1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhận thức, nhu cầu và các yếu tố tác động đến lựa chọn trường Cao đẳng - Đại học của học sinh THPT hiện nay (Nghiên cứu trường hợp tại trường THPT Việt Yên I

113 1,1K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ---o0o--- DƯƠNG NGỌC MAI NHẬN THỨC, NHU CẦU VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN LỰA CHỌN TRƯỜNG CAO ĐẲNG – ĐẠI HỌC CỦA HỌC SIN

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-o0o -

DƯƠNG NGỌC MAI

NHẬN THỨC, NHU CẦU VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN LỰA CHỌN TRƯỜNG CAO ĐẲNG – ĐẠI HỌC CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HIỆN NAY

(Nghiên cứu trường hợp tại trường trung học phổ thông

Việt Yên 1- Bắc Giang)

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành : Xã hội học

HàNội - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-o0o -

DƯƠNG NGỌC MAI

NHẬN THỨC, NHU CẦU VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN LỰA CHỌN TRƯỜNG CAO ĐẲNG – ĐẠI HỌC CỦA HỌC

SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HIỆN NAY

(Nghiên cứu trường hợp tại trường trung học phổ thông

Việt Yên 1- Bắc Giang)

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành : Xã hội học

Mã số : 60 31 30

Người hướng dẫn khoa học :PGS.TS Nguyễn Thị Thu Hà

HàNội - 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận văn thạc sĩ của tôi được hoàn thành, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi

đã được sự giúp đỡ rất nhiều của các thầy cô, các bạn sinh viên và gia đình

Nhân dịp này, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới:

Các thầy cô giáo Khoa Xã hội học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐH Quốc gia Hà Nội đã truyền đạt cho tôi có những tri thức để thực hiện đề tài này

PGS.TS Nguyễn Thị Thu Hà là người trực tiếp hướng dẫn tôi ngay từ lúc ban đầu cũng như trong suốt quá trình thu thập thông tin và hoàn thiện báo cáo nghiên cứu này

Gia đình và bạn bè cùng lớp cao học Xã hội học khoá 2010-2013 đã có nhiều động viên, góp ý chân thành cũng như những thông tin quý giá trong quá trình học tập và thực hiện đề tài

Ban giám hiệu, cùng các thầy cô giáo, phụ huynh, các em học sinh khối lớp

12 trường THPT Việt Yên 1 – Bắc Giang đã nhiệt tình phối hợp và giúp tôi trong quá trình thu thập thông tin tại trường để nghiên cứu thu được kết quả tốt

Người thực hiện Học viên

Dương Ngọc Mai

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 6

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 7

4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 15

5 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 16

6 Câu hỏi nghiên cứu 16

7 Giả thuyết nghiên cứu 16

8 Phương pháp nghiên cứu 17

9 Khung lý thuyết 19

NỘI DUNG CHÍNH 20

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 20

1.1 Các khái niệm công cụ 20

1.1.1 Khái niệm nhận thức 20

1.1.2 Khái niệm nhu cầu 20

1.1.3 Khái niệm lựa chọn 21

1.1.4 Khái niệm định hướng 22

1.1.5 Khái niệm nghề nghiệp 22

2.1 Một số lý thuyết xã hội học áp dụng trong nghiên cứu cho đề tài 23

2.1.1 Lý thuyết lựa chọn hợp lý 23

2.1.2 Lý thuyết hành động xã hội 24

2.1.3 Lý thuyết xã hội hoá 25

1.3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 28

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NHẬN THỨC, NHU CẦU TRONG VIỆC LỰA CHỌN TRƯỜNG CAO ĐẲNG - ĐẠI HỌC CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 30

2.1 Nhận thức của học sinh trung học phổ thông về vấn đề lựa chọn trường cao đẳng, đại học 30

Trang 5

2.1.1 Nhận thức của học sinh về sự cần thiết xác định trường dự thi cao đẳng,

đại học 30

2.1.2 Thời điểm học sinh suy nghĩ về việc lựa chọn trường cao đẳng, đại học 32 2.1.3 Tự đánh giá về cơ hội, khả năng thi đỗ cao đẳng, đại học của học sinh trung học phổ thông 34

2.2 Thực trạng lựa chọn trường thi cao đẳng, đại học của học sinh trung học phổ thông 39

2.2.1 Các dự định chính của học sinh sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông 39 2.2.2 Dự định lựa chọn nhóm trường cao đẳng, đại học của học sinh sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông 41

2.3 Một số nhu cầu chính của học sinh trung học phổ thông trong việc lựa chọn trường thi cao đẳng, đại học 44

2.3.1 Nhu cầu luyện thi cao đẳng, đại học của học sinh trung học phổ thông 44

2.3.2 Nhu cầu tìm hiểu thông tin thi cao đẳng, đại học của học sinh trung học phổ thông 46

2.3.3 Nhu cầu về các hoạt động hướng nghiệp và cung cấp thông tin phục vụ mục đích lựa chọn trường thi cao đẳng, đại học của học sinh trung học phổ thông 48

CHƯƠNG 3 CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TRONG VIỆC LỰA CHỌN TRƯỜNG CAO ĐẲNG - ĐẠI HỌC CỦA HỌC SINH THPT HIỆN NAY 51

3.1 Nhân tố chủ quan 51

3.1.1 Những lý do lựa chọn trường thi cao đẳng, đại học của học sinh 51

3.1.2 Khác biệt giới trong lựa chọn nhóm trường cao đẳng, đại học 56

3.1.3 Khác biệt về lực học trong lựa chọn nhóm trường cao đẳng, đại học của học sinh trung học phổ thông 60

3.2 Nhân tố khách quan 63

3.2.1 Ảnh hưởng của gia đình đến lựa chọn trường cao đẳng, đại học của học sinh trung học phổ thông 63

3.2.2 Ảnh hưởng của bạn bè tác động đến lựa chọn trường cao đẳng, đại học của học sinh trung học phổ thông 69

3.2.3 Ảnh hưởng của hướng nghiệp trong nhà trường đến lựa chọn trường cao đẳng, đại học của học sinh trung học phổ thông 71

Trang 6

3.2.4 Ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đến lựa chọn trường cao đẳng, đại học của học sinh trung học phổ thông 75 3.2.5 Ảnh hưởng đặc điểm của trường cao đẳng, đại học 77 3.2.6 Đánh giá của học sinh trung học phổ thông về các “kênh” tác động đến lựa chọn trường cao đẳng, đại học 79

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 83 TÀI LIỆU THAM KHẢO 89 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CĐ Cao đẳng CNTT Công nghệ thông tin

ĐH Đại học GD&ĐT Giáo dục và đào tạo GDHN Giáo dục hướng nghiệp

HS Học sinh KHXH Khoa học xã hội LĐPT Lao động phổ thông

TCCN Trung cấp chuyên nghiệp THCS Trung học cơ sở

THPT Trung học phổ thông

Trang 8

DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU

Bảng 1: Phân bố mẫu nghiên cứu theo giới tính, kết quả học tập của học sinh, nghề nghiệp của cha mẹ và kinh tế gia đình 18 Bảng 2.1 : Dự định của học sinh sau khi tốt nghiệp THPT 39 Bảng 2.2 : Các nguồn tìm kiếm thông tin về thi CĐ - ĐH của học sinh 46 Bảng 3.1: Đánh giá mức độ quan trọng của lý do lựa chọn trường thi CĐ – ĐH 53 Bảng 3.2: Tương quan giới tính và lựa chọn các nhóm trường CĐ – ĐH 56 Bảng 3.3: Giới tính và dự định sau tốt nghiệp THPT 58 Bảng 3.4 : Tương quan giữa học lực và chọn nhóm trường thi CĐ – ĐH 60 Bảng 3.5: Tương quan giữa nghề nghiệp của bố mẹ và chọn nhóm trường CĐ - ĐH 65

Bảng 3.6 : Tương quan giữa kinh tế gia đình và dự định sau tốt nghiệp THPT 67

Bảng 3.7 : Mức độ ảnh hưởng của đặc điểm trường CĐ – ĐH tới sự lựa chọn của học sinh 78 Bảng 3.8: Đánh giá mức độ của các kênh thông tin tác động đến lựa chọn trường thi CĐ – ĐH 80

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Nhận thức của học sinh về sự cần thiết của việc xác định trường

dự thi CĐ – ĐH 31 Biểu đồ 2.2: Khối dự thi CĐ – ĐH của học sinh 31 Biểu đồ 2.3: Thời điểm học sinh suy nghĩ chọn trường thi CĐ – ĐH 33 Biểu đồ 2.4: Tự đánh giá của học sinh về mức độ khó của thi tuyển sinh CĐ - ĐH 35 Biểu đồ 2.5: Học sinh tự đánh giá khả năng thi đỗ CĐ – ĐH 35 Biểu đồ 2.6 : Quyết định lựa chọn trường thi CĐ – ĐH của học sinh 37 Biểu đồ 2.7 : Dự định lựa chọn nhóm trường thi CĐ - ĐH của HS sau tốt nghiệp THPT 41 Biểu đồ 2.8: Thời điểm học sinh bắt đầu đi ôn thi CĐ – ĐH 44 Biểu đồ 2.9 : Nội dung HS cần cung cấp thông tin khi chọn trường thi CĐ – ĐH 49 Biểu đồ 3.1: Những lý do chọn trường thi CĐ – ĐH của học sinh 52 Biểu đồ 3.2: Sự giúp đỡ của gia đình trong việc lựa chọn trường thi 63 Biểu đồ 3.3: Sự giúp đỡ của bạn bè trong việc lựa chọntrường thi CĐ - ĐH 70 Biểu đồ 3.4 : Những hoạt động hướng nghiệp của nhà trường giúp học sinh chọn trường thi CĐ - ĐH 71 Biểu đồ 3.5 Đánh giá của học sinh về hoạt động hướng nghiệp trong nhà trường 74 Biểu đồ 3.6: Nguồn thông tin từ PTTTĐC giúp HS chọn trường thi CĐ – ĐH 76

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nghề nghiệp luôn được coi là một trong những yếu tố quan trọng quyết định tuơng lai của mỗi con người Vì vậy để lựa chọn cho mình một ngành nghề phù hợp luôn là ước mơ của rất nhiều các bạn trẻ, đặc biệt là học sinh trung học phổ thông Hiện nay có rất nhiều sự chọn lựa cho các em sau khi tốt nghiệp THPT, học tiếp lên đại học, cao đẳng, học trung cấp chuyên nghiệp, học nghề hay đi làm lao động phổ thông các em học sinh chọn hướng đi nào sau tốt nghiệp? Theo thống kê của Bộ GD&ĐT, năm học 2010 - 2011 cả nước có khoảng 185.000 học sinh tốt nghiệp THPT nhưng không đỗ vào đại học, cao đẳng hoặc trung cấp chuyên nghiệp Con số này tăng lên trong năm sau là 290.000 em Cộng với số học sinh bỏ học và trượt tốt nghiệp THPT trong những năm qua thì ước tính mỗi năm có khoảng hơn 350.000

em không tiếp tục được đào tạo, thiếu công ăn việc làm [28] Kỳ thi tuyển sinh vào đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp năm 2013, cả nước có 1,4 triệu thí sinh

dự thi Trong số đó chỉ có 20% thí sinh có nguyện vọng thi vào các trường Cao đẳng,

tỷ lệ vào trung cấp chuyên nghiệp lại càng hạn chế [29] Những con số đó đã phần nào phản ánh rõ nét mong muốn cháy bỏng của các em sau 12 năm đèn sách và tâm lý coi trọng làm “thầy” hơn “thợ”

Hiện nay, để lựa chọn đúng đắn và thi đỗ vào trường đại học vẫn là mơ ước của đa số các em học sinh Bởi thực tế, trong một xã hội coi trọng bằng cấp như hiện nay thì đối với nhiều người, tấm bằng đại học thực sự là tấm vé để nhiều bạn trẻ bước vào cuộc sống Bên cạnh đó các em cũng còn rất nhiều áp lực từ phía gia đình, nhà trường và xã hội Do vậy, nhiều bạn trẻ có suy nghĩ rằng, chỉ khi bước vào cổng trường Đại học thì mới có được một tương lai tốt đẹp Liệu đây có phải là lựa chọn duy nhất để có một nghề nghiệp ổn định sau này?

Chính suy nghĩ này dẫn đến thực tế là có sự chênh lệch khá lớn giữa chỉ tiêu tuyển sinh vào đại học, cao đẳng và số hồ sơ đăng ký dự thi Và không phải bất cứ học sinh nào cũng có đủ năng lực để vượt qua được kì thi đại học đầy cam go và tính cạnh tranh cao như thế Vậy lựa chọn nào là phù hợp đối với các em có học lực

ở mức trung bình, và đảm bảo cho các em có một tương lai ổn định? Cuối cấp học,

Trang 11

nhiều học sinh luôn đứng ở giữa các ngã rẽ, không biết mình nên chọn trường

CĐ-ĐH nào, thậm chí có nhiều học sinh không hề ý thức được mình sẽ làm gì trong tương lai Kỳ thi tuyển sinh vào CĐ - ĐH hàng năm luôn là sự kiện quan trọng bậc nhất đối với mỗi học sinh Thông tin tuyển sinh dù được đăng tải rất nhiều trên phương tiện truyền thông nhưng vẫn chưa đủ để các thí sinh yên tâm lựa chọn Thành công trong cuộc sống vốn là ước muốn của mỗi người, thành công trong việc chọn trường, chọn ngành, chọn nghề là con đường dẫn chúng ta đến với thành công trong cuộc sống Trong quá trình lựa chọn trường CĐ - ĐH của học sinh THPT, có nhiều yếu tố tác động tới các em Vậy những yếu tố đó là gì? Các em chọn trường

CĐ - ĐH nào để dự thi? Dựa vào đâu để các học sinh chọn trường cho mình? giải pháp nào để phù hợp với nghề nghiệp tương lai của các em? Tất cả những vấn đề

nêu trên khiến tôi quyết định chọn đề tài: “Nhận thức, nhu cầu và các yếu tố tác

động đến lựa chọn trường Cao đẳng - Đại học của học sinh THPT hiện nay” Từ đó

đưa ra các giải pháp góp phần nâng cao nhận thức đúng đắn và lựa chọn nghề nghiệp, chọn trường phù hợp với học sinh THPT

2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

2.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Có thể nói, những tư tưởng về định hướng nghề nghiệp cho thế hệ trẻ đã có

từ thời cổ đại, tuy nhiên ở dưới dạng rất sơ khai và biểu hiện thông qua việc phân chia, phân cấp lao động tuỳ thuộc vào địa vị và nguồn gốc xuất thân của mỗi người trong xã hội Điều này thể hiện rõ tính áp đặt của giai cấp thống trị và sự bất bình đẳng trong phân công lao động xã hội Đến thế kỷ XIX, khi nền sản xuất xãhội phát triển cùng với những tư tưởng tích cực về giải phóng con người trên khắp thế giới thì khoa học hướng nghiệp mới thực sự trở thành một khoa học độc lập

Cuốn sách “Hướng dẫn chọn nghề” xuất bản năm 1949 ở Pháp được xem là một trong những cuốn sách đầu tiên nói về hướng nghiệp [6] Nội dung cuốn sách đã đề cập đến sự phát triển đa dạng của các ngành nghề trong xã hội do sự phát triển của công nghiệp từ đó đã rút ra những kết luận coi giáo dục hướng nghiệp là một vấn đề quan trọng không thể thiếu khi xã hội ngày càng phát triển và cũng là nhân tố thúc đẩy xã hội phát triển

Trang 12

Vào những năm 1940, nhà tâm lý học Mỹ J.L Holland đã nghiên cứu và thừa nhận sự tồn tại của các loại nhân cách và sở thích nghề nghiệp.Tác giả đã chỉ ra rằng, tương ứng với mỗi kiểu nhân cách nghề nghiệp là một số những nghề nghiệp mà cá nhân có thể lựa chọn để đạt được kết quả làm việc cao nhất Lý thuyết này của J.L Holland đã được sử dụng rộng rãi nhất trong thực tiễn hướng nghiệp trên thế giới

Trên cơ sở các luận điểm về hướng nghiệp của C.Mác và V.I Lênin, các nhà giáo dục Liên xô như B.F Kapêep, X.Ia Batưsep, X.A Sapôrinxki, V.A Pôliacôp trong các tác phẩm và công trình nghiên cứu của mình đã chỉ ra mối quan hệ giữa hướng nghiệp và các hoạt động sản xuất xã hội Họ cho rằng, nếu sớm thực hiện GDHN cho thế hệ trẻ thì đó sẽ là cơ sở để họ chọn nghề đúng đắn, có sự phù hợp giữa năng lực, sở thích cá nhân với nhu cầu xã hội [6] Đồng thời, các tác giả này cũng đã trình bày những nguyên tắc, phương pháp thực hành lao động nghề nghiệp cho học sinh phổ thông tại các cơ sở học tập - lao động liên trường

Mei Tang, Wei Pan và Mark D.Newmeyer [26] đã áp dụng mô hình lý thuyết phát triển xã hội nghề nghiệp (SCCT, Lent, Brown và Hackett, 1994) để khảo sát các yếu tố tác động đến xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của HS trung học Những phát hiện của nghiên cứu này đã chứng minh tầm quan trọng của các yếu tố như: kinh nghiệm học tập, tự đánh giá năng lực nghề nghiệp, lợi ích và kết quả mong đợi trong quá trình phát triển nghề nghiệp của học sinh trung học Mối quan hệ của các yếu tố này có tính chất động Vì vậy, để can thiệp thành công cần phải xem xét mối quanhệ phức tạp giữa các yếu tố và kết hợp một loạt các biện pháp can thiệp ở mức

độ đa hệ thống Các nhà tư vấn nên góp phần vào sự phát triển và thực hiện một chương trình phát triển nghề nghiệp toàn diện giúp HS phát triển năng lực nghề nghiệp thông qua hoạt động học tập thiết thực

Nghiên cứu của Bromley H Kniveton [23] được tiến hành trên cơ sở khảo sát 384 thanh thiếu niên (trong đó có 174 nam và 174 nữ) từ 14 đến 18 tuổi đã đã đưa ra kết luận: Cả nhà trường và gia đình đều có thể cung cấp những thông tin và hướng dẫn trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến sự lựa chọn nghề nghiệp của thanh niên Giáoviên có thể xác định những năng khiếu và khả năng qua đó khuyến khích học sinh tham gia các hoạt động ngoại khoá, tham gia lao động hướng nghiệp

Trang 13

hoặc tham quan những cơ sở sản xuất Phụ huynh HS có ảnh hưởng rất lớn đến việc cung cấp những hỗ trợ thích hợp nhất định cho sự lưa chọn nghề nghiệp, ngoài ra còn cósự tác động của anh chị em trong gia đình, bạn bè

Michael Borchert [22], trên cơ sở khảo sát 325 học sinh trung học của trường Trung học Germantown, bang Wisconsin đã đưa ra nhận xét: trong ba nhóm yếu tố chính ảnh hưởng đến sự lựa chọn nghề nghiệp là: Môi trường, cơ hội và đặc điểm

cá nhân thì nhóm yếu tố đặc điểm cá nhân có ảnh hưởng quan trọng nhất đến sự chọn lựa nghề nghiệp của HS trung học

2.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam

Ở Việt Nam, giáo dục hướng nghiệp tuy được xếp ngang tầm quan trọng với các mặt giáo dục khác như đức dục, trí dục, thể dục, mỹ dục nhưng bản thân nó lại rất non trẻ, mới mẻ cả về nhận thức, lý luận và thực tiễn, rất thiếu về lực lượng, không mang tính chuyên nghiệp Vì vậy, việc thực hiện không mang lại nhiều hiệu quả Vấn đề hướng nghiệp chỉ thực sự nóng lên và được xã hội quan tâm khi nền kinh tế đất nước bước sang cơ chế thị trường với sự đa dạng của các ngànhnghề và nhu cầu rất lớn về chất lượng nguồn nhân lực

Đảng và Nhà nước ta cũng rất quan tâm đến công tác hướng nghiệp.Điều này được thể hiện qua các chỉ thị, nghị quyết, văn kiện, các nguyên lý giáodục của Đảng

và nhà nước Có thể lấy ví dụ như nghị định 126/CP ngày 19/03/1981 của Chính phủ về công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông vàviệc sử dụng hợp lý HS các cấp THCS và THPT tốt nghiệp ra trường.Trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứ

IX đã ghi rõ “Coi trọng công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh trung học,

chuẩn bị cho thanh niên, thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương”

Luật Giáo dục năm 2005 đã khẳng định: “Giáo dục THPT nhằm giúp cho

học sinh củng cố và phát triển những kết quả của THCS, hoàn thiện học vấn để tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung học nghề nhiệp, học nghề, và đi vào cuộc sống laođộng” Chiến lược phát triển giáo dục năm 2001 - 2010 đã xác định rõ “Thực

hiện chương trình phân ban hợp lý nhằm đảm bảo cho học sinh có học vấn phổ thông, cơ bản theo một chuẩn thống nhất, đồng thời tạo điều kiện cho sự phát huy

Trang 14

năng lực của mỗi học sinh, giúp học sinh có những hiểu biết về kỹ thuật, chú trọng hướng nghiệp để tạo điều kiện thuận lợi tiếp sau khi tốt nghiệp”

Về mặt nghiên cứu khoa học hướng nghiệp ở Việt Nam, theo các chuyên gia thì ngành hướng nghiệp Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ vào những năm 1970, 1980 GS.TS Phạm Tất Dong là người có những đóng góp rất lớn cho GDHN Việt Nam Tác giả này đã dày công nghiên cứu các vấn đề lí luận và thực tiễn cho GDHN như xác định mục đích, ý nghĩa, vai trò của hướng nghiệp; hứng thú, nhu cầu và động cơ nghề nghiệp; hệ thống các quan điểm, nguyên tắc hướng nghiệp, các nội dung, phương pháp, biện pháp giáo dục hướng nghiệp Điều này được thể hiện ở rất nhiều các báo cáo, bài báo, sách, giáo trình của ông như bài viết:

“Hướng nghiệp cho thanh niên”, đăng trên tạp chí Thanh Niên số 8 năm 1982; báo cáo: “Một con đường hình thành lý tưởng nghề nghiệp cho học sinh lớn”; các tác phẩm như: “Nghề nghiệp tương lai - giúp bạn chọn nghề” hay cuốn “Tư vấn hướng nghiệp - sự lựa chọn cho tương lai” Trong một công trình nghiêncứu gần đây, tác giả đã chỉ ra rằng: “Công tác hướng nghiệp góp phần điều chỉnh việc chọn nghề của thanh niên theo hướng chuyển đổi cơ cấu kinh tế” Bởi vì theo tác giả, đất nước đang trong giai đoạn đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa (CNH-HĐH), cơ cấu kinh tế sẽ chuyển theo hướng giảm tỉ trọng nông nghiệp, tăng tỉ trọng công nghiệp, dịch vụ Xu hướng chọn nghề của thanh niên phù hợp với xu hướng chuyển cơ cấu kinh tế là một yêu cầu tất yếu của sự nghiệp CNH – HĐH đất nước

GS.TS Nguyễn Văn Hộ cũng là một trong những người rất tâm đắc và nghiên cứu chuyên sâu về GDHN Trong luận án tiến sĩ của mình, tác giả đã đề cập đến vấn đề: “Thiết lập và phát triển hệ thống hướng nghiệp cho học sinh Việt Nam” Tác giả đã xây dựng được luận chứng cho hệ thống GDHN trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Gần đây, ông cũng đã xuất bản cuốn sách:

“Hoạt động giáo dục hướng nghiệp và giảng dạy kĩ thuật trong trường THPT” (2006) Cuốn sách đã trình bày một cách hệ thống về cơ sở lí luận của GDHN, vấn

đề tổ chức GDHN trong trường THPT và giảng dạy kĩ thuật ở nhà trường THPT trong điều kiện kinh tế thị trường và sự nghiệp CNH - HĐH đất nước hiện nay Trong thời gian gần đây, nhằm hiện thực hoá những phương hướng, mục tiêu mà

Trang 15

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra về GDHN và phân luồng học sinh phổ thông, đã có rất nhiều những nghiên cứu về hướng nghiệp ở nhiều cách tiếp cận khác nhau tạo nên một giai đoạn mới với sự đa dạng trong nghiên cứu khoa học hướng nghiệp ở Việt Nam

Kết quả nghiên cứu của giảng viên Khoa Tâm lý - trường Đại học Sư phạm

Hà Nội đã rút ra kết luận: (1) Các hình thức hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông hiện tại chưa thực sự phong phú và chưa được tổ chức thường xuyên Nhiều hình thức hấp dẫn, có sức thuyết phục cao như tham quan thực tế các cơ sở sản xuất địa phương, nghe các nghệ nhân nói chuyện về nghề … ít được quan tâm thực hiện; (2) Nhu cầu tìm hiểu nghề là nhu cầu chính đáng của học sinh, nhưng khi tìm hiểu

về nghề thì các em gặp phải rất nhiều khó khăn như nhà trường ít tổ chức hướng nghiệp, các nội dung hướng nghiệp thực hiện không đồng bộ; (3) Do vai trò tác động của nhà trường trong việc hướng nghiệp chưa cao nên các thông tin về nghề

mà học sinh thu nhận được khi chọn nghề phần lớn từ các kênh ngoài nhà trường như từ cha mẹ, người thân, từ những người đang làm trong nghề đó hay từ các sách báo hoặc phương tiện thông tin đại chúng khác

Nghiên cứu của tác giả Lê khắc Thìn (1996) về vấn đề “Tìm hiểu thực trạng lựa chọn nghề nghiệp của học sinh lớp 12 và công tác hướng nghiệp ở trường THPT” Đã nhấn mạnh đến nguyện vọng chọn nghề của học sinh Do nước ta mở cửa phát triển kinh tế nhiều thành phần, hợp tác kinh tế với nhiều nước trên thế giới,

vì vậy các em có xu thế hướng vào các trường thuộc lĩnh vực kinh tế, công nghệ tiên tiến Như vậy, sự định hướng của học sinh vào các trường cũng phát triển theo

xu thế phát triển của xã hội Tuy nhiên, có nhiều em chọn nghề theo rung cảm từ nhỏ, từ mẫu người lý tưởng, có em chọn nghề theo sự vui thích của cá nhân, theo yêu cầu của cha mẹ Do đó có thể có sự không phù hợp giữa sở thích và nguyện vọng Hầu hết các em đều cho rằng nghề các em thích là phù hợp sở thích và khả năng của bản thân, hoặc yêu thích nghề vì phù hợp với nguyện vọng được xã hội coi trọng Có 7,38% học sinh cho biết là chưa hiểu rõ về nghề nên không biết thích cái

gì Bên cạnh đó, sự hiểu biết của học sinh về nghề định chọn là rất ít, chưa sâu sắc, không rõ ràng, cụ thể Những nguồn thông tin quan trọng nhất (cha mẹ, thầy cô, các

Trang 16

phương tiện thông tin đại chúng) để giúp cho các em có nhận thức đúng đắn về nghề nghiệp thì chưa phát huy hết tác dụng Công trình nghiên cứu của tác giả Lê Khắc Thìn đã phản ánh khá đầy đủ các khía cạnh của hoạt động chọn nghề của HS Đặc biệt, dựa trên các nghiên cứu định lượng, định tính và các phương pháp tiếp cận

xã hội học đặc biệt là phương pháp thử nghiệm tác động đối với các em HS, tác giả

đã phân tích khá rõ vấn đề nhận thức nghề và dự định chọn nghề của HS THPT

Đề tài nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại học của học sinh phổ thông trung học” của nhóm tác giả Trần Văn Quý và Cao Thi Hào Trường Đại học Bách Khoa, Đại học Quốc Gia TP.Hồ Chí Minh Nghiên cứu

đã xác định, đánh giá tác động của các yếu tố then chốt ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại học của học sinh THPT Kết quả phân tích 227 bảng hỏi đối với học sinh lớp 12 năm học 2008 – 2009 của 5 trường THPT tại Quảng Ngãi đã cho thấy 5 yếu tố bao gồm: (1) cơ hội việc làm trong tương lai, (2) đặc điểm cố định của trường đại học, (3) bản thân cá nhân học sinh, (4) cá nhân có ảnh hưởng đến quyết định của học sinh và (5) thông tin có sẵn, ảnh hưởng đến quyết định chọn trường Đại học

Tác giả Phan Thị Tố Oanh nghiên cứu với đề tài: “Nghiên cứu nhận thức nghề và dự

định chọn nghề của học sinh phổ thông trung học” (Luận án Phó Tiến Sĩ khoa học sư phạm –

tâm lý – 1996) [4] tiến hành nghiên cứu trên 497 học sinh 4 trường thuộc nội ngoại thành

thành phố Hà Nội và Huế đã cho rằng: HS ở các nhóm nghề đã có nhận thức về nghề nghiệp

nhưng ở mức độ chưa cao, chưa sâu sắc và đầy đủ Trong ba mặt nhận thức về nghề HS nhận thức nhu cầu của xã hội đối với nghề nghiệp mình định chọn cao hơn so với nhận thức

về thế giới nghề nghiệp – yêu cầu đặc trưng của nghề và nhận thức về đặc điểm cá nhân ( tương ứng là 0,98; 0,55; 0,375 điểm ) Điều đó chứng tỏ những yếu tố khách quan của nghề nghiệp đối với cá nhân được HS nhận biết dễ hơn những yêu cầu của nghề nghiệp về các đặc

điểm tâm lý cá nhân

Và trong ba trình độ nghề thì đa số HS dự định chọn trình độ cao: có tới 80,4% dự định thi đại học; 36,9% dự định thi trung cấp; 7,3% thi vào sơ cấp và 5,5% không thi vào hệ nào Trên cở sở phân tích các yêu cầu của đề tài, tác giả đã đưa ra những nhận xét:

Trang 17

 Nhận thức nghề đang dừng lại ở những biểu hiện bên ngoài chưa đi sâu tìm hiểu đặc trưng riêng của nghề và đối chiếu yêu cầu đó với những đặc điểm thể chất và tâm lý của mình

 Đa số HS chọn đại học, vào những nghề xã hội đánh giá cao, có khả năng tìm việc

ổn định và cần thiết xã hội

Tác giả Nguyễn Thị Vân Hạnh cũng có bài viết về “Nhu cầu học nghề của học sinh trung học phổ thông” đăng trên tạp chí Khoa học giáo dục số 16, tháng 1/2007 Bài viết của tác giả đã khẳng định rằng phần đông HS có nhận thức đúng đắn rằng vào đại học không phải là con đường duy nhất để thành đạt (70% ý kiến được hỏi), nhưng lại có tới 70% lựa chọn con đường này sau khi tốt nghiệp THPT Theo bài viết này, các nhóm nghề được HS lựa chọn nhiều nhất là công nghệ thông tin, điện, dệt may Sự lựa chọn này phản ánh tương đối chính xác xu hướng phát triển của thị trường lao động Những nghề này, nhất là dệt may đang có nhu cầu lớn

về lao động kĩ thuật, HS những ngành này ra trường hầu hết tìm được việc ngay Tác giả Nguyễn Thị Vân Hạnh cũng chỉ ra rằng: đặc điểm giới tính có ảnh hưởng đến dự định chọn nghề của nam và nữ, và nhận thức nghề và dự định chọn nghề của

HS chưa có sự phù hợp cao, chọn nghề theo ý muốn chủ quan

Luận văn thạc sĩ của Trần Đình Chiến (2008) về “Xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của học sinh lớp 12 trường THPT dưới ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường” (khảo sát tại tỉnh Phú Thọ) đã chỉ ra được thực trạng về xu hướng nghề nghiệp của học sinh lớp 12 dưới sự ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường Tác giả

đã nhận thấy đa số học sinh chịu ảnh hưởng một cách thụ động, không nhận thức được sự phù hợp của bản thân với nghề Học sinh lớp 12 chủ yếu có xu hướng, nguyện vọng thi vào các trường ĐH – CĐ và lựa chọn những ngành nghề đang được xã hội quan tâm, đánh giá cao, những nghề có thu nhập cao và dễ tìm việc làm Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn tác giả đã đề ra một số biện pháp cụ thể nhằm hình thành xu hướng lựa chọn nghề nghiệp tích cực, phù hợp của học sinh lớp 12 dưới ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường hiện nay

Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Phương Toàn (2011) về “ Khảo sát các yếu tố tác động đến việc chọn trường của học sinh lớp 12 trung học phổ thông trên địa bàn

Trang 18

tỉnh Tiền Giang” Đề tài tiến hành nghiên cứu trên 450 học sinh lớp 12 thuộc 8 trường THPT trên địa bàn tỉnh Tiền Giang Đề tài đã cho thấy có 5 yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại học của học sinh từ mạnh đến yếu như sau: (1) yếu tố về mức độ đa dạng và hấp dẫn ngành đào tạo; (2) yếu tố về đặc điểm của trường đại học; (3) yếu tố về khả năng đáp ứng sự mong đợi sau khi ra trường; (4) yếu tố về đặc điểm của trường đại học; (5) yếu tố danh tiếng của trường đại học Đề tài nghiên cứu cho kết quả có sự khác biệt giữa nhóm học sinh theo đơn vị trường THPT, theo giới tính và theo học lực trong sự đánh giá tầm quan trọng của các yếu

tố khi quyết định chọn trường đại học để dự thi

Hầu hết các công trình nghiên cứu trên đã nêu lên được thực trạng chọn nghề của học sinh THPT (lý do chọn nghề, động cơ chọn nghề, nguyện vọng chọn nghề, các nhân tố ảnh hưởng đến việc chọn nghề của học sinh, nhận thức về nghề nghiệp của học sinh), nêu lên được thực trạng tư vấn hướng nghiệp trong nhà trường THPT hiện nay cùng với nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của học sinh ở năm học cuối cấp Đồng thời, các công trình nghiên cứu này cũng tổng hợp được ý kiến của học sinh với mong muốn trong nhà trường có ban tư vấn hướng nghiệp để giúp các em trong việc chọn nghề cho tương lai

Tóm lại, nghiên cứu về đề tài định hướng nghề nghiệp của học sinh THPT có nhiều tác giả đã nghiên cứu, những kết quả đó làm tiền đề để chúng tôi tiếp tục nghiên cứu vấn đề này vào thời điểm hiện tại Vấn đề nghề nghiệp luôn đổi mới và phát triển theo xu hướng của thế giới, cho nên nghiên cứu về vấn đề này vẫn luôn cần được cập nhật mới mẻ

Nhưng nghiên cứu về đề tài chọn trường thi CĐ – ĐH của học sinh THPT là chưa nhiều Với địa bàn nghiên cứu tác giả chọn là một trường THPT thuộc tỉnh trung du miền núi phía Bắc mà cụ thể chúng tôi tiến hành khảo sát tại trường THPT Việt Yên 1 – Bắc Giang, là điểm mới để chúng tôi tìm hiểu những nhận thức và nhu cầu của học sinh tại địa bàn có điểm gì khác so với các em học sinh THPT tại khu vực ở thành phố lớn và các địa bàn khác trên cả nước Chúng tôi chọn đề tài này để tìm hiểu nhận thức, nhu cầu của học sinh lớp 12 về lựa chọn trường CĐ - ĐH và tìm hiểu xem những yếu tố nào tác động đến lựa chọn trường thi của HS Đó là lý do mà

Trang 19

chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài này

3.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

3.1 Ý nghĩa khoa học

Đề tài nghiên cứu nhằm vận dụng phạm trù, khái niệm, phương pháp nghiên cứu và lý thuyết Xã hội học vào mô tả, giải thích thực trạng nhận thức, nhu cầu và các yếu tố tác động đến lựa chọn trường CĐ, ĐH của học sinh THPT hiện nay Dựa trên kết quả thu được, nghiên cứu cũng mong góp phần làm giàu thêm tri thức xã hội học trong lĩnh vực cụ thể làvấn đề chọn trường thi CĐ - ĐH của học sinh

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Trên cơ sở phân tích một cách khoa học, chúng tôi mong muốn nắm bắt kịp thời nhận thức, nhu cầu đúng đắn/ sai lệch về lựa chọn trường CĐ - ĐH của học sinh THPT Từ đó đưa ra những khuyến nghị và giải pháp thiết thực nhằm tác động tích cực đến nhận thức của học sinh THPT Việt Yên 1 trong việc lựa chọn trường CĐ- ĐH Trong một chừng mực nào đó khuyến nghị đó có thể suy rộng ra cho học sinh các trường THPT nói chung về nhận thức nghề nghiệp trong tương lai từ đó có

sự chọn lựa trường thi CĐ - ĐH phù hợp

4 Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nhận thức, nhu cầu và các yếu tố tác động đến lựa chọn trường CĐ - ĐH của học sinh THPT

4.2 Khách thể nghiên cứu

300 Học sinh lớp 12, phụ huynh học sinh và thầy cô giáo tại trường THPT

Việt Yên 1

4.3 Phạm vi nghiên cứu

+Phạm vi không gian : Trường THPT Việt Yên 1

+Phạm vi thời gian : Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 11/2013 đến tháng

05/2014

+Vấn đề nghiên cứu: Nhận thức, nhu cầu và các yếu tố tác động đến lựa

chọn trường CĐ - ĐH của HS THPT

Trang 20

5 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu thực trạng nhận thức, nhu cầu và những yếu tố tác động đến lựa chọn trường CĐ – ĐH của học sinh THPT Từ đó có thể đề xuất một số khuyến nghị về giải pháp giúp học sinh THPT có sự định hướng nghề nghiệp, lựa chọn trường thi CĐ – ĐH một cách phù hợp với năng lực và nguyện vọng của mình

5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

(1)Tìm hiểu nhận thức của học sinh về vấn đề chọn trường thi CĐ - ĐH Nhận thức của HS về sự cần thiết xác định trường dự thi CĐ - ĐH, thời điểm HS suy nghĩ về việc lựa chọn trường CĐ - ĐH, tự đánh giá cơ hội và khả năng thi đỗ

CĐ - ĐH của HS THPT

(2) Chỉ rõ những nhu cầu của HS trong việc chọn trường thi CĐ - ĐH

(3) Phân tích những yếu tố chính tác động đến lựa chọn trường CĐ – ĐH của học sinh THPT

6 Câu hỏi nghiên cứu

● Học sinh THPT hiện nay nhận thức như thế nào về lựa chọn trường CĐ - ĐH?

● Học sinh có nhu cầu gì trong quá trình lựa chọn trường CĐ - ĐH?

● Những yếu tố nào tác động đến lựa chọn trường CĐ - ĐH của học sinh

THPT hiện nay?

7 Giả thuyết nghiên cứu

(1) Phần lớn học sinh THPT hiện nay đều có nhận thức tương đối đầy đủ và đúng đắn về việc lựa chọn trường CĐ - ĐH để dự thi

(2) Học sinh THPT đều có nguyện vọng dự thi vào các trường CĐ - ĐH, HS THPT hiện nay có nhu cầu cao về việc được luyện thi CĐ - ĐH, tìm hiểu thông tin thi

CĐ - ĐH, các hoạt động hướng nghiệp phục vụ mục đích lựa chọn trường CĐ - ĐH

(3) Có rất nhiều yếu tố tác động đến việc lựa chọn trường CĐ - ĐH của học

sinh THPT ngoài bản thân mỗi cá nhân HS còn có các yếu tố như : gia đình, bạn bè, nhà trường, truyền thông đại chúng, đặc điểm của trường CĐ - ĐH

Trang 21

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Phương pháp luận nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu lấy lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử làm nền tảng cơ sở để nhìn nhận vấn đề nghiên cứu trong một bối cảnh lịch sử xã hội cụ thể và trong sự vận động biến đổi, tác động qua lại của nó với các điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước nói chung và của ngành giáo dục nói riêng

Chủ nghĩa duy vật biện chứng nhìn các hiện tượng xã hội trong mối quan

hệ nhân quả Theo đó, mọi hiện tượng trong xã hội không tồn tại độc lập mà luôn tương tác, ảnh hưởng lẫn nhau Do đó, khi nghiên cứu bất kỳ một hiện tượng, một vấn đề xã hội nào chúng ta cũng cần đặt chúng trong một bối cảnh xã hội cụ thể, trong một môi trường xác định, nghĩa là cần xem xét hiện tượng, vấn đề xã hội đó trong mối quan hệ tương tác với các hiện tượng, vấn đề xã hội khác

Chủ nghĩa duy vật lịch sử nhìn các hiện tượng xã hội trong một quá trình, nghĩa là mọi hiện tượng trong xã hội không tồn tại một cách bất biến mà luôn luôn vận động, có sự hình thành, phát triển và tiêu vong Do đó, khi nghiên cứu một hiện tượng, vấn đề xã hội nào thì cần xem xét nó trong một quá trình và đặt

nó trong một giai đoạn lịch sử nhất định

Những nguyên tắc và quan điểm của xã hội học Mác - Lênin được xác định

là kim chỉ nam xuyên suốt quá trình nghiên cứu của đề tài, do đó nó trở thành ơng pháp luận của đề tài

phư-Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, vấn đề nhận thức, nhu cầu và các yếu

tố tác động tới lựa chọn trường thi CĐ – ĐH của HS được nhìn nhận trong mối quan hệ qua lại tác động với các yếu tố của môi trường xã hội chung (gia đình, nhà trường, bạn bè, các phương tiện truyền thông đại chúng) và trong mối quan hệ với các yếu tố cá nhân của học sinh như (giới tính, học lực)

8.2 Phương Pháp thu thập thông tin

8.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Trong nghiên cứu này chúng tôi tiến hành phân tích một số tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu như sách báo, tạp chí nghiên cứu chuyên sâu và một số công

Trang 22

trình nghiên cứu về nội dung liên quan đến đề tài nghiên cứu đã xuất bản và công

bố Qua đó, bổ sung thêm cho những thiếu sót trong việc phân tích các số liệu định lượng thu được từ điều tra thông qua bảng hỏi

8.2.2 Phương pháp trưng cầu ý kiến

Phiếu trưng cầu ý kiến sẽ được sử dụng nhằm mục đích thu thập những thông tin định lượng cho đề tài nghiên cứu Mẫu nghiên cứu được lựa chọn theo phương pháp ngẫu nhiên, có cân nhắc đến một số yếu tố như giới tính, kết quả học tập, nghề nghiệp của bố mẹ

Chúng tôi tiến hành phát 325 phiếu khảo sát đối với học sinh khối 12 thu và

về 300 phiếu với cơ cấu mẫu như sau:

Bảng 1: Phân bố mẫu nghiên cứu theo giới tính, kết quả học tập của học sinh,

nghề nghiệp của cha mẹ và kinh tế gia đình

Trang 23

8.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân

Để có được cái nhìn khách quan và chính xác hơn về vấn đề nhận thức, nhu cầu và các yếu tố tác động đến lựa chọn trường thi CĐ - ĐH của HS THPT chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu 14 người gồm: 10 học sinh, 2 giáo viên, 2 phụ huynh học sinh Thông tin phỏng vấn sâu mang tính chất định tính, tập trung vào các khía cạnh liên quan đến lựa chọn nghề, chọn trường thi, công tác giáo dục hướng nghiệp trong trường THPT hiện nay nhằm bổ sung những thông tin mà phương pháp định lượng không thực hiện được

Cá nhân

Bạn bè

Truyền thông đại chúng

Đặc điểm trường CĐ- ĐH

Trang 24

NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Các khái niệm công cụ

1.1.1 Khái niệm nhận thức

Theo quan điểm triết học Mác-Lênin, nhận thức được định nghĩa là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính

tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn

Theo “Từ điển Bách khoa Việt Nam”, nhận thức là quá trình biện chứng của

sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy

và không ngừng tiến đến gần khách thể

Theo Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng – 1994, “Nhận thức là quá trình hoặc kết quả phản ánh và tái hiện thực tiễn vào trong tư duy, quá trình con người nhận biết, hiểu biết thế giới khách quan hoặc kết quả quá trình đó nhằm nâng cao nhận thức Có nhận thức đúng, có nhận thức sai”.[14]

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (Hoàng Phi chủ biên) nhận thức được định nghĩa là quá trình hay kết quả phản ánh và tái hiện hiện thực vào trong tư duy

Là quá trình con người nhận biết, hiểu biết thế giới quan hay kết quả của quá trình

đó Nhận thức là nhận ra và hiểu biết được, hiểu được về một ai đó, một vấn đề hay một hiện tượng nào đó

Nhận thức là quá trình phức tạp tiếp nhận, xử lý và phân tích thông tin giúp con người hiểu biết ngày càng đầy đủ, chính xác về thế giới xung quanh

Trong khuôn khổ của luận văn chúng tôi chỉ tìm hiểu xem nhận thức của học sinh về xác định trường thi CĐ - ĐH thời điểm học sinh xác định việc chọn trường thi, học sinh đánh giá về cơ hội và khả năng thi đỗ CĐ - ĐH nhưng lựa chọn về trường CĐ - ĐH của học sinh

1.1.2 Khái niệm nhu cầu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia : Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau

Trang 25

Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con người hoạt động Nhu cầu càng cấp bách thì khả năng chi phối con người càng cao Về mặt quản lý, kiểm soát được nhu cầu đồng nghĩa với việc có thể kiểm soát được cá nhân (trong trường hợp này, nhận thức có

sự chi phối nhất định: nhận thức cao sẽ có khả năng kiềm chế sự thoả mãn nhu cầu)

Nhu cầu của một cá nhân, đa dạng và vô tận Về mặt quản lý, người quản lý chỉ kiểm soát những nhu cầu có liên quan đến hiệu quả làm việc của cá nhân Việc thoả mãn nhu cầu nào đó của cá nhân đồng thời tạo ra một nhu cầu khác theo định hướng của nhà quản lý, do đó người quản lý luôn có thể điều khiển được các cá nhân

Nhu cầu là tính chất của cơ thể sống, biểu hiện trạng thái thiếu hụt hay mất cân bằng của chính cá thể đó và do đó phân biệt nó với môi trường sống Nhu cầu tối thiểu hay còn gọi là nhu yếu đã được lập trình qua quá trình rất lâu dài tồn tại, phát triển và tiến hóa

Nhu cầu chi phối mạnh mẽ đến đời sống tâm lý nói chung, đến hành vi của con người nói riêng Nhu cầu được nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu và

sử dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống, xã hội

Trong luận văn này, chúng tôi tôi hiểu nhu cầu về luyện thi CĐ – ĐH của học sinh, nhu cầu được tìm hiểu thông tin thi CĐ - ĐH, các hoạt động hướng nghiệp cung cấp thông tin phục vụ mục đích chọn trường thi CĐ - ĐH của học sinh

1.1.3 Khái niệm lựa chọn

Lựa chọn tức là nhấn mạnh việc phải cân nhắc, tính toán để quyết định sử dụngphương tiện hay cách thức tối ưu trong số những điều kiện hay cách thức hiện

có để đạt được mục tiêu trong điều kiện khan hiếm các nguồn lực Cách hiểu này lúc đầu mang nặng ý nghĩa kinh tế học vì nhấn mạnh yếu tố lợi ích vật chất (lãi, lợi nhuận, thu nhập) nhưng sau này các nhà xã hội học mở rộng phạm vi của mục tiêu bao gồm các yếu tố lợi ích xã hội và tinh thần.[1, tr 354]

Áp dụng vào đề tài nghiên cứu có thể thấy HS THPT khi lựa chọn ngành nghề, chọn trường dự thi cho tương lai của mình cũng phải suy nghĩ để lựa chọn ngành nghề, chọn trường phục vụ lợi ích bản thân Mặc dù có thể có sự tác động của nhiều yếu tố như gia đình, bạn bè, thầy cô, hướng nghiệp trong nhà trường, đặc

Trang 26

điểm của trường CĐ - ĐH có tác động tới nhận thức của HS khi đánh giá tầm quan trọng của nó Tuy nhiên hành vi lựa chọn của học sinh vẫn cần sự cân nhắc bởi họ tính toán về phần thưởng mà mình có thể đạt được

Đây là một thuật ngữ được dùng để nhấn mạnh việc phải cân nhắc, tính toán

để quyết định sử dụng loại phương tiện hay cách thức tối ưu trong số những điều kiện hay cách thức thực hiện để đạt được mục tiêu trong điều kiện của mình

1.1.4 Khái niệm định hướng

+ Định hướng là xác định phương hướng, là việc chủ thể hành động đưa ra một hướng đi với hoạt động nào đó trên cơ sở cân nhắc kỹ khả năng, tài chính của từng đối tượng Mục đích cuối cùng của định hướng là có được một hướng đi phù

hợp với mọi điều kiện, hoàn cảnh khách quan và chủ quan của chủ thể [7, tr 24]

+ Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi quan tâm đến việc những học sinh dựa trên cơ sở những điều kiện của bản thân như năng lực của bản thân, sở thích, các mối quan hệ, sự hiểu biết, tài chính, đặc điểm của trường CĐ - ĐH đã chọn ra cho mình một trường CĐ - ĐH phù hợp với bản thân

1.1.5 Khái niệm nghề nghiệp

Nghề hay nghiệp, theo đại từ điển Tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên, Nxb Văn hoá thông tin - 1998) định nghĩa “ Nghề là công việc chuyên làm theo sự phân công của xã hội”; còn “Nghề nghiệp là nghề nói chung”

Theo từ điển Tiếng Việt (Văn Tân chủ biên, Nxb Khoa học xã hội -1991) thì định nghĩa “Nghề là công việc hàng ngày làm để sinh nhai”, “ Nghề nghiệp là nghề làm để mưu sống” Còn từ điển Larousse của Pháp đưa ra định nghĩa “Nghề nghiệp (profession) là hoạt động thường ngày được thực hiện bởi con người nhằm tự tạo nguồn thu nhập cần thiết để tồn tại”

Theo E.A Klimôp: “Nghề nghiệp là một lĩnh vực sử dụng sức mạnh vật chất

và tinhthần của con người một cách có giới hạn, cần thiết cho xã hội (do sự phân công laođộng xã hội mà có) Nó tạo cho mỗi con người khả năng sử dụng phương tiện cần thiếtcho việc tồn tại và phát triển.[6]

GS.TSKH Nguyễn Văn Hộ lại cho rằng: “ Nghề nghiệp như là một dạng lao động vừa mang tính xã hội (sự phân công xã hội) vừa mang tính cá nhân (nhu cầu bản thân) trong đó con người với tư cách là chủ thể hoạt động đòi hỏi để thoả mãn

Trang 27

những nhu cầu nhất định của xã hội và cá nhân.[6]

Qua một số quan niệm về nghề nghiệp có thể hiểu ngắn gọn, nghề nghiệp là một dạng lao động đòi hỏi ở con người một quá trình đào tạo chuyên biệt, có những kiến thức, kĩnăng, kĩ xảo nhất định, có phẩm chất, đạo đức phù hợp với yêu cầu của dạng lao động tương ứng Nhờ quá trình hoạt động nghề nghiệp, con người có thể tạo

ra sản phẩm thoả mãn những nhu cầu vật chất, tinh thần của cá nhân và xã hội [6]

Như vậy, vận dụng vào đề tài nghiên cứu chúng ta có thể thấy nhà trường có vai trò to lớn không chỉ truyền đạt cho học sinh kiến thức, kĩ năng mà còn giúp học sinh có cái nhìn đúng đắn về nghề nghiệp, biết được năng lực, yêu cầu tâm lí cũng như sức khoẻ phù hợp với ngành nào trong xã hội để từ đó lựa chọn đúng ngành nghề mà thị trường lao động cần

Đi đôi với khái niệm nghề nghiệp là khái niệm việc làm Trong luật lao động quy định tại điều 13: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được nhận là việc làm” Như vậy, hai khái niệm nghề nghiệp và việc làm rất gần nhau, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nhưng không đồng nhất Nghề nghiệp được coi là việc làm nhưng không phải việc làm nào cũng là nghề nghiệp Những việc làm nhất thời, không ổn định do con người bỏ sức lao động giản đơn và được trả công để sinh sống thì không phải là nghề nghiệp

2.1 Một số lý thuyết xã hội học áp dụng trong nghiên cứu cho đề tài

2.1.1 Lý thuyết lựa chọn hợp lý

Lý thuyết lựa chọn duy lý hay còn gọi là lý thuyết lựa chọn hợp lý cho rằng các cá nhân hành động và trong sự lựa chọn là hành động của mình con người luôn hành động một cách có chủ đích để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một cách duy lí nhằm đạt được kết quả tốt nhất

Xã hội học của Georg Simmel đưa ra nguyên tắc “cùng có lợi” của mối tương tác xã hội giữa các cá nhân và cho rằng mỗi cá nhân luôn phải cân nhắc và tính toán thiệt hơn để theo đuổi mục đích cá nhân và thỏa mãn nhu cầu cá nhân Simmel cho rằng mối tương tác giữa người với người đều dựa vào cơ chế “cho – nhận” tức là trao đổi mọi thứ ngang giá nhau

Quá trình lựa chọn duy lý là quá trình tối ưu hóa Các cá nhân cân nhắc tính

Trang 28

toán sử dụng loại phương tiện hoặc những gì mình có thể để đạt được mục tiêu cao nhất Khi lựa chọn các trong số các hành động có thể cá nhân sẽ lựa chọn cách thức theo sơ đồ:

2.1.2 Lý thuyết hành động xã hội

Lý thuyết về hành động xã hội bắt nguồn từ V Pareto, M Weber, F Znaniecki, G Mead… Các tác giả này đều cho rằng, hành động xã hội là cốt lõi của mối quan hệ giữa con người và xã hội, là cơ sở của đời sống xã hội của con người

Theo M Weber, “hành động xã hội là một hành vi mà chủ thể gắn cho ý nghĩa chủ quan nhất định theo “Động cơ” bên trong của chủ thể như là nguyên nhân của hành động Như vậy, bất kỳ hành động xã hội nào cũng có sự tham gia của yếu tố ý thức với các mức độ khác nhau Đây là cái mà M Weber gọi là ý nghĩa chủ quan và sự định hướng mục đích, còn G Mead gọi là tâm thế xã hội của các cá nhân

Hành động xã hội luôn gắn với tính chủ động của cá nhân và tính chủ động này bị quy định bởi hàng loạt các yếu tố như: nhu cầu, lợi ích, định hướng giá trị của chủ thể hành động

Hành động xã hội được cấu trúc nên bởi nhiều thành tố khác nhau, giữa các thành tố này có mối liên quan hữu cơ với nhau theo sơ đồ sau:

Trang 29

Khởi đầu của hành động xã hội bao giờ cũng là nhu cầu, lợi ích của cá nhân, đây là động cơ thúc đẩy hành động Động cơ tạo ra tính tích cực của chủ thể, tham gia định hướng hành động và quy định mục đích của hành động Bất kỳ hành động nào cũng cần có chủ thể Chủ thể hành động có thể là cá nhân, nhóm, cộng đồng hay toàn thể xã hội Ngoài ra, để tạo nên hành động cũng cần có môi trường Đó chính là điều kiện mà ở trong đó hành động được diễn ra Tùy theo từng hoàn cảnh khác nhau mà các chủ thể sẽ tạo ra hành động phù hợp nhất với hoàn cảnh đó

Theo lý thuyết hành động xã hội, có thể thấy rằng việc lựa chọn trường CĐ-

ĐH của học sinh THPT xuất phát từ nhiều yếu tố khác nhau như: hướng nghiệp của nhà trường, tư vấn của cha mẹ, lời khuyên từ bạn bè, thông tin từ các phương tiện truyền thông đại chúng, đặc điểm của trường CĐ - ĐH, song một yếu tố quan trọng không thể không nói đến đó là nhu cầu sở thích của bản thân cá nhân khiến cá nhân quyết định chọn ngành nghề này mà không chọn ngành nghề khác

2.1.3 Lý thuyết xã hội hoá

Neil Smelser, nhà xã hội học Mỹ, định nghĩa “xã hội hoá là quá trình mà

trong đó cá nhân học cách thức hành động tương ứng với vai trò của mình”,[3] để

phục vụ tốt cho việc thực hiện các mô hình hành vi tương ứng với hệ thống vai trò

mà cá nhân phải đóng trong cuộc đời Ở đây, vai trò của cá nhân trong quá trình xã hội hoá chỉ giới hạn trong việc tiếp nhận các kinh nghiệm, giá trị, chuẩn mực mà chưa đề cập tới khả năng cá nhân có thể tạo ra những giá trị, kinh nghiệm, chuẩn mực để xã hội học theo

Một nhà xã hội học khác của Mỹ, Fichter đã xem “xã hội hoá là một quá

trình tương tác giữa người này và người khác, kết quả là một sự chấp nhận những

Hoàn cảnh

phương tiện

Mục đích

Trang 30

khuôn mẫu hành động và thích nghi với những khuôn mẫu hành động đó”[3] Định

nghĩa này đã chú ý hơn đến tính tích cực của cá nhân trong quá trình xã hội hoá

Định nghĩa của nhà khoa học người Nga, G Andreeva đã nêu được cả hai

mặt của quá trình xã hội hoá: “xã hội hoá là quá trình hai mặt Một mặt, cá nhân

tiếp nhận kinh nghiệm xã hội bằng cách thâm nhập vào môi trường xã hội, vào hệ thống các quan hệ xã hội Mặt khác, cá nhân tái sản xuất một cách chủ động hệ thống các mối quan hệ xã hội thông qua chính việc họ tham gia vào các hoạt động

và thâm nhập vào các mối quan hệ xã hội” [3, tr 258 - 259].Theo định nghĩa này,

cá nhân trong quá trình xã hội hoá không đơn thuần nhận kinh nghiệm xã hội mà còn chuyển hoá nó thành những giá trị, tâm thế, xu hướng của cá nhân để tham gia tái tạo, “tái sản xuất” chúng trong xã hội

Lý thuyết xã hội hoá cũng đề cập đến môi trường xã hội hoá, đó là nơi cá

nhân có thể thực hiện các tương tác xã hội của mình nhằm mục đích thu nhận và tái tạo kinh nghiệm xã hội Các môi trường xã hội hoá chủ yếu thường được kể đến là gia đình, trường học và các tổ chức trước tuổi đi học, các nhóm thành viên và thông tin đại chúng

1 Gia đình: Đây là môi trường xã hội hoá quan trọng bậc nhất của cá nhân

bởi mỗi cá nhân đều sinh ra và lớn lên trong gia đình Mỗi gia đình có một tiểu văn hoá riêng được xây dựng trên nền tảng của văn hoá chung của xã hội và được tạo thành bởi nền giáo dục gia đình, truyền thống gia đình, lối sống của gia đình Các

cá nhân sẽ tiếp nhận các giá trị, chuẩn mực của tiểu văn hoá này

Môi trường gia đình được tiếp cận trong nghiên cứu này dưới các khía cạnh kinh tế gia đình (tự đánh giá), và nghề nghiệp của cha mẹ… Tất cả được xem như những nhân tố tác động đến nhận thức, nhu cầu của HS trong việc lựa chọn trường

2 Trường học: Trong nhà trường, các cá nhân thu nhận những kiến thức

khoa học cơ bản về tự nhiên và xã hội, các kiến thức văn hoá chủ yếu làm nền tảng cho cuộc sống sau này

Trong nghiên cứu này, trường học được tiếp cận như một kênh cung cấp thông tin về kì thi tuyển sinh CĐ – ĐH hàng năm Trường học cũng được xem như

là một yếu tố tác động đến nhận thức của học sinh trong vấn đề lựa chọn ngành nghề và chọn trường CĐ – ĐH

Trang 31

3 Các nhóm thành viên/Nhóm bạn bè: Các nhóm này có ý nghĩa rất quan

trọng trong việc cá nhân thu nhận các kinh nghiệm xã hội theo cả con đường chính thức và không chính thức, tức là không phải chỉ qua những bài giảng, các phương tiện thông tin đại chúng mà cả qua kênh giao tiếp cá nhân

Nhóm thành viên, bạn bè cũng được xem xét như một nhân tố môi trường quan trọng có tác động đến nhận thức, lựa chọn trường thi CĐ – ĐH của học sinh THPT

4 Thông tin đại chúng: Trong xã hội hiện đại, chúng ta không thể bỏ qua vai trò

của các phương tiện thông tin đại chúng như báo, đài, vô tuyến truyền hình và các loại phương tiện thông tin khác, trong quá trình xã hội hoá cá nhân Hiện nay các phương tiện thông tin đại chúng là kênh cung cấp thông tin chủ yếu cho các cá nhân Đồng thời chúng cũng sẽ cung cấp cho các cá nhân những định hướng, quan điểm đối với các sự kiện và những vấn đề xảy ra trong cuộc sống hàng ngày [3, tr.257-262]

Các nhà xã hội học khi nghiên cứu về các giai đoạn của quá trình xã hội hoá

đã chỉ ra rằng, xã hội hoá ở lứa tuổi thanh niên là giai đoạn vô cùng quan trọng vì lứa tuổi này là lúc tốt nhất để kiểm nghiệm những tri thức thu nhận thụ động qua hoạt động thực tiễn Những kinh nghiệm xã hội cũng được bổ sung qua quá trình lao động Cá nhân lúc này đã có thể phán xét, đánh giá về các giá trị chuẩn mực mà

họ phải tuân thủ, cân nhắc xem lựa chọn như thế nào là có lợi nhất để làm theo

Mặt khác, theo lý thuyết về xã hội hoá của nhà xã hội học và tâm lý học xã hội người Nga – G Andreeva, học sinh là những người đang trong giai đoạn bước đệm giữa giai đoạn trước lao động và giai đoạn lao động Đặc thù của độ tuổi này là tính năng động và dễ thích ứng với cái mới Xét về mặt định hướng giá trị, hệ giá trị của nhóm học sinh đang trong giai đoạn định hình, chính vì vậy nó cũng dễ bị thay đổi [3, tr.257-262]

Mỗi cá nhân, trong quá trình phát triển của mình sẽ tiếp thu tri thức, học tập các giá trị chuẩn mực theo hai kênh chính thức (trường học) và không chính thức (gia đình, bạn bè, truyền thông đại chúng…) Nhận thức, nhu cầu và các yếu tố tác động đến việc lựa chọn trường thi CĐ - ĐH của mỗi cá nhân học sinh chịu ảnh hưởng rất nhiều từ những khuôn mẫu, chuẩn mực giá trị của gia đình, cộng đồng xã hội Như vậy, có thể thấy lý thuyết xã hội hoá rất có ý nghĩa trong việc giải thích nguyên nhân của quá trình nhận thức, nhu cầu và lựa chọn của cá nhân Trong

Trang 32

nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng lý thuyết xã hội hoá để tìm hiểu và lý giải những yếu tố môi trường sống xung quanh (gia đình, nhà trường và xã hội) tác động như thế nào đến nhận thức, nhu cầu và sự lựa chọn thi vào các trường CĐ - ĐH của học sinh THPT

1.3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

Việt Yên là huyện trung du của tỉnh Bắc Giang Xuôi theo Quốc lộ 1A cũ, rẽ sang quốc lộ 37 đi khoảng 10 km, bạn sẽ tới trung tâm huyện lỵ là thị trấn Bích Động Việt Yên cách thủ đô Hà Nội chỉ 40 cây số theo quốc lộ 1A cũ, có tuyến đường sắt Hà Nội- Lạng Sơn chạy qua, thuận lợi cho việc giao lưu thương mại Chính vì vậy, địa bàn Việt Yên được xây dựng khu công nghiệp lớn nhất của tỉnh Bắc Giang

● Vài nét về địa bàn nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài này tác giả chọn trường THPT Việt Yên 1 thuộc địa bàn của huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang là địa bàn để nghiên cứu Việt Yên 1 là trường chuẩn của huyện, tỉ lệ học sinh thi vào cấp 3 với điểm chuẩn hàng năm cao nhất trong số các trường THPT trực thuộc huyện Trường THPT Việt Yên 1 với vị trí nằm ở ngay trung tâm văn hóa – chính trị của thị trấn, trình độ dân trí cao

Trường THPT Việt Yên 1 được thành lập vào năm 1966, theo Quyết định số

772 TCDC ngày 05 tháng 05 năm 1966 của Uỷ Ban hành chính tỉnh Hà Bắc Với tên gọi ban đầu là trường Cấp III Việt Yên Lịch sử phát triển của trường trải qua nhiều tên gọi: năm 1981 có tên là trường PTTH Việt Yên, năm 1993 là trường THPT Việt Yên, đến năm 1994 có tên là trường THPT Việt Yên I như hiện nay Đến nay nhà trường đã trải qua 47 năm xây dựng và trưởng thành Từ 03 lớp với

148 học sinh và 14 thầy, cô giáo đến nay nhà trường đã có 1541 học sinh với 92 thầy, cô Quy mô nhà trường được mở rộng, chất lượng giáo dục đào tạo được nâng lên, số học sinh thi đỗ vào các trường CĐ - ĐH hàng năm ở mức cao Năm học

2007 - 2008 và 2010 -2011 nhà trường được xếp vào tốp 200 trường THPT có điểm trung bình thi CĐ – ĐH cao nhất trên toàn quốc Đội ngũ cán bộ giáo viên đoàn kết, thống nhất, không ngừng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, được đào tạo chuẩn và trên chuẩn đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của GD - ĐT trong giai

đoạn hiện nay xứng đáng là địa chỉ tin cậy trong sự nghiệp “Trồng người” của Đảng

Trang 33

bộ và nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang

Được sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, chính quyền, Sở GD - ĐT Bắc Giang, trong những năm qua trường THPT Việt Yên 1 đã làm tốt công tác đào tạo mũi nhọn, bồi dưỡng học sinh giỏi, học sinh đại trà nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, nhà trường luôn chú trọng công tác khuyến học, khuyến tài nhằm động viên, khích lệ các tập thể, cá nhân đạt được nhiều thành tích trong công tác GD - ĐT Nhà trường lấy chất lượng giáo dục toàn diện làm nền tảng, đầu tư có chiến lược và trọng điểm cho công tác giáo dục mũi nhọn, quan tâm đến công tác phát hiện, tuyển chọn và bồi dưỡng giáo viên dạy giỏi, học sinh có năng khiếu làm nòng cốt cho nhà trường và ngành giáo dục tỉnh Bắc Giang

Với bề dày truyền thống, trong những năm qua các thế hệ thày và trò trường THPT Việt Yên 1 đã không ngừng nỗ lực phấn đấu, hoàn thành tốt các nhiệm vụ, mục tiêu giáo dục đặt ra Chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường phát triển một cách vững chắc Tỷ lệ tốt nghiệp hàng năm bình quân trên 99%, chất lượng mũi nhọn từng bước được nâng cao, tỷ lệ học sinh thi đỗ các trường CĐ – ĐH hàng năm đạt trên 70% Đứng trong tốp 3 trường chất lượng cao trên toàn tỉnh

Các thành tích được công nhận:

- Năm 2000 nhận bằng khen của Bộ GD&ĐT

- Năm 2002 nhận bằng khen của Thủ tướng Chính phủ

- Năm 2006 được công nhận trường chuẩn quốc gia giai đoạn 2004 - 2010

- Năm 2004 nhận Huân chương lao động hạng ba

- Năm học 2004 : được Uỷ ban nhân dân Tỉnh khen

- Năm 2011 nhà trường được Nhà nước tặng Huân chương Lao động Hạng nhì

- Năm 2013 nhà trường được công nhận lại trường đạt Chuẩn quốc gia Cơ

sở vật chất nhà trường thường xuyên được bổ sung, nâng cấp

● Đội ngũ cán bộ và nhân viên của trường

Hiện tại trường có tổng số giáo viên, cán bộ quản lý và nhân viên của trường

là 92 người, trong đó có 1 hiệu trưởng, 2 hiệu phó, 7 nhân viên hành chính, 82 giáo viên Về trình độ đội ngũ cán bộ, trường có 13 giáo viên đạt trình độ thạc sĩ và 79 giáo viên và nhân viên còn lại có trình độ đại học

Trang 34

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG NHẬN THỨC, NHU CẦU TRONG VIỆC LỰA CHỌN TRƯỜNG CAO ĐẲNG – ĐẠI HỌC CỦA HỌC SINH THPT

2.1 Nhận thức của học sinh THPT về vấn đề lựa chọn trường CĐ - ĐH

Kỳ thi tuyển sinh CĐ - ĐH đang tới gần, việc lựa chọn trường CĐ - ĐH đang

là một quyết định khó với các em HS Điều này đòi hỏi phải có sự tìm hiểu kỹ lưỡng, sở thích và đánh giá đúng khả năng học tập của chính mình Hiện nay, HS THPT có nhận thức như thế nào trong việc lựa chọn cho mình một tương lai nghề nghiệp sau này Chúng tôi tiến hành khảo sát 300 HS lớp 12 trường THPT Việt Yên

1 để hiểu rõ hơn nhận thức của các em về sự cần thiết phải xác định trường thi CĐ –

ĐH, thời điểm học sinh xác định việc lựa chọn trường CĐ – ĐH, đánh giá về cơ

hội, khả năng thi đỗ CĐ - ĐH của học sinh THPT hiện nay

2.1.1 Nhận thức của học sinh về sự cần thiết xác định trường dự thi CĐ - ĐH

Học sinh THPT nói chung và học sinh lớp 12 nói riêng là lứa tuổi bắt đầu bước vào ngưỡng cửa của cuộc đời Một cuộc sống tương lai đầy hấp dẫn, lý thú song cũng đầy bí ẩn và khó khăn đang chờ đợi các em Ở độ tuổi của các em HS lớp

12 đã có những suy nghĩ chín chắn hơn khi quyết định kế hoạch đường đời cho mình Khảo sát 300 học sinh về việc đánh giá như thế nào về mức độ cần thiết của việc xác định trường thi CĐ - ĐH chúng tôi thu nhận được kết quả sau:

Có tới 82,3% số học sinh trả lời việc xác định trường thi là cần thiết, với việc các em xác định được trường dự thi CĐ - ĐH sắp tới, các em sẽ có sự chuẩn bị kỹ lưỡng trong học tập để nâng cao kiến thức trình độ và kỹ năng của bản thân mình, các em sẽ có nhiều thời gian để tìm hiểu về ngành nghề mình lựa chọn Đối với những em chọn trường CĐ - ĐH dự thi môn năng khiếu, các em sẽ đầu tư nhiều thời gian hơn để học tập và nghiên cứu kỹ về môn học này

“ Em xác định sẽ thi Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh nên ngay từ đầu

năm em đã tham gia các lớp tập thể lực để chuẩn bị cho môn thi năng khiếu” (PVS

5 Học sinh nam, học lực khá)

Trang 35

Có cần thiết Không cần thiết Chưa biết

Biểu đồ 2.1: Nhận thức của học sinh về sự cần thiết của việc xác định

trường dự thi CĐ – ĐH (đơn vị:%)

(Nguồn: kết quả xử lý phiếu điều tra)

Vẫn còn một tỷ lệ 13.3% học sinh trả lời không cần thiết trong việc xác định trường dự thi CĐ – ĐH, có 4,3% học sinh trả lời chưa biết Tại thời điểm khảo sát là cuối học kỳ I chuẩn bị sang kỳ II của năm học cuối cấp, tuy nhiên số HS này vẫn chưa xác định được trường dự thi là cần thiết Điều này cho thấy số HS này vẫn bị động trong việc lựa chọn nghề nghiệp cho bản thân mình

Hầu hết HS đều nhận thấy việc xác định trường dự thi CĐ - ĐH là rất cần thiết chiếm số lượng rất cao bởi khi đó các em sẽ có nhiều thời gian dành cho ôn luyện chuẩn bị hành trang kiến thức để bước vào kỳ thi tuyển sinh quan trọng nhất cuộc đời mà không bị phân tán hay phải suy nghĩ quá nhiều ở thời gian cuối khi đăng ký ghi danh chọn trường

Khối A Khối A1 Khối B Khối C Khối D Khối M Khối

khác

Biểu đồ 2.2: Khối dự thi CĐ – ĐH của học sinh (đơn vị: %)

(Nguồn: kết quả xử lý phiếu điều tra)

Trang 36

Nhìn vào đồ thị 2.2 thấy rằng, 3 khối thi được phần nhiều học sinh lựa chọn

là A, D, và B, tỷ lệ lần lượt là 53%, 32,3%, và 28,3% Sở dĩ có sự tập trung trong lựa chọn khối thi như vậy là vì theo các em, hầu hết các trường CĐ - ĐH hiện nay đều có ngành dự thi là 3 khối này và do đó đồng nghĩa với việc các em có nhiều sự lựa chọn để đăng ký dự thi trong đợt tuyển sinh sắp tới

“Học kinh tế là sở thích của em Nó phổ biến, dễ kiếm tiền, phù hợp với con

gái Công việc này cũng dễ xin việc nên em lựa chọn thi khối A” (PVS 2 Học sinh

nữ, học lực khá)

Một lý do nữa, HS lựa chọn nhiều ở 2 khối A và D, hay A và B là các em có thể thi hai khối vì thời điểm thi hai khối ĐH là khác nhau Hiện nay, Bộ GD&ĐT tổ chức thi tuyển sinh ĐH theo 2 đợt - đợt 1: (ngày 4 – 5 tháng 07), cho các khối A, A1 và V; và đợt 2: (ngày 9 – 10 tháng 07) là các khối B, C, D và các khối năng khiếu

Do đó, các em học sinh có nhiều sự lựa chọn hơn cho mình, có rất nhiều học sinh chọn thi cả 2 khối là khối A và khối B, hay khối A và khối D

“Em thi khối A đợt 1, và đợt 2 em thi khối D Lỡ trượt trường này em còn trường khác nữa” (PSV 2 Học sinh nữ , học lực khá)

Ở hai khối C, M học sinh có sự lựa chọn ít, nhiều trường CĐ - ĐH các ngành học không thi khối C, khối M và theo suy nghĩ của các em thì học khối C ra trường khó xin việc làm, thu nhập thấp

“Chị gái em học khối C, thi vào trường ĐH Công Đoàn ra trường xin việc phải chạy vạy nhờ vả khắp nơi mà công việc không đúng chuyên ngành học, thu nhập lại thấp nên rút kinh nghiệm em chuyển sang khối A để thi được nhiều trường hơn.” (PSV 2 Học sinh nữ , học lực khá)

Điều dễ nhận thấy là HS lựa chọn nhiều ở khối A, D, B mà theo lý giải của các em là dễ tìm cho mình trường CĐ - ĐH để dự thi hơn, đồng thời các em có thể thi được cả 2 khối là khối A và khối B, hay khối A và khối D trong kỳ thi CĐ - ĐH thì cơ may đỗ ĐH sẽ được nhân đôi vì thế những học sinh có năng khiếu về môn học thuộc các khối khác nhau đã quyết định ôn cả 2 khối

2.1.2 Thời điểm học sinh suy nghĩ về việc lựa chọn trường CĐ - ĐH

Kết quả khảo sát cho thấy, mỗi học sinh có nhận thức và suy nghĩ về lựa chọn trường thi ở những thời điểm khác nhau tuỳ theo sở thích, nguyện vọng của

Trang 37

mỗi cá nhân Cụ thể là: phần lớn học sinh (khoảng 2/5 số học sinh trong mẫu khảo sát) bắt đầu nghĩ đến việc lựa chọn trường thi CĐ - ĐH ở thời điểm hiện tại khi đang học lớp 12 Việc lựa chọn trường thi CĐ - ĐH cũng được các em suy nghĩ, cân nhắc từ khi học lớp 11 và lớp 10 với tỷ lệ lần lượt là 27,0% và 22,3%, chỉ có một tỷ

lệ nhỏ dưới 10% học sinh có suy nghĩ về việc lựa chọn trường thi CĐ - ĐH từ trước

khi vào lớp 10 (Xem Biểu đồ 2.3)

7.7

1.7

41.3

27.0 22.3

Biểu đồ 2.3: Thời điểm học sinh suy nghĩ chọn trường thi CĐ – ĐH (đơn vị: %)

(Nguồn: kết quả xử lý phiếu điều tra)

Biểu đồ 2.3 cũng cho thấy vẫn có 1,7% học sinh chưa có ý định gì trong việc chọn trường CĐ - ĐH để thi Qua trao đổi với HS chúng tôi được biết tỷ lệ HS chưa

có dự định gì trong việc lựa chọn trường thi thường rơi vào các em có học lực trung bình, yếu hay những học sinh cá biệt không tin vào khả năng của bản thân có vượt qua được kỳ thi tốt nghiệp THPT hay không nên chưa dám nghĩ tới chọn trường

CĐ, ĐH để dự thi

Như vậy, hầu hết HS đã có suy nghĩ về chọn trường thi, nhưng khi xét theo mức độ thì các em có suy nghĩ về vấn đề này hơi muộn, tức là có số đông các em đến lớp 12 khi chuẩn bị làm hồ sơ đăng ký dự thi mới suy nghĩ đến việc chọn trường cho mình, nghĩa là số đông học sinh THPT vẫn chưa có sự chuẩn bị sớm cho việc chọn nghề nghiệp cho mình Điều này chứng tỏ sự bị động trong phần lớn học sinh THPT, bởi lẽ học sinh ở thời điểm lớp 12 mới suy nghĩ tới việc chọn trường thì

Trang 38

các em không có đủ thời gian để tìm hiểu kỹ ngành nghề mà mình chọn để theo học sau này Hậu quả là, đến thời điểm đăng ký hồ sơ, các em mới vội vàng trong việc chọn ngành, chọn trường này cũng đồng nghĩa với xác suất rủi ro sẽ rất lớn Câu hỏi đặt ra là công tác hướng nghiệp, phân luồng cho các em học sinh THPT hiện nay như thế nào? Bởi nếu làm tốt công tác định hướng nghề nghiệp cho các em thì học sinh THPT sẽ có những lựa chọn và suy nghĩ từ sớm thì sẽ có những hành vi chuẩn

bị kỹ lưỡng hơn cho nghề nghiệp tương lai về các mặt như: kiến thức các môn học

để thi vào ngành đó, kiến thức về nghề, các đòi hỏi lien quan đến nghề như trình độ anh văn, vi tính… còn nếu các em có suy nghĩ muộn thì sẽ gây khó khăn cho các

em trong việc tìm hiểu nghề, tham khảo các thông tin liên quan đến nghề nghiệp, chuẩn bị kiến thức cho nghề, tìm hiểu về các ngành nghề đào tạo trong các trường

CĐ - ĐH, thậm chí có nhiều em không tìm hiểu kỹ về ngành nghề dẫn đến chán nản

và bỏ học khi không thấy phù hợp

2.1.3 Tự đánh giá về cơ hội, khả năng thi đỗ CĐ – ĐH của học sinh THPT

Kỳ thi tuyển sinh CĐ – ĐH hàng năm luôn là kỳ thi cam go nhất, quyết định tương lai của các em học sinh THPT Hiện nay, rất nhiều em cảm thấy hoang mang

lo lắng về cơ hội trúng tuyển của mình, bên cạnh đó những em chắc kiến thức lại rất

tự tin để lựa chọn cho mình vào một trường ĐH phù hợp với thực lực, sở thích, đam

mê của mình

Việc đánh giá được mức độ khó khăn của thi tuyển sinh CĐ – ĐH sẽ tạo ra mục tiêu, động lực để các em phấn đấu học tập tốt hơn để thi được vào các trường Khi được hỏi “thi CĐ – ĐH có khó không” thì đa phần học sinh đều có suy nghĩ thi CĐ – ĐH là rất khó Số lượng HS trả lời rất khó chiếm 46,3%, khó chiếm 33,3% Trong mẫu khảo sát, chỉ có số ít (4,3 %) học sinh cho rằng thi CĐ - ĐH dễ, 10,7% cho rằng tương đối dễ Con số này phần nào cho thấy sự tự tin của những em học sinh này đối với

kỳ thi CĐ - ĐH sắp tới

Vẫn còn 4,7% số học sinh trả lời không biết thi CĐ – ĐH khó hay dễ Điều này có thể do, những học sinh này vẫn chưa hoàn toàn tin tưởng vào bản thân mình, các em vẫn còn mơ hồ về khối lượng kiến thức của bản thân cũng như thông tin thi

CĐ – ĐH sắp tới

Trang 39

4.3 11.3

46.3

33.3

4.7

Dễ Tương đối dễ Khó

Tương đối khó Không biết

Biểu đồ 2.4: Tự đánh giá của học sinh về mức độ khó của thi tuyển sinh CĐ - ĐH

(đơn vị: %)

(Nguồn: kết quả xử lý phiếu điều tra)

Để làm rõ hơn thực lực cũng như kết quả học tập 12 năm của các em HS lớp

12, chúng tôi tiến hành đánh giá cơ hội và khả năng thi đỗ CĐ – ĐH sắp tới của các

em HS Với số lượng 300 phiếu khảo sát chúng tôi thu về được kết quả như sau:

Trang 40

Biểu đồ 2.5 thì có tới 56,3% HS không chắc chắn và không biết khả năng thi

đỗ của mình trong kỳ thi CĐ – ĐH sắp tới Điều này thể hiện rõ các em không tự tin

về năng lực, kiến thức và khả năng của mình để thi đại học, tuy nhiên vẫn làm hồ sơ

để dự thi

“Em thi ĐH cho biết, theo bạn bè và theo nguyện vọng của bố mẹ thôi Em không tự tin về kiến thức của mình cho kỳ thi ĐH năm nay” (PVS 1 Học sinh nam, học lực trung bình)

Theo bản tin cập nhật của thị trường lao động quý I – 2014 do Bộ LĐ -TB

&XH cùng Tổng cục Thống kê công bố, trong quý IV-2013, cả nước có 900.000 người thất nghiệp (tăng 48.000 người so với cùng kỳ 2012) và hơn 1,2 triệu lao động trong độ tuổi thiếu việc làm Đặc biệt, nhóm thanh niên từ 20-24 tuổi tốt nghiệp CĐ – ĐH trở lên (sinh viên mới ra trường) có tỷ lệ thất nghiệp rất cao, lên tới 20,75% [27] Đây là một con số đáng báo động đối với những cử nhân có bằng cấp ĐH Câu hỏi được đặt ra đại học có phải là con đường duy nhất dẫn đến thành công hay không? Mặc dù hiện nay, cử nhân thất nghiệp rất nhiều, số tìm được việc làm phần lớn cũng chỉ là những công việc “đủ ăn”, chứng tỏ con đường này không

hề bằng phẳng, nhưng người ta vẫn “đổ xô” thi đại học Có lẽ cả xã hội, nhà trường, gia đình, bạn bè và chính bản thân HS còn quá đề cao tấm bằng đại học và đánh giá thấp những con đường học nghề và học nghề dường như chưa tỏ ra đủ sức thuyết phục trước HS và xã hội Nếu các em được định hướng nghề nghiệp, chọn nghề phù hợp với năng lực bản thân, phù hợp với nhu cầu của xã hội thì thì có thể tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm đáng kể

Hiện nay, nhận thức của các em về thi CĐ – ĐH còn khá đơn giản, các em không tự lượng được sức học, khả năng của bản thân để tìm con đường học nghề phù hợp Do tư duy của nhiều gia đình chưa thể thoát khỏi suy nghĩ “đại học là con đường duy nhất để thành công” nên họ không có được sự định hướng đúng đắn cho con em mình

Hơn nữa, với tâm lý muốn thoát ly lao động chân tay nặng nhọc nên nhiều học sinh không kể đến năng lực của bản thân, không cần quan tâm đến nhu cầu của

xã hội mà cứ nhất quyết nộp hồ sơ dự thi vào các trường ĐH, còn nếu vào học nghề

Ngày đăng: 31/03/2015, 14:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Đình Chiến (2008), “Xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của học sinh lớp 12 trường THPT dưới ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường”, (khảo sát tại tỉnh Phú Thọ), Luận văn thạc sĩ Giáo dục học, Trường Đại học Sư Phạm, Đại học Thái Nguyên ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của học sinh lớp 12 trường THPT dưới ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường"”, ("khảo sát tại tỉnh Phú Thọ
Tác giả: Trần Đình Chiến
Năm: 2008
2. Phạm Huy Cường (2009), Các yếu tố tác động đến định hướng nghề nghiệp của sinh viên năm cuối các ngành khoa học xã hội (Nghiên cứu trường hợp trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn), Luận văn thạc sĩ Xã hội học, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố tác động đến định hướng nghề nghiệp của sinh viên năm cuối các ngành khoa học xã hội (Nghiên cứu trường hợp trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn)
Tác giả: Phạm Huy Cường
Năm: 2009
3. Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng (1997), Xã hội học đại cương, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học đại cương
Tác giả: Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1997
4. Phạm Tất Dong (chủ biên) - Đặng Danh Ánh - Nguyễn Thế Trường - Trần Mai Thu - Nguyễn Dục Quang, Hoạt động giáo dục hướng nghiệp lớp 10, Nhà xuất bản Giáo dục, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động giáo dục hướng nghiệp lớp 10
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
6. Nguyễn Văn Hộ (Chủ biên), Nguyễn Thị Thanh Huyền (2006), Hoạt động hướng nghiệp và giảng dạy kỹ thuật trong trường trung học phổ thông, Nhà xuất bản giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động hướng nghiệp và giảng dạy kỹ thuật trong trường trung học phổ thông
Tác giả: Nguyễn Văn Hộ (Chủ biên), Nguyễn Thị Thanh Huyền
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
Năm: 2006
7. Lê Ngọc Hùng, Lịch sử và lí thuyết xã hội học, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử và lí thuyết xã hội học
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia
8. Nguyễn Hùng (chủ biên) (2008), Sổ tay tư vấn hướng nghiệp và chọn nghề, Nhà xuất bản giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay tư vấn hướng nghiệp và chọn nghề
Tác giả: Nguyễn Hùng (chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
Năm: 2008
10. Phạm Văn Quyết, Nguyễn Quý Thanh (2001), Phương pháp nghiên cứu xã hội học, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu xã hội học
Tác giả: Phạm Văn Quyết, Nguyễn Quý Thanh
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
11. Trần Văn Quý, Cao Thi Hào (2009),“Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường Đại học của học sinh phổ thông trung học”. Tạp chí phát triển Sách, tạp chí
Tiêu đề: ),“Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường Đại học của học sinh phổ thông trung học”
Tác giả: Trần Văn Quý, Cao Thi Hào
Năm: 2009
14. Phan Thị Tố Oanh (1996) “Nghiên cứu nhận thức nghề và dự định chọn nghề của học sinh phổ thông trung học”, Luận án Phó Tiến Sĩ khoa học sư phạm – tâm lý học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu nhận thức nghề và dự định chọn nghề của học sinh phổ thông trung học
15. Lê Khắc Thìn (1998) “Tìm hiểu thực trạng lựa chọn nghề nghiệp của học sinh lóp 12 và công tác hướng nghiệp ở trường THPT ”, Luận văn thạc sĩ tâm lý học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu thực trạng lựa chọn nghề nghiệp của học sinh lóp 12 và công tác hướng nghiệp ở trường THPT
16. Nguyễn Phương Toàn (2011) “Khảo sát các yếu tố tác động đến việc chọn trường của học sinh lớp 12 THPT trên địa bàn tỉnh Tiền Giang ” Luận văn thạc sĩ - đo lường và đánh giá giáo dục, Viện đảm bảo chất lượng giáo dục, Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát các yếu tố tác động đến việc chọn trường của học sinh lớp 12 THPT trên địa bàn tỉnh Tiền Giang
20. Trung tâm Từ điển, “Từ điển tiếng Việt”, Nhà xuất bản Đà Nẵng - 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Từ điển tiếng Việt”
Nhà XB: Nhà xuất bản Đà Nẵng - 1998
22. Borchert M(2002), Career choice factorsof highschool students, University of Wisconsin-Stout,USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Career choice factorsof highschool students
Tác giả: Borchert M
Năm: 2002
23. Bromley H. Kniveton (2004), Influences and motivations on which students base their choice of career, Loughborough University, UK Sách, tạp chí
Tiêu đề: Influences and motivations on which students base their choice of career
Tác giả: Bromley H. Kniveton
Năm: 2004
24. ChapmanD.W(1981),“ A model of student college choice”, The Journal of Higher Education, 52(5),490-505 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A model of student college choice"”, The Journal of Higher Education
Tác giả: ChapmanD.W
Năm: 1981
25. Joseph Sia Kee Ming (2010), “Institutional Factors Influencing Students’ College Choice Decision in Malaysia: A Conceptual Framework”, International Journal of Business and Social Science, Vol. 1 No. 3; December 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Institutional Factors Influencing Students’ College Choice Decision in Malaysia: A Conceptual Framework”, "International Journal of Business and Social Science
Tác giả: Joseph Sia Kee Ming
Năm: 2010
26. Mei Tang, Wei Pan, Mark D. Newmeyer (2008), Factors influencing High School student’s career aspriations, University of Cincinnati, USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Factors influencing High School student’s career aspriations
Tác giả: Mei Tang, Wei Pan, Mark D. Newmeyer
Năm: 2008
27.RuthE.Kallio(1995), Factors influencing the college choice decisions of graduate students. Researchin HigherEducation,Vol.36,No.1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Factors influencing the college choice decisions of graduate students. Researchin HigherEducation
Tác giả: RuthE.Kallio
Năm: 1995
5. Nguyễn Thị Vân Hạnh : Tạp chí khoa học giáo dục số 16, tháng 12/2007 : Nhu cầu học nghề của học sinh phổ thông Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Phân bố mẫu nghiên cứu theo giới tính, kết quả học tập của học sinh, - Nhận thức, nhu cầu và các yếu tố tác động đến lựa chọn trường Cao đẳng - Đại học của học sinh THPT hiện nay (Nghiên cứu trường hợp tại trường THPT Việt Yên I
Bảng 1 Phân bố mẫu nghiên cứu theo giới tính, kết quả học tập của học sinh, (Trang 22)
Bảng 2.1  : Dự định của học sinh sau khi tốt nghiệp THPT - Nhận thức, nhu cầu và các yếu tố tác động đến lựa chọn trường Cao đẳng - Đại học của học sinh THPT hiện nay (Nghiên cứu trường hợp tại trường THPT Việt Yên I
Bảng 2.1 : Dự định của học sinh sau khi tốt nghiệp THPT (Trang 43)
Bảng 2.2 : Các nguồn tìm kiếm thông tin về thi CĐ - ĐH của học sinh - Nhận thức, nhu cầu và các yếu tố tác động đến lựa chọn trường Cao đẳng - Đại học của học sinh THPT hiện nay (Nghiên cứu trường hợp tại trường THPT Việt Yên I
Bảng 2.2 Các nguồn tìm kiếm thông tin về thi CĐ - ĐH của học sinh (Trang 50)
Bảng 3.1: Đánh giá mức độ quan trọng của lý do lựa chọn trường thi CĐ – ĐH - Nhận thức, nhu cầu và các yếu tố tác động đến lựa chọn trường Cao đẳng - Đại học của học sinh THPT hiện nay (Nghiên cứu trường hợp tại trường THPT Việt Yên I
Bảng 3.1 Đánh giá mức độ quan trọng của lý do lựa chọn trường thi CĐ – ĐH (Trang 57)
Bảng 3.2: Tương quan giới tính và lựa chọn các nhóm trường CĐ – ĐH - Nhận thức, nhu cầu và các yếu tố tác động đến lựa chọn trường Cao đẳng - Đại học của học sinh THPT hiện nay (Nghiên cứu trường hợp tại trường THPT Việt Yên I
Bảng 3.2 Tương quan giới tính và lựa chọn các nhóm trường CĐ – ĐH (Trang 60)
Bảng 3.3:  Giới tính và dự định sau tốt nghiệp THPT - Nhận thức, nhu cầu và các yếu tố tác động đến lựa chọn trường Cao đẳng - Đại học của học sinh THPT hiện nay (Nghiên cứu trường hợp tại trường THPT Việt Yên I
Bảng 3.3 Giới tính và dự định sau tốt nghiệp THPT (Trang 62)
Bảng 3.4 : Tương quan giữa học lực và chọn nhóm trường thi CĐ – ĐH - Nhận thức, nhu cầu và các yếu tố tác động đến lựa chọn trường Cao đẳng - Đại học của học sinh THPT hiện nay (Nghiên cứu trường hợp tại trường THPT Việt Yên I
Bảng 3.4 Tương quan giữa học lực và chọn nhóm trường thi CĐ – ĐH (Trang 64)
Bảng 3.5: Tương quan giữa nghề nghiệp của bố mẹ và chọn nhóm trường CĐ - ĐH - Nhận thức, nhu cầu và các yếu tố tác động đến lựa chọn trường Cao đẳng - Đại học của học sinh THPT hiện nay (Nghiên cứu trường hợp tại trường THPT Việt Yên I
Bảng 3.5 Tương quan giữa nghề nghiệp của bố mẹ và chọn nhóm trường CĐ - ĐH (Trang 69)
Bảng 3.6 : Tương quan giữa kinh tế gia đình và dự định sau tốt nghiệp THPT - Nhận thức, nhu cầu và các yếu tố tác động đến lựa chọn trường Cao đẳng - Đại học của học sinh THPT hiện nay (Nghiên cứu trường hợp tại trường THPT Việt Yên I
Bảng 3.6 Tương quan giữa kinh tế gia đình và dự định sau tốt nghiệp THPT (Trang 71)
Bảng 3.7 : Mức độ ảnh hưởng của đặc điểm trường CĐ – ĐH tới sự lựa chọn của học sinh - Nhận thức, nhu cầu và các yếu tố tác động đến lựa chọn trường Cao đẳng - Đại học của học sinh THPT hiện nay (Nghiên cứu trường hợp tại trường THPT Việt Yên I
Bảng 3.7 Mức độ ảnh hưởng của đặc điểm trường CĐ – ĐH tới sự lựa chọn của học sinh (Trang 82)
Bảng 3.8:  Đánh giá mức độ của các kênh thông tin tác động đến lựa chọn trường thi CĐ – ĐH - Nhận thức, nhu cầu và các yếu tố tác động đến lựa chọn trường Cao đẳng - Đại học của học sinh THPT hiện nay (Nghiên cứu trường hợp tại trường THPT Việt Yên I
Bảng 3.8 Đánh giá mức độ của các kênh thông tin tác động đến lựa chọn trường thi CĐ – ĐH (Trang 84)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm