Trên cơ sở những thành công và hạn chế của hoạt động phản biện xã hội về đổi mới giáo dục tiểu học, luận văn cũng đề xuất một số giải pháp để báo in nói riêng, báo chí nói chung nâng cao
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
**************
TRẦN THỊ HOA
PHẢN BIỆN XÃ HỘI VỀ ĐỔI MỚI GIÁO DỤC TIỂU HỌC TRÊN BÁO IN VIỆT NAM HIỆN NAY (KHẢO SÁT BÁO GIÁO DỤC VÀ THỜI ĐẠI, TIA SÁNG, SÀI GÒN GIẢI
PHÓNG, TUỔI TRẺ TP.HCM, HÀ NỘI MỚI TỪ 2008-2011)
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ
Hà Nội - 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2**************
TRẦN THỊ HOA
PHẢN BIỆN XÃ HỘI VỀ ĐỔI MỚI GIÁO DỤC TIỂU HỌC TRÊN BÁO IN VIỆT NAM HIỆN NAY (KHẢO SÁT BÁO GIÁO DỤC VÀ THỜI ĐẠI, TIA SÁNG, SÀI GÒN GIẢI
PHÓNG, TUỔI TRẺ TP.HCM, HÀ NỘI MỚI TỪ 2008-2011)
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học
Mã số: 60.32.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM THÀNH HƯNG
Hà Nội - 2013
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG 1: PHẢN BIỆN XÃ HỘI VÀ VẤN ĐỀ ĐỔI MỚI GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 8
1.1 Phản biện xã hội và vai trò của báo chí trong việc thực hiện chức năng phản biện xã hội 8
1.1.1 Khái niệm Phản biện xã hội 8
1.1.2 Chức năng của phản biện xã hội 10
1.1.3 Vai trò của báo chí trong hoạt động phản biện xã hội 12
1.1.3.1 Báo chí tạo ra trục phản biện xã hội gồm 3 nhóm Cộng đồng báo giới- Cộng đồng trí thức- Dư luận xã hội 12
1.2.1 Khái niệm đổi mới giáo dục 17
1.2.2 Sự cần thiết của đổi mới giáo dục ở các cấp học phổ thông từ tiểu học 17
1.3 Thế mạnh của báo in trong hoạt động phản biện xã hội 24
1.3.1 Đặc trưng của báo in 24
1.3.2 Khái quát về các báo in được khảo sát 26
1.3.3 Khả năng tạo diễn đàn phản biện xã hội trên báo in 28
CHƯƠNG 2: CÁCH THỨC PHẢN BIỆN XÃ HỘI VỀ ĐỔI MỚI GIÁO DỤC TIỂU HỌC TRÊN BÁO IN KHẢO SÁT 31
2.1 Chủ thể của hoạt động phản biện xã hội trên báo in 31
2.1.1 Nhà báo thông tin 32
2.1.2 Nhà chuyên môn hoạt động trong lĩnh vực giáo dục lên tiếng 36
2.1.3 Độc giả của các báo phản hồi 37
2.1.4 Nhà quản lý ra quyết sách 38
2.2 Nội dung phản biện 45
Trang 42.2.1 Phản biện về đổi mới tư duy, nhiệm vụ, mục tiêu của giáo dục tiểu học
45
2.2.2 Phản biện về đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục bậc tiểu học 59
2.2.3 Phản biện về đổi mới chương trình, sách giáo khoa tiểu học 66
2.2.4 Phản biện về vai trò và trách nhiệm của nhà giáo đối với đổi mới giáo dục tiểu học 76
2.2.5 Phản biện về việc quản lý, đánh giá, kiểm định chất lượng giáo dục tiểu học 80
2.3 Hình thức tổ chức các bài báo 84
2.3.1 Về chuyên mục và thể loại 85
2.3.2 Về thiết kế, trình bày trang báo 87
CHƯƠNG 3: KINH NGHIỆM PHẢN BIỆN XÃ HỘI TỪ CHỦ THỂ BÁO CHÍ, CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN PHẢN BIỆN XÃ HỘI VỀ ĐỔI MỚI GIÁO DỤC TIỂU HỌC TRÊN BÁO IN 93
3.1 Kinh nghiệm phản biện xã hội từ chủ thể báo chí 93
3.1.1 Kinh nghiệm phát hiện vấn đề 93
3.1.2 Kinh nghiệm tổ chức vấn đề phản biện 95
3.1.3 Kinh nghiệm cụ thể hóa vấn đề bằng tác phẩm báo chí, kích thích chủ thể tham gia phản biện xã hội 96
3.2 Các giải pháp phát triển phản biện xã hội trên báo in 97
3.2.1 Đối với nhà báo 97
3.2.2 Đối với ban biên tập 102
3.2.3 Đối với nhà Quản lý 107
KẾT LUẬN 109
TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
Trang 6
MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Báo chí là loại hình thông tin mang tính chính trị- xã hội, chức năng giáo dục là một trong những chức năng quan trọng của báo chí Đặc biệt ở nước ta hiện nay - một nước đang trong quá trình phát triển, đứng trước nhiều thách thức và cơ hội khi hội nhập với thế giới, vấn đề giáo dục luôn trở thành tâm điểm của dư luận với vô số bất cập và hạn chế Bằng cách cung cấp thông tin các lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội, đem lại tri thức nhiều mặt cho con người, chức năng giáo dục đã được báo chí thực hiện Song tập trung vào chính năng lực phản biện xã hội về giáo dục trên báo chí thì chức năng giáo dục của báo chí mới thực sự được thực hiện một cách triệt để và sâu sắc
Để hạn chế những bất cập trong giáo dục, nhiều năm nay chúng ta tiến hành đổi mới giáo dục ở nhiều cấp học, ngành học nhưng việc làm đó chưa thực sự hiệu quả Đổi mới giáo dục ở bậc tiểu học (bậc học có thể nói là đầu tiên đặt những viên gạch nền móng cho việc hình thành nhân cách cũng như trí tuệ) cũng chưa được quan tâm và nhìn nhận đúng đắn Gánh nặng đặt lên vai trẻ em nhiều hơn hứng thú mang lại cho các em trong quá trình học tập Trong khi chúng ta loay hoay tìm đường đi đúng cho giáo dục nước nhà thì áp lực và thiệt thòi dồn về phía các em– thế hệ làm chủ đất nước trong tương lai ngày một nhiều lên
Sự chậm chễ trong việc tìm ra đường đi đúng cho giáo dục có nhiều nguyên nhân, cả chủ quan lẫn khách quan, trong đó nguyên nhân từ chính ngành giáo dục cũng như từ lịch sử dân tộc Tuy nhiên chúng ta không thể lấy những lí do đó để biện hộ cho sự yếu kém của nền giáo dục nước nhà Báo chí
- mặt trận thông tin với khả năng tạo dư luận xã hội, có sức mạnh định hướng
dư luận đã có nhiều đóng góp không thể phủ nhận đối với sự phát triển chung của xã hội trong những năm qua, đặc biệt ở lĩnh vực giáo dục Tuy vậy, đối
Trang 7với sự nghiệp đổi mới giáo dục, nhất là đổi mới giáo dục tiểu học, báo chí vẫn chưa tạo ra một một diễn đàn có sức mạnh phản biện tổng lực làm thay đổi hiện trạng yếu kém của lĩnh vực này
Đề tài Phản biện về đổi mới giáo dục tiểu học trên một số báo in hiện nay (Khảo sát sát báo Giáo dục và Thời dại, Tia sáng, Sài Gòn giải phóng, Tuổi trẻ tp HCM, Hà Nội mới từ 2008-2011) không đi vào khai thác, tìm hiểu
vấn đề đổi mới giáo dục dưới con mắt của nhà giáo dục học hay nhà nghiên cứu xã hội học Tập trung vào việc đổi mới giáo dục ở bậc tiểu học trên báo
in, người viết luận văn này chỉ hi vọng sẽ cung cấp một cách nhìn khách quan
và thực tế hơn đối với hiện trạng giáo dục tiểu học hiện nay mà báo in phản ánh Qua đó để có thể hiểu rõ hơn về chính chức năng giáo dục và năng lực thực hiện phản biện xã hội trên báo chí, một trong những hoạt động chủ đạo của TTĐC
Phương pháp nghiên cứu đề tài sử dụng là: khảo sát, thống kê, tổng hợp, phỏng vấn, phân tích, đối chiếu so sánh để đánh giá điểm mạnh, điểm yếu trong hoạt động phản biện về đổi mới giáo dục các báo in tiến hành Trên
cơ sở những thành công và hạn chế của hoạt động phản biện xã hội về đổi mới giáo dục tiểu học, luận văn cũng đề xuất một số giải pháp để báo in nói riêng, báo chí nói chung nâng cao vai trò định hướng dư luận xã hội trong lĩnh vực giáo dục tiểu học cũng như toàn hệ thống giáo dục của nước ta
3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm hiểu rõ hơn thực tiễn đổi mới giáo dục ở bậc tiểu học cũng như cách thức báo in tổ chức hoạt động phản biện xã hội về vấn đề này Đi sâu phân tích cách thức báo chí đưa tin, cách thức tổ chức diễn đàn dư luận xã hội để có cứ liệu đánh giá, tìm giải pháp để
Trang 8nâng cao hiệu quả thông tin báo chí và làm tốt chức năng giáo dục của hoạt động báo chí.
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cách thức báo in thực hiện hoạt động phản biện xã hội về vấn đề đổi mới giáo dục tiểu học Do thời gian của
người viết có hạn, luận văn này chỉ tập trung khảo sát trên 5 tờ báo: Giáo dục thời đại, tạp chí Tia sáng, Hà Nội mới, Sài Gòn giải phóng, Tuổi trẻ Tp HCM; thời gian khảo sát là 4 năm từ 2008 – 2011.
5 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu báo chí về vấn đề giáo dục không phải là đề tài mới Đã có một số khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ đi theo hướng này Cho đến nay,
đi vào nghiên cứu giáo dục ở khía cạnh đổi mới giáo dục có các đề tài sau:
1 Vấn đề đổi mới giáo dục – đào tạo trên báo Giáo dục & Thời đại và báo Khuyến học – Đoàn Mạnh Hùng, K39A, ĐH KHXH & NV
2 Tuyên truyền đổi mới giáo dục trên báo Giáo dục & Thời đại–
Nguyễn Thanh Hương, K45, ĐH KHXH & NV
3 Báo in Việt Nam trong công cuộc đổi mới Giáo dục hiện nay – Văn
Phương Hoa, K11CH, ĐH KHXH & NV
Tuy nhiên, vấn đề các khóa luận hay luận văn nói trên đặt ra tập trung vào giáo dục nói chung; hoặc phạm vi nghiên cứu tập trung vào các báo của ngành giáo dục; chưa chỉ ra khâu quan trọng của đổi mới giáo dục là cần có tiếng nói phản biện mạnh mẽ tạo động lực đổi mới từ gốc, từ chính bậc tiểu học
Trên cơ sở tham khảo cách triển khai các đề tài liên quan, việc bổ sung
ý tưởng cũng như khắc phục thiếu sót từ các đề tài đó sẽ giúp luận văn được hoàn chỉnh hơn Đây vừa là thuận lợi đồng thời cũng là thách thức lớn đối với tác giả trong quá trình hoàn thành đề tài nghiên cứu này
Trang 96 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
Những dẫn chứng, số liệu, phân tích trong luận văn là cứ liệu quan trọng cung cấp cái nhìn khách quan và sâu sắc hơn đối với vấn đề đổi mới giáo dục tiểu học mà báo chí (cụ thể là báo in) hiện nay đề cập đến thông qua hoạt động chính là phản biện xã hội Đặt trong bối cảnh xã hội và giáo dục hiện nay thì đó là một phần việc cần cả báo chí và giáo dục nhìn nhận lại, một chặng của con đường đúng đòi hỏi báo chí và giáo dục song hành
Trên cơ sở đó, các biện pháp điều chỉnh, định hướng thông tin của báo chí đối với đổi mới giáo dục nói chung, đổi mới giáo dục tiểu học nói riêng trở nên phù hợp hơn, hiệu quả hơn Điều này sẽ góp phần định hướng chính sách xã hội về giáo dục một cách đúng đắn
7 KẾT CẤU LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận gồm 3 chương Trong đó nội dung chính của mỗi chương như sau:
Chương 1: Giới thiệu khái quát chuức năng của phản biện xã hội, vai trò của báo chí trong hoạt động phản biện xã hội; sự cần thiết của đổi mới giáo dục phổ thông bắt đầu từ cấp tiểu học trong thập niên đầu thế kỉ XXI; khẳng định báo in với đặc trưng loại hình và khả năng tạo diễn đàn phản biện
xã hội của nó
Chương 2: Đi vào nghiên cứu cách thức phản biện xã hội về vấn đề đổi mới giáo dục tiểu học trên một số tờ báo in khảo sát Nghiên cứu cách thức phản biện tập trung vào những vấn đề bất hợp lý của đổi mới giáo dục bậc tiểu học: đó là Vấn đề về đổi mới giáo dục tiểu học có được phản biện trên báo in không, chủ thể của hành động phản biện, và cách thức phản biện được thể hiện như thế nào trên những tờ báo in đó
Chương 3: Trên cơ sở cái nhìn tổng quan của chương 1, việc phân tích chương 2, từ những thành công cũng như thất bại của hoạt động phản biện xã hội trên báo in, chương 3 rút ra những kinh nghiệm phản biện xã hội từ chủ thể báo chí và đề xuất các giải pháp phát triển phản biện xã hội trên báo in
Trang 10CHƯƠNG 1 PHẢN BIỆN XÃ HỘI VÀ VẤN ĐỀ ĐỔI MỚI GIÁO DỤC
PHỔ THÔNG
Chương này trình bày cơ sở lý luận về phản biện, phản biện khoa học, phản biện xã hội và vai trò của báo chí trong việc thực hiện chức năng phản biện xã hội; lí giải sự cần thiết tiến hành đổi mới giáo dục ở bậc học phổ thông (trong đó đổi mới giáo dục tiểu học được coi là căn bản và nền tảng); trên cơ sở đó khẳng định báo in là loại hình báo chí có đặc trưng riêng có đầy
đủ năng lực thực hiện phản biện xã hội đối với những vấn đề phức tạp cuộc sống đặt ra, đặc biệt là những bất cập trong hệ thống giáo dục ở nước ta hiện nay
1.1 Phản biện xã hội và vai trò của báo chí trong việc thực hiện chức năng phản biện xã hội
1.1.1 Khái niệm Phản biện xã hội
Cho đến nay đã có một số khái niệm về Phản biện và Phản biện xã hội Trong phạm vi giáo dục -đào tạo, khái niệm Phản biện được dùng để chỉ hành
động đánh giá, thẩm định chất lượng luận văn tốt nghiệp Đại học, luận án trên
Đại học trước hội đồng chấm (Phản biện ở đây phân biệt với Phản bác, khác Phản bác ở chỗ: Phản bác là phủ nhận, gạt bỏ bằng lí lẽ, bằng cơ sở thực tiễn) [24, tr 1316]
Trong khoa học, khái niệm Phản biện được Từ điển tiếng Việt Viện Ngôn ngữ học trình bày: Phản biện là đánh giá chất lượng một công trình khoa học khi công trình được đưa ra bảo vệ lấy học vị trước hội đồng chấm thi
2004-Theo sách Tìm hiểu một số thuật ngữ trong Văn kiện Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ X của Đảng: Phản biện là nhận xét, đánh giá, bình luận, thẩm định công trình khoa học, dự án, đề án trong các lĩnh vực khác nhau
Trang 11Còn Phản biện xã hội: là sự phản biện nói chung nhưng có quy mô và lực lượng rộng rãi hơn của xã hội, của nhân dân và các nhà khoa học về nội dung, phương hướng, chủ trương, chính sách, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, khoa học – công nghệ, giáo dục, y tế, môi trường, trật tự an ninh chung toàn xã hội, Nhà nước và các tổ chức liên quan
Theo tác giả Nguyễn Trần Bạt, thì Phản biện xã hội là một hoạt động khoa học, phản biện là tranh luận một cách khoa học… Về bản chất chính trị, phản biện là một quyền tự do được xây dựng trên cơ sở quyền tự do ngôn luận Ngôn luận là bày tỏ ý kiến một cách có hệ thống và có cơ sở khoa học Đấy là một hoạt động của xã hội dân sự, nhưng không phải là hoạt động nhân dân đơn giản mà là hoạt động thông qua một hệ thống tranh luận chuyên nghiệp [1, tr 565]
Dễ dàng nhận thấy, điểm giống nhau căn bản của phản biện trong khoa học – giáo dục và phản biện xã hội là: cả hai hoạt động này đều là các hoạt động khoa học, dùng lý lẽ, lập luận một cách có hệ thống và khoa học để nhìn nhận, đánh giá về một vấn đề được nêu ra
Tuy nhiên khác biệt căn bản của phản biện trong khoa học – giáo dục
và phản biện xã hội lại ở chính đặc tính xã hội của nó Nếu như phản biện trong khoa học – giáo dục đơn thuần là việc thẩm định, đánh giá chất lượng công trình khoa học – giáo dục trong một lĩnh vực, phạm vi hẹp của nó thì phản biện xã hội lại là một hoạt động hướng đến nhiều lĩnh vực, vấn đề trong cuộc sống, được cả xã hội quan tâm
Chính vì hướng tới những lĩnh vực cả xã hội quan tâm, hoạt động phản biện xã hội mang những đặc điểm chính trị, đòi hỏi “xã hội phải giải quyết các vấn đề của nó” hay ít nhất đòi hỏi có sự điều chỉnh về chủ trương, chính sách, giải pháp mang tầm vĩ mô, theo đó “Nhà nước là một bộ phận của xã hội nhằm giải quyết những vấn đề có chất lượng chiến lược của đời sống”
Trang 12Trong khi đó, phản biện khoa học không đặt ra những tiêu chí ít nhiều mang đặc điểm chính trị rõ nét này
Như vậy, hiểu một cách khái quát nhất, Phản biện xã hội là hoạt động
xã hội thể hiện công khai những quan điểm, cách nhìn hay đánh giá về một hay nhiều vấn đề mà chính xã hội đó quan tâm Việc trình bày quan điểm hay cách nhìn phải được nghiên cứu kĩ lưỡng trên cơ sở thực tế, đưa ra được bằng chứng xác thực với lí lẽ, lập luận chặt chẽ, khoa học Phản biện xã hội hướng tới lợi ích chung của xã hội và là thước đo thể hiện sự tiến bộ của xã hội đó
1.1.2 Chức năng của phản biện xã hội
Trong một xã hội nhiều nhóm lợi ích khác nhau, với những quyền và nghĩa vụ khác nhau, phản biện xã hội là một hoạt động cần thiết để đảm bảo
xã hội đó vận hành theo chiều hướng phát triển Phản biện xã hội chính là nhu cầu của xã hội, “một cử chỉ” của xã hội khi đứng trước những vấn đề phức tạp cản trở sự phát triển của xã hội Bởi với một vấn đề xã hội quan tâm, thì nhất thiết cần mổ xẻ, soi xét kĩ lưỡng, thậm chí phải “nói ngược” nếu đó là điều cần thiết nhằm tìm ra tận cùng bản chất vất đề, đi đến giải quyết vấn đề Như vậy, phản biện xã hội đã thực hiện chức năng của mình:
Phản biện xã hội giúp điều tiết xung đột lợi ích giữa các nhóm xã hội
để tạo ra đồng thuận xã hội
Xã hội là một tập hợp của nhiều nhóm lợi ích Trong quá trình phát triển, các nhóm có nguy cơ mâu thuẫn về quyền lợi, dẫn đến những ẩn ức, ức chế xã hội (trong trường hợp không được giải tỏa); cao hơn, có thể dẫn đến tình trạng căng thẳng xã hội thường trực, thậm chí là tiền đề cho các cuộc khủng hoảng chính trị - xã hội trên diện rộng
Trạng như vậy diễn ra là bởi xã hội đã thiếu đi một cơ chế đối thoại, phản biện để điều hòa mâu thuẫn, cân đối lợi ích giữa các nhóm liên quan
Trang 13Nếu chúng ta xem xã hội như một chỉnh thể toàn vẹn thì vận động xã hội là quá trình “trao đổi chất” giữa các lực lượng xã hội Mâu thuẫn/xung đột xã hội sẽ làm gián đoạn phương thức trao đổi này cho đến khi cơ chế đối thoại, phản biện xã hội xuất hiện
Phản biện xã hội góp phần tái tạo, phục hồi trạng thái cân bằng vốn đã
bị phá vỡ trước đó, mở đường cho trạng thái đồng thuận xã hội xuất hiện
Khi một xã hội trở nên đồng thuận, bản thân nó đã tự tạo cho mình những tiền đề phát triển mới Vì đồng thuận xã hội là điều kiện cần để phát triển các nguồn vốn cộng đồng, mở rộng mạng lưới xã hội mà ở đó, các thành viên dễ dàng tương tác với nhau nhờ cùng chia sẻ những niềm tin và giá trị chung
Phản biện xã hội góp phần khắc phục những khiếm khuyết của các kiến tạo chính sách - thể chế, qua đó nâng cao chất lượng quản trị của bộ máy nhà nước
Khi hoạt động phản biện diễn ra, người ta hiểu rằng, trước đó, đã tồn tại một số vấn đề nhất định trong sự kiến tạo chính sách của cơ quan nhà nước chuyên trách công việc này và khiếm khuyết ấy có thể làm cho bản thân chính sách, quyết định đó trở nên bất khả thi khi áp dụng vào điều kiện thực tế Cho nên, phản biện xã hội thực chất là đưa ra một cách nhìn khác của cộng đồng đối với chất lượng và triển vọng của chính sách vừa được ban hành - một cách nhìn mang tính ngoại thể so với cách nhìn mang tính nội thể của người trong cuộc
Trong ý nghĩa tích cực của nó, phản biện xã hội không có mục đích phủ định sạch trơn hay tìm cách đánh đổ kiến tạo chính sách của cơ quan công quyền Ngược lại, nó giúp cơ quan kiến tạo chính sách nhận ra những vết rạn hay lỗ hỏng của bản thân chính sách, kể cả việc đề xuất các hướng đi hay giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế ấy
Trang 14Rõ ràng, việc bổ sung cách nhìn ngoại thể đưa đến một tác động kép: một mặt, nó trực tiếp nâng cao tính hiệu quả của quá trình lập định chính sách; mặt khác từng bước thay đổi tư duy kiến tạo chính sách, kể cả tư duy quản lí của giới kĩ trị theo hướng bám sát thực tiễn hơn
Phản biện xã hội góp phần nâng cao trách nhiệm xã hội của cộng đồng, phát triển ý thức về quyền và nghĩa vụ của người công dân, qua đó
từng bước hình thành môi trường xã hội dân chủ, tiến bộ
Do bản chất xã hội của nó, các hoạt động phản biện thường gây ảnh hưởng đáng kể lên đời sống cộng đồng Trong thời đại bùng nổ thông tin ngày nay, vai trò tích cực của cộng đồng truyền thông càng giúp đẩy mạnh quá trình xã hội hóa các hoạt động phản biện Thông qua quá trình này, cộng đồng dần nắm bắt được căn nguyên xuất hiện của hoạt động phản biện, từ đó dấy lên nhu cầu quan tâm, nhận thức vấn đề đang được đặt ra Phản biện xã hội là thước đo sự văn minh, tiến bộ của xã hội [36]
1.1.3 Vai trò của báo chí trong hoạt động phản biện xã hội
1.1.3.1 Báo chí tạo ra trục phản biện xã hội gồm 3 nhóm Cộng đồng báo
giới- Cộng đồng trí thức- Dư luận xã hội
Như đã đề cập đến ở mục 1.1.2, một trong những chức năng của phản biện xã hội là: “Phản biện xã hội góp phần nâng cao trách nhiệm xã hội của cộng đồng, phát triển ý thức về quyền và nghĩa vụ của người công dân” Để nâng cao trách nhiệm xã hội của cộng đồng với vấn đề xã hội đặt ra, trước tiên cộng đồng phải được tiếp cận với thông tin về vấn đề đó
Báo chí, loại hình thông tin mang tính chính trị- xã hội cao là diễn đàn tốt nhất để cộng đồng tiếp nhận thông tin, xử lý thông tin được tiếp nhận, thông qua hoạt động phản biện bày tỏ thái độ một cách trách nhiệm nhất với
về vấn đề được đặt ra
Trang 15Nói như tác giả Nguyễn Trần Bạt, điều kiện để phản biện xã hội trở thành một hoạt động có chất lượng khoa học, ngoài điều kiện thứ nhất cần phải thực thi tự do ngôn luận, thì phản biện xã hội cần đạt đến trạng thái chuyên nghiệp của quá trình thảo luận Tức là trạng thái chuyên nghiệp của
quá trình thảo luận cần có sự tham gia của hai lực lượng, lực lượng thứ nhất
là để nói một cách chuyên nghiệp và lực lượng thứ hai là để nghĩ một cách
chuyên nghiệp Trước khi nói phải nghĩ, nghĩ chuyên nghiệp là giới trí thức
và nói chuyên nghiệp là giới báo chí
Phản biện xã hội là sự tranh luận một cách chuyên nghiệp giữa các lực lượng xã hội với nhau hoặc là với nhà cầm quyền để tạo sự chính xác chính trị của mỗi một hành động có chất lượng chính sách hoặc định hướng, cho nên, nếu không có sự tham gia của hai lực lượng này thì quá trình còn lại là quá trình phản ứng xã hội chứ không phải là phản biện xã hội [1, tr 571 – 572]
Theo tác giả Phạm Quang Tú, Đặng Hoàng Giang, hoạt động phản biện
luôn “ủ sẵn khả năng” tạo ra một trường tương tác xã hội (social interaction sphere) giữa cộng đồng trí thức (phát hiện và lí giải vấn đề), cộng đồng truyền
thông (phổ quát thông tin) và cộng đồng xã hội (hưởng ứng thông tin và hình thành dư luận)
Nếu một vấn đề đặt ra được xã hội quan tâm, thì hoạt động phản biện không thể được coi là phản biện xã hội nếu nó chỉ đơn thuần là ý kiến hay tranh luận của một nhóm nhỏ lợi ích, diễn ra trong một phạm vi nhỏ, vì lợi ích cục bộ Cộng đồng truyền thông mà cốt lõi là TTĐC (nền tảng là báo chí), có vai trò quan trọng trong tiến hành, thực hiện hoạt động phản biện xã hội trên trục chính gồm 3 thành phần công chúng chính: Cộng đồng báo giới – Cộng đồng trí thức– Dư luận xã hội Mục đích cuối cùng của hoạt động này là huy động sự tham gia của toàn xã hội, thông qua thảo luận, thỏa thuận tạo sự đồng thuận trong xã hội nhằm hướng tới lợi ích chung của xã hội
Trang 161.1.3.2 Báo chí phản ánh và định hướng dư luận xã hội thông qua hoạt động phản biện xã hội
Từ chính khả năng kết nối 3 nhóm công chúng là cộng đồng trí thức, cộng đồng báo giới, dư luận xã hội kết hợp với những đặc điểm chủ đạo của TTĐC, TTĐC (báo chí là nền tảng) có khả năng tạo ra dư luận xã hội
Dư luận xã hội ở đây được hiểu là một cấu trúc tinh thần, thể hiện tâm trạng xã hội, phản ánh sự đánh giá của các nhóm xã hội lớn, của nhân dân nói chung về các hiện tượng đại diện cho cho lợi ích xã hội cấp bách trên cơ
sở các quan hệ xã hội đang tồn tại [29, tr 4]
Trả lời câu hỏi TTĐC sinh ra để làm gì, thực chất TTĐC sinh ra để cung cấp thông tin, nó cung cấp thông tin bằng cách tạo nên giao tiếp của các nhóm xã hội lớn, để tổ chức và kiểm soát xã hội
Đặc điểm chủ đạo của TTĐC (Giao tiếp đại chúng):
• Giao tiếp gián tiếp bằng các phương tiện kĩ thuật (Không có liên hệ ngược trực tiếp giữa nhà truyền thông và công chúng trong quá trình giao tiếp)
• Là giao tiếp của các nhóm xã hội lớn
• Thể hiện định hướng xã hội rõ ràng trong giao tiếp
• Có tính tổ chức, chịu tác động của thiết chế xã hội trong giao tiếp
• Yêu cầu tuân theo các chuẩn mực chung trong giao tiếp cao
• Tính tập thể của nhà truyền thông thể hiện rõ nét
• Thông tin mang đến cho công chúng (đại chúng) Những người này có thể phân bố rải rác và ngẫu nhiên
• Thông tin có tính chất định kì
[32, tr 5]
Quá trình truyền thông trong TTĐC là quá trình thông tin hai chiều, từ nguồn tới người tiếp nhận và người tiếp nhận tác động trở lại với nguồn gửi
Trang 17thông điệp Vì đối tượng tiếp nhận (R –receiver) thông tin trong truyền thông
đại chúng là số đông (những nhóm xã hội lớn) nên quá trình phản hồi thúc đẩy sự tương tác xã hội giữa nguồn phát và người nhận, tạo môi trường cho hoạt động phản biện xã hội tiến hành, hình thành dư luận xã hội
Các giai đoạn hình thành dư luận xã hội với tác động của hệ thống TTĐC diễn ra theo những bước sau:
- Công chúng làm quen với vấn đề được báo chí gợi ý hoặc đề xuất
- Đăng bài của các chuyên gia am hiểu về một chủ đề nào đó nhằm kích thích lợi ích xã hội về một chủ đề nào đó Việc trình bày các quan điểm khác nhau trong cách nhìn nhận đánh giá để tạo nên cơ sở cho tranh luận
- Tiến hành tranh luận trên phạm vi đại chúng
[31, tr 5]
Ba loại thông tin với mức độ cần thiết là: rất cần thiết, có thể cần thiết, không cần thiết Ba loại thông tin này quy định nhu cầu tiếp nhận thông tin của công chúng trên 3 cấp độ: rất quan tâm, có quan tâm, không quan tâm
Thông tin mà công chúng không quan tâm sẽ không có hiện tượng phản hồi, điều này có thể coi là một chỉ báo căn bản cho thấy hiệu quả của hoạt động truyền thông đại chúng trong việc hình thành và thể hiện dư luận xã hội
Ở bước thứ ba, tiến hành tranh luận trên phạm vi đại chúng là khâu quyết định cuối cùng tạo nên dư luận xã hội Tiến hành tranh luận trên phạm
vi đại chúng thực chất là thực hiện hoạt động phản biện xã hội
Như vậy, phản biện xã hội phản ánh trực tiếp dư luận xã hội đang diễn
ra trong chính xã hội đó Bằng việc tiến hành tranh luận trên phạm vị đại chúng, TTĐC là môi trường lí tưởng để phản biện xã hội thực hiện chức năng của mình, quay trở lại định hướng dư luận xã hội Dư luận xã hội được định hướng tốt thì các quan hệ xã hội được điều hòa (làm giảm bớt những căng
Trang 18thẳng xã hội,bảo vệ hành vi vì lợi ích chung,vì tiến bộ chung), hoạt động kiểm soát xã hội cũng được thực hiện triệt tể, thúc đẩy xã hội phát triển tiến bộ
Có thể nói “Tính phản biện xã hội, suy cho cùng, cũng chính là tính chiến đấu của báo chí hiện đại” Bởi vì “Phản biện trên báo chí làm cho cái đúng được bảo vệ, được làm sáng tỏ, cái sai bị đẩy lùi” [15, tr 12]
Tuy nhiên không phải tất cả những bài phản biện xã hội trên báo chí đều có giá trị xác đáng, bởi trước hết nó xuất phát từ những cá thể trong cộng đồng công chúng Tác giả Đỗ Minh Tuấn chỉ ra những lệch chuẩn trong phản biện xã hội trên báo chí như “phản biện loạn tiêu chí và loạn hướng”, “phản biện vuốt đuôi và phản biện nặc danh” Theo đó “ Những phản biện kiểu này thiếu tính khoa học, nặng tính kích động xã hội, thiếu tầm chiến lược, nặng về tiểu tiết cảm tính, thậm chí thể hiện trình độ thấp và thái độ thực dụng, bè cánh tinh xảo của những người viết”
Nếu phản biện xã hội đúng đắn, khoa học thì việc định hướng dư luận
sẽ đóng vai trò tích cực trong giải quyết vấn đề đặt ra, nếu hoạt động phản biện xã hội không đúng đắn, không khoa học thì không những vấn đề đặt ra không được giải quyết mà còn để lại hậu quả khôn lường cho xã hội
Muốn phản biện xã hội trên báo chí không “loạn hướng”, mang tính chủ quan thì cần tập hợp nhiều luồng ý kiến, quan điểm, tạo diễn đàn tranh luận công khai về vấn đề đặt ra Trên cơ sở nhìn nhận đa chiều về vấn đề, tìm
ra bản chất vấn đề để đi đến một thỏa thuận chung, một giải pháp chung giải quyết vấn đề đó chứ không dừng ở việc khơi gợi vấn đề rồi bỏ lửng nó Có như vậy báo chí mới thực hiện vai trò phản biện xã hội một cách triệt để, thúc đẩy xã hội phát triển
1.2 Đổi mới giáo dục và sự cần thiết của đổi mới giáo dục phổ thông trong thập niên đầu thế kỉ XXI
Trang 191.2.1 Khái niệm đổi mới giáo dục
Khái niệm đổi mới gần với cải cách: Cải cách là sửa đổi cho hợp lý hơn, phù hợp hơn với tình hình mới
Đổi mới là thay đổi hoặc làm cho thay đổi tốt hơn, tiến bộ hơn hiệu quả hơn so với trước [24, tr 657]
Theo đó có thể hiểu đổi mới giáo dục là hệ thống việc làm để nền giáo dục thay đổi tốt hơn, tiến bộ hơn, hiệu quả hơn trước, phù hợp với nền giáo dục chung của thế giới và sự phát triển chung của thời đại
Đổi mới giáo dục muốn hiệu quả và đúng hướng cần một tư duy mới, tiến hành một cách hệ thống, phát triển từ mô hình thực tế đã nghiên cứu lâu dài và có hiệu quả, có cơ sở lý luận, có tầm nhìn chiến lược; không thể là các giải pháp tình thế, tức thời và chắp vá
1.2.2 Sự cần thiết của đổi mới giáo dục ở các cấp học phổ thông từ tiểu học
1.2.2.1 Sự cần thiết của đổi mới giáo dục phổ thông
Cho đến nay, nước ta đã tiến hành 3 lần cải cách giáo dục: lần 1 (1950 1951), lần 2 (1956 -1957), lần 3 (1979 -1980), tuy nhiên cho đến nay nền giáo dục sau 3 lần cải cách và nhiều lần đổi mới vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của người học và tình hình phát triển chung của xã hội
-Cuộc cải cách giáo dục lần 1 chuyển hệ thống tú tài cũ của chế độ Thực dân sang hệ thống phổ thông 9 năm với phương châm Dân tộc, khoa học, đại chúng Cuộc cải cách giáo dục lần 2 chuyển từ hệ thống phổ thông 9 năm sang hệ thống phổ thông 10 năm và lấy nhiệm vụ xóa nạn mù chữ, góp phần đẩy mạnh sản xuất và nâng cao giác ngộ chính trị của nhân dân, phát triển mạnh mẽ quy mô, xây dựng nền giáo dục phục vụ 2 nhiệm vụ chiến lược xây dựng miền Bắc, thống nhất nước nhà, chủ yếu là hoàn chỉnh hệ thống giáo dục quốc dân Và cuộc cải cách giáo dục lần 3 chuyển hệ thống phổ thông 10
Trang 20năm sang 12 năm, từng bước thực hiện sự thống nhất hệ thống giáo dục và sau năm 1986 cải cách giáo dục bắt đầu điều chỉnh, đổi mới Các cuộc cải cách đã đáp ứng tình hình của xã hội vào thời điểm trước và sau khi nó ra đời
Theo luật giáo dục năm 2005 (số 38/2005/QH11), hệ thống giáo dục quốc dân hiện nay gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên Trong
đó các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm:
Giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo; Giáo dục phổ thông có tiểu học, THCS,THPT; Giáo dục nghề nghiệp có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề; Giáo dục ĐH và sau ĐH (gọi chung là giáo dục ĐH) đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ ĐH, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ
Cơ sở giáo dục phổ thông bao gồm: Trường tiểu học; Trường THCS; Trường THPT; Trường phổ thông có nhiều cấp học; Trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp
Về giáo dục Phổ thông, Luật giáo dục 2005 cũng nêu rõ trong điều 26,
27, 28, 29 như sau:
Mục tiêu của giáo dục phổ thông
Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện
về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc
Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục phổ thông
Nội dung giáo dục phổ thông phải bảo đảm tính phổ thông, cơ bản, toàn
diện, hướng nghiệp và có hệ thống; gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh, đáp ứng mục tiêu giáo dục ở mỗi cấp học
Trang 21Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác,
chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện
kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh
Chương trình giáo dục phổ thông, sách giáo khoa:
Chương trình giáo dục phổ thông thể hiện mục tiêu giáo dục phổ thông; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục phổ thông, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp và mỗi cấp học của giáo dục phổ thông
Sách giáo khoa cụ thể hóa các yêu cầu về nội dung kiến thức và kỹ năng quy định trong chương trình giáo dục của các môn học ở mỗi lớp của giáo dục phổ thông, đáp ứng yêu cầu về phương pháp giáo dục phổ thông
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành chương trình giáo dục phổ thông, duyệt sách giáo khoa để sử dụng chính thức, ổn định, thống nhất trong giảng dạy, học tập ở các cơ sở giáo dục phổ thông, trên cơ sở thẩm định của Hội đồng quốc gia thẩm định chương trình giáo dục phổ thông và sách giáo khoa
Sang thập niên đầu thế kỉ XXI, nhân loại đã bước vào kỉ của nguyên thông tin, tri thức, công nghệ, điều này tạo ra những cơ hội cũng như thách thức không nhỏ cho các quốc gia Với những nước đang trong quá trình phát triển như nước ta hiện nay, giáo dục dường như là con đường duy nhất, có vai trò tiên quyết đưa xã hội phát triển theo kịp xu hướng thời đại Tuy nhiên qua
3 lần cải cách, với phương châm coi “giáo dục là quốc sách hàng đầu”, những đường lối đặt ra trong luật giáo dục 2005 và một số văn bản pháp quy khác
Trang 22chưa làm thay đổi diện mạo nền giáo dục nước ta, chưa tạo nguồn nhân lực có chất lượng phục vụ công cuộc đổi mới phát triển đất nước
Nhìn chung, hệ thống giáo dục và đào tạo của nước ta đang tụt hậu xa hơn so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) năm 2006: Giáo dục Việt Nam đang bị tụt hậu so với các nước khác trong khu vực, chỉ có 2% dân số được học trong thời gian trên 13 năm Xét trong độ tuổi từ 20-24 chỉ có 10% học lên tới đại học (trong đó Trung quốc là 15%, Thái Lan 41%, Hàn Quốc 89 %)
Cũng theo Diễn đàn kinh tế Thế giới (WEF) năm 2005, chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam xếp thứ 53 trong số 59 quốc gia được khảo sát Việt Nam tụt hậu so với Trung Quốc 10 năm, Thái Lan 15 năm, Malaysia 20 năm, Hàn Quốc 25 năm, Singapore 35 năm, Nhật Bản 40 năm (Theo đánh giá của Liên Hợp quốc) [28, tr 12-13]
Năm 2007, Bộ GD&ĐT đã đề xuất hàng loạt sáng kiến: Phong trào
“Nói không với tiêu cực”, “Đề án tăng học phí”, “Đào tạo 20.000 tiến sĩ”,
“Đại học đẳng cấp quốc tế”, “Hỗ trợ dạy nghề và đào tạo việc làm cho thanh niên”, “Cổ phần hóa các đại học công”… [34, tr 18] nhưng tất cả các sáng kiến đó không tạo được sự đồng thuận trong xã hội
Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã khẳng định: “Đổi mới có tính cách
mạng nền gáo dục đào tạo của nước nhà” Để đưa đất nước phát triển nhanh với chất lượng cao và bền vững, tiến kịp thời đại trong kỉ nguyên thông tin và tri thức, chúng ta cần tiến hành một cuộc đổi mới toàn diện, sâu sắc, triệt để
có tính cách mạng nền giáo dục và đào tạo của nước nhà
Trước hết, cần đổi mới tư duy về quan điểm và mục tiêu giáo dục và đào tạo, từ đó mà đổi mới chương trình, nội dung, phương châm, phương pháp giáo dục, đổi mới hệ thống tổ chức, công tác quản lee và hệ thống chính
Trang 23sách nhằm hiện đại hóa nền giáo dục của nước ta phù hợp với truyền thống văn hóa dân tộc và xu hướng phát triển chung của thời đại [28, tr 16]
Để có sự đổi mới cách mạng đó, trước tiên cần đánh giá lại vai trò, vị trí của giáo dục bậc phổ thông Vì giáo dục phổ thông là nền tảng của chung của toàn bộ hệ thống giáo dục Chúng ta không thể có giáo dục nghề nghiệp, giáo dục ĐH và sau ĐH có chất lượng cao nếu giáo dục ở bậc phổ thông còn yếu kém, bất cập Nhìn nhận đúng vai trò của giáo dục phổ thông trong hệ thống giáo dục thì các chính sách mang tầm vĩ mô chiến lược mới có thể đặt
ra đúng đắn, thúc đẩy giáo dục và xã hội phát triển theo kịp xu thế thời đại
1.2.2.2 Sự cấp bách của đổi mới giáo dục tiểu học
Như đã trình bày ở trên, giáo dục phổ thông được coi là nền tảng của giáo dục nói chung Trong nền tảng đó, giáo dục tiểu học là cấp học đầu tiên đặt cơ sở nền móng, là gốc của giáo dục và “của công cuộc xây dựng đất nước”
Luật giáo dục năm 2005 đề cập đến giáo dục tiểu học: “Giáo dục tiểu học và giáo dục trung học cơ sở là các cấp học phổ cập Nhà nước quyết định
kế hoạch phổ cập giáo dục, bảo đảm các điều kiện để thực hiện phổ cập giáo dục trong cả nước” (Điều 11 luật giáo dục)
Điều 26 luật giáo dục quy định: “Giáo dục tiểu học được thực hiện trong năm năm học, từ lớp một đến lớp năm Tuổi của học sinh vào học lớp một là sáu tuổi”
Trong phần trình bày về Giáo dục phổ thông, Luật giáo dục 2005 trình
bày Mục tiêu giáo dục tiểu học: giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình
thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở
Trang 24Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục phổ thông, riêng giáo dục
tiểu học: Giáo dục tiểu học phải bảo đảm cho học sinh có hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người; có kỹ năng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết và tính toán; có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh; có hiểu biết ban đầu về hát, múa, âm nhạc, mỹ thuật
Ngoài luật giáo dục 2005, một số văn bản pháp quy khác về giáo dục và đổi mới giáo dục tiểu học đã được Bộ GD&ĐT ban hành:
Năm 2000, ban hành Điều lệ Trường tiểu học; ban hành quy chế đánh giá, xếp loại chuyên môn, nghiệp vụ giáo viên tiểu học; Năm 2002 Quyết định Về việc sửa đổi các khoản 2 và 3 của Điều 11 trong Quy chế thi tốt nghiệp tiểu học Năm 2005 Quy định đánh giá và xếp loại học sinh tiểu học; năm 2007 Quyết định ban hành quy định về chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học
Hiện thực hóa văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục nói chung, giáo
dục tiểu học nói riêng, thực hiện Nghị quyết số 40/2000/QH10 của Quốc hội, Chỉ thị số 14/2001/CT-TTg Về việc đổi mới chương trình SGK Phổ thông, Chương trình Tiểu học 2000 cũng đã được thực thi
Chương trình Tiểu học 2000 triển khai với việc làm là cả nước dùng1
bộ SGK (năm 2002) không mang lại hiểu quả tích cực và đã vấp phải sự phản đối của xã hội
Với Chương trình cả nước dùng một bộ sách giáo khoa, thành quả của
Phương án Công nghệ giáo dục (thực nghiệm từ 1978) triển khai từ lớp 1 đến
lớp 5 trên phạm vi 43 tỉnh/thành cả nước đã bị xóa bỏ, “thế chỗ là Quyển sách e/b đầy tai tiếng ở lớp Một, rồi các quyển “đồng loại” tuần tự thế chỗ ở các
lớp Hai, Ba, Bốn, Năm” Tháng 5/2008, Công nghệ giáo dục đã chính thức bị
“khai tử”
Trang 25Tuy nhiên cũng trong năm 2008, trước tình trạng “đáng buồn triền miên” của giáo dục ở vùng sâu, vùng xa thuộc 3 Tây (Tây Bắc / Tây Nguyên /
Tây Nam Bộ), Bộ GD&ĐT cho phép đưa Phương án Công nghệ giáo dục về
với 10 ngàn học sinh lớp Một ở các tỉnh Lào Cai, Sơn La, KonTum, Tây Ninh, An Giang, Kiên Giang
Hiện nay, vấn đề quá tải về nội dung chương trình sách giáo khoa phổ thông trong đó có bậc tiểu học không thể giải thích bằng việc: "Một chương trình, một bộ sách không thể phù hợp với tất cả các nhóm đối tượng HS, nên việc quá tải đối với một số bộ phận HS là không thể tránh khỏi" Nạn dạy thêm tràn lan ở bậc học này, đặc biệt là việc tổ chức ôn luyện cho học sinh trước khi vào lớp 1 không thể là việc làm nhằm giúp học sinh theo kịp chương trình học…
Trong khi thực tế hiện nay, cấp học ở bậc phổ thông được được báo chí cũng như dư luận quan tâm nhiều nhất không phải là giáo dục tiểu học, mà chủ yếu là giáo dục bậc THPT, bậc cao hơn lại chú trọng tới giáo dục ĐH Bởi đây là cấp học bước ngoặt, được chọn lọc thông qua các kì thi tuyển chọn gắt gao nhằm tạo nguồn nhân lực trực tiếp cho xã hội, ảnh hưởng trực tiếp tới con đường sinh tồn cũng như hoạt động nghề nghiệp mỗi cá nhân
Tuy nhiên đó là cách nhìn ngắn hạn và thiếu tầm nhìn chiến lược về một nền giáo dục, về vai trò của giáo dục trong việc đào tạo nguồn nhân lực
có chất lượng phục vụ xã hội Để một nền giáo dục phát triển thì nó phải được phát triển bền vững, có nền tảng vững chắc Muốn như vậy, đối diện với những vấn đề yếu kém dứt khoát cần có những biện pháp cụ thể, tích cực, mang tầm chiến lược để đổi mới chính nền giáo dục đó Việc đổi mới cần tiến hành trên một hệ thống thống nhất, triệt để, tuyệt đối không dừng lại ở việc đưa ra những quyết sách nhằm sửa chữa lỗ hổng của giáo dục một cách chắp
vá, tạm bợ
Trang 26Trong quy trình đổi mới đó, yêu cầu đổi mới giáo dục ở bậc tiểu học, cấp học đầu tiên của giáo dục phổ thông phải được đặt đúng chỗ, cần sự quan tâm đúng mức của toàn xã hội trong đó có báo chí và dư luận nói chung Đổi mới giáo dục tiểu học đi đúng hướng thì đổi mới giáo dục chung mới có nền tảng vững chắc trên cơ sở tư duy mới với tầm nhìn chiến lược lâu dài Có như vậy những kế hoạch, công trình hay sự thi công dài hạn của nhà chức trách và chuyên môn về giáo dục mới được tiến hành đúng, đem lại lợi ích cho toàn xã hội
1.3 Thế mạnh của báo in trong hoạt động phản biện xã hội
1.3.1 Đặc trưng của báo in
Có nhiều loại hình TTĐC như báo in, phát thanh, truyền hình, báo trực tuyến (online), trong đó báo in là loại hình truyền thông có lịch sử ra đời sớm nhất Tờ báo đầu tiên trên thế giới ra đời tại Venice, Ý với tên gọi Gazetta Tại Anh tờ báo đầu tiên là báo tuần được xuất bản tại London năm 1622
Khác với báo chí nhiều nước trên thế giới ra đời với mục đích trước tiên là kinh tế, báo chí nước ta ra đời trong khuôn khổ chế độ thuộc địa Với những điều kiện tiên quyết trên cơ sở nghề in phát triển, có đội ngũ người làm báo chuyên nghiệp, có giới độc giả, tờ báo in đầu tiên của nước ta ra đời ngày
15/4/1865 là tờ Gia Định báo (ở Nam kì)
Cụ thể là, năm 1862 ở Sài Gòn đã xuất hiện công sở, người Pháp đã đưa máy in vào quân đội, giao cho giáo hội Công giáo Việt Nam, nghề in do vậy phát triển nhanh chóng, trước tiên là trong giới ngoại quốc và từng bước trong người Việt đến thế kỉ XX Cũng trong thời gian này, Sài Gòn đã xuất hiện những người làm báo đầu tiên, đó là những trí thức Tây học thế hệ đầu tiên được đào tạo ở nước ngoài cùng với những người Công giáo được đào tạo ở Pháp hoặc ở các chủ viện nước ngoài Mặt khác, Sài Gòn và Nam Kì cũng là nơi có giới độc giả sớm gồm những người trung lưu, quan lại, thị dân,
Trang 27những người có học (biết chữ quốc ngữ) hình thành trong điều kiện khai thác thuộc địa sớm của Thực dân Pháp
Lịch sử báo chí của ta cho đến nay chuyển từ báo chí thuộc địa sang báo chí dân chủ cộng hòa, bản thân nó là tấm gương phản ánh lịch sử từ thế kỉ XIX đến nay Trong mỗi giai đoạn nó gắn chặt với lịch sử dân tộc, với cách mạng, chịu sự chi phối của điều kiện chính trị xã hội
Đặc trưng không thể thay thế của báo in (so với các loại hình báo chí khác như phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử):
• Sử dụng chữ viết trên giấy, thường là khổ nhỏ dễ cầm theo Điều này giúp người đọc nắm rõ thông tin hơn và có thời gian nghiên cứu lâu hơn các loại hình báo chí khác
• Đối tượng công chúng biết đọc, biết viết cao Nhìn chung công chúng của báo in có trình độ, nhận thức tương đối cao so với công chúng của các loại hình báo chí khác
• Thông tin chiều sâu (văn bản, con chữ), có nhiều bài phân tích, bình luận Báo in cung cấp cho bạn đọc những thông tin chuyên sâu, bình luận chi tiết và có hệ thống về một vấn đề, một sự kiện nào đó
• Lưu giữ dễ dàng Báo in có khả năng lưu trữ thông tin giúp cho người đọc có thể lưu trữ những bài báo, bản tin theo chuyên đề, theo mục đích của người đọc; dễ dàng chia sẻ cùng những người khác
Thông thường khi một sự kiện xảy ra thì “phát thanh đưa tin, truyền hình giải thích, báo in bình luận” Yếu tố phản hồi trên báo in do vậy đạt được chiều sâu, đặc biệt thích hợp với những vấn đề phức tạp của xã hội đòi hỏi tranh luận công khai
Với đặc trưng sử dụng chữ viết trên giấy, lưu giữ dễ dàng, các nhóm công chúng tham gia hoạt động phản biện xã hội có cơ hội đọc và tìm hiểu kĩ vấn đề tranh luận cũng như đọc và hiểu kĩ các ý kiến tham gia hoạt động phản
Trang 28biện đó Cùng với các loại hình báo chí khác như phát thanh, truyền hình, báo trực tuyến, báo in tạo diễn đàn cho phản biện xã hội phát triển, tạo sự đồng thuận xã hội, giúp tìm ra giải pháp tháo gỡ vấn đề một cách triệt để
1.3.2 Khái quát về các báo in được khảo sát
Giáo dục thời đại, Tia sáng, Sài Gòn giải phóng, Tuổi trẻ Tp HCM, Hà Nội mới là những tờ báo và tạp chí có uy tín, số lượng độc giả cao, có lịch sử
lâu đời Đây là những đại diện tiêu biểu cho loại hình báo in của Việt Nam hiện nay
Có thể khái quát qua một số nét từng báo như sau:
● Báo Giáo dục và Thời đại tiền thân là báo Người giáo viên nhân dân,
số đầu tiên ra đời ngày 5/12/1959
Cơ quan chủ quản: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Tổng biên tập: TS Nguyễn Danh Bình
Tòa soạn: 29B Ngô Quyền
Website: http://www giáo dụctd.vn; http://www.giaoducthoidai.vn; http://edunews.vn
Từ một tờ báo xuất bản mỗi tháng 2 kỳ, chỉ có 8 trang, đến mỗi tuần một kỳ với 12 trang, đến nay mỗi tuần báo có 3 kỳ với 16 trang
Năm 2010, Báo xuất bản mỗi tuần 4 kỳ, bên cạnh đó còn có ấn phẩm Giáo dục & Thời đại Chủ nhật ra hàng tuần, số Đặc biệt tháng 2 kỳ/ tháng và chuyên đề Tài hoa trẻ xuất bản tại TP Hồ Chí Minh 5 kỳ/ tháng Việc khai trương báo Giáo dục & Thời đại từ giữa năm 2009 cũng đã giúp cho thông tin của Ngành đã được cập nhật, chuyển tải đến bạn đọc một cách kịp thời
Luận văn sử dụng tư liệu là ấn phẩm của báo Giáo dục và Thời đại (từ
2008 – 2011) gồm báo giấy đã xuất bản ra 3-4 kì/tuần và số đặc biệt 2 kỳ/tháng
● Tạp chí Tia sáng ra đời năm 1991
Trang 29Cơ quan chủ quản: Bộ Khoa học Công nghệ
Tổng biên tập: Hoàng Thị Thu Hà
Tòa soạn: 70 Trần Hưng Đạo - Hà Nội,
Website: tiasang.com.vn
● Báo Sài Gòn giải phóng, nhật báo số đầu tiên ra đời ngày 5/5/1975
Cơ quan chủ quản là Thành ủy Tp.HCM
Tổng biên tập: Trần Thế Tuyển (2008-2012); Nguyễn Tấn Phong – từ tháng 5 năm 2012 đến nay
Trụ sở chính: 399 Hồng Bàng, Phường 14, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh
Phiên bản online bản tiếng Việt: http://www.sggp.org.vn
Hiện nay, báo Sài Gòn giải phóng xuất bản 8 ấn phẩm và Báo điện tử
gồm: Nhật báo Sài Gòn giải phóng; Tuần san Sài Gòn giải phóng thứ bảy; Nhật báo Sài Gòn giải phóng Hoa Văn; Tuần san Sài Gòn giải phóng Hoa Văn; Phụ trang Sài Gòn giải phóng Thể thao; Sài Gòn giải phóng Đầu tư – Tài chính; Báo điện tử Sài Gòn giải phóng online Tiếng Việt và Báo điện tử Sài Gòn giải phóng online Tiếng Anh
● Báo Hà Nội mới, tiền thân là báo Thủ đô, số đầu tiên in đen trắng khổ
30x40cm ra ngày 24/10/1957
Cơ quan chủ quản: Thành ủy Hà Nội
Tổng biên tập: Tô Quang Phán
Tòa soạn: 44 Lê Thái Tổ - Hà Nội
Website: http://hanoimoi.com.vn
● Báo Tuổi Trẻ ra đời chính thức ngày 2 tháng 9 năm 1975
Cơ quan chủ quản của báo Tuổi Trẻ là Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh thành phố Hồ Chí Minh
Tổng biên tập đương nhiệm: Phạm Đức Hải
Trang 30Trước đó tổng biên tập Lê Hoàng phục trách từ (2003-2008) Phó Tổng biên tập Vũ Văn Bình phụ trách trị sự từ tháng 1 -3 /2009 Tổng biên tập Phạm Đức Hải phụ trách từ tháng 3/2009 đến nay.
Tòa soạn, trị sự: 60A Hoàng Văn Thụ, Phường 9, Quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh
Báo Tuổi Trẻ online: www.tuoitre.com.vn
Hiện tại, Tuổi Trẻ có Văn phòng đại diện tại Hà Nội, Nghệ An, Đà Nẵng, Huế, Bình Định, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Cần Thơ
Hiện nay, Báo Tuổi trẻ có 16 trang, không kể phần quảng cáo
Trang 2, 3, là trang thời sự với những tin tức nóng hổi về tình hình chính trị xã hội trong nước
Trang 5 là trang “Bạn đọc và Tuổi Trẻ” với các tiểu mục như “chúng tôi có ý kiến”, “Nghe, thấy và viết”; “Thông tin nhanh từ bạn đọc”, “Đơn thư bạn đọc”
Trang 8,9 là luân phiên của các chuyên trang: “Nhịp sống trẻ”, “Học sinh, sinh viên” (vào thứ Sáu hàng tuần)
Trang 10 gồm các chuyên mục “Giáo dục” và “Khoa học quanh ta” Báo Tuổi trẻ hiện in với ba màu: Đỏ, xanh và vàng cam Màu đỏ vào các ngày thứ Hai, Tư, Sáu Màu xanh vào các ngày thứ Ba, Năm, Bảy Màu cam vào số ngày Chủ nhật Hiện tại báo có ba ấn phẩm: báo Tuổi trẻ (từ thứ hai đến Chủ nhật), báo Tuổi trẻ Cuối tuần, báo nguyệt san Tuổi trẻ Cười Bên cạnh đó còn có báo điện tử Tuổi trẻ Online.
Hiện nay báo Tuổi trẻ được đánh giá là một trong những tờ báo lớn tại Việt Nam Riêng Tuổi Trẻ ngày có lượng phát hành trên toàn quốc hơn 380.000 bản/ngày
1.3.3 Khả năng tạo diễn đàn phản biện xã hội trên báo in
Trang 31Khảo sát trên những đại diện báo in tiêu biểu, cụ thể là 5 tờ báo nói trên
căn cứ vào nội dung thông tin chuyên sâu (tạp chí Tia sáng), tính đặc thù của chuyên ngành (báo Giáo dục và Thời đại), tính đặc thù của khu vực (báo Hà Nội mới, Sài Gòn giải phóng) cũng như phạm vi ảnh hưởng của thông tin theo lượng tia-ra (báo Tuổi trẻ) đã cung cấp cái nhìn tương đối toàn diện về vấn đề
xã hội hiện nay quan tâm Đối với vấn đề phức tạp, nhiều bất cập như giáo dục, đặc biệt giáo dục tiểu học thì 5 tờ báo khảo sát đã xây dựng được mạng lưới thông tin khá căn bản, sâu sắc, nhiều chiều
Bằng cách cung cấp thông tin đầy đủ, nhiều mặt về giáo dục, trong đó
có giáo dục tiểu học, báo in tạo diễn đàn cho phản biện xã hội phát triển, phản ánh trực tiếp tâm trạng xã hội (dư luận xã hội) đang tồn tại đối với giáo dục tiều học, từ đó quay trở lại định hướng thông tin dư luận xã hội, giúp nhà hoạch đính chính sách và nhà giáo dục có sự nhìn nhận đúng mực, xác đáng
về sự đổi mới ở cấp học này trong hệ thống giáo dục nước nhà
Với công nghệ hiện đại ngày nay, hầu hết các tờ báo in ngoài phiên bản giấy còn có phiên bản online, do vậy diễn đàn phản biện xã hội báo in tạo ra càng phát huy tác dụng tổng lực, tích cực 5 tờ báo in khảo sát trong luận văn đều có phiên bản online đã mở ra nhiều hướng để công chúng tiếp cận thông tin của cùng một vấn đề
Thời đại công nghệ thông tin phát triển vượt bậc hiện nay cho phép báo
in cũng dễ dàng kết hợp với các loại hình báo chí khác như phát thanh, truyền hình, báo trực tuyến cập nhật được thông tin, tạo nên mặt trận phản biện xã hội mạnh mẽ quyết định đến đường hướng của dư luận xã hội về vấn đề nóng hổi, cụ thể là vấn đề đổi mới giáo dục ở bậc tiểu học
Tuy nhiên trong giới hạn của luận văn, phần tư liệu khảo sát căn cứ trên
5 tờ báo giấy là chủ yếu Các bài viết liên quan không đăng trên báo giấy mà
Trang 32chỉ đăng trên phiên bản online của tờ báo đó sẽ không được sử dụng làm căn
cứ để phân tích
Tiểu kết chương1: Như vậy chương 1 đã đi vào tìm hiểu những nét khái
quát về phản biện xã hội, chức năng của phản biện xã hội, vai trò của báo chí trong hoạt động phản biện xã hội; lí giải việc đổi mới giáo dục phổ thông bắt đầu từ bậc tiểu học trong thập niên đầu thế kỉ XXI là việc làm cần thiết cần được nhìn nhận đúng đắn; khẳng định thế mạnh của báo in trong việc tạo diễn đàn phản biện xã hội, phản ánh trực tiếp dư luận xã hội và có khả năng định hướng dư luận xã hội, đặc biệt là vấn đề đổi mới giáo dục Đây là những tìm hiểu nghiên cứu bước đầu, căn bản tạo nền tảng cơ sở cho việc phân tích ở chương 2
Trang 33CHƯƠNG 2 CÁCH THỨC PHẢN BIỆN XÃ HỘI VỀ ĐỔI MỚI GIÁO DỤC
TIỂU HỌC TRÊN BÁO IN KHẢO SÁT
Bằng cách chỉ ra chủ thể của hành động phản biện xã hội, nội dung phản biện, hình thức thể hiện của các bài phản biện căn cứ trên những văn bản
pháp quy về giáo dục và giáo dục tiểu học cũng như thực trạng chất lượng giáo dục tiểu học hiện nay, chương 2 sẽ đi vào làm rõ cách thức phản biện xã hội về vấn đề đổi mới giáo dục tiểu học thể hiện trên những tờ báo in Do giới
hạn thời gian và khuôn khổ đề tài, chương này chỉ đi vào khảo sát nghiên cứu
trên 5 tờ báo căn cứ vào nội dung thông tin chuyên sâu (tạp chí Tia sáng), tính đặc thù của chuyên ngành (báo Giáo dục và Thời đại), tính đặc thù của khu vực (báo Hà Nội mới, Sài Gòn giải phóng) cũng như phạm vi ảnh hưởng của thông tin theo lượng tia-ra (báo Tuổi trẻ Tp HCM)
2.1 Chủ thể của hoạt động phản biện xã hội trên báo in
Như đã đề cập ở chương 1, Phản biện xã hội là hoạt động xã hội thể hiện công khai những quan điểm, cách nhìn hay đánh giá về một hay nhiều vấn đề mà xã hội quan tâm Việc trình bày quan điểm hay cách nhìn phải được nghiên cứu kĩ lưỡng trên cơ sở thực tế, đưa ra được bằng chứng xác thực với lí lẽ, lập luận chặt chẽ, khoa học Phản biện xã hội hướng tới lợi ích chung của xã hội và là thước đo thể hiện sự tiến bộ của xã hội đó Việc
thể hiện công khai quan điểm, ý kiến đối với những vấn đề nóng của xã hội đòi hỏi có sự lắng nghe và tham gia của nhiều người trước khi đi đến một thỏa thuận hay giải pháp chung
Báo in với đầy đủ đặc điểm và ưu thế của một loại hình TTĐC lâu đời,
có thể nói là một diễn đàn phù hợp để toàn xã hội thể hiện hoạt động tranh luận công khai, thực hiện hoạt động phản biện xã hội
Trang 34Báo in tiến hành hoạt động phản biện xã hội về đổi mới giáo dục tiểu
học bằng chính các bài viết thể hiện công khai trên mặt báo với chủ đề chính
là đổi mới giáo dục ở bậc tiểu học Những bài viết tác động đến quá trình đổi
mới ở bậc này (như hệ thống chính sách, luật pháp…) cũng được lấy căn cứ làm tư liệu
Với phạm vi nghiên cứu là 5 đầu báo nói trên, chủ thể của hoạt động phản biện xã hội được đề cập một cách bao quát bằng cách: nhà báo thông tin (đội ngũ phóng viên, biên tập viên 5 báo), nhà chuyên môn, giới trí thức VN
lên tiếng (tạp chí Tia sáng), độc giả ở các địa phương phản hồi (báo HNM, SGGP, Tuổi trẻ Tp.HCM) và nhà quản lý: quản lý nhà nước, cán bộ quản lý
giáo dục ra quyết sách (báo GD&TĐ)
Chủ đề chính của phản biện xã hội về giáo dục, cụ thể là phản biện xã
hội về đổi mới giáo dục tiểu học – một vấn đề nóng và nhiều bất cập trong xã
hội trở thành tâm điểm của các luồng ý kiến Diễn đàn trên báo in càng giữ vai trò không thể thiếu trong việc duy trì hoạt động phản biện xã hội một cách tích cực và uy tín nhất để tìm ra giải pháp cuối cùng là giải quyết những bất
cập của giáo dục tiểu học Từ đó tạo đà cho những bất cập giáo dục của các
bậc học khác được giải quyết, đem lại lợi ích cho toàn xã hội
2.1.1 Nhà báo thông tin
Báo chí là loại hình thông tin mang tính chính trị- xã hội Một trong những nguyên tắc đặt ra mà báo chí phải đáp ứng đo là tính chân thật khách quan [19, tr.112] Tuy nhiên việc lựa chọn và đăng tải thông tin lại có sự khác nhau giữa các báo dựa trên tiêu chí, mục đích cũng như đối tượng công chúng của chính các tờ báo đó
Như đã đề cập ở trên, phản biện xã hội là việc thể hiện công khai những quan điểm, cách nhìn hay đánh giá về một hay nhiều vấn đề Quan điểm, cách nhìn đánh giá về vấn đề có thể đồng ý hay phản đối vấn đề được nêu ra phản
Trang 35biện song phải căn cứ trên thực tế, có giải pháp thực tế Như vậy giá trị phản biện xã hội của các bài viết mới thực sự có ý nghĩa
Bảng 2.1 Tổng số tin bài giáo dục 5 báo từ 2008-2011
Giáo dục tiểu học là một phần của giáo dục phổ thông, của hệ thống giao dục Quốc dân, một số chính sách giáo dục liên quan đến toàn bộ hệ thống giáo dục không thể tách giáo dục tiểu học ra thành một mảng riêng Khảo sát các bài viết về đổi mới giáo dục tiểu học do vậy cũng không tách giáo dục tiểu học ra khỏi tổng thể của nó và không căn cứ vào thái độ phản
Trang 36biện bài viết có được thể hiện hay không Thống kê số tin bài về giáo dục tiểu học căn cứ trên các từ khóa cơ bản xuất hiện trong bài viết như :“tiểu học”,
“lớp 1”, “lớp 2”, “lớp 3, “lớp 4, “lớp 5” hoặc căn cứ vào nội dung/1 phần nội dung các bài viết đề cập đến bậc học này
Từ 2008-2011 số bài viết phản biện xã hội về đổi mới giáo dục tiểu học
trên 5 tờ báo GD&TĐ, Tia sáng, SGGP, Tuổi trẻ Tp.HCM, HNM lần lượt
Trang 37Biểu đồ thể hiện lượng tin bài GD tiểu học trên
Qua hai biểu đồ trên ta nhận thấy báo về giáo dục của báo GD&TĐ
chiếm số lượng nhiều nhất (đạt 7034 bài), tiếp theo là số bài của báo Tuổi trẻ Tp.HCM (4931 bài), lượng bài báo HNM đứng thứ ba (đạt 3135 bài), xếp thứ tư là báo SGGP (1151 bài) và đứng cuối cùng là tạp chí Tia sáng
(với 148 bài)
Tương tự, số lượng bài viết về giáo dục tiểu học có sự giảm dần từ báo
GD&TĐ (765 bài), Tuổi trẻ Tp.HCM (309 bài), HNM (246 bài), SGGP (152
bài), tạp chí Tia sáng (30) bài
Trong đó tỉ lệ % của các bài viết về giáo dục tiểu học so với các bài viết về giáo dục nói chung từng báo lần lượt là: GD&TĐ (10,88%), Tuổi trẻ
Trang 38báo giáo dục tiểu học trên báo này chỉ đạt 10.88%, trong đó số lượng bài của tạp chí Tia sáng thấp nhất (30 bải) thì tỉ lệ phần trăm mà bài báo giáo dục tiểu
học trên tạp chí lại lớn nhất đạt 20,27%
Vì vấn đề đổi mới giáo dục, đặc biệt giáo dục tiểu học trước thời gian
khảo sát tồn tại nhiều vấn đề như: xã hội chưa nhìn nhận, quan tâm đúng mức hoặc chưa giải quyết được các bất cập đặt ra nên các bài đánh giá nhận xét có
quan điểm trái chiều đối với những nội dung đổi mới giáo dục (đã được tiến
hành) sẽ thể hiện thái độ phản biện xã hội cao hơn những bài tán đồng đơn
thuần với nội dung chương trình giáo dục đã được đặt ra
2.1.2 Nhà chuyên môn hoạt động trong lĩnh vực giáo dục lên tiếng
Qua truyền thông, cụ thể qua các bài viết báo in đăng tải, nhà giáo dục
có chuyên môn về giáo dục đã lên tiếng trình bày quan điểm Đây là một
trong những chủ thể rất quan trọng của hoạt động phản biện xã hội về đổi mới
giáo dục tiểu học trên báo in Các chuyên gia hoạt động lâu năm trong lĩnh vực giáo dục tiểu học có tiếng nói phản biện mạnh mẽ
Điều này nhận thấy rõ nhất ở tạp chí Tia sáng, tạp chí này dành nhiều
bài đăng dẫn quan điểm của nhà giáo dục hàng đầu Việt Nam về giáo dục nói
chung, về tiểu học nói riêng Hầu hết các chuyên gia này không còn giữ chức
vụ trong ngành giáo dục hiện hành: như GS Hoàng Tụy, GS Hồ Ngọc Đại, nhà giáo Phạm Toàn…
GS Hồ Ngọc Đại với các bài:
Giải pháp phát triển giáo dục bắt đầu như thế nào (20/7/2008)
Giải pháp phát triển giáo dục nhìn từ góc độ triết học (5/8/20080) Giải pháp phát triển giáo dục nhìn từ góc độ tâm lí (20/8/2008)
Giải pháp phát triển giáo dục nhìn từ góc độ nghiệp vụ sư phạm
(20/9/2008);
Định hướng chiến lược (5/1/2009)
Trang 39Tư tưởng chiến lược phát triển giáo dục (20/2/2009)
Hệ thống giáo dục quốc dân (5/3/2009)
Giải pháp giáo dục cho đầu thế kỉ XXI (ngày 5/6/2010)
GS Hoàng Tụy với Thực hiện một cuộc cải cách giáo dục triệt để
Báo GD&TĐ, HNM, SGGP phần lớn đưa ý kiến, chuyên gia đang giữ
trọng trách nhất định trong ngành giáo dục, giải thích, làm rõ cho chính sách giáo dục đang hoặc sắp tiến hành
2.1.3 Độc giả của các báo phản hồi
Từ việc tiếp nhận thông tin trên báo của nhà báo và nhà chuyên môn, độc giả bày tỏ sự quan tâm đưa ra những phản hồi Chuyên mục thu hút nhiều phản hồi của bạn đọc là Bạn đọc với tòa soạn (GD&TĐ), Bạn đọc (SGGP, Tuổi trẻ tp.HCM), Diễn đàn (Tia sáng) Sự phản hồi của bạn đọc thể hiện sự quan tâm của công chúng tới vấn đề đổi mới giáo dục tiểu học mà báo chí đề cập đồng thời cũng tạo tính tương tác hai chiều của thông tin, từ tòa soạn, nhà báo đến công chúng và ngược lại
Chẳng hạn trên báo Tuổi trẻ Tp.HCM đã mở hẳn một diễn đàn “Đổi
mới phương pháp giảng dạy” đã thu hút nhiều ý kiến của bạn đọc…
Trang 402.1.4 Nhà quản lý ra quyết sách
Trên cơ sở tổng hợp ý kiến của nhà hoạt động giáo dục (cụ thể là giáo dục bậc tiểu học), ý kiến của công chúng phản biện công khai trên báo chí, nhà quản lý (quản lý Nhà nước, cán bộ quản lý giáo dục) có những quyết sách riêng điều chỉnh hoạt động của lĩnh vực này Quyết sách đúng thì đổi mới giáo dục tiểu học đi đúng hướng, quyết sách sai thì đem lại hậu quả khôn lường vì sai ở cơ sở nền tảng sẽ kéo theo hỏng toàn bộ cả nền giáo dục
Ngoài Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục
2005 cho phù hợp với tình hình thực tại (tháng 10/2009), dưới đây là một số
văn bản pháp quy được nhà quản lý đưa ra từ 2008-2011