1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tục thờ thánh Tam Giang ở vùng ngã ba Xà ( Nghiên cứu trường hợp Làng Đoài, xã Tam Giang, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh và làng Mai Thượng, xã Mai Đình, huyện hiệp hòa, tỉnh bắc giang

171 1,1K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 171
Dung lượng 7,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể ghi nhận một thực tế rằng đã có nhiều người nghiên cứu về tín ngưỡng dân gian, về biến đổi văn hoá nhưng chưa có ai nghiên cứu sâu về hiện tượng thờ TTG không chỉ trong quá khứ, h

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

* *

*

NGUYỄN THỊ THU TRANG

TỤC THỜ THÁNH TAM GIANG Ở VÙNG NGÃ BA XÀ

(Nghiên cứu trường hợp:

làng Đoài, xã Tam Giang, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh

và làng Mai Thượng, xã Mai Đình, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang)

Chuyên ngành Dân tộc học

Mã số: 60 22 70 Khóa: 2006 - 2009 LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ Người hướng dẫn Khoa học: PGS TS Hoàng Lương

Hà Nội - 2009

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

* *

*

NGUYỄN THỊ THU TRANG

TỤC THỜ THÁNH TAM GIANG Ở VÙNG NGÃ BA XÀ

(Nghiên cứu trường hợp:

làng Đoài, xã Tam Giang, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh

và làng Mai Thượng, xã Mai Đình, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Khóa: 2006 - 2009

Hà Nội - 2009

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3

DANH MỤC BẢNG, BIỂU, HÌNH MINH HỌA 4

MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Mục đích nghiên cứu và đóng góp của Luận văn 6

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 7

5 Cấu trúc của Luận văn 9

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU … 10

1.1 Quan niệm dân gian về tục thờ Thánh Tam Giang……… 10

1.1.1 Khái niệm tín ngưỡng thờ tự nhiên……… 10

1.1.2 Lịch sử hoá thần tự nhiên….……….………… 11

1.1.3 Quan niệm dân gian về tục thờ Thánh Tam Giang ở vùng Ngã Ba Xà……….12

1.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu……… 13

1.3 Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên vùng Ngã Ba Xà……… 17

1.3.1 Vị trí địa lý … ……… 17

1.3.2 Đặc điểm tự nhiên ……… ……… … 19

1.4 Tình hình dân cư và kinh tế, văn hóa, xã hội vùng Ngã Ba Xà.………… 21

1.4.1 Tình hình dân cư và kinh tế- văn hoá- xã hội làng Đoài………21

1.4.2 Tình hình dân cư và kinh tế - văn hoá – xã hội làng Mai Thượng………….24

Tiểu kết chương 1……… 26

Chương 2 QUẦN THỂ DI TÍCH THỜ THÁNH TAM GIANG ………….… 29

2.1 Truyền thuyết, thần tích về Thánh Tam Giang ……… 29

2.1.1 Nội dung (tóm tắt truyền thuyết)………… ………29

2.1.2 Truyền thuyết, thần tích ở làng Đoài 31

2.1.3 Truyền thuyết, thần tích ở làng Mai Thượng 32

2.1.3 Truyền thuyết, thần tích ở các làng ven sông Cầu 33

2.2 Quần thể di tích và vai trò của nó trong tục thờ Thánh……… 36

2.2.1 Quần thể di tích thờ TTG tại làng Đoài 37

2.2.1.1 Đền Xà 38

2.2.1.2 Đình làng 42

Trang 4

2.2.1.3 Miếu thờ Đạm Nương 45

2.2.2 Quần thể di tích thờ TTG ở làng Mai Thượng 46

2.2.2.1 Đền làng Mai Thượng 46

2.2.2.2 Miếu thờ Đạm Nương 49

Tiểu kết chương 2……… 51

Chương 3 PHỤNG THỜ THÁNH TAM GIANG QUA LỄ HỘI VÀ PHONG TỤC 55 3.1 Lễ hội truyền thống và tục thờ Thánh ở làng Đoài ………… ……… 56

3.1.1 Phần chuẩn bị lễ hội 56

3.1.2 Rước nước 57

3.1.3 Chính hội 57

3.2 Lễ hội truyền thống và tục thờ Thánh ở làng Mai Thượng ………… …… 61

3.2.1 Hội tung hoa 61

3.2.2 Hội bơi chải 65

3.3 Lễ hội và phong tục ở một số làng ven sông Cầu……… 71

3.3.1 Hội Kéo co làng Hữu Chấp……… ……… 71

3.3.2 Hội vật cầu làng Vân……… 75

3.3.3 Lễ tắm phỗng làng Châm Khê……….77

3.4 Một số thay đổi trong lễ hội và phong tục của cư dân vùng Ngã Ba Xà… 80 Tiểu kết chương 3……… 88

Chương 4 GIÁ TRỊ VĂN HÓA – LỊCH SỬ CỦA TỤC THỜ TTG ………90

4.1 Giá trị văn hóa của tục thờ TTG……….……… 90

4.1.1 Vai trò của tục thờ TTG đối với đời sống cư dân……….90

4.1.2 Giá trị văn hoá, thẩm mỹ……… 92

4.2 Giá trị lịch sử của tục thờ TTG……… … 95

4.3 Bảo tồn và phát huy tục thờ trong đời sống đương đại ……… 97

Tiểu kết chương 4……… 101

KẾT LUẬN ……… 103

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 106

DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI CUNG CẤP TƯ LIỆU……… …… 110

PHỤ LỤC ……… 113

Trang 5

6 VHDT : Văn hóa dân tộc

7 VHNT : Văn hoá Nghệ thuật

Trang 6

DANH MỤC BẢNG, BIẾU, HÌNH MINH HỌA

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Vào những năm gần đây, cùng với sự đổi mới của đất nước, các sinh hoạt tín ngưỡng dân gian truyền thống đã được phục hồi và phát triển khá mạnh Một

trong số đó phải kể đến sự xuất hiện trở lại của các loại hình tín ngưỡng như tín

ngưỡng Thờ Mẫu, nổi bật nhất là các hiện tượng đi cầu mẫu tại các đền, phủ Tín ngưỡng phồn thực biểu hiện rõ là các nghi thức phồn thực trong lễ hội truyền

thống ở một số làng như làng Vân Sa, làng Sơn Đồng (thuộc tỉnh Hà Tây cũ),

làng Quang Lang (Thái Bình) Tín ngưỡng thờ Tản Viên ở một số làng thuộc

vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ như làng Vân Gia (Hà Tây cũ), làng Ngọc

Khám (Bắc Ninh) Tín ngưỡng thờ Thánh Chử Đồng Tử được phát triển mạnh ở

các làng Đa Hoà (Hưng Yên), làng Chử Xá (Hà Nội), làng Ô Mễ (Thái Bình) Tuy nhiên, hiện tượng này đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cho các cấp, các ngành

từ trung ương đến địa phương

Có thể ghi nhận một thực tế rằng đã có nhiều người nghiên cứu về tín ngưỡng dân gian, về biến đổi văn hoá nhưng chưa có ai nghiên cứu sâu về hiện tượng thờ TTG không chỉ trong quá khứ, hiện tại mà cả sự nguyên dạng và biến đổi của loại hình tín ngưỡng dân gian này

Ý tưởng thực hiện đề tài này của tôi xuất hiện khá tình cờ Trong thời gian được tham gia vào dự án Bảo tồn và phát huy di sản văn hoá Phi vật thể các dân tộc ở Việt Nam, và dự án “Xây dựng hồ sơ văn hoá Quan họ Bắc Ninh trình UNESCO” (2005-2007), tôi được trực tiếp đi khảo sát 22 làng quan họ cổ và một

số làng ở vùng Bắc Ninh, Bắc Giang Tôi nhận thấy hầu hết các làng có tục hát quan họ đều gần sông Cầu hoặc nằm ở nhánh sông Cầu, và 80% các làng chúng tôi khảo sát đều thờ Thánh Tam Giang Hiện tượng thờ Thánh Tam Giang khá dày đặc ở vùng ven sông Cầu Theo thống kê của nhà nghiên cứu Trần Quốc

Trang 8

Thịnh [30, tr.42] có tới 315 làng quanh vùng sông Cầu thờ thánh Tam Giang

GS Ngô Đức Thịnh cũng cho rằng: Thần sông nổi tiếng nhất là Trương Hống, Trương Hát được thờ ở 316 làng dọc sông Như Nguyệt (tức sông Cầu) [27, tr 707]

Hiện tượng văn hoá dân gian này đã được đề cập một phần trong tham luận “Tục thờ Thánh Tam Giang và sinh hoạt quan họ” tại Hội thảo quốc tế “Bảo tồn và phát huy dân ca trong xã hội đương đại” Nhưng đến nay, điều mà tôi đặc biệt quan tâm và muốn tìm lời giải đáp là: Hiện tượng thờ Thánh Tam Giang có

từ bao giờ? Nó được hình thành bởi những yếu tố nào? Tại sao hiện tượng thờ Thánh Tam Giang lại dày đặc ở vùng ven sông Cầu? Bản chất của loại hình tín ngưỡng này là gì? Giá trị văn hoá, lịch sử của tín ngưỡng này đối với đời sống tinh thần của các nhóm cư dân? Môi trường tự nhiên – kinh tế- xã hội ảnh hưởng như thế nào đối với truyền thống và biến đổi của loại hình tín ngưỡng thờ Thánh? Những giải pháp nào là hợp lý, cần thiết cho chiến lược phát triển bền vững của văn hoá làng

Từ những yêu cầu cấp thiết cả trên phương diện thực tiễn và lý luận trong việc nghiên cứu hiện tượng thờ Thánh Tam Giang, với một niềm say mê tìm hiểu, khám phá và mối quan tâm nghiên cứu của bản thân đã là lý do chính cho

tôi chọn vấn đề Tục thờ Thánh Tam Giang ở vùng Ngã Ba Xà làm đề tài

nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu và đóng góp của Luận văn

- Xem xét một cách hệ thống các khía cạnh thần tích, truyền thuyết, đền thờ, các lễ hội và nghi lễ thờ cúng trong mối quan hệ với môi trường sinh thái nhân văn

Trang 9

- Nghiên cứu tục thờ Thánh Tam Giang để tìm bản chất, sự hình thành và phát triển của tục thờ trong quá trình phát triển tộc người Việt nói chung và cư dân Bắc Ninh – Bắc Giang nói riêng

- Tìm hiểu giá trị lịch sử, văn hoá của tục thờ TTG đối với đời sống văn hóa tinh thần của cư dân Ngã Ba Xà

- Tập hợp, hệ thống hoá những tài liệu thu được và kết quả nghiên cứu về hiện tượng thờ Thánh Tam Giang từ trước tới nay, đồng thời góp thêm tư liệu cho những nghiên cứu tiếp theo về đề tài này

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Vì Thánh Tam Giang được phụng thờ ở nhiều nơi khác nhau, với các nghi thức, nghi lễ khác nhau1 Cho nên, Luận văn này chỉ khuôn lại trong phạm vi hai làng khá tiêu biểu cho vấn đề này Đó là làng Đoài (xã Tam Giang, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh) và làng Mai Thượng (xã Mai Đình, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang) Đây là hai ngôi làng đối diện nhau, một làng thuộc bờ bắc Ngã Ba

Xà, một làng thuộc bờ nam Ngã Ba Xà Hai làng cùng thờ Thánh Tam Giang và

có nhiều nghi thức, nghi lễ liên quan mật thiết với nhau

Phạm vi vấn đề nghiên cứu được chúng tôi tập trung tìm hiểu trên các mặt:

từ truyền thuyết đến di tích, lễ hội và phong tục thờ cúng trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên – kinh tế - xã hội đã sản sinh và nuôi dưỡng nó Chúng tôi cũng đặc biệt chú trọng điều tra và trình bày tục thờ Thánh Tam Giang tiêu biểu

ở một số địa phương, với mong muốn thấy được những nét chung cũng như sắc thái địa phương của tín ngưỡng này

1

Theo thống kê của chúng tôi (tham khảo phụ lục 1), hiện nay, chỉ riêng hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang đã có 118 làng thờ TTG.

Trang 10

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Các nguồn tư liệu được sử dụng trong luận văn bao gồm:

 Thứ nhất, tư liệu điền dã dân tộc học Đó là các biên bản phỏng vấn sâu, bảng hỏi, các ghi chép, ảnh… được ghi chụp tại địa bàn nghiên cứu Các bảng biểu thống kê, các báo cáo, tài liệu sưu tầm do Sở Văn hóa Thể thao và Du Lịch tỉnh Bắc Ninh, Sở VHTT và DL tỉnh Bắc Giang, UBND xã Tam Giang, UBND xã Mai Đình và một số cá nhân cung cấp

 Thứ hai, các loại tài liệu bao gồm: sách, luận án, chuyên khảo, bài nghiên cứu từ tạp chí, các website về chủ đề có liên quan

Trong đó, nguồn tư liệu điền đã đóng vai trò quan trọng nhất được tác giả thu thập từ khảo sát và nghiên cứu trên thực địa

4.2 Với nội dung nghiên cứu như trên, chúng tôi sử dụng các phương pháp chính như sau:

* Phân tích tư liệu sẵn có: Đây là phương pháp quan trọng trong nghiên cứu này Nó cho phép tổng hợp những thông tin từ những người nghiên cứu

đi trước, phân tích các văn bản thu thập được trong quá trình nghiên cứu

* Phỏng vấn định tính: Đây là phương pháp nghiên cứu chủ yếu trong quá trình điền dã dân tộc học nhằm ghi nhận các ý kiến, các câu chuyện của bản thân những người quan sát và tham gia lễ hội Các cuộc phỏng vấn định tính (hay còn gọi là phỏng vấn sâu) cũng được sử dụng để thu thập các thông tin chung liên quan đến các vấn đề lịch sử của làng, những nghi lễ liên quan đến tục thờ Thánh

* Phỏng vấn định lượng: Chúng tôi thiết kế bảng hỏi gồm 50 câu hỏi về đời sống, văn hóa, tín ngưỡng, phong tục tập quán…của cư dân vùng Ngã Ba

Trang 11

vấn theo bảng hỏi, mỗi làng 100 hộ Sự phân tích định lượng của tôi ở luận văn chủ yếu dựa trên số lượng phiếu này

* Phương pháp quan sát tham dự và phương pháp không tham dự: được chúng tôi sử dụng đối với diễn trình lễ hội và các cuộc họp liên quan đến lễ

hội diễn ra trong vùng Với cả hai phương pháp này, tôi đều ghi chép điền dã

dân tộc học chi tiết và tại chỗ Thông qua quá trình tham dự của tôi vào sự

kiện lễ hội này – chia sẻ cùng với những chủ thể văn hóa khác những trải nghiệm, sự mệt mỏi về thể chất trong lúc cùng đoàn đi rước nước cũng như

những niềm vui và phấn khởi về tinh thần – tôi đã cố gắng dấn thân, tham dự

để đạt được cái nhìn từ bên trong mà cố GS Trần Quốc Vượng đã gợi ý

* Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp phân tích, đối chiếu, tổng hợp và so sánh để đạt hiệu quả tối ưu trong nghiên cứu

6 Cấu trúc của Luận văn

Luận văn gồm 2 phần: chính văn và phụ lục Phần chính văn gồm 101 trang với Mở đầu ( 5 trang), Kết luận (3 trang) và Tài liệu tham khảo ( 4 trang) Nội dung Luận văn gồm (89 trang) chia thành 4 chương:

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU (18 trang)

Chương 2 QUẦN THỂ DI TÍCH THỜ THÁNH TAM GIANG (25 trang)

Chương 3 PHỤNG THỜ THÁNH TAM GIANG QUA LỄ HỘI VÀ PHONG TỤC (34 trang)

Chương 4 GIÁ TRỊ LỊCH SỬ - VĂN HÓA CỦA TỤC THỜ THÁNH TAM GIANG ( 12 trang)

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1.1.Quan niệm dân gian về tục thờ Thánh Tam Giang

1.1.1 Khái niệm tín ngưỡng sùng bái tự nhiên

Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên là gì? Trước hết ta phải đồng ý rằng đây là

một loại hình tín ngưỡng Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, tín ngưỡng là niềm

tin tuyệt đối, không chứng minh (không dựa trên các tài liệu khoa học và thực

tiễn), vào sự tồn tại thực tế của những bản chất siêu nhiên (thần thánh)2 Mỗi tín

đồ của một tôn giáo đều có niềm tin riêng của mình, nghĩa là tin vào một thế giới

siêu linh mà mình tôn thờ Tín ngưỡng không phải là một tôn giáo mà chỉ là một

niềm tin tôn giáo [16, tr.29]

Vậy tín ngưỡng sùng bái tự nhiên có thể hiểu là một hình thái biểu thị đức

tin, niềm tin của con người và của cộng đồng ở một trình độ phát triển xã hội và nhận thức nhất định vào các yếu tố khác nhau của tự nhiên

Viện sĩ Trần Ngọc Thêm cho rằng: Sùng bái tự nhiên là một giai đoạn tất yếu trong quá trình phát triển của con người Với người Việt trồng lúa nước thì

sự gắn bó với tự nhiên là càng lâu dài và bền chặt Việc đồng thời phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau của tự nhiên dẫn đến hậu quả trong lĩnh vực nhận thức là lối tư duy tổng hợp, và trong hình thức tín ngưỡng là tín ngưỡng đa thần [32, tr 132]

Theo Tạ Chí Đại Trường: dấu vết thiên nhiên còn nhiều nên những con vật

ở nước đã trở thành thần nước Rùa thần sẽ có một đại biểu chui vào chuyện xây thành Cổ Loa, những con rắn hoặc còn nguyên vẹn dạng rắn với một vài điểm dị hình hoặc biến thành cái tên truyền kỳ “con thuồng luồng” có tác động nhiều nhất vào mối tin tưởng của người dân [22, tr 385]

Trang 13

Người Việt có câu: Nhất điểu, nhì xà, tam ngư, tứ tượng Nghĩa là Chim,

rắn, cá sấu là những loài động vật phổ biến hơn cả ở vùng sông nước, do vậy, thuộc loại được sùng bái hàng đầu Thiên hướng này còn được đẩy các con vật

lên mức tạo thành hai biểu tượng Tiên- Rồng, trong đó, tiên được trừu tượng hóa

từ giống Chim (cho nên mẹ Âu Cơ đẻ trứng), còn Rồng được trừu tượng hóa từ hai loài bò sát rắn và cá sấu có rất nhiều ở vùng sông nước Đông Nam Á [31, tr71] Như vậy, từ lâu, người Việt đã tin và sùng bái tín ngưỡng tự nhiên, đặc biệt là tín ngưỡng thờ rắn

1.1.2 Lịch sử hóa thần tự nhiên

Theo tư duy nguyên thủy, con người luôn tự coi mình là trung tâm của vũ trụ Con người tạo ra mối quan hệ giữa con người với con người, con người với thế giới tự nhiên Một trong những đặc điểm của tín ngưỡng đa thần là con người luôn biến những lực lượng trong thế giới tự nhiên thành con người Việc “nhân hóa” tất cả những lực lượng tự nhiên như thế là nhằm tăng thêm sự gần gũi, thân thiết giữa thiên nhiên và con người Ngoài ra, tư duy của người Việt Nam xưa là luôn muốn thiêng hóa các vị thần Bằng tấm lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, thái độ uống nước nhớ nguồn, người dân các thế hệ đưa nhiều nhân vật lịch sử, văn hóa của đất nước vào hệ thống các nhân vật được phụng thờ [2, tr 452] Thực chất, đây là một quá trình sáng tạo folklore Khi người dân kê khai thần tích của vị thần làng mình, chính là lúc người dân bắt đầu quá trình sáng tạo này

Để có được quá trình sáng tạo ấy, người dân đã huy động toàn bộ vốn liếng văn hóa mà họ có… và lúc này, thần tích lại bắt đầu một đời sống của nó trong tâm thức dân gian Bởi những bản thần tích ấy đều viết bằng chữ Hán, mà đại đa số

cư dân Việt, thời quân chủ không phải ai cũng biết, cũng đọc được thứ chữ này

Vả chăng, trong con mắt những người dân quê, bản thần tích ấy là vật báu nhà vua ban cho vị Thánh của làng, thành thử nó chứa không ít chất linh thiêng, kì bí

Trang 14

nên được cất giữ cẩn thận Người dân quê chỉ được nghe lại, kể lại từ các ông đồ nho, các nhân vật được xã trao cho quyền cất giữ các thần tích Việc truyền miệng diễn ra, và đương nhiên, quá trình sáng tạo folklore lại bắt đầu Cứ như vậy, qua thời gian, diện mạo của vị thần của làng quê này được hoàn chỉnh, để trở thành vị thánh của cộng đồng trong tâm thức dân gian [2, tr 447-448]

1.1.3 Quan niệm dân gian về Tục thờ Thánh Tam Giang ở vùng Ngã

Ba Xà

Ở Việt Nam, tục thờ thánh Tam Giang ra đời trên nền tảng xã hội nông nghiệp cổ truyền Thánh Tam Giang trở thành thành hoàng của hơn 300 làng vùng sông nước

GS Ngô Đức Thịnh đã nhận xét rằng “Thành hoàng là một hiện tượng văn hóa dân gian tổng thể” và việc thờ cúng thành hoàng, hội làng trở thành biểu tượng của cố kết cộng đồng: từ cộng mệnh đến cộng cảm Và từ góc độ tín

ngưỡng tôn giáo, Giáo sư coi thờ thành hoàng như một tín ngưỡng làng xã nói

riêng và là một biểu hiện đặc trưng của văn hóa nông nghiệp Việt Nam nói chung (27, tr 296)

GS Phan Đại Doãn cũng cho rằng: tín ngưỡng cao nhất trong một làng là

thờ thành hoàng trong đình làng (6, tr 372)

Theo pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Hoạt động tín ngưỡng là “hoạt động thể hiện sự tôn thờ tổ tiên; tưởng niệm và tôn vinh những người có công với nước, với cộng đồng; thờ cúng thần, thánh; biểu tượng có tình truyền thống và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội” [33, tr.8]

Ở Việt Nam, ngay từ đầu, tư tưởng thờ Thánh Tam Giang- vị thần của sông nước- đã thể hiện sự tôn thờ trời đất, giới siêu nhiên và thần thánh Hiện

Trang 15

điện thờ, nghi thức thờ cúng và các trò chơi, trò diễn mang tính nghi lễ Vì thế,

tục thờ thánh Tam Giang chính là một loại hình tín ngưỡng của cư dân nông

nghiệp nói chung và cư dân vùng Ngã Ba Xà nói riêng

1.2.Tổng quan về tình hình nghiên cứu

Nghiên cứu về tín ngưỡng Việt Nam, từ lâu đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như Dân tộc học, Sử học, Xã hội học Các tác phẩm của các nhà khoa học này với nhiều cách tiếp cận khác nhau đã tạo nên một kho tư liệu khá phong phú Về đại thể, có thể chia các công trình nghiên cứu này thành hai nhóm Nhóm thứ nhất là nghiên cứu về tín ngưỡng dân dã và nhóm thứ hai là các công trình nghiên cứu về sự biến đổi của văn hóa nói chung và tín ngưỡng nói riêng

Các công trình nghiên cứu về tín ngưỡng dân gian nói chung và tục thờ TTG nói riêng có từ rất sớm và có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị như các

công trình: Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sỹ Liên soạn năm 1479; Tiếp đó là các cuốn: Lĩnh Nam chích quái của Vũ Quỳnh- Kiều Phú, được soạn năm 1492;

Việt Nam văn hóa sử cương (1938) của Đào Duy Anh Dưới cách tiếp cận sử

học và văn hoá dân gian, các nhà nghiên cứu đi trước đã cung cấp những tư liệu quý giá về truyền thuyết, thần tích cũng như một số tập tục, sinh hoạt văn hoá- tín ngưỡng dân gian của dân tộc

Tình hình nghiên cứu tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam vẫn tiếp tục được duy trì một cách khá đều đặn trong những năm tiếp theo Nhưng phải đến sau

1986 việc nghiên cứu này mới thực sự khởi sắc và có bước phát triển rõ rệt khi

mà những bí ẩn của cõi tâm linh được chú ý nhiều Từ những biểu hiện cụ thể của nghi lễ, của phong tục, của lễ hội diễn ra thường xuyên trong giai đoạn này, các nhà khoa học đã cố công tìm hiểu, nghiên cứu và giải mã niềm tin sâu xa mà con người gửi gắm trong tín ngưỡng để cho ra đời hàng loạt những công trình,

Trang 16

những bài viết giá trị về tín ngưỡng dân gian như: Tín ngưỡng làng xã (Vũ Ngọc Khánh, 1993), Tín ngưỡng thành hoàng Việt Nam (Nguyễn Duy Hinh, 1996), Từ

điển lễ tục Việt Nam (Bùi Xuân Mỹ, Bùi Thiết và Phạm Minh Thảo, 1996), Về tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam hiện nay (Đặng Nghiêm Vạn chủ biên, 1996), Tiếp cận tín ngưỡng dân dã Việt Nam của Nguyễn Minh San (1998); Từ cái nhìn văn hoá của Đỗ Lai Thuý; Văn hoá Việt Nam- tìm tòi và suy ngẫm của cố Gs Trần

Quốc Vượng; Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam (Nhiều tác giả; 2000); Tín

ngưỡng thờ Thành hoàng của người Việt ở châu thổ Bắc Bộ (Vũ Ngọc Khánh

chủ biên, 2000), Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam (Nguyễn Đăng Duy, 2001); Từ điển Việt Nam văn hoá tín ngưỡng phong tục (Vũ Ngọc Khánh, Phạm Minh Thảo, 2005) và đặc biệt là cuốn Tín ngưỡng và văn hoá tín ngưỡng ở

Việt Nam của GS Ngô Đức Thịnh (2001) Tác giả đã đưa ra một nghiên cứu toàn

diện và sâu sắc về tín ngưỡng thành hoàng Tác giả đã tiếp cận vấn đề từ góc độ tín ngưỡng tôn giáo, coi thờ thành hoàng như một tín ngưỡng làng xã nói riêng

và là một biểu hiện đặc trưng của văn hóa nông nghiệp Việt Nam GS Thịnh đã

nhận xét rằng thành hoàng là một hiện tượng văn hóa dân gian tổng thể và

việc thờ cúng thành hoàng, hội làng trở thành biểu tượng của cố kết cộng đồng:

từ cộng mệnh đến cộng cảm [26, tr 296)

Ngoài ra, không thể không kể đến cuốn Thần, người và đất Việt của Tạ

Chí Đại Trường (2006- tái bản) Những thông tin của cuốn sách rất có giá trị với

tôi khi nghiên cứu về TTG Tác giả chỉ ra rằng: Thứ nhất, Trương Hống, Trương Hát là hai thần sông Thứ hai, anh em Trương Hống, Trương Hát là nhiên thần, sau bị nhân hóa thành Nhân thần Thứ ba, từ phân tích nghiên cứu các tài liệu

Trang 17

nghiên cứu đến các sự kiện lịch sử tác giả đi đến nhận định rằng: hiện tượng thờ TTG đã có từ rất sớm3

[35, tr.51]

Phát triển là quy luật tất yếu của bất cứ xã hội nào và có phát triển tất phải

có những biến đổi, trong đó sự biến đổi được nhiều nhà nghiên cứu, đặc biệt là các nhà nhân học văn hoá quan tâm là biến đổi văn hoá Lý thuyết về biến đổi

văn hoá đã được đề cập khá sớm như Thuyết Truyền bá văn hoá (đại diện là

G.Elliot Smit 1911), Thuyết Tiếp biến văn hoá (đại diện là Redfield 1934, Broom 1954… chỉ ra sự biến đổi văn hoá trong bối cảnh những xã hội Phương tây và ngoài Phương Tây, đặc biệt là sự ảnh hưởng của những xã hội có ưu thế đối với người dân bản địa [3] … Nghiên cứu về Việt Nam trong sự biến đổi văn

hoá phải kể đến các công trình như: Sự biến đổi của làng xã Việt Nam ngày nay

ở đồng bằng sông Hồng (Tô Duy hợp chủ biên, 2000); Làng ở vùng châu thổ sông Hồng: vấn đề còn bỏ ngỏ (Philippe Papin- Olivier Tessier chủ biên, 2002);

cuốn Cuộc cách mạng ở làng: truyền thống và biến đổi ở miền Bắc Việt Nam

(Lương Văn Hy, 1992); Lương Văn Hy đã tập trung nghiên cứu Việt Nam thời

kỳ sau đổi mới, và ông giành thời gian nghiên cứu viêc “Cải cách kinh tế và tăng

cường nghi lễ tại hai làng ở miền Bắc Việt Nam” [3] Trong cuốn Đối mặt tương

lai, hồi sinh quá khứ (John Kleinen; 2007) thì theo tác giả, sự cải cách kinh tế,

nâng cao đời sống của người nông dân đã là nguyên nhân quan trọng để các lễ nghi được tăng cường: các lễ nghi cũ được khôi phục, các lễ nghi mới được cập nhật và sáng tạo… Tác giả cũng đề cập đến sự thay đổi lễ nghi kéo theo những thay đổi không nhỏ trong đời sống cộng đồng làng: mâu thuẫn giữa các thế hệ, ảnh hưởng tới dư luận cộng đồng, sức ép cộng đồng và cả những quy định của chính sách đối với việc thực hành lễ nghi

3 Ý kiến này của Tạ Chí Đại Trường ngược với ý kiến của một số nhà nghiên cứu khác như Lê Viết Nga, Lê Danh Khiêm (Xem chi tiết tại tr 382 cuốn Lễ hội Bắc Ninh)

Trang 18

Nhắc đến những nghiên cứu về thay đổi các nghi lễ, tín ngưỡng không thể

không nhắc đến cuốn Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại (Đinh Gia Khánh, 1993) Sự tác động của kinh tế thị trường vào lễ hội tín ngưỡng (Lê Hồng Lý, 2008) và công trình nghiên cứu cấp Bộ: Biến đổi văn hoá ở một số

làng ở Bắc Bộ trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Nguyễn Thị

Phương Châm Các tác giả đã cung cấp những cứ liệu, những dẫn chứng hữu ích cho các nhà nghiên cứu về sự phát triển khá đa dạng, phức tạp của văn hóa làng

xã Việt Nam trong truyền thống và trong giai đoạn hiện nay Các tác giả đã phân tích hai tiền đề của sự phát triển trở lại của lễ hội trong những năm gần đây: thứ nhất là kết quả từ chính sách Đổi mới đã đem lại điều kiện vật chất, thứ hai là

“sự phát huy của nền dân chủ đang được đẩy mạnh” GS Khánh đã chỉ ra rằng: những biến đổi trong đời sống xã hội theo hướng kinh tế thị trường đã gây ra sự đảo lộn trong một số mối quan hệ xã hội, thậm chí dẫn đến những khủng hoảng

về tâm lý xã hội Chính vì vậy, theo ông, lễ hội là một trong những giải pháp mà nhân dân muốn đi tìm để truy cầu một đời sống tinh thần ổn định hơn, một sự thăng bằng xã hội tốt hơn trong tình trạng lộn xộn hiện nay [9, tr.26] Từ kết quả nghiên cứu sự biến đổi văn hóa tại trường hợp ba làng: Đồng Kỵ, Trang Liệt và Đình Bảng, TS Châm nhận xét rằng: hai động lực chi phối toàn bộ quá trình phục hồi và tái cấu trúc của văn hóa truyền thống ở các làng hiện nay là lợi ích

và thể diện xu hướng trỗi dậy mạnh mẽ của văn hóa tâm linh ở ba làng quê này

đã khiến các giá trị văn hóa truyền thống biến đổi, thậm chí rạn vỡ để hình thành nên các giá trị mới đáp ứng nhu cầu đa dạng của dân làng thời hiện đại Nhưng cũng chính những xu hướng này lại chứng minh sự tồn tại bền bỉ của nhiều giá trị văn hóa truyền thống [3, tr218]

Trên cơ sở kế thừa kết quả của các công trình nghiên cứu về những vấn đề

Trang 19

các công trình, trong luận văn này, chúng tôi muốn áp dụng phương pháp địa –

văn hóa với mong muốn có được cái nhìn tổng thể (chữ của GS Trần Quốc

Vượng) về đặc trưng, biểu hiện của hiện tượng thờ TTG cũng như sự vận động của nó trong mối quan hệ với môi trường sinh thái, nhân văn đặc thù của người Việt vùng dọc sông Cầu nói chung và cư dân vùng Ngã Ba Xà nói riêng

1.3 Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên vùng Ngã Ba Xà

1.3.1 Vị trí địa lý

Ngã Ba Xà là ngã ba sông, nơi tiếp giáp giữa sông Cà Lồ và sông Cầu Sông Cầu đổ nước ra Đu Đuổm ( Thái Nguyên) đến địa phận thuộc 3 tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang và Hà Nội thì được dòng sông Cà Lồ đổ vào hợp lưu Sông Cầu

ở ngã ba này có độ rộng trên dưới 200m Bờ sông bên lở, bên bồi, dòng nước chảy chầm tạo nên một khung cảnh bình yên của vùng quê thôn dã Sông Cà Lô chảy qua địa phận Sóc Sơn rồi đổ ra sông Cầu, lòng sông rộng khoảng 60m Hai dòng sông này hợp lưu tại một điểm là Ngã Ba Xà, nước được hòa vào nhau nhưng có điều thú vị là nước của sông Cầu trong, xanh còn nước của sông Cà Lồ lại vẩn đục, tạo ra dòng nước chảy bên trong bên đục Vị trí đặc biệt mà Ngã Ba

Xà4 có là: một tiếng gà gáy, ba tỉnh cùng nghe

Để đánh dấu Ngã Ba Xà, người dân trong vùng đã trồng một cây gạo ngay bên mép sông để khi đi xa, về gần, người ta nhìn thấy nó lại nhớ về cội nguồn Theo lời các cụ già trong làng kể: Ngã ba xà khi xưa nằm ngay sát đền Xà, và sông lúc đó rộng 2- 3km Ngã Ba Xà được người dân trong vùng ghi nhớ như một địa danh gắn liền mật thiết với di tích đền Xà Nơi đây cũng được nhắc đến

mỗi khi người dân nói về bài thơ Thần của Lý Thường Kiệt Mặc dù trải qua

hàng ngàn năm, nơi đây có sự biển đổi khá lớn, ngã ba sông được đẩy lùi ra xa cách đền xã khoảng 1,4km Quá trình biến đổi đó đến nay vẫn còn dấu tích để

4

Xem hình minh hoạ tại phụ lục 2

Trang 20

lại, đú là quy luật bồi tụ “Phự Lam Sơn”; nghĩa là bờn phớa trước đền Xà là bồi

tụ, cũn bờn bờ bắc thuộc địa phận xó Mai đỡnh, Bắc Giang là bờn lở

Hiện nay, bờ nam Ngó Ba Xà, tức bờn bồi tụ là địa phận xó Tam Giang, trong đú làng Đoài là một làng cổ nằm ngay ven sụng Cầu Địa bàn dõn cư giống như giống như một hỡnh thang, đỏy nhỏ nằm ở phớa Nam, đỏy lớn nằm ở phớa Bắc, giữa làng là một sống đất rất cao và thấp dần về hai bờn, chiều ngang của làng uốn lượn theo hỡnh con rắn Thời xưa (từ nhà Lý trở về trước) làng chưa cú

đờ, chỗ Ngó Ba Xà lại là cửa sụng Cà Lồ, hàng năm nước tràn về đem theo phự

sa của hai con sụng bồi trỳc Đất đai phỡ nhiờu, màu mỡ Giao thụng thuỷ bộ thuận tiện, tạo điều kiện lờn ngược xuống xuụi Quanh vựng, theo bỏn kớnh từ 5-10km cú nhiều chợ như chợ Nỳi, chợ Chờ, chợ Đụng Xuyờn, chợ Sọ, chợ Chàng… Lại gần cỏc thị trấn như Từ Sơn, Đa Phỳc, gần thị xó Đỏp Cầu và đường ra Hà Nội cũng khụng xa Làng Đoài đó ở vào vị trớ hội tụ đủ “cận thị, cận giang và cận lộ” Nhờ vị trớ này mà thời xưa, làng cú điều kiện phỏt triển nghề ộp dầu, nghề làm bỏnh đa, bỏn gạo cho cỏc làng buụn ở Đỏp Cầu rất phỏt đạt

Bờn bờ bắc Ngó Ba Xà là làng Mai Thượng, xó Mai Đỡnh, huyện Hiệp Hoà Làng Mai Thượng nằm ở ngoài đờ, được con sụng Cầu chảy bao quanh ba mặt Đụng, Tõy và Nam của làng Bờn kia sụng về hướng Tõy là đất Súc Sơn, Hà Nội Hướng Đụng và hướng Nam giỏp huyện Yờn Phong thuộc tỉnh Bắc Ninh Phớa Đụng Bắc làng giỏp với thụn Vọng Giang ( xó Mai Đỡnh) Vị trớ này của làng rất thuận lợi giao thụng đường thủy trong thời chiến và thời bỡnh5

Hơn nữa,

5

Sách Đại c-ơng lịch sử Việt Nam có ghi: “Ng¯y 18/01/1077, đại quân Quách Quỳ đến

bờ Bắc của đoạn đầu sông Nh- Nguyệt, đối diện với bến đò Nh- Nguyệt, bên kia là đ-ờng cái lớn về Thăng Long Địch muốn hành quân tiếp nh-ng tr-ớc mặt là dòng Nh- Nguyệt và chiến tuyến của ta ở bờ Nam Quách Quỳ định tổ chức v-ợt sông, tấn công quân ta tiến thẳng về Thăng Long nh- theo kế hoạch dự định Nh-ng thuỷ quân địch bặt hẳn tăm tích Quách Quỳ

Trang 21

đõy cũn là đại bàn cơ động thuận lợi cho phỏt triển kinh tế và giao lưu văn hoỏ Trong chiến tranh, Ngó Ba Xà là địa bàn trọng yếu, là vị trớ đầu cầu mà mỗi bờn tham chiến đều muốn giành và giữ

1.3.2 Đặc điểm tự nhiờn

Về địa thế của 3 vựng này cú sự khỏc biệt rừ rệt: ở Súc Sơn và Bắc Giang

cú địa thế tương đối bằng Ở ven sụng, cơ tầng đất của hai vựng cũng tương đối bằng nhau, đều là đất thú đỏ, cú nơi cao tới 6m, phớa trờn bề mặt cú một lớp đất thịt sõu khoảng 40cm, khụng cú phự sa bồi tụ Đồng thời cũng chớnh là hai bờn

lở Địa thế đất của bờn đền Xà Bắc Ninh thỡ hoàn toàn ngược lại, cơ tầng đất hoàn toàn khỏc do được bồi đắp của phự sa sụng, lớp trờn cựng cú độ dày phự sa

là 40cm, phớa dưới là tầng đất thịt pha cỏt cú độ sõu khoảng 3,2m Đõy chớnh là vựng cú địa hỡnh thấp Toàn bộ khu vực từ đền Xà trở ra Ngó Ba Xà hiện nay đều do quỏ trỡnh bồi đắp phự sa mà ra

Do địa thế, địa hỡnh và cơ tầng đất của ba vựng khỏc nhau như vậy nờn cõy trồng ở đõy cũng cú sự khỏc nhau Phớa bờn địa phận Bắc Ninh và Bắc Giang chủ yếu là trồng lạc, dõu, lỳa Phớa địa phận Súc Sơn, cư dõn trồng tre chắn súng

và định cư lập ấp, lập làng ngay cạnh hai bờ sụng này Hiện nay, ở Ngó Ba Xà cú

3 bến đũ trờn địa phận của 3 địa phương: Bắc Ninh, Bắc Giang và Súc Sơn Đõy cũng là nột độc đỏo mà chỉ cú Ngó ba Xà mới cú

Bờn bờ Nam Ngó Ba Xà là địa phận làng Đoài, xó Tam Giang Tổng diện tớch tự nhiờn của xó hiện nay là 864,8 ha, trong số đú cú 520ha là đất nụng nghiệp, 30,44 ha đất mặt nước, số cũn lại là đất thổ cư và đất chuyờn dụng Tam Giang cũng là địa bàn tương đối thuận lợi, cú vị thế tiềm năng để phỏt triển kinh

trận tuyến dài mà chúng đánh thành từng khối ở những vị trí xung yếu nhất là những bến đò, những con đ-ờng thuận lợi tiến về Thăng Long Một bộ phận quan trọng quân Tống do phó t-ớng Triệu Tiết chỉ huy đóng ở bờ bắc bến đò Nh- Nguyệt vùng thôn Mai Th-ợng, xã Mai

Đình, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Hà Bắc [22 Tr.158]

Trang 22

tế, giao thương giữa các vùng Đường giao thông quan trọng nhất là tuyến đường trục nối liền trung tâm xã đi qua thị trấn Chờ dài 5km Hệ thống đường xương cá cũng được bê tông hóa, hoàn thiện tới từng làng xóm Hệ thống đường thuỷ cũng rất thuận tiện, hệ thống sông Cầu, sông Cà Lồ là mạch nối thông thương, giao lưu kinh tế với các vùng trung tâm kinh tế lớn ở Bắc Ninh, Thái Nguyên, Hà Nội…

Bên bờ bắc Ngã Ba Xà là làng Mai Thượng, xã Mai Đình, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang Từ ngàn xưa, làng Mai đã được dòng sông thơ mộng này bồi đắp tạo nên những lớp phù sa màu mỡ cho soi bãi ven sông, làm tăng thêm cảnh quan trù phú của làng Tuy nhiên, vào mùa mưa, con sông Cầu cũng là nguyen nhân dâng nước, gây ra ngập lụt cho làng

Mạng lưới giao thông thuỷ bộ của làng Mai Thượng khá thuận tiện Về đường bộ thì từ làng theo đường liên xã 15 km là đến thị trấn Thắng Về đường thuỷ, với bến đò Tiếu có thể dễ dàng liên hệ với Thái Nguyên, Đáp Cầu, Phả Lại

và xa hơn nữa

Đường bộ và đường sông của làng Mai Thượng tuy có thuận lợi, nhưng rơi vào vị trí ven rìa và chuyển tiếp so với trục chính Do đó, tuy là vùng có vị trí chiến lược quan trọng, song đây chưa phải là vùng đất mở đối với các luồng văn hoá và kinh tế trong khu vực

Với một vị trí địa lý và thiên nhiên đa dạng như vậy, Ngã Ba Xà có tất cả thuận lợi và khó khăn Có thể coi đây là một đặc thù để tạo ra những dáng vẻ riêng về các lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hoá của một vùng, cũng như tạo nên những tính cách và phẩm chất đặc biệt của cư dân Ngã Ba Xà trong quá trình dựng nước và giữ nước

Trang 23

1.4 Tình hình dân cư và kinh tế- văn hóa- xã hội vùng Ngã Ba Xà

1.4.1.Tình hình dân cư và kinh tế- văn hóa- xã hội làng Đoài, xã Tam Giang

Nằm trong vùng cửa sông, nơi hợp lưu của hai dòng sông cổ là Sông Cà

Lồ và sông Nguyệt Đức (sông Cầu), Tam Giang là vùng đất được thiên nhiên ưu đãi, thuận lợi giao thông thuỷ, bộ Từ thời đại Hùng Vương dựng nước, các nhóm cư dân Việt cổ đã sinh sống tại vùng đất Yên Phong, lập nên nhiều xóm làng xung quanh vùng chân núi Thất Diệu, vùng ven sông Như Nguyệt (sông Cầu), sông Ngũ Huyện Khê và sông Cà Lồ Theo các cứ liệu lịch sử, họ là những

bộ tộc, bộ lạc thuộc bộ Vũ Ninh, quốc gia Văn Lang Thời thuộc Hán, vùng đất Yên Phong nằm trong huyện Long Biên, quận Giao Chỉ Trong suốt chiều dài lịch sử, Tam Giang là một địa bàn có vị trí quan trọng trong chiến lược phòng thủ quốc gia, chống lại các đạo quân xâm lược phương Bắc Đây là nơi quan yếu trên phòng tuyến sông Như Nguyệt thời Lý, Trần

Địa bàn Tam Giang còn đóng vai trò là một trung tâm kinh tế - chính trị quan trọng thời phong kiến Việt Nam Theo các nguồn sử liệu cổ sử từ thời Trần – Lê, trải qua mấy trăm năm, xã Hương La (Tam Giang) được chọn là nơi đóng trụ sở của huyện Yên Phong, đến năm Gia Long thứ nhất (1802) trị sở của huyện Yên Phong mới chuyển về Đông Yên (xã Đông Phong)

Đối với cư dân nông nghiệp nói chung và cư dân của xã Tam Giang nói riêng, đất trồng trọt là yếu tố quan trọng nhất trong đời sống kinh tế Tổng diện tích đất canh tác của xã có 520 ha, chủ yếu là diện tích đất ruộng hai vụ, chất lượng đất đồng ruộng theo đánh giá của người dân trong vùng thuộc loại

“thượng đẳng điền”, “bờ xôi ruộng mật” rất thuận lợi trong việc canh tác lúa nước Thôn Đoài là khu vực nằm ngoài đê nên phần lớn diện tích canh tác chịu ảnh hưởng trực tiếp của thời tiết, khí hậu nhiệt đới gió mùa, thường xuyên bị ngập úng, lũ lụt trong mùa mưa Trước đây, đất thôn Đoài chỉ canh tác một vụ

Trang 24

trong năm Hiện nay, công cuộc chuyển đổi giống cây trồng đã đưa người dân thôn Đoài thoát khỏi sự bất lợi trong canh tác Năm 2008, tổng diện tích gieo trồng của xã đạt 1.184,38ha, hệ số sử dụng đất là 2,34 lần Trong đó, diện tích trồng lúa cả năm là 960 ha, diện tích đất trồng màu cả năm là 128,38 ha, trong đó

vụ xuân có 22,18 ha, vụ hè có 17,2 ha và vụ đông là 89 ha Có một nghịch lý là trong 3 năm trở lại đây, diện tích trồng lúa liên tục giảm6

nhưng năng suất lúa bình quân của xã liên tục tăng, cho thấy hiệu suất sử dụng đất ở đây rất cao

Bên cạnh kinh tế nông nghiệp, người dân Tam Giang còn có những hoạt động kinh tế phụ trợ, cải thiện đời sống hộ gia đình như nghề mộc và xây dựng Phần lớn những nghề này do người dân đi ra ngoài xã, học nghề và về hoạt động tại làng Hiện nay làng có khoảng gần 20 người biết nghề mộc, trong đó có 2 hộ

mở xưởng mộc, thu hút nhân lực đến làm; khoảng 50 thợ xây vững tay nghề, thường được mời đi làm ăn tại nhiều địa phương trong và ngoài huyện Các hoạt động dịch vụ như mộc, nề, sắt vụn, hàng quán nhỏ và các ngành nghề cơ khí, vận tải có bước phát triển khá, thường xuyên thu hút khoảng 2000 – 2200 lao động Tổng thu nhập từ nguồn này ước đạt 11.000 triệu đồng Hầu hết các hộ trong làng đều có điều kiện tiếp xúc với các phương tiện hiện đại như tivi, rađiô, điện thoại, đồ điện tử, phương tiện đi lại gắn máy…

Nhìn chung, trong những năm gần đây, đặc biệt là giai đoạn từ sau đổi mới, đời sống kinh tế của người dân Tam Giang có những bước tiến đáng kể Đời sống nhân dân được nâng cao rõ rệt Hệ thống điện, đường, trạm được củng

cố hoàn thiện đến từng hộ dân, hệ thống trường học và giảng dạy cũng được quan tâm đầu tư góp phần đảm bảo cho người dân ngày càng tranh thủ được

Trang 25

những lợi ích từ phúc lợi xã hội Chất lượng dân cư cũng ngày càng được nâng cao tỉ lệ thuận với sự phát triển về kinh tế

Đời sống văn hoá -xã hội

Là một khu vực đồng bằng nằm trong vùng văn hoá của người Việt cổ, các cộng đồng dân cư ở Tam Giang hội đủ những yếu tố văn hoá của những ngôi làng cổ vùng đồng bằng Bắc bộ châu thổ sông Hồng Đối với mỗi người dân, quê hương, bản quán có ý nghĩa đặc biệt Nó không chỉ là nơi sinh thành, nuôi dưỡng

mà còn là nơi nguồn cội, dòng tộc phát tích, là nơi họ mong muốn được gửi thân khi hết số, về cõi vĩnh hằng

Trong quan hệ xã hội, người dân thường cố kết với nhau dưới danh nghĩa

“làng” “Người làng” là đối tượng rất quan trọng, đặc biệt là đối với những người ly hương, khi ấy, “người làng” là những mắt xích để kết nối chuỗi văn hoá

đã thấm đẫm vào mỗi con người từ khi sinh ra Đó cũng chính là những mắt lưới trong mạng lưới xã hội của mỗi thành viên trong cộng đồng Sự đối đãi giữa các thành viên trong cộng đồng làng bị chi phối bởi nhiều yếu tố như tính cố kết trong quan niệm xã hội, giá trị đạo đức truyền thống, những ràng buộc về dòng tộc hay mạng lưới thân tộc… khiến cho quan hệ này bền chặt hơn

Hẹp hơn mối quan hệ “làng” là quan hệ “dòng họ” Dòng họ là tập hợp những người có quan hệ huyết thống với nhau Nếu như quan hệ “làng” có tổ chức chính quyền, có các chức sắc cai quản thì dòng họ cũng vậy, nó cũng có người cầm đầu và những quy định, chế tài riêng cho các thành viên trực thuộc Mỗi dòng họ ở Tam Giang đều được tổ chức thành một tập hợp cố kết mà biểu tượng chung nhất là ngôi nhà thờ họ Có thể kể đến một số dòng họ như họ Ngô,

họ Chu ở làng Vọng Nguyệt, họ Lê Hữu, Lê Duy ở làng Đoài, họ Lê Đắc, Lê Danh, Lê Duy ở làng Đông… Tổ chức dòng họ ở Tam Giang tương đối chặt chẽ,

Trang 26

có những quỹ tài sản chung, việc quản lý còn được phân xuống từng chi họ ở các xóm, cụm dân cư trong làng

Nhìn chung, đời sống xã hội ở Tam Giang hiện nay vẫn còn lưu giữ được những yếu tố văn hoá truyền thống, là nền tảng tinh thần cho nhân dân Bên cạnh

đó, cùng với sự phát triển của xã hội, đời sống của nhân dân còn được quan tâm, chăm lo bởi các tổ chức xã hội nhằm phát triển bền vững cả về con người cũng như kinh tế xã hội

1.4.2.Tình hình kinh t ế- văn hóa xã hội làng Mai Thượng

Về đời sống kinh tế

Làng Mai Thượng sinh sống chủ yếu dọc theo sông Cầu Đây là vùng đất trù phú, được bồi đắp bởi phù sa và cung cấp nước tưới của con sông này nên loại hình kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước gắn liền với các yếu tố văn hoá nông nghiệp là đặc trưng cơ bản của cư dân vùng này

Vì thế, các ngành nghề nông nghiệp trồng lúa nước, nghề trồng dâu và các loại rau, hoa màu, chiếm tới 85% tổng số dân cư Số dân hoạt động kinh tế ở các lĩnh vực thương mại, dịch vụ, nghề thủ công truyền thống không nhiều, chiếm khoảng 15% Đa phần những hoạt động kinh tế này không độc lập, tách biệt khỏi nông nghiệp mà tồn tại song song cùng với hoạt động kinh tế nông nghiệp Các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp cũng là đặc trưng của làng Mai Khoảng 43%

số hộ dân trong làng vẫn còn lưu giữ nghề trồng dâu, nuôi tằm, ươm tư Cả làng

có gần 100 mẫu đất trồng dâu, trong đó có hơn 40 mẫu đất ven sông Hàng năm, nước sông Cầu dâng lên đem phù sa bồi đắp cho ngàn dâu, người dân chỉ việc tính lứa hái đem về nuôi tằm Một sào dâu có giá khoảng 1.500.000đ Cả làng có hơn 400 hộ, với gần 2000 khẩu, mỗi năm thu được hơn 400 triệu từ nghề trồng dâu, nuôi tằm Lợi ích kinh tế của nghề này đã được dân gian tổng kết bằng câu:

Trang 27

Theo ước tính của người dân, vào tháng 4, tháng 5, cứ một nong tằm cho 6kg kén, mà 10 kg kén cho 1 kg tơ và 6kg nhộng Mỗi hộ trung bình có 3,5- 5 sào dâu, một năm nuôi trung bình từ 25-30 lứa tằm Trừ chi phí một năm ít nhất

có lãi từ 7-8 triệu Nghề trồng dâu, nuôi tằm đã đem lại khoảng cho người dân khoảng 60% tổng thu nhập

Về văn hoá – xã hội

Cũng như cư dân ở các làng quê khác, người làng Mai thờ cúng tổ tiên, thờ Khổng Tử, theo đạo Phật và thờ cúng thành hoàng làng Ngoài ra, một số hộ dân trong làng còn theo đạo Công giáo Đạo Thiên chúa mới được truyền từ Bắc Ninh đầu những năm 30 của thế kỉ 20 sang làng Mai nhưng nó đã tác động không nhỏ đến sinh hoạt tín ngưỡng của người dân làng Mai Với giáo lý mềm mỏng, ít tốn kém về nghi lễ thờ cúng nên một số hộ dân đã bỏ lương đi theo giáo Ngoài việc thờ cúng theo truyền thống, giáo dân làng Mai còn đi lễ cầu Chúa, sống tốt đời đẹp đạo Tuy nhiên, do sự chi phối của giáo lý thiên chúa, những sinh hoạt tín ngưỡng dân gian và một số phong tục tập quán ở làng Mai có phần không được tổ chức long trọng như xưa

Trong quan hệ xã hội, bên cạnh quan hệ láng giềng thân thiện “bán anh em

xa, mua làng giềng gần”, trong làng luôn tồn tại mối quan hệ huyết thống Đó cũng là mối quan hệ trong họ ngoài làng đã được duy trì trong cộng đồng người Việt Làng Mai Thượng hiện có 10 dòng họ lớn và một vài họ nhỏ đang cư trú ở trong làng Dòng họ lớn và đông nhất ở làng Mai là họ Hoàng

Ở làng Mai Thượng, các gia đình trong dòng họ không nhất thiết phải cư trú gần nhau, nhưng mối quan hệ luôn được xác định rõ ràng Các thành viên trong họ không được kết hôn với nhau Tổ tiên chính là cầu nối các hộ gia đình, các chi trong một họ Các dòng họ luôn tìm cách tạo dựng thanh thế và chi phối làng xã Tổ chức dòng họ ở Mai Thượng tương đối chặt chẽ, có những quỹ tài

Trang 28

sản chung, việc quản lý còn được phân xuống từng chi họ ở các xóm, cụm dân

cư trong làng Thông thường, sinh hoạt dòng họ nhằm chăm sóc cuộc sống riêng

tư của các thành viên, củng cố, xây dựng tình đoàn kết trong nội bộ, tương trợ giúp đỡ những thành viên có hoàn cảnh khó khăn, khuyến khích sự phát triển cả

về tri thức và kinh tế của các thành viên, giáo dục, định hướng sự phát triển nhân cách của các thành viên trẻ… ẩn sâu trong đó là sự giáo dục truyền thống, giáo dục văn hoá, duy trì sự trường tồn của dòng họ

Yếu tố thứ hai là điều kiện tự nhiên Vùng đất này được hình thành nhờ sự bồi tụ phù sa của sông Cầu và sông Cà lồ nên có nhiều điều kiện thuận lợi về đất đai cho canh tác nông nghiệp Vì thế, cư dân ở đây đều trồng trọt, sản xuất lương thực và hoa màu làm thức ăn chủ yếu cho mình để duy trì cuộc sống Môi trường

tự nhiên ấy đã ảnh hưởng đến sinh hoạt văn hóa của cư dân nơi đây Do đó, văn hóa nông nghiệp lúa nước đã chi phối khá mạnh vào đời sống của cư dân

Yếu tố thứ ba là yếu tố lịch sử Vùng đất này là nơi giáp ranh, nơi giao tranh của nhiều cuộc chiến trong lịch sử dân tộc Một trong những sự kiện đó

Trang 29

Nam sông Cầu (tức đoạn Ngã Ba Xà) là hai chiến tuyến quan trọng trong lịch sử…Bờ Bắc Ngã Ba Xà, là làng Mai thượng, đây là làng ven sông là một địa bàn quan trọng yếu, là vị trí quân Tống chiếm giữ và là bước đệm để quân Tống đánh

về Kinh Thánh Thăng Long

Bờ Nam Ngã Ba Xà là làng Đoài Đây là phòng tuyến Như Nguyệt, mà Đại Việt sử ký toàn thư có nhắc đến: người đời truyền rằng Thường Kiệt làm hàng rào theo dọc sông để cố thủ [42, tr.279], chính là chỉ phòng tuyến này

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, làng Mai bên bờ Bắc và làng Đoài bên bờ Nam một lần nữa lại đóng vị trí hai đầu cuộc chiến Từ các đồn bốt bên làng Đoài – bên kia sông, thực dân Pháp liên tiếp nã đạn sang làng Mai hòng xóa

bỏ nút giao thông chiến lược của bộ đội ta Nơi đây trở thành điểm trắng trong cuộc kháng chiến chống Pháp

Có thể nói, Ngã Ba Xà Cả là nơi có vị trí chiến lược, là địa bàn cơ động, thuận lợi, đa chiều, nhất là trong lưu thông kinh tế và giao lưu văn hóa Trong chiến tranh, đây là địa bàn trọng yếu, là vị trí đầu cầu mà mỗi bên tham chiến đều cố giành và giữ

Yếu tố thứ tư là môi trường xã hội Như phần trên đã trình bày, với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên như trên đã tạo thuận lợi cho nông nghiệp lúa nước phát triển Nhưng với cư dân nông nghiệp thì yếu tố “nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống” rất quan trọng Trong khi đó, đây lại là vùng đất ven sông, vì thế, yêu cầu trị thủy được đặt lên hàng đầu đối với cư dân nơi đây Công việc này đòi hỏi sự huy động sức người, sức của lớn lao, một phần do khối lượng công việc rất lớn quy định, phần khác do liên quan trực tiếp đến quyền lợi của cộng đồng

Do đó, từ lâu, cư dân nơi đây đã sống quần tụ thành làng Đơn vị làng không chỉ là địa bàn sản xuất mà còn là hành lang bảo vệ quyền lợi, bảo vệ thành quả cho người nông dân Và nó cũng góp phần tạo dựng một cuộc sống ổn định,

Trang 30

lâu dài, một lối sống ngưng đọng của nền kinh tế tự cấp tự túc, với tâm lý bình quân, cộng cảm trên cơ sở văn hóa và tín ngưỡng chung Đó chính là hai mặt tác động ngược chiều vô cùng trọng yếu của nước đối với con người nói chung, đối với làng xã nông nghiệp nói riêng

Chính những đặc điểm về vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên và xã hội ấy đã đưa Ngã Ba Xà trở thành vùng văn hóa đặc trưng, hội tụ tất cả những điều kiện

để nó trở thành một khu vực tiêu biểu hình thành và nuôi dưỡng tục thờ Thánh

để nó có sức sống lâu bền với thời gian

Trang 31

Chương 2

QUẦN THỂ DI TÍCH THỜ THÁNH TAM GIANG 2.1 Truyền thuyết, Thần tích về Thánh Tam Giang

2.1.1 Nội dung (tóm tắt của truyền thuyết)

Vào thế kỷ VI (thời Lý Bôn, Lý Bí) ở làng Vân Mẫu, huyện Quế Dương, sau gọi là Trang Võ Giàng, quận Vũ Ninh thuộc Kinh Bắc, nay là thôn Vân Mẫu,

xã Vân Dương, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh có một người con gái họ Phùng tên gọi Từ Nhan, mồ côi xinh đẹp, nết na hơn người Vào một đêm (15/11 năm Canh Thìn, 560) nàng Phùng Thị Từ Nhan nằm mơ đi tắm ở sông Lục Đầu, trông thấy rồng cuộn khúc, tỉnh ra thấy trong lòng nôn nao cảm động mà thành thụ thai Sau đó bà đẻ ra một cái bọc có năm trứng Năm trứng đó nở ra 4 người con trai là Trương Hống, Trương Hát, Trương Lừng, Trương Lẫy và cô con gái

út Mỹ Đạm hay là Đạm Nương

Năm các con 18 tuổi, bà mẹ qua đời Vì nhà nghèo, anh em họ Trương chỉ

đủ tiền mua một cỗ quan tài không có nắp, rồi đang đêm mấy anh em khiêng mẹ

ra đồng, qua tới cổng làng thì bỗng đâu mưa to gió lớn bất chợt nổi lên đùng đùng Chiếc quan tài bị rơi xuống đất Trời tối mịt mùng không sao tìm nổi, anh

em đành phải ra về, đợi tinh mơ hôm sau sẽ lại ra chôn mẹ

Sớm mai, khi anh em Hống, Hát ra tới chỗ quan tài rơi thì không thấy đâu nữa, mà chỉ trông thấy một đống mối to tướng, trên đống mối hở ra hai các gót chân của mẹ Đêm hôm ấy, Trương Hống, Trương Hát ra ấp mồ mẹ Về khuya, chợt có hai con quỷ từ dưới mồ chui lên đùa nhau Chúng đùa hồi lâu, để ý thấy hai anh em tuy sợ hãi hồn xiêu phách lạc nhưng vẫn ấp mộ mẹ không thôi Chúng cho là người có hiếu, lại nhìn thấy tướng diện hai người có chí khí kiên cường, nên tặng cho hai chiếc áo tàng hình, gọi là “Xích y quỳ bộ” và “Bạch y quỳ bộ”

Trang 32

Bấy giờ, quân Lương xâm lấn nước ta, Trương Hống, Trương Hát theo Triệu Quang Phục đánh giặc Nhờ có tài võ nghệ và áo tàng hình, nhị nhân tướng

tả xung hưữ đột đánh thắng nhiều trận, khiến kẻ địch phải mày run mặt vỡ Hiềm một nỗi giặc đông như kiến cỏ, nên đánh mãi mà vẫn không tiêu diệt được chúng

Một đêm, Trương Hống, Trương Hát nằm ngủ trong một ngôi chùa ờ làng Diềm, bỗng thấy có một người con gái đi vào tự xưng là người trụ trì ngôi chùa

ấy, người con gái nói rằng: Nếu hai vị muốn diệt trừ giặc Lương chỉ có một cách

là kéo quân về đầm Dạ Trạch mà dùng kế mai phục

Dứt lời thì biến mất Hống Hát giật mình tỉnh dậy hóa ra là một giấc chiêm bao Nghĩ rằng âu cũng là lòng trời nên mới cho thần vào báo mộng, hai tướng lập tức kéo quân về Dạ Trạch Quân Lương chống cự không nổi, đại bại Trương Hống giết được tướng Lương là Trần Bá Tiên Trận đánh đó quân ta thắng trận hoàn toàn, kéo về làm lễ khải hoàn tại Long Biên Thiên hạ trở lại thái bình, càn khôn phẳng lặng…

Nhưng ít lâu sau, Lý Phật Tử đem hơn 60 vạn quân Chiêm Thành và Ai Lao xâm lấn Vua bèn hạ lệnh cho hai tướng họ Trương ra đánh địch Phật tử đánh không được bèn xin giảng hoà

Lý Phật Tử có con trai tên là Nhã Lang muốn được cầu hôn con gái của vua là Cảo Nương, hai ông lại can gián và nói rằng:“ Chuyện Trọng Thuỷ lấy

Mỵ Châu còn chưa xa, xin vua chớ có gả” Nhà vua không nghe, vẫn cho hứa hôn Hai ông bèn cởi mũ áo trao trả chức quyền về núi Phù Lan sinh sống

Triệu Quang Phục mất, Lý Phật Tử chiếm ngôi Trương Hống, Trương Hát không chịu khuất phục kẻ cướp ngôi, liền vứt bỏ nhung y, trở về làng Diềm (Viêm Xá) làm ruộng Lý Phật Tử biết anh em Trương tướng quân là bậc có tài,

Trang 33

quan giúp mình Hai ông kiên quyết không tiếp chiếu mà nổi trận lôi đình thét

mắng om sòm: “Anh em ta là trung thần, bất sự nhị quân Có lẽ nào ta thờ một

tên hèn nhát điên đảo chạy giặc hai chúa?” Thấy Hống, Hát nhất định từ chối,

quân triều đình gây nhiều bức bách khiến họ phải đưa cả gia đình lên sống ở Đu Đuổm (Thái Nguyên) Ở đây vẫn không được yên, hai ông liền đóng hai chiếc thuyền chở cả gia đình xuôi về hai nhánh sông Nguyệt Đức và Nhật Đức (sông Cầu và sông Thương) Đoàn thuyền của gia đình ông cả Trương Hống đi đến đoạn Ngã Ba Xà, xã Phương La, huyện Yên Phong thì đục thủng thuyền cho nước tràn vào chìm xuống sông mà tự vẫn cả nhà Đoàn thuyền gia đình ông hai Trương Hát xuống Ngã Ba Nhãn, thuộc xã Phượng Nhỡn, huyện Phượng Nhỡn thì cũng đục thuyền tự vẫn

Ngọc hoàng thượng đế biết họ là trung thần không thờ hai vua nên phong hai ông là “Than hà Long quân phó tuần Vũ Lạng Nhị Giang” và “Chi mạn nguyên tuần giang đô phó sứ” Người anh Trương Hống cai quản vùng sông Cầu Em trai là Trương Hát cai quản vùng sông Thương

Cảm thương người có công với nước, cả nhà trung nghĩa mà bị thác oan, nhân dân các làng ở “thượng Ngã Ba Xà - hạ Lục Đầu Giang” đều thờ các ông làm thành hoàng làng, gọi là Đức Thánh Tam Giang

2.1.2 Truyền thuyết, thần tích ở làng Đoài

Thần tích bằng chữ Hán được các cụ làng Xà nhờ cụ Nguyễn Hữu Cẩn – người làm ở Viện Hán Nôm- dịch ra chữ quốc ngữ, đặt tên là cuốn Trương Tam Giang thánh tích7 (Phụ lục 7) Ngoài ra, thần tích làng Đoài còn có bản dịch lưu tại Viện Thông tin khoa học xã hội ký hiệu TT-TS, FQ 4o18, IV, 55 (Phụ lục 8),

Về nội dung chính của cuốn Trương Tam Giang thánh tích tại làng Đoài cũng giống như trong bản tóm tắt Nhưng ở phần Thánh Trương Hống và gia

7

Tài liệu này do thủ từ làng Đoài là cụ Nguyễn Lương Hợp cung cấp

Trang 34

đỡnh tuẫn tiết thỡ truyền thuyết cú nhắc đến việchọ đặt bộ tỏo quõn lờn bờ rồi bàn nhau chốo thuyền ra giữa lũng sụng mà tự vẫn cả nhà Khi thuyền chỡm thỡ rồng, rắn, tụm, cỏ và cỏc loài thủy tộc khỏc mừng vui, nhảy mỳa ầm ầm để đún Thấy

vậy cảm động, ba vị tỏo quõn cũng nhảy xuống Vỡ thế, hiện nay, ở hậu cungđền

Xà cú thờ ba vị tỏo quõn

2.1.3 Truyền thuyết, Thần tớch ở làng Mai Thượng

Hiện nay, ở làng Mai thần tớch của vẫn cũn nguyờn bản bằng chữ Hỏn (Phụ lục ảnh số 37, ảnh bỡa của cuốn Thần tớch) Bản dịch được lưu tại Viện Thụng tin khoa học xó hội, ký hiệu TT-TS, FQ 4o18, V, 65 (Phụ lục 9, tr170)

Đoạn kết trong thần tớch ở làng Mai ghi rằng: Ngày mựng 2 thỏng 2, đức Quý Vương đi tỡm đức Thỏnh cụ phụ, đi đến Ngó Ba Xà hỏi thăm ra thỡ biết cả nhà đều tuẫn tiết, Ngài cũng đồng chớ tuẫn tiết nốt Sau lưu Ngọc thể Ngài về đến

bờ sụng, cỏt bồi thành thần mộ cao, cú mọc cõy cối sầm uất, Ngài hiển Thỏnh làm Thành hoàng, sau dõn lập đền thờ Ngài từ bấy đến nay, ngày sinh không nhớ, ngày hoá mồng 2 tháng 2

Theo lời kể của ễng Hoàng Văn Khụn: Khi về, biết tin cả nhà tuẫn tiết, Ngài vụ cựng thương xút Ngài bốn tỡm đến Vũ Bỡnh Giang (khỳc sụng thuộc Ngó Ba Xà) than khúc rằng:

Giời cao soi xột lũng trung

Sắt son vỡ nước, thung dung một nhà Sống mà thẹn với sơn hà

Cũng xin thỏc với mẹ cha sụng này!

Than khúc rồi Trương Kiều gieo mỡnh xuống sụng ấy mà chết, hụm đú là ngày mồng 2 thỏng 2 Dõn làng Mai cảm động trước tấm lũng trung hiếu của Thỏnh Trương Kiều nờn lập đền, thờ cỳng Ngài ở chớnh giữa hậu cung

Trang 35

*Làng Như Nguyệt: truyền thuyết được sưu tầm qua lời kể cụ Trần Văn Thư - bố cụ từng là nhà nho thời Phong kiến Cụ Thư là người đọc thụng viết thạo chữ Nho Cụ kể khỏ chi tiết truyền thuyết của Thỏnh, về cỏc làng thờ và khẳng định cú 372 làng thờ Tuy nhiờn, khi bảo cụ kể tờn cỏc làng thỡ cụ khụng nhớ được hết và tờn những làng cụ kể thỡ đều trựng với tờn làng cú trong cuốn Thỏnh Tam Giang và sự tớch thờ thần của Trần Quốc Thịnh- xuất bản năm 1990

*Làng Phong Cốc, xó Đức Long, huyện Quế Vừ, tỉnh Bắc Ninh: truyền thuyết được sưu tầm qua lời kể của Cụ Nguyễn Văn í (97 tuổi), đó từng đảm nhiệm vai trũ Chủ tế Túm tắt ý chớnh của cụ: xưa, cú một người đàn bà vựng Võn Mẫu, mơ đi tắm ở sụng Lục Đầu, chợt cú con rắn cuốn vào người, tỉnh ra thấy trong lũng nụn nao cảm động mà thành thụ thai Sau đú bà đẻ ra một cỏi bọc

cú năm trứng Năm trứng đú nở ra 4 người con trai là Trương Hống, Trương Hỏt, Trương Lừng, Trương Lẫy và cụ con gỏi ỳt Mỹ Đạm hay là Đạm Nương

Ngày tháng thấm thoát thoi đ-a, năm ng-ời con dần khôn lớn Khi quân L-ơng sang xâm l-ợc n-ớc ta, Tr-ơng Hống- Tr-ơng Hát theo Triệu Quang Phục

đánh giặc giết đ-ợc t-ớng L-ơng là Trần Bá Tiên Quân L-ơng thua trận phải rút

về n-ớc Triệu Quang Phục x-ng vua, gọi là Triệu Việt V-ơng

Năm 571, Lý Phật Tử đem quân đánh úp, Triệu Việt V-ơng bị thua chạy

đến cửa biển Đại Nha và nhảy xuống biển tuẫn tiết Tr-ơng Hống, Tr-ơng Hát không chịu khuất phục tr-ớc Lý Phật Tử – kẻ phản bội- nên bỏ về Diềm (Viêm Xá, Yên Phong, Bắc Ninh) làm ruộng

Sau khi chiếm ngôi, biết anh em Tr-ơng t-ớng quân là ng-ời có tài, để mua chuộc lòng ng-ời giữ yên thiên hạ, Lý Phật Tử cho ng-ời mời hai ông về làm quan Nh-ng hai ông nhất mực từ chối Lý Phật Tử nổi giận sai ng-ời tìm giết Hai ông cùng gia đình bỏ lên Đu Đuổm - Thái Nguyên Ở đõy vẫn khụng được yờn, hai ụng liền đúng hai chiếc thuyền chở cả gia đỡnh xuụi về hai nhỏnh sụng

Trang 36

Nguyệt Đức và Nhật Đức (sông Cầu và sông Thương) Đoàn thuyền của gia đình ông cả Trương Hống đi đến đoạn Ngã Ba Xà, xã Phương La, huyện Yên Phong thì đục thủng thuyền cho nước tràn vào chìm xuống sông mà tự vẫn cả nhà Đoàn thuyền gia đình ông hai Trương Hát xuôi xuống Ngã Ba Nhãn, thuộc xã Phượng Nhỡn, huyện Phượng Nhỡn thì cũng đục thuyền tự vẫn

Truyền thuyết và thần tích Thánh Tam Giang ở các làng đều thống nhất ở điểm: mẹ Ngài là người họ họ Phùng, quê ở Vân Mẫu nằm mơ đi tắm ở sông Lục Đầu Nhưng về cha Ngài thì lại có hai ý kiến khác nhau Ý kiến thứ nhất cho rằng: có con rắn cuốn vào người, tỉnh ra thấy trong lòng nôn nao cảm động mà thành thụ thai Ý kiến thứ hai cho rằng: trông thấy rồng cuộn khúc, tỉnh ra thấy trong lòng nôn nao cảm động mà thành thụ thai Khảo sát ở làng Mai Thượng và làng Đoài về nguồn gốc ra đời TTG cho chúng tôi kết quả sau:

Biểu đồ 2.1: Nguồn gốc ra đời Thánh Tam Giang

Ở làng Đoài 48% người dân cho rằng làng mình thờ rắn, vì rắn là cha của Thánh Một số người còn giải thích là do làng thờ rắn nên tên cổ của làng và đền mới được gọi là Xà Nhưng với làng Mai Thượng chỉ có 22% người dân cho rằng phụ thân làng mình có gốc tích từ rắn và có tới 42% cho rằng phụ thân của Thánh là rồng Với kết quả trên, chúng tôi mạnh dạn nhận định rằng: các Ngài là con của thần rắn

Trang 37

Bảng 2.1: Quan niÖm cña ng-êi d©n về Tam Giang

Cuối cùng, chúng tôi đi đến kết luận: các Ngài có là con của thần rắn Theo nhà nghiên cứu Đặng Thế Đại, rồng, rắn đều có thể xem là thủy thần8 Việc các

Ngài được trời biết và thương họ là trung thần không thờ hai vua nên phong hai

ông là “Than hà Long quân phó tuần Vũ Lạng Nhị Giang” và “Chi mạn nguyên tuần giang đô phó sứ”[42, tr.279] có lẽ chịu ảnh hưởng của tư tưởng trung quân

trong Nho giáo Ngoài ra, ở phần sau ở truyền thuyết hoặc thần tích, tùy vào từng làng mà có sự thêm hay bớt nội dung Ví như làng Mai Thượng, vì là làng thờ con Trương Kiều nên phần cuối của thần tích làng có nói đến việc Thánh Trương Kiều biết tin gia đình gặp nạn bèn tự vẫn, còn làng Đoài đoạn kết lại giải thích hiện tượng thờ vợ chồng Táo quân ở gian trái hậu cung…

8 Nhà nghiên cứu Đặng Thế Đại cũng cho rằng: Rồng, rắn thần đều có thể xem là thuỷ thần Điều thú vị là thuồng luồng tiếng Tày- Nùng ngoài một nghĩa giống tiếng Việt là dòng, lối, còn có nghĩa là con rồng và có một thành

ngữ là rồng thất thế hoá rắn ( luồng thát slí pjến pền ngù) [17, tr.385]

Trang 38

Như vậy, qua hệ thống các truyền thuyết, thần tích này, chúng ta phần nào hình dung được không gian tồn tại của các nhóm cư dân Việt ở ven sông, về đời sống kinh tế - xã hội cũng như những nhu cầu tâm linh của họ

Chính quá trình hình thành và phát triển đất đai, các nhóm cư dân và nghề nghiệp của họ đã tác động và quá trình biến đổi truyền thuyết, thần tích Sự biến đổi này chính là một biểu hiện của sự vận động của hiện tượng thờ TTG

2.2 Quần thể di tích và vai trò của nó trong tục thờ Thánh

Cũng như các tín ngưỡng khác, Tục thờ TTG cũng có cơ sở để thực hiện hoạt động tín ngưỡng của cộng đồng Cơ sở tín ngưỡng gồm: đình, đền, miếu,

am, từ đường, nhà thờ họ và những cơ sở tương tự khác [129, tr.8] Tuy nhiên,

cơ sở tín ngưỡng và điện thờ của TTG là một hiện tượng độc đáo mà chúng tôi muốn đề cập

Cho đến nay, ta thấy nơi thờ tín ngưỡng thờ TTG ở Việt Nam hầu hết đều được thờ ở đình làng Ngoài ra, đôi khi người ta cũng thờ TTG trong các ngôi đền, nghè…của làng nhưng đến ngày hội được rước về đình để tham dự hội làng Đặc điểm chung của các di tích thờ Thánh Tam Giang là nằm gần sông Cầu, sông Thương và sông Lục Đầu Tuy nhiên, mật độ phân bố ở các di tích cũng khác nhau Vùng sông Cầu tỉ lệ các di tích dọc theo sông này ở mức độ cao, còn vùng Sông Thương và sông Lục Đầu thì thưa thoáng Riêng vùng Ngã Ba Xà thì mức độ tập trung các di tích thờ Thánh Tam Giang là rất dày đặc Bên bờ Nam Ngã Ba Xà (địa phận xã Tam Giang, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh) có 3 làng thờ TTG là làng Đoài, làng Đông và làng Như Nguyệt và gắn liền với nó là các cụm di tích nổi bật: Đền Xà (thuộc làng Đoài), đình Xà (thuộc làng Đông), đình Như Nguyệt, miếu Thánh cô (Đạm Nương) Bên bờ Bắc của Ngã Ba Xà (địa phận xã Mai Đình, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang) cũng có 3 làng thờ TTG là

Trang 39

tích là đền làng Mai Thượng (còn gọi là Nghè Ngũ Giáp) và miếu thờ Đạm Nương Lý do, xưa làng Mai Trung, Mai Thượng và Thắng Lợi đều thuộc vào một làng Tiếu Mai và thờ cúng chung ở Nghè Ngũ Giáp Nhưng nay, các làng bị tách ra nên làng Mai Trung và Thắng lợi không còn điểm thờ cúng tại đền nữa

2.2.1 Quần thể di tích làng Đoài

2.2.1.1 Đền Xà

Theo tư liệu dân gian ghi chép lại, đền có ba lần được tu sửa lớn, đó là vào: thời Lê Thần Tông (1656), thời Lê Cảnh Hưng (1786) đền Xà có mặt

bằng kiến trúc theo hình “Nội công ngoại quốc”, năm 1993 đền được đại

trùng tu lớn Nhưng chu vi đền vẫn được giữ nguyên cho đến ngày nay Tuy nhiên hướng đền đã bị thay đổi, hiện nay hướng đền nhìn chếch ra Ngã Ba Xà (khi xưa công trình này nhìn thẳng ra Ngã Ba Xà)

Về mặt bằng tổng thể: Đền Xà là một khu di tích hoàn chỉnh có khung cảnh tự nhiên và những công trình kiến trúc thờ cúng Di tích có mặt bằng tổng

thể hình chữ“ Nhị” có chuôi vồ hay còn gọi là “Tiền chữ nhất, hậu chữ đinh” gồm: Một tòa Tiền tế 05 gian 02 chái, kết cấu kiến trúc theo kiểu“ Tiền kẻ - hậu

kẻ”, vì kèo“ Chồng rường giá chiêng” Phía trên nóc tòa Tiền tế có đặt một đôi

rồng chầu mặt nguyệt“ Lưỡng long chầu nguyệt” Tòa nhà này nằm trên cấp độ

nền cao khoảng 40cm, gian giữa rộng 3,25m; hai gian bên rộng 2,8m, dĩ rộng 0,9m bước cột cái trước – sau là 3,4m, cột cái cao 3,4m So với nền thì tàu mái cao 2,6m, thượng lương cao 4,1m, đầu hồi bít đốc tay ngai, giật cấp cánh gà, ba gian giữa lắp cửa ván ghép

Phía sau Tiền tế là Hậu cung có 03 gian 02 dĩ và có thêm chuôi vồ ở phía

sau khép kín Đơn nguyên này được làm theo kiểu “Tường hồi bít đốc”, đây cũng chính là nơi thờ gia đình Đức Thánh Tam Giang

Trang 40

SƠ ĐỒ MẶT BẰNG TỔNG THỂ DI TÍCH ĐỀN XÀ (Thôn Xà Đoài, xã Tam Giang, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh)

Ngày đăng: 31/03/2015, 14:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Toan Ánh (2005), Nếp cũ hội hè đình đám (quyển Hạ); Nxb Trẻ, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nếp cũ hội hè đình đám
Tác giả: Toan Ánh
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2005
2. Nguyễn Chí Bền (2006), Góp phần nghiên cứu văn hoá dân gian Việt Nam, Nxb KHXH, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu văn hoá dân gian Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2006
3. Nguyễn Thị Phương Châm (2007), Biến đổi văn hoá ở một số làng ở Bắc Bộ trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Đề tài cấp Bộ, Viện Nghiên cứu Văn hoá, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi văn hoá ở một số làng ở Bắc Bộ trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Châm
Năm: 2007
4. Cadiere L. (1997), Về văn hóa tín ngưỡng truyền thống người Việt, (Đỗ Trinh Huệ dịch), Nxb VHTT, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về văn hóa tín ngưỡng truyền thống người Việt
Tác giả: Cadiere L
Nhà XB: Nxb VHTT
Năm: 1997
6. Phan Đại Doãn (2006), Văn hóa làng Việt Nam, Làng Việt Nam đa nguyên mà chặt, Nxb KHXH, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng Việt Nam đa nguyên mà chặt
Tác giả: Phan Đại Doãn
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2006
7. Tô Duy Hợp (2000), Sự biến đổi của làng xã Việt Nam ngày nay ở đồng bằng sông Hồng, Nxb KHXH, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự biến đổi của làng xã Việt Nam ngày nay ở đồng bằng sông Hồng
Tác giả: Tô Duy Hợp
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2000
8. John Kleinen (2007), Đối mặt tương lai, hồi sinh quá khứ, Nxb Đại học Quốc gia HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối mặt tương lai, hồi sinh quá khứ
Tác giả: John Kleinen
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia HN
Năm: 2007
9. Đinh Gia Khánh (1993), Văn hóa dân gian Việt Nam trong bối cảnh văn hóa Đông Nam Á, Nxb KHXH, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian Việt Nam trong bối cảnh văn hóa Đông Nam Á
Tác giả: Đinh Gia Khánh
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1993
10. Vũ Ngọc Khánh (1994), Tín ngưỡng làng xã Việt Nam, Nxb VHDT, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín ngưỡng làng xã Việt Nam
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh
Nhà XB: Nxb VHDT
Năm: 1994
11. Vũ Ngọc Khánh, Phạm Minh Thảo, Từ điển Việt Nam- Văn hóa tín ngưỡng và phong tục (2006), Nxb VHTT, tr.1206 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Việt Nam- Văn hóa tín ngưỡng và phong tục
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh, Phạm Minh Thảo, Từ điển Việt Nam- Văn hóa tín ngưỡng và phong tục
Nhà XB: Nxb VHTT
Năm: 2006
12. Lê Văn Kỳ (1993), Tìm hiểu một số ý nghĩa về tục thờ thành hoàng không có sắc phong qua truyền thuyết và lễ hội, Tạp chí Văn hóa dân gian, (số 4), tr.57-62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Văn hóa dân gian
Tác giả: Lê Văn Kỳ
Năm: 1993
13. Vũ Tự Lập (chủ biên- 1991), Văn hóa và cư dân đồng bằng sông Hồng, Nxb KHXH, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và cư dân đồng bằng sông Hồng
Nhà XB: Nxb KHXH
14. Trần Văn Lạng (2004), Lễ hội làng Mai (Báo cáo, bản đánh máy), thuộc Chương trình bảo tồn và phát huy di sản VHPVT ở Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội làng Mai
Tác giả: Trần Văn Lạng
Năm: 2004
15. Lê Hồng Lý (2008), Sự tác động của kinh tế thị trường vào lễ hội tín ngưỡng, Nxb VHTT và Viện Văn hoá, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự tác động của kinh tế thị trường vào lễ hội tín ngưỡng
Tác giả: Lê Hồng Lý
Nhà XB: Nxb VHTT và Viện Văn hoá
Năm: 2008
16. Hoàng Lương (2002), Lễ hội truyền thống của các dân tộc Việt Nam khu vực phía Bắc, Nxb Đại học Quốc Gia HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội truyền thống của các dân tộc Việt Nam khu vực phía Bắc
Tác giả: Hoàng Lương
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia HN
Năm: 2002
17. Hoàng Lương (2007), Tín ngưỡng thờ thuồng luồng của các dân tộc nói tiếng Thái ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín ngưỡng thờ thuồng luồng của các dân tộc nói tiếng Thái ở Việt Nam
Tác giả: Hoàng Lương
Năm: 2007
18. Trần Đình Luyện (2004- chủ biên) Lễ hội Bắc Ninh, Sở VHTT Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội Bắc Ninh
19. Bùi Xuân Mỹ (2009), Tục thờ cúng của người Việt, Nxb VHTT, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục thờ cúng của người Việt
Tác giả: Bùi Xuân Mỹ
Nhà XB: Nxb VHTT
Năm: 2009
20. Lê Viết Nga chủ biên (2008), Thần tích, sắc phong các vị thần, thành hoàng làng tỉnh Bắc Ninh, Bảo tàng Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thần tích, sắc phong các vị thần, thành hoàng làng tỉnh Bắc Ninh
Tác giả: Lê Viết Nga chủ biên
Năm: 2008
21.Nhiều tác giả (2000), Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam, Nxb VHDT, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb VHDT
Năm: 2000

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Quan niệm của ng-ời dân về Tam Giang - Tục thờ thánh Tam Giang ở vùng ngã ba Xà ( Nghiên cứu trường hợp Làng Đoài, xã Tam Giang, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh và làng Mai Thượng, xã Mai Đình, huyện hiệp hòa, tỉnh bắc giang
Bảng 2.1 Quan niệm của ng-ời dân về Tam Giang (Trang 37)
SƠ ĐỒ MẶT BẰNG TỔNG THỂ DI TÍCH NGHÈ NGŨ GIÁP  (thôn Mai Thƣợng, xã Mai Đình, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang) - Tục thờ thánh Tam Giang ở vùng ngã ba Xà ( Nghiên cứu trường hợp Làng Đoài, xã Tam Giang, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh và làng Mai Thượng, xã Mai Đình, huyện hiệp hòa, tỉnh bắc giang
th ôn Mai Thƣợng, xã Mai Đình, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang) (Trang 50)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w