1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp chính sách thúc đẩy nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa (nghiên cứu

88 295 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 797,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ những nguyên nhân trên, việc lựa chọn đề tài “Giải pháp chính sách thúc đẩy nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng theo h

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

PHẠM HỮU DUỆ

GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ NHẰM NÂNG CAO NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG CÂY TRỒNG THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA

(NGHIÊN CỨU Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Hà Nội, 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

PHẠM HỮU DUỆ

GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ NHẰM NÂNG CAO NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG CÂY TRỒNG THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA

(NGHIÊN CỨU Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG)

CHUYÊN NGÀNH CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

MÃ SỐ: 60.34.70

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Ngọc Ca

Hà Nội, 2014

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 6

PHẦN MỞ ĐẦU 7

1 Lý do chọn đề tài 7

2 Lịch sử nghiên cứu 9

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 10

3.1 Mục tiêu nghiên cứu 10

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 10

4 Phạm vi nghiên cứu 10

5 Mẫu khảo sát 10

6 Câu hỏi nghiên cứu 11

7 Giả thuyết nghiên cứu 11

8 Phương pháp nghiên cứu 11

9 Cấu trúc của luận văn 12

CHƯƠNG 1 13

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN VĂN 13

1.1 Cơ sở lý luận về chính sách 13

1.1.1 Khái niệm chính sách 13

1.1.2 Khái niệm chính sách khoa học và công nghệ 16

1.1.2 Tác động của chính sách 17

1.2 Cơ sở lý luận về nghiên cứu khoa học 18

1.2.1 Khái niệm nghiên cứu khoa học 18

1.2.2 Phân loại kết quả nghiên cứu khoa học 20

1.3 Cơ sở lý luận về chuyển giao công nghệ 21

1.3.1 Khái niệm công nghệ 21

1.3.2 Khái niệm chuyển giao công nghệ 21

1.3.3 Chính sách chuyển giao công nghệ 23

1.4 Tác động của chính sách (đã phân tích) đến năng suất, chất lượng cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa 24

1.4.1 Hệ thống chính sách đã ban hành 24

1.4.2 Đánh giá tác động của chính sách đến năng xuất, chất lượng cây trồng 26

Kết luận Chương 1 31

CHƯƠNG 2 32

THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY 32

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ 32

ĐỐI VỚI CÂY TRỒNG Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG 32

2.1 Khái quát về nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ vùng Đồng bằng sông Hồng 32

2.1.1 Đặc điểm khái quát về Đồng bằng sông Hồng 32

2.1.2 Mạng lưới nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ vùng Đồng bằng sông Hồng 33

2.2 Kết quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ nổi bật trong trồng trọt vùng Đồng bằng sông Hồng 34

2.2.1 Các hình thức chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp ở Đồng bằng sông Hồng 34

2.2.2 Kết quả nghiên cứu khoa học nổi bật trong trồng trọt vùng Đồng bằng sông Hồng 35

Trang 4

2.3 Những hạn chế của chính sách nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ đối

với cây trồng vùng đồng bằng sông Hồng 41

2.3.1 Đầu tư cho lĩnh vực nông nghiệp còn thấp 41

2.3.2 Đầu tư cho các chương trình KH&CN chưa đáp ứng yêu cầu 42

2.3.3 Nhân lực KH&CN tập trung đông nhưng còn bất cập 46

2.3.4 Các chương trình, đề tài chưa thực sự phát huy thế mạnh của vùng đồng bằng sông Hồng 48

2.4 Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế của chính sách nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ đối với cây trồng vùng đồng bằng sông Hồng 51

2.4.1 Nguyên nhân khách quan 51

2.4.2 Nguyên nhân chủ quan 51

2.5 Những khó khăn trong trồng trọt ở vùng Đồng bằng sông Hồng 53

2.5.1 Khả năng cạnh tranh thấp 53

2.5.2 Các nguồn lực cho tăng trưởng nông nghiệp có xu hướng giảm, nông nghiệp tăng trưởng kém bền vững 53

2.5.3 Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp còn yếu kém 54

2.5.4 Thể chế kinh tế nông thôn chậm đổi mới 54

2.5.5 Cơ cấu sản xuất chưa hợp lý 55

Kết luận Chương 2 57

CHƯƠNG 3 59

GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY 59

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ 59

THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA 59

Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG 59

3.1 Bài học kinh nghiệm của các nước qua chính sách khoa học và công nghệ trong nông nghiệp 59

3.2 Ứng dụng kết quả nghiên cứu tạo cơ sở xây dựng nền nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa 61

3.2.1 Ứng dụng kết quả nghiên cứu trong trồng trọt trên phạm vi cả nước 61

3.2.2 Ứng dụng kết quả nghiên cứu trong trồng trọt tại Đồng bằng sông Hồng 63

3.3 Các điều kiện nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa 64

3.3.1 Điều kiện tồn tại của sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa 64

3.3.2 Nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa 65

3.4 Chính sách thúc đẩy nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa ở vùng đồng bằng sông Hồng 66

3.4.1 Nhiệm vụ chung của KH&CN phục vụ phát triển nông nghiệp 66

3.4.2 Nhóm giải pháp về chính sách KH&CN 69

3.4.3 Nhóm giải pháp về chính sách cho công tác khuyến nông 77

3.4.4 Nhóm giải pháp về tổ chức sản xuất 78

3.4.5 Nhóm giải pháp về chính sách hỗ trợ 78

Kết luận Chương 3 81

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 82

1 Kết luận 82

2 Khuyến nghị 84

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Em xin cảm ơn sâu sắc tới các Thầy giáo/Cô giáo Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ đã tận tình giúp đỡ, truyền đạt kiến thức khoa học, phương pháp nghiên cứu, động viên, khích lệ tinh thần học tập trong những năm qua Đặc biệt, xin cảm ơn Thầy

Vũ Cao Đàm, Thầy Trần Ngọc Ca đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn nghiên cứu, cung cấp tài liệu trong quá trình học tập và viết luận văn; cảm ơn TSKH Phan Xuân Dũng, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội đã dành thời gian đọc và đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho bản luận văn

Xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ của Cơ quan Văn phòng Quốc hội, của Thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội

đã tạo điều kiện dành thời gian cho em học tập; cảm ơn các bạn bè, đồng nghiệp; các bạn của Lớp cao học khóa 15, 16 Thạc sĩ chuyên ngành Chính sách Khoa học và Công nghệ đã động viên, giúp đỡ, chia sẻ khó khăn, đồng hành để đi đến kết quả hôm nay

Tác giả Luận văn

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

KH&CN Khoa học và công nghệ

NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

R&D Nghiên cứu và triển khai

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Từ xa xưa con người đã biết sử dụng sức lao động của mình để trồng trọt và chăm sóc để tạo ra sản phẩm nuôi sống mình và cộng đồng, bảo đảm sinh tồn nòi giống Như vậy, phát triển nông nghiệp đã gắn với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Theo đó, chủ nghĩa “trọng nông” đã ra đời và được nhiều quốc gia coi trọng

Sản xuất nông nghiệp ngày nay không chỉ đơn thuần là cung cấp lương thực, thực phẩm để nuôi sống con người, mà nhiều quốc gia lấy đó là thế mạnh để phát triển quốc gia mình, quan tâm chú ý tới sự đa dạng hóa các loại sản phẩm, làm cho sản phẩm ngày càng có giá trị về chất lượng, bảo đảm cho con người ăn, uống không chỉ có đủ dinh dưỡng mà ngày càng có chất lượng Việt Nam hiện đang là nước nông nghiệp, với nền trồng lúa nước lâu đời, được tích lũy kinh nghiệm từ ngàn năm và đã trở thành quốc gia sản xuất lúa gạo lớn vào bậc nhất thế giới Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp nước ta vẫn chủ yếu là dựa trên kinh nghiệm là chính, nên năng suất chưa cao, chất lượng thấp, chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao trong nước

và xuất khẩu

Việc áp dụng công nghệ và kỹ thuật tiên tiến, hiện đại trong sản xuất nông nghiệp đã được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, nhưng kết quả mang lại chưa tương xứng với tiềm năng con người Việt Nam cũng như điều kiện thổ nhưỡng của nước ta Đứng trước yêu cầu phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hiện đại, chất lượng và hiệu quả, tăng tính cạnh tranh, không chỉ bảo đảm an ninh lương thực quốc gia mà còn phải đáp ứng nhu cầu xuất khẩu; bảo đảm hiệu quả sử dụng đất, nước, lao động; nâng cao thu nhập và đời sống của nông dân đòi hỏi phải có những giải pháp và chính sách phù hợp hơn

Trang 8

Tuy trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chính sách về đầu tư, quản lý, nghiên cứu và phổ biến KH&CN tiên tiến nhằm thúc đẩy nông nghiệp và nông thôn theo hướng hiện đại, nhưng đứng trước một thế giới đầy biến động và KH&CN phát triển như vũ bão thì những chính sách đó cần phải cập nhật liên tục và thay đổi kịp thời mới đáp ứng được

Xuất phát từ những nguyên nhân trên, việc lựa chọn đề tài “Giải pháp chính sách thúc đẩy nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa” với

mục đích chỉ rõ những bất cập, tồn tại, hạn chế về chính sách, nhất là chính sách về KH&CN trong nông nghiệp thông qua việc phản ảnh thực tế thực trạng ứng dụng và chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp ở vùng ĐBSH

để từ đó đề xuất một số kiến nghị và giải pháp mang tính thực tiễn và khoa học

Trong phạm vi của một luận văn cao học, không thể giải quyết một cách tổng thể các vấn đề liên quan đến sản xuất nông nghiệp trên phạm vi cả nước, nên tác giả luận văn xin phép chỉ chọn ĐBSH làm đối tượng mang tính đại diện cho mục tiêu nghiên cứu Việc lựa chọn này dựa trên các lý do sau:

- ĐBSH gồm 11 tỉnh, thành phố nằm trong khu vực sông Hồng mang nhiều nét truyền thống của văn hóa Việt Nam Đây được coi là cái nôi của văn hoá - lịch sử dân tộc với việc trồng lúa nước và phát triển nông nghiệp

- ĐBSH là nơi đông dân của Bắc bộ, sống tập trung, quây quần thành làng xã, giàu kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp

- Cây trồng của ĐBSH rất đa dạng, cả cây lương thực và rau màu

- Tuy ĐBSH có nền nông nghiệp khá lâu đời, nhưng vẫn mang tính sản xuất truyền thống, về cơ bản vẫn lạc hậu, sản xuất mới chủ yếu đủ bảo đảm cuộc sống, hướng sản hàng hóa để vươn lên làm giàu của nông dân ở nhiều vùng của ĐBSH chưa rõ nét

Trang 9

2 Lịch sử nghiên cứu

Đã có nhiều đề tài, dự án nghiên cứu về nông nghiệp và nông thôn, có nhiều tác phẩm, cuốn sách, kết quả nghiên cứu của các đề tài về vấn đề này đã được xuất bản và công bố như:

- Khái quát, đánh giá những vấn đề của nền nông nghiệp Việt Nam sau hơn 25 năm đổi mới để đề xuất những giải pháp chiến lược cho phát triển nông nghiệp của nước ta Tổng thể về hướng đi của nền nông nghiệp nước ta trong tương lai là phải tái cơ cấu nông nghiệp Việt Nam theo hướng giá trị gia tăng cao1

- Phân tích về mặt lý luận và đánh giá khách quan thực tiễn nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam; đưa ra xu hướng phát triển trong mô hình tăng trưởng kinh tế mới giai đoạn 2011 – 2020, đồng thời đề xuất giải quyết những vấn đề tồn tại đang đặt ra trong nông nghiệp, nông dân, nông thôn2

- Nghiên cứu cơ sở khoa học và điều kiện thực tiễn để hình thành khu nông nghiệp ứng dụng CNC3

- Bên cạnh đó, có nhiều tác giả nghiên cứu về “tam nông”, mỗi tác giả

có một cách nhìn riêng và đi sâu vào các khía cạnh khác nhau của vấn đề làm

rõ thực trạng, nguyên nhân cốt lõi và đề xuất hướng đi ra khỏi vướng mắc của nông nghiệp, nông dân, nông thôn đặt ra sau khi có Nghị quyết hội nghị Trung ương 7 (khóa X)4

Những công trình nghiên cứu trên đề cập quá rộng, mang tính tổng thể của cả nền nông nghiệp nước ta, giải quyết cho cả việc xây dựng và phát triển nông thôn mới, chính vì thế, để tập trung giải quyết vấn đề cụ thể tác giả luận

văn đã nghiên cứu một số vấn đề cơ bản liên quan đến chính sách thúc đẩy

1 Đặng Kim Sơn (2012), Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn, Tái cơ cấu nền nông nghiệp Việt Nam theo hướng giá trị gia tăng cao, NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội

2 Nguyễn Thị Tố Quyên (2012), Viện KHXH Việt Nam, Viện Kinh tế, Nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong mô hình tăng trưởng kinh tế mới giai đoạn 2011 – 2020, NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội

3 Mai Hà, Viện Chiến lược và chính sách KH&CN, Bộ KH&CN, Nghiên cứu cơ sở khoa học về điều kiện thực tiễn để hình thành khu nông nghiệp ứng dụng CNC tại Quảng Ngãi, Kỷ yếu kết quả nghiên cứu chiến

lược và chính sách KH&CN năm 2008 – 2009

4 Nông dân, nông thôn & nông nghiệp, những vấn đề đang đặt ra, NXB Tri thức, tháng 12/2008

Trang 10

NCKH và CGCN nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa ở vùng ĐBSH và có thể tham khảo lan rộng trong phạm vi

cả nước, đáp ứng yêu cầu về chất lượng cây trồng ngày càng cao của nhân dân và xuất khẩu

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn đặt mục tiêu nghiên cứu: đề xuất giải pháp chính sách nhằm thúc đẩy nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ để nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt mục tiêu nghiên cứu trên, Luận văn có các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:

- Phân tích cơ sở lý luận về chính sách, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và mối quan hệ của chúng đến năng suất, chất lượng cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa

- Khảo sát và đánh giá thực trạng về chính sách thúc đẩy nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa trên địa bàn khu vực ĐBSH

- Đề xuất giải pháp chính sách nhằm thúc đẩy nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ để nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa trên địa bàn khu vực ĐBSH

4 Phạm vi nghiên cứu

- Tập trung phân tích tác động của chính sách thúc đẩy NCKH và CGCN nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa có tác động tới trồng trọt vùng ĐBSH

- Trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến 2013

5 Mẫu khảo sát

Tác giả Luận văn đã tiến hành khảo sát:

- Kết quả nghiên cứu khoa học về nông nghiệp trên địa bàn ĐBSH;

Trang 11

- 11 Trung tâm Khuyến nông thuộc các tỉnh ĐBSH;

- Các văn bản chính sách KH&CN trong lĩnh vực nông nghiệp

6 Câu hỏi nghiên cứu

Với mục tiêu đặt ra như trên, luận văn đặt ra câu hỏi nghiên cứu: Cần phải có giải pháp chính sách gì nhằm thúc đẩy nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ để nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa?

7 Giả thuyết nghiên cứu

Để thúc đẩy nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa, cần có những giải pháp chính sách sau đây:

- Tăng tỷ suất giá trị sản phẩm nông nghiệp theo hướng hàng hóa

- Tăng quy mô giá trị sản phẩm nông nghiệp theo hướng hàng hóa

- Kích thích quá trình đổi mới công nghệ trong sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa

8 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu:

+ Thu thập tài liệu về tình hình sản xuất nông nghiệp, tình hình phát triển trồng trọt, tình hình nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, tình hình đầu tư trong lĩnh vực trồng trọt trên địa bàn vùng ĐBSH từ các bộ, ngành, cơ quan quản lý nhà nước các cấp (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thông, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Kế hoạch và đầu tư, Bộ Tài chính, UBND một số tỉnh ĐBSH, Niên giám thống kê, v.v.)

+ Thu thập các tài liệu từ sách, các đề tài liên quan đã được công bố

- Phương pháp khảo sát thực tế: Trực tiếp tìm hiểu tình hình trồng trọt

của một số địa phương vùng ĐBSH

- Phương pháp chuyên gia: tham khảo ý kiến của chuyên gia trong việc

đề xuất chính sách nhằm thúc đẩy NCKH và CGCN nhằm nâng cao năng

Trang 12

suất, chất lượng cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa tại vùng Đồng bằng sông Hồng

- Phương pháp xử lý và đánh giá số liệu:

+ Các số liệu được tích hợp trực tiếp trong từng phần của luận văn, được trình bày dưới dạng bảng số liệu

+ Sử dụng một số dẫn liệu từ tài liệu thu thập được về kinh nghiệm phát triển nông nghiệp của một số nước và vùng lãnh thổ trên thế giới để chứng minh

9 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn được chia thành 3 chương, bao gồm:

- Chương 1 Cơ sở lý luận của Luận văn

- Chương 2 Thực trạng chính sách thúc đẩy nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ đối với cây trồng ở vùng Đồng bằng sông Hồng

- Chương 3 Giải pháp chính sách thúc đẩy nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ theo hướng sản xuất hàng hóa ở Đồng bằng sông Hồng

Trang 13

Từ các cách tiếp cận trên đây, khi nói đến một chính sách, là nói đến những yếu tố sau đây:

- Chính sách là tập hợp những biện pháp mà chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đƣa ra, đƣợc thể chế hoá thành những quy định có giá trị pháp lý, nhằm thực hiện chiến lƣợc phát triển của hệ thống theo mục đích mà

chủ thể quyền lực mong đợi

- Chính sách bao giờ cũng tạo ra một sự phân biệt đối xử của chủ thể

quyền lực hoặc chủ thể quản lý đối với các nhóm xã hội khác nhau Trong sự phân biệt đối xử đó, chủ thể quyền lực có sự ƣu đãi đối với một (hoặc một số) nhóm xã hội nào đó

- Các biện pháp ƣu đãi phải có tác dụng kích thích động cơ hoạt động

của nhóm đƣợc ƣu đãi, là nhóm có vai trò then chốt trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển hệ thống, nhằm thực hiện mục tiêu phát triển của hệ thống theo chiến lƣợc mà nhóm chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đƣa ra

- Chính sách luôn tạo ra một bất bình đẳng xã hội, rất có thể, đồng thời

khắc phục một bất bình đẳng xã hội đang tồn tại, rất có thể khoét sâu thêm những bất bình đẳng vốn có, nhƣng cuối cùng phải nhằm mục đích tối

Trang 14

thượng, là thoả mãn những nhu cầu cơ bản của mục tiêu phát triển toàn hệ thống (hệ thống xã hội)

- Toàn bộ những biện pháp đó phải đạt đến một kết quả là tạo ra một

đòn ứng phó với một tình huống của cuộc chơi, có khi là rất bất lợi cho chủ

thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý

Tổng hợp từ trên tất cả các cách tiếp cận trên, có thể đưa ra định nghĩa:

Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội.”

Như vậy, nói về một quyết định chính sách, người quản lý có thể hiểu theo những khía cạnh như sau:

- Chính sách là một tập hợp biện pháp Đó có thể là một biện pháp kích

thích kinh tế, biện pháp động viên tinh thần, một biện pháp mệnh lệnh hành chính hoặc một biện pháp ưu đãi đối với các cá nhân hoặc các nhóm xã hội

- Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá dưới dạng các

đạo luật, pháp lệnh, sắc lệnh; các văn bản dưới luật, như nghị định, chỉ thị của chính phủ; thông tư hướng dẫn của các bộ, hoặc các văn bản quy định nội bộ của các tổ chức (doanh nghiệp, trường học, )

- Chính sách phải tác động vào động cơ hoạt động của các cá nhân và

nhóm xã hội Đây phải là nhóm đóng vai trò động lực trong việc thực hiện một mục tiêu nào đó Ví dụ, nhóm quân đội trong chính sách bảo vệ Tổ quốc, nhóm giáo viên trong chính sách giáo dục, nhóm khoa học gia trong chính sách khoa học, nhóm các nhà kinh doanh trong chính sách kinh tế, Mỗi nhóm được đặc trưng bởi những thang bậc giá trị khác nhau về nhu cầu Đó là

cơ sở tâm lý học giúp chúng ta vận dụng các bậc thang nhu cầu trong việc tạo động cơ cho đối tượng chính sách

- Chính sách phải hướng động cơ của các cá nhân và nhóm xã hội nói

trên vào một mục tiêu nào đó của hệ thống xã hội Chẳng hạn, mục tiêu kinh

Trang 15

doanh của doanh nghiệp, mục tiêu đào tạo của nhà trường, mục tiêu phát triển của một địa phương, mục tiêu bảo vệ Tổ quốc của một quốc gia,

Trong quá trình chuẩn bị một quyết định chính sách, người quản lý cần xác định rõ các đặc điểm sau:

- Cho ra đời một chính sách chính là tung ra một giải pháp ứng phó trong một cuộc chơi Giải pháp đó phải lựa chọn sao cho chủ thể quản lý luôn

thắng trong cuộc chơi, nhưng với chú ý rằng luôn thắng trong điều kiện mà đối tác cảm thấy được chia sẻ lợi ích thoả đáng (cân bằng Nash), không dồn đối tác vào đường cùng để đón lấy những mối hoạ tiềm ẩn trong các vòng chơi tiếp sau

- Cuối cùng, một chính sách đưa ra chính nhằm khắc phục một yếu tố bất đồng bộ nào đó trong hệ thống, nhưng đến lượt mình, chính sách lại làm xuất hiện những yếu tố bất đồng bộ mới Như vậy, quá trình làm chính sách thực chất là tạo ra những bước phát triển hệ thống, từ những bất đồng bộ này tới những bất đồng bộ khác Trong quá trình phát triển hệ thống, không bao

giờ ảo tưởng sự đồng bộ ổn định tuyệt đối ổn định, có nghĩa là không còn phát triển

- Kết quả cuối cùng cái mà chính sách phải đạt được là tạo ra những

biến đổi xã hội phù hợp mục tiêu mà chủ thể chính sách vạch ra Khái niệm

“Mục tiêu biến đổi xã hội” ở đây được sử dụng với một nghĩa hoàn toàn trung lập, có thể là một biến đổi “tốt đẹp” theo một nghĩa nào đó, nhưng lại là “tồi tệ” theo một nghĩa nào đó

Định nghĩa của Luận văn

Từ những quan niệm trên đây về chính sách, Luận văn sử dụng định nghĩa chính sách:

Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa thông qua vật mang chính sách là các văn bản quy phạm pháp luật được Nhà nước ban hành, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một/một nhóm mục tiêu ưu tiên trong chiến lược phát triển chung của xã hội.”

Trang 16

Thuật ngữ “Nhà nước” trong định nghĩa trên đây được hiểu là:

- Cơ quan quyền lực nhà nước, bao gồm: Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp;

- Cơ quan hành chính nhà nước, bao gồm: Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp;

- Cơ quan tư pháp: Tòa án nhân dân tối cao Trong Luận văn này không khảo sát các văn bản của các cấp tòa án địa phương, Viện Kiểm sát nhân dân các cấp

1.1.2 Khái niệm chính sách khoa học và công nghệ

Tổ chức Văn hóa, Khoa học Kỹ thuật của Liên Hợp Quốc (UNESCO)

đưa ra định nghĩa: “Chính sách KH&CN là tập hợp các biện pháp lập pháp

và hành pháp được thực thi nhằm nâng cao, tổ chức và sử dụng tiềm lực KH&CN quốc gia với mục tiêu đạt phát triển quốc gia và nâng cao vị thế quốc gia trên thế giới”.

Như vậy, theo định nghĩa này thì chính sách KH&CN trước hết là tập hợp các biện pháp thuộc lĩnh vực lập pháp và lĩnh vực hành pháp, có nghĩa là chính sách KH&CN không những chỉ thể hiện ở khâu hoạch định, ban hành các biện pháp về KH&CN, mà còn phải thể hiện ở khâu hành pháp: thực thi các biện pháp về KH&CN

Định nghĩa của Luận văn

Trên cơ sở tham khảo khái niệm chính sách mà Vũ Cao Đàm đã đưa ra, Luận văn xin đưa ra quan niệm về chính sách KH&CN như sau:

Chính sách KH&CN là tập hợp các biện pháp được thể chế hóa thông qua vật mang chính sách là các văn bản quy phạm pháp luật, do Nhà nước ban hành nhằm thực hiện mục tiêu về KH&CN trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội

Như vậy, chính sách KH&CN được thể hiện theo những khía cạnh:

- Chính sách KH&CN là một tập hợp biện pháp về KH&CN

- Chính sách KH&CN là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá dưới

dạng các đạo luật, pháp lệnh; các văn bản dưới luật, như nghị định, chỉ thị của

Trang 17

chính phủ; thông tư hướng dẫn của các bộ, hoặc các văn bản quy định về hoạt động KH&CN

- Chính sách KH&CN phải tác động vào động cơ hoạt động của các cá

nhân và nhóm xã hội trong lĩnh vực KH&CN

- Chính sách KH&CN phải hướng động cơ của các cá nhân và nhóm xã

hội nói trên vào mục tiêu phát triển KH&CN, trên cơ sở đó phát triển kinh tế -

xã hội nói chung

1.1.3 Tác động của chính sách

- Tác động dương tính của chính sách: tác động dương tính của một

chính sách là những tác động dẫn đến những kết quả phù hợp với mục tiêu của chính sách Tác động dương tính là loại tác động mà cơ quan quyết định chính sách mong muốn đạt tới

Tuy nhiên, sau khi công bố một chính sách, không phải khi nào cũng chỉ có tác động dương tính, mà còn có tác động âm tính Tác động âm tính xuất hiện là một tất yếu khách quan, hơn nữa, tác động âm tính chính là cơ sở

để suy xét ban hành những chính sách ngày càng có vai trò tích cực hơn trong quá trình phát triển xã hội Vấn đề là chủ thể chính sách cần nhận diện đúng các tác động này để không ngừng hoàn thiện chính sách

- Tác động âm tính của chính sách: tác động âm tính của một chính

sách là những tác động dẫn đến những kết quả ngược lại với mục tiêu của chính sách

- Tác động ngoại biên của chính sách: tác động ngoại biên của một

chính sách là những tác động dẫn đến những kết quả nằm ngoài dự liệu của cơ quan quyết định của chính sách Trong tác động ngoại biên, người ta lại có thể thấy xuất hiện tác động ngoại biên dương tính và tác động ngoại biên âm tính

Tác động ngoại biên dương tính, là tác đông ngoại biên góp phần nâng

cao hiệu quả của chính sách [6;30]

Trang 18

Tác động ngoại biên âm tính, là loại tác động ngoại biên dẫn tới giảm

thiểu hiệu quả của chính sách

Một chính sách có thể làm xuất hiện một chuỗi tác động kế tục nhau Các tác động này có thể dương tính, âm tính, ngoại biên Chính đây là nguyên nhân dẫn đến những tình huống phức tạp khi cân nhắc để quyết định một chính sách

- Tác động trực tiếp của chính sách: tác động trực tiếp hiện ngay sau

khi chính sách được công bố Tác động trực tiếp có thể là dương tính, âm tính,

ngoại biên

- Tác động nối tiếp của chính sách: tác động nối tiếp diễn ra sau tác

động trực tiếp Tác động nối tiếp có thể xuất hiện sau tác động trực tiếp một vài năm, cũng có thể nhanh hơn hoặc chậm hơn Tác động nối tiếp cũng có thể là dương tính, âm tính, ngoại biên

- Tác động kế tiếp của chính sách: tác động kế tiếp diễn ra sau tác động

nối tiếp Tác động kế tiếp có thể xuất hiện sau tác động nối tiếp một vài năm, cũng có thể nhanh hơn hoặc chậm hơn Tác động kế tiếp cũng có thể là dương tính, âm tính, ngoại biên

- Tác động gián tiếp của chính sách: Tác động gián tiếp diễn ra sau tác

động kế tiếp, cũng bao gồm: gián tiếp dương tính, gián tiếp âm tính, gián tiếp ngoại biên

1.2 Cơ sở lý luận về nghiên cứu khoa học

1.2.1 Khái niệm nghiên cứu khoa học

Để phân tích khái niệm nghiên cứu khoa học, trước hết Luận văn xin phân tích khái niệm khoa học

Khoa học được hiểu là hệ thống tri thức về quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội, tư duy Tri thức khoa học khác với tri thức kinh nghiệm, trong đó:

- Tri thức kinh nghiệm: là những hiểu biết được tích luỹ một cách rời rạc,

Trang 19

thường là ngẫu nhiên từ trong đời sống hàng ngày Con người cảm nhận thế giới khách quan từ khi chào đời, chịu sự tác động của thế giưói khách quan, buộc phải xử lý những tình huống xuất hiện trong tự nhiên, trong lao động và trong ứng xử Từ quá trình cảm nhận và xử lý các tình huống của con người, những hiểu biết kinh nghiệm được tích luỹ chuyển dần từ những hiểu biết về từng sự vật riêng lẻ đến những mối liên hệ mang tính hệ thống [5;19]

- Tri thức khoa học là những hiểu biết được tích lũy một cách hệ thống nhờ hoạt động Nghiên cứu khoa học , là hoạt động được vạch sẵn theo một mục tiêu xác định (khám phá, sáng tạo) và được tiến hành dựa trên một hệ thống phương pháp khoa học Tri thức khoa học được phát triển từ tri thức kinh nghiệm, nhưng nó không phải là sự kế tục giản đơn các tri thức kinh nghiệm [5;19]

Về nghiên cứu khoa học, đã có những cách hiểu khác nhau:

Điều 2.4 Luật KH&CN (2000) quy định: “Nghiên cứu khoa học là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã

hội và tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn Nghiên

cứu khoa học bao gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng”

Cách định nghĩa nghiên cứu khoa học trên đây là chưa đầy đủ, theo quan niệm của UNESCO, thì nghiên cứu khoa học bao gồm: nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai (toàn bộ chuỗi R&D) [6;21]

Luật KH&CN của Việt Nam (2013) đã định nghĩa “khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy” [9; Điều 3]

Điều 3.4 Luật KH&CN (2013) định nghĩa “Nghiên cứu khoa học là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn.”

Quan niệm của Luận văn:

- Nghiên cứu khoa học là một hoạt động xã hội hướng vào việc tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết, chưa nói tới để củng cố phát triển tri

Trang 20

thức, phục vụ cho việc phát triển khoa học và công nghệ, phát triển kinh tế Bao gồm: hoạt động nghiên cứu khoa học và sáng tạo công nghệ (nghiên cứu

cơ bản và nghiên cứu ứng dụng), hoạt động thử nghiệm (sản xuất thử nghiệm)

- Nghiên cứu khoa học có mục đích: hoàn thiện nhận thức về thế giới khách quan, góp phần làm giàu tri thức của nhân loại và để cải tạo thế giới, khám phá, tìm kiếm, sáng tạo các giá trị nhận thức mới, phương pháp mới, công nghệ mới để tăng năng suất lao động, cải tạo xã hội, hoàn thiện nhân cách, phát triển nền văn minh nhân loại, góp phần nâng cao dân trí, tăng cường nhận thức, phát huy các năng lực sáng tạo để xây dựng, cải thiện đời sống vật chất tinh thần của cộng đồng

1.2.2 Phân loại kết quả nghiên cứu khoa học

Để phân tích khái niệm kết quả nghiên cứu, trước hết cần phân loại kết quả nghiên cứu Có nhiều cách phân loại nghiên cứu khoa học, nhưng thông thường phân theo ba loại sau:

- Nghiên cứu cơ bản (Fundamental Research): là những nghiên cứu nhằm phát hiện thuộc tính, cấu trúc, động thái của sự vật, tương tác trong nội bộ sự vật

và mối liên hệ giữa sự vật với các sự vật khác Sản phẩm có thể là khám phá, phát hiện, phát minh, hình thành một hệ thống lý thuyết ;

- Nghiên cứu ứng dụng (Applied Research): là sự vận dụng quy luật từ nghiên cứu cơ bản đề giải thích một sự vật, tạo ra những nguyên lý mới về các giải pháp và ứng dụng vào sản xuất, đời sống (có thể là giải pháp về công nghệ,

về vật liệu, về tổ chức quản lý );

- Nghiên cứu triển khai (Development Research): còn gọi là triển khai thực nghiệm hoặc triển khai thực nghiệm kỹ thuật, là sự vận dụng các quy luật (từ nghiên cứu cơ bản) và nguyên lý (từ nghiên cứu ứng dụng) để đưa ra các hình mẫu với những tham số khả thi về kỹ thuật, khái niệm triển khai được áp dụng cả trong nghiên cứu khoa học kỹ thuật và trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn [6;17]

Trang 21

1.3 Cơ sở lý luận về chuyển giao công nghệ

1.3.1 Khái niệm công nghệ

Trên thế giới có nhiều cách định nghĩa về công nghệ Nhìn chung, có thể hiểu công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm Như vậy công nghệ là việc phát triển và ứng dụng của các dụng cụ, máy móc, nguyên liệu và quy trình để giúp đỡ giải quyết những vấn đề của con người Với tư cách là hoạt động con người, công nghệ diễn ra trước khi có khoa học

và kỹ nghệ Nó thể hiện kiến thức của con người trong giải quyết các vấn đề thực tế để tạo ra các dụng cụ, máy móc, nguyên liệu hoặc quy trình Tuỳ vào từng ngữ cảnh mà thuật ngữ công nghệ có thể được hiểu:

- Là công cụ hoặc máy móc giúp con người giải quyết các vấn đề;

- Là các kỹ thuật bao gồm các phương pháp, vật liệu, công cụ và các tiến trình để giải quyết một vấn đề;

- Là các sản phẩm được tạo ra phải hàng loạt và giống nhau;

- Sản phẩm có chất lượng cao và giá thành hạ

Uỷ ban Kinh tế và Xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) định nghĩa: Công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin Nó bao gồm kiến thức, thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hoá và cung cấp dịch vụ

Luật CGCN (2006) và Luật KH&CN (năm 2013) đã định nghĩa: "Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công

cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm”[10; Điều 3], [9;

Điều 3]

1.3.2 Khái niệm chuyển giao công nghệ

Về bản chất, ta hiểu rằng CGCN là sự dịch chuyển toàn bộ, hoặc một phần công nghệ từ nhóm người này sang nhóm người khác

Tuy CGCN không phải là một hiện tượng mới, nhưng khái niệm về CGCN mới chính thức được luật hóa ở Việt Nam từ năm 2000 trong Luật

Trang 22

KH&CN (2000) Trong nhiều thập kỷ gần đây, hoạt động CGCN đã được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm phát triển rộng khắp trên tất cả các lĩnh vực với các mức độ khác nhau, cả chiều rộng lẫn chiều sâu

Trước đây, CGCN xảy ra như là kết quả của các hoạt động nhằm chống chọi với thiên nhiên để sinh tồn, việc khai thác các nguồn lợi tự nhiên được tiến hành một cách trực tiếp, rồi phát triển lên thành quy mô giữa các lãnh thổ, các quốc gia và giao lưu với nhau bởi các quan hệ chính trị, kinh

tế, kinh tế, thương mại, nhưng CGCN chỉ là các hệ quả của quá trình đã được thực hiện một cách ngẫu nhiên và không được vật chất, tiền tệ hoá

dưới các hình thức giao dịch đặc biệt Ngày nay, CGCN trở thành một hoạt động có tính quy luật khách quan, mà kết quả của quá trình này là các sản phẩm, là hàng hoá để trao đổi buôn bán [3; 12]

Hiện nay, hoạt động CGCN thường được thực hiện với sự tham gia của các tổ chức, cá nhân (nhà khoa học, các tổ chức môi giới, tư vấn ), có thể là

từ chính phủ hoặc phi chính phủ, doanh nghiệp Bởi lẽ: CGCN là một lĩnh vực hoạt động nhằm đưa những công nghệ từ nơi có nhu cầu giao công nghệ đến nơi có nhu cầu nhận công nghệ, từ nơi có công nghệ trình độ cao hơn đến nơi có công nghệ trình độ thấp hơn một cách hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của các bên tham gia [3; 12]

Trước đây, Việt Nam quan niệm CGCN một cách đơn giản như là việc

áp dụng tiến bộ kỹ thuật, ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào sản xuất và đời sống Cách hiểu này chưa đầy đủ, vì quá trình CGCN không chỉ thuần tuý

là việc áp dụng một cách máy móc những công nghệ đã có sẵn, mà cần có sự hiểu biết về công nghệ có kiến thức và năng lực, có quan hệ về sở hữu trí tuệ, quyền đối với sáng chế

Ngày nay, với vai trò và vị trí quan trọng ngày càng cao của CGCN,

nên đã được Luật hóa trong Luật CGCN như sau: “CGCN là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên

có quyền CGCN sang bên nhận công nghệ” [10; Điều 3] CGCN không chỉ

được thực hiện từ nước ngoài vào Việt Nam mà còn diễn ra trong phạm vi

Trang 23

lãnh thổ Việt Nam giữa các tổ chức, cá nhân hoạt động KH&CN và CGCN từ

Việt Nam ra nước ngoài

Chính vì vậy việc đổi mới, nâng cao hàm lượng công nghệ trong sản

phẩm đối với các ngành sản xuất đang là một nhu cầu bức thiết, đòi hỏi phải

xác định rõ trách nhiệm của các bên tham gia CGCN, mối quan hệ giữa các

cơ quan quản lý nhà nước các cấp với các doanh nghiệp, cơ sở R&D theo

những thủ tục và quy định của pháp luật

Để phù hợp với thực tế, hệ thống các quy định pháp luật về CGCN ở

Việt Nam đã từng bước được bổ sung và hoàn thiện, phạm vi điều chỉnh được

mở rộng tới các ngành, lĩnh vực, trong đó, công tác NCKH và CGCN trong

nông nghiệp nói chung, trong trồng trọt nói riêng cũng được đặc biệt chú

trọng

1.3.3 Chính sách chuyển giao công nghệ

Theo quy định tại Điều 5 của Luật CGCN (2006) thì chính sách của

Nhà nước đối với hoạt động CGCN là:

- Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ

chức, cá nhân hoạt động chuyển giao công nghệ phục vụ nhu cầu phát triển

nhanh và bền vững kinh tế - xã hội của đất nước

- Ưu tiên phát triển công nghệ cao, công nghệ tiên tiến; phát triển

nguồn nhân lực công nghệ đồng bộ với đầu tư đổi mới công nghệ

- Phát triển mạnh thị trường công nghệ; khuyến khích và thúc đẩy hoạt

động ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ; đẩy mạnh việc

chuyển giao kết quả nghiên cứu vào sản xuất, kinh doanh

- Chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động chuyển giao công

nghệ ở vùng nông thôn, miền núi; khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho

hoạt động chuyển giao công nghệ ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó

khăn và địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn

- Nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế và tạo điều kiện thuận lợi cho tổ

chức, cá nhân hợp tác quốc tế trong hoạt động chuyển giao công nghệ

Trang 24

Điều 9 của Luật CGCN (2006) cũng quy định công nghệ được khuyến

khích chuyển giao, trong đó khuyến khích “tạo ra sản phẩm mới có tính cạnh tranh cao; tạo ra ngành công nghiệp, dịch vụ mới”

Thời gian qua, chính sách CGCN đã được Nhà nước ta ban hành thông qua chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đã nêu những vấn đề lớn về phương hướng, mục tiêu và chiến lược phát triển KH&CN Các văn bản quy phạm pháp luật đã thể chế hóa quan điểm này, trong đó có các văn bản điều chỉnh toàn diện các nội dung, hoạt động có liên quan đến CGCN

1.4 Tác động của chính sách (đã phân tích) đến năng suất, chất lượng cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa

1.4.1 Hệ thống chính sách đã ban hành

Quốc hội đã ban hành Luật Khoa học và công nghệ (năm 2000 và được sửa đổi năm 2013), Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa (năm 2007), Luật Chuyển giao công nghệ (năm 2006), Luật Công nghệ cao (năm 2008), Luật

Đa dạng sinh học (năm 2008), Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật (năm 2013)

và nhiều đạo luật quan trọng khác đã tạo điều kiện thúc đẩy ứng dụng kết quả nghiên cứu vào nông nghiệp Trên cơ sở các luật, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản pháp quy, các giải pháp để thực hiện phù hợp với từng vùng, từng thời kỳ, từng giai đoạn, trong từng điều kiện cụ thể

Bên cạnh đó, Bộ KH&CN, Bộ NN&PTNT cũng đã ban hành các văn bản hướng dẫn cải thiện hệ thống nghiên cứu và CGCN bằng các cải cách trong quản lí, tổ chức bộ máy Các nỗ lực này đã đạt được những kết quả đáng kể: cải tiến một bước bộ máy tổ chức ở cả khu vực nghiên cứu và khu vực CGCN, đồng thời cải tiến mạnh các thủ tục có liên quan về quản lý khoa học, vốn, thanh quyết toán… giúp nâng cao đáng kể hiệu quả của các công tác này, trong đó phải kể đến các nhón chính sách:

- Chính sách đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý hoạt động nghiên cứu

và CGCN;

Trang 25

- Chính sách về đầu tư và kinh phí cho phát triển KH&CN nhằm hỗ trợ phát triển nghiên cứu và chuyển giao, ứng dụng kết quả nghiên cứu ;

- Chính sách phát triển nguồn nhân lực đã được quan tâm nhiều hơn trong thời gian gần đây tác động tích cực đến số lượng và chất lượng nguồn nhân lực, nhân lựcKH&CN;

- Chính sách phát triển thị trường KH&CN nhằm hoàn thiện khung pháp lý hỗ trợ cho CGCN;

- Chính sách hỗ trợ các đối tượng ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất nông nghiệp Trước hết đó là việc đổi mới quản lý sử dụng đất nông nghiệp đã tạo điều kiện tốt hơn cho nông dân trong ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất nông nghiệp (như giao quyền sử dụng ruộng đất, dồn điền đổi thửa, miễn giảm thuế đất nông nghiệp…)

Định hướng phát triển nông nghiệp nước ta đến năm 20205

đã chỉ rõ

“Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hoá lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài”, trong đó xác định trồng trọt cần phát triển ngành sản xuất lúa

gạo trở thành mặt hàng xuất khẩu mũi nhọn có hiệu quả và đảm bảo an ninh lương thực (đảm bảo sản xuất và kinh doanh lúa gạo và xuất khẩu có lợi nhuận cao, đảm bảo sản lượng lúa đến năm 2020 đạt hơn 41 triệu tấn lúa trên diện tích canh tác 3,7 triệu ha); phát triển cây trồng hàng hóa có khả năng cạnh tranh mạnh, hiệu quả cao phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu; phát triển hợp lý các loại cây trồng có lợi thế cạnh tranh trung bình hoặc thấp, thay thế nhập khẩu

Đối với cây trồng áp dụng công nghệ biến đổi gen, tiến hành thử nghiệm và chuyển đổi cơ cấu sản xuất ở những nơi thích hợp, trước hết áp dụng với cây trồng không trực tiếp sử dụng làm thực phẩm cho người như cây

có sợi, cây lấy dầu công nghiệp, cây trồng làm nguyên liệu thức ăn gia súc mà thế giới đã áp dụng rộng rãi Đối với những cây trồng mới trong tương lai mà

5 Nguồn: Bộ Nông nghiệp và PTNT, Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn giai đoạn 2011 – 2020

Trang 26

thị trường có nhu cầu như cây trồng làm nguyên liệu sản xuất nhiên liệu sinh học (chú trọng diesel sinh học), cây trồng làm vật liệu xây dựng, làm giấy, gỗ

và lâm sản, cây dược liệu cần tiến hành trồng khảo nghiệm và sản xuất thử Nếu có triển vọng thì mở rộng sản xuất hướng vào những vùng kém thích nghi với các cây trồng cổ truyền hiện nay (các vùng đất trống đồi núi trọc, vùng ven biển, vùng khô hạn,…)

Định hướng phát triển KH&CN 2011 - 2020 của Nhà nước ta6

cũng đã xác định ưu tiên nghiên cứu ứng dụng có hiệu quả CNSH; tạo các giống cây trồng có năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng cao; bảo tồn và lưu giữ nguồn gen quý hiếm

1.4.2 Đánh giá tác động của chính sách đến năng xuất, chất lượng cây trồng

Hệ thống chính sách khuyến khích, thúc đẩy NCKH và CGCN trong nông nghiệp đã có nhiều đổi mới tạo điều kiện cho những chuyển biến tích cực của nông nghiệp Việt Nam trong thời gian qua Tuy nhiên, hệ thống chính sách này bên cạnh những ưu điểm rất đáng ghi nhận, trên thực tế cho đến nay vẫn còn khá nhiều bất cập, có nhiều điểm cần phải tiếp tục bổ sung, chỉnh sửa

để phù hợp với tình hình phát triển của sản xuất nông nghiệp trong bối cảnh hội nhập quốc tế để đẩy mạnh phát triển NCKH và CGCN một cách thực sự hiệu quả và bền vững Về cơ chế, chính sách vĩ mô hiện đang tồn tại những bất cập lớn dưới đây:

a Chính sách tài chính

Các định mức chi tiêu các khoản mục hiện nay chỉ qui định chung cho tất cả các loại đề tài, dự án; không có các định mức riêng cho các khoản mục của dự án mô hình nông thôn Ðiều này thật sự gây khó khăn trong thực hiện,

vì tính chất công việc của các loại đề tài và mô hình rất khác nhau Kinh phí

hỗ trợ cho hoạt động xây dựng mô hình ứng dụng KH&CN không được chuyển trực tiếp đến cơ quan khoa học, mà phải đi qua một con đường vòng

từ Bộ Tài chính về Sở Tài chính rồi mới tới cơ quan KH&CN Như vậy khi

6 Quyết định số 418/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn 2011 - 2020

Trang 27

kinh phí đến được mô hình thường bị quá thời vụ sản xuất, việc thanh quyết toán các khoản chi cho dự án cũng là một cản trở lớn (đơn vị CGCN nếu mua giống cây trồng, vật nuôi của cơ quan khoa học sẽ gặp khó khăn hơn về cấp chứng từ, hóa đơn thanh toán so với mua của đơn vị kinh doanh, làm ảnh hưởng nhiều tới hoạt động CGCN)

b Chính sách về nhân lực KH&CN

Chính sách cán bộ như hiện nay chưa khuyến khích được nhân lực KH&CN tình nguyện về nông thôn công tác; chưa khuyến khích được cơ quan, tổ chức, nhà nghiên cứu đầu tư cho NCKH và CGCN vào địa bàn nông thôn, cho nên rất khó áp dụng nhanh các thành tựu KH&CN vào sản xuất

c Chính sách về khuyến nông

Trước đây công tác khuyến nông hàng năm chỉ xây dựng kế hoạch để triển khai thực hiện, từ năm 2011 phải thực hiện theo quy định tại Nghị định số 02/2010/NĐ-CP ngày 08/01/2010 của Chính phủ, tổ chức thực hiện theo phương thức xét chọn hoặc đấu thầu cạnh tranh, thủ tục phức tạp, khó triển khai thực hiện

Việc phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương có lúc thiếu chặt chẽ; thiếu cơ chế gắn kết, lồng ghép, phối hợp giữa các chương trình, dự án trên một địa bàn, nhất là các hoạt động khuyến nông, CGCN

Trình độ, năng lực của cán bộ quản lý, thực hiện dự án CGCN tại các địa phương, cơ sở có nơi còn yếu Công tác cải cách thủ tục hành chính chưa đáp ứng được yêu cầu

d Các chính sách liên quan khác

Các chính sách liên quan khác cũng tác động nhiều tới kết quả NCKH

và CGCN trong nông nghiệp như:

- Trong đầu tư công cho nông nghiệp, số lượng văn bản quy phạm pháp luật được ban hành quá nhiều nhưng tính ổn định của văn bản chưa cao, nhiều nội dung trong các nghị định, thông tư sửa đổi, bổ sung nhiều lần hoặc bị thay thế bởi văn bản khác, gây khó khăn trong triển khai thực hiện7

; các quy định về

7 Các quy định liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản; chính sách tài chính đất đai liên quan đến đền bù, giải

Trang 28

quy trình lập dự án, tổ chức quản lý dự án, tổ chức đấu thầu xây dựng, tổ chức giám sát áp dụng cho các công trình đầu tư quy mô nhỏ ở nông thôn cũng như yêu cầu về thủ tục, hồ sơ còn phức tạp, chưa thực sự phù hợp8

và so với năng lực cán bộ cơ sở còn hạn chế

- Ảnh hưởng của pháp luật về đất đai, việc hạn chế tích tụ ruộng đất trong sử dụng đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân đã ảnh hưởng quá trình mở rộng ruộng đất để tạo ra những vùng sản xuất chuyên canh lớn có điều kiện áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm cho nông nghiệp

Về thời hạn sử dụng đất nông nghiệp, đến nay một số loại đất đã hết thời hạn nhưng Nhà nước chưa có chủ trương, quyết định cụ thể nên nông dân không yên tâm mạnh dạn đầu tư

- Chính sách hỗ trợ lãi suất vốn vay mua máy móc thiết bị, vật tư phục

vụ sản xuất nông nghiệp và vật liệu xây dựng nhà ở khu vực nông thôn theo Quyết định số 497/QĐ-TTg ngày 17/4/2009 và Quyết định số 2213/QĐ-TTg ngày 31/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ quy định thời hạn hỗ trợ lãi suất quá ngắn nên các hộ nông dân nghèo không có khả năng hoàn vốn đúng hạn ; điều kiê ̣n , thủ tục cho vay chặt chẽ hơn so với điều kiện , thủ tục cho vay thông thường (chỉ hỗ trợ đối với các khoản vay để mua hàng hóa sản xuất trong nước; phải có xác nhâ ̣n của UBND cấp xã về đối tượng và mu ̣c đích sử dụng vốn vay…) nên khả năng tiếp câ ̣n nguồn vốn của nông dân rất ha ̣n chế Chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư về nông thôn theo Nghị định

số 61/2010/NĐ-CP chưa đủ hấp dẫn, thủ tục giải ngân kinh phí hỗ trợ còn phức tạp nên chưa thu hút được nhiều doanh nghiệp; chính sách hỗ trợ tín dụng cho nông thôn theo Nghị định số 41/2010/NĐ-CP còn bất cập, khả năng tiếp cận các nguồn vốn vay của người sản xuất nhất là đối với nguồn vốn trung, dài hạn chưa đáp ứng được yêu cầu

phóng mặt bằng, hỗ trợ tái định cư cho người dân có đất bị thu hồi

8 Cụ thể là các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn ở địa phương hầu hết có quy mô nhỏ, nhưng yêu cầu về thủ tục, hồ sơ còn phức tạp, chưa phù hợp

Trang 29

Về quan điểm phát triển nông nghiệp, Nghị quyết Đại hội X của Đảng

(năm 2006) đã khẳng định “tiếp tục thực hiện Nghị quyết BCH Trung ương lần thứ 5 khóa IX (năm 2002) về đẩy nhanh công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn“ [16]; Nghị quyết số 26-NQ/TƯ của BCH Trung ương 7 (khóa X)

về “nông nghiệp – nông dân – nông thôn“ đã tiếp tục khẳng định “nông nghiệp, nông thôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của CNH, HĐH đất nước, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn và nâng cao đời sống nhân dân“ [17]

Vì thế, vấn đề nông nghiệp, nông thôn đang và sẽ có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng Chúng ta phải đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp CNH nông nghiệp và nông thôn theo hướng xây dựng một nền nông nghiệp hàng hóa lớn, đa dạng, phát triển nhanh và bền vững, có năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh cao, phấn đấu tăng giá trị tăng thêm trong nông nghiệp đạt từ 3–3,5%/năm [17]; góp phần giải quyết tốt mối quan hệ giữa nông nghiệp, nông thôn, giữa các vùng, miền trong cả nước và góp phần ổn định kinh tế -

xã hội

Như vậy, trong 5 năm qua từ 2006–2011, nông nghiệp nước ta được phát triển với sự tác động mạnh mẽ của chính sách và chủ trương của Đảng, trên cơ sở đó Quốc hội đã cụ thể hóa thành các đạo luật, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản để triển khai thực hiện Đây là những thuận lợi rất cơ bản cho nền nông nghiệp nước ta

Tuy nhiên, bước vào giai đoạn mới của sự phát triển theo chiều sâu thì vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức Với tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh, rộng, thiếu quy hoạch một cách kỹ lưỡng nên diện tích đất nông nghiệp đã bị thu hẹp Không những thế do tập quán sản xuất lạc hậu, nên đất nông nghiệp

bị chia nhỏ trở nên manh mún Lao động nông nghiệp ở nhiều địa phương không có nghề phụ, thời gian nông nhàn lớn; môi trường đất, nước bị ô nhiễm, thiếu các giải pháp kỹ thuật với công nghệ cao trong canh tác… dẫn đến sản phẩm nông nghiệp có sức cạnh tranh chưa cao Từ năm 2007, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO, bên cạnh những thuận lợi về

Trang 30

thị trường xuất, nhập khẩu nông sản, vật tư nông nghiệp được mở rộng thì cũng xuất hiện nhiều khó khăn mới như ta phải giảm thuế nhập khẩu hàng trăm mặt hàng nông sản theo lộ trình của WTO, yêu cầu cạnh tranh trên thị trường nông sản gay gắt hơn Mặt khác, sự tác động của suy thoái kinh tế thế giới và trong nước những năm qua cũng đã đẩy giá cả phân bón, vật tư nông nghiệp không ổn định, gây khó khăn cho nông dân

Những vấn đề nêu trên đã ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp nước ta, nhất là đối với ngành trồng trọt khi mà đòi hỏi năng suất và chất lượng ngày càng cao

Lịch sử phát triển thế giới cho thấy, nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia Đã có nhiều trường phái phát triển kinh tế, xã hội trong đó có trường phái đề cao vai trò của nông nghiệp (trường phái “trọng nông”), coi nông nghiệp là cơ sở hay tiền đề cho quá trình công nghiệp hóa, các nhà khoa học của trường phái này [11; 9] đã cho rằng, việc xây dựng một nền nông nghiệp vững mạnh và năng động sẽ là một nhân

tố quan trọng thúc đẩy công nghiệp phát triển và sự tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế Theo đó, nông nghiệp có 5 vai trò quan trọng, đó là: (1) cung cấp lương thực, thực phẩm cho nhu cầu trong nước; (2) xuất khẩu nông sản để thu ngoại tệ; (3) tạo nguồn lao động cho khu vực công nghiệp; (4) mở rộng thị trường nội địa cho sản phẩm công nghiệp và (5) tăng nguồn tiết kiệm ở trong nước để tạo vốn cho phát triển công nghiệp [11; 9]

Như vậy, theo trường phái “trọng nông” thì sự phát triển công nghiệp không thể thiếu sự tích lũy thành quả từ nông nghiệp, trước hết đó là sự tạo ra sản phẩm trực tiếp để nuôi sống loài người, nuôi sống công nhân làm việc cho các nhà máy, công xưởng, sự thành công của công nghiệp không thể không có

sự hậu thuẫn của nông nghiệp

Ở nước ta, có bề dày lịch sử sản xuất nông nghiệp lâu đời, đa số người dân sống ở nông thôn nên vai trò của nông nghiệp luôn được chú trọng, đã tạo

ra những kinh nghiệm rất quý báu Từ xa xưa, tổ tiên ta đã biết đắp đê ngăn mặn, ngăn lũ lụt để canh tác, tạo nên một nghề truyền thống gắn liền với lịch

Trang 31

sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Ngày nay, Đảng và Nhà nước ta luôn coi phát triển nông nghiệp gắn với phát triển bền vững đất nước Tuy hiện nay đang trong quá trình CNH, HĐH đất nước thì công nghiệp và dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trọng cao, nhưng vấn đề an ninh lương thực vẫn phải được coi trọng Cũng chính vì vậy, nên đã có thời điểm nông nghiệp trở thành cứu cánh cho nền kinh tế lúc khó khăn, trong khủng hoảng nhiều năm Với nhiều chính sách đúng đắn của Đảng, đặc biệt là chính sách khoán 10, nông nghiệp nước

ta đã phát triển đưa nước ta từ nước thiếu đói đến quốc gia xuất khẩu lúa gạo lớn vào bậc nhất thế giới

Kết luận Chương 1

Việt Nam đang trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, nhưng xác định vai trò của nông nghiệp là rất quan trọng Phát triển nông nghiệp trong thời gian tới chính là cần đề ra những chính sách hợp lý tạo sức bật cho nông nghiệp nước ta phát triển nhanh, có năng suất cao, chất lượng tốt và bền vững Định hướng phát triển nông nghiệp theo hướng CNC đã được Nhà nước xác định và chỉ rõ trong những năm tới Chính sách về KH&CN không chỉ có tác dụng trong lĩnh vực nông nghiệp mà chính sách này còn có tác động trong phạm vi rộng hơn tới sự phát triển chung của kinh tế - xã hội, tác động tới các ngành, lĩnh vực khác, tạo ra sự tin tưởng của người dân

Để khắc phục những tồn tại hiện nay, cần lưu ý nguyên nhân của các tồn tại khách quan và chủ quan; các yếu tố liên quan đến chính sách như việc

tổ chức chỉ đạo thực hiện, tính đồng bộ và thực tiễn của chính sách, khả năng đầu tư của Nhà nước cho việc thực hiện chính sách, các chế tài liên quan đến việc thực hiện chính sách…

Việc khắc phục những tồn tại trong hoạt động nghiên cứu, chuyển giao

và ứng dụng kết quả nghiên cứu trong sản xuất nông nghiệp cần rất nhiều các giải pháp khác nhau, trong đó giải pháp hoàn thiện chính sách khuyến khích, thúc đẩy nghiên cứu và ứng dụng kết quả nghiên cứu trong sản xuất nông nghiệp mang tính lý luận và thực tiễn cao

Trang 32

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ ĐỐI VỚI CÂY TRỒNG Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG

2.1 Khái quát về nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ vùng Đồng bằng sông Hồng

2.1.1 Đặc điểm khái quát về Đồng bằng sông Hồng

Vùng ĐBSH có 11 tỉnh, thành phố, bao gồm Thủ đô Hà Nội và vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ diện tích tổng cộng khoảng 16.640 km², là địa bàn đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế và xã hội, vùng kinh tế lớn thứ hai của nước ta ĐBSH có đất đai màu mỡ, có nhiều lợi thế về nông nghiệp, nhiệt

độ không khí trung bình của vùng khoảng 22,5-23,5°C/năm, lượng mưa trung bình năm 1400-2000mm/năm

ĐBSH có mật độ dân cư cao, gấp 3,58 lần so với bình quân chung của

cả nước (949 người/km2

) Diện tích đất nông, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản chiếm 5,4% diện tích cả nước9 Mặc dù diện tích đất nông nghiệp/hộ thấp nhất cả nước (459m2/hộ), nhưng giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản chiếm gần 18%, trong đó sản lượng lúa chiếm 16,5% của cả nước Vì vậy, phát triển nông nghiệp, nông thôn vùng ĐBSH có ý nghĩa rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước

Thực hiện Nghị quyết 54-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế

- xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng ĐBSH đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, vùng ĐBSH đã được định hướng và đầu tư khá toàn diện, cơ sở hạ tầng ngày càng được nâng cấp, về cơ bản phục vụ tốt cho sản xuất nông nghiệp và nông thôn từng bước đáp ứng nhu cầu phát triển

9 Theo Tổng cục Thống kê, diện tích đất trồng cây hàng năm của ĐBSH là 689.940 ha, trong đó đất trồng lúa

là 619.950 ha

Trang 33

Giai đoạn 2006 – 2010, bằng các nguồn vốn khác nhau (ODA, ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ), phần lớn hệ thống thủy lợi hiện có trong vùng đã được cải tạo, nâng cấp, từng bước hiện đại hóa như hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải, Bắc Nam Hà, sông Nhuệ, An Kim Hải, Bắc Đuống; các trạm bơm, hệ thống đê sông, đê biển, hồ chứa nước được tu bổ, cải tạo nâng cấp và đầu tư xây dựng mới; các tuyến đê sông Hồng trên địa bàn thành phố Hà Nội và ở các địa phương trong vùng đã và đang tiếp tục cứng hóa để đáp ứng nhu cầu cung cấp nước tưới cho sản xuất nông nghiệp

Bảng 2.1: Giá trị sản phẩm trồng trọt thu được/ha đất trồng trọt

của đồng bằng sông Hồng năm 2008 – 2011

Năm Giá trị thu được (tỷ đồng)

2.1.2 Mạng lưới nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ vùng Đồng bằng sông Hồng

ĐBSH là trung tâm lớn về kinh tế, KH&CN, nơi tập trung nhiều trường đại học, các cơ sở nghiên cứu khoa học, các trung tâm, chuyển giao, ứng dụng KH&CN, nơi có nhiều cán bộ KH&CN làm việc Trong vùng, trên địa bàn Hà Nội có khoảng 80 trường đại học, cao đẳng, hơn 113 cơ quan, viện nghiên cứu Theo thống kê, số lượng giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, tiến sĩ khoa học

Trang 34

đang sinh sống, làm việc tại Hà Nội chiếm khoảng 65% tổng số các nhà khoa học trong cả nước Hà Nội tập trung tới 14/17 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia Từ năm 1993 đến nay đã có gần 400 tổ chức đăng ký hoạt động KH&CN thông qua Sở KH&CN Hà Nội10

Ở mỗi tỉnh trong vùng ĐBSH đều có sở KH&CN trực tiếp chỉ đạo việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN mà UBND tỉnh, thành phố và Trung ương giao Các trung tâm ứng dụng KH&CN (thuộc ngành KH&CN), trung tâm khuyến nông (thuộc ngành NN&PTNT) đều hỗ trợ đắc lực cho CGCN và tiến

bộ kỹ thuật mới tới nông dân ở các địa bàn trong vùng

Bên cạnh đó, có một lực lượng đông đảo các cơ sở nghiên cứu triển khai của các tổ chức KH&CN đặt tại các địa phương Riêng khối nông nghiệp của Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam đã có tới 18 viện trực thuộc Về lĩnh vực thủy lợi, có tới 8 viện, 38 trường, 18 hiệp hội và 19 hội chuyên ngành; về lĩnh vực công nghiệp cũng có tới hàng chục đơn vị về thương mại,

hỗ trợ đầu tư Thông qua các tổ chức KH&CN của mình, đội ngũ các nhà khoa học sinh sống ở Hà Nội và các tỉnh đã tham gia vào việc hỗ trợ cho nông dân ĐBSH tiếp cận với KH&CN và tiến bộ kỹ thuật mới

2.2 Kết quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ nổi bật trong trồng trọt vùng Đồng bằng sông Hồng

2.2.1 Các hình thức chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp ở Đồng bằng sông Hồng

Chuyển giao công nghệ trong trồng trọt ở ĐBSH hiện nay, phổ biến là theo hình thức trực tiếp với các hình thức chủ yếu sau:

- Mở các lớp tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ, hội thảo đầu bờ: Hình

thức này được dùng khá phổ biến ở nhiều nơi, nhiều vùng Ðiểm nổi bật của hình thức này là nông dân phải tự thực hành việc sản xuất theo công nghệ mới bằng kiến thức tiếp thu được trên lớp và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất của chính mình

10 Theo Ts.Lê Xuân Rao, Giám đốc Sở KH&CN Hà Nội, Kỷ yếu Hội nghị KH&CN các tỉnh vùng ĐBSH lần thứ VIII (2009-2011), Vĩnh Phúc, tháng 4-2011

Trang 35

- Hướng dẫn tại chỗ: Hình thức này thường được áp dụng cho nơi trình

độ tiếp thu của người dân còn có hạn; hoặc áp dụng ở những dự án đưa cây trồng, vật nuôi hoàn toàn mới lạ vào sản xuất tại địa phương Cán bộ KH&CN hướng dẫn nông dân sản xuất theo phương pháp mới, khoa học, sau đó bà con

sẽ tự làm, áp dụng

- Chuyển giao trọn gói, trả công theo kết quả thực tế: Hình thức này

được áp dụng cho việc hướng dẫn trồng trọt một loại cây mới Toàn bộ công việc thường được khoán gọn theo một mức giá thoả thuận

- Hướng dẫn từng khâu, tạo cho nông dân phương pháp suy nghĩ và cùng tham gia: Hướng dẫn từng khâu, từng công đoạn và để cho nông dân

học hỏi, cùng tham gia vào quá trình CGCN Hiện nay nhiều chương trình đã

áp dụng phương pháp này và nó được nâng lên như những thí dụ điển hình của phương pháp nghiên cứu có sự tham gia của người dân

- Sử dụng hệ thống các phương tiện thông tin đại chúng: Các cơ quan

thông tin đại chúng phối hợp với cơ quan khoa học xây dựng các chương trình giới thiệu từng phần hoặc đầy đủ các công nghệ trồng trọt, chế biến, bảo quản nông sản Hình thức này tuy mới hình thành nhưng thu hút được sự chú

ý của đông đảo nhân dân và bước đầu hứa hẹn nhiều triển vọng tốt

2.2.2 Kết quả nghiên cứu khoa học nổi bật trong trồng trọt vùng Đồng bằng sông Hồng

Những kết quả về KH&CN nổi bật trong thời gian gần đây phục vụ cho phát triển nông nghiệp vùng ĐBSH là việc chọn tạo thành công và đưa vào sản xuất một số giống lúa lai và giống lúa thuần ngắn ngày cho vùng thâm canh; các giống lúa có chất lượng cao; các giống cây màu (lạc, đậu tương, khoai tây, khoai lang) phục vụ cho chuyển đổi cơ cấu cây trồng và các giống rau (cà chua, dưa chuột lai) phục vụ cho ăn tươi và chế biến xuất khẩu Rất nhiều giải pháp công nghệ và biện pháp kỹ thuật tiên tiến có hiệu quả cao cũng đã được giới thiệu và áp dụng vào sản xuất nông nghiệp vùng ĐBSH

Trang 36

a Kết quả nghiên cứu về cây lúa

Hiện nay xu thế chung của sản xuất lúa gạo nước ta nói chung và ở ĐBSH nói riêng là chuyển từ giống dài ngày sang dùng giống ngắn ngày, giống chất lượng cao với mục tiêu là giảm chi phí lao động, đáp ứng nhu cầu thị trường và hiệu quả kinh tế Trong những năm qua, trên địa bàn ĐBSH, các

tổ chức KH&CN đã chọn tạo và giới thiệu cho sản xuất nhiều giống lúa có tính thích ứng rộng và hiệu quả kinh tế cao, được nhân dân ở nhiều địa phương áp dụng và nhân rộng Đó là:

- Giống lúa ngắn ngày, năng suất cao phù hợp với cơ cấu 2 vụ lúa, 01

vụ màu vùng ĐBSH: Có thời gian sinh trưởng ngắn (từ 100-110 ngày), chất lượng gạo ngon, năng suất cao (từ 60-75 tạ/ha), trồng cho cả 2 vụ xuân và mùa, chống chịu sâu bệnh tốt; thích ứng được với các vùng sinh thái của ĐBSH; có khả năng chịu hạn, chống chịu sâu bệnh cao

- Về nghiên cứu phát triển lúa lai: Viện Cây lương thực và Cây thực

phẩm đã nghiên cứu và làm chủ được công nghệ chọn thuần và nhân dòng bố

mẹ phục vụ cho công tác chọn tạo giống lúa lai Các giống lúa lai mới tạo ra trong nước có năng suất tương đương so với các tổ hợp lúa lai của Trung Quốc nhập nội, nhưng có chất lượng gạo cao hơn và khả năng chống chịu sâu bệnh tốt hơn

Cùng với công tác về giống thì kỹ thuật gieo trồng cũng được cải tiến đáng kể Hiện nay trên một số địa phương như thành phố Hà Nội và các tỉnh như Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nam, Thái Bình, Nam Định đã và đang triển khai mở rộng kỹ thuật lúa gieo thẳng giúp cho thời gian sinh trưởng của lúa rút xuống từ 7 đến 10 ngày, tạo điều kiện thuận lợi bố trí thời vụ, chuyển đổi

cơ cấu cây trồng Kỹ thuật này cũng giúp cho nông dân thay đổi tập quán sản xuất, giải phóng sức lao động trong nông thôn, tiết kiệm công lao động nên hiệu quả sản xuất cao

Trang 37

b Kết quả nghiên cứu về cây đậu, đỗ

Chủ yếu ở ĐBSH là trồng cây lạc và cây đậu tương có khả năng chống chịu bệnh tốt, thích hợp cho các vùng trồng lạc chủ yếu và vùng trồng lạc thâm canh ở ĐBSH

Với cây đậu tương, đã chọn tạo được một số giống đậu tương có thời gian sinh trưởng ngắn (dưới 90 ngày) thích hợp cho việc trồng xen canh vụ đông và các giống có thời gian sinh trưởng trung bình có năng suất đạt 15-30 tạ/ha, khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, thích hợp cho việc luân canh và chuyển đổi cơ cấu cây trồng Đậu tương là cây trồng chủ lực cung cấp protein, dầu ăn có vai trò quan trọng như các cây ăn hạt chủ lực như lúa, ngô nhu cầu ngày càng tăng để đáp ứng thức ăn cho người, gia súc và thủy sản Năm

2007 Việt Nam phải nhập khẩu khoảng 2,5 triệu tấn quy hạt11

Bảng 2.2: Diện tích, năng suất, sản lượng

đậu tương qua các năm

11 Cục Chăn nuôi, Bộ NN&PTNT, Báo cáo năm 2007

Trang 38

c Kết quả nghiên cứu về cây hoa

Ước tính cả nước có khoảng 13.400 ha hoa, cây cảnh, trong đó các tỉnh miền Bắc (mà tập trung chủ yếu ở ĐBSH) có tới 6.400 ha, miền Nam có 7.000

ha, thu nhập bình quân trồng hoa, cây cảnh ở cả nước là 72 triệu đồng/ha/năm Những nơi có diện tích hoa tập trung và trồng với quy mô lớn (xã Tây Tựu, huyện Mê Linh) thu nhập trồng hoa từ 230-250 triệu đồng/ha/năm Đặc biệt có

mô hình (quy mô 2-10 ha) thu nhập đạt tới 350 triệu đồng/ha/năm (như trồng hoa trong nhà lưới ở Bình Lục, Hà Nam) Những nơi trồng theo kiểu quảng canh, thì thu nhập chỉ đạt 40-60 triệu đồng/ha/năm Như vậy, nếu có kỹ thuật canh tác tốt, thu nhập từ trồng hoa có thể cao hơn so với trồng lúa từ 9 - 10 lần, nhiều hộ gia đình có thu nhập cao (từ 60-120 triệu đồng/hộ/năm)12

Thị trường tiêu thụ hoa - cây cảnh chủ yếu là ở nội địa (chiếm 80% sản lượng), còn lại là dành cho xuất khẩu Các loại hoa chủ yếu là hồng, cúc, lily, địa lan, hồng môn, lay-ơn, đồng tiền, ly, loa kèn

d Kết quả nghiên cứu về rau quả

Trong các loại rau ăn quả, một số loại cây có giá trị kinh tế cao như: Cà chua, dưa chuột, dưa hấu, ớt ngọt đã được nông dân một số địa phương trồng trong nhà lưới, còn chủ yếu vẫn là trồng ngoài đồng Công nghệ được chuyển giao phổ biến là kỹ thuật ghép trong quy trình nhân giống nhằm bảo đảm cây giống khoẻ mạnh và sạch bệnh

Các thí nghiệm của Viện Nghiên cứu rau quả đã được triển khai từ năm

1998 và đã được ứng dụng rộng rãi ngoài sản xuất ở các tỉnh Nam Định, Hưng Yên, Hà Nội, Bắc Ninh, Bắc Giang đã cho năng suất cao (giống cà chua ghép năng suất cao hơn không ghép từ 40-50 % thậm chí là 100%, hiệu quả kinh tế tăng 40-50%)

12 Số liệu tổng hợp từ các báo cáo của địa phương trong Kỷ yếu hội nghị KH&CN các tỉnh vùng ĐBSH lần thứ VIII (2009 – 2011)

Trang 39

Bảng 2.3: Đánh giá hiệu quả sử dụng cây giống ghép

trong sản xuất rau tại Viện Nghiên cứu rau quả

Cây trồng

Giá cây giống ghép (đ)

Giá cây giống thường (đ)

Số lượng cây/ha

Năng suất cây ghép (tấn/ha)

Năng suất cây không ghép (tấn/ha)

(Nguồn: Viện Nghiên cứu rau quả)

e Đánh giá thành tựu chung đạt được

Có thể thấy rằng, trong những năm qua, nhiều dự án về ứng dụng kết quả nghiên cứu trong nông nghiệp với cơ chế hỗ trợ phù hợp và mang lại hiệu quả kinh tế cao Từ năm 1995 đến nay, năng suất lúa tăng từ gần 30 tạ/ha lên đến 50 tạ/ha, đưa Việt Nam thành nước có năng suất cao gấp 1,5 lần Thái Lan và đứng đầu Đông Nam Á Trong sản xuất các loại cây lương thực, cây rau màu khác đã xây dựng được quy trình và xác định được các mẫu cây trồng có chất lượng như các giống ngô, đậu tương, lúa, cà chua, khoai lang, khoai tây, đu đủ… Hoàn thiện được quy trình sản xuất rau an toàn và áp dụng trên phạm vi rộng

Theo đánh giá của các chuyên gia, kết quả nghiên cứu đã giúp nông nghiệp có tốc độ tăng trưởng mạnh trong những năm qua KH&CN đóng vai trò quan trọng trong khâu lai tạo, nhân giống cây trồng mới, tăng năng suất, thay thế giống nhập ngoại Việc ứng dụng kết quả nghiên cứu giúp chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, tăng giá trị sản xuất, đưa nước ta vào nhóm các nước xuất khẩu hàng đầu thế giới về gạo, cà phê, hạt tiêu, điều, cao su Trong những năm qua, Việt Nam vẫn luôn giữ vị trí thứ 2, năm 2011,

2012 đứng ở vị trí thứ nhất thế giới về xuất khẩu gạo13 Công nghệ nhân giống

13 www.VnEconomy.vn, www.sggp.org.vn: Năm 2011 Việt Nam xuất khẩu 7,2 triệu tấn gạo, năm 2012 xuất

khẩu 7,5 triệu tấn gạo - 08/4/2013

Trang 40

đã đem lại hiệu quả kinh tế thiết thực, tạo ra được các giống sạch bệnh, tránh ảnh hưởng điều kiện thời tiết bất lợi, làm tăng năng suất cây trồng, chủ động được về giống

Những con số nêu trên cho thấy, KH&CN đã và đang cùng song hành

và tiếp sức cho nhà nông trên bước đường CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, từng bước làm thay đổi những tập quán sản xuất cũ, lạc hậu; giải quyết vấn đề chuyển đổi cơ cấu cây trồng, sử dụng giống cây trồng có năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao, tăng năng suất, tăng thu nhập cho người dân, đã tạo được những đột phá mới trong quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng, để lại những dấu ấn rõ nét trong việc nhân rộng một số mô hình ứng dụng KH&CN, tạo động lực thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn Việc áp dụng CNSH vào các lĩnh vực trồng trọt đã tạo ra sản phẩm có năng suất, chất lượng, góp phần bảo đảm cung ứng giống cho nông dân

Bảng dưới đây cho thấy giá trị sản phẩm trồng trọt thu được trên một

ha đất nông nghiệp của vùng ĐBSH ngày một tăng cao, từ 63,50 tỷ đồng vào năm 2008, tăng lên 94,25 tỷ đồng vào năm 2011

Bảng 2.4: Giá trị sản phẩm trồng trọt thu được trên một ha tại đồng bằng sông Hồng năm 2008 – 2011

Năm Giá trị thu được (Tỷ đồng)

(Nguồn: Tổng cục Thống kê, Kết quả tổng điều tra nông thôn,

nông nghiệp và thủy sản năm 2011, NXB Thống kê – 2012)

Ngày đăng: 31/03/2015, 14:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ KH&CN, Cục Thông tin KH&CN quốc gia (2012), KH&CN phục vụ CNH, HĐH và phát triển bền vững, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: KH&CN phục vụ CNH, HĐH và phát triển bền vững
Tác giả: Bộ KH&CN, Cục Thông tin KH&CN quốc gia
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2012
2. Trần Ngọc Ca, Nguyễn Võ Hƣng (2012), Viện Chiến lƣợc và Chính sách KH&CN, Bộ KH&CN, Hướng tới một hệ thống đổi mới trong lĩnh vực nông nghiệp, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng tới một hệ thống đổi mới trong lĩnh vực nông nghiệp
Tác giả: Trần Ngọc Ca, Nguyễn Võ Hƣng
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2012
3. Phan Xuân Dũng (2004), Chuyển giao công nghệ ở Việt Nam thực trạng và giải pháp, NXB Chính trị quốc gia - sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển giao công nghệ ở Việt Nam thực trạng và giải pháp
Tác giả: Phan Xuân Dũng
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia - sự thật
Năm: 2004
4. Phan Xuân Dũng (2012), Công nghệ tiên tiến và công nghệ cao với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia - sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ tiên tiến và công nghệ cao với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
Tác giả: Phan Xuân Dũng
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia - sự thật
Năm: 2012
5. Vũ Cao Đàm (2009), Tuyển tập các công trình đã công bố, Tập 1, Lý luận và phương pháp luận khoa học, NXB Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và phương pháp luận khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2009
6. Vũ Cao Đàm (2009), Tuyển tập các công trình đã công bố, Tập 3, Một số giải pháp chủ yếu cải cách hành chính trong quản lý nhà nước về KH&CN, NXB Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập các công trình đã công bố, Tập 3, Một số giải pháp chủ yếu cải cách hành chính trong quản lý nhà nước về KH&CN
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2009
8. Mai Hà, Nghiên cứu cơ sở khoa học về điều kiện thực tiễn để hình thành khu nông nghiệp ứng dụng CNC tại Quảng Ngãi, Viện Chiến lƣợc và chính sách KH&CN, Kỷ yếu kết quả nghiên cứu chiến lƣợc và chính sách KH&CN năm 2008 – 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cơ sở khoa học về điều kiện thực tiễn để hình thành khu nông nghiệp ứng dụng CNC tại Quảng Ngãi
9. Luật Khoa học và công nghệ (2013), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Khoa học và công nghệ
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2013
11. Nguyễn Thị Tố Quyên (2012), Viện KHXH Việt Nam, Viện Kinh tế, Nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong mô hình tăng trưởng kinh tế mới giai đoạn 2011 – 2020, NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong mô hình tăng trưởng kinh tế mới giai đoạn 2011 – 2020
Tác giả: Nguyễn Thị Tố Quyên
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia – Sự thật
Năm: 2012
12. Đặng Kim Sơn (2012), Viện Chính sách và Chiến lƣợc phát triển nông nghiệp, nông thôn, Tái cơ cấu nền nông nghiệp Việt Nam theo hướng giá trị gia tăng cao, NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tái cơ cấu nền nông nghiệp Việt Nam theo hướng giá trị gia tăng cao
Tác giả: Đặng Kim Sơn
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia – Sự thật
Năm: 2012
13. Nhiều tác giả, Nông dân, nông thôn và nông nghiệp, những vấn đề đang đặt ra, NXB Tri thức, tháng 12/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông dân, nông thôn và nông nghiệp, những vấn đề đang đặt ra
Nhà XB: NXB Tri thức
23. www.nguyencuong.com.vn, Nguyễn Hoàng, Bí quyết thành công của nền nông nghiệp Hà Lan, ngày 20/02/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bí quyết thành công của nền nông nghiệp Hà Lan
Tác giả: Nguyễn Hoàng
Năm: 2013
25. www.VnEconomy.vn, Quốc Trung, Dân số thế giới sắp đạt 7 tỷ người, ngày 11/5/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân số thế giới sắp đạt 7 tỷ người
Tác giả: Quốc Trung
Nhà XB: www.VnEconomy.vn
Năm: 2013
7. Đồng bằng sông Hồng, vi.Wikipedia.org, Bách khoa toàn thƣ mở Wikipedia, cập nhật 11/5/2013 Khác
10. Luật Chuyển giao công nghệ (2008), NXB Lao động, Hà Nội Khác
14. Kỷ yếu Hội nghị KH&CN vùng đồng bằng sông Hồng lần thứ VII (2007 – 2009), Bắc Ninh, tháng 10-2009 Khác
15. Kỷ yếu Hội nghị KH&CN vùng đồng bằng sông Hồng lần thứ VIII (2009 – 2011), Vĩnh Phúc, tháng 4 - 2011 Khác
16. www.cpv.org.vn, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Đảng CSVN, ngày 26/4/2006 Khác
17. www.cpv.org.vn, Nghị quyết số 26, Hội nghị Trung ƣơng 7, khóa X, Đảng CSVN về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, ngày 12/8/2008 Khác
18. www.giongvtnncongnghecao.com.vn, Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở một số nước trên thế giới, ngày 11/5/2012 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.3: Đánh giá hiệu quả sử dụng cây giống ghép - Giải pháp chính sách thúc đẩy nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa (nghiên cứu
Bảng 2.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng cây giống ghép (Trang 39)
Bảng dưới đây cho thấy giá trị sản phẩm trồng trọt thu được trên một - Giải pháp chính sách thúc đẩy nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa (nghiên cứu
Bảng d ưới đây cho thấy giá trị sản phẩm trồng trọt thu được trên một (Trang 40)
Bảng 2.5: Vốn đầu tƣ theo giá thực tế phân theo khu vực kinh tế - Giải pháp chính sách thúc đẩy nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa (nghiên cứu
Bảng 2.5 Vốn đầu tƣ theo giá thực tế phân theo khu vực kinh tế (Trang 41)
Bảng 2.7: Kinh phí đầu tƣ phát triển KH&CN các tỉnh vùng ĐBSH - Giải pháp chính sách thúc đẩy nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa (nghiên cứu
Bảng 2.7 Kinh phí đầu tƣ phát triển KH&CN các tỉnh vùng ĐBSH (Trang 43)
Bảng 2.6: Tổng hợp kinh phí cho hoạt động KH&CN - Giải pháp chính sách thúc đẩy nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa (nghiên cứu
Bảng 2.6 Tổng hợp kinh phí cho hoạt động KH&CN (Trang 43)
Bảng 2.8: Tình hình sử dụng kinh phí KH&CN của tỉnh/thành phố - Giải pháp chính sách thúc đẩy nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa (nghiên cứu
Bảng 2.8 Tình hình sử dụng kinh phí KH&CN của tỉnh/thành phố (Trang 45)
Bảng 2.9: Số lƣợng nhân lực nghiên cứu và phát triển trong các tổ chức  nghiên cứu và phát triển theo lĩnh vực khoa học năm 2010 (người) - Giải pháp chính sách thúc đẩy nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa (nghiên cứu
Bảng 2.9 Số lƣợng nhân lực nghiên cứu và phát triển trong các tổ chức nghiên cứu và phát triển theo lĩnh vực khoa học năm 2010 (người) (Trang 46)
Bảng 2.10: Số lƣợng và cơ cấu cán bộ nghiên cứu  trong các tổ chức nghiên cứu và phát triển theo trình độ (%) - Giải pháp chính sách thúc đẩy nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa (nghiên cứu
Bảng 2.10 Số lƣợng và cơ cấu cán bộ nghiên cứu trong các tổ chức nghiên cứu và phát triển theo trình độ (%) (Trang 47)
Bảng 2.11: Cơ cấu tỷ lệ cán bộ nghiên cứu  trong các tổ chức nghiên cứu và phát triển theo trình độ và lĩnh vực - Giải pháp chính sách thúc đẩy nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa (nghiên cứu
Bảng 2.11 Cơ cấu tỷ lệ cán bộ nghiên cứu trong các tổ chức nghiên cứu và phát triển theo trình độ và lĩnh vực (Trang 47)
Bảng 2.12: Tổng hợp đề tài, dự án KH&CN các tỉnh - Giải pháp chính sách thúc đẩy nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa (nghiên cứu
Bảng 2.12 Tổng hợp đề tài, dự án KH&CN các tỉnh (Trang 49)
Bảng 2.19: Xu hướng sản xuất, tiêu thụ và xuất gạo - Giải pháp chính sách thúc đẩy nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa (nghiên cứu
Bảng 2.19 Xu hướng sản xuất, tiêu thụ và xuất gạo (Trang 56)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w