làm luận văn thạc sĩ của mình Thông qua nghiên cứu này, tôi muốn khám phá không gian xã hội vùng biên và những năng động kinh tế - xã hội của cư dân ở đây

1.2 Cơ sở lý luận và Phương pháp nghiên cứu

1.2.1 Cơ sở lý luận

Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi luôn sử dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử trong cách tiếp cận và giải quyết các vấn đề thuộc phạm vi đề tài Đặt vấn đề sinh kế trong điều kiện tự nhiên của vùng người Tày cư trú, trong mối quan hệ biện chứng giữa truyền thống và hiện đại, trong mối quan hệ với các nhân tố khác

Một trong những luận điểm của Mác cho rằng “Tồn tại xã hội quyết định ý

thức xã hội”, một trong những mặt cơ bản của tồn tại xã hội là Phương thức sản

xuất (phương thức sống) - là yếu tố quyết định, thúc đẩy sự phát triển của xã hội Theo Ănghen, con người trước hết cần có ăn, mặc, ở, đi lại nghĩa là những thứ cần thiết nhất đáp ứng cho nhu cầu tồn tại Vì thế, việc nghiên cứu sinh kế của một tộc người có vị trí rất quan trọng trong ngành Dân tộc học/Nhân học

1.2.2 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này là sự kết hợp giữa phân tích các nguồn tài liệu thành văn và thu thập thông tin trên thực địa bằng các phương pháp trong điền dã dân tộc học như:

- Quan sát tham gia - một phương pháp tiêu biểu của Dân tộc học/Nhân

học được thực hiện trên thực địa, kết hợp với ghi âm, chụp ảnh nhằm thu thập tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu

- Phỏng vấn sâu cá nhân và thảo luận nhóm tập trung nhằm thu thập

thông tin định tính, mang tính hồi cố, có chiều sâu và đa dạng Đối tượng phỏng vấn bao gồm cán bộ lãnh đạo xã, cán bộ phụ trách Nông - Lâm, chủ

Trang 22

tịch Hội Nông dân, Hội phụ nữ, Hội người cao tuổi, trưởng thôn, các chủ hộ gia đình, những người có uy tín trong cộng đồng…

- Phương pháp so sánh: Luận văn kế thừa những tài liệu nghiên cứu

trước đây trong sự so sánh với tư liệu điền dã Trong nghiên cứu biến đổi, việc so sánh thông tin thu được sẽ mang tính thuyết phục hơn

Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp khác như Phương

pháp hệ thống, phương pháp chuyên gia, phương pháp hồi cố

1.3 Một số khái niệm cơ bản

1.3.1 Khái niệm sinh kế

- Khái niệm chung về sinh kế

* Sinh kế (livelihood) được hiểu theo cách thông thường nhất là việc

làm, kế sinh nhai hay cách mưu sinh, cách kiếm sống (Từ điển tiếng Việt, Nxb VHTT, 1999)

Theo Bùi Đình Toái (2004) thì “Sinh kế của hộ hay một cộng đồng là một tập hợp các nguồn lực và khả năng của con người kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ sẽ thực hiện để không những kiếm sống mà còn đạt đến mục tiêu đa dạng hơn Hay nói cách khác sinh kế của một hộ gia đình hay một cộng đồng còn được gọi là kế sinh nhai của hộ gia đình hay cộng đồng đó”

Sinh kế còn có một số cách hiểu khác rộng hơn và rõ nghĩa hơn Trả lời

câu hỏi what is livelihood – sinh kế là gì?, trang web livelihood.wur.nl đã

tổng hợp ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu, có thể tóm tắt như sau: “Khái niệm

sinh kế được hiểu một cách rộng rãi trong giới học giả và thực hành phát triển là cách và ý nghĩa của việc kiếm sống” Một định nghĩa khác cũng được

chấp nhận khá rộng rãi của Robert Chambers và Gordon Conway là: “Sinh kế

bao gồm những năng lực, tài sản (nguồn lực vật chất và xã hội) và những hoạt động đáp ứng cho việc sống” Về nguồn lực, theo DFID’s Sustainable

Trang 23

Livelihood Guidance Sheet có 5 loại cơ bản là vốn tự nhiên, vốn con người, vốn xã hội, vốn vật chất, vốn tài chính

Ellis lại đề nghị sinh kế là sự tổng hòa những hoạt động, tài sản và những

cách thức quyết định cách sinh sống đạt được bởi một cá nhân hay hộ gia đình

Wallman trong khi tiến hành nghiên cứu về sinh kế ở London vào

những năm đầu thập niên 80 đã tiếp cận sinh kế không chỉ dừng lại ở việc tìm

kiếm và xây dựng nơi ở, chuyển tiền và chuẩn bị thức ăn để đặt lên bàn hay trao đổi trên thị trường Đó còn là vấn đề quyền sở hữu, sự lưu chuyển thông tin, quản lý các mối quan hệ xã hội, sự xác nhận bản sắc của nhóm và đặc trưng cá nhân Tất cả những nhiệm vụ mang tính sản xuất đó cùng nhau hợp thành một sinh kế” Đối với nhà nhân học như Wallman, sinh kế là một khái

niệm nền tảng cho thấy đời sống xã hội được phân lớp và những lớp này được chồng chéo lên nhau, cả trong cách thức mà con người nói về họ cũng như trong cách thức mà họ sẽ được phân tích Đây là đặc điểm quan trọng nhất của khái niệm sinh kế

Đặc điểm chung của các định nghĩa và giả thiết nói trên là chúng nhấn mạnh một ý tưởng được chấp nhận rộng rãi rằng sinh kế liên quan đến con người, các nguồn lực của họ và cách thức họ đối mặt với chúng Sinh kế xoay quanh các nguồn lực như đất đai, mùa màng, hạt giống, lao động, trí thức, gia súc, tiền nong…nhưng những nguồn lực này không thể tách rời vấn đề tiếp cận và thay đổi những tình trạng chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa Sinh kế còn là vấn đề tạo ra và nắm bắt các cơ hội mới

Sinh kế tộc người: được hiểu theo nghĩa hẹp hơn là những hoạt động,

cách thức mà tộc người đó lựa chọn phương thức kế sinh nhai Ở mỗi tộc người khác nhau, mỗi vùng địa lý khác nhau, mỗi quốc gia khác nhau thì phương thức kiếm sống cũng khác nhau Qua đó phản ánh bức tranh sinh kế tộc người rất đa dạng

Trang 24

Vấn đề xuyên suốt được đặt ra trong quá trình phát triển của bất cứ lĩnh

vực nào là phát triển bền vững Vậy thì sinh kế bền vững là gì? Theo hai nhà nhân học Chambers và Conway, “một sinh kế được xem là bền vững khi nó phải

phát huy được hết tiềm năng con người để từ đó sản xuất và duy trì phương tiện kiếm sống của họ Nó phải có khả năng đương đầu và vượt qua áp lực cũng như những thay đổi bất ngờ Sinh kế bền vững không được khai thác hoặc gây bất lợi cho môi trường hoặc cho các sinh kế khác ở hiện tại và tương lai”

- Khái niệm “Biến đổi sinh kế” của người Tày

Biến đổi sinh kế của người Tày là khái niệm để chỉ sự thay đổi trong phương thức kiếm sống (mưu sinh) của người Tày dưới tác động của sự thay đổi về điều kiện tự nhiên, môi trường sống và nhiều nhân tố khác

Sinh kế truyền thống của người Tày ở Tân Thanh chủ yếu là canh tác nông nghiệp với các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, làm vườn Bên cạnh đó còn có trồng rừng, làm nghề thủ công và hoạt động trao đổi, mua bán tại chợ phiên Từ khi Đổi mới (1986) đến nay và trực tiếp nhất là việc xây dựng khu kinh tế cửa khẩu ở xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đã làm cho sinh kế của người Tày ở đây biến đổi mạnh mẽ theo hai chiều hướng: Thứ nhất là sự chuyển đổi trong sinh kế truyền thống (thay đổi về cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa); thứ hai là sự xuất hiện thêm các nguồn sinh kế mới đem lại thu nhập cho họ như đi làm thuê bên Trung Quốc, bốc vác, cùng với các hoạt động kinh doanh, dịch vụ…Điều đó đã thể hiện những năng động vươn lên trong sinh kế, đồng thời cũng thể hiện những thích ứng của tộc người Tày ở đây để sinh tồn ở vùng biên giới

1.3.2 Một số khái niệm khác

Vùng biên giới (borderland, border region): được hiểu là một khu vực

địa lý gần đường biên (borderline), trong đó có các cộng đồng cư dân sinh sống và các cộng đồng này có thể có cùng bản sắc văn hóa tộc người mặc dù

họ có thể bị chia cắt bởi một đường biên giới lãnh thổ quốc gia Như

Trang 25

vậy,vùng biên cần được xem xét như một không gian văn hóa – xã hội, các mối quan hệ qua lại của cư dân ở trong và ngoài biên giới cùng sự tác động trong quản lý của Nhà nước đối với khu vực giáp biên đã tạo nên các thuộc tính biên cương của cư dân và hình thành nên khu vực biên giới

Kinh tế vùng biên: là tổng hợp các hoạt động kinh tế khác nhau ở khu

vực biên giới đất liền Phát triển kinh tế vùng biên là nhân tố quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và một số lĩnh vực khác của các tỉnh biên giới nói riêng và của một nước nói chung

Khu kinh tế cửa khẩu Khu kinh tế cửa khẩu ở nước ta là một không

gian kinh tế xác định, do Chính phủ và Thủ tướng quyết định thành lập Ở đó

có dân cư sinh sống và được áp dụng những cơ chế, chính sách phát triển đặc thù, phù hợp với đặc điểm từng địa phương sở tại nhằm mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất dựa trên việc quy hoạch, khai thác và sử dụng, phát triển bền vững các nguồn lực

Trang 27

Nguồn: DFID (2003)

Hình 1: Khung sinh kế bền vững DFID

Ngầm ẩn trong khung sinh kế bền vững là một lý thuyết cho rằng con người dựa vào năm loại tài sản vốn hay hình thức vốn để giảm nghèo và đảm bảo an ninh bảo sinh kế của mình

* Các yếu tố tạo thành Khung sinh kế bền vững (Sustainable

livelihood framework – SLF)

1.Hoàn cảnh dễ xảy ra tổn thương: đó chính là môi trường sống của

con người ở bên ngoài Sinh kế và tài sản sẵn có của con người bị ảnh hưởng

cơ bản bởi những xu hướng chủ yếu, cũng như bởi những cú sốc và tính thời

vụ Chính những điều này khiến sinh kế và tài sản trở nên bị giới hạn và không kiểm soát được

nhau của Chính phủ, luật pháp, chính sách công, các động lực, các qui tắc

-Chính sách và thái độ đối với khu vực tư nhân -Các thiết chế công dân, chính trị và kinh tế (thị trường, văn hoá)

Các chiến lƣợc SK

-Các tác nhân

xã hội (nam,

nữ, hộ gia đình, cộng đồng …) -Các cơ sở tài nguyên thiên nhiên -Cơ sở thị trường

- Đa dạng -Sinh tồn hoặc tính bền vững

Các kết quả SK

-Thu nhập nhiều hơn

-Cuộc sống đầy đủ hơn

-Giảm khả năng tổn thương

-An ninh lương thực được cải thiện -Công bằng xã hội được cải thiện -Tăng tính bền vững của tài nguyên thiên nhiên

-Giá trị không sử dụng của tự nhiên được bảo vệ

Trang 28

Các yếu tố trong hoàn cảnh dễ bị tổn thương

• Thay đổi tự nhiên

• Thay đổi về kinh tế

2 Các tài sản sinh kế: Khung sinh kế bền vững xác định 5 loại tài sản hay

hình thức vốn để giảm nghèo và đảm bảo an ninh sinh kế của mình, bao gồm:

Nguồn http://www.livelihoods.org/info/guidance_sheets_rtfs/Sect2.rtf

Hình 2: Tài sản của người dân

- Vốn tự nhiên (natural capital): Khung sinh kế bền vững coi đất đai là

một tài sản tự nhiên rất quan trọng đối với sinh kế nông thôn Quyền đất đai đóng một vị trí quan trọng về nhiều mặt và tạo cơ sở để người nông dân tiếp cận các loại tài sản khác và những sự lựa chọn sinh kế thay thế Nguồn vốn này chú trọng vào các loại như tài sản như đất đai, nguồn tài nguyên rừng mà

họ sử dụng và nguồn vốn này liên quan như thế nào tới sinh kế của hộ Đất

Trang 29

đai có ý nghĩa về nhiều mặt và là cơ sở để người nông dân tiếp cận các loại tài sản khác hay các sinh kế thay thế Khi thiếu lương thực, hộ có thể phải bán hoặc cho thuê một phần hay toàn bộ đất của hộ để lấy tiền Hộ cũng có thể phải thay đổi hình thức sử dụng đất hiện tại hoặc phương thức canh tác để giảm mức đầu tư cho sản xuất nông nghiệp Hộ cũng có thể phải vào rừng khai thác gỗ và các sản phẩm phi gỗ để bán Những thay đổi về cách các hộ

sử dụng vốn tự nhiên có thể dẫn tới những hậu quả khác nhau đối với hộ đó Bán đất canh tác đồng nghĩa với việc hộ không có đất để canh tác trong tương lai, điều này đe dọa nghiêm trọng tới sinh kế của hộ…

- Vốn con người (human capital): Đây có lẽ là nhân tố quan trọng nhất

Nguồn lực con người thể hiện kĩ năng, kiến thức, năng lực để lao động, và cùng với sức khỏe tốt giúp con người theo đuổi những chiến lược sinh kế khác nhau và đạt được mục tiêu sinh kế của mình Ở mức hộ gia đình thì nguồn lực con người là yếu tố về số lượng và chất lượng lao động sẵn có; yếu

tố này thay đổi tùy theo số lượng người trong hộ, kĩ năng lao động, khả năng lãnh đạo, tình trạng sức khỏe…

Người ta cho rằng “Người nghèo nghèo vì họ thiếu vốn con người,

người nghèo thiếu vốn con người vì họ nghèo” 1 Rõ ràng là ít “vốn con người” làm cản trở con đường thoát nghèo của người nghèo vì họ ít có khả năng đầu tư vào vốn đó Vì thế, đầu tư vào “vốn con người” vì thế rất quan trọng trong việc phá vỡ vòng luẩn quẩn của đói nghèo

- Vốn xã hội (social capital): Là các tiềm lực xã hội mà con người

vạch ra nhằm theo đuổi các mục tiêu sinh kế của mình Các mục tiêu này được phát triển thông qua các mạng lưới và các mối liên kết với nhau, tính đoàn hội của các nhóm chính thức; và mối quan hệ dựa trên sự tin tưởng, sự trao đổi, và ảnh hưởng lẫn nhau

1 1 Nguyễn Văn Sửu (2010), trích trong Asian Development Bank (2001), Human capital of the poor in

Vietnam, Manila

Trang 30

Nguồn vốn này chủ yếu được xem xét về mối quan hệ gia đình, họ hàng, láng giềng, bạn bè, đồng nghiệp…đã góp phần như thế nào trong đảm bảo sinh kế cho gia đình Trong điều kiện thiếu lương thực, hộ có thể phải nhờ đến sự giúp đỡ từ mối quan hệ đó Hình thức giúp đỡ đa dạng, có thể là lương thực hoặc tiền mặt

Tác giả Bebbington cho rằng vốn xã hội thường ít hữu hình hơn, trong khi nó là một phương tiện quan trọng để các hộ gia đình mở rộng tiếp cận của mình đối với các nguồn vốn khác và để các tác nhân tìm kiếm sinh kế [41, tr.9] Một số nhà nghiên cứu đã lập luận rằng, sự khác biệt trong việc sở hữu vốn xã hội giúp lý giải sự khác biệt trong việc tích lũy tài sản giữa các hộ gia đình Rõ ràng là quan hệ xã hội và việc nắm giữ vốn xã hội là một công cụ quan trọng đảm bảo sự thành công trong các chiến lược sinh kế của hộ gia đình [41, tr.10] Trong khi phân tích việc sử dụng “vốn xã hội” trong chiến lược sinh kế của nông dân ở một phường và xã khu vực ven đô Hà Nội, tác giả Nguyễn Duy Thắng đã nhận định rằng, bên cạnh những yếu tố quan trọng trong chiến lược sinh kế của nông dân như đất đai, lao động, tài chính thì vốn

xã hội được coi là một nguồn lực quan trọng giúp nông dân chuyển đổi chiến lược sinh kế để ứng phó với các thách thức của đô thị hóa

- Vốn vật chất (physical capital): Vốn vật chất gồm các cơ sở hạ tầng xã

hội, tài sản hộ gia đình hỗ trợ cho sinh kế như giao thông, hệ thống cấp thoát nước, cung cấp năng lượng, nhà cửa, đồ đạc, các phương tiện vận chuyển, thông tin…Trong quá trình biến đổi sinh kế như hiện nay ở các hộ gia đình thì những yếu tố văn hóa vật chất còn giữ được truyền thống hay không?

- Vốn tài chính (financial capital): Bao gồm các nguồn lực tài chính (chủ

yếu là tiền mặt và các khoản tài chính tương đương) mà con người sử dụng để đạt được mục tiêu sinh kế của mình Vốn này được xem xét chủ yếu ở nguồn thu chi của hộ Trong tình trạng thiếu lương thực, hộ có thể phải tìm nguồn thu nhập thay thế Hộ có thể phải chấp nhận bất cứ việc gì, dù rằng việc đó có ảnh hưởng

Trang 31

nghiêm trọng tới sức khỏe của mình Hộ có thể phải cắt giảm chi tiêu và điều này cũng ảnh hưởng tới một số khía cạnh trong cuộc sống

Hình dạng của ngũ giác trên diễn tả khả năng tiếp cận của người dân với các loại tài sản Tâm điểm là nơi không tiếp cận được với loại tài sản nào Các điểm nằm trên chu vi là tiếp cận tối đa với các loại tài sản Các nguồn vốn này thay đổi thường xuyên, vì vậy ngũ giác cũng thay đổi liên tục theo thời gian

Điều quan trọng là một tài sản riêng lẻ có thể tạo ra nhiều lợi ích Nếu một người có thể tiếp cận chắc chắn với đất đai (tài sản tự nhiên) thì họ cũng có thể có được nguồn tài chính vì họ có thể sử dụng đất đai không chỉ cho những hoạt động sản xuất trực tiếp mà còn cho thuê Sơ đồ hình ngũ giác rất hữu ích cho việc tìm ra điểm nào thích hợp, những tài sản nào sẽ phục vụ cho nhu cầu của nhóm xã hội khác nhau và cân bằng giữa những tài sản đó như thế nào

* Tài sản và những chiến lược sinh kế: Những ai có nhiều tài sản có

khuynh hướng hay có nhiều lựa chọn lớn hơn và khả năng chuyển đổi giữa nhiều chiến lược để đảm bảo sinh kế của họ

* Tài sản và những kết quả sinh kế: Khả năng người dân thoát nghèo

phụ thuộc chủ yếu vào sự tiếp cận của họ đối với những tài sản Những tài sản khác nhau đạt được những kết quả sinh kế khác nhau

3 Các chiến lược sinh kế và kết quả

- Chiến lược sinh kế là các kế hoạch làm việc dài hạn của cộng đồng để

kiếm sống Nó thể hiện sự đa dạng và kết hợp nhiều hoạt động và lựa chọn mà con người tiến hành nhằm đạt được mục tiêu sinh kế của mình

- Kết quả sinh kế là những thay đổi có lợi cho sinh kế của cộng đồng,

nhờ các chiến lược sinh kế mang lại Cụ thể là thu nhập cao hơn, cuộc sống

ổn định hơn, giảm rủi ro, đảm bảo tốt hơn an toàn thực phẩm và sử dụng bền vững hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên

Qua nghiên cứu đề tài này, tôi muốn tìm hiểu những thay đổi về tài sản hay các nguồn vốn của người Tày ở thôn Bản Thẩu, xã Tân Thanh như thế

Trang 32

nào trong điều kiện hiện nay Trong đó, chú trọng về sự biến đổi của môi trường sinh kế (môi trường tự nhiên và nhân văn), lưu ý đến sự mất đi của một số điều kiện tự nhiên thuận lợi như đất đai, bù vào đó là sự xuất hiện của một số nguồn lực cho sự tìm kiếm sinh kế mới Đồng thời cũng nghiên cứu về một số biến đổi trong văn hóa và thiết chế xã hội dưới tác động của sự biến đổi về sinh kế và những tác nhân khác

Khung sinh kế bền vững là một cách phân tích toàn diện về phát triển

và giảm nghèo Cách tiếp cận này giúp chúng ta hiểu được việc con người sử dụng các loại vốn mình có để kiếm sống, thoát nghèo hay tránh bị rơi vào nghèo đói như thế nào Vì nó không chỉ minh họa các chiến lược tìm kiếm thu nhập mà nó còn phân tích và lý giải về việc tiếp cận, sử dụng và phân phối các nguồn lực mà các cá thể và hộ gia đình sử dụng để biến các nguồn lực đó thành sinh kế

Khung sinh kế bền vững chính là một công cụ được xây dựng nhằm giúp người sử dụng xem xét những yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến sinh kế của con người, đặc biệt là các yếu tố gây khó khăn hoặc tạo cơ hội cho sinh

kế Nó đồng thời cũng có mục đích tìm hiểu những yếu tố này liên quan với nhau như thế nào Ngoài mục đích cần phải đạt đến thì chúng ta phải thừa nhận: Khung sinh kế bền vững không đưa ra một mô hình phản ánh chính xác thực tế Nó là sự rút gọn và được triển khai khi áp dụng từng hoàn cảnh cụ thể bởi sinh kế của con người rất đa dạng và phức tạp Việc sử dụng Khung sinh

kế để phân tích các loại hình sinh kế cho ta thấy đâu là loại hoạt động phát triển có hiệu quả nhất trong giảm nghèo ở cộng đồng đó

Tiểu kết chương 1

Sinh kế là một thành tố quan trọng trong văn hóa tộc người Trong Dân tộc học/Nhân học, dù là nghiên cứu cơ bản hay nghiên cứu ứng dụng thì hoạt động sinh kế của tộc người có vai trò đặc biệt quan trọng Theo quan điểm Macxit, con người trước tiên phải lo đến chuyện ăn, mặc, ở rồi mới nói đến

Trang 33

các hoạt động khoa học, tôn giáo, chính trị, nghệ thuật Đời sống kinh tế chính là nền tảng, là động lực cho mọi hoạt động khác Ngày nay, khi mà xu hướng toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ với các mối quan hệ xuyên biên giới thì việc nghiên cứu về sinh kế cũng như những biến đổi của nó ở vùng biên càng trở nên quan trọng và có ý nghĩa thiết thực Người Tày ở thôn Bản Thẩu, xã Tân Thanh là một trong những ví dụ đó

Khi tiến hành nghiên cứu về sự thay đổi trong phương thức mưu sinh của người Tày ở Tân Thanh từ Đổi mới đến nay, tôi đã dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng để phân tích, đánh giá vấn đề một cách khoa học và khách quan Phương pháp nghiên cứu chính trong luận văn chủ yếu là quan sát tham gia, phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm Ngoài ra, tôi còn

đề cập đến những khái niệm cơ bản có liên quan đến sinh kế và sinh kế bền vững Hướng tiếp cận nghiên cứu sinh kế trong luận văn dựa trên lý thuyết về Khung sinh kế bền vững DFID với nội dung cơ bản là con người đã dựa vào 5 nguồn vốn: vốn tự nhiên, vốn con người, vốn xã hội, vốn vật chất, vốn tài chính để kiếm sống và đảm bảo được an ninh sinh kế của mình

Trang 34

Chương 2

SINH KẾ TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI TÀY

Ở XÃ TÂN THANH 2.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu - xã Tân Thanh

Phía Đông giáp Trung Quốc

Phía Tây giáp xã Hoàng Việt, huyện Văn Lãng

Phía Nam giáp xã Tân Mỹ, huyện Văn Lãng

Phía Bắc giáp xã Thanh Long, huyện Văn Lãng

Địa hình

Địa hình của xã Tân Thanh tương đối phức tạp, có độ cao trung bình từ

350 - 450 m, thường bị chia cắt mạnh bởi nhiều dãy núi cao như núi Khau Khú, Khau Phước, Khàu Ngầu, Đình Phù, Lũng Cầu Tiệp, núi Phia Đặc biệt là các dãy núi đá bao quanh cánh đồng tạo thành các khe và suối nhỏ uốn khúc

Khí hậu và thủy văn

Khí hậu ở Tân Thanh mang tính chất nhiệt đới gió mùa Mùa hè mưa nhiều từ tháng 4 đến tháng 10, mùa đông lạnh và hanh khô kéo dài từ tháng

11 đến tháng 3 năm sau

Trên địa bàn xã có hệ thống sông, suối tương đối nhiều, bao gồm các suối lớn, nhỏ rất phong phú và đa dạng như suối Đăng Puông, Khuổi Sân, Nà Cuối, Bản Đuốc, Khuổi Lầy, Nà Ngòa Các con suối này đã cung cấp nguồn nước cho sinh hoạt và sản xuất của nhân dân trong vùng Bên cạnh đó là các

Trang 35

đập ngăn nước đã tạo nên các hồ nước rất thuận tiện cho việc tưới tiêu và nuôi trồng thủy sản

Tài nguyên thiên nhiên

+ Tài nguyên đất:

Nhìn chung, đất đai của xã Tân Thanh tương đối tốt, tầng đất dày, có

độ phì cao, thích hợp cho việc trồng nhiều loại cây nông - lâm nghiệp Tổng diện tích tự nhiên toàn xã là 2.725,21 ha, trong đó:

Đất nông nghiệp là 1.704,61 ha

Đất phi nông nghiệp là 86,92 ha

Đất chưa sử dụng là 917,30 ha

Đất khu dân cư nông thôn là 17,38 ha

+ Tài nguyên nước:

Nước là nguồn tài nguyên đặc biệt quan trọng, thành phần thiết yếu của

sự sống và môi trường Nguồn nước trong xã được lấy từ 2 nguồn:

- Nguồn nước mặt: Tân Thanh là xã có nhiều suối chảy qua như suối Lậu Cấy, Bác Chầu, Nà Bàn, Cốc Mặn và một số con suối nhỏ bắt nguồn từ các đỉnh núi cao trong vùng Hai con sông, suối chính này có nước quanh năm cùng với nguồn nước mưa có trữ lượng trung bình hàng năm từ 1.150 - 1.600

mm đã cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất của nhân dân trong vùng

- Nguồn nước ngầm: Nguồn nước ngầm của xã chủ yếu được lấy từ các mạch nước gần khe suối, tuy nhiên cũng chưa được điều tra, khảo sát cụ thể Chất lượng các nguồn nước trên địa bàn xã tương đối tốt, chưa bị ô nhiễm

Trang 36

Rừng trồng có diện tích 2 ha, chiếm 0,07% tổng diện tích tự nhiên Rừng khoanh nuôi phục hồi có diện tích 87,50 ha, chiếm 3,22% tổng diện tích tự nhiên

+ Tài nguyên khoáng sản

Theo kết quả điều tra, thăm dò của các đoàn khảo sát địa chất cho thấy trên địa bàn xã có mỏ quặng sắt tại thôn Nà Han Ngoài ra, trên địa bàn xã còn

có đá vôi, cát, sỏi có thể khai thác để sản xuất vật liệu xây dựng

2010, tổng giá trị sản xuất đạt 51,84 tỷ đồng, thu nhập bình quân đầu người đạt 10,50 triệu đồng/năm

Về nông nghiệp: Ngay từ đầu năm 2011, UBND xã đã phát động nhân

dân các thôn ra quân làm thủy lợi, nạo vét kênh mương, định hướng cho nhân dân chọn những giống cây trồng mới có năng suất cao đưa vào sản xuất Tổng diện tích gieo trồng toàn xã đạt 153 ha, bằng 71% so với kế hoạch, bằng 85%

so với năm 2010 Trong đó:

Tổng diện tích lúa cả năm 115 ha, đạt 75% so với kế hoạch, bằng 73% so với năm 2010; diện tích cây ngô 27 ha, vượt 0,4% so với kế hoạch và vượt 17%

so với cùng kỳ; cây thực phẩm khác là 11 ha, bằng 69% so với kế hoạch, vượt 38% so với cùng kỳ Tuy nhiên do thời tiết diễn biến phức tạp đã làm ảnh hưởng đến năng suất cây trồng, trong đó, có cây lúa vào mùa trổ bông do gặp thời tiết không thuận lợi dẫn đến năng suất thấp, toàn xã mất trắng 77 ha Cụ thể là:

- Năng suất vụ đông - xuân đạt 4,6 tạ/ha, sản lượng 286 tấn

- Năng suất vụ mùa đạt 2,6 tạ/ha, sản lượng 197 tấn

Trang 37

Tổng sản lượng của năm đạt 482 tấn, đạt 72% so với chỉ tiêu giao Công tác thủy lợi luôn được tăng cường chỉ đạo Từ đầu năm, nhân dân các thôn Bản Thẩu, Nà Tồng, Nà Ngườm đã tiến hành tu sửa, nạo vét kênh mương để tưới tiêu, chuẩn bị cho sản xuất khoảng 400 công

Về chăn nuôi, thú y

Tổng đàn gia súc trong năm 2011 là 365 con, trong đó: Trâu 297 con, và

bò là 68 con Tổng đàn gia cầm là 11.460 con Do thời tiết đầu năm rét đậm kéo dài nên đã làm trâu, bò chết 163 con Ngoài ra có một số hộ do không có chỗ chăn thả, đã bán đi để mua máy móc thay thế sức kéo phục vụ sản xuất

Trong địa bàn xã đã xuất hiện một số loại dịch bệnh như Lép tô và tụ

huyết trùng ở trâu, bò; bệnh Niu cát xơn ở gà; dịch tả ở lợn; bệnh dại ở chó

nên UBND xã đã xây dựng lịch tiêm phòng để phòng chống dịch bệnh cho gia súc, gia cầm

Về lâm nghiệp, cây ăn quả

Cây lâm nghiệp trồng được 3,5 ha, đạt 70% so với kế hoạch, đạt 88%

so với cùng kỳ; cây ăn quả có diện tích 3 ha, đạt 60% kế hoạch, bằng 75% so với cùng kỳ

Bên cạnh hoạt động nông nghiệp là chủ đạo, Tân Thanh cũng là xã

tương đối phát triển về kinh tế công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp do trên địa

bàn xã phát triển khu kinh tế cửa khẩu Tân Thanh Đây là địa điểm thông thương, giao lưu kinh tế với Trung Quốc, điểm thu hút đầu tư của nhiều doanh nghiệp kinh doanh thương mại Hơn nữa, ngành thủ công nghiệp tương đối phát triển do có mỏ quặng sắt tại thôn Nà Han Theo thống kê năm 2010, tổng giá trị sản xuất của ngành ước đạt 13,48 tỷ đồng, chiếm 26% tổng giá trị sản xuất của xã

Trong lĩnh vực kinh tế dịch vụ, trong năm 2010, có 1 doanh nghiệp hoạt

động trong lĩnh vực xây dựng, 1 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực đầu

tư thương mại Tổng giá trị sản xuất của ngành đạt 14 tỷ đồng, chiếm 24% tổng giá trị sản xuất của xã

Trang 38

Trong tương lai, trên địa bàn xã Tân Thanh có nhiều dự án phát triển kinh tế - xã hội như mở rộng khu kinh tế cửa khẩu Tân Thanh, quy hoạch khu mậu dịch tự do Đặc biệt ở đây sẽ tiến hành xây dựng chùa Phật Quang Sơn -

là ngôi chùa đầu tiên được đặt ở miền biên giới, lớn thứ 4 ở Việt Nam, hứa hẹn sẽ thu hút nhiều khách du lịch

Hàng năm, nhân dân các thôn Bản Thẩu, Bản Đuốc, Nà Tồng thường tu sửa các tuyến đường giao thông liên thôn để phục vụ cho nhu cầu đi lại và sản xuất Đường giao thông liên thôn Bản Thẩu - Nà Ngườm thi công vào tháng 7/2011 và đã hoàn thành trong quý IV năm 2011 Các thôn khác cũng đã đăng

ký xi măng và nhận từ huyện 12 tấn để chuẩn bị tiến hành làm đường

Trên địa bàn xã có 1 điểm bưu điện tỉnh Lạng Sơn, 1 điểm bưu cục Tân Thanh và một trạm phát truyền hình, có thể liên lạc, trao đổi thông tin sách báo, công văn của xã, thôn Hiện nay, Tân Thanh đã được phủ sóng điện thoại và có điện lưới quốc gia Nguồn điện cung cấp cho toàn bộ xã Tân Thanh bắt nguồn từ mạng lưới quốc gia cung cấp qua trạm biến áp trung gian 110/35KV Nhị Thanh, thành phố Lạng Sơn; lộ 372 Na Sầm - Tràng Định và lộ 374 đi Tân Thanh

Về giáo dục và đào tạo

Xã Tân Thanh đã chỉ đạo tốt công tác dạy và học, đảm bảo duy trì số lớp, chỉ đạo thực hiện đổi mới phương thức dạy và học Tổng số lớp, học sinh của 3 trường như sau:

- Trường Mầm non gồm 9 lớp với 277 cháu

- Trường tiểu học Tân Thanh gồm 14 lớp, tổng số 299 học sinh

- Trường THCS Tân Thanh có 9 lớp, gồm 29 cán bộ, giáo viên với 199 học sinh Ngày 15/11/2011, trường đã hoàn thành lễ đón nhận trường chuẩn quốc gia đạt kết quả tốt

Về y tế: Tân Thanh có 1 Phòng khám đa khoa có diện tích 0,28 ha và 1

trạm y tế xã với diện tích 0,05 ha Hệ thống y tế xã thường xuyên nắm bắt được tình hình bệnh tật cuả nhân dân các thôn bản, thực hiện tốt chương trình Y tế

Trang 39

quốc gia về tiêm chủng vắc xin cho các đối tượng đảm bảo quy định của Bộ Y

tế, bước đầu đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khỏe tại chỗ cho nhân dân

2.1.3 Dân cư, dân tộc

Năm 2010, toàn xã có 4.813 người, tỷ lệ tăng dân số là 1,85%, mật độ dân số là 80,78 người/ km2 Nhưng trên thực tế, dân số có hộ khẩu tại xã Tân Thanh chỉ có 2.010 người với 468 hộ Trong đó: Nam 959 người và Nữ là 1.051 người Phần còn lại là dân tạm trú đến làm ăn theo thời vụ Trước năm

1990, điểm dân cư của xã chỉ có 6 thôn Từ năm 1990 - 2010 do xây dựng Khu kinh tế cửa khẩu nên có thêm Khu I và Khu II Số người trong độ tuổi lao động của xã là 2.591 người, chiếm 52,95% dân số

Tân Thanh có 3 dân tộc sinh sống chủ yếu là Nùng, Tày và Kinh, trong

đó người Nùng chiếm 53,02%; người Tày chiếm 43%; người Kinh chiếm 3,69%; các dân tộc khác chiếm 0,29% Thôn Bản Thẩu (xã Tân Thanh) có diện tích 453,33 ha, bao gồm 86 hộ với 431 người, chủ yếu là người Tày, chiếm hơn 90% Trong thôn chỉ có khoảng gần 10 hộ người Nùng, nếu tính cả dân tạm trú ở những nơi khác chuyển đến là hơn 100 hộ

2.1.4 Người Tày ở xã Tân Thanh

Theo các nhà nghiên cứu lịch sử, Tày là một cộng đồng tộc người thuộc khối Bách Việt xưa và tộc danh Tày đã xuất hiện từ rất lâu đời, họ có mối quan

hệ gần gũi về nhiều mặt với các dân tộc khác trong nhóm ngôn ngữ Tày - Thái như Nùng, Sán Chay, Bố Y và ngay cả với người Choang ở tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) Trong số đó, trước hết phải kể đến mối quan hệ giữa người Tày

và người Nùng Hai dân tộc này thường cư trú xen kẽ với nhau và có không ít nét tương đồng kể cả trong hoạt động kinh tế, tổ chức xã hội cũng như trong đời sống văn hóa tinh thần, trong nếp sống và phong tục, tập quán

Theo Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009, người Tày ở Việt Nam

có 1.626.392 người, là dân tộc có dân số đông thứ 2 tại Việt Nam sau người Kinh Tại tỉnh Lạng Sơn, người Tày có 259.532 người, chiếm 35,4% dân số

Trang 40

toàn tỉnh Người Tày ở Tân Thanh chiếm 43% dân số toàn xã, đứng thứ hai sau người Nùng, cư trú ở hầu khắp các thôn vì vốn là cư dân bản địa có lịch

sử lâu đời Nền kinh tế của đồng bào cơ bản là một nền kinh tế nông nghiệp, nguồn sống chính là trồng trọt và chăn nuôi Người Tày cũng sống thành làng bản như người Nùng, nhà ở của họ thường bố trí theo lối mật tập, lưng nhà dựa vào núi đồi Ngôi nhà truyền thống của người Tày ở Tân Thanh là nhà sàn nhưng ngày nay do nguồn gỗ ngày càng cạn kiệt, họ đã chuyển sang ở nhà xây Trang phục cổ truyền của người Tày ở Tân Thanh cũng như người Tày nói chung là mặc áo dài vải chàm, cài cúc bên phải, có thắt lưng và dùng nữ trang bằng bạc Nhưng do bất tiện trong quá trình lao động sản xuất, hiện nay

ở Tân Thanh cũng như cũng như các xã khác trong tỉnh, đồng bào đã mặc quần áo giống người Kinh Bộ trang phục truyền thống chỉ được mặc vào những dịp lễ hội, văn nghệ và được các Bà Then mặc khi đi hành nghề

Người Tày ăn cơm Lương thực gồm có gạo nếp, gạo tẻ, ngô, khoai, sắn Thực phẩm dùng trong bữa ăn hàng ngày chủ yếu là rau xanh tự trồng hay thu hái trên rừng và món ăn thường xào nhiều mỡ Người phụ nữ Tày ở Tân Thanh rất đảm đang trong công việc nội trợ, họ biết làm nhiều loại bánh như bánh chưng Tày, bánh gio, bánh dợm, bánh ngải Trong sinh hoạt hàng ngày cũng như vào dịp lễ tết, đồng bào thường uống rượu Rượu của người Tày ở Tân Thanh được nấu từ gạo, sắn, ngô Họ tự làm men bằng lá cây rừng nên gọi

là men lá Hiện nay, men lá ít được sử dụng mà chủ yếu dùng men mua tại chợ

có nguồn gốc từ Trung Quốc

Từ xa xưa, tín ngưỡng của người Tày là thờ đa thần, được xây dựng trên quan niệm “vạn vật hữu linh”, người sống thì có “khoăn” (hồn), khi chết thì thành “phi” (ma quỷ) Đồng bào Tày còn phân biệt 2 loại “phi” như “phi lành”

và “phi dữ” “Phi lành” gồm có “phi tổ tiên”, “phi bếp lửa”, “phi bản làng” “Phi dữ” tìm đủ mọi cách hại người như “phi rừng”, “phi thuồng luồng”, “phi sấm sét” Đồng bào chỉ thờ ma lành, tuy nhiên cũng có trường hợp phải cúng ma dữ khi phát hiện ra con ma ấy gây ra ốm đau cho con người

Ngày đăng: 31/03/2015, 14:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị Mai An (2005), “Sinh kế người Cơ tu: Khả năng tiếp cận và cơ hội - Nghiên cứu trường hợp ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên - Huế”, Kỷ yếu Hội nghị Thông báo Dân tộc học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Thị Mai An (2005), “"Sinh kế người Cơ tu: Khả năng tiếp cận và cơ hội - Nghiên cứu trường hợp ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên - Huế”
Tác giả: Trần Thị Mai An
Năm: 2005
2. Trần Bình (2001), Tập quán hoạt động kinh tế của một số dân tộc ở Tây Bắc Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập quán hoạt động kinh tế của một số dân tộc ở Tây Bắc Việt Nam
Tác giả: Trần Bình
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2001
3. Trần Bình (2005), Tập quán mưu sinh của các dân tộc thiểu số ở Đông Bắc Việt Nam, Nxb Phương Đông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập quán mưu sinh của các dân tộc thiểu số ở Đông Bắc Việt Nam
Tác giả: Trần Bình
Nhà XB: Nxb Phương Đông
Năm: 2005
4. Lê Bé (1982), Kinh tế gia đình trong đời sống các dân tộc ở Lạng Sơn hiện nay, Tạp chí Dân tộc học, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế gia đình trong đời sống các dân tộc ở Lạng Sơn hiện nay
Tác giả: Lê Bé
Năm: 1982
5. Nguyễn Việt Cường, Tăng Văn Khiên (1994), Một số kết quả điều tra chọn mẫu xã hội học ở Lạng Sơn, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kết quả điều tra chọn mẫu xã hội học ở Lạng Sơn
Tác giả: Nguyễn Việt Cường, Tăng Văn Khiên
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 1994
6. Khổng Diễn (1987), Một số đặc điểm về dân tộc và dân cư tỉnh Lạng Sơn, Tạp chí Dân tộc học, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm về dân tộc và dân cư tỉnh Lạng Sơn
Tác giả: Khổng Diễn
Năm: 1987
7. Khổng Diễn, Bế Viết Đẳng (1990), Văn Lãng - huyện biên giới Lạng Sơn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn Lãng - huyện biên giới Lạng Sơn
Tác giả: Khổng Diễn, Bế Viết Đẳng
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1990
8. Khổng Diễn (1996), Những đặc điểm kinh tế - xã hội các dân tộc ở miền núi phía Bắc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đặc điểm kinh tế - xã hội các dân tộc ở miền núi phía Bắc
Tác giả: Khổng Diễn
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1996
9. Trịnh Tất Đạt (2002), Tác động kinh tế - xã hội của mở cửa biên giới (Nghiên cứu trường hợp thị xã Lạng sơn và thị xã Đồng Đăng), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động kinh tế - xã hội của mở cửa biên giới (Nghiên cứu trường hợp thị xã Lạng sơn và thị xã Đồng Đăng)
Tác giả: Trịnh Tất Đạt
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
10. Bế Viết Đẳng (1993), Biến đổi đời sống các dân tộc từ sau Đại hội VI đến nay, Tư liệu Viện Dân tộc học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi đời sống các dân tộc từ sau Đại hội VI đến na
Tác giả: Bế Viết Đẳng
Năm: 1993
11. Bế Viết Đẳng (1993), Những biến đổi về kinh tế - văn hoá ở các tỉnh miền núi phía Bắc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những biến đổi về kinh tế - văn hoá ở các tỉnh miền núi phía Bắc
Tác giả: Bế Viết Đẳng
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1993
12. Bế Viết Đẳng (1996), Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi
Tác giả: Bế Viết Đẳng
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1996
13. Lê Đăng Giảng (1992), Định canh định cư với phát triển kinh tế xã hội ở các tỉnh biên giới miền núi phía Bắc, Luận án Phó Tiến sĩ Kinh tế, Đại học Kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định canh định cư với phát triển kinh tế xã hội ở các tỉnh biên giới miền núi phía Bắc
Tác giả: Lê Đăng Giảng
Năm: 1992
14. Lê Sĩ Giáo (1989), Canh tác nương rẫy với vấn đề xây dựng kinh tế hộ gia đình, Tạp chí Dân tộc học, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Canh tác nương rẫy với vấn đề xây dựng kinh tế hộ gia đình
Tác giả: Lê Sĩ Giáo
Năm: 1989
15. Lê Sĩ Giáo (1990), Kinh tế hộ gia đình ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số phía Bắc, Tạp chí Thông tin lý luận, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế hộ gia đình ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số phía Bắc
Tác giả: Lê Sĩ Giáo
Năm: 1990
16. Bùi Thị Thanh Hà (2005), Vai trò giới trong cải thiện sinh kế của người Xơ đăng - nghiên cứu trường hợp xã Đắk Pxi, huyện Đắk Hà, tỉnh Kon Tum, Tạp chí Khoa học về phụ nữ, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò giới trong cải thiện sinh kế của người Xơ đăng - nghiên cứu trường hợp xã Đắk Pxi, huyện Đắk Hà, tỉnh Kon Tum
Tác giả: Bùi Thị Thanh Hà
Năm: 2005
17. Trần Văn Hà (1999), Các dân tộc Tày - Nùng với tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nông nghiệ (Nghiên cứu xã hội học - tộc người tại các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam từ năm 1989 - 1995), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc Tày - Nùng với tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nông nghiệ (Nghiên cứu xã hội học - tộc người tại các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam từ năm 1989 - 1995)
Tác giả: Trần Văn Hà
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1999
18. Trần Văn Hà (2007), Phát triển nông thôn miền núi và dân tộc trong thời kỳ kinh tế chuyển đổi - từ thực tiễn một xã vùng cao Tây Bắc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nông thôn miền núi và dân tộc trong thời kỳ kinh tế chuyển đổi - từ thực tiễn một xã vùng cao Tây Bắc
Tác giả: Trần Văn Hà
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2007
19. Trần Văn Hà (2008), Biến đổi chức năng kinh tế hộ gia đình dân tộc Tày huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Viện, Viện Dân tộc học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi chức năng kinh tế hộ gia đình dân tộc Tày huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn
Tác giả: Trần Văn Hà
Năm: 2008
80. Nguyễn Văn Phương, Nguyễn Văn Hoa (2010), Biên luận tổ tôm Việt Nam, trên trang http://newvietart.com, ra ngày 1/6/2010 Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức vốn để giảm nghèo và đảm bảo an ninh sinh kế của mình, bao gồm: - Biến đổi sinh kế của người Tày ở biên giới tỉnh Lạng Sơn từ đổi mới (1986) đến nay (nghiên cứu trường hợp thôn Bản Thẩu, xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng sơn
Hình th ức vốn để giảm nghèo và đảm bảo an ninh sinh kế của mình, bao gồm: (Trang 28)
Hình 2: Tài sản của người dân - Biến đổi sinh kế của người Tày ở biên giới tỉnh Lạng Sơn từ đổi mới (1986) đến nay (nghiên cứu trường hợp thôn Bản Thẩu, xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng sơn
Hình 2 Tài sản của người dân (Trang 28)
Hình 3: Ruộng nước của người Tày ở thôn Bản Thẩu - Biến đổi sinh kế của người Tày ở biên giới tỉnh Lạng Sơn từ đổi mới (1986) đến nay (nghiên cứu trường hợp thôn Bản Thẩu, xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng sơn
Hình 3 Ruộng nước của người Tày ở thôn Bản Thẩu (Trang 143)
Hình 4: Ruộng ngô của người Tày ở Bản Thẩu - Biến đổi sinh kế của người Tày ở biên giới tỉnh Lạng Sơn từ đổi mới (1986) đến nay (nghiên cứu trường hợp thôn Bản Thẩu, xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng sơn
Hình 4 Ruộng ngô của người Tày ở Bản Thẩu (Trang 143)
Hình 6: Rừng Bạch đàn của người Tày thôn Bản Thẩu - Biến đổi sinh kế của người Tày ở biên giới tỉnh Lạng Sơn từ đổi mới (1986) đến nay (nghiên cứu trường hợp thôn Bản Thẩu, xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng sơn
Hình 6 Rừng Bạch đàn của người Tày thôn Bản Thẩu (Trang 144)
Hình 5: Thu hoạch sắn - Biến đổi sinh kế của người Tày ở biên giới tỉnh Lạng Sơn từ đổi mới (1986) đến nay (nghiên cứu trường hợp thôn Bản Thẩu, xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng sơn
Hình 5 Thu hoạch sắn (Trang 144)
Hình 9: Một góc thôn Bản Thẩu cũ - Biến đổi sinh kế của người Tày ở biên giới tỉnh Lạng Sơn từ đổi mới (1986) đến nay (nghiên cứu trường hợp thôn Bản Thẩu, xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng sơn
Hình 9 Một góc thôn Bản Thẩu cũ (Trang 146)
Hình 13: Miếu thờ Thổ công trong gia đình người Tày ở Bản Thẩu - Biến đổi sinh kế của người Tày ở biên giới tỉnh Lạng Sơn từ đổi mới (1986) đến nay (nghiên cứu trường hợp thôn Bản Thẩu, xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng sơn
Hình 13 Miếu thờ Thổ công trong gia đình người Tày ở Bản Thẩu (Trang 147)
Hình 14: Miếu Thổ công chung của cộng đồng người Tày thôn Bản Thẩu - Biến đổi sinh kế của người Tày ở biên giới tỉnh Lạng Sơn từ đổi mới (1986) đến nay (nghiên cứu trường hợp thôn Bản Thẩu, xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng sơn
Hình 14 Miếu Thổ công chung của cộng đồng người Tày thôn Bản Thẩu (Trang 147)
Hình 17 + 18: Nữ cửu vạn người Tày mưu sinh ở cửa khẩu Tân Thanh - Biến đổi sinh kế của người Tày ở biên giới tỉnh Lạng Sơn từ đổi mới (1986) đến nay (nghiên cứu trường hợp thôn Bản Thẩu, xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng sơn
Hình 17 + 18: Nữ cửu vạn người Tày mưu sinh ở cửa khẩu Tân Thanh (Trang 149)
Hình 19: Dãy nhà trọ cho thuê ở Bản Thẩu - Biến đổi sinh kế của người Tày ở biên giới tỉnh Lạng Sơn từ đổi mới (1986) đến nay (nghiên cứu trường hợp thôn Bản Thẩu, xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng sơn
Hình 19 Dãy nhà trọ cho thuê ở Bản Thẩu (Trang 150)
Hình 20: Đường làng, ngõ xóm ở Bản Thẩu hiện nay - Biến đổi sinh kế của người Tày ở biên giới tỉnh Lạng Sơn từ đổi mới (1986) đến nay (nghiên cứu trường hợp thôn Bản Thẩu, xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng sơn
Hình 20 Đường làng, ngõ xóm ở Bản Thẩu hiện nay (Trang 150)
Hình 21 + 22 + 23: Một số hình thức kinh doanh, dịch vụ - Biến đổi sinh kế của người Tày ở biên giới tỉnh Lạng Sơn từ đổi mới (1986) đến nay (nghiên cứu trường hợp thôn Bản Thẩu, xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng sơn
Hình 21 + 22 + 23: Một số hình thức kinh doanh, dịch vụ (Trang 151)
Hình 24 + 25: Người Tày bán hàng thuê cho các chủ hàng - Biến đổi sinh kế của người Tày ở biên giới tỉnh Lạng Sơn từ đổi mới (1986) đến nay (nghiên cứu trường hợp thôn Bản Thẩu, xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng sơn
Hình 24 + 25: Người Tày bán hàng thuê cho các chủ hàng (Trang 152)
Hình 26: Một góc chợ cửa khẩu Tân Thanh - Biến đổi sinh kế của người Tày ở biên giới tỉnh Lạng Sơn từ đổi mới (1986) đến nay (nghiên cứu trường hợp thôn Bản Thẩu, xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng sơn
Hình 26 Một góc chợ cửa khẩu Tân Thanh (Trang 153)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w