1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt động truyền thông về vấn đề tôn giáo trên báo in Việt Nam hiện nay (2005-2010). Khảo sát và tham khảo trên báo Nhân Dân, Tuổi Trẻ, Người Công giáo Việt Na

115 819 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo cách mạng thành công, lập nên nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà với phương châm phù hợp và đúng đắn: tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo, l

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

HOÀNG THỊ THUỲ DƯƠNG

HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG VỀ VẤN ĐỀ TÔN GIÁO TRÊN BÁO IN VIỆT NAM HIỆN NAY (2005 – 2010)

(Khảo sát và tham khảo trên báo: Nhân Dân, Tuổi Trẻ,

Người Công giáo Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo)

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: Báo chí – truyền thông

Mã số 60.32.01 Người hướng dẫn khoa học: GS TS ĐỖ QUANG HƯNG

Hà Nội - 2011

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 3

1 Tính cấp thiết của đề tài 3

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 5

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Phương pháp nghiên cứu 8

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

6 Ý nghĩa và đóng góp của đề tài 9

7 Kết cấu luận văn 9

CHƯƠNG 1: VÀI NÉT VỀ VẤN ĐỀ TÔN GIÁO Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 11

1.1 Khái niệm, nội dung của vấn đề tôn giáo trên thế giới và ở Việt Nam 11

1.1.1 Khái niệm tôn giáo 11

1.1.2 Lịch sử hình thành tôn giáo 18

1.1.3 Loại hình tôn giáo 20

1.2 Đặc điểm đời sống tôn giáo ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, mở cửa hội nhập, toàn cầu hóa 22

1.2.1 Những nét lớn về tình hình tôn giáo trên thế giới hiện nay 22

1.2.2 Đặc điểm tình hình tôn giáo ở việt nam trong những năm gần đây 27

1.3 Vấn đề tôn giáo trong đời sống chính trị - xã hội và quan hệ quốc tế 32

1.3.1 Đời sống chính trị - xã hội 32

1.3.2 Quan hệ quốc tế 36

1.4 Các thế lực thù địch và chiền lược về vấn đề tôn giáo đối với nước ta hiện nay 39

1.4.1 Chính sách của Mỹ 39

1.4.2 Chính sách của một số nước Tây Âu 45

Tiểu kết chương 1 49

CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ TÔN GIÁO TRÊN BÁO IN NƯỚC TA TRONG GIAI ĐOẠN 2005 - 2010 50

2.1 Vài nét về các tờ báo được khảo sát 50

2.1.1 Báo Nhân Dân 50

Trang 3

2.1.2 Báo Tuổi Trẻ 52

2.2 Chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước đối với vấn đề tôn giáo 55

2.3 Vai trò nhiệm vụ của hệ thồng báo chí đối với vấn đề tôn giáo trong xã hội Việt Nam hiện nay 58

2.3.1 Vấn đề tôn giáo trong hoạt động báo chí ở Việt Nam 58

2.3.2 Báo chí với giáo dục, nâng cao hiểu biết về chính sách, đường lối, đổi mới của Đảng và Nhà nước về vấn đề tôn giáo 60

2.3.3 Cỗ vũ xu hướng đường lối đấu tranh Tốt đời, đẹp đạo, và khai thác các giá trị về tôn giáo 64

2.3.3.1 Quan niệm sồng tốt đời, đẹp đạo 64

2.3.4 Báo chí giáo dục, tuyên truyền cho những thành tựu đổi mới về đời sống sinh hoạt tôn giáo trong nên kinh tế thị trường 76

2.4 Nghệ thuật tuyên truyền thông tin tôn giáo trên báo in Việt Nam 2.4.1 Nội dung và tính chất sự kiện 79

2.4.2 Hình thức truyền tải thông tin tôn giáo trên báo in Việt Nam 83

Tiều kết chương 2 89

CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ CHUNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THÔNG TIN VỀ VẤN ĐỀ TÔN GIÁO TRÊN BÁO IN VIỆT NAM 91

3.1 Đánh giá chung 91

3.1.1 Ưu điểm 91

3.1.2 Hạn chế 93

3.2 Một số giải pháp nhằm chống lại các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch và nâng cao hiệu quả thông tin trên báo in Việt Nam 97

3.2.1 Một số giải pháp chống lại các luận điệu sai trái, thù địch 97

3.2.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiểu quả thông tin 100

Tiểu kết chương 3 106

PHẦN KẾT LUẬN 107

TÀI LIỆU THAM KHẢO 110

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong thế kỷ XX, nhân loại đã trải qua nhiều biến động lớn lao Hai cuộc kháng chiến lớn nhất của lịch sử loài người; cuộc cách mạng tháng 10 Nga vĩ đại năm 1917 và sự ra đời của Liên Bang Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Xô Viết; sự hình thành hệ thống Xã hội Chủ nghĩa và sự sụp đổ của nó; phong trào giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa; sự phát triển của một số nước thuộc “thế giới thứ ba” Nhưng bao trùm lên tất cả là sự phát triển như vũ bão của khoa học, kỹ thuật và công nghệ Chưa bao gờ trong lịch sử loài người lại đạt được những thành tựu to lớn về khoa học, kỹ thuật, công nghệ như ở thế kỷ XX này Nó đã làm thay đổi sâu sắc đời sống xã hội loài người Nhân loại bước vào thời đại “hậu công nghiệp” –

“thời đại thông tin” cùng với sự phát triển đó, những giá trị vật chất cùng với lối sống thực dụng được đề cao

Đây chính là một trong những mặt trái của cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật, công nghệ Trước tình hình đó, việc giữ gìn, đề cao những giá trị tinh thần lịch sử, tôn giáo, nghệ thuật… là một điều tất yếu Chưa bao giờ vấn đề tôn giáo lại được loài người đặc biệt quan tâm sâu sắc như trong mấy chục năm vừa qua Ngày nay cùng với các vấn đề dân số, môi trường, lương thực, dân tộc và xung đột sắc tộc, vấn đề tôn giáo luôn được mọi người quân tâm dười nhiều góc độ

Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, đa sắc tộc với khoảng 80% dân số là tín

đồ các tôn giáo Cùng với các tôn giáo ngoại nhập, các tôn giáo bản địa và các tìn ngưỡng truyền thống luôn tạo ra sự đa dạng, phong phú nhưng cũng đấy sự phức tạp trong đới sống tâm linh của người dân Việt Nam Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, ở mỗi thời điểm, các tôn giáo đếu có những vị trí và sự tác động khác nhau lên đời sống xã hội của đất nước

Hiện nay hơn lúc nào hết vấn đề tôn giáo lại trở thành vấn đề phức tạp và nhạy cảm Đặc biệt là sau khi Liên Xô và hệ thống XHCN ở Đông Âu sụp đổ, kết thúc cục diễn lưỡng cực, hình thành cục diễn thế giới đơn cực, dưới áp lực của các siêu cường Mỹ và các nước Tây Á Thử điểm xuyến toàn bộ các sự kiện xung đột diễn ra

Trang 5

trên thế giới trong thời gian gần đây hầu như không có một xung đột nào lại không liên quan đến vấn đề tôn giáo, tộc người Và có lẽ cũng khó có thể phủ nhận được nhận định của các nhà học giả dự đoán, thế kỷ XXI là thế kỷ xung đột giữa các nền văn hoá, văn minh trong đó trong đó vấn đề tôn giáo là trọng tâm

Đối với Việt Nam - một quốc gia đa tôn giáo, đa tộc người, phần lớn tôn giáo

ở nước ta đều là ngoại sinh Nên khi du nhập vào Việt Nam đều phải biến đổi ít nhiều để phù hợp với dân tộc, nền tảng văn hoá bản địa Tuy nhiên nhìn một cách toàn cục trong suốt chiều dài lịch sử, vấn đề tôn giáo ở nước ta không phải đã êm

ấm

Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo cách mạng thành công, lập nên nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà với phương châm phù hợp và đúng đắn: tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo, lương giáo đoàn kết, tự do cho mọi người, độc lập dân tộc… Vì thế đã tìm được mẫu số chung giữa những người có tín ngưỡng, tôn giáo và những người không có tín ngưỡng, tôn giáo quy tụ được sức mạnh đoàn kết toàn dân, đập tan âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết của kẻ thù, đưa đất nước Việt Nam sang một trang sử mới

Bước sang thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công Nghiệp Hoá, Hiện Đại Hoá, vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh Đảng và Nhà nước ta đảng và nhà nước ta đã có những chính sách đúng đắn về vần đề tự do tín ngưỡng, tôn giáo Những chính sách đó phần nào giải quyết được mâu thuẫn của vấn đề tôn giáo đang tồn tại trên đất nước ta Tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay, quan hệ giữa các tôn giáo với nhau, giữa những người có tôn giáo và những người không có tôn giáo với nhau vẫn còn nhiều mâu thuẫn phức tạp chưa được giải quyết hết Hiện nay các thế lực thù địch không từ bỏ âm mưu lợi dụng vấn đề tôn giáo tạo

ra sự bất ổn định chính trị, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân chống lại Đảng, Nhà nước, chống lại con đường đi lên CNXH mà nhân dân ta đã lựa chọn

Từ những vấn đề trên cho thấy, giai đoạn hiện nay việc nghiên cứu về tôn giáo

và vai trò của báo chí trong việc phản ánh và chống lại âm mưu lợi dụng tôn giáo để chia rẽ khối Đại đoàn kết toàn dân của người Việt Nam Đây là một vấn đề vô cùng

Trang 6

phức tạp và cần thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn nên tác giả chọn đề tài Hoạt động truyền thông về vấn đề tôn giáo trên báo in Việt Nam hiện nay (2005-2010),

khảo sát trên hai tờ báo Nhân Dân và Tuổi Trẻ, đồng thời cũng tiến hành tham khảo một số báo và tạp chí tôn giáo Cụ thể là trên báo Người Công giáo Việt Nam và tạp chí nghiên cứu Phật tôn giáo làm nội dung nghiên cứu luận văn tốt nghiệp của mình Tuy nhiên nội dung luận văn lại đi sâu vào nghiên cứu nội dung trọng tâm là những thông điệp truyền thông về vấn đề tôn giáo chứ không phải tiến hành nghiên cứu toàn bộ quá trình Hoạt Động truyền thông Có thể khẳng định một cách rõ ràng rằng là luận văn chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề tôn giáo trên hai tờ báo chính là Nhân Dân – Tuổi Trẻ Đồng thời tiến hành tham khảo các báo và tạp chí tôn giáo nhằm so sánh những điểm được và chưa được mà báo Nhân Dân – Tuổi Trẻ đã làm trong suốt thời gian qua

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Trên thế gới, rất nhiều người dành nhiều thời gian nghiên cứu về vấn đề tôn giáo Vấn đề tôn giáo đã được nhìn dưới nhiều góc độ khác nhau tạo nên một bức tranh hoàn hảo về đời sống tinh thần của con người Nhưng đề tài này đã có những bước thành công nhất định

Ở Việt Nam từ sau đại hội VI, trên các tạp chí, sách báo có nhiều bài viết

về vấn đề tôn giáo – nhân quyền và một số công trình nghiên cứu về hai vấn đề này

như: “Vai trò xã hội của tôn giáo ở Việt Nam hiện nay một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, của tác giả Hồ Trọng Hoài, H, 1995 Luận án Phó Tiến sỹ của tác giả Hồ

Trọng Hoài là nhằm thể hiện quan điểm ngoài Macxit về vai trò xã hội của tôn giáo Đánh giá những mặt tiêu cực của tôn giáo trong các quan hệ: chính trị, nhận thức,

đạo đức… và những tranh luận về “ tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”

“Mối quan hệ giữa tôn giáo và dân tộc Việt Nam từ cách mạng tháng 8 đến nay” của tác giả Vũ Văn Hậu, H, 2007 Là tổng quan về Tôn giáo và Dân tộc Quân

hệ giữ Tôn giáo và Dân tộc trong Cách mạng Dân tộc, Dân chủ và trong Cách mạng XHCN Những vấn đề nảy sinh trong mối quan hệ giữa Tôn giáo – Dân tộc ở nước

ta hiện nay

Trang 7

“Ảnh hưởng của đạo đức tôn giáo đối với đạo đức trong xã hội Việt Nam” là

đề tài luận án Tiến sỹ Triết học của tác giả Hoàng Thị Lan, H, 2005 Luận án này nhằm phân tích ảnh hưởng của đạo đức tôn giáo với đạo đức trong xã hội Việt Nam hiện nay Đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy tính tích cực, hạn chế của đạo đức tôn giáo trong nên đạo đức xã hội mới

Tuy nhiên những đề tài trên chỉ tập trung nghiên cứu vần đề tôn giáo, dưới

góc độ của Triết học Về phương diện báo chí nghiên cứu về hai vấn đề nay còn rất

ít, đặc biệt là vấn đề nhân quyền Một số đề tài nghiên cứu về tôn giáo dưới góc độ

của báo chi học chủ yếu là khoá luận tốt nghiệp của sinh viên như: “ Thử tìm hiểu những tờ báo công giáo Việt Nam hiện nay”(Lại Trọng Bình - 1996); “ Hiện trạng tình hình Đạo Công giáo Việt Nam trên báo chính nghĩa và Người Công giáo Việt Nam”(Phạm Minh Đức – 1997); “Báo chí Việt Nam hiên nay vởi vấn đề tôn giáo – tín ngưỡng” (Trần Lưu – 2001)

GS.TS Đỗ Quang Hưng đã từng có rất nhiều bài viết về vấn đề tôn giáo, ví dụ

như: “ vấn đề tự do tôn giáo – nhân quyền ở Việt Nam” trên tờ Tạp chí Cộng sản, số

84 – 2005 Qua đó chúng ta phần nào hiểu được tình hình tôn giáo đang tồn tại ở nước ta Tuy nhiên đây chỉ là một bài viết về một mảng nhỏ trong tổng thể vấn đề, nên nó không thể nêu lên một cách cụ thể và bao quát hết được thực trạng của hai vấn đề đang dành được nhiều sự quan tâm của mọi người

Những công trình và những bài viết đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau

về vấn đề tôn giáo Những tìm tòi, sáng tạo đó là những bước tiến quan trọng trong

lý luận về vấn đề này Tuy nhiên ở nước ta đến nay vẫn chưa có những công trình nghiên cứu về vấn đề tôn giáo và vấn đề nhân quyền một cách cụ thể, chi tiết Bên cạnh đó, cũng chưa có công trình nào nghiên cứu trực tiếp và có hệ thống về “vấn

đề tôn giáo – nhân quyền”

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục Đích

Trên cơ sở khảo sát thực tiễn vai trò của hoạt động báo chí trong đời sống chính trị xã hội, đặc biệt thông qua ba tờ báo và một tờ tạp chí thuộc dòng báo chính

Trang 8

luận cùng với một số báo tôn giáo yêu nước, tác giả luận văn muốn đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng hoạt động báo chí nói chung, nội dung và hình thức của các tác phẩm báo chí nói riêng, góp phần thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề tôn giáo trên báo chí

Bên cạnh đó, trên cở sở khảo sát, phân tích các thông tin về tôn giáo trên các báo để làm rõ hơn đời sống tinh thần của người dân Việt Nam Đồng thời chỉ ra được và chưa được khi báo chí sử dụng, phản ảnh những thông tin đó Qua đó, luận văn muốn tìm hiểu phương pháp mà báo chí đã sử dụng cho việc tuyên truyền của mính, những cách thức đó đã mang lại kinh nghiệm, hiệu quả như thế nào cả trong thực tiến và lý luận báo chí

3.2 Nhiệm Vụ

Để thực hiện được những mục đích nghiên cứu trên tác giả luận văn phải thực hiện được một số nhiệm vụ cơ bản sau:

Thứ nhất: tiến hành nghiên cứu những cơ sở lý luận chung nhằm chứng minh

được vai trò quan trọng của báo chí trong quá trình tuyên truyền thông tin đến với độc giả Đồng thời phân tích vai trò của báo chí trong cuộc đấu tranh chống hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo bảo vệ an ninh quốc gia

Thứ hai: khái quát được tình hình của vấn đề tôn giáo và cuộc đấu tranh chống

âm mưu Diễn Biến Hoà Bình của các thế lực thù địch

Thứ ba: tiến hành khảo sát báo chí nhằm phân tích, đánh giá vai trò của báo

chí trong việc thực hiện nhiệm vụ phản ánh đới sống sinh hoạt tôn giáo của người dân Việt Nam và chống lại cuộc đấu tranh lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch

và phản động

Thứ tư: Tìm kiếm và xây dựng các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt

động của báo chí đối với việc phản ánh các thông tin xã hội nói chung và các thông tin về vấn đề tôn giáo nói riêng

Trang 9

4 Phương pháp nghiên cứu

Tác giả luận văn đã vận dụng các quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tường Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước, chính sách chiến lược

về tôn giáo Đồng thời, tác giả luận văn còn vận dụng các thành tựu của khoa học chính trị, vận dụng các quan điểm duy vật lịch sử và duy vật biện chứng để tiến hành thực hiện nghiên cứu đề tài này

Bên cạnh đó, đi sâu nghiên cứu đề tài, luận văn không bám sát các chuyên mục

cụ thể để phân tích mà sẽ tổng hợp từ các tiểu mục, các trang báo, những bài viết thể hiện một cách sinh động và điển hình nhất trong việc tuyên truyền một cách khách quan về vấn đề tôn giáo

Ngoài ra, tác giả luận văn sẽ sử dụng kết hợp các phương pháp như: phân tích văn bản (nghiên cứu nội dung văn bản một cách có hệ thống), tổng hợp, thống kê, liệt kê, phân loại… nhưng bao trùm là phương pháp phân tích văn bản và phân loại

do thông tin đặc thù của vấn đề tôn giáo Những phương pháp này cố gắng thể hiện đầy đủ và trung thực vai trò của báo chí trong việc phục vụ cho sự nghiệp phát triển

ổn định của đất nước nói chung và đời sống báo chí nói riêng

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn này sẽ tập trung chủ yếu vào việc tìm hiểu vai trò của báo chí trong việc thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước với vần đề tôn giáo; vai trò của báo chí trong việc chống lại âm mưu của

kẻ thù lợi dụng tôn giáo nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết của dân tộc ta Đồng thời thông qua đó chúng ta tìm hiểu về đời sống sinh hoạt tôn giáo của người dân Việt Nam

Tuy nhiên, do hạn chế về năng lực và thời gian nghiên cứu, luận văn xin phép được giới hạn sự khảo sát trên hai tờ báo (Nhân Dân – Tuổi Trẻ) và tham khảo một

số tờ tạp chí thuộc dòng báo chí tôn giáo từ năm 2005 đến năm 2010 để chứng minh cho luận điểm của mình Qua đó, luận văn sẽ phần nào nói lên được vị thế, vai trò của báo chí trong đời sống chính trị - xã hội hôm nay

Trang 10

6 Ý nghĩa và đóng góp của đề tài

Trên cơ sở tập hợp một cách chi tiết và hệ thông những lý luận bàn về vai trò của báo chí trong đời sống xã hội Đặc biệt là vai trò của báo chí trong việc chống lại âm mưu Diễn biến hoà bình của các thế lực phản động lợi dụng tôn giáo nhằm lật đổ chế độ XHCN ở nước ta Việc đi sâu vào phân tích những khái niệm, sự kiện, sự việc và đặc trưng của hoạt động báo chí giúp những nhà quản lý và các nhà báo đánh giá khái quát được thực trạng hoạt động của báo chí trong việc đấu tranh chống lại âm mưu Diễn biến hoà bình của kẻ thù

Qua luận văn này, chúng ta cũng sẽ có những hiểu biết và nhận thức về đời sống sinh hoạt tôn giáo trên đất nước Việt Nam Đồng thời, qua việc khảo sát khách quan tác giả luận văn sẽ tìm ra những giải pháp sát thực cho việc nâng cao hiệu quả của báo chí trong việc truyền tải và phản ánh thông tin Bên cạnh đó, luận văn sẽ là tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu và cho những hoạt động báo chí nói chung Từ đó giúp cho những nhà quản lý và đội ngũ người làm báo có được những giải pháp phát huy hết sức mạnh của báo chí một cách thực

sự có hiệu quả

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung luận văn này bao gồm ba chương cơ bản sau:

Chương 1: Vài nét về vấn đề Tôn giáo ở nước ta hiện nay

Chương này là phần cơ sơ lý luận về vấn đề tôn giáo Qua chương này tác giả muốn nêu lên một cách cụ thể về khái niệm, quá trình hình thành cũng như vị trí tồn tại của vấn đề trong đời sống chính trị - xã hội của nước ta Bên cạnh đó, chính sách của các thế lực thù địch cũng được đề cập đến Qua đó, tác giả muốn đưa đến cho người xem một cái nhìn tổng thể, toàn diện về đề tài luận văn của mình

( Dự kiến chương này khoảng từ 25 đến 30 trang)

Chương 2: Báo chí Việt Nam trong quá trình tuyên truyền về vấn đề tôn giáo

Trang 11

Chương hai là phần nội dung thông tin chính của đề tài luận văn Qua chương này, khảo sát thực tiễn báo chí trong việc phản ánh vấn đề tôn giáo hiện nay trên hai phương diện nội dung và hình thức

( Dự kiến chưong này khoảng từ 55 đến 60 trang)

Chương 3: Đánh giá chung và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả truyền tải thông tin về vần đề tôn giáo trong giai đoạn hiện nay

Tác giả sẽ rút ra những nhận xét, đánh giá về những ưu điểm và hạn chế của việc thông tin về vấn đề tôn giáo nhân quyền trên báo chí Việt Nam Bên cạnh đó, tác giả cũng sẽ đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả thông tin về vấn đề tôn giáo nhân quyền trên báo chí

( Dự kiền chương này khoảng từ 20 đến 25 trang)

Phụ Lục: Phần này bao gồm các trang báo đã được khảo sát ở chương hai và

một số tranh, ảnh có liên quan

Trang 12

CHƯƠNG 1:

VÀI NÉT VỀ VẤN ĐỀ TÔN GIÁO Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

1.1 Khái niệm, nội dung của vấn đề tôn giáo trên thế giới và ở Việt Nam

1.1.1 Khái niệm tôn giáo

Chúng ta biết rằng C Mác, Ph Ănghen và V.I.Lênin đều không phái là những nhà tôn giáo học, các ông là những nhà triết học, là những lãnh tụ cách mạng của giai cấp công nhân trên toàn thế giới Các ông hay bàn đến tôn giáo trong các mối liên hệ với các vấn đề thế giới quan triết học, với những vấn đề đấu tranh giai cấp Các tác phẩm tiêu biểu như: Luận cương và Phoiơbach, Hệ tư tưởng Đức, Lời nói đầu; góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen; Phoiơbach và sự cáo

chung của triết học cổ điển Đức; chống Đuyrinh; chủ nghĩa xã hội và tôn giáo…

Trong các tác phẩm này các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã đưa ra những quan niệm về nguồn gốc, bản chất, vai trò và chức năng của tôn giáo cũng như về thái độ của đảng công nhân đối với tôn giáo, về phương pháp đấu tranh với tôn giáo… Các ông đã đưa ra nhiều ý kiến có tính nguyên lý để nhìn nhận, xem xét

và đấu tranh với tôn giáo, trong đó có nhiều ý kiến có tính nguyên lý đến nay vẫn con nguyên giá trị

Về nguồn gốc, bản chất của tôn giáo, C.Mác cho rằng: “Con người sáng tạo ra tôn giáo, chứ tôn giáo không sáng tạo ra con người Cụ thể là: Tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự cảm giác của con người chưa tìm được bản thân mình hoặc là đã để mất bản thân mình một lần nữa” [5, Tr.569]

Quan niệm này của Mác cũng được những người macxit xem như một định

nghĩa về tôn giáo Trong “Chống Đuyrinh”, Ph Ănghen cho rằng: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc của con người của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hằng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang những hình thức siêu trần thế… Nhưng chẳng bao lâu bên cạnh những lưc lượng thiên nhiên, lại còn có cả những lực lượng xã hội tác động – những lực lượng này đối lập với con người một cách

Trang 13

cũng xa lạ lúc đầu không thể hiểu được đối với họ và cũng thống trị họ với cái vẻ tất yếu bề ngoài giống như bản thân những lực lương tự nhiên vậy” [6, Tr.437]

Quan niệm này của Ănghen cũng được những người Macxit xem như một định nghĩa về tôn giáo Cả hai quan niệm về tôn giáo của Mác và Ănghen trên đây đều nhấn mạnh đến nguồn gốc, bản chất của tôn giáo, đó là nhưng định nghĩa tôn giáo mang tính “bản thể luận”

Sau này Lênin nhấn mạnh đến nguồn gốc tâm lý xã hội của tôn giáo dưới chủ

nghĩa tư sản: “Sự sợ hãi đã tạo ra thần linh Sự sợ hãi thế lực mù quáng của tư bản – mù quáng vì quần chúng nhân dân không thể đoán trước được nó – là thế lực bất

cứ lúc nào trong đời sống của người vô sản và người tiểu chủ, cũng đe dọa đem lại cho họ và đang đem lại cho họ sự phá sản “đột ngột”, “bất ngờ”, “ngẫu nhiên”, làm cho họ phải diệt vong, biến họ thành một người ăn xin, một kẻ bần cùng, một gái điếm, và dồn họ vào cảnh chết đói Đó chính là nguồn gốc sâu xa của tôn giáo hiện đại mà người duy vật phải chú ý đến trước hết, nếu người ất không muốn cứ mãi mãi là một người duy vật sơ đẳng” [23, Tr.515]

Về vai trò, chức năng của tôn giáo, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mac – Lênin cho rằng chức năng quan trọng nhất của tôn giáo là chức năng đền bù hư ảo, đồng thời Mac cũng nhấn mạnh đến vai trò phản kháng của tôn giáo chống lại nỗi khốn cùng thực tại Đoạn văn hết sức nỗi tiếng của Mac được Lênin cũng như các

nhà Macxit cho là quan niệm nền tảng của chủ nghĩa Mac về tôn giáo: “Sự khốn cùng của tôn giáo, một mặt là biểu hiện của sự khốn cùng hiện thực và mặt khác là

sự phản kháng chống lại sự khốn cùng của hiện thực ấy Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim cũng giống như

nó là tinh thần của những điều kiện xã hội không có tinh thân Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” [5, Tr.569]

Quan niệm này của Mac về tôn giáo được các nhà xã hội học Pháp coi như một định nghĩa nổi tiếng về tôn giáo (định nghĩa theo chức năng của tôn giáo) Mặc

dù luận điểm “tôn giáo là thuốc phiện” không phải do Mac nghĩ ra, mà Mac chỉ tiếp

nhận và phát triển nó, đặc biệt trong việc phân tích chức năng an ủi của tôn giáo

Trang 14

trong luận đề nổi tiếng, “tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” (chứ không phải là

thuốc phiện đối với nhân dân) Thuốc phiện thời Mác chỉ có ý nghĩa là giảm đau chứ chưa mang ý nghĩa là ma túy như ngày nay và nhất là Mac đã đặt câu nói nối tiếng đó trong một đoạn văn bất hủ, có sức lay động, thức tỉnh ý thức con người khi

suy nghĩ về tôn giáo Nhưng rất tiếc luận điểm “tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” do Mac đưa ra trong một thời gian dài, không ít những đảng macxit hiểu một

cách phiến diện, cực đoan dẫn đến những sai lầm tả khuynh đối với tôn giáo

Như vậy những đóng góp của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mac – Lênin là hết sức quan trọng trong việc làm rõ nguồn gốc, bản chất, chức năng, vai trò của tôn giáo, nhiều quan niệm của các ông đã được các nhà macxit xem như những định nghĩa về tôn giáo, tuy vậy những định nghĩa này cũng chưa hoàn chỉnh, nó chỉ nói lên được những mặt, những khía cạnh, những mối quan hệ nhất định của tôn giáo Các nhà kinh điển ở thời của mình chưa đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh về tôn giáo Sau nay, cùng với sự phát triển của đời sống tôn giáo thế giới, các nhà khoa học, các nhà tôn giáo học đã cố gắng đưa ra những định nghĩa tôn giao nhằm bổ sung, hoàn thiện những quan niệm về tôn giáo Ở Pháp tác giả M.Bertrand đã có những suy nghĩ: Rõ ràng tôn giáo không chỉ đơn thuần là sự sung bái đức tin của con người vời lực lượng siêu nhiên trần thế nào đó, mà nó còn là một lực lượng xã hội biểu hiện thành các hành vi tập thể có tính văn hóa và kết cấu xã hội

M.Bertrand viết: “Một tôn giáo không chỉ là một tập hợp những biểu tượng và những niềm tin, mà còn là những thực hành có tính nghi thức và văn hóa Nó cũng còn là một thể chế xã hội, một tổ chức có tính chất cộng đồng” [12, Tr.32]

Tóm lại, trên cơ sở kế thừa quan điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin và các nhà nghiên cứu tôn giáo khác trên thế giới, tác giả luận văn

quan niệm về định nghĩa tôn giáo như sau: “Tôn giáo là một thực thể xã hội có cùng một niềm tin vào lực lượng siêu nhiên trần thế, là kết quả của sự phản ánh một cách

hư ảo vào đời sống hiện thực của con người và có sức mạnh chi phối đời sống hằng ngày của con người”

Trang 15

Cũng có thể tiếp cận định nghĩa tôn giáo theo quan điểm của các học giả tiêu biểu: Edwar B.Taylor, E.Durkheim, Y.lambert Theo Edwar B.Taylor, nhà dân tộc

học người Anh cho rằng: “Nếu hiểu tôn giáo là niềm tin với đấng tối cao, sự phán xét sau khi chết, thờ cúng và các thần tượng, các tập tục hiến tế, hay các giáo thuyết hoặc nghi thức nào tương đối phổ biến, thì tất nhiên sẽ gạt bỏ nhiều bộ lạc ra khỏi thế giới tôn giáo”

Quan điểm này dường như E.Taylor đã bác bỏ một số quan điểm của một số học giả trước đó nghiên cứu về thần thánh như A.Rewlle Theo ông cách tốt nhất nghiên cứu nó là cần phải đưa ra một định nghĩa tối thiểu E.Taylor cho rằng, tất cả

hệ thống tôn giáo đều có chung một điểm đó là sự phụ thuộc của con người vào một đấng tối cao nào đấy Ý chí này thường có sức mạnh bảo họ, che chở hoặc mang tai

họa cho con người Do đó ông đã đi đến kết luận: “Tốt hơn, có lẽ nên đặt sự tin vào các thực thể tâm linh, chỉ như là đinh nhĩa tối thiểu về tôn giáo” [35, Tr 127]

Tuy nhiên ngay sau khi Taylor nêu ra định nghĩa tối thiểu về tôn giáo đã có

những quan điểm không đồng tình Chẳng hạn như E.Durkheim cho rằng: “Nếu hiểu tôn giáo theo Taylor một mặt loại bỏ ngoại diên của khái niệm của tôn giáo lớn, mặt khác đưa cả những hiện tượng ít người coi là tôn giáo.” [35, Tr.120-127]

Như vậy định nghĩa tôn giáo của E.Taylor nói chung là đúng, nhưng chưa đủ Hạn chế lớn nhất của định nghĩa này là ở chỗ, không thấy được sự tương tác của cặp đôi

tự nhiên – siêu nhiên Trên thực tế không phải bất kỳ vật thể ban đầu nào cũng có tính siêu nhiên và cũng trên thực tế trong từng dân tộc hoặc khu vực, do đặc điểm riêng nên họ chọn những vật thể nhất định và gắn vào nó những cái siêu nhiên làm đối tượng thờ cúng Ở một thời điểm nhất định, cái tự nhiên và cái siêu nhiên đó gắn quyện lại với nhau khó có thể tách rời Vì vậy định nghĩa này quá rộng

Kế thừa có tính chất phê phán những nội dung trên, Durkheim cho rằng: “Một tôn giáo là một hệ thống tín ngưỡng và thực hành có liên quan đến sự vật thiêng liêng, tức là sự vật tách riêng ra, bị cấm đoán, đó là tín ngưỡng và thực hành tốt nhất Tất cả những ai tin theo sẽ tạo thành một cộng đồng tinh thần, gọi là giáo hội” [35, Tr.157]

Trang 16

Với định nghĩa này, E.Durkheim đã quy tôn giáo về cái thường và bước đầu cấu trúc hóa những thuộc tính của tôn giáo, đức tin, tổ chức

Bên cạnh định nghĩa của thế hệ thứ nhất (E.B.Taylor), thế hệ thứ hai (E.Durkheim) thì thế thứ ba (Luckmann, Schmidt) đã khắc phục được khuynh hướng coi tôn giáo đồng nhất với cái phi lý Ở thế hệ thứ ba này định nghĩa tôn giáo

thiên về khía cạnh chức năng: “Tôn giáo là thế giới quan” Dung hợp những mặt

mạnh của hai loại định nghĩa về bản thể và về chức năng, Y.Lambect đã đưa ra ba tiêu chí cơ bản được nhiều định nghĩa đề cập đến sự tồn tại giả định của các vật thể, lực lượng nằm ngoài những giới hạn khách quan trong điều kiện con người, sự tồn tại của những phương tiện biểu trưng để giao lưu với sức mạnh đó (cầu khấn, nghi

lễ, thờ cúng, hiến tế) sự tồn tại của những hình thức quản lý chung cả cộng đồng Ông cũng nhấn mạnh nếu chỉ cần giữ một tiêu chí thôi thì sẽ là tiêu chí thứ nhất Như vậy, qua sự liệt kê một số quan điểm của một số học giả định nghĩa về tôn giáo, có thể đưa ngay nhận định, tuy bước đầu đã thấy được khi nói tới tôn giáo là nói đến yếu tố thiêng, quan hệ giữa cái thiêng và cái tục, bước đầu cấu trúc được những thuộc tính của tôn giáo, mặt khác đã thấy được tôn giáo tạo ra được những hệ quả quan trọng đối sự vận hành của xã hội Song về cơ bản những quan điểm trên thường xem đặc tính bản chất của tôn giáo là cái linh thiêng, siêu tự nhiên, nhưng trên thực tế có những cái được coi là tôn giáo lại không quy chiếu vào cái linh thiêng, siêu tự nhiên như trong tôn giáo Vì vậy, định nghĩa về tôn giáo chưa được bao quát

Là người sinh ra ở Việt Nam và thấu hiểu văn hóa Việt Nam khi nghiên cứu về tôn giáo Việt Nam, Hồ Chí Minh nhận xét: Người dân An Nam không có linh mục, không có tôn giáo theo cách nghĩ của người Châu Âu Việc cúng bái tổ tiên hoàn toàn là một hiện tượng xã hội Chúng tôi không có người tư tế nào, những người già trong gia đình hay các già bản là người thực hiện những nghi lễ tưởng niệm Chúng tôi không biết uy tin của người thầy cúng, người linh mục là gì? [9, Tr.497]

Điều này lại thêm một lần nữa được Phạm Văn Đồng khẳng định: Từ xa xưa, dân tộc Việt Nam không có tôn giáo theo nghĩa thông thường của nhiều nước khác

Trang 17

Còn nói tôn giáo là thờ cúng, thì mọi người đều thờ cúng ông bà, mỗi họ đều thờ cúng tổ tiên, làng thì thờ cúng Thành hoàng và các bậc anh hùng cứu nước, các tổ phụ nghề, các danh nhân văn hóa Từ góc độ văn hóa, tôi thấy đây là đặc trưng đáng trân trọng của người Việt Nam, ở chỗ luôn tưởng nhớ những người có công với nước trong việc tạo lập cuộc sống ngày nay của mọi gia đình làng xóm [12, Tr.66] Những nhận định đó cũng phù hợp với quan điểm của linh mục L Ladiere mà

tác giả Đặng Nghiêm Vạn dẫn: “Các dân tộc viễn đông, đặc biệt là người Việt Nam,

là mang đậm tâm thức tôn giáo Thuật ngữ tôn giáo bao hàm nhiều mức độ, nhiều sắc thái Nếu ta coi tôn giáo là niềm tin vào một đấng tối cao tuyệt đối, đầy lớn lao

và hoàn hảo, là hợp nhất bằng cả tấm lòng của bản thân với đấng tối cao hiện diện

ở khắp nơi, là sự hợp nhất bằng cả trái tim với đức chúa đầy lòng bác ái, ngự trị và nằm giữa tất cả Cuối cùng vì lòng biết ơn và sự hoàn thiện tột cùng, thể hiện ra bằng sự tôn thờ một cách xứng đáng với đấng tối cao đó, thì ta phải nói người Việt Nam không có tôn giáo Khái niệm đấng tối cao tuột khỏi họ, họ sống không có chúa Nhưng nếu ta quan niệm tôn giáo là tín ngưỡng và thực hành ảnh hưởng đến cách ứng xử theo lẽ phải cuộc đời đến một thế giới siêu nhiên thì ta thấy người Việt Nam có cái đức tính đó ở mức độ cao” [38, Tr 17]

Ngoài nghĩa rộng về tôn giáo trên, có nhiều cách sử dụng cũng như nhiều nghĩa của từ "tôn giáo." Một số lối giải thích như sau:

Một cách định nghĩa, đôi khi được gọi là "lối theo chức năng", định nghĩa tôn giáo là bất cứ hệ thống tín ngưỡng và phong tục nào có chức năng đề cập đến những câu hỏi căn bản về đặc tính loài người, đạo đức, sự chết và sự tồn tại của thần thánh (nếu có) Định nghĩa rộng này bao gồm mọi hệ thống tín ngưỡng, kể cả những hệ thống không tin tưởng vào thần thánh nào, những hệ thống đơn thần, những hệ thống đa thần và những hệ thống không đề cập đến vấn đề này vì không có chứng

cớ

Cách định nghĩa thứ hai, đôi khi được gọi là "lối theo hình thể", định nghĩa tôn giáo là bất cứ hệ thống tín ngưỡng nào xác nhận những điều không thể quan sát một cách khoa học được, và chỉ dựa vào chức trách hay kinh nghiệm với thần thánh

Trang 18

Nghĩa này hẹp hơn phân biệt "tôn giáo" với chủ nghĩa duy lý, chủ nghĩa nhân bản thế tục, thuyết vô thần, triết khách quan và thuyết bất khả tri, vì những hệ thống này không dựa vào chức trách hay kinh nghiệm nhưng dựa vào cách hiểu theo khoa học Cách định nghĩa thứ ba, đôi khi được gọi là "lối theo chứng cớ vật chất", định nghĩa tôn giáo là những tín ngưỡng về nhân quả mà Occam's Razor loại trừ vì chúng chấp nhận những nguyên nhân quá phức tạp để giải thích những chứng cớ vật chất Theo nghĩa này, những hệ thống không phải là tôn giáo là những hệ thống không tin tưởng vào những nguyên nhân phức tạp hơn cần thiết để giải thích những chứng cớ vật chất Những người theo quan điểm này tự xưng là "bất tôn giáo", nhưng cũng có người tôn giáo nhìn nhận rằng "tín ngưỡng" và "khoa học" là hai cách hoàn toàn khác nhau để đi đến chân lý Quan điểm này bị bác bỏ bởi những người xem rằng những giải thích siêu hình là cần thiết để giải thích các hiện tượng

tự nhiên một cách căn bản

Cách định nghĩa thứ tư, đôi khi được gọi là "lối tổ chức", định nghĩa tôn giáo

là các hội đoàn, tín ngưỡng, tổ chức, phong tục, và luật đạo đức chính thức của tất

cả các tôn giáo chính có tổ chức Nghĩa này đặt "tôn giáo" vào một vị trí trái ngược với "tinh thần", cho nên không bao gồm những luận điệu của "tinh thần" về việc tiếp xúc, phục vụ, hay tôn thờ thần thánh Tuy nhiên, trong nghĩa này tôn giáo và tinh thần không cần phải "được cái này mất cái kia": một người sùng đạo có thể có tinh thần hay không tinh thần, và một người có tinh thần có thể có hay không sùng đạo Theo tương tự, ta có thể xem "tôn giáo" như là than, củi, hay xăng, và "tinh thần" là ngọn lửa

Tóm lại, qua sự trình bày sơ lược và hệ thống những quan điểm tôn giáo cho thấy, việc xác định nội dung định nghĩa tôn giáo là phức tạp và đa dạng Mỗi cách tiếp cận đều hàm chứa những nội dung khác nhau mà không thể phủ nhận Tuy nhiên, để có định nghĩa phổ quát và thống nhất về tôn giáo chắc hẳn không chỉ dừng lại ở những nội dung hiện có, mà sẽ được bổ sung hoàn thiện cùng với sự phát triển của khoa học hiện đại với tư duy của loài người Dầu vậy, trong khi thực hiện luận văn, tôi xin đưa ra một khái niệm tôn giáo của tác giả Đặng Nghiêm Vạn đó là:

Trang 19

“Đối tượng của tôn giáo là thế giới bao gồm các lực lượng siêu nhiên, về hình mang tính linh thiêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách siêu thực (hay hư ảo) với con người, nhằm lý giải những vấn đề trên toàn thế giới cũng như thế giới bên kia Tôn giáo được biểu hiện đa dạng tùy thuộc vào từng thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh địa lý – văn hóa khác nhau của từng cộng đồng xã hội hay tôn giáo khác nhau Nếu là định nghĩa tôn giáo, cần phải xem xét thêm những yếu tố cấu thành, tính chất, chức năng cuả tôn giáo, đồng thời cũng phải đi sâu vào hiện tượng gần với tôn giáo hay mang tính tôn giáo” [32, Tr.72-73]

Ở cách tiếp cận này, tác giả đặc biệt nhấn mạnh, khi đề cập đến tôn giáo như là một hiện tượng xã hội, cần phải xem thêm những yếu tố cấu thành tôn giáo, niềm tin tôn giáo, nghi lễ, giáo lý, tổ chức Đây là những “cầu nối” trong quan hệ giữa thế giới hiện hữu và thế giới phi hiện thực Là một hình thái ý thức xã hội và cũng là một hiện tượng xã hội, với một cơ cấu tổ chức đặc thù, nên nói tới tôn giáo là nói tới cộng đồng có chung một niềm tin, tồn tại trong một cơ cấu hết sức chặt chẽ, song luôn chụi sự chi phối bởi cộng đồng lớn đó là quốc gia dân tộc

Như đã trình bày, nói tới tôn giáo là nói tới cộng đồng chung một niềm tin, tồn tại trong một cơ cấu hết sức chặt chẽ, song cũng luôn chụi sự chi phối bởi cộng đồng lớn đó là quốc gia dân tộc

1.1.2 Lịch sử hình thành tôn giáo

Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội Đặc điểm quan trọng trong ý thức tôn giáo là một mặt nó phản ánh tồn tại xã hội Mặt khác, nó lại có xu hướng phản kháng lại xã hội đã sản sinh ra và nuôi dưỡng nó Vì vậy, từ khi ra đời đến nay, cùng với sự biến đổi của lịch sử, tôn giáo cũng biến đổi theo

Với những thành tựu to lớn của ngành khảo cổ học, người ta đã chứng minh được sự tồn tại của con người cách đây hàng triệu năm (từ 4 – 6 triệu năm) Tuy nhiên, với những hiện vật thu được người ta khẳng định: có đến hàng triệu năm con người không hề biết đến tôn giáo Bởi vì tôn giáo đòi hỏi tương ứng với nó là một trình độ nhận thức cao, nó là sản phẩm của tư duy trừu tượng trong một đời sống xã hội ổn định

Trang 20

Hầu hết trong giới khoa học đều thống nhất rằng chỉ khi con người hiện đại – người khôn ngoan (Homo Sapiens) – hình thành và tổ chức thành xã hội, tôn giáo mới xuất hiện Thời kỳ này cách đây khoảng 95.000 – 35.000 năm Tuy nhiên trong thời kỳ đầu mới chỉ là các tín hiệu đầu tiên Đa số các nhà khoa học đều khẳng định tôn giáo ra đời khoảng 45.000 năm trước đây với những hình thức tôn giáo sơ khai như đạo Vật tổ (Tôtem), Ma thuật và Tang lễ… đây là thời kỳ tương ứng với thời

kỳ đồ đá cũ

Bước sang thời kỳ đồ đá giữa, con người chuyển dần từ săn bắt, hái lượm sang trồng trọt và chăn nuôi, các hình thức tôn giáo dân tộc ra đời với sự thiêng liêng hóa các nguồn lợi của con người trong sản xuất và cuộc sống: thần Lúa, thần Khoai, thần Sông… hoặc tôn thờ các biểu tượng của sự sinh sôi (thờ giống cái, hình ảnh phụ nữ, phồn thực…), đó là các vị thần của các thị tộc Mẫu hệ Khi đồ sắt xuất hiện, các quốc gia dân tộc ra đời nhằm mục đích phục vụ cho sự củng cố và phát triển của dân tộc Tất cả các vị thần ấy còn tồn tại chừng nào dân tộc tạo ra vị thần ấy còn tồn tại và khi dân tộc tiêu vong, các vị thần ấy không còn nữa

Trong thời kỳ văn minh nông nghiệp, nhiều đế chế ra đời và thâu tóm vào mình nhiều quốc gia Do nhu cầu một tôn giáo của đế chế, những tôn giáo như Phật, Nho, Kitô, Hồi… đã xuất hiện từ trước trở thành tôn giáo của đế chế và được chấp nhận như một tôn giáo chính thống Theo thời gian, do nội dung của các tôn giáo manh tính phổ quát, không gắn chặt với một quốc gia cụ thể, với các vị thần cụ thể, với nghi thức cụ thể của một cộng đồng tộc người, dân tộc hay địa phương nhất định nên sự bành trướng của nó diễn ra thuận lợi, dễ dàng thích nghi với các dân tộc khác Do vậy, dù được phổ biến bằng cách nào (chiến tranh hay hòa bình), các tôn giáo đó đã được các quốc gia bị lệ thuộc trực tiếp hay gián tiếp, tự giác hay không

tự giác tiếp nhận và trên nền tảng của tôn giáo truyền thống, biến đổi thành tôn giáo riêng của quốc gia đó Sự bành trướng kiểu như vậy diễn ra trong suốt thời kỳ văn minh công nghiệp và cho đến tận ngày nay Tuy nhiên cũng cần phải chú ý rằng, giữa tôn giáo khu vực hay tôn giáo thế giới vừa chung sống cạnh nhau, vừa tranh chấp xung đột nhau và không ít trường hợp, với sự ủng hộ của các thế lực quân sự,

Trang 21

chính trị, chiến tranh tôn giáo đã xảy ra Những tôn giáo như Kitô, Hồi do tính cực đoan của mình (chỉ coi chúa hay thánh của mình là đối tượng tôn thờ duy nhất) nên ban đầu đi đến đâu cũng khó chung sống với các tôn giáo khác đã có mặt ở đó từ trước Còn một số tôn giáo phương Đông như Nho, Phật thì khác, chúng chấp nhận hòa đồng với các tôn giáo bản địa, có xu hướng trần tục nhiều hơn là thế giới bên kia

Cuộc cách mạng công nghiệp đã tạo ra một xã hội công nghiệp, xã hội này đòi hỏi phải có một tôn giáo năng động và tự do hơn, khó chấp nhận một tổ chức, một giáo lý với những nghi thức cứng nhắc, phức tạp Tình trạng độc tôn của một tôn giáo trong một quốc gia đã bắt đầu chấm dứt và chấp nhận sự đa dạng trong đời sống tôn giáo Từ đây quan niệm và sau là chính sách tự do tôn giáo ra đời, phát triển nhanh hay chậm và thể hiện khác nhau ở các quốc gia khác nhau Những yếu

tố lỗi thời được huỷ bỏ hoặc tự thay đổi, thay thế để thích nghi Với xu thế quốc tế hóa ngày càng gia tăng, việc mỗi cá nhân chỉ biết đến tôn giáo của mình đã trở nên lạc hậu Mỗi người đều rằng trên thế gian có nhiều thánh thần, có nhiều tôn giáo

Họ bắt đầu hoài nghi và lựa chọn, thần thánh được mang ra tranh luận, bàn cãi và làm nảy sinh xu thế thế tục hoá tôn giáo và xu thế này ngày càng thắng thế

Trong thời đại ngày nay, khi mà xu thế toàn cầu hóa đang chi phối mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, sự nâng cao về trình độ học vấn và đặc biệt là những thành tựu của khoa học và công nghệ đã làm cho các tôn giáo ngày càng trở nên thế tục hóa kéo theo sự đa dạng trong đời sống tôn giáo Từ đây xuất hiện các ý kiến khác nhau trong một tôn giáo và dẫn đến sự chia rẽ trong các tôn giáo một cách có tổ chức, bùng nổ các giáo phái và xuất hiện nhiều tôn giáo mới Bản thân trong các tôn giáo khu vực và thế giới cũng có những biểu hiện khác trước: số tín đồ ngày càng tăng nhưng số tín đồ thực tế giảm, nghĩa là người ta theo đạo nhưng không hành đạo, nhiều tín đồ bỏ đạo để theo các “đạo mới” Trong nội bộ các tôn giáo có sự chia rẽ thành những giáo phái với những tính chất cấp tiến, ôn hòa hoặc cực đoan

1.1.3 Loại hình tôn giáo

- Tôn giáo trong xã hội chưa có giai cấp (Tôn giáo nguyên thủy)

Trang 22

Ănghen cho rằng tôn giáo xuất hiện từ ngay trong thời kỳ nguyên thủy, từ những quan niệm hết sức dốt nát, tối tăm, nguyên thủy của con người về bản thân mình và thiên nhiên bao quanh họ Các tôn giáo nguyên thủy, sơ khai thể hiện niềm tin bản năng của con người và lúc ấy chưa gắn với các lợi ích về kinh tế - xã hội Các hình thức phổ biến của tôn giáo nguyên thủy là các dạng sau:

+) Tô tem giáo (thờ vật tổ): Tô tem theo ngôn ngữ của thổ dân Bắc Mỹ nghĩa

là giống loài Đây là hình thức tôn giáo cổ xưa nhất, thể hiện niềm tin vào mối quan

hệ gần gũi, huyết thống giữa một cộng đồng người (thị tộc, bộ lạc) với một loài động thực vật hoặc một đối tượng nào đó Tô tem giáo thể hiện hình thức nhận biết đầu tiên về mối liên hệ của con người với các hiện tượng xung quanh Chẳng hạn: một bộ lạc tồn tại được nhờ săn bắt một loài động vật nào đó dẫn đến xuất hiện một

ảo tưởng về mối quan hệ giữa loài vật đó với cộng đồng người săn nó và cuối cùng con vật này lại trở thành tổ tiên chung – là một tô tem của một tập thể nào đó

+) Ma thuật giáo : Ma thuật theo tiếng Hi lạp cổ là phép phù thủy Đây là biểu hiện của việc người nguyên thủy tin vào khả năng tác động đến tự nhiên bằng những hành động tượng trưng (cầu khấn, phù phép, thần chú…) nghĩa là bằng con đường siêu nhiên Nhờ các biện pháp ma thuật, người nguyên thủy cố gắng tác động đến những sự kiện và làm cho nó diễn ra theo ý mình mong muốn Về sau, ma thuật trở thành một thành tố quan trọng không thể thiếu được của các tôn giáo phát triển Việc thờ cúng của bất kỳ tôn giáo nào cũng phải có ma thuật (cầu nguyện, làm phép…) Tàn dư của ma thuật là các hiện tượng bói toán, tướng số ngày nay

+) Bái vật giáo : Bái vật theo tiếng Bồ Đào Nha là bùa hộ mệnh, phép lạ Bái vật giáo xuất hiện vào lúc mới hình thành tôn giáo và sự thờ cúng Bái vật giáo đặt lòng tin vào những thuộc tính siêu nhiên của các vật thể như hòn đá, gốc cây, bùa, tượng… Họ cho rằng có một lực lượng siêu nhiên, thần bí trú ngụ trong vật đó Bái vật giáo là thành tố tất yếu của sự thờ cúng tôn giáo Đó là sự thờ cúng các tượng

gỗ, cây thánh giá… hoặc lòng tin vào sức mạnh kỳ quái của các lá bùa…

+) Vật linh giáo : Là hình thức tôn giáo xuất hiện muộn hơn, khi mà ý thức của con người đã đủ khả năng hình thành nên những khái niệm Vật linh giáo là lòng tin

ở linh hồn Lòng tin này là cơ sở quan trọng để hình thành nên quan niệm về cái siêu nhiên của người cổ xưa Giai đoạn này đã có ảo tưởng cho rằng có hai thế giới:

Trang 23

một thế giới tồn tại thực sự và một thế giới siêu nhiên, trong đó thế giới siêu nhiên thống trị thế giới thực tại Thế giới siêu nhiên này của người nguyên thủy cũng đầy

đủ động vật, thực vật, các đối tượng do tinh thần tưởng tượng ra và không khác biệt

gì lắm so với thế giới thực tại

- Tôn giáo trong xã hội có giai cấp

Khi xã hội phân chia giai cấp, xuất hiện các nhà nước, quốc gia với các vùng lãnh thổ riêng biệt, tôn giáo lúc này không chỉ còn là một nhu cầu tinh thần của quần chúng mà còn là một phương tiện để giai cấp thống trị duy trì sự thống trị áp bức giai cấp và bóc lột của mình và thực hiện sự bành trướng, xâm lược vì vậy tôn giáo gắn liền với chính trị và bị dân tộc hóa Từ đó đã dẫn đến sự xuất hiện các tôn giáo dân tộc và tôn giáo thế giới

+) Tôn giáo dân tộc : Đặc trưng của tôn giáo dân tộc là tính chất quốc gia dân tộc của nó Các vị thần được tạo lập mang tính quốc gia dân tộc và phạm vi quyền lực giới hạn trong phạm vi quốc gia Thậm chí một số tôn giáo lớn cũng bị dân tộc hóa ở mỗi quốc gia và trở thành tôn giáo có tính chất quốc gia Ví dụ Anh giáo (Thanh giáo), các dòng khác nhau của đạo Hồi…

+) Tôn giáo thế giới : Sự phát triển của các tôn giáo vượt ra khỏi biên giới của một quốc gia đã hình thành nên các tôn giáo khu vực và thế giới như Phật giáo, Thiên chúa giáo, Hồi giáo… Khác với các tôn giáo dân tộc, tôn giáo thế giới mang tính đa quốc gia, ảnh hưởng đến nhiều khu vực rộng lớn trên thế giới

1.2 Đặc điểm đời sống tôn giáo ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, mở cửa hội nhập, toàn cầu hóa

1.2.1 Những nét lớn về tình hình tôn giáo trên thế giới hiện nay

Tôn giáo xét dưới góc độ là một hính thái ý thức xã hội, nó phản ánh tồn tại xã hội, mặc dù sự phản ánh đó là sự phản ánh „hư ảo” và là sản phẩm của bộ óc người

Vì vậy, để hiểu rõ tình hình tôn giáo trên thế giới những thập niên cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, không thể không nói đến những biến động lớn lao của đới sống kinh tế - chính trị thế giới

Sự kiện nỗi bất nhất là chũ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, một loạt nước công khai tuyên bố đi theo con đường Tư Bản Chủ Nghĩa, hướng theo những giá trị của phương Tây và Mỹ Không ít người lớn tiếng rêu rao về cái gọi là

Trang 24

“sự cáo chung của xã hội” về “sự toàn thắng của chủ nghĩa tư bản” Chiến tranh lạnh kết thúc không phải đơn giản là quay lại mô hình phương tây với “thế giới đơn cực” do Mỹ đứng đầu Thực tế một “thế giới đa cực” đã hình thành và ngày càng chi phối tình hình kinh tế - chính trị khu vực và thế giới

- Thế giới hậu chiến tranh lạnh đang làm bùng nổ chủ nghĩa dân tộc cực đoan, với nhiều cuộc xung đột dân tộc – tôn giáo đẫm máu, nguy cơ chiến tranh hủy diệt chưa bị đẩy lùi

- Toàn cầu hóa kinh tế dưới sự chi phối của chủ nghĩa tư bản đang là một xu thế mạnh mẽ kéo theo sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ làm thay đổi cuộc sống của tất cả các dân tộc trên toàn thế giới Kinh tế thị trường là loại hình kinh tế mang tính phổ cập trên toàn thế giới, một mặt nó mang lại sự phát triển kinh tế, xã hội mạnh mẽ, mặt khác, mặt trái của kinh tế thị trường cũng đang tác động tiêu cực đến đời sống vật chất, tinh thần của tất cả các nước trên thế giới: sự gia tăng của tâm lý lo lắng, bất ổn, sự suy thoái đạo đức, sự phân hóa giàu nghèo tăng nhanh, vấn đề ô nhiễm môi trường, gia tăng các bệnh dịch nguy hiểm trên toàn thế giới…

- Cuộc đấu tranh của nhân dân toàn thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội đang diễn ra mạnh mẽ trên khắp thế giới chiến tranh lạnh kết thúc nhưng bộ mặt tàn ác của chủ nghĩa tư bản không hề giảm đi, các cuộc chiến tranh đẫm máu ở Apganistan, Irắc… Ảo tưởng của một số nước từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa đi theo con đường tư bản chủ nghĩa đã phải trả giá đắt: xung đột dân tộc, nạn khủng bố, mất an ninh xã hội…

Mâu thuẫn cơ bản trong chủ nghĩa tư bản là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa ngày càng sâu sắc Mâu thuẫn giữa các dân tộc, các nước đang phát triển với chủ nghĩa đế quốc; mâu thuẫn giữa các nước đế quốc, các tập đoàn tư bản hiện dưới nhiều hình thức, mức độ khác nhau vẫn tồn tại và phát triển

Chũ nghĩa xã hội hiện thực tuy bị thất bại tạm thời, nhưng đó là thất bại của

mô hình cụ thể, mô hình của nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung quan liêu bao cấp

Trang 25

Còn lý tưởng cao đẹp của chủ nghĩa xã hội, những thành tựu của công cuộc cải cách, đổi mới ở các nước xã hội chủ nghĩa còn lại như Trung Quốc, Việt Nam, Cu

Ba vẫn là thực tế không thể phủ nhận được Chủ nghĩa xã hội vẫn là mục tiêu vươn tới của nhân loại tiến bộ

Sự thăng trầm của đời sống kinh tế - chính trị thế giới những thập niên đã có tác động mạnh mẽ đến đời sống tôn giáo trên toàn thế giới Nhiều nhà nghiên cứu

đã tìm ra những nhận định về các trào lưu, xu hướng biến động của tôn giáo trên thế giới Có thể kể đến các xu hướng sau:

- Xu hướng thế tục hóa tôn giáo:

Từ nữa sau thế kỷ XX đến nay, do sự phát triển mạnh mẽ của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đặc biệt là những bước tiến nỗi bật của của khoa học kỹ thuật, tôn giáo đã có những biến đổi chưa từng xảy ra trước đây làm cho diện mạo của nó có những nét mới lạ Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng xu hướng thế tục hóa tôn giáo là đặc trưng chủ yếu của diện mạo tôn giáo trong xã hội hiện đại

Khái niệm thế tục hóa tôn giáo tuy vẫn còn tranh luận, nhưng các nhà nghiên cứu đều thừa nhận thế tục hóa tôn giáo với tính cách là quá trình phổ biến trên thế giới với ý nghĩa là:

+) Thế lực, ảnh hưởng và vai trò của tôn giáo ngày càng nhường chỗ cho thế lực, ảnh hưởng và vai trò của xã hội thế tục; làm cho cuối cùng tôn giáo cũng bị lệ thuộc và chế ước bởi thế lực; chụi ảnh hưởng và vai trò của xã hội thế tục

+) Bản thân tôn giáo ngay càng giải thích giáo lý của mình, bố trí kết cấu tổ chức và phương thức sinh tồn của mình, tổ chức các hoạt động tôn giáo và quy định phương hướng nhiệm vụ và các mục tiêu của mình theo các quan niệm, phương thức và phong cách thế tục, từ đó làm cho bộ mặt của mình ngày càng mang đặc trưng thế tục [40, Tr.3]

- Thế tục hóa tôn giáo có những điểm chung:

Trước hết đó là sự mờ nhạt, dao động hay mất đi quan niệm, niềm tin về chúa, nhiều tín đồ, thậm chí cả nhà thần học về giáo chức tin đạo mà không tin chúa Thế tục hóa làm cho những điều huyễn hoặc trong giáo lý bị nghi ngờ, cách giải thích

Trang 26

thiếu cơ sở khao học khó được chấp nhận, những nghi lễ rườm ra, phiền toái, giáo luật khắt khe, nghiêm ngặt quá bị bác bỏ Tính “thiêng” trong tôn giáo giảm dần khiên tôn giáo gần gũi với cuộc sống đời thường và ngày càng trở nên thiết thực, hữu ích hơn, dấu ấn xã hội ngày càng in đậm trong tôn giáo

Xu hướng thế tục hóa còn được biểu hiện bằng những hành vi nhập thế của các tôn giáo Các tôn giáo nỗ lực tham gia các hoạt động xã hội như phân biệt chủng tộc, phản đối bóc lột, xóa đói giảm nghèo…

Xu hướng thế tục còn thể hiện rõ trong việc tham gia hoạt động kinh tê của các giáo hội Bên cạnh đó, nó còn được thể hiện rõ nét ở tham vọng chính trị của các giáo hội Hiện nay, nhiều khu vực và quốc gia, chính trị hóa tôn giáo là xu hướng chiếm ưu thế

- Xu hướng trở về với những hình thức tôn giáo dân tộc

Xu hướng toàn cầu hóa kinh tế hiện nay có thể dẫn tới tình trạng toàn cầu văn hóa, thực chất là một số thế lực muốn lợi dụng để đồng văn hóa của các dân tộc nhỏ yếu hoặc áp đặt văn hóa của nước này đối với văn hóa của nước khác Để chống lại

sự suy yếu, băng hoại của các giá trị văn hóa truyền thống, một số nước – nhất là các nước chậm tiến – đang tìm cách khôi phục tín ngưỡng, tôn giáo dân tộc, đó là nhu cầu mang tính tất yếu để bảo vệ văn hóa truyền thống dân tộc Tuy nhiên có một số ý kiến của các nhà khoa học cho rằng, việc trở lại với tín ngưỡng tôn giáo dân tộc có thể là không phù hợp nữa vì điều kiện xã hội hiện đại không có điều kiện

và không chấp nhận những tập tục, những tín ngưỡng mang nhiều yếu tố lạc hậu, phiền phức, tốn kém về kinh tế, lãng phí về thời gian…

- Xu hướng xuất hiện những tôn giáo mới, trong đó có nhiều giáo phái phi nhân tính, phản văn hóa

Những năm gần đâycó hiện tượng kỳ lạ là các giáo phái mọc lên như nấm và

lan khắp thế giới Theo con số thống kê của các tố chức nghiên cứu tôn giáo quốc

tế, hiện ở Mỹ có khoảng 1.500 – 2.500 giáo phái, ở Châu Âu có khoảng 1.300 giáo phái, nếu tính toàn thế giới có khoảng 20.000 giáo phái, trong đó có khoảng 200 giáo phái thuộc loại cực đoan, không it giáo phái kỳ quái, phi nhân tính, phản văn

Trang 27

hóa Các giáo phái cực đoan gây kinh hoàng cho thế giới như giáo phái “cổng thiên đường” xuất hiện từ năm 60 của thế kỷ XX ở bang California của Mỹ, năm 1978 có

914 tín đồ của giáo phái này đã tử tử hàng loạt theo lệnh của giáo chủ

- Xu hướng khoan dung, hòa hợp, liện tôn

Hiện nay chưa xóa bỏ được sự nghi kỵ, đối đầu thậm chí xung đột giữa các tôn giáo, song xu hướng hòa hợp, khoan dung giữa các tôn giáo đã xuất hiện và đang chi phối thái độ ứng xử giưa các tôn giáo với nhau Mặt thực tế là trên thế giới đang xuất hiện xu hướng hợp tác, đối thoại, liên kết song phương, đa phương, khu vực vượt ra khỏi thế giới chính trị

Sự quốc tế hóa các lực lượng sản xuất do khoa học, công nghệ hiện đại mang lại không thể dung hợp với sự tách biệt, cô lập, khép kín ở mỗi quốc gia Điều đó tác động sự xích lại gần nhau giữa các tôn giáo, giữa các cộng đồng tín ngưỡng ở những nước khác nhau

- X u hướng cá nhân hóa của tín ngưỡng, tôn giáo

Trong xã hội hiện nay, tự do tín ngưỡng tôn giáo đã được tuyệt đại đa số các quốc gia trên thế giới chấp nhận và đưa vào trong luật pháp Trở thành quyền lợi của mỗi công dân Giáo sư người Nhật ở Đại học Kyoto, kiêm giáo sư Học viện

Phật học quốc tế, Kamata Shighêô ch rằng: “Xu thế phát triển tôn giáo ở thế kỷ XXI

là tôn giáo cá nhân Phật giáo thế kỷ XXI tất sẽ biến thành tôn giáo lấy cá nhân làm trung tâm” [47, Tr3]

Bên cạnh đó, ngay nay sự truyền bá tôn giáo bằng điện tử cũng diễn ra mạnh

mẽ thông qua các hình thức đài phát thanh, truyền hình, điện ảnh, ghi âm, thư điện tử… có người gọi là “giáo hội điện tử” Theo thống kê có 13 triệu người tiếp nhận thông tin tôn giáo từ các phương tiện truyền bá điện tử Từ “giáo hội điện tử” dẫn đến đa nguyên hóa tôn giáo, cá nhân hóa tôn giáo, dẫn đến sự nhạt nhòa của khái niệm giáo phái, dẫn đến cá nhân hóa nghi lễ tôn giáo… là điều có thể cắt nghĩa được

Trang 28

1.2.2 Đặc điểm tình hình tôn giáo ở việt nam trong những năm gần đây

Việt Nam là một đất nước nằm ở khu vực nhiệt đới, gió mùa Địa hình nước ta

đa dạng, với đồi núi, trung du, đồng bằng và biển Thiên nhiên có nhiều ưu đãi, song cũng luôn đe dọa cuộc sống của cộng đồng người sinh sống nơi đây Do đó con người dễ nảy sinh tâm lý sợ hãi, tin cậy vào lực lượng siêu nhiên

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, mỗi dân tộc lại có đặc điểm sinh sống khác nhau, văn hóa và phong tục khác nhau Chính điếu này đã tạo ra nhiều hình thức tín ngưỡng, tôn giáo hết sức đa dạng, phong phú Mặt khác, Việt Nam lại nằm

ở ngã ba đường, nơi giao lưu của nhiều luồng tư tưởng, văn hóa, là khu vực chụi ảnh hưởng mạnh nhất của hai nền văn minh lớn là văn minh Trung hoa và văn minh

Ấn Độ, nên thuận lợi cho việc tiếp thu các giá trị văn hóa bên ngoài

Hơn nữa, con người Việt Nam luôn cởi mở, khoan dung, không kỳ thị những khác biệt nên sẵn sàng tiếp thu những giá trị bên ngoài để dựng nước và giữ nước Cùng với các tín ngưỡng, tôn giáo, nội sinh, người Việt Nam đã tiếp thu nhiều tôn giáo từ bên ngoài, “nội địa hóa” chúng thành tài sản tinh thần của mình, tạo nên đời sống tín ngưỡng hết sức phong phú Có nhà nghiên cứu đã ví Việt Nam là một bảo tàng tôn giáo, tín ngưỡng Thật vậy, các hình thức tôn giáo ở nước ta hết sức đa dạng, từ hình thức tôn giáo sơ khai đến hiện đại, từ tôn giáo cổ đại phương đông đến tôn giáo cận hiện đại phương tây, từ tôn giáo bản địa đến tôn giáo khu vực và thế giới

Ở nước ta có những tôn giáo có số lượng tới hàng chục tín đồ, nhưng cũng có những tôn giáo chỉ có vài nghìn tín đồ, có những tôn giáo có hệ thống tổ chức, giáo

lý chặt chẽ, lại có những tôn giáo tồn tại với thiết chế rất đơn giản Đó là chưa kể đến nhiều tôn giáo đã biến thể hoặc chỉ còn là tàn dư Bên cạnh những tôn giáo tồn tại từ lâu đời, gần đây còn xuất hiện những tôn giáo mới, tôn gáo lạ Theo thống kê của Ban tôn giáo chính phủ, hiện nay ở Việt Nam có khoảng 50 hiện tượng tôn giáo

lạ với 60 tên gọi khác nhau Sự đa dạng của các tôn giáo cùng với hệ thống tín ngưỡng dân gian cũng hết sức phong phú tạo nên bức tranh tôn giáo, tín ngưỡng cực

kỳ sinh động

Trang 29

Trong số các tôn giáo lớn ở nước ta hiện nay, có cả tôn giáo ngoại nhập: Phật giáo, Kito giáo, Hồi giáo và có cả tôn giáo nội sinh như: Đạo Cao đài, Phật giáo Hòa hảo… Trong số các tôn giáo ngoại nhập, có tôn giáo được du nhập vào nước ta

từ rất sớm, nhưng lại có tôn giáo du nhập vào nước ta chỉ mới khoảng nữa thế kỷ Phật giáo là một tôn giáo thế giới, xuất hiện đầu tiên ở Ấn Độ, du nhập vào nước ta những năm đầu công nguyên, thông qua con đường giao lưu hòa bình Theo

ba con đường: Từ Ấn Độ theo đường biển, từ Trung hoa xuống, một bộ phận từ Cămphuchia sang Phật giáo nước nhập vào nước ta cả hai tông: Đại thừa và tiểu thừa Tông Đại thừa chiếm số lượng lớn, với các tông như: chân ngôn tông, tịnh độ tông, thiền tông Còn tông Tiểu thừa số lượng tín đồ ít hơn, chủ yếu là vùng đồng bào Khơme Tây Nam Bộ Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, có lúc thịnh, lúc suy Song nhìn chung phật giáo luôn có vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần dân tộc

ta Trong thực tế, đã có thời kỳ lịch sử (khoảng thế kỷ X đến XIV) tư tưởng phật giáo giữ vai trí hệ chủ đạo trong hệ tư tưởng của chế độ phong kiến Sau này, vị trí

hệ tư tưởng chủ đạo của phật giáo dần được thay thế bởi nho giáo Một học thuyết chính trị xã hội mang màu sắc tôn giáo, nhưng cùng với nho giáo và đạo giáo nó vẫn chi phối sâu sắc mọi mặt của đời sống xã hội phong kiến Việt Nam, tạo nên cục diện “tam giáo” Trên thực tế phật giáo, nho giáo, đạo giáo không những chung sống hòa bình ở nước ta mà còn đan xen, ảnh hưởng lẫn nhau đến nỗi nhiều khi khó phân biệt giá trị nào là của tôn giáo, học thuyết nào Người Việt Nam còn gọi phật

giáo, đạo giáo, nho giáo là “tam giáo đồng nguyên” hay “tam giáo đồng quy” Mặc

dù thực tế nho giáo không phải là học thuyết tôn giáo nhưng cũng giống như phật giáo và đạo giáo, nho giáo cũng xuất hiện ở phương đông và có nhiều nét tương đồng, nhất là những giá trị nhân bản, nhân đạo phù hợp với truyền thống của con người Việt Nam, nên được người Việt Nam xem như tôn giáo trong một số giai đoạn lịch sử trước đây Hơn nữa, con người Việt Nam có tinh thần rộng mở, bao dung, không câu nệ, sẵn sàng tiếp thu bất cứ giá trị văn hóa nào miễn là không đi ngược lại lợi ích dân tộc

Trang 30

Hiện nay trong khi đạo giáo chỉ còn là tàn dư trong một số tôn giáo khác, hoặc kết hợp với tín ngưỡng dân gian hình thành nên những biến thể mới, thì phật giáo vẫn tồn tại với đầy đủ kết cấu của nó và không ngừng phát triển Một số tôn giáo ngoại sinh khác du nhập vào nước ta khá sớm đó là Hồi giáo Hồi giáo du nhập vào nước ta chủ yếu vào cộng đồng người Chăm bằng con đường hòa bình vào khoảng thế kỷ XIII đến thế kỷ XV Sự du nhập của Hồi giáo gắn liền với quá trình tan rã của quốc gia Chiêm Thành (Chămpa) và suy giảm của đạo Balamon Người Chăm theo Hồi giáo ở Việt Nam là một cộng đồng tương đối thuần nhất, song cũng không hoàn toàn giống nhau giữa các vùng Do vị trí địa lý, hoàn cảnh truyền đạo và mức

độ giao lưu với thế giới Hồi giáo bên ngoài đã hình thành hai nhóm người Chăm theo Hồi giáo: Nhóm người Chăm theo Hồi giáo ở Ninh Thuận, Bình Thuận được gọi là Chăm Bà Ni (còn được gọi là Hồi giáo không chính thống hay Hồi giáo cũ)

Họ không tuân thủ đầy đủ những quy tắc của Hồi giáo, không giao lưu với thế giới Hồi giáo bên ngoài Còn nhóm người Chăm theo Hồi giáo ở An Giang, TP HCM là nhóm hồi giáo chính thống, được gọi là nhóm Hồi giáo Ixlam Họ là những tín đồ Hồi giáo nhiệt thành, tuân thủ khá đầy đủ quy tắc của Hồi giáo và có quan hệ đông đảo với cộng đồng Hồi giáo trên thế giới

Đạo Công giáo du nhập vào nước ta khoảng giữa Tk XVI đến đầu Tk XVII, đây là thời kỳ phát triển nhanh chóng của đạo Công giáo cùng với quá trình xâm lược và thống trị của chủ nghĩa thực dân trong các thế kỷ tiếp theo Sự truyền bá đạo Công giáo vào nước ta đã làm đứt gãy truyền thống chung sống hòa bình giữa các tôn giáo Có nhiều lý do khiến chính quyền phong kiến và người dân Việt Nam

e ngại sự phát triển của đạo Công giáo:

- Là tôn giáo được truyền bá qua con đường thực dân xâm lược

- Sự khác biệt giữa văn hóa phương đông và văn hóa phương tây, cùng với thái độ trịnh thượng, coi thường văn hóa bản địa của những người truyền đạo đã tạo nên sự phản ứng của người Việt Nam Với sự truyền bá mang tính áp đặt, đạo Công giáo

đã phát triển nhanh chóng dưới sự nâng đỡ của chính quyền thực dân và đã hình

Trang 31

thành nên hệ thống tổ chức chặt chẽ Hiện nay đạo Công giáo là tôn giáo có số lượng tín đồ lớn thứ hai ở Việt Nam

Cùng một gốc với đạo Công giáo nhưng đạo Tin lành được truyền bá vào nước

ta khá muộn Bắt đầu được truyền bá vào nước ta từ cuối thế kỷ XIX nhưng phải đến năm 1911 đạo Tin lành mới chính thức lập hội thánh tại Đà Nẵng Từ đó đạo tin lành được truyền bá vào đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên Sau năm 1945 đạo Tin lành có sự khác biệt giữa hai miền Nam Bắc Ở Miền Bắc với 20 mục sư truyền đạo và hơn 1000 tín đồ, đã lập giáo hội riêng gọi là Hội thánh Tin lành Việt Nam Ở Miền Nam, trong thời Mỹ - Ngụy Tổng liên hội thánh Tin lành Việt Nam

đã phát triển

Trong tất cả các sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo thì thờ cúng tổ tiên luôn được người Việt Nam coi trọng nhất Có ý kiến cho rằng đó là “đạo gốc nước ta” Nhà nghiên cứu người Pháp Goxelanh đầu thế kỷ XX đã có nhận xét: “Thờ cúng tổ tiên

là tôn giáo thân thiết nhất với người Việt” Việc thờ cúng tổ tiên vừa là tín ngưỡng, vừa là đạo lý sống của dân tộc Việt Nam Tín ngưỡng này hòa nhập một cách nhuần nhuyễn vào tất cả các tôn giáo ở Việt Nam Trong thuyết Tứ Ân của đạo Hòa Hảo,

“Ơn Tổ Tiên Cha Mẹ” được đặt hàng thứ nhất (thứ tự tiếp theo là: Ơn Đất Nước, Ơn Tam Bảo, Ơn Đồng Bào Nhân Loại) Thiên Chúa giáo khi du nhập vào Việt Nam, cùng với nhiều yếu tố lịch sử khác, việc phủ nhận tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên đã gây ra rất nhiều khó khăn cho việc truyền đạo Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, giáo hội Thiên Chúa đã từng bước thừa nhận tôn trọng các tín ngưỡng truyền thống thì thiên chúa giáo mới bắt đầu phát triển nhanh chóng ở Việt Nam cũng như ở Á Đông (Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản) Điều này được chính thức thừa nhận tại cộng đồng Vatican II (1962 – 1965)

Cùng với tập tục thờ cúng tổ tiên, người dân Việt Nam luôn có ý thức về việc tôn thờ, thần thánh hóa những con người có công với đất nước, làng xã, gia đình (dù

đó là những nhân vật huyền thoại hay là những con người có thật trong lịch sử) Đây chính là sự thể hiện tinh thần yêu nước, lòng tự hòa dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử của người Việt Nam Những tập tục, tín ngưỡng này phổ biến rộng rãi

Trang 32

trong đời sống sinh hoạt của xã hội Việt Nam Đó là việc thờ Vua tổ Hùng Vương; thờ Tứ Bất Tử (Tản Viên, Thánh Giong, Chữ Đồng Tử, Liễu Hạnh); Thờ Trần Hưng Đạo; việc thờ cúng Thành Hoàng làng…

Trong tất cả các sinh hoạt tín ngưỡng của người dân Việt Nam, bên cạnh tập tục cúng tổ tiên, yếu tố nữ tính (thờ Mẫu) luôn nỗi trội và được coi trọng Yếu tố này xuất phát từ việc coi trọng phụ nữ trong đời sống xã hội của người Việt Nam Sâu xa hơn là vị trí quan trọng của người phụ nữ trong nền văn hóa nông nghiệp lúa nước của dân tộc Việt Tín ngưỡng thờ mẫu có sức sống mạnh mẽ, chi phối rất nhiều đến một số tôn giáo khi du nhập vào Việt Nam Đó là thờ Tam Phủ, Tứ Phủ,

Bà Trời, Mẹ Đất, Bà Thủy, Bà Hỏa, Các Nữ Thần Mây – Mưa – Sấm – Chớp… trong dân gian tiêu biểu là hình tượng Chúa Mẫu Liễu Hạnh Việc thờ Chúa Mẫu Liễu Hạnh đặc biệt phát triển vào thời Lê, khi mà Nho giáo với chế độ Phụ quyền hưng thịnh nhất ở Việt Nam

Phật giáo khi du nhập vào Việt Nam cũng phải chụi ảnh hưởng rất nhiều của tín ngưỡng thờ Mẫu Đó là câu chuyện Man Nương trở thành Phật Mẫu; hình tượng Phật Bà Quan Âm (biến thể của Quan Thế Âm Bồ Tát – vốn là một vị phật nam), truyền thuyết Quan Âm Thị Kính… Những Điều này trong Phật giáo nguyên thủy không có

Tất cả những điều trên cho thấy, cùng với việc thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ Mẫu luôn có vị trí quan trong trong đời sống tâm linh của người Việt Nam Bởi vậy những tôn giáo, tín ngưỡng ngoại nhập vào Việt Nam luôn phải thừa nhận chụi ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ Mẫu Đây được xem là yếu tố đặc sắc trong đời sống văn hóa tinh thần của xã hội Việt Nam “Việc thờ cúng các loại mẫu ở Việt Nam mạnh đến nỗi có thể xem như một tôn giáo dân tộc đặc biệt – Đạo Mẫu”

Trên đây là những đặc điểm cở bản của sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo trong xã hội Việt Nam Những đặc điểm này mang tính truyền thống lịch sử, nhưng vẫn in đậm nét trong xã hội Việt Nam hiện nay Bức tranh tổng thể về đời sống sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng ở nước ta được xem là ổn định Sở dĩ có được điều này là nhờ các chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước Việt Nam Tuy nhiên

Trang 33

trong bối cảnh mới có nhiều biến động, đặc biệt là do tác động của nền kinh tế thị trường và các trào lưu tư tưởng nước ngoài du nhập vào nên những sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta cũng có những biểu hiện tiêu cực, không lành mạnh, thậm chí có thể xem là nguy hiểm đối với văn hóa, sự toàn vẹn lãnh thổ, sự phát triển toàn diện của đất nước Đó là các hiện tượng mê tín dị đoan, mua thần bán thánh, xuất hiện những tôn giáo mới với luận điệu phản động, việc truyền đạo bị các thế lực thù địch lợi dụng… (tất cả những vấn đề này sẽ được trình bày kỹ ở chương 2) Đây chính là những vấn đề làm nguy hại đến các giá trị văn hóa tốt đẹp trong đời sống sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng của người dân Việt Nam Các giá trị truyền thống của các tôn giáo, tín ngưỡng luôn có vị trí quan trọng trong bức tranh tổng thể văn hóa Việt Nam

Tóm lại, trong đời sống sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam, bên cạnh

sự tồn tại của nhiều tôn giáo, sự dung hòa, đan xen giữa các tín ngưỡng và tôn giáo, thì các tín ngưỡng mang tính bản địa như: thờ cúng tổ tiên, thờ mầu luôn có vị trí quan trọng và chi phối mạnh mẽ đời sống tâm linh người Việt Nam Các tôn giáo ở Việt Nam, dù nội sinh hay ngoai nhập trong quá trình tồn tại và phát triển cùng lịch

sử dân tộc, luôn có sự gắn bó chặt chẽ với đời sống xã hội Việt Nam Trong suốt thời kỳ Bắc thuộc, rồi thời kỳ Phong kiến chống ngoại xâm, trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, Chống Mỹ, trong thời kỳ quá độ tiến lên chũ nghĩa xã hội hiện nay, đã có những thời điểm lịch sử một số tôn giáo bị kẻ thù dân tộc lợi dụng, nhưng nhìn chung những tín đồ tôn giáo Việt Nam là những người yêu nước, có tinh thần dân tộc, cần cù lao động, họ cũng là những người Việt Nam chân chính

1.3 Vấn đề tôn giáo trong đời sống chính trị - xã hội và quan hệ quốc tế

1.3.1 Đời sống chính trị - xã hội

1.3.1.1 Đối với đới sống xã hội

Tôn giáo là một phổ quát văn hóa nên nó đóng vai trò quan trọng trong xã hội loài người Các nhà xã hội học, dù là duy chức năng hay duy xung đột đều nhất trí rằng tôn giáo là một định chế xã hội và có các chức năng phục vụ cho cuộc sống xã hội của con người từ khi nó xuất hiện cho đến giờ

Trang 34

Chức năng tích hợp xã hội hay còn gọi là kết hợp xã hội: tôn giáo có các giá trị, tiêu chuẩn của nó, vì thế những người có cùng một tôn giáo gắn bó với nhau hơn nhờ những giá trị và tiêu chuẩn chung ấy Từ xã hội nguyên thủy, những thành viên

của xã hội đã có chung một vật tổ - biểu hiện hữu hình của sự gắn kết Ngày nay, tất

cả những đồng tiền giấy của nước Mỹ đều in dòng chữ: Chúng con tin tưởng tuyệt đối vào Chúa hàm ý sự đoàn kết tập thể dựa trên niềm tin Tôn giáo, dẫu đó là Phật giáo, Hồi giáo, Thiên Chúa giáo hay Do Thái giáo, cũng đều cung cấp cho người ta

ý nghĩa và mục đích cho cuộc sống của họ Nó mang đến cho họ những giá trị tối hậu và những cùng đích nào đó để giữ họ chung lại với nhau Trong những thời

điểm khủng hoảng hay hỗn loạn, tôn giáo cũng giúp cho con người gắn bó với nhau hơn Tuy vậy, tôn giáo không phải là định chế xã hội duy nhất có chức năng tích hợp, tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc cũng là chất keo gắn kết những thành viên của một xã hội Mặt khác, cũng có khi sự "rối loạn chức năng" xảy ra, đó là lúc tôn giáo góp phần vào sự căng thẳng, thậm chí xung đột giữa các nhóm hoặc giữa các quốc gia với nhau Thời Trung Cổ, niềm tin tôn giáo thúc đẩy tín đồ Cơ Đốc châu Âu tổ chức thành những đạo quân Thập tự chống lại tín đồ Hồi giáo phương Đông Ngày nay, mâu thuẫn giữa các tín đồ Hồi giáo, Do Thái giáo và Kitô giáo cũng góp phần vào sự bất ổn định chính trị của khu vực Trung Đông hay căng thẳng giữa các tín đồ Tin Lành với Thiên Chúa giáo ở Bắc Ireland; giữa các tín đồ Ấn Độ giáo với đạo Sikh ở Ấn Độ Việc xung đột giữa các tôn giáo khác nhau cho thấy cái gọi là tôn giáo bản chất là không tồn tại, do cái gọi là tôn giáo một khi đã xuất hiện thì phải dựa trên một quan điểm nào đó, mà khi dựa trên một quan điểm nào đó thì đã có quan điểm đối lập với nó rồi, nếu có một tôn giáo khác dựa trên (ít hoặc nhiều, một phần hoặc toàn bộ) một quan điểm đối lập thì hai tôn giáo trở thành (ít hoặc nhiều, một phần hoặc toàn bộ) mâu thuẫn với nhau Chính vì thế, cái gọi là tôn giáo không phải là "TÔN GIÁO" theo đúng ý nghĩa thánh thiện và tối hậu của nó, thật sự có nơi mỗi tôn giáo

Chức năng kiểm soát xã hội: tôn giáo không có chức năng kiểm soát xã hội, vì

xã hội đối với tôn giáo chưa đủ "tiêu chuẩn" đáng để tôn giáo có thể xét đến, vì hiện

Trang 35

tại nó quá nhiều khiếm khuyết về tính thánh thiện và đạo đức Tuy nhiên, trong quá khứ, cũng từng có quan điểm sai lầm, trong đó có quan điểm duy xung đột, đặc biệt

là của Karl Marx, tôn giáo ngăn cản sự biến đổi xã hội bằng cách khuyến khích những người bị áp bức vào các quan tâm ở thế giới khác, thay vì vào sự đói nghèo, hay sự bóc lột đang hiện diện Quan điểm này cho rằng tôn giáo góp phần kiện toàn các định chế và trật tự xã hội như một tổng thể, duy trì hiện trạng của xã hội, giữ nguyên cấu trúc bất bình đẳng của nó cũng như củng cố lợi ích của tầng lớp thống trị Thiên Chúa giáo dạy con người sự vâng lời và như vậy rất có thể nó làm cho những người bị áp bức không chống lại; hay hệ thống đẳng cấp ở Ấn Độ định hình cấu trúc xã hội của đại đa số người theo Ấn Độ giáo; những người cầm quyền thường viện dẫn tôn giáo để thực hiện quyền kiểm soát xã hội Về điều này, có thể

tóm tắt trong câu nói nổi tiếng của Karl Marx: tôn giáo là thuốc phiện của nhân loại Tuy nhiên, câu này không chính xác ở chỗ nó chưa thấy được thực thể con

người không hoàn toàn là vật chất mà còn là một cấu trúc mang thuộc tính tâm linh Mặt khác, những nghiên cứu của Max Weber về giáo phái Calvin của đạo Tin Lành

đã dẫn đến kết luận tôn giáo có tác dụng thúc đẩy xã hội Các cải cách của Tin Lành

đã dẫn đến việc duy lý hóa xã hội, con người thay vì chấp nhận số mệnh và hướng

về đời sống sau khi chết theo truyền thống, phải đạt tới cuộc sống thịnh vượng, phải phấn đấu để thành công bằng mọi nỗ lực để thực hiện hoạch định của Chúa Weber cho rằng chính vì thế chủ nghĩa tư bản hình thành vững chắc ở những nơi mà giáo phái Calvin phát triển mạnh, thậm chí còn gọi tinh thần của tôn giáo này là cốt tủy của chủ nghĩa tư bản

Những người Hindu sẽ cảm thấy cuộc sống trở nên dễ dàng hơn sau khi tắm nuớc sông Hằng

Chức năng hỗ trợ xã hội: dù ít hay nhiều, con người thường phải đối mặt với khó khăn, hiểm nguy, thất bại, thiên tai, bệnh tật cái chết của những người thân thuộc, yêu quý và cái chết của chính bản thân mình Trong những lúc như thế, cuộc sống rất dễ bị tổn thương và trở nên vô nghĩa, niềm tin tôn giáo giúp cho con người khó bị rơi vào tuyệt vọng hơn Một số tôn giáo còn cung cấp cho con người những

Trang 36

biện pháp như cầu nguyện, cúng bái thần linh trong niềm tin rằng những việc làm như vậy sẽ giúp cải thiện tình hình Trên góc độ khác, tôn giáo còn cho con người một cứu cánh trong bất hạnh đó là coi bất hạnh ấy là ý của đấng thiêng liêng và có

một ý nghĩa nào đấy mà con người không nhận thức được Trong nghĩa cơ bản, tôn giáo tạo ra phương tiện để giải quyết những vấn đề sau cùng: sống, chết mà không

có lẽ phải thông thường nào có thể đưa ra lời giải đáp Tuy nhiên, công trình

nghiên cứu của nhà xã hội học người Mỹ Peter Berger nêu rằng khi đối mặt với những đe dọa như tai họa hay cái chết, sức mạnh hỗ trợ của niềm tin thần thánh hay

sự thiêng liêng giảm đi rất nhiều nếu con người xem thần thánh đơn thuần chủ yếu

là công cụ để giải quyết bi kịch

1.3.1.2 Đối với đời sống chính trị

Trong lịch sử, tôn giáo thường đi song song với chính trị Các hoàng đế Trung Quốc lấy căn cứ quyền của họ từ Thiên mệnh Giáo hội Công giáo Rôma đã thống trị phần lớn châu Âu cho đến cuộc Cải cách Tin lành Đến Thời đại Ánh sáng vào thế kỷ 18 tại châu Âu, nhiều triết gia tin vào việc cách ly tôn giáo và nhà nước Hiện nay tôn giáo đóng nhiều vai trò khác nhau tại nhiều nơi trên thế giới:

Tôn giáo cách ly: tại một số quốc gia như Hoa Kỳ, Canada và Pháp, hiến pháp cách ly tôn giáo và nhà nước Các quốc gia này thường cho phép người dân tự do tín ngưỡng, nhưng không công nhận bất cứ tôn giáo nào để khỏi bị xem là thiên vị Tuy nhiên, tại Hoa Kỳ, khi một tổng thống nhậm chức, tổng thống phải đặt tay lên cuốn kinh thánh để tuyên thế

Quốc giáo: Một số quốc gia có một quốc giáo, một tôn giáo được nhà nước công nhận là chính thức và nhận thuế từ dân, tuy nhiên người dân vẫn được phép tự

do tín ngưỡng Trong các nước này gồm có một số nước Hồi giáo, Công giáo và những nước như Thái Lan (Phật giáo), Anh (Anh giáo) Tuy nhiên, các viên chức quốc giáo không có địa vị quan trọng trong chính quyền, trừ quốc trưởng

Thần quyền: Tại một số quốc gia, điển hình là Iran và Tòa thánh Vatican, tôn giáo và chính quyền là một Các viên chức quan trọng trong tôn giáo cũng là viên chức trong chính quyền

Trang 37

1.3.2 Quan hệ quốc tế

Các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam với mức độ khác nhau đều có mối quan hệ quốc tế nhất định Quan hệ đối ngoại của các tôn giáo thể hiện cụ thể trong việc trao đổi đoàn, các chức sắc, tín đồ ra nước ngoài học tập, dự hội nghị, hội thảo, tham gia các hội nghị quốc tế tôn giáo thế giới, khu vực, và các đoàn, các tổ chức tôn giáo nước ngoài vào Việt Nam; các tổ chức phi chính phủ (NGO), trong đó có các tổ chức có nguồn gốc tôn giáo vào thực hiện các dự án viện trợ tại Việt Nam Tại chương V "Quan hệ quốc tế của tổ chức tôn giáo, tín đồ, nhà tu hành, chức sắc" của Pháp lệnh gồm các điều 34, 35, 36, 37 quy định cụ thể về các yếu tố liên quan đến các hoạt động quốc tế của các tôn giáo, cử người tham gia những khoá đào tạo về tôn giáo ở nước ngoài; về việc chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài giảng đạo tại Việt Nam.Trong quá trình đổi mới, hoạt động quốc tế của các tôn giáo diễn ra sôi nổi và phong phú bao trùm hầu hết các địa bàn, lãnh thổ và có liên quan đến các lĩnh vực của đời sống xã hội Có nhiều hoạt động có tính chất thuần tuý tôn giáo như thăm viếng lẫn nhau, tham gia các cuộc hội thảo, diễn đàn khu vực và quốc tế, trao đổi về giáo lý, giáo luật, lễ nghi, sinh hoạt tôn giáo Cũng có các tổ chức tôn giáo tham gia những hoạt động xã hội, bác ái, từ thiện, viện trợ, văn hoá

Hiện nay, rất nhiều cá nhân, đại diện các tổ chức tôn giáo và liên quan tới tôn giáo vào thăm, làm việc tại Việt Nam theo lời mời của cá nhân, tổ chức tôn giáo tương ứng tại Việt Nam Các đoàn không chỉ vào làm việc với các tổ chức tôn giáo, gặp gỡ với các giáo hội mà còn làm việc với Chính phủ, các cơ quan và địa phương

để cùng trao đổi, đối thoại về các vấn đề mà hai bên cùng quan tâm Một số đoàn đáng chú ý như đoàn Vatican sang Việt Nam định kỳ hàng năm để trao đổi với Chính phủ Việt Nam về những vấn đề liên quan tới Giáo hội Công giáo Việt Nam

và nhằm tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, đoàn Báo cáo viên Đặc biệt của Liên hợp quốc về tự do tôn giáo, đoàn Đặc phái viên của Tổng thống Mỹ về tự do tôn giáo quốc tế, đoàn Văn phòng Tự do Tôn giáo Mỹ, đoàn ủy ban Tự do Tôn giáo Mỹ, đoàn các Nghị sỹ châu Âu, EU

Trang 38

Trong những năm gần đây, các giáo hội tham gia nhiều hội nghị khu vực và thế giới do các tổ chức tôn giáo và các tổ chức quốc tế đứng ra tổ chức Tháng 8-

2000, đoàn chức sắc các tôn giáo Việt Nam tham dự "Hội nghị Thượng đỉnh Thiên niên kỷ của các nhà lãnh đạo tôn giáo và tinh thần" tại Mỹ Tại Hội nghị, các đại biểu đoàn Việt Nam đã làm cho bạn bè quốc tế hiểu đầy đủ hơn về chính sách tôn giáo của Nhà nước Việt Nam

Trong thời gian từ ngày 9 đến 20-5-2002 và từ ngày 8 đến 18-6-2004, các đoàn gồm đại diện của Ban Tôn giáo Chính phủ và chức sắc tôn giáo (Phật giáo, Công giáo, Tin lành) đã sang Mỹ thăm và làm việc với các đối tác quan tâm đến vấn đề tôn giáo ở Việt Nam (chính giới Mỹ và lãnh đạo Giáo hội Giám lý Thống nhất, Hiệp hội Tin lành Quốc gia Hoa Kỳ, Tổ chức Nhà thờ Thế giới, tiếp xúc với các nhà báo quốc tế tại Washington D.C.) Chuyến thăm đã có kết quả tốt và để lại nhiều dấu ấn tích cực tại Mỹ, được đánh giá là có kết quả khả quan và mở ra một thời kỳ mới về đối thoại và tăng cường hiểu biết lẫn nhau về vấn đề tôn giáo giữa hai nước Một số đoàn đối thoại nhân quyền, tôn giáo khác có sự tham gia của chức sắc tôn giáo như đối thoại về sự hài hoà, hợp tác giữa các tôn giáo đã được tổ chức tại Bali - In-đô-nê-xi-a, Cebu - Phi-líp-pin, Síp

Tại các cuộc đối thoại, chức sắc các tôn giáo đã có dịp nói rõ về chính sách tự

do tôn giáo của Việt Nam ngày càng được bảo đảm và cũng là dịp để các chức sắc trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, học hỏi về kiến thức và thực tiễn mục vụ trong tôn

giáo của mình

Quan hệ quốc tế các tôn giáo ngày càng rộng mở, giao lưu quốc tế giữa các tôn giáo là một nhu cầu tất yếu, là một tập quán và thông lệ quốc tế Các mối quan hệ quốc tế của các tôn giáo ở Việt Nam cũng ở trong xu thế đó nhằm vừa đáp ứng những nhu cầu của giáo hội các tôn giáo, vừa hài hòa với các lợi ích chung của xã hội và đất nước

Nhìn chung, các mối quan hệ quốc tế của các tôn giáo ở Việt Nam xuất phát từ

lý do tôn giáo, vì mục đích tôn giáo Tuy nhiên, một số quan hệ quốc tế của các tôn giáo đã bị các thế lực thiếu thiện chí luôn tìm cách chống phá công cuộc đổi mới

Trang 39

của Việt Nam lợi dụng; một số người vẫn dựa trên những thông tin sai lệch, phản ánh không đúng sự thật về tình hình tôn giáo cũng như chính sách tôn giáo ở Việt Nam và thông qua các tổ chức quốc tế gây áp lực với Chính phủ, Quốc hội Việt Nam nhằm ngăn cản sự phát triển quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các nước Một số cá nhân ở trong nước núp dưới chiêu bài "tự do tôn giáo" để thực hiện những tham vọng cá nhân, phá hoại sự ổn định xã hội và khối đoàn kết dân tộc Một

số cá nhân và tổ chức ở bên ngoài lợi dụng họ vì những mục tiêu riêng, chống phá Nhà nước và quan hệ quốc tế của Việt Nam Nhưng nhờ sự minh bạch và cởi mở về chủ trương, chính sách tự do tôn giáo của Việt Nam, đông đảo cá nhân và tổ chức quốc tế thừa nhận Nhà nước Việt Nam ngày càng thực hiện và bảo đảm quyền tự do tôn giáo của người dân

Thời gian vừa qua, hoạt động đối ngoại tôn giáo đã đạt được những thành tựu nhất định, không chỉ giúp cho các tôn giáo duy trì quan hệ bình thường, giao lưu với các tổ chức tôn giáo các nước, khu vực và thế giới, mà còn thể hiện rõ chính sách

mở rộng các hoạt động quan hệ và giao lưu quốc tế của nhân dân, góp phần tích cực trong công cuộc xây dựng và đổi mới của đất nước Hoạt động quốc tế các tôn giáo

đã góp phần làm rõ chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam, tranh thủ được sự ủng hộ giúp đỡ vật chất, tinh thần của cộng đồng quốc tế cho sự nghiệp xây

dựng và phát triển đất nước

Nhà nước Việt Nam khẳng định rằng, quyền tự do theo hoặc không theo một tín ngưỡng, tôn giáo nào đã được quy định rõ ràng trong hệ thống luật pháp Việt Nam và được đảm bảo trên thực tế Mọi công dân có toàn quyền lựa chọn tín ngưỡng, tôn giáo của mình, các tôn giáo hoạt động theo pháp luật, đồng thời không làm ảnh hưởng đến đời sống và đoàn kết cộng đồng, đến an ninh quốc gia và trật tự

xã hội Khách nước ngoài đến Việt Nam đều dễ dàng nhận thấy người dân theo tín ngưỡng, tôn giáo sinh hoạt bình thường và tham dự các lễ hội tại các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo với số lượng rất đông Đó chính là bằng chứng rõ ràng về chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam

Trang 40

Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, Nhà nước Việt Nam không ngừng nghiên cứu,

bổ sung và từng bước hoàn thiện một cách có hệ thống các văn bản có tính pháp lý cao hơn nhằm bảo đảm cho các tôn giáo được hoạt động theo đúng tôn chỉ, mục đích, giáo lý, giáo luật và hiến chương của từng tôn giáo Các văn bản pháp lý này phù hợp với các điều khoản về tự do tôn giáo trong các công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia, ký kết

1.4 Các thế lực thù địch và chiền lược về vấn đề tôn giáo đối với nước ta hiện nay 1.4.1 Chính sách của Mỹ

Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội và Tổng Lãnh sự quán Mỹ tại Thành phố Hồ Chí Minh đã tích cực và thường xuyên bày tỏ quan ngại về quyền tự do tôn giáo với các nhà lãnh đạo Đảng và các quan chức Chính phủ, kể cả lãnh đạo Bộ Ngoại giao, Ban Tôn giáo Chính phủ, Bộ Công an, và các cơ quan khác tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Đại sứ quán cũng duy trì tiếp xúc thường xuyên với các chức sắc tôn giáo và những người bất đồng chính kiến và định kỳ viếng thăm các chức sắc tôn giáo trên cả nước

Ngoại trưởng Mỹ Clinton trong các cuộc tiếp xúc với quan chức Chính phủ trong năm ngoái đã kêu gọi cải thiện hơn nữa tự do tôn giáo Tự do tôn giáo cũng là trọng tâm chính của Đối thoại Nhân quyền song phương Mỹ - Việt năm 2009 Thứ trưởng Ngoại giao, Trợ lý Ngoại trưởng Hoa kỳ về Dân chủ, Nhân quyền và Lao động, Đại sứ Hoa kỳ, Tổng lãnh sự Hoa kỳ ở Thành phố Hồ Chí Minh và các cán

bộ tại Đại sứ quán và Tổng lãnh sự quán cũng thảo luận về các vấn đề về tự do tôn giáo với các quan chức cấp cao, kể cả Chủ tịch nước, Thủ tướng, Phó Thủ tướng,

Bộ trưởng bộ Ngoại giao, Trưởng ban Tôn giáo Trung ương, các Thứ trưởng Bộ Ngoại giao và Bộ Công an, các quan chức Sở Ngoại vụ Thành phố Hồ Chí Minh, các quan chức chính phủ cấp cao, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh trên cả nước và các quan chức, cán bộ khác, đặc biệt là ở khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long

Ngày đăng: 31/03/2015, 14:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Trần Xuân Dung (2002) “Hoạt động lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch ở Tây Nguyên hiện nay: Thực trạng và giải pháp đấu tranh phòng ngừa”, Luận án Tiến sỹ Triết học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù "địch ở Tây Nguyên hiện nay: Thực trạng và giải pháp đấu tranh phòng ngừa
25. Nguyễn Đắc Lữ (2005), “Vấn đề Dân tộc, Tôn giáo và Nhân quyền”, Viện thông tin khoa học, Học viên chính trị quốc gia TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề Dân tộc, Tôn giáo và Nhân quyền
Tác giả: Nguyễn Đắc Lữ
Năm: 2005
1. Đào Duy Anh (1998), Việt Nam văn hoá sử cương (tái bản), NXB Tổng hợp Đồng Tháp, 1998 Khác
2. Nguyễn Đăng Duy (1996), Văn hoá tâm linh, NXB Hà Nội Khác
3. Nguyễn Hồng Dương (2004), Tôn giáo trong mối quan hệ văn hoá và phát triển ở Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Khác
5. Ban Tôn giáo Chính phủ: Các văn bản pháp luật quan hệ tín ngƣỡng, tôn giáo, NXB Tôn giáo, HN 2000 Khác
6. Ban Tôn giáo Chính phủ (1991), Nghị định 69/1991/NĐ – CP của Chính phủ về quy định các hoạt động tôn giáo Khác
7. Ban Tôn giáo Chính phủ (1999), Nghị định 26/1999/NĐ – CP của Chính phủ về các hoạt động tôn giáo Khác
8. Nguyễn Việt Chước (1974), Lịch sử báo chí Việt Nam, NXB Nam Sơn, TP Hồ Chí Minh Khác
9. Hồng Chương (1987), Tìm hiểu báo chí Việt Nam, NXB Giaos khoa Mac – Lênin Khác
10. Nguyễn Đại Đồng – Nguyễn Thị Minh (2008), Phong trào chấn hƣng Phật giáo Việt Nam từ năm 1927 – 1938, NXB Tôn giáo Khác
11. Hà Minh Đức (1997), Báo chí - những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB ĐHQG Hà Nội Khác
12. Đỗ Quang Hưng (chủ biên, 2003), Bước đầu tìm hiểu về mối quan hệ Nhà nước và Giáo hội, NXB Tôn giáo, Hà Nội Khác
13. Đỗ Quang Hƣng (chủ biên, 2001), Tôn giáo và mấy vấn đề tôn giáo ở Nam Bộ, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Khác
14. Đỗ Quang Hƣng (2005), Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam – lý luận và thực tiễn, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
15. Đỗ Quang Hƣng (2000), Lịch sử báo chí Việt Nam 1865 – 1945, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
16. Đỗ Quang Hƣng (2001), Lịch sử báo chí Việt Nam 1865 – 1945, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
17. Đỗ Quang Hƣng (2005), Lịch sử báo chí tôn giáo ở Việt Nam, Kỷ yếu Việt Nam học quốc tế lần thứ I, II Khác
18. Học viện Chính trị Quốc gia HCM: Những đặc điểm cơ bản của một số tôn giáo lớn ở Việt Nam”, NXB Quân Đội Nhân Dan, Hà Nội, 1998 Khác
19. Phan Xuân Hoà (1951), Nhân quyền hay lịch trình tiến hoá của nhân loại, NXB Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w