Thuộc vào dạng thức di dân không tự nguyện, thực tế quá trình di dân và TĐC đã cho thấy nhiều vấn đề nảy sinh sau TĐC như: Thiếu nguồn nước để sinh hoạt và sản xuất; Đất sản xuất vừa thi
Trang 1-* -
BÙI MINH THUẬN
TÁI ĐỊNH CƯ VÀ SỰ THAY ĐỔI ĐỜI SỐNG CỦA NHÓM ĐAN LAI (THỔ) Ở VƯỜN
QUỐC GIA PÙ MÁT
(Trường hợp người Đan Lai ở hai bản Tân Sơn và Cửa Rào,
xã Môn Sơn, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-* -
BÙI MINH THUẬN
TÁI ĐỊNH CƯ VÀ SỰ THAY ĐỔI ĐỜI SỐNG CỦA NHÓM ĐAN LAI (THỔ) Ở VƯỜN
QUỐC GIA PÙ MÁT
(Trường hợp người Đan Lai ở hai bản Tân Sơn và Cửa Rào,
xã Môn Sơn, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An)
Trang 3Trang
4 Nguồn tài liệu và giả thiết khoa học 9
1.1.1 Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài 11 1.1.2 Nghiên cứu của các tác giả trong nước 13 1.2 Phương pháp nghiên cứu và khung phân tích 18
1.3 Một số hướng tiếp cận lý thuyết nghiên cứu 21
1.4.2 Khái niệm liên quan đến các hình thức tái định cư 27
Trang 42.2 Từ rừng tự nhiên đến Vườn quốc gia Pù Mát 42 2.2.1 Quá trình hình thành Vườn quốc gia Pù Mát 42 2.2.2 Vị trí địa lý và ranh giới hành chính 44 2.2.3 Hiện trạng tài nguyên thiên nhiên 46
3.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới 50 3.1.1 Tổ chức ổn định và phát triển sản xuất, đời sống
cho nhân dân di chuyển ra khỏi vùng lòng hồ 50 3.1.2 Chính sách an dân, xây dựng cơ sở hạ tầng và phát
triển kinh tế vùng núi ở Đài Loan 51 3.1.3 Xây dựng mô hình sử dụng đất dốc bền vững,
nâng cao thu nhập, ổn định cuộc sống cho đồng
3.2 Quá trình hình thành dự án tái định cư ở Vườn quốc gia
3.2.2 Tình hình thực tế của địa phương 57 3.3 Quá trình chuẩn bị và thực hiện tái định cư 60 3.3.1 Quá trình chuẩn bị tái định cư 60 3.3.2 Quá trình thực hiện tái định cư 63
3.4.2 Những bất cập trong chính sách đền bù 73 3.4.3 Những bất cập trong phương án tái định cư 76
Trang 5CHƯƠNG 4: SỰ THAY ĐỔI PHƯƠNG THỨC MƯU SINH VÀ
4.1.2 Các hoạt động phi nông nghiệp 94
4.2.1 Đời sống cộng đồng làng bản 101
1 Các công trình đã công bố có liên quan đến luận văn 142
2 Danh sách những người cung cấp thông tin - tư liệu 143
Trang 6Khu bảo tồn thiên nhiên Khu bảo tồn
Lâm nghiệp xã hội và Bảo tồn thiên nhiên Nghệ An (viết tắt theo tiếng Anh)
Phương pháp đánh giá nông thôn có có người dân tham gia (viết tắt theo tiếng Anh)
Phát triền bền vững Ngân hàng Thế giới (viết tắt theo tiếng Anh) Nhà xuất bản
Tái định cư Trung học cơ sở Trung học phổ thông Tài nguyên thiên nhiên Trung ương
Uỷ ban nhân dân Vườn quốc gia
Trang 7Kết quả PRA về phân loại kinh tế các hộ gia đình
Đánh giá của người dân (PRA) về thuận lợi và khó khăn của phương án tái định cư và định cư tại chỗ
Sơ đồ 1.1: Khung phân tích đời sống người dân sau tái định cư
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, vấn đề môi trường ngày càng trở nên bức xúc trong đời sống của con người Cùng với sự gia tăng kinh tế ở các quốc gia, diện tích rừng tự nhiên trên thế giới ngày càng bị giảm mạnh, đặc biệt là diện tích các khu rừng nhiệt đới
Từ năm 1962, Việt Nam đã xây dựng một hệ thống các khu rừng đặc dụng nhằm bảo tồn tính đa dạng của các hệ sinh thái Mặc dầu vậy, các khu rừng này vẫn tiếp tục bị tàn phá Một trong các nguyên nhân chủ yếu là do những người dân sống trong và quanh các khu rừng, phần lớn là người dân tộc thiểu số, có đời sống kinh
tế khó khăn, thường xuyên khai thác các sản phẩm của rừng Thêm vào đó, là tập quán du canh du cư (DCDC) đốt nương làm rẫy
Để bảo vệ được tài nguyên rừng, ở một số VQG đang tiến hành thực hiện
di dân tái định cư (TĐC) để ổn định đời sống và phát triển sản xuất cho người dân như VQG Ba Bể có 450 hộ, VQG Mũi Cà Mau có 310 hộ, VQG Bù Gia Mập với 217 hộ và VQG Cát Tiên có 78 hộ…
VQG Pù Mát là khu rừng đặc dụng ở phía Tây tỉnh Nghệ An có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường ở Bắc Trung Bộ và Việt Nam Cũng như hàng loạt các KBT khác ở Việt Nam VQG Pù Mát đang gặp phải những vấn đề nan giải đe doạ đến sự tồn tại của nó Khu vực vùng đệm của VQG Pù Mát có một số lượng lớn dân cư sinh sống, chủ yếu là các dân tộc Kinh, Thái, Hmông… Đặc biệt trong vùng lõi có 169 hộ với 956 nhân khẩu (số liệu của UBND huyện Con Cuông, tháng 9/2001) người Đan Lai sống trong tình trạng vô cùng khó khăn Đời sống chủ yếu phụ thuộc vào việc khai thác các nguồn lợi của rừng [93, tr.2]
Trước tình hình đó năm 2001 Uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh Nghệ An đã
tiến hành lập dự án: “Thực hiện TĐC đồng bào dân tộc Đan Lai 3 bản Cò Phạt -
Trang 9khe Cồn - bản Búng xã Môn Sơn - huyện Con Cuông - tỉnh Nghệ An” di rời cộng
đồng người Đan Lai ra khỏi vùng lõi của VQG Đặc biệt, từ khi có Quyết định của của Thủ tướng Chính phủ số 280/2006 QĐ-TTg ngày 19/12/2006 phê duyệt
dự án: “Bảo tồn và PTBV tộc người thiểu số Đan Lai hiện đang sinh sống tại
vùng lõi VQG Pù Mát, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An” Theo kế hoạch, sẽ di
chuyển 146 hộ ra khỏi vùng lõi đến nơi ở mới và để lại 30 hộ Đến nay đã tổ chức được hai đợt với 78 hộ, 531 nhân khẩu ra ba bản TĐC tại Tân Sơn, Cửa Rào thuộc xã Môn Sơn và Thạch Sơn thuộc xã Thạch Ngàn, huyện Con Cuông
Người Đan Lai có mặt bằng dân trí thấp, đời sống vô cùng khó khăn, bao đời nay các hoạt động kinh tế chủ yếu dựa vào khai thác các nguồn lợi của rừng Chính điều đó đã đặt ra những thách thức thực sự trong việc tiến hành TĐC và đảm bảo đời sống cho đồng bào sau khi định cư tại địa bàn mới Việc thay đổi địa bàn cư trú chắc chắn sẽ tác động mạnh mẽ đến đời sống của cộng đồng
Mặc dù đã được các ban ngành, các cấp chính quyền quan tâm chỉ đạo và
hỗ trợ trong quá trình định cư tại nơi ở mới nhưng cuộc sống của đồng bào vẫn đang gặp rất nhiều khó khăn Thuộc vào dạng thức di dân không tự nguyện, thực
tế quá trình di dân và TĐC đã cho thấy nhiều vấn đề nảy sinh sau TĐC như: Thiếu nguồn nước để sinh hoạt và sản xuất; Đất sản xuất vừa thiếu vừa cằn cỗi; Thay đổi về phương thức sản xuất, không gian sinh tồn; Sự lệ thuộc vào ngân sách Nhà nước, vào dự án nước ngoài; Sốc do tiếp cận quá nhanh với các phương tiện sống hiện đại; Sự bất hợp lý trong chính sách đất đai; Xung đột lợi ích (cộng đồng và VQG, giữa các cộng đồng với nhau); Thay đổi tập quán sản xuất Trong khi đó, nhiều vấn đề về kinh tế, văn hoá, xã hội phức tạp đã xuất hiện như những thay đổi trong hoạt động nông nghiệp, quan hệ cộng đồng, quan hệ dòng họ, phong tục, tập quán, nếp sống, những va chạm trong quan hệ tộc người
Sự hỗ trợ trong chính sách di dân, chính sách phát triển kinh tế - xã hội và
Trang 10bảo tồn VQG mà bỏ qua vấn đề văn hóa, vấn đề đảm bảo sinh kế Mâu thuẫn giữa việc đầu tư quá nhiều vào các giải pháp hỗ trợ kinh tế nhằm xóa đói giảm nghèo (của chính quyền địa phương) theo quan điểm chủ quan của người lãnh đạo, mà không quan tâm tới nền tảng kiến thức, nền tảng văn hóa, tập quán sản xuất (gọi chung là vốn xã hội) của cộng đồng Hay việc mâu thuẫn của mục tiêu bảo tồn TNTN mang tính toàn cầu mà quên đi việc bảo vệ TNTN là vì con người, trong khi đó chính những người dân ở đây lại không được bảo vệ Vì mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học mà đẩy các cộng đồng này vào cảnh bần cùng trên chính mảnh đất ông cha họ để lại, mảnh đất mà tổ tiên họ ở và sinh sống từ trước khi hình thành KBTTN và VQG Những quan điểm tiếp cận trên đã không giải quyết được một cách bền vững mục tiêu bảo tồn, mục tiêu PTBV các cộng đồng dân tộc thiểu số, nên sự đầu tư kém phần hiệu quả đi
Xuất phát từ những nhận thức như trên, chúng tôi đã mạnh dạn lựa chọn
vấn đề: “Tái định cư và sự thay đổi đời sống của nhóm Đan Lai (Thổ) ở Vườn
quốc gia Pù Mát (Trường hợp người Đan Lai ở hai bản Tân Sơn và Cửa Rào,
xã Môn Sơn, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An)” làm đề tài luận văn của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ quá trình thực hiện di dân TĐC đã làm thay đổi đời sống của đồng bào Đan Lai ở hai bản Tân Sơn và Cửa Rào xã Môn Sơn, huyện Con Cuông Nghiên cứu tập trung vào ban mục tiêu cơ bản sau đây:
1 Khẳng định những nét cơ bản trong đời sống kinh tế, văn hoá và xã hội trước và sau khi thực hiện quá trình di dân TĐC của người Đan Lai trên địa bàn
xã Môn Sơn
2 Làm rõ sự thay đổi trong phương thức mưu sinh và đời sống văn hoá -
xã hội của nhóm Đan Lai trong quá trình TĐC
3 Chỉ ra những điều bất cập cần khắc phục nhằm ổn định và cải thiện đời sống cho đồng bào TĐC Đan Lai nói riêng và đồng bào TĐC nói chung, góp
Trang 11phần vào công tác bảo tồn và PTBV cộng đồng người Đan Lai cũng như bảo tồn TNTN ở VQG Pù Mát
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự thay đổi đời sống của các hộ dân người Đan Lai ở hai bản Tân Sơn và Cửa Rào xã Môn Sơn, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An sau khi thực hiện TĐC
Phạm vi của đề tài là nghiên cứu phương thức mưu sinh, đời sống văn hoá
- xã hội của người Đan Lai ở hai bản Tân Sơn và Cửa Rào xã Môn Sơn, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An từ trước khi thực hiên di dân TĐC (năm 2002) cho đến thời điểm hiện nay (tháng 6/2010)
4 Nguồn tài liệu và giả thiết khoa học
4.1 Nguồn tài liệu
Nguồn tài liệu chủ yếu được sử dụng trong luận văn là tài liệu điền dã được thu thập qua các đợt khảo sát tại địa bàn nghiên cứu
Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng các công trình nghiên cứu, các bài viết
về người Đan Lai, về vấn đề di dân TĐC, và bảo vệ TNTN trong các VQG của các học giả trong nước (bao gồm sách, báo, tạp chí, thông báo khoa học, báo cáo khoa học ) được lưu giữ tại các thư viện, UBND huyện Con Cuông, VQG Pù Mát Cũng như các số liệu thống kê, báo cáo tổng kết về kinh tế - văn hoá - xã hội của xã Môn Sơn và huyện Con Cuông trong những năm từ 2000 đến 2010
4.2 Giả thiết khoa học
1 Quá trình di dân TĐC của người Đan Lai thuộc vào dạng thức di dân TĐC không tự nguyện Vì vậy, quá trình đó sẽ có những tác động về nhiều mặt làm thay đổi đời sống của người dân
2 Với sự thay đổi về môi trường sống nên chắc chắn sẽ có tác động đến tập quán sản xuất và hoạt động kinh tế của người Đan Lai, vốn dựa nhiều vào các
Trang 123 Giữa địa bàn cũ và địa bàn mới có những khác biệt về đặc điểm tộc người, văn hoá và xã hội, nên nhiều khả năng đồng bào sẽ phải đối mặt với những biến đổi trong đời sống văn hoá xã hội, đặc biệt là các vấn đề trong quan
hệ cộng đồng, quan hệ dòng họ, phong tuc, tập quán, tín ngưỡng
4 Do liên quan đến nhiều vấn đề kinh tế, xã hội như thu hồi đất, phân chia đất, phân chia phạm vi khai thác rừng nên sẽ tác động đến đời sống của địa phương, địa bàn nhập cư Điều này sẽ làm nảy sinh một số vấn đề trong nhận thức của dân sở tại cũng như trong quan hệ giữa cư dân mới và cư dân cũ
5 Đóng góp của luận văn
- Là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống đầu tiên về di dân TĐC cho cộng đồng cư dân ở vùng lõi VQG Pù Mát
- Nêu lên những mặt tích cực cũng như những hạn chế và bất cập trong quá trình thực hiện di dân và TĐC Đề xuất các giải pháp nhằm góp phần cải thiện đời sống, ổn định sản xuất và sinh hoạt cho đồng bào ở những nơi TĐC
- Góp phần bổ xung tư liệu cho các nghiên cứu về di dân TĐC trong các dự
án phát triển ở Việt Nam, nhất là đối với các loại hình TĐC bắt buộc Các kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm một số vấn đề về lịch sử, văn hoá của người Đan Lai
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, nội dung chính của luận văn được cấu trúc thành 4 chương:
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Chương 2 Người Đan Lai và Vườn quốc gia Pù Mát ở Nghệ An
Chương 3: Quá trình thực hiện tái định cư
Chương 4: Sự thay đổi phương thức mưu sinh và đời sống văn hoá - xã hội
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
1.1.1 Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài
Nghiên cứu về các cộng đồng sống ven và trong các vùng sinh thái từ lâu
đã được các nhà nghiên cứu nước ngoài quan tâm tiến hành để đánh giá sự tác động của những cộng đồng này với nguồn TNTN hay nói một cách khác là nghiên cứu lối sống và ứng xử với môi trường sống của người dân bản địa
Các tác phẩm tiêu biểu là J.E Spencer với “Du canh ở Đông Nam Á” (1966), “Những người nông dân trong rừng: Phát triển kinh tế và nền nông
nghiệp vùng đất khó canh tác ở Bắc Thái Lan” của B Johnsin (1978), “Ai đang
ăn rừng?: dân số, tính hiện đại và nạn phá rừng ở Đông Nam Á” của Alberto
Gomes (1978), “Nông nghiệp và sử dụng tài nguyên trong một cộng đồng người
Kenya thuộc vùng rừng mưa miền xuôi” của See Chung Chin (1980), “Chúng tôi
ăn rừng…” của Georges Condominas (2008)
Ngoài ra, trong hệ thống công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài
về vấn đề di dân và TĐC, chúng tôi đặc biệt chú trọng đến các chuyên khảo sau:
Tham khảo kết luận của Uỷ ban Thế giới về Đập (2000) qua nghiên cứu
125 đập lớn tại 52 quốc gia cho thấy hàng triệu người dân sống ở hạ lưu các đập - phụ thuộc vào hoạt động lũ tự nhiên và thuỷ sản - gặp những tổn thất nghiêm trọng đến cuộc sống Số người di dời không được xác định rõ, nên không được đền bù hoặc đền bù thường không đủ Mức độ di dời càng lớn, cuộc sống của cộng đồng bị ảnh hưởng càng ít có khả năng được phục hồi Thiếu cam kết chính trị hoặc năng lực của các chính quyền ảnh hưởng bất lợi đến bảo tồn di sản văn hoá, các công trình khảo cổ của các cộng đồng địa phương và sự biến mất của động thực vật Dân tộc thiểu số và dân sở tại dễ bị tổn thương và các ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống văn hoá và tinh thần khi đối mặt với các mất mát do di
Trang 14thường xuyên phải chịu các chi phí xã hội nhiều hơn và thường bị phân biệt khi phân bổ nguồn lực Sự tham gia của những người bị ảnh hưởng trong đánh giá tác động xã hội và môi trường thường diễn ra sau, thậm chí thiếu hoặc bị giới hạn về phạm vi
Tham khảo về kết quả nghiên cứu ở 44 trường hợp khác của Scudder (chỉ
có 3 trong số 44 (khoảng 7%) là thành công) Do cán bộ thực thi thiếu năng lực (27 trường hợp); Thiếu vốn (22 trường hợp); Thiếu cam kết chính trị (quy hoạch thiếu đất, cơ sở hạ tầng không đầy đủ như dự kiến); Thiếu cơ hội phát triển (tập huấn, khuyến nông, tín dụng…); Số người TĐC dự kiến thấp hơn thực tế; Thiếu
sự tham gia của người TĐC vào quá trình quy hoạch; Mất đất (86% các trường hợp nghiên cứu); Mất cơ hội việc làm; Ảnh hưởng đến an ninh lương thực (79% trường hợp nghiên cứu phải đối mặt với vấn đề an ninh lương thực)
Hai chuyên khảo về vấn đề di dân và TĐC gồm: “Các phương pháp tiếp
cận nhân học về TĐC - Chính sách, thực tiễn và lý thuyết” và “TĐC, nguy cơ nghèo hoá các vấn đề sinh kế bền vững” (2002) của Christopher McDowell
(Khoa Nhân học, Đại học Macquarie, Sydney) Hai chuyên khảo này đã đề cập đến những vấn đề phương pháp luận liên quan đến TĐC, từ bản chất của TĐC, sự khác biệt giữa TĐC tự nguyện và không tự nguyện, đến mối quan hệ giữa TĐC với biến đổi kinh tế - xã hội của những cộng đồng di cư, với nguy cơ bần cùng hoá sau TĐC, đồng thời đưa ra những định hướng để xây dựng các hình thức sinh
kế bền vững sau TĐC [14, tr.8]
Luận văn Thạc sĩ của Cao Thị Thu Yên, bảo vệ tại Viện Công nghệ Hoàng
gia Thuỷ Điển năm 2003, với đề tài: “Hướng tới sự bền vững của các đập (thuỷ
điện) lớn của Việt Nam - Vấn đề TĐC và các dự án thuỷ điện” (tiếng Anh) Luận
văn đã đề cập đến những vấn đề căn bản trong quá trình TĐC liên quan đến các
dự án thuỷ điện, những thành công và hạn chế, cũng như những khác biệt giữa chính sách đưa ra với thực tiễn thực hiện Thông qua nghiên cứu quá trình TĐC
Trang 15của thuỷ điện Hoà Bình và thuỷ điện Yaly, luận văn đã đề cập đến những bất cập trong công tác TĐC của các dự án thuỷ điện của Việt Nam và tác động của các
dự án đến đời sống của những người thuộc diện TĐC [14, tr.9]
Luận văn của Ulrika Bladh và Eva - Lena Nilsson, cũng tại Viện Công
nghệ Hoàng gia Thuỷ Điển năm (2005), với đề tài: “Xây dựng kế hoạch TĐC
không tự nguyện như thế nào - trường hợp dự án thuỷ điện Sơn La ở Việt Nam”
(tiếng Anh) Thông qua luận văn đã cho thấy những tác động của quá trình TĐC ở công trình thuỷ điện Sơn La đối với những người dân thuộc diện phải di dời, thông qua hệ thống các nghiên cứu điểm trên địa bàn cả ba tỉnh Sơn La, Điện Biên và Lai Châu Đặc biệt, luận văn đã đi sâu xem xét vấn đề sở hữu đất đai, đền
bù, xây dựng cơ sở hạ tầng, xác định những đối tượng chịu ảnh hưởng của quá trình TĐC, đồng thời xem xét mức độ tham gia của họ trong quá trình xây dựng
và triển khai kế hoạch [14, tr.9]
Các báo cáo và nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) về quá trình TĐC phục vụ các dự án phát triển nói chung, kết hợp với các hướng dẫn của ADB và WB về di dân và TĐC như:
“TĐC không tự nguyện” và “Sổ tay về TĐC - hướng dẫn áp dụng vào thực tiễn”
(ADB) và “Sách hướng dẫn về TĐC không tự nguyện - việc hoạch định và thực
hiện các dự án phát triển” và “Chính sách hoạt động đối với vấn đề TĐC không
tự nguyện” (WB) [14, tr.9]
1.1.2 Nghiên cứu của các tác giả trong nước
Trong quá trình thu thập tư liệu, chúng tôi đã tiếp cận các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả về các vấn đề di dân, TĐC, bảo tồn và PTBV ở VQG
Các nghiên cứu về di dân TĐC và chính sách di dân tại Việt Nam đã được tiến hành từ những năm 90 của thế kỷ XX trở lại đây Cùng với tốc độ đầu tư và
Trang 16thành một vấn đề được nhiều nhà khoa học quan tâm Đặc biệt là sự tác động đến đời sống kinh tế - văn hoá - xã hội của cộng đồng TĐC, có thể kể đến những công trình sau:
Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Bá Thuỷ (2002) với đề tài: “Di dân tự do của
các dân tộc Tày, Nùng, Dao, Hmông từ Cao Bằng, Lạng Sơn vào Đăk Lăk giai đoạn 1986 - 2000” Luận án đã tập trung nghiên cứu thực trạng di dân tự do nói
chung và di dân tự do nói riêng từ địa bàn Cao Bằng, Lạng Sơn vào Đăk Lăk trong thời gian từ 1986 - 2000 Phân tích những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng
di dân nói trên Đánh giá tác động của quá trình di dân đối với đời sống tộc người đồng thời đưa ra các kiến nghị và giải pháp có giá trị ứng dụng cao trong công tác
di dân và TĐC Tuy nhiên, luận án mới chỉ đề cập tới hình thức di dân tự do mà chưa đề cập tới các hình thức di dân, TĐC khác
Năm 2005, đoàn nghiên cứu thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kĩ thuật
Việt Nam đã tiến hành dự án “Khảo sát nghiên cứu tiến độ và kết quả bước đầu
quá trình thực hiện TĐC, công trình thuỷ điện Sơn La” Được tiến hành ở 5
huyện Mường La, Thuận Châu, Quỳnh Nhai (Sơn La), Phong Thổ và Sìn Hồ (Lai Châu) Nhằm tìm hiểu diễn biến của quá trình thực hiện di dân TĐC, những tác động về kinh tế - xã hội, văn hoá, môi trường và sức khoẻ của cộng đồng di chuyển và cộng đồng sở tại Từ đó, nhận diện những tác động tích cực và rủi ro của quá trình TĐC; Tiếp tục tìm hiểu diễn biến tâm tư, nguyện vọng, quan hệ dân tộc của cộng đồng TĐC và cộng đồng sở tại; Thu thập các tư liệu cơ bản còn thiếu về sinh kế, phong tục tập quán của các dân tộc thiểu số tạo cơ sở dữ liệu cho phân tích, dự báo chương trình TĐC trong tương lai Dự án đã đưa ra những tham vấn nhằm góp ý kiến và giải pháp giảm thiểu nhằm cải thiện những vấn đề đang đặt ra của quá trình TĐC
Tuy nhiên, nghiên cứu có những hạn chế như về cơ bản chỉ phản ánh thực trạng vào thời điểm nghiên cứu, do số liệu điều tra, khảo sát theo cách cắt ngang,
Trang 17không tránh khỏi tình trạng thông tin phản ánh chưa đầy đủ (đặc biệt là về mảng
vệ sinh, y tế) Việc đánh giá về môi trường chưa kết hợp với kết quả phân tích mẫu đất, nước và không khí tại các điểm nghiên cứu Chủ yếu sử dụng số liệu quan sát, phỏng vấn và tài liệu sẵn có, bởi hạn chế về thời gian, kinh phí và ngôn ngữ giao tiếp của đối tượng khảo sát đã ảnh hưởng đến chất lượng thông tin bảng hỏi soạn sẵn
Đoàn Bổng và Nguyễn Đức Anh (2007) với đề tài: “Bước đầu đánh giá
chất lượng cuộc sống người dân TĐC của dự án hồ Tả Trạch (Thừa Thiên Huế)” Đề tài khảo sát, tìm hiểu công tác thực hiện TĐC và phục hồi sinh kế của
người dân theo kế hoạch của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế; Khảo sát chất lượng cuộc sống hiện tại của người dân sống ở các vùng TĐC thuộc dự án hồ Tả Trạch
và bước đầu đề xuất giải pháp và kiến nghị để hoàn thiện công tác di dân TĐC
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Xã hội học của tác giả Khúc Thị Thanh Vân bảo vệ tại Viện Xã hội học, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam với đề tài:
“Ảnh hưởng của chính sách TĐC đối với cuộc sống người dân sau TĐC: Nghiên cứu trường hợp thuỷ điện Bản Vẽ” (2008) Luận văn đã cho thấy ảnh hưởng của
chính sách TĐC có tác động tới khả năng hoà nhập cộng đồng hoặc giữ gìn bản sắc văn hoá của người dân Luận văn cũng đề xuất những khuyến nghị cho việc lập chính sách hoặc bổ khuyết các hoạt động trong quá trình thực hiện xây dựng phương án TĐC, chương trình khôi phục cuộc sống trong một dự án phát triển Tuy nhiên, luận văn chưa chỉ rõ được hết những ảnh hưởng cụ thể lên yếu tố sinh
kế của người dân TĐC mà chủ yếu đi sâu vào phân tích các chính sách TĐC
Trung tâm Dân số, Môi trường và Phát triển với dự án: “Sinh kế bền vững
cho đồng bào TĐC (thực hiện trên khu TĐC dự án thuỷ điện Bản Vẽ tại huyện Thanh Chương)” (2008) Dự án đã đạt được những mục tiêu như sử dụng đất dốc
có hiệu quả và bền vững, sử dụng đất vườn có hiệu quả, tạo thu nhập mà không
Trang 18an toàn sinh học Tuy nhiên, do nguồn kinh phí còn hạn hẹp nên dự án gặp nhiều khó khăn trong việc tạo ra những mô hình thật sự hiệu quả và tăng thu nhập cho
hộ gia đình
Nguyễn Văn Sen (2008) đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đời sống kinh tế
- xã hội tại nơi ở mới của người dân thuộc diện di dời trong quá trình xây dựng, phát triển các khu công nghiệp ở Bình Dương - Thực trạng và giải pháp” Đề tài
đã tập trung nghiên cứu quá trình phát triển các khu công nghiệp ở Bình Dương;
Cơ sở lý luận và những chính sách của Nhà nước về vấn đề giải toả, di dời, TĐC; Thực trạng đời sống của người dân TĐC trong quá trình xây dựng các khu công nghiệp Các khuyến nghị của đề tài đều hướng đến việc giải quyết những vấn đề nảy sinh mới trong việc thực hiện đền bù, giải toả, di dời ở những địa phương khác để đảm bảo sự hài hoà lợi ích của các bên tham gia như người dân, doanh nghiệp, Nhà nước
Nghiên cứu: “Đánh giá chất lượng cuộc sống và tiềm năng phát triển của
người dân TĐC vùng lòng hồ công trình thuỷ điện A Vương - Quảng Nam”
(2009) Đã tiến hành so sánh những điều kiện thực tế và quy định chế độ của chương trình TĐC của công trình để phát hiện và thông tin kịp thời đến đơn vị quản lý Nghiên cứu hiện trạng và dự báo về phát triển sinh kế của người dân tại khu TĐC, đưa ra những đánh giá nhanh về môi trường khu TĐC, phát hiện những bất cập trong môi trường sống của cộng đồng khu vực và từ đó đề ra một
số giải pháp đối với các vấn đề được xác định
Những bài viết về vấn đề di dân của Nguyễn Văn Chính như “Biến đổi
kinh tế - xã hội và vấn đề di chuyển lao động nông thôn - đô thị ở miền Bắc Việt Nam, Đông Nam Á và Nhật Bản” (1997), “Di dân nội địa ở Việt Nam: Các chiến
lược sinh tồn và những khuôn mẫu đang thay đổi” (2000) và phần trình bày của
Khổng Diễn về quá trình di dân cả nước cũng như di dân của các dân tộc qua hai
Trang 19kỳ Tổng điều tra dân số 1979 và 1989 trong công trình nghiên cứu “Dân số và
dân số học tộc người ở Việt Nam” (1995)
Trong khuôn khổ dự án: “Giám sát xu hướng phát triển miền núi phía Bắc
Việt Nam” do Trung tâm Tài nguyên và Môi trường (CRES), Đại học Quốc gia
Hà Nội (ĐHQG HN) thực hiện đã tiến hành nghiên cứu “Hiện trạng kinh tế - xã
hội và môi trường bản khe Nóng thuộc VQG Pù Mát, huyện Con Cuông, Nghệ An” (2000) Đây là địa bàn sinh sống của người Đan Lai trên địa bàn xã Châu
Sơn Qua nghiên cứu cho thấy những nét cơ bản về quá trình hình thành và phát triển của người Đan Lai Ngoài ra, nhóm nghiên cứu còn đề cập đến nhiều vấn đề liên quan đến đời sống như hệ sinh thái nông nghiệp, kinh tế hộ gia đình, quyền
sử dụng đất, tổ chức xã hội và quản lý tài nguyên Từ đó, nhóm nghiên cứu có những kết luận và đưa ra các khuyến nghị nhằm góp phần cải thiện và nâng cao đời sống cho đồng bào Đan Lai
Ngoài những công trình nghiên cứu, các bài viết và chuyên khảo thì báo chí là một nguồn tài liệu phong phú, đa dạng và có tính cập nhật cao, đã đề cập đến nhiều khía cạnh của quá trình di dân TĐC ở VQG Pù Mát nói riêng và Việt Nam hiện nay Từ vấn đề quy hoạch, những bất cập nảy sinh trong quá trình di dân và TĐC, sự khó khăn trong quá trình hoà nhập cuộc sống, những nỗ lực và
cố gắng của các cấp các ngành cũng như của người dân TĐC… Có thể điểm đến
một số bài viết tiêu biểu như: Di dân TĐC thuỷ điện Sơn La: Những khó khăn và
nỗ lực (Khánh Hưng, Báo điện tử Đài tiếng nói Việt Nam, 5/2006), Di dân TĐC thuỷ điện Sơn La - Hiện trạng và giải pháp (Tạp chí Hoạt động Khoa học - Bộ
Khoa học và Công nghệ, số 7/2007), Dự án TĐC: Chi hàng chục tỷ đồng để được
gì? (Phan Sáng, Báo Tiền Phong, 3/2006), Quê mới của người Đan Lai (Duy
Cường, Báo Sài Gòn giải phóng, 6/2006), Bảo tồn và phát triển tộc người thiểu
số Đan Lai (Thông tấn xã Việt Nam, 1/2006), Nhiều bất cập trong việc di dân
Trang 20người dân tộc Đan Lai (Đặng Nguyên Nghĩa, Việt Báo điện tử, 10/2007), Cuộc sống mới của đồng bào Đan Lai (Nguyễn Minh, Tiền Phong online, 9/2009), Thương lắm Đan Lai (Hương Mai, Báo Biên phòng, 11/2009), Sắc mới Đan Lai
(Minh Hạnh, Nghệ An Television, 8/2010), Người Đan Lai ở rừng Pù Mát (Lê
Anh Tuấn, Báo điện tử Nông thôn Ngày nay, 8/2010)… Nhìn chung, nguồn tư liệu báo chí, với khả năng phản ánh nhanh chóng, kịp thời và đa diện đã cung cấp những thông tin mang tính thời sự, chân thực và sống động về những vấn đề quan trọng xung quanh công tác TĐC, bảo tồn TNTN và đời sống văn hoá của cộng đồng người Đan Lai đã trở thành nguồn thông tin vô cùng quan trọng trong quá trình thực hiện luận văn này
1.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ KHUNG PHÂN TÍCH
1.2.1 Phương pháp nghiên cứu
Do phạm vi rộng và phức tạp của vấn đề, nên luận văn áp dụng phương pháp nghiên cứu điểm, tức là lựa chọn một bộ phận dân cư nhất định, trong phạm
vi không gian phù hợp để nghiên cứu Trong triển khai nghiên cứu luận văn, tác giả dùng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để nhìn nhận, phân tích đánh giá các vấn đề một cách khoa học và khách quan Đây cũng là cơ sở phương pháp luận để vận dụng các phương pháp cụ thể trong quá trình nghiên cứu đề tài Để hoàn thành được luận văn này chúng tôi đã sử dụng một số phương
pháp nghiên cứu cơ bản sau:
1.2.1.1 Chọn mẫu nghiên cứu
Trong nghiên cứu dân tộc học, nhân học, việc lựa chọn điểm và đối tượng nghiên cứu có ý nghĩa vô cùng quan trọng Trong quá trình tiến hành lựa chọn điểm và đối tượng nghiên cứu, chúng tôi đã dựa trên một số tiêu chí như sau:
* Chọn điểm nghiên cứu:
- Là nơi sinh sống lâu đời và tập trung của cộng đồng người Đan Lai
- Là nơi tiếp nhận dân TĐC từ VQG Pù Mát
Trang 21- Là nơi có tính đa dạng tộc người (nhằm nghiên cứu các vấn đề xã hội như quan hệ tộc người, mối quan hệ giữa dân TĐC với dân bản địa)
- Là nơi có dân TĐC đến ở đã lâu (năm 2002) Để thấy được sự tác động của chính sách TĐC; Sự thay đổi về mọi mặt trong đời sống của cộng đồng; Sự thích ứng và hoà nhập của cộng đồng trước không gian sinh tồn mới
* Đối tượng nghiên cứu:
- Về thành phần tộc người, là cộng đồng có những đặc trưng mang tính đặc thù cao trong đời sống văn hoá - xã hội gắn chặt với điều kiện tự nhiên (ĐKTN) của nơi cư trú (nhằm thấy được sự tác động của việc thay đổi môi trường sống)
- Về thành phần dân cư, có sự đa dạng về giới tính, lứa tuổi, tài sản, trình
độ học vấn (để thấy được mức độ tác động của việc TĐC đối với từng đối tượng khác nhau như thế nào)
1.2.1.2 Thu thập thông tin, số liệu
* Nguồn số liệu:
- Nguồn số liệu thứ cấp: các thông tin về ĐKTN, đặc điểm kinh tế - văn hoá và xã hội của huyện, của khu vực TĐC được thu thập qua báo cáo tổng kết định kỳ, các tài liệu trong các phòng ban chức năng của tỉnh, huyện, xã và VQG
Pù Mát
- Nguồn số liệu sơ cấp: các thông tin sơ cấp được thu thập trực tiếp trên thực địa qua phỏng vấn người dân, thảo luận nhóm…
* Phương pháp thu thập số liệu:
- Phương pháp PRA (Participatory Rural Appraisal): là phương pháp đánh
giá nông thôn có người dân tham gia Qua phương pháp này, người điều tra sẽ có được thông tin một cách nhanh chóng và chính xác nhất về tình hình đời sống vùng TĐC bởi đó là những ý kiến của chính những người dân sống trong khu vực TĐC Đây là phương pháp nghiên cứu bán cấu trúc nhưng tập trung và có hệ
Trang 22viên của các cộng đồng địa phương Đây là một kỹ thuật nghiên cứu được phát triển từ cuối những năm 70 đầu 80 trong thế kỷ XX bởi các nhà nghiên cứu phát triển quốc tế Bao gồm các phương pháp đó là:
Phỏng vấn những người chủ chốt: gồm những cán bộ chủ chốt cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã, cán bộ, chiến sĩ Đồn biên phòng 555 nhằm thu thập những thông tin về ĐKTN, kinh tế - văn hoá - xã hội và xung quanh vấn đề TĐC của khu vực nghiên cứu
Phỏng vấn những người dân chịu ảnh hưởng của quá trình di dân TĐC Thảo luận nhóm: tập trung tìm hiểu những ý kiến của cán bộ và người dân sau khi di chuyển đến nơi ở mới Chọn hộ thảo luận nhóm do trưởng bản tự chọn có điều kiện: hộ nghèo, hộ trung bình, hộ khá, có phụ nữ tham gia, có đại diện lãnh đạo xã, thôn, bản (người đi dự phỏng vấn không phải là người đến tham gia thảo luận)
Phương pháp quan sát trực tiếp (tham gia): với mục đích tiếp cận dễ dàng hơn với con người, phong tục tập quán cũng như điều kiện thực tế tại địa bàn nghiên cứu, việc triển khai quan sát trực tiếp là vô cùng quan trọng trong nghiên cứu dân tộc học, nhân học Từ đó có được những thông tin quan trọng, chính xác
về địa điểm và đối tượng nghiên cứu Qua đó giúp cho việc phỏng vấn thêm
chính xác và tiết kiệm được thời gian phỏng vấn
* Phương pháp kế thừa: kế thừa những kết quả nghiên cứu về VQG, di
dân, TĐC… đã được công bố ở các tài liệu Từ đó chọn lọc, vận dụng và tìm ra phương pháp phù hợp với nội dung và phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Phương pháp phân tích và xử lý thông tin: các thông tin thu thập trong
quá trình khảo sát trên thực địa được sẽ tiến hành phân loại, xử lý bằng các
phương pháp thống kê, hệ thống hoá, sơ đồ hoá
Trong các phương pháp trên, phương pháp được nhấn mạnh ở đây là phương pháp quan sát trực tiếp (tham gia) Chúng tôi, quan sát trực tiếp điều kiện
Trang 23địa lý tự nhiên, con người, đời sống kinh tế, hoạt động sinh hoạt của người dân…
Đồng thời đã tiến hành “ba cùng” với người dân để xây dựng lòng tin và mối
quan hệ gần gũi
1.2.2 Khung phân tích
Sơ đồ 1.1: Khung phân tích đời sống của người dân sau tái định cư
1.3 MỘT SỐ HƯỚNG TIẾP CẬN LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Các chủ chương của Đảng và Nhà nước về vấn đề di dân TĐC, bảo tồn và
PTBV cộng đồng người Đan Lai gắn liền với việc bảo tồn thiên nhiên VQG Pù
Mát, thể hiện qua các văn bản chỉ đạo và hướng dẫn thực hiện (quyết định, chỉ
thị, thông tư ) Đây là cơ sở pháp lý quan trọng, đóng vai trò định hướng cho
toàn bộ luận văn được đặc biệt chú trọng trong quá trình khảo sát, điều tra thực địa
Các nghiên cứu về di dân và chính sách di dân tại Việt Nam đã được tiến
hành từ những năm 90 của thế kỷ XX, khi di dân bị coi như là một vấn đề trở
ngại chứ không phải là một quy luật tất yếu xảy ra của sự phát triển xã hội Các
luồng di dân chịu tác động của các chính sách trực tiếp và gián tiếp của các chính
sách phát triển kinh tế - xã hội Thực tế cho thấy, các tác động của các chương
trình đô thị hóa, công nghiệp hóa nông thôn, phát triển nông nghiệp, xóa đói giảm
cơ sở hạ tầng, thu nhập,sinh
kế, phong
quán, tiếp cận dịch
vụ công
Đời sống kinh tế, văn hoá
và xã hội của người dân TĐC
Trang 24nghèo có những tác động sâu sắc và bền vững hơn đến các luồng di dân hơn là các chính sách trực tiếp
Từ những năm 90 của thế kỷ XX trở lại đây, cùng với tốc độ đầu tư và phát triển nhanh cơ sở hạ tầng, di dân TĐC trong các dự án phát triển đang trở thành một vấn đề được quan tâm Sau khi Luật đất đai năm 1993 có hiệu lực, các văn bản pháp quy liên quan đến việc bồi thường cho người dân khi Nhà nước thu hồi đất được ban hành và cùng với nó là các quy định của các nhà tài trợ về công tác TĐC
Di dân không tự nguyện và ép buộc là hoạt động không chỉ xảy ra trong quá trình thực hiện các dự án phát triển mà còn do tác động của thiên tai, chiến tranh, xung đột, lường gạt Tuy nhiên, trong luận văn này chỉ chú trọng đến hình thức di dân TĐC như một hệ quả của việc thực hiện các dự án phát triển
Lý thuyết hệ thống được đề xướng năm 1940 bởi Ludwig won Bertalanffy Lý thuyết này thường được đề cập đến trong các nghiên cứu về bảo vệ và phát triển, về con người và thiên nhiên Để vận dụng được lý thuyết này chúng tôi coi địa bàn
nghiên cứu như một “hệ thống sinh thái nhân văn” để phân tích các mối liên hệ giữa
các yếu tố thành phần trong toàn bộ hệ thống hơn là tập trung vào những thay đổi bên trong của từng yếu tố Lý thuyết hệ thống là một bộ phận của tư duy nhân loại, nó đang phát triển như một công cụ mới, mạnh mẽ để phân tích và nhận biết nhiều hiện tượng và xu hướng phát triển của nhiều sự kiện khác nhau Hệ thống là một tổ chức
có nhiều bộ phận, mà các bộ phận này luôn luôn liên hệ với nhau, tương tác với nhau
có tổ chức và cùng hoạt động theo những cách thức nhất định để sản sinh ra những kết quả nhất định Các nghiên cứu PTBV thường dựa trên cơ sở phân tích cấu trúc hệ thống Trừ vũ trụ ra thì tất cả các hệ thống tự nhiên đều là hệ thống mở Một đặc điểm
vô cùng quan trọng của các hệ thống mở trong tự nhiên là chúng có xu hướng tự điều chỉnh thông qua thông tin phản hồi để tiến tới cân bằng, làm cho các bộ phận trong hệ thống nằm trong mối tương tác hài hoà và ổn định Hệ thống sinh thái nhân văn là hệ
Trang 25thống mà ở đó có sự tương tác giữa hai phân hệ: hệ tự nhiên và hệ xã hội để phân tích các mối liên hệ giữa các yếu tố thành phần trong toàn bộ hệ thống Khi con người tác động vào thiên nhiên nếu biết vận dụng các quy luật của tự nhiên thì có thể phát triển một cách bền vững [82, tr.7]
Nghiên cứu di dân trên thế giới chỉ mới bắt đầu dưới thời kỳ phát triển tư bản chủ nghĩa ở phương Tây với sự hợp tác của nhiều ngành khoa học khác nhau (địa lý nhân văn, kinh tế, lịch sử, xã hội học, nhân học, thống kê, toán học )
Di dân được thúc đẩy bởi nhiều yếu tố mà trước hết trong lý thuyết di dân của E.G Ravestein (1885) Ông phát triển và thể hiện dưới các quy luật di dân có liên quan đến quy mô dân số, mật độ, khoảng cách di dân Điểm mạnh của lý thuyết này mang tính khái quát hoá những quy luật di dân Đây là lý thuyết mở đầu cho việc xây dựng các lý thuyết xã hội học về di dân [3, tr.45]
Lý thuyết “Hút - đẩy” về di dân của Everetts Lee (1966) đã phân ra 4 nhóm
nhân tố ảnh hưởng đến quá trình di chuyển, đó là các yếu tố cơ bản liên quan đến nơi
đi (nơi xuất phát), nơi đến (địa điểm/địa phương đến), các trở lực trung gian ngăn cản
sự di dân giữa nơi đi và nơi đến và vai trò của các yếu tố cá nhân mang tính đặc thù của người di cư Tuy nhiên, trong trường hợp di dân bắt buộc thì các yếu tố về kinh tế, mạng lưới xã hội hình thành giữa các cộng đồng nơi đi và nơi đến không còn giữ vai trò quan trọng như một động lực thúc đẩy quá trình di cư, quyết định di cư cũng như là hướng di chuyển Mặc dù trong chừng mực nào đó, động lực kinh tế và yếu tố xã hội vẫn có tác động đến người dân TĐC thông qua việc họ thường có mong muốn được TĐC gần, đến những nơi có ĐKTN gần gũi
và tương tự với điều kiện của nơi ở cũ [3, tr.46]
Lý thuyết về mối quan hệ giữa di dân và TĐC của Cernea, Michael M,
Guggenheim trong cuốn: “Anthropological Approaches to Resettlement - Policy,
Pratice, and Theory” (1993), kết hợp với lý thuyết về mối quan hệ qua lại giữa TĐC,
Trang 26nguy cơ nghèo hoá và các vấn đề sinh kế bền vững của Christopher McDowell (2002) [14, tr.13]
Các lý thuyết của WB và ADB về tổ chức TĐC, những nguyên tắc của quá trình TĐC, và những vấn đề thường nảy sinh trong quá trình TĐC do yêu cầu của các
dự án phát triển [14, tr.13]
Tuy nhiên, TĐC bắt buộc liên quan đến việc di dời cả một cộng đồng không phân biệt giới tính, độ tuổi, học vấn, thu nhập hay quy mô hộ gia đình, mặc dù đây là những yếu tố tuyển chọn quyết định mô hình di dân tự do Ngay cả khoảng cách di chuyển và địa bàn nơi chuyển đến, người di cư hầu như không có quyền lựa chọn như họ mong muốn Thậm chí, người dân không có sự lựa chọn
và quyết định dựa trên phong tục, tập quán, lối sống của mình Chính vì vậy trong nhiều trường hợp cộng đồng dân di chuyển phải đối mặt với những cú sốc
về văn hóa và tâm lý vốn không được chuẩn bị trước
TĐC bắt buộc là một quá trình mà Nhà nước dùng thẩm quyền, quyền lực chính trị của mình để thực hiện các hoạt động thu hồi đất, quy định đối tượng phải di dời và cùng với nó là thay đổi cả các mối quan hệ xã hội, phong tục tập quán lối sống, phương thức canh tác, sản xuất của người dân
Với những đặc trưng nói trên, công tác TĐC thường dẫn đến việc nảy sinh những mâu thuẫn và xung đột khác nhau, giữa những người phải TĐC với cộng đồng người sở tại; giữa chính quyền địa phương, chủ đầu tư và cộng đồng dân di chuyển; mâu thuẫn giữa văn bản chính sách và thực tế
1.4 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.4.1 Những khái niệm chung
Để thống nhất nội dung của một số thuật ngữ sử dụng trong luận văn, chúng tôi xin đưa ra một số khái niệm chính như sau:
* Phát triển bền vững( Sustainable Development ): Là sự phát triển có thể
đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những
Trang 27khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai Nói cách khác, PTBV phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội - môi trường1
[88, tr.7]
* Di dân (Migration): Là quá trình vận động cơ học của dân số, diễn ra không
ngừng trong quá trình phát triển của các dân tộc, các quốc gia trong lịch sử cũng như hiện tại Theo nghĩa rộng, di dân là sự chuyển dịch bất kỳ của con người trong một không gian, thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú tạm thời hay vĩnh viễn Theo nghĩa hẹp, di dân là sự di chuyển dân cư từ một đơn vị lãnh thổ đến một đơn vị lãnh thổ khác, nhằm thiết lập nơi cư trú mới trong một khoảng thời gian nhất định (có thể là tạm thời hay vĩnh viễn) Ngoài ra, một số quan điểm cho rằng di dân còn phải gắn liền với sự thay đổi các quan hệ xã hội, bao gồm cả các quan hệ cộng đồng, dòng họ, láng giềng cũng như các quan hệ về kinh tế, văn hoá [14, tr.13,14]
* Tái định cư (Resettlement): Là quá trình trong đó con người, tự nguyện hay
bị tác động, di chuyển từ địa bàn cư trú này sang địa bàn cư trú khác trong khoảng thời gian nhất định, có thể tạm thời hay vĩnh viễn TĐC là quá trình di chuyển và thay đổi cuộc sống của con người, không chỉ là quá trình di chuyển vật chất mà còn là quá trình cắt bỏ các quan hệ cũ và tạo lập các quan hệ mới TĐC tác động và làm thay đổi các mối quan hệ giữa mỗi người với môi trường và xã hội xung quanh, các mối quan
hệ chính như: Công ăn việc làm; Chỗ ở; Nơi học hành; Điều kiện đi lại và sự tiếp cận các dịch vụ; Quan hệ láng giềng Đặc biệt quá trình TĐC còn tác động và gây ra những biến đổi trong quan hệ cộng đồng, quan hệ dòng họ, quan hệ tộc người và liên quan đến nhiều vấn đề văn hoá xã hội như giáo dục, y tế, phong tục, tập quán [14, tr.14]
Trang 28* TĐC không tự nguyện (Involuntary resettlement): Thực tế cho thấy Việt
Nam chưa có khái niệm chính thức về TĐC không tự nguyện Tuy nhiên, có thể
tạm thời sử dụng khái niệm sau đây của ADB: “TĐC bắt buộc là một trong
những hậu quả của hoạt động thu hồi đất mà trong đó những người bị ảnh hưởng buộc phải di chuyển đến một nơi ở mới để xây dựng lại cuộc sống, thu nhập và các hoạt động sinh kế khác“ 2
* Đối tượng chịu ảnh hưởng: Theo định nghĩa của WB, đối tượng chịu ảnh
hưởng của TĐC là những người bị tác động của dự án dưới bất kỳ hình thức nào Họ
là những người sẽ mất một phần tài sản hoặc toàn bộ các tài sản vật chất hoặc phi vật chất của mình, bao gồm nhà cửa, cộng đồng, đất đai, rừng, bãi đánh cá, các di tích văn hoá, các cơ hội việc làm, các hoạt động văn hoá xã hội do sự thu hồi đất gây ra [14, tr.15]
* Xuất cư: Là việc di chuyển nơi cư trú từ nơi này sang nơi khác trong
khuôn khổ một quốc gia để sinh sống tạm thời hay vĩnh viễn, thời gian ngắn hoặc dài Đây là hiện tượng phổ biến ở nhiều quốc gia do tình trạng mức sống, thu nhập và lao động phân bố không đồng đều Các địa bàn xuất cư thường là những nơi có mức sống thấp, điều kiện kinh tế - xã hội và văn hoá chậm phát triển [3, tr.38]
* Nhập cư: Là sự di chuyển dân cư, lao động đến một nơi cư trú nhất định
có thể đến từ các địa bàn khác trong cùng một vùng hay lãnh thổ của một quốc gia [3, tr.38]
* Khu TĐC: Là một địa bàn thống nhất được quy hoạch xây dựng để bố trí
cho hộ TĐC gồm đất sản xuất, đất ở, đất chuyên dùng… Trong khu TĐC có ít nhất một điểm TĐC [56, tr.20]
* Vườn quốc gia (National park): Là một khu vực đất hay biển được bảo
tồn bằng các quy định pháp luật của chính quyền sở tại VQG được bảo vệ
2
Cẩm nang về TĐC - Hướng dẫn thực hành
Trang 29nghiêm ngặt khỏi sự khai thác, can thiệp bởi con người VQG thường được thành lập ở những khu vực có địa mạo độc đáo có giá trị khoa học hoặc những khu vực
có hệ sinh thái phong phú, có nhiều loài động - thực vật có nguy cơ tuyệt chủng cao cần được bảo vệ nghiêm ngặt trước sự khai thác của con người3
1.4.2 Khái niệm liên quan đến các hình thức tái định cư
Cho đến nay, việc di dân TĐC của các công trình phát triển kinh tế - xã hội nói chung được thực hiện theo bốn hình thức là: Di vén, di vén xen ghép, di dân tập trung và di dân tuỳ chọn (tự di chuyển)
1 Hình thức di vén: Là quá trình di dân tại chỗ, đôi khi mang tính tự phát
của người dân Hình thức TĐC này là trường hợp bố trí địa bàn TĐC thuận lợi về quy mô diện tích, nguồn nước sinh hoạt, đất sản xuất… Trường hợp này ít bị thay đổi về điểm ngụ cư và khoảng cách giữa nơi ở mới và nơi ở cũ là không xa Tuy nhiên, hình thức di dân này còn có những hạn chế là dân cư sống phân tán, khó đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng…
2 Hình thức di vén xen ghép: Là hình thức di dân ra sinh sống chung với
người dân địa phương trong xã hay khác xã Hình thức này tạo sự đoàn kết giữa người dân di cư và người dân sở tại Nhược điểm của phương pháp này là người dân sở tại phải chia sẻ một phần diện tích canh tác vốn đã hạn chế Mặt khác người dân di cư đến mặc nhiên được thừa hưởng các công trình phúc lợi xã hội như đường giao thông, trạm y tế, trường học và các cơ sở hạ tầng khác Trong khi
đó người dân sở tại chỉ được đền bù một phần đất mà chia sẻ cho người dân TĐC Sự chênh lệch về mức ưu đãi giữa hai nhóm người này nảy sinh mâu thuẫn giữa người cũ và người mới đến, nhất là họ không cùng dân tộc
3 Hình thức di dân tập trung: Là hình thức đưa một số lượng di dân bị ảnh
hưởng (từ 25 - 30 hộ) đến một nơi ở mới mà hầu như chưa có cơ sở hạ tầng và chưa có người dân sở tại sinh sống, hoặc nếu có thì cũng chiếm một tỷ lệ rất nhỏ
Trang 30Hình thức này có ưu điểm là hoàn toàn chủ động trong việc quy hoạch bố trí dân
cư phù hợp với quy mô, nguyện vọng của người dân và yêu cầu xây dựng khu kinh tế mới Nhưng hình thức này có khó khăn là phải đầu tư lớn cho công tác khảo sát ĐKTN, quỹ đất, nước… và đặc biệt là đầu tư cho cơ sở hạ tầng Một khó khăn nữa là định hướng phát triển kinh tế - xã hội hoàn toàn mới, về lựa chọn giống cây trồng, vật nuôi sao cho phù hợp với điều kiện tại đây
4 Hình thức di dân tuỳ chọn (tự di chuyển): Là hình thức mà các hộ phải
di chuyển được nhận toàn bộ tiền đền bù, sau đó họ phải tự lo kiếm nơi ở mới và các sinh kế cho mình Hình thức này ít được khuyến khích với cộng đồng người dân tộc vùng sâu, vùng xa do hiệu quả đạt được thấp
và PTBV đang là những vấn đề nóng trong thời gian gần đây Đặc biệt, là các nghiên cứu về di dân tự do, di dân TĐC ở các công trình thuỷ điện…
Có thể nói, đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện về người Đan Lai Đặc biệt là về vấn đề TĐC của đồng bào Đan Lai ở vùng lõi của VQG Pù Mát đã có những tác động mạnh mẽ làm thay đổi sâu sắc đời sống của đồng bào
Khi tiến hành nghiên cứu về vấn đề TĐC và sự thay đổi đời sống của cộng đồng người Đan Lai chúng tôi đã sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và
Trang 31duy vật lịch sử để nhìn nhận, phân tích đánh giá các vấn đề một cách khoa học và khách quan Đây cũng là phương pháp luận để vận dụng các phương pháp cụ thể trong quá trình nghiên cứu, như chọn mẫu nghiên cứu, thu thập thông tin, số liệu trong hệ thống phương pháp nghiên cứu chuyên ngành dân tộc học, nhân học và được quy chiếu trong một khung phân tích cơ bản
Chúng tôi sử dụng lý thuyết hệ thống để thấy được mối quan hệ chặt chẽ giữa con người và giới tự nhiên Khi con người tác động vào tự nhiên nếu biết thích ứng với các quy luật của tự nhiên thì có thể phát triển một cách bền vững Các lý thuyết về di dân TĐC được vận dụng nhằm làm sáng tỏ sự thay đổi đời sống của cộng đồng người Đan Lai ở VQG Pù Mát khi bị tác động bởi quá trình thực hiện
di dân TĐC bắt buộc trong dự án phát triển
Ngoài ra, chúng tôi còn đề cập đến những khái niệm cơ bản có liên quan đến vấn đề di dân TĐC và quan điểm TĐC để có sự thống nhất về các thuật ngữ
sử dụng trong luận văn và quan điểm nhất quán của Chính phủ về di dân TĐC có liên quan đến nội dung nghiên cứu của luận văn
Trang 32CHƯƠNG 2: NGƯỜI ĐAN LAI VÀ VƯỜN QUỐC GIA PÙ MÁT
Ở NGHỆ AN 2.1 NGƯỜI ĐAN LAI Ở NGHỆ AN
Trong bảng Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam4, người Đan Lai (Đan Lai - Ly Hà) là một nhóm địa phương thuộc dân tộc Thổ (gồm nhiều nhóm địa phương như Kẹo, Mọn, Cuối, Đan Lai, Ly Hà, Tày Poọng, Xá lá vàng) với số dân là 68.394 sinh sống rải rác trên địa bàn các huyện miền Tây của tỉnh Nghệ
An và Thanh Hoá
Trước cách mạng tháng Tám, ngoài nước ta người Đan Lai - Ly Hà còn có mặt ở Lào, cư trú ở các vùng thuộc tỉnh Khăm Muộn như Khăm Cượt, Kăm Pay… và thường xuyên có quan hệ họ hàng, đi lại với đồng tộc của họ ở nước ta
Ở nước ta, huyện Con Cuông là địa bàn sinh sống duy nhất của người Đan Lai - Ly Hà Năm 1978, tổng số người Đan Lai - Ly Hà là 1.146 người, phân bố
Trang 33Qua con số thống kê trên, so với những năm trước, ta thấy dân số Đan Lai
- Ly Hà tăng khá nhanh Tài liệu dân số năm 1960 của Trung ương về dân số Đan Lai - Ly Hà là 779 người thì nhịp độ tăng hàng năm vào khoảng xấp xỉ 2,8% Thực tế này trái ngược hẳn với xu thế thăng trầm và diệt vong về dân số của nhóm người này trong thời kỳ trước cách mạng [41, tr.11]
Đến năm 1989, theo số liệu thống kê tại huyện Con Cuông có 1.386 người Đan Lai Như vậy, so với thời kỳ trước những năm 1978, tỉ lệ phát triển dân số của người Đan Lai hàng năm là tương đối thấp, cộng với tập quán hôn nhân cận huyết thống càng làm cho người Đan Lai có xu hướng kém phát triển về mặt thể chất, trí tuệ và cả tuổi thọ Năm 2008, tổng số người Đan Lai có 3.054 người chiếm hơn 4,25% dân số toàn huyện Con Cuông, phân bố trên địa bàn 6 xã: Châu Khê, Môn Sơn, Lục Dạ, Lạng Khê, Yên Khê và Thạch Ngàn Trong đó, đông nhất là Châu Khê có 1.338 người, chiếm 43,8% và Môn Sơn có 1.057 người chiếm, 34,6% tổng số người Đan Lai toàn huyện [97, tr.4]
Hiện nay, trên địa bàn huyện Con Cuông người Đan Lai sống tập trung ở đầu nguồn khe Khặng (Môn Sơn), khe Nóng (Châu Khê), khe Mọi (Lục Dạ), có tập quán làm ăn, sinh sống chủ yếu dựa vào các hoạt động như nương rẫy, săn bắt
và hái lượm Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã quan tâm giúp đỡ đồng bào Đan Lai, đưa họ đến định cư ở những vùng đất mới với mong muốn tạo điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất, từng bước thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu
Theo số liệu thống kê của UBND xã Môn Sơn (tháng 3/2010) tổng số người Đan Lai sinh sống trên địa bàn năm thôn, bản (Trường Sơn, Tân Sơn, Cửa Rào, Cò Phạt, khe Búng) là 217 hộ với 1.075 khẩu
2.1.1 Một số vấn đề về lịch sử tộc người
Cho đến hiện nay, vấn đề nguồn gốc lịch sử người Đan Lai vẫn còn là một
đề tài gây nhiều tranh luận và chưa có sự thống nhất trong các nhà nghiên cứu khi
Trang 34Trong công trình nghiên cứu “Người Mường ở Cửa Rào” được hoàn thành
vào năm 1934 của Albert Louppe Các học giả như Vương Hoàng Tuyên trong
“Các dân tộc nguồn gốc Nam Á ở miền Bắc Việt Nam”, 1963, (tr.63); Mạc
Đường trong “Các dân tộc miền núi Bắc Trung Bộ”, 1964, (tr.20) có nhắc đến người Đan Lai - Ly Hà và “Tày Poọng”; Ban miền Tây khu IV và trong cuốn:
“Các dân tộc thiểu số ở Viêt Nam”, 1959 (tr.245) của Lã Văn Lô và cộng sự đều
Trong bài viết “Vài nét về ba nhóm Đan Lai, Ly Hà, “Tày Poọng”” của Đặng
Nghiêm Vạn và một số nhà nghiên cứu khác như Bùi Minh Đạo, Ninh Viết Giao, Trần Vương, Trần Bình… hầu như đều có quan điểm cho rằng người Đan Lai (Đan Lai - Ly Hà) có nguồn gốc từ vùng đồng bằng di cư lên chứ không phải là
cư dân tại chỗ
Trong quá trình điền dã, chúng tôi phỏng vấn nhiều già làng, trưởng bản về nguồn gốc người Đan Lai và tiếp cận được những tài liệu ghi chép về nhóm
người này là “Nghệ An kí”, “Thanh chương huyện chí” của Bùi Dương Lịch5
vóc dáng, không khác mấy so với mọi người dân ta Chỉ có tiếng nói ngắn, nặng
Họ ở không yên một nơi Mỗi cụm khoảng hơn mười người, quây tổ trú ngụ Thường trèo lên núi cao thu hái Vũ dư hương 7
và đốn gỗ kết bè đưa về xuôi bán hoặc đổi gạo, muối rồi về ngay, không ở lại lâu Bởi họ, ở nơi bình địa chân lảo đảo như muốn ngã Do bẩm thụ nhiều khí sơn lâm, nhiều người thọ trên 100 tuổi
Theo sách “Bản thảo”: Thời vua Vũ Trị thuỷ (Hạ Vũ, thời cổ đại Trung Quốc, tương ứng với thời các vua
Hùng) gặp lúc lương thực khan hiếm, đã dùng loại hạt này thay thế, nhân đó có tên Loại sản vật đặc biệt này có nhiều ở vùng rừng núi thượng du Thanh Chương Thuyền khách phương bắc tới đặt tiền trước mua, đầy thuyền đưa về bắc, cùng Quế Quỳ, Kỳ Hương (trầm) là những sản vật người phương Bắc ưa chuộng (từ lâu, loại cây này
đã không còn trên đất Thanh Chương) (Sdd, tr.44)
Trang 35Người ở đây chỉ biết đến năm mà không chú ý tới tháng - Họ là dân chỉ ở tổ, không lo việc làm nhà”
Bùi Văn Chất (người dịch “Thanh Chương huyện chí” của Bùi Dương Lịch) cho rằng Đan Lai - Ly Hà tụ lại ven sông Đan Lai và các cụ cao tuổi cho
biết, người Đan Lai từ lâu đã theo sườn núi lên đầu nguồn sông Giăng cư ngụ tại bản Đan Lai, Con Cuông
Cho đến nay, theo hiểu biết của chúng tôi thì Bùi Dương Lịch là người đầu tiên có những miêu tả về người Đan Lai - Ly Hà ở Thanh Chương Như vậy, có thể khẳng định chắc chắn xưa kia người Đan Lai - Ly Hà từng sinh sống trên địa bàn huyện Thanh Chương
Hơn nữa, các địa danh như Thanh La, Hoa Quân, sông Trai, sông Đan Lai… trong các truyền thuyết kể về nguồn gốc người Đan Lai đã được nhắc đến rải rác trong sách của Bùi Dương Lịch và Nguyễn Điển tiêu biểu như trong:
“Thanh Chương huyện chí”, của Bùi Dương Lịch, trang 38 chép: “Sông Trai - Đan Lai giang: Phát nguyên từ xứ núi cao, rừng rậm một thác nước từ trên ghềnh chảy xuống rõ ràng một dải, tục gọi là khe Lau Trắng Đến sông Đan Lai dòng đã lớn hơn, qua Chi Quân (Hoà Quân) Thanh La,… Sông nhiều cá chày cá mát Dân ở đây, vào mùa hạ, mang cơm lên tận đầu nguồn, dùng lá chè đập dập cho xuống khe, cá mệt lử, một mẻ đánh hết Kèm lá rau rừng, giã làm gỏi ăn, mát
Trang 36Các xã Thanh La, Hòa Quân đều nằm ven bờ sông Đan Lai (sông Trai) và sông Giăng8 Hai con sông này đều là nhánh đổ vào sông Lam Các địa danh này được những người buộc phải rời bỏ quê hương lấy để đặt tên cho mình nhằm ghi nhớ về quê hương, nguồn cội Tên nhóm người Đan Lai có thể được lấy từ tên con sông nơi cộng đồng cư trú trước khi di cư là sông Đan Lai Hiện nay, hầu hết người Đan Lai đều mang họ La, phải chăng những tên họ đó có nguồn gốc từ vùng đất cư trú khi xưa là Thanh La Hiện tượng lấy địa danh cư trú cũ làm tộc danh vốn là hiện tượng khá phổ biến ở nhiều dân tộc Vấn đề này đã được đề cập
và trình bày thành lý luận trong bài viết “Bàn về tên gọi các dân tộc ở miền Bắc
nước ta” của Đặng Nghiêm Vạn [104, tr.98-135]
Trên dòng sông Đan Lai có món cá mát rất ngon, được người dân địa phương ưa thích Đây là món cá nổi tiếng ở vùng thượng nguồn sông Giăng hiện nay và gắn bó mật thiết trong đời sống sinh hoạt của cộng đồng người Đan Lai vùng khe Khặng Cá mát không chỉ là nguồn thực phẩm quan trọng mà còn là lễ vật không thể thiếu trong các dịp cưới xin, ma chay và các nghi lễ khác9
Qua các nguồn tài liệu và điền dã chúng tôi đồng ý với các học giả đi trước khi nhận định người Đan Lai hiện nay ở Con Cuông do ách áp bức, bóc lột nặng nề hoặc do các biến động lịch sử, xã hội đã phải bỏ quê hương di cư từ vùng trung du miền núi Thanh Chương lên
Như vậy, nếu người Đan Lai có gốc ở Thanh Chương thì họ đã bỏ quê hương để di cư từ bao giờ? Đó có lẽ là điểm khó xác định nhất trong việc tìm hiểu về nguồn gốc lịch sử người Đan Lai Theo truyền thuyết của người Đan Lai
và tác giả Mạc Đường là thời Minh thuộc, tức đầu thế kỷ XV [Sdd, tr.33] Vương Hoàng Tuyên thì khẳng định thời điểm di cư ít ra phải trên 400 năm [Sdd, tr.37]
Trang 37Bùi Minh Đạo lại cho rằng, muộn lắm thì đến đầu thế kỷ XV quá trình bỏ đồng bằng chạy lên miền rừng núi của người Đan Lai - Ly Hà đã phải xảy ra, quá trình
đó còn có thể diễn ra sớm hơn như thế nữa [Sdd, tr.20] Trần Bình lại cho rằng, thời điểm cộng đồng Đan Lai bắt đầu có cuộc chuyển cư đầu tiên rời quê hương
cổ, cách ngày nay khoảng 5 - 6 đời, tức vào khoảng cuối thế kỷ XVII, hoặc đầu XVIII [Sdd, tr.4]
Sinh thời Bùi Dương Lịch biên soạn khá nhiều sách về Nghệ An như
“Nghệ An phong thổ ký”, “Nghệ An chí”, “Nghệ An ký”, “Thanh Chương huyện chí”… Ngay từ thời làm tham chính ở Sơn Nam10, Bùi Dương Lịch đã tới Hoan Châu11 và có ý định sưu tập tư liệu, lập địa chí các huyện nhưng công việc chưa hoàn thành Phải tới khoảng 20 năm sau, khi làm Đốc học12
Nghệ An ông mới có điều kiện sưu tầm và tổ chức biên soạn huyện chí Thanh Chương [66, tr.7]
Như vậy, quá trình tập hợp tư liệu của Bùi Dương Lịch có thể được bắt đầu từ khoảng cuối thế kỷ XVIII và các cuốn sách được viết vào những năm đầu thế kỷ XIX (1806 - 1812, lúc làm Đốc học Nghệ An) Trong các cuốn sách ông
biên soạn hồi bấy giờ thì cuốn: “Thanh Chương huyện chí” có đoạn miêu tả về
người Đan Lai - Ly Hà sinh sống ở vùng miền núi huyện Thanh Chương Căn cứ vào khoảng thời gian tập hợp tư liệu để biên soạn cuốn sách và bộ phận cư dân được Bùi Dương Lịch miêu tả là tổ tiên của người Đan Lai hiện nay đang sinh sống ở huyện Con Cuông thì quá trình họ rời bỏ quê hương Thanh Chương diễn
ra chưa lâu Có thể vào khoảng nữa cuối thế kỷ XVIII, hoặc đầu XIX
Đây là khoảng thời gian vùng miền Tây Nghệ An xảy ra nhiều biến động lịch sử, xã hội làm xáo trộn thành phần dân cư trong vùng Qua gia phả của nhiều dòng họ người Thổ ở Tân Kỳ, Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Con Cuông ghi chép khá rõ
10
Một địa danh cũ có từ thời Hậu Lê Xứ Sơn Nam gồm phần đất của các tỉnh phía nam đồng bằng Bắc bộ như Hưng Yên, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình
Trang 38về phạm vi hoạt động và ảnh hưởng trực tiếp của nghĩa quân Lê Duy Mật đối với
sự phân bố dân cư trong vùng Cuộc khởi nghĩa Lê Duy Mật kéo dài trên 32 năm (1738-1770) đã hoạt động khắp vùng miền Tây Nghệ An
Qua nguồn tài liệu của sử gia triều Nguyễn cho biết: “Năm 1819 dân Nghệ
An phiêu tán mất 20.000 người Chỉ trong hai năm (1817 - 1819) vì dân “tránh chỗ nặng đến chỗ nhẹ” (thuế khoá - N.Đ.L) Sách “Đại Nam thực lục chính biên” chép “Năm 1820, các huyện Đông Thành, Quỳnh Lưu, Thanh Chương (thuộc Nghệ An) phiêu tán mất 7 thôn, 191 người, bỏ hoang 140 mẫu ruộng Cả hạt phiêu tán mất 63 xã thôn” Năm 1834 “Nghệ An mất 22 xã thôn” [68, tr.38]
Như vậy, qua quá trình tìm hiểu, nghiên cứu chúng tôi mạnh dạn đưa ra một vài nhận định ban đầu để góp phần làm rõ nguồn gốc lịch sử người Đan Lai
Người Đan Lai hiện nay có nhiều điểm tương đồng về ngôn ngữ, văn hóa với các nhóm địa phương khác trong dân tộc Thổ… Đặc biệt là vốn từ của các nhóm: Cuối ở Tân Kì, Nghĩa Đàn có ngôn ngữ chung với Đan Lai khoảng 71%; nhóm Họ ở Tân Kì và nhóm Thổ Như Xuân (Thanh Hóa) có lượng từ chung với người Đan Lai 68%; nhóm Kẹo ở Nghĩa Đàn có lượng từ chung với Đan Lai khoảng 64%; nhóm Mọn ở Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp chung từ với Đan Lai 59%
Theo ý kiến của các nhà nghiên cứu như Phạm Đức Dương, Nguyễn Văn Lợi thì người Đan Lai còn cư trú ở tỉnh Kăm Muộn và Bôli Khămxay của nước CHDCND Lào Trong quá trình sinh sống, người Đan Lai đã thiên di đến vùng biên giới của nước Lào Những nghiên cứu cho thấy người Đan Lai và người ở Kăm Muộn, Bôli Khămxay cũng có một số điểm tương đồng nhau về kinh tế và văn hóa, đặc biệt là ngôn ngữ có đến hơn 60% vốn từ chung [4, tr.10]
Khi cần thể hiện danh tính của tộc người có lúc họ gọi là Đan Lai, cũng có lúc là Đan Lai - Ly Hà Hai nhóm Đan Lai và Ly Hà do hoàn cảnh lịch sử tác động nên cùng sống chung trên một địa bàn với nhau Trong quá trình sinh sống, người Ly Hà đã bị ảnh hưởng phong tục tập quán, lối sống, lối sinh hoạt của
Trang 39người Đan Lai, dần dần người Ly Hà đã bị Đan Lai hóa Do vậy, người Ly Hà gốc ngày một ít đi, và đến mức khó có thể phân biệt được ai là người Đan Lai, ai
là người Ly Hà Đến nay, người Ly Hà cũng chấp nhận tên gọi Đan Lai hay Đan Lai - Ly Hà Do vậy, trong các văn bản hành chính hay trong cách xưng hô hàng ngày người ta thường dùng tên gọi Đan Lai hay Đan Lai - Ly Hà Tuy nhiên, đến nay tên gọi Đan Lai được dùng phổ biến
2.1.2 Người Đan Lai ở Pù Mát (vùng khe Khặng)
Vùng thượng nguồn khe Khặng được coi là vùng đất tổ của người Đan Lai Trước khi thực hiện TĐC, dân số tại khe Khặng chiếm số lượng lớn nhất với 163
hộ, 894 nhân khẩu phân bố tại ba bản Cò Phạt, khe Cồn và bản Búng Ngoài
nương rẫy, hoạt động kinh tế với phương thức cơ bản là “chặt - bắt - đổi” 13, phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, vào nguồn thức ăn rừng nên họ sống theo hình thức DCDC, nay đây mai đó Khi nguồn thức ăn nơi định cư đã cạn kiệt, họ lại rời đến một nơi mới để tìm kiếm thức ăn Quá trình di chuyển nhiều lần đã làm cho cuộc sống có nhiều biến động về địa bàn sinh sống và dân số…
Quá trình di cư của người Đan Lai gắn với những con suối, con khe lớn như Khe Khặng, khe Choăng, khe Mọi, khe Thơi, trong đó khe Khặng (thượng
nguồn sông Giăng) được coi là nơi “chôn rau cắt rốn” với nhiều truyền thuyết kể
về cuộc đời và những cuộc chiến đấu chống lại sự khắc nghiệt của tự nhiên, bệnh tật để duy trì sự sống
Những năm 50 của thế kỷ XX, người Đan Lai ở khe Khặng có mặt ở 12 ngọn suối, mỗi nơi từ 4 - 10 hộ Năm 1958, theo sự vận động của chính quyền địa phương họ tụ về ba bản: Vàng Hù, Cò Phạt và Cò Nghịu và sau đó thành lập hai hợp tác xã là Cò Phạt và Cò Nghịu (cũng có nghĩa là hai bản) Giai đoạn này, người Đan Lai ở Cò Phạt cùng nhau đắp đập, khơi mương, san đất và làm ruộng
13
Chặt - chặt cây để canh tác nương rẫy, khai thác gỗ, nứa…; Bắt - săn bắt các loại động vật trong rừng, cá dưới
Trang 40Ở bản Cò Nghịu người dân bắt đầu học người Thái làm guồng đưa nước vào ruộng Cây sắn cũng được đưa vào sản xuất đã giúp đồng bào có thêm sự lựa chọn cho nguồn lương thực, góp phần vượt qua nạn đói hàng năm Không những thế đồng bào còn khoanh rừng chăn nuôi trâu, bò và đã có những đàn trâu hàng chục con
Đến những năm 70, gỗ bắt đầu có giá, Lâm trường Con Cuông trở thành một điển hình về khai thác lâm sản Ở mỗi bản, lao động chính được biên chế vào các đội khai thác, với sự trợ giúp của lao động phụ trong gia đình, đã làm cho cuộc sống khấm khá hơn Lúc này người dân mới biết đến nhiều loại hàng hóa nhu yếu phẩm như đường, mỳ chính, vải dệt may… mang lại từ khai thác gỗ
Trong những năm 1987 - 1989, cùng với quá trình đổi mới quản lý trong nông nghiệp, hợp tác xã mất vai trò lãnh đạo tập trung về kinh tế, các hộ được trao quyền tự chủ, tự quyết định về việc phát triển kinh tế hộ gia đình Một hai năm đầu được tự do khai phá nương rẫy, đời sống của người dân có khá lên, song
về sau, nguồn tài nguyên gỗ cạn dần nên đời sống đã khó khăn hơn Dân số tăng nhanh từ 61 hộ năm 1960 lên 86 hộ năm 1987 và 153 hộ năm 1997, quy mô mỗi
hộ vẫn giữ mức trung bình 5,4 người/hộ Diện tích trồng lúa nước không mở rộng thêm, các công trình thủy lợi xuống cấp và hư hỏng, đập Cò Phạt mùa khô cạn nước, guồng nước ở bản Búng hư hỏng mất tác dụng… tình trạng đó khiến cho diện tích canh tác nương rẫy quanh bản bắt đầu khó khăn, một số hộ ở Cò Phạt đã phải vào các chỉ lưu của khe Khặng để làm rẫy
Từ năm 1995, KBTTN Pù Mát được thành lập Chế độ quản lý và bảo vệ lâm sản trở nên nghiêm ngặt, các đội khai thác trước đây bị giải tán, việc khai thác gỗ tự do bị cấm hoàn toàn, diện tích nương rẫy bị giới hạn và không được lựa chọn, đã làm cho cuộc sống của người dân đã khó khăn lại càng khó khăn hơn Phổ biến trong đời sống là tình trạng thiếu đói triền miên Đặc biệt, trong các năm từ 1996 - 1999 là những năm hạn hán nặng nề, mùa màng thất bát Cộng