DANH MỤC BIỂU Biểu đồ 2.3 Mức độ hiểu biết về những việc làm liên quan đến ngành học 33 Biểu đồ 3.3 Sự năng động của sinh viên trong tiếp cận việc làm 61 Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ sinh viên tiếp
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HOÀNG THỊ PHƯƠNG
NGHỀ CỦA SINH VIÊN SAU KHI TỐT NGHIỆP: ĐỊNH HƯỚNG VÀ NHỮNG CON ĐƯỜNG TIẾP CẬN
(Qua nghiên cứu tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học
Quốc gia Hà Nội và Trường Đại học Dân lập Phương Đông)
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60 31 30
LUẬN VĂN THẠC SỸ XÃ HỘI HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Trịnh Văn Tùng
Trang 2sinh sống của gia đình
31
Bảng 2.3 Dự định sau khi ra trường phân theo mức độ yêu
thích đối với ngành học
37
Bảng 2.5 Đánh giá mức độ tin cậy của các nguồn thông tin
giúp sinh viên định hướng việc làm
40
Bảng 2.6 Dự định về nơi làm việc phân theo khu vực sinh
sống của gia đình
44
Bảng 2.8 Khu vực kinh tế mong muốn làm việc phân theo
Bảng 2.10 Định hướng về môi trường làm việc phân theo dự
định về khu vực kinh tế mong muốn làm việc
54
Bảng 3.1 Sự năng động của sinh viên trong tiếp cận việc làm
phân theo giới tính
63
Bảng 3.2 Cách thức tiếp cận việc làm thông qua gia đình phân
theo thành phần gia đình
65
Bảng 3.3 Cách thức tiếp cận việc làm thông qua gia đình phân
theo khu vực kinh tế mong muốn làm việc
66
Trang 3Bảng 3.4 Cách thức tiếp cận việc làm thông qua gia đình phân
Trang 4DANH MỤC BIỂU
Biểu đồ 2.3 Mức độ hiểu biết về những việc làm liên quan đến
ngành học
33
Biểu đồ 3.3 Sự năng động của sinh viên trong tiếp cận việc làm 61 Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ sinh viên tiếp cận việc làm thông qua gia đình 64 Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ sinh viên tiếp cận việc làm thông qua bạn bè 68 Biểu đồ 3.6 Vai trò của nhà trường trong việc định hướng việc
làm cho sinh viên
Biểu đồ 3.10 Tỷ lệ sinh viên tiếp cận việc làm thông qua các kênh
thông tin đại chúng
75
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đối với sinh viên mới tốt nghiệp ra trường tìm được một việc làm ưng ý không phải là một công việc dễ dàng Hiện tượng thất nghiệp khá phổ biến khiến cho nhiều sinh viên phải chấp nhận hoặc chủ động làm những công việc không liên quan đến chuyên ngành được đào tạo Bên cạnh đó, không ít sinh viên rơi vào vòng xoáy “nhảy việc” và không biết đến khi nào mới tìm được bến đỗ ổn định… Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng trên như khủng hoảng kinh tế hay sinh viên chưa tìm được công việc thích hợp… Một nguyên nhân khác đóng vai trò không kém phần quan trọng là sinh viên mới ra trường
có kiến thức nhưng lại thiếu kỹ năng tìm việc
Việc chọn nghề không chỉ quan trọng đối với từng cá nhân, gia đình mà còn liên quan đến lợi ích xã hội Bởi một cá nhân chỉ có thể có một cuộc sống tốt đẹp, đóng góp được nhiều nhất cho gia đình, xã hội nếu họ được làm việc trong một môi trường yêu thích, phù hợp với năng lực của bản thân Chính vì vậy, việc định hướng nghề nghiệp không chỉ quan trọng đối với những học sinh ở bậc học phổ thông mà hoạt động này đối với sinh viên cũng rất quan trọng Có một nghịch lý là học sinh phổ thông rất vất vả để có thể chen chân được vào cổng trưởng đại học với tỷ lệ cạnh tranh rất cao nhưng sau khi tốt nghiệp có một số lượng không nhỏ trong số đó gặp khó khăn trong quá trình tìm kiếm việc làm Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này đó là
họ đã không có một định hướng nghề nghiệp và các cách tiếp cận nghề đúng đắn và phù hợp Bên cạnh việc chương trình đào tạo của các trường đại học còn có những điểm bất cập so với yêu cầu thực tế thì những sinh viên mới ra trường còn thiếu kỹ năng làm việc, kỹ năng hoạch định mục tiêu định hướng nghề nghiệp cho mình một cách rõ ràng, đánh giá đúng bản thân để có thể đề
Trang 6Việc định hướng nghề nghiệp cho sinh viên là một quá trình liên tục và kéo dài cho đến những năm cuối cùng của bậc đại học Nhưng hiện nay không
ít sinh viên coi nhẹ việc định hướng nghề nghiệp nên sau khi tốt nghiệp, họ mất phương hướng về nghề nghiệp, không tự tin về bản thân và không có kỹ năng xin việc Không chỉ bản thân sinh viên mà gia đình, nhà trường cũng chưa nhận thức hết được tầm quan trọng của việc định hướng việc làm và các con đường tiếp cận việc làm cho sinh viên ngay khi họ còn ngồi trong ghế nhà trường
Việc chọn nghề không chỉ liên quan đến sở thích mà còn phụ thuộc vào năng lực, phẩm chất, cá tính… Có những sinh viên chỉ mong muốn có được một công việc để có tiền lương nuôi sống bản thân chấm dứt tình trạng sống nhờ vào bố mẹ, có sinh viên lại lấy thu nhập làm thước đo tìm việc làm… Vậy sinh viên hiện nay đã có những định hướng như thế nào về nghề nghiệp trong tương lai? Liệu họ đã có những phương hướng tiếp cận nào đề
có thể tìm được công việc như ý muốn sau khi ra trường? Sinh viên ở khối trường công lập và dân lập có khác nhau trong những định hướng và cách thức tiếp cận việc làm trong tương lai hay không? Để trả lời cho những câu
hỏi trên, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghề của sinh viên sau khi
tốt nghiệp: định hướng và những con đường tiếp cận” Nghiên cứu của chúng
tôi được tiến hành tại hai trường trên địa bàn thành phố Hà Nội là Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội và Trường Đại học Dân lập Phương Đông
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
2.1 Ý nghĩa khoa học
Để tài góp phần ứng dụng một số lí thuyết xã hội học trong việc lí giải việc định hướng nghề và những con đường tiếp cận của sinh viên sau khi ra trường Từ trước đến nay, có khá nhiều nghiên cứu về hướng nghiệp khi sinh
Trang 7viên đang ngồi trên ghế nhà trường Nhưng tìm hiểu hướng nghiệp và những con đường tiếp cận nghề nghiệp của sinh viên là một khoảng trống trong nghiên cứu Do vậy, đề tài này sẽ bổ sung cho “khoảng trống” đó
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài nhắm đến việc tìm hiểu về những định hướng và cách thức tiếp cận việc làm trong tương lai của sinh viên hai trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Dân lập Phương Đông Cũng như nghiên cứu những ảnh hưởng của các yếu
tố như gia đình, bạn bè, nhà trường, các đoàn thể xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng… đến những định hướng đó
Với những kết quả nghiên cứu thực địa, tác giả cũng mong muốn đưa ra những khuyến nghị đối với vấn đề này để có một cái nhìn đúng đắn về một vấn đề liên quan đến sinh viên hiện nay
3 Đối tƣợng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Định hướng nghề và những con đường tiếp cận nghề nghiệp của sinh viên sau khi ra trường
Trang 8Đồng thời, đề tài cũng nhấn mạnh đến năng lực hội nhập thị trường lao động của đối tượng này thông qua tìm hiểu những hành trình đến với nghề của họ
3.3.2 Phạm vi không gian
Nghiên cứu này được tiến hành trong phạm vi không gian là hai trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội: Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội và Trường Đại học Dân lập Phương Đông Hai trường đại học này được tác giả lựa chọn để đại diện cho hai khối trường khác nhau là khối trường công lập và khối trường dân lập
đó, đề tài góp phần đề ra những biện pháp giúp sinh viên có thể thuận lợi hơn trong quá trình tìm việc làm
5 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
Những định hướng nghề nghiệp của sinh viên sau khi tốt nghiệp (về địa điểm làm việc, khu vực kinh tế làm việc, môi trường làm việc) Một
số nhân tố tác động định hướng nghề nghiệp của sinh viên
Những con đường tiếp cận nghề nghiệp của sinh viên sau khi ra trường Sự tác động của các yếu tố thành phần gia đình, khu vực sinh sống của gia đình đến vấn đề này
Trang 96 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp bao gồm các công trình nghiên cứu, bài tạp chí có liên quan đến vấn đề nghiên cứu Phương pháp này vừa giúp nhóm nghiên cứu có được những hình dung ban đầu về hiện trạng nghiên cứu trong lĩnh vực này và là những tư liệu quan trọng để góp phần so sánh, diễn giải và làm sâu sắc thêm kết quả nghiên cứu
6.2 Phương pháp phỏng vấn thăm dò
Phương pháp này nhằm mục đích phỏng vấn thăm dò 10 đối tượng là sinh viên thuộc hai trường đại học đã được đề cập đến ở trên, mỗi trường 5 đối tượng để thu được những thông tin bước đầu Qua đó kết hợp với những thông tin thu được từ việc phân tích tài liệu để có thể xây dựng phiếu trưng cầu ý kiến
6.3 Phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi phỏng vấn sâu 16 sinh viên thuộc Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội và Trường Đại học Dân lập Phương Đông để tìm hiểu về những định hướng tìm việc làm và các con đường tiếp cận việc làm của sinh viên sau khi ra trường cũng như các yếu tố tác động đến những vấn đề này Với cơ cấu mẫu bao gồm:
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,
Trang 10Phương pháp này được sử dụng nhằm mục đích có được những thông tin sâu hơn, góp phần làm rõ hơn kết quả định lượng từ phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi tự ghi
6.4 Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi tự ghi
Phiếu trưng cầu ý kiến sẽ được sử dụng nhằm mục đích thu thập những thông tin định lượng cho đề tài nghiên cứu Mẫu nghiên cứu được lựa chọn theo phương pháp ngẫu nhiên, có cân nhắc đến một số yếu tố như đơn vị trường học, thành phần gia đình
Chúng tôi đã tiến hành phát 300 phiếu trưng cầu ý kiến, trong đó mỗi trường là 150 phiếu Kết quả chúng tôi đã thu lại được 231 phiếu với cơ cấu mẫu như sau:
Trường học: (đơn vị: %)
50.9 49.1
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Trường Đại học Dân lập Phương Đông
Trang 11 Giới tính: (đơn vị: %)
33
67
Nam Nữ
Thành phần gia đình: (đơn vị: %)
26.5
40 10.9
10.4 12.2
Viên chức Nông dân Lao động tự do Công nhân Buôn bán, dịch vụ
Khu vực sinh sống của gia đình: (đơn vị: %)
61.7 21.8
13.5
Nông thôn Thành thị Miền núi
Trang 127 Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết
7.1 Giả thuyết nghiên cứu
Sinh viên có xu hướng tìm việc làm tại Hà Nội, trong cơ quan nhà nước hoặc khu vực có yếu tố nước ngoài và hướng đến một môi trường
làm việc ổn định, có thu nhập cao
Internet là nơi cung cấp nhiều thông tin liên quan đến việc làm cho sinh viên nhưng định hướng việc làm của họ chịu ảnh hưởng nhiều nhất
là từ gia đình
Sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn chủ yếu đã
có sự định hướng việc làm từ trước khi vào trường trong khi phần lớn sinh viên Trường Đại học Dân lập Phương Đông lại chỉ có sự định
hướng sau khi đã vào trường
Trong các con đường tiếp cận việc làm, sinh viên đánh giá cao sự nỗ
lực của bản thân và sự giúp đỡ từ gia đình
Trang 13của sinh viên:
+ Về địa điểm làm việc
+ Về thu nhập
+ Về khu vực làm việc
+ Về môi trường làm việc
Những con đường tiếp cận nghề của sinh viên: + Sự nỗ lực của bản thân + Sự giúp đỡ từ gia đình + Bạn bè
+ Nhà trường + Kênh thông tin đại chúng Sinh viên
Trang 14mà toàn xã hội Trong đó tỷ lệ thất nghiệp của sinh viên mới ra trường chiếm một con số không nhỏ Để hạn chế tình trạng này, nhiều biện pháp đã được thực hiện như giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông, giúp cho học sinh có một lựa chọn phù hợp cho tương lai Tuy nhiên, điều này lại chưa được thực hiện một cách triệt để ở bậc đại học Sinh viên khi học trên các giảng đường đã được cung cấp một khối lượng lớn về kiến thức nhưng lại không được dạy cách tìm việc làm Thực tế, có một số lượng không nhỏ sinh viên sau khi ra trường không tìm được việc làm do thiếu những kỹ năng mềm liên quan đến việc chọn ngành nghề Quan tâm đến vấn đề này, đã có rất nhiều nghiên cứu xã hội học quan tâm đến định hướng nghề của sinh viên sau khi ra trường
Luận văn thạc sỹ năm 2009 “Các yếu tố tác động đến định hướng nghề
nghiệp của sinh viên năm cuối các ngành khoa học xã hội” (Nghiên cứu trường hợp trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn) của tác giả Phạm
Huy Cường tập trung vào khách thể nghiên cứu là nhóm sinh viên năm cuối đại học vì tác giả cho rằng nhóm này đã có một quá trình đào tạo, tìm hiểu về nghề nghiệp và có tâm thế trong việc tìm việc làm Đây là một nghiên cứu định lượng với dung lượng mẫu là 250 sinh viên Nghiên cứu cho thấy rằng sinh viên hầu như đã có định hướng nghề nghiệp nhưng định hướng lại thiếu tính cụ thể cũng như thực tế Khi tìm việc, sinh viên quan tâm nhất đến tính
Trang 15ổn định và thu nhập Bên cạnh đó, đề tài cũng đưa ra và phân tích một số yếu
tố tác động đến định hướng nghề của sinh viên như gia đình, bạn bè, truyền thông đại chúng, môi trường học tập, môi trường nghề nghiệp
Tác giả Nguyễn Thị Minh Phương với luận văn thạc sỹ năm 2009 về đề
tài “Định hướng nghề nghiệp và khu vực làm việc sau tốt nghiệp của sinh
viên ngoài công lập hiện nay” (Nghiên cứu trường hợp trường đại học Đông Đô) là một nghiên cứu định lượng với 262 mẫu là sinh viên thuộc trường đại
học dân lập Nghiên cứu chỉ ra rằng định kiến xã hội đối với sinh viên các trường ngoài công lập đã có ảnh hưởng tiêu cực đến tinh thần học tập cũng như đến việc chọn nghề và tìm việc của sinh viên trong trường
Trong nghiên cứu về “Định hướng chọn nghề và nơi làm việc sau khi tốt
nghiệp của sinh viên hiện nay” thông qua việc nghiên cứu 750 sinh viên
thuộc 12 trường đại học của miền Bắc vào năm 1997, tác giả Phạm Tất Thắng cho rằng sự định hướng nghề nghiệp của sinh viên là cảm tính, không nhận được sự định hướng của các thiết chế xã hội Định hướng của sinh viên về giá trị nghề nghiệp và nơi làm việc có sự thay đổi trong quá trình học tập do sự tác động của nhiều yếu tố như: nhận thức tăng do được cung cấp thêm tri thức, do sự biến đổi của môi trường sống (đối với những sinh viên từ nông thôn ra thành thị)…
Đề tài luận văn thạc sỹ khoa học Xã hội học năm 1997 của tác giả
Trương An Quốc quan tâm đến vấn đề “Bước đầu tìm hiểu về giá trị việc làm
trong sinh viên và thanh niên Hà Nội” Trong nghiên cứu này tác giả đã đề
cập đến vấn đề việc làm, xu thế biến đổi cũng như đề cập đến giá trị của việc làm thời kinh tế thị trường Tác giả chỉ ra rằng đã có sự thay đổi trong việc định hướng về khu vực làm việc, trình độ học vấn của lao động ngoài quốc doanh đã tăng lên đáng kể từ năm 1990 Có được điều này là do những người
Trang 16có trình độ đại học đã không chỉ tham gia vào thành phần kinh tế quốc doanh
mà đã tự nguyện và tự nhiên vào tất cả các thành phần kinh tế
Nghiên cứu về “Định hướng nghề nghiệp của sinh viên Đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn” của thạc sỹ Nguyễn Thị Như Trang đã lựa chọn
khách thể nghiên cứu là nhóm sinh viên năm 2 và năm 3 Từ đó đi sâu phân tích, tìm hiểu thực trạng định hướng nghề nghiệp trong tương quan với định hướng chuyên môn cũng như đánh giá hai yếu tố tác động đến định hướng nghề nghiệp của sinh viên là gia đình và trường học Theo đó, tuy gia đình ít
có vai trò trong việc lựa chọn chuyên môn và định hướng giá trị việc làm nhưng lại có vai trò đáng kể trong việc duy trì hướng chuyên môn của sinh viên Nhà trường cũng có tác động nhất định đến định hướng nghề nghiệp của sinh viên nhưng sự tác động đó còn ở mức độ hạn chế so với đòi hỏi của thực tiễn
Đề tài “Định hướng giá trị của sinh viên - con em cán bộ khoa học” của
PGS.TS Vũ Hào Quang quan tâm đến mối liên quan giữa các khía cạnh như giới tính, đặc điểm xã hội, nguồn gốc gia đình, quan hệ xã hội của sinh viên đến định hướng và cơ hội việc làm của sinh viên, trong đó tác giả đặc biệt quan tâm đến đối tượng là con em của cán bộ làm khoa học Kết quả nghiên cứu cho thấy phẩm chất của cá nhân được hình thành trong hệ thống giá trị nhất định, đó là sự tác động của môi trường xã hội mà cá nhân đó tham gia Định hướng giá trị của cá nhân chịu sự tác động sâu sắc bởi đặc điểm xã hội của gia đình
Như vậy, đã có không ít những nghiên cứu về vấn đề định hướng việc làm của thanh niên nói chung và sinh viên nói riêng Tuy nhiên, những đề tài này mới chỉ quan tâm đến định hướng nghề và giá trị nghề của sinh viên mà chưa có sự quan tâm sâu sắc đến các con đường, các cách thức mà sinh viên
đã đề ra hoặc dự định sẽ sử dụng để có thể tìm kiếm một việc làm phù hợp
Trang 17trong tương lai Đây là vấn đề mà chúng tôi sẽ quan tâm nghiên cứu trong đề
tài này
1.2 Vài nét về địa bàn nghiên cứu
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn là một đơn vị thành viên của Đại học Quốc gia Hà Nội Trong hơn 60 năm xây dựng và phát triển, trường luôn được coi là trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn lớn nhất của cả nước Nhà trường đang tham gia đào tạo ở 18 ngành học, bao gồm: Báo chí - Truyền thông, Chính trị học, Công tác xã hội, Du lịch học, Đông phương học, Hán Nôm, Khoa học quản lý, Lịch sử, Lưu trữ học và quản trị văn phòng, Ngôn ngữ học, Nhân học, Quốc tế học, Tâm lý học, Thông tin - thư viện, Triết học, Văn học, Việt Nam học, Xã hội học Số lượng sinh viên tham gia đào tạo chính quy của trường hiện nay là 5.472 sinh viên
Mục tiêu của nhà trường đến năm 2020 là xây dựng nhà trường trở thành đơn vị đứng đầu cả nước về khoa học xã hội và nhân văn Tập trung xây dựng
và phát triển một số ngành, chuyên ngành đạt trình độ quốc tế
Bên cạnh việc cung cấp kiến thức cho sinh viên, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn cũng rất quan tâm đến quá trình hướng nghiệp cho sinh viên bằng các hoạt động thiết thực như tổ chức các buổi hội chợ việc làm, cho thành lập một bộ phận trực thuộc Phòng Chính trị và Công tác sinh viên với nhiệm vụ tư vấn và định hướng nghề nghiệp cho sinh viên… Bên cạnh đó, nhà trường cũng đã rất quan tâm đến công tác quảng bá, giới thiệu về các ngành đào tạo của trường, góp phần giúp cho các em học sinh phổ thông
có một sự lựa chọn đúng đắn khi đăng ký ngành dự thi
Trên thực tế, tuy nhà trường đã có những hoạt động hướng nghiệp tích cực cho sinh viên nhưng việc định hướng nghề của sinh viên trong trường vẫn đang còn nhiều vấn đề đáng lưu tâm
Trang 18Trường Đại học Phương Đông được thành lập do những người sáng lập mong muốn có một mô hình đào tạo giáo dục mới ngoài công lập Phương hướng, chủ trương của nhà trường là đào tạo những cái xã hội cần, trong quá trình đạo tạo cho sinh viên sẽ nhấn mạnh khả năng thực hành, khả năng thích ứng nghề nghiệp, khả năng lập nghiệp, gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học Trong đó, tin học và ngoại ngữ là mũi nhọn Bên cạnh việc đào tạo cử nhân, trường cũng tham gia đào tạo cao đẳng, trung cấp và dạy nghề
Về đào tạo trình độ đại học, hiện nay trường đang tham gia đào tạo ở các chuyên ngành như Công nghệ thông tin, Kinh tế và quản trị kinh doanh, Ngoại ngữ, Kiến trúc công trình, Cơ điện tử, Công nghệ sinh học - môi trường, Hợp tác quốc tế Trong khi Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn chỉ tập trung đào tạo các ngành xã hội nhân văn thì trường Đại học Dân lập Phương Đông lại tham gia đào tạo trên nhiều lĩnh vực khác nhau như kỹ thuật, tự nhiên, kinh tế…
Đặc điểm của sinh viên trường Đại học Phương Đông là có một tỷ lệ không nhỏ sinh viên vào trường là do nguyện vọng 2, nguyện vọng 3 khi mà
họ thi trượt trong các kỳ thi vào các trường công lập Nhiều sinh viên vào trường với tâm lý chờ thời cơ để có thể thi lại vào đợt sau… Với những tâm
lý học tập như vậy, sinh viên đã có những định hướng như thế nào cho nghề nghiệp tương lai của mình?
Tuy điều kiện của hai trường có khác nhau nhưng sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn và sinh viên Trường Đại học Dân lập Phương Đông đều có những vấn đề cần quan tâm trong việc định hướng nghề nghiệp Chính vì vậy, chúng tôi đã lựa chọn sinh viên hai trường, một đại diện cho các trường công lập, một đại diện cho các trường dân lập tham gia vào nghiên cứu của mình
Trang 19Hành động xã hội luôn gắn với tính tích cực của cá nhân Tính tích cực này bị quy định bởi hàng loạt các yếu tố như: nhu cầu, lợi ích, định hướng giá trị của chủ thể hành động
Hành động xã hội được cấu trúc nên bởi nhiều thành tố khác nhau, giữa các thành tố này có mối liên quan hữu cơ với nhau Ta có sơ đồ sau:
Khởi đầu của hành động xã hội bao giờ cũng là nhu cầu, lợi ích của cá nhân, đây là động cơ thúc đẩy hành động Động cơ tạo ra tính tích cực của chủ thể, tham gia định hướng hành động và quy định mục đích của hành động Bất kỳ hành động nào cũng cần có chủ thể Chủ thể hành động có thể là
Hoàn cảnh
phương tiện
Mục đích
Trang 20cá nhân, nhóm, cộng đồng hay toàn thể xã hội Ngoài ra, để tạo nên hành động cũng cần có môi trường Đó chính là điều kiện mà ở trong nó hành động được diễn ra Tùy theo từng hoàn cảnh khác nhau mà các chủ thể sẽ tạo ra hành động phù hợp nhất với hoàn cảnh đó
Như vậy, tùy theo hoàn cảnh khác nhau như năng lực của bản thân, giới tính, ngành học, mối quan hệ, năng lực… cũng như các nhu cầu khác nhau về thu nhập, môi trường làm việc… mà mỗi sinh viên sẽ có những định hướng
và những con đường tiếp cận nghề khác nhau Sự định hướng về nghề và con đường tiếp cận này đều được mỗi cá nhân cân nhắc đề có thể có được hành động tốt nhất dẫn đến một kết quả tối ưu
1.3.2 Lý thuyết xã hội hóa
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về xã hội hóa Nhà xã hội học người
Mỹ Neil Smelser cho rằng: “Xã hội hóa là quá trình mà trong đó cá nhân học cách thức hành động tương ứng với vai trò của mình”
Fichter, một nhà xã hội học người Mỹ khác cho rằng: “Xã hội hóa là một quá trình tương tác giữa người này và người khác, kết quả là một sự chấp nhận những khuôn mẫu hành động, và thích nghi với những khuôn mẫu hành động đó”
Nếu như định nghĩa của Smelser cho rằng vai trò của các cá nhân trong quá trình xã hội hóa chỉ là tiếp nhận các kinh nghiệm, giá trị, chuẩn mực mà không đề cập đến khả năng các cá nhân này có thể tạo ra những kinh nghiệm, giá trị, chuẩn mực để xã hội học theo Trong khi Fichter chỉ mới chú ý hơn đến tính tích cực của cá nhân trong quá trình xã hội hóa thì nhà khoa học người Nga là G Andreeva đã nêu được hai mặt của quá trình xã hội hóa: “Xã hội hóa là quá trình hai mặt Một mặt, cá nhân tiếp nhận kinh nghiệm xã hội bằng cách thâm nhập vào môi trường xã hội, vào hệ thống các quan hệ xã hội Mặt khác, cá nhân tái sản xuất một cách chủ động hệ thống các mối quan hệ
Trang 21xã hội thông qua chính việc họ tham gia vào các hoạt động và thâm nhập vào các mối quan hệ xã hội” [2, tr 258 - 259]
Có rất nhiều môi trường xã hội hóa khác nhau, một trong số đó là gia đình, trường học và các tổ chức trước tuổi đi học, các nhóm thành viên và thông tin đại chúng
Gia đình là môi trường xã hội hóa quan trọng bậc nhất của mỗi cá nhân Mỗi gia đình là một tiểu văn hóa với những truyền thống riêng, lối sống riêng… Mỗi cá nhân sẽ tiếp nhận những giá trị, cách cư xử… từ chính ông bà, cha mẹ, anh chị… của mình Đến khi cá nhân lập gia đình, họ lại tham gia vào một quá trình xã hội hóa mới
Trường học và các tổ chức trước tuổi đi học là nơi học sinh được cung cấp những kiến thức cơ bản về tự nhiên, xã hội, văn hóa làm nền tảng cho cuộc sống sau này Thời kỳ này cũng giúp cho cá nhân hình thành được nhiều những tương tác và các mối quan hệ xã hội
Các nhóm thành viên như lớp sinh viên, tập thể lao động, nhóm bạn cùng
sở thích… là nhóm xã hội hóa quan trọng thứ hai sau gia đình Các nhóm này giúp cho các cá nhân thu nhập các kinh nghiệm xã hội theo cả con đường chính thống và phi chính thống
Thông tin đại chúng là phương tiện cung cấp thông tin chủ yếu cho các
cá nhân, đặc biệt là trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay Những thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng sẽ giúp cho các cá nhân có những định hướng và quan điểm đối với các sự kiện xảy ra trong cuộc sống hàng ngày
Quá trình xã hội hóa đóng góp một vai trò quan trọng trong quá trình giúp cho mỗi sinh viên định hướng về nghề và những con đường tiếp cận nghề trong tương lai Những định hướng này sẽ trở nên khác nhau khi sinh
Trang 22khác nhau, tiếp xúc với các phương tiện thông tin đại chúng khác nhau với những mức độ khác nhau, tham gia vào các nhóm bạn bè khác nhau… Chính
vì vậy, chúng tôi rất quan tâm đến sự tác động của những đặc điểm cá nhân của khách thể đến đối tượng nghiên cứu của mình
1.3.3 Lý thuyết mạng xã hội
Mỗi cá nhân trong xã hội không sống đơn độc mà thuộc về nhiều nhóm khác nhau, phần lớn cuộc đời chúng ta sống trong các nhóm đó Mỗi chúng ta trong cuộc sống của mình duy trì một mạng lưới xã hội, đó là phức thể các mối quan hệ xã hội do con người xây dựng, duy trì và phát triển trong cuộc sống thực của họ với tư cách là thành viên của xã hội
Các mạng lưới xã hội bao gồm các quan hệ đan chéo chằng chịt như quan hệ gia đình, thân tộc, bạn bè, đảng phái, nghề nghiệp… là một phần quan trọng của cơ cấu xã hội Thông qua mạng lưới xã hội, các cá nhân và các nhóm xã hội có sự trao đổi về thông tin, kiến thức…
Trong quá trình sinh viên định hướng nghề và các cách thức để tiếp cận nghề, mạng xã hội đóng góp một vai trò quan trọng Các yếu tố như gia đình, bạn bè… là một trong những yếu tố quan trọng cung cấp thông tin giúp cho mỗi sinh viên hình thành nên các định hướng của mình Và mối quan hệ của gia đình cũng như bản thân với các mạng lưới này cũng tạo điều kiện thuận lợi hơn cho sinh viên trong quá trình xin việc
1.4 Những khái niệm công cụ
1.4.1 Khái niệm nghề
Khái niệm “nghề” được hiểu theo hai nghĩa:
(1) Nghề là công việc chuyên môn làm theo sự phân công của xã hội như nghề giáo, nghề nông
(2) Thành thạo trong một công việc nào đó Ví dụ: chuyền bóng rất nghề [20, tr 1192]
Trang 23Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng khái niệm về nghề theo nghĩa thứ nhất Tức là, nghề mà chúng tôi đề cập đến ở đây là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó nhờ được đào tạo con người có những tri thức, những
kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất và tinh thần để đáp ứng nhu cầu của xã hội
Như vậy, nghề bao hàm cơ bản các yếu tố sau: yếu tố luật, tức là hoạt động mang lại thu nhập được pháp luật của Nhà nước bảo vệ, yếu tố kiến thức nền tảng thường gắn với đào tạo, yếu tố kĩ năng, yếu tố năng lực và yếu tố nhiệm vụ
1.4.2 Khái niệm sinh viên
Sinh viên hiểu theo nghĩa chung nhất là những người đang học ở bậc đại học [20, tr 1448] Họ là những người đã tốt nghiệp phổ thông trung học, bổ túc trung học, trung học chuyên nghiệp đang trong quá trình học tập, chuẩn bị nghề nghiệp tại các trường đại học, cao đẳng Họ là một nhóm xã hội đặc biệt, thường có độ tuổi từ 18 đến 24 tuổi và xuất thân từ nhiều tầng lớp khác nhau trong xã hội
Nhìn từ góc độ xã hội học, sinh viên có những đặc điểm cơ bản sau:
Mang tính phân tầng xã hội, có khả năng di động xã hội nhanh, do được tiếp cận với những giá trị mới, năng động nên họ thuận lợi trong cơ hội chiếm lĩnh những vị trí cao trong xã hội sau khi học
Mang tính đặc thù về độ tuổi và phẩm chất xã hội, thường có quá trình xã hội hóa riêng biệt so với các nhóm xã hội khác Có địa vị, vị trí, vai trò xã hội xác định
Có lối sống và định hướng giá trị đặc thù, dễ dàng tiếp thu những giá trị xã hội mới
Có tính tích cực xã hội, tính độc lập, tự lập và có nhu cầu khẳng định
Trang 241.4.3 Khái niệm tốt nghiệp
Khái niệm tốt nghiệp ở đây được dùng để chỉ sinh viên đã hoàn thành cấp học đại học Ở các trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Dân lập Phương Đông bằng cử nhân là cấp học được thừa nhận khi sinh viên được xác nhận là “tốt nghiệp đại học”
Trong luận văn này, chúng tôi đề cập đến vấn đề sinh viên sẽ có những định hướng và tiếp cận gì về nghề nghiệp sau khi họ hoàn thành khóa học tại trường đại học
1.4.4 Khái niệm định hướng
Định hướng là xác định phương hướng, là việc chủ thể hành động đưa ra một hướng đi với hoạt động nào đó trên cơ sở cân nhắc kỹ khả năng, tài chính của từng đối tượng Mục đích cuối cùng của định hướng là có được một hướng đi phù hợp với mọi điều kiện, hoàn cảnh khách quan và chủ quan của chủ thể [1, tr 24]
Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi quan tâm đến việc những sinh viên dựa trên cơ sở những điều kiện của bản thân như năng lực của bản thân, sở thích, các mối quan hệ, sự hiểu biết, tài chính… đã chọn ra cho mình một hướng đi như thế nào để có thể tìm được công việc tối ưu nhất đối với bản thân
1.4.5 Khái niệm con đường tiếp cận
Về khái niệm này, chúng tôi muốn nêu bật hai hàm ý cơ bản như sau: (1) Con đường tiếp cận thể hiện một lôgic hành động, lôgic xã hội hay hành trình xã hội đi từ chỗ tìm kiếm cơ hội, chuẩn bị tâm thế cho đến việc quyết định chọn nghề trong tương lai Đây là những nền tảng cơ bản cho phép biết được các khuynh hướng chọn nghề của sinh viên sau khi tốt nghiệp;
Trang 25(2) Con đường tiếp cận biểu hiện những mô thức hay hình thức tìm kiếm thông tin, tăng cường kiến thức và cách thức tìm kiếm việc làm của nhóm xã hội này
Trang 26Biểu đồ 2.1: Thời điểm sinh viên có định hướng về việc làm (đơn vị: %)
Số liệu điều tra cho thấy rằng, phần lớn sinh viên sau khi vào trường đại học mới có định hướng nghề cho mình Bên cạnh đó một số lượng không nhỏ (20.40%) sinh viên hiện nay thậm chí còn chưa có định hướng nghề Điều này cho thấy sinh viên thi đại học để được đi học mà chưa có những ý định rõ
Trang 27ràng cho tương lai của mình Họ chỉ quan tâm đến việc được vào trường đại học và ngành học, chứ chưa quan tâm đến các nghề liên quan đến ngành học Trong tâm lý của phần lớn học sinh phổ thông hiện nay, học đại học dường như là con đường duy nhất sau khi tốt nghiệp phổ thông Có con học đại học trở thành niềm tự hào của gia đình Học sinh đi thi chỉ để có một suất học đại học Một vấn đề đặt ra là việc với lý do chọn trường như vậy, ngành học đó liệu có thực sự phù hợp với các bạn và có thể sử dụng để có thể kiếm sống sau này
“Em chọn khoa này vì thấy điểm đầu vào phù hợp với khả năng, khả năng đậu sẽ cao hơn Trước đó cũng chỉ hiểu biết sơ sơ về công việc Em mới học năm 2, cũng chưa có định hướng gì về làm việc Học xong rồi tính tiếp thôi”
(Nữ, năm thứ 2, thành thị, Trường Đại học Khoa học Xã hội
Có người quen làm trong nghề
Vừa với sức học
Thấy bạn
bè chọn ngành này
Do là ngành đang được yêu thích
Dễ tìm việc làm
Biết thông tin
dự báo
về sự phát triển các nghề liên quan đến ngành
Không biết chọn ngành nào khác
Khác
Trang 28Bên cạnh những sinh viên chọn ngành học do yêu thích thì một phần không nhỏ sinh viên chọn ngành học do theo bạn bè hay không biết chọn ngành nào khác Như vậy là họ đã “chọn đại” một ngành để thi vào đại học,
để học đại học mà chưa có những hiểu biết cần thiết về các chuyên ngành này Điều này một lần nữa thể hiện áp lực phải thi đậu đại học đối với học sinh tốt nghiệp phổ thông hiện nay Trong tình huống này, sinh viên đi thi chỉ để đạt được mục đích là đi học mà họ quên mất rằng họ đi học để làm gì
“Em thi trượt nguyện vọng 1, nguyện vọng 2 đăng ký vào đây vì ngành này lấy điểm vừa bằng điểm thi Em thấy ngành này nghe tên hay hay thì đăng ký”
(Nữ, năm thứ 2, nông thôn, Trường Đại học Dân lập Phương Đông)
Bảng 2.1:
Thời điểm định hướng việc làm phân theo trường đại học (đơn vị: %)
Thời điểm định hướng
việc làm của sinh viên
Trường đại học
Thời điểm định hướng nghề của sinh viên cũng có sự khác biệt giữa hai trường đại học Phần lớn sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn có định hướng ngành học khá rõ ràng trước khi vào trường Trong khi đó, phần lớn sinh viên Trường Đại học Dân lập Phương Đông chỉ có định hướng sau khi nhập học Trên thực tế, một số lượng lớn sinh viên Trường Đại học Dân lập Phương Đông vào trường theo diện nguyện vọng 2, nguyện vọng 3 sau khi thi trượt ở các trường công lập khác Khi đó, họ sẽ đăng ký dựa trên
Trang 29cơ sở thực tế điểm thi của mình và chọn những khoa có điểm đầu vào tương ứng Chính vì vậy, những khoa này hoặc sẽ không thể hoàn toàn phù hợp với
sở thích, định hướng nghề cũng chưa có rõ ràng Định hướng lúc đó mới chỉ
là có được một chỗ ngồi trên giảng đường đại học
Chúng ta thấy rằng, một số lượng không nhỏ sinh viên của cả hai trường hình thành những dự định cho tương lai công việc sau này khi đã vào học, khi thực sự có những hiểu biết nhất định liên quan đến chuyên ngành được đào tạo Tức là sinh viên chọn ngành học trước rồi chọn công việc sau trong khi đáng lý ra họ nên chọn chuyên ngành học phù hợp với công việc mà mình yêu thích, có năng lực và có hướng phát triển hay xã hội cần đến Liệu có phải sinh viên hiện nay đang đi ngược lại quy trình hay không?
Sự khác biệt về khu vực sinh sống của gia đình cũng dẫn đến sự khác biệt về thời điểm định hướng việc làm của sinh viên
Bảng 2.2: Thời điểm định hướng việc làm phân theo khu vực sinh sống của gia đình (đơn vị: %)
Thời điểm định
hướng việc làm
Khu vực sinh sống của gia đình
Trước khi vào
Trang 30phần lớn sinh viên ở khu vực nông thôn và miền núi lại chỉ có sự định hướng nghề sau khi đã vào trường Đối với tỷ lệ sinh viên chưa có định hướng gì thì
tỷ lệ này ở khu vực miền núi chiếm số cao hơn đối với những sinh viên ở khu vực thành thị và nông thôn Tỷ lệ “không có định hướng nghề” chiếm rất thấp đối với sinh viên ở khu vực thành thị (17.6%) Chúng ta lại thấy có sự chênh lệch giữa sinh viên hai khu vực nông thôn và đô thị
“Hiện nay em chưa có định hướng làm việc gì cả, học xong ra trường thế nào chẳng có việc làm Trước đây thi đại học chỉ nghĩ là để được đi học thôi cũng không biết chọn ngành nào khác”
(Nữ, năm thứ 3, nông thôn, Trường Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn)
“Học xong cấp 3 thi đại học thì cứ chọn trường nào vừa điểm với mình thì nộp hồ sơ thôi, thấy bạn nộp trường này thì nộp luôn sau đi học cho vui, cũng không biết chọn trường nào khác Sau vào học thì mới hiểu mới bắt đầu nghĩ xem ra trường mình sẽ làm gì”
(Nam, năm thứ 2, nông thôn, Trường Đại học Dân lập Phương Đông)
Sinh viên ở khu vực thành thị chủ yếu thuộc gia đình viên chức (54.4%), sinh viên ở khu vực nông thôn, miền núi đa phần thuộc gia đình nông dân (55.6% và 32.3%) Đây cũng là một trong những nguyên nhân giúp cho sinh viên thành thị có định hướng nghề tốt hơn Các gia đình viên chức có điều kiện hơn trong việc tiếp cận với các thông tin liên quan đến ngành nghề, mức
độ hiểu biết cũng tốt hơn… Sinh viên tại khu vực thành thị có điều kiện tiếp xúc nhiều hơn với các phương tiện thông tin đại chúng, điều kiện học tốt hơn… Môi trường xã hội hóa có sự tác động nhất định đến quá trình định hướng việc làm của sinh viên, sinh viên thành thị với những lợi thế sẵn có đã giúp họ có sự định hướng nghề tốt hơn sinh viên xuất thân từ các khu vực khác
Trang 31Phần lớn sinh viên sau khi vào trường mới bắt đầu định hướng về việc làm Để tìm hiểu thêm về vấn đề này chúng tôi đã tìm hiểu về mức độ hiểu biết của sinh viên về việc làm ở các thời điểm khác nhau, cụ thể ở đây là thời điểm trước khi vào trường và sau khi vào trường
5.2
25.1 36.437.7
44.6
31.6
10.4 4.8 3.5
0.9 0
Rất không hiểu biết
Trước khi vào trường Sau khi vào trường
và “hiểu biết” đã có sự tăng lên sau khi vào trường Trong khi đó, tỷ lệ sinh viên chọn mức độ “không hiểu biết” và “rất không hiểu biết” đã có sự giảm
đi Sau khi vào học, được bổ sung những kiến thức liên quan đến ngành học, sinh viên đã có những cái nhìn rõ nét hơn về tương lai của mình Điều này cho chúng ta thấy vai trò quan trọng của mạng xã hội (như bạn bè, thầy cô…) cũng như môi trường xã hội hóa (nhà trường…) trong việc cung cấp những thông tin liên quan đến ngành học qua đó tác động đến việc định hướng nghề của sinh viên Bên cạnh đó, chúng ta thấy rằng sự hiểu biết của sinh viên về
Trang 32những việc làm liên quan đến ngành học còn yếu Ý thức hướng nghiệp của sinh viên còn hạn chế, điều này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của họ trong tương lai mà còn ảnh hưởng đến thị trường lao động sau này cũng như sự phát triển của nền kinh tế đất nước Một đất nước liệu có thể phát triển khi mà nguồn lao động trí thức không có được sự hiểu biết và say mê với công việc, khi mà một số lượng không nhỏ trong số họ làm việc trái ngành Bên cạnh đó là sự tổn hại về mặt kinh tế liên quan đến chi phí đào tạo trong quá trình sinh viên học đại học
Có một câu hỏi đặt ra là, khi sinh viên đã hiểu biết hơn về ngành học của mình và những công việc liên quan liệu họ có cảm thấy thỏa mãn với lựa chọn của mình? Liệu họ có còn nghĩ rằng lựa chọn đó là phù hợp với mình? Để trả lời cho câu hỏi này, chúng ta sẽ đi tìm hiểu xem sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn và sinh viên Trường Đại học Dân lập Phương Đông có những dự định gì sau khi tốt nghiệp đại học?
Tiếp tục học nâng cao chuyên ngành
Học ngay một ngành khác Nghỉ ngơi một thời gian Khác
Biểu đồ 2.4: Sinh viên và những dự định sau khi ra trường (đơn vị: %)
Mục đích cuối cùng của việc đi học đại học là có thể có tấm bằng cử nhân, có kiến thức để có thể tìm việc làm, tạo thu nhập nuôi sống bản thân,
Trang 33gia đình và góp phần phát triển xã hội Chính vì vậy, 37.7% sinh viên được hỏi đã trả lời rằng, ngay sau khi tốt nghiệp họ sẽ tìm ngay một việc làm có liên quan đến ngành học
Bên cạnh đó một số lượng không nhỏ sinh viên cho rằng họ sẽ làm “bất
cứ việc gì” miễn là việc ấy mang lại thu nhập Bất cứ việc gì ở đây được hiểu rằng đó có thể là công việc không phù hợp với chuyên môn của họ, không phải sở thích của họ… nhưng công việc đó mang lại cho họ thu nhập và sinh viên chấp nhận công việc đó Chúng ta biết rằng tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay không phải là nhỏ Theo thông tin của Tổng cục thống kê, tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm của những người trong độ tuổi lao động năm 2009 là 2.9% và 5.61% [17] Trong đó có một phần không nhỏ là sinh viên mới ra trường Mục đích của việc học đại học là để làm việc vì thế không ngạc nhiên khi sinh viên “quá mong muốn” có được việc làm Nhưng liệu việc mà có số lượng không phải là lớn nhưng cũng không phải là nhỏ sinh viên tìm việc làm
mà không quan tâm cần quan tâm đến sự phù hợp của chuyên ngành có là một việc làm đúng đắn? Điều này càng cho thấy sự mất định hướng nghề nghiệp trong sinh viên hiện nay
“Gia đình em cũng không được tốt về kinh tế, bố mẹ cũng vất vả nên em nghĩ là mình sẽ tìm việc luôn khi tốt nghiệp để đi làm có lương, công việc đó
có thể là không đúng ngành nhưng mình cứ làm đã rồi sau này tính tiếp”
(Nữ, năm thứ 2, nông thôn, Trường Đại học Dân lập Phương Đông)
“Em sẽ đi tìm việc luôn, bây giờ tìm việc cũng khó, ngành học của em cũng khó xin việc nên mình thấy việc gì mình làm được thì xin thôi Miễn có việc làm là được”
(Nữ, năm thứ 3, nông thôn, Trường Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn)
Trang 34Bên cạnh đó 22.9% sinh viên tiếp tục theo đuổi chuyên ngành của mình
ở cấp cao hơn (cao học) Với tỷ lệ thất nghiệp của sinh viên mới ra trường hiện nay thì đây cũng được coi là một lựa chọn khôn ngoan Bởi với tấm bằng thạc sỹ, họ có thể tạo ra sự khác biệt đối với các đối thủ trong quá trình tuyển dụng
“Em định học xong xin đi dạy học nên có lẽ sẽ học lên cao tiếp, có bằng thạc sỹ rồi hy vọng sẽ dễ xin việc hơn”
(Nữ, năm thứ 4, nông thôn, Trường Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn)
Sau quá trình bốn năm học đại học, thời kỳ giao thoa giữa việc đi học và
đi làm cũng được không ít các bạn cựu sinh viên sử dụng để nghỉ ngơi một thời gian
Như chúng tôi đã nêu ra ở trên, có rất nhiều lý do để sinh viên chọn chuyên ngành học, trong đó có một tỷ lệ sinh viên chọn chuyên ngành vì không biết chọn ngành nào khác, chọn theo bạn bè… Chính vì vậy, khi vào trường không phải sinh viên nào cũng yêu thích chuyên ngành mà mình đã lựa chọn từ đó dẫn đến có 3.9% sinh viên khi được hỏi đã trả lời là sẽ đi học thêm một ngành khác như kế toán, an ninh…
Việc lựa chọn nghề sau khi ra trường phụ thuộc vào mức độ yêu thích của sinh viên đối với ngành học
Trang 35Bảng 2.3: Dự định sau khi ra trường phân theo mức độ yêu thích đối với ngành học (đơn vị: %)
Dự định sau khi ra
trường
Mức độ yêu thích đối với ngành học
Rất yêu thích
Yêu thích
Bình thường
Không yêu thích
Rất không yêu thích Tìm ngay một việc làm
Trang 36Bảng 2.4: Dự định sau khi ra trường phân theo giới tính (đơn vị: %)
nữ sinh viên Nữ thường có tâm lý muốn ổn định hơn nam giới, họ chú trọng vào việc tìm việc làm để ổn định cuộc sống Nam giới có tâm lý ít ổn định hơn, có mong muốn phấn đấu trong sự nghiệp cao hơn, để làm được điều này việc học lên cao hơn hay học thêm ngành khác không phải là một việc làm khó hiểu
Với những phân tích trên đây, chúng tôi cho rằng, việc chọn ngành đầu vào là rất quan trọng đối với bất kỳ sinh viên nào Công việc này sẽ là mở đầu cho tương lai sau này của họ, quyết định mức độ yêu thích của họ đối với ngành học và những dự định trong tương lai
2.2 Đối tượng định hướng việc làm cho sinh viên
Để có những định hướng như chúng tôi đã nêu ra ở trên, mỗi sinh viên đã trải qua một quá trình thu thập thông tin và lựa chọn ra những điều phù hợp
Trang 37với bản thân mình Vậy ai là người định hướng việc làm cho sinh viên và sinh viên đánh giá về mức độ tin cậy của những nguồn thông tin này như thế nào?
54.5 10.8
4.8
7.4
21.2
Gia đình Bạn bè Nhà trường Các tổ chức xã hội Truyền thông đại chúng
Biểu đồ 2.5: Đối tượng định hướng việc làm cho sinh viên (đơn vị: %)
Gia đình trong bất cứ một xã hội nào và trong bất kỳ một vấn đề nào cũng đóng một vai trò quan trọng Gia đình là môi trường xã hội hóa quan trọng bậc nhất và cũng là yếu tố có sự tác động nhiều nhất đến việc hình thành định hướng việc làm cho sinh viên Người con ở càng lâu với gia đình thì ảnh hưởng của thiết chế này đối với họ càng lớn Bên cạnh đó, sự phát triển của các phương tiện truyền thông đại chúng và sự tiếp cận của sinh viên đối với các phương tiện này cũng ngày càng dễ dàng hơn, đặc biệt là đối với Internet Chính vì vậy, yếu tố này cũng được sinh viên đánh giá cao
Nhà trường là cơ sở đào tạo, là nơi cung cấp tri thức, cung cấp các kỹ năng liên quan đến công việc Tuy nhiên, nhà trường lại không phải là nơi đóng vai trò quan trọng giúp sinh viên định hướng việc làm Điều này cũng lí giải phần nào “sự gián đoạn” giữa nhà trường và thị trường lao động Khi
Trang 38chúng tôi tìm hiểu về mức độ tin cậy của các nguồn thông tin này thì nhà trường cũng không được đánh giá cao
Bảng 2.5: Đánh giá mức độ tin cậy của các nguồn thông tin
giúp sinh viên định hướng việc làm (đơn vị: %)
Nguồn thông tin
Các mức độ
Tổng
Rất tin cậy
Tin cậy
Bình thường
Không tin cậy
Rất không tin cậy
Trang 39kiến thức làm nền tảng cho cuộc sống của cá nhân trong tương lai Trong trường hợp này, nhà trường đã không phát huy tối đa vai trò của mình
“Nhà trường hàng năm cũng tổ chức các hội chợ việc làm, mời các doanh nghiệp đến tuyển dụng trực tiếp nhưng em thấy vẫn còn mơ hồ Ngoài những hoạt động ấy ra thì cũng không thấy thông tin gì”
(Nữ, năm thứ 3, nông thôn, Trường Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn)
“Các thấy cô cũng hay kể chuyện về việc đi xin việc làm của bản thân, của các anh chị khóa trên”
(Nam, năm thứ 2, miền núi, Trường Đại học Dân lập Phương Đông)
Mạng xã hội với các mối quan hệ chằng chịt là nơi ta trao đổi, thu thập thông tin trong cuộc sống, trong đó có các thông tin về việc làm Các mạng xã hội như gia đình, bạn bè, các tổ chức xã hội đóng góp vai trò quan trọng giúp sinh viên định hướng việc làm
2.3 Định hướng về địa điểm làm việc
Sinh viên tại các trường đại học nói chung và ở hai trường đại học mà chúng tôi nghiên cứu nói riêng được quy tụ từ rất nhiều địa phương khác nhau Chính vì vậy, chúng tôi cũng rất quan tâm đến vấn đề xem họ dự định
sẽ làm việc ở đâu sau khi ra trường
Trang 4022.1 4.3
20.3
11.3
Hà Nội
Về địa phương Các thành phố lớn khác
Bất cứ nơi nào miễn có việc làm
Chưa định rõ nơi làm việc
Biểu đồ 2.6: Định hướng về địa điểm làm việc (đơn vị: %)
Có đến 42% sinh viên được hỏi đã lựa chọn Hà Nội là nơi làm việc sau khi tốt nghiệp Hà Nội là thủ đô của cả nước, là thành phố phát triển thứ hai
cả nước về mặt kinh tế, sau Thành phố Hồ Chí Minh Hà Nội cũng là nơi tập trung lớn các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân cũng như các tổ chức nước ngoài với nhiều hình thức kinh doanh và quy mô khác nhau, là môi trường thuận lợi cho sự phát triển năng lực của sinh viên mới ra trường Hà Nội với
sự phát triển về mặt kinh tế, văn hóa, xã hội và là trung tâm chính trị - nơi có khả năng cung cấp cho các cá nhân một đời sống vật chất và tinh thần phong phú Khoảng thời gian học tập 4 năm cũng đủ giúp cho sinh viên từ xa đến Hà Nội bắt nhịp với cuộc sống nơi đây và mong muốn gắn bó khi ra trường Có không ít sinh viên rời xa gia đình khi bước chân vào giảng đường đại học Môi trường mới giúp họ có những mối quan hệ mới, những hiểu biết mới…
để từ đó họ định hình cho tương lai của mình Về lại quê hương nơi mình từ
đó ra đi không còn là lựa chọn duy nhất của họ Họ không chỉ chịu sự tác động từ môi trường xã hội hóa là gia đình mà đã tham gia vào các môi trường
xã hội hóa khác nữa