1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức và quản lý dịch vụ phục vụ du lịch tại các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn Hà Nội ( Nghiên cứu trường hợp Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hoàng Thành Thăng Long

177 1,2K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 177
Dung lượng 5,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ DỊCH VỤ PHỤC VỤ DU LỊCH TẠI CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI Nghiên cứu trường hợ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ DỊCH VỤ PHỤC VỤ DU LỊCH

TẠI CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA

TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI (Nghiên cứu trường hợp: Văn Miếu-Quốc Tử Giám, Hoàng thành Thăng Long, Khu di tích Phủ chủ tịch)

LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH

Hà Nội, 2011

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ DỊCH VỤ PHỤC VỤ DU LỊCH

TẠI CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI (Nghiên cứu trường hợp: Văn Miếu-Quốc Tử Giám, Hoàng thành Thăng Long, Khu di tích Phủ Chủ tịch)

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 4

DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỔ 5

MỞ ĐẦU 6

1 Tính cấp thiết của đề tài 6

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7

3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 9

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 9

5 Phương pháp nghiên cứu 10

6 Đóng góp của luận văn 11

7 Kết cấu luận văn 11

CHƯƠNG 1: DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HOÁ - NGUỒN TÀI NGUYÊN

DU LỊCH NHÂN VĂN HÀNG ĐẦU CỦA HÀ NỘI 13

1.1 Mối quan hệ giữa di tích lịch sử, văn hóa và du lịch 13

1.1.1 Di tích lịch sử văn hóa 13

1.1.2 Di tích lịch sử văn hóa – nguồn tài nguyên du lịch nhân văn 14

1.1.3 Du lịch góp phần bảo tồn, tôn tạo và nâng cao giá trị của di tích 15

1.2 Hệ thống di tích lịch sử, văn hóa trên địa bàn Hà Nội 16

1.2.1 Khái quát về Hà Nội 16

1.2.2 Hà Nội - vùng đất ngàn năm văn vật 18

1.2.3 Di tích lịch sử, văn hoá - nguồn tài nguyên du lịch của Hà Nội 22

1.3 Quan niệm về dịch vụ du lịch tại các di tích lịch sử, văn hóa 40

1.3.1 Phục vụ du lịch và dịch vụ du lịch 40

1.3.2 Dịch vụ du lịch tại các di tích lịch sử, văn hóa 41

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC, QUẢN LÝ DỊCH VỤ DU LỊCH TẠI CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA Ở HÀ NỘI 44

2.1 Thực trạng việc quản lý các di tích lịch sử, văn hóa ở Hà Nội 44

Trang 4

2.2 Thực trạng việc tổ chức, quản lý dịch vụ du lịch tại các di tích lịch sử, văn

hóa nói chung 46

2.2.1 Thực trạng bộ máy tổ chức dịch vụ du lịch 47

2.2.2 Thực trạng việc quản lý các dịch vụ du lịch 48

2.3 Thực trạng việc tổ chức, quản lý dịch vụ du lịch tại các di tích lịch sử, văn hóa tiêu biểu 52

2.3.1 Tại Di tích Văn Miếu- Quốc Tử Giám 52

2.3.2 Tại Khu di tích Trung tâm Hoàng Thành Thăng Long 62

2.3.3 Tại Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch 67

2.4 Những ưu điểm, hạn chế và vấn đề đặt ra trong việc tổ chức, quản lý các dịch vụ du lịch tại các di tích lịch sử, văn hóa trên địa bàn Hà Nội 74

2.4.1 Những ưu điểm 74

2.4.2 Những hạn chế và vấn đề đặt ra trong việc tổ chức, quản lý các dịch vụ du lịch tại các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn Hà Nội 78

CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG MÔ HÌNH TỔ CHỨC, QUẢN LÝ DỊCH VỤ DU LỊCHTẠI CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ, VĂN HOÁ Ở HÀ NỘI 86

3.1 Các nguyên tắc xây dựng mô hình tổ chức, quản lý các dịch vụ du lịch tại các di tích lịch sử, văn hóa 86

3.1.1 Tuân thủ các công ước quốc tế, luật và các văn bản pháp quy 86

3.1.2 Phù hợp với định hướng chiến lược phát triển đất nước, địa phương 87

3.1.3 Phù hợp với thuần phong, mỹ tục, truyền thống và giá trị di tích 88

3.1.4 Đảm bảo sự phát triển bền vững của di tích 89

3.1.5 Thỏa mãn tối đa nhu cầu chính đáng của du khách 91

3.2 Mô hình tổ chức, quản lý các dịch vụ du lịch tại di tích lịch sử văn hóa 92

3.2.1 Bộ máy tổ chức nhân sự 92

3.2.2 Các dịch vụ du lịch tại các di tích lịch sử, văn hóa 93

3.3 Thử áp dụng mô hình tổ chức, quản lý các dịch vụ du lịch tại các di tích lịch sử, văn hóa tiêu biểu của Hà Nội 95

Trang 5

3.3.1 Tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám 95

3.3.2 Tại di tích Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long 105

3.3.3 Tại Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch 112

3.4 Một số giải pháp hỗ trợ để áp dụng thành công mô hình tổ chức, quản lý dịch vụ du lịch tại các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn Hà Nội 118

3.4.1 Thay đổi nhận thức trong việc phát huy giá trị di tích 118

3.4.2 Lập quy hoạch bảo tồn, tu bổ và tôn tạo di tích phù hợp với định hướng phát huy giá trị bằng các dịch vụ du lịch 119

3.4.3 Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan nghiên cứu, tổ chức du lịch 119

3.4.4 Tăng cường bộ máy quản lý di tích, bộ phận dịch vụ du lịch 120

3.4.5 Giải quyết tốt mối quan hệ giữa cơ quan quản lý và cơ sở tôn giáo 121

3.4.6 Phối hợp chặt chẽ giữa ban quản lý di tích và chính quyền địa phương, cơ quan trật tự, an ninh sở tại………121

3.4.7 Cơ quan chức năng cần thường xuyên kiểm tra việc tuân thủ quy tắc bảo tồn, tu tạo di tích……….122

KẾT LUẬN 124

TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 127

PHỤ LỤC……… ………131

Trang 6

UNESCO Tổ chức Văn hóa, Khoa học, Giáo dục của Liên Hiệp Quốc

VHTT&DL Văn hóa, Thể thao và Du lịch

VM-QTG Văn Miếu-Quốc Tử Giám

Trang 7

DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỔ

1 Bảng 1.1 Bảng số lượt khách tham quan Hà Nội từ 2005-2010 23

2 Sơ đồ 1.1 Sơ đồ kiến trúc di tích Văn Miếu-Quốc Tử Giám 29

3 Sơ đồ 1.2 Sơ đồ kiến trúc Khu di tích Trung tâm HTTL 36

5 Sơ đồ 2.1 Mô hình quản lý di tích trên địa bàn Hà Nội 46

6 Bảng 2.1 Số lượt khách đến tham quan các di tích tiêu biểu 77

7 Sơ đồ 3.1 Mô hình cơ cấu bộ máy tổ chức, quản lý DTLSVH 93

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nằm ở trung tâm Bắc Bộ, với bề dày hàng ngàn năm lịch sử, Hà Nội có tiềm năng và lợi thế so sánh đa dạng và phong phú để thu hút khách du lịch

Hà Nội là địa phương đứng đầu cả nước về số lượng và giá trị tài nguyên của các di tích lịch sử-văn hoá (DTLSVH), nhất là từ khi Hà Tây được sáp nhập vào Thủ đô Tuy số lượng du khách đến Hà Nội tăng mạnh trong những năm qua, tốc độ tăng trưởng cao nhưng tăng trưởng ngành du lịch của Hà Nội chưa xứng với tiềm năng và lợi thế của mình [41, tr.134] Một trong những yếu tố tạo nên sức hấp dẫn, đem lại hiệu quả và là nhân tố, thế mạnh phát triển du lịch của thủ đô là tài nguyên du lịch nhân văn mà trong đó, hệ thống DTLSVH của Hà Nội đóng vai trò quan trọng

Trong những năm qua, công tác tổ chức và quản lý (TCQL) dịch vụ du lịch (DVDL) tại các DTLSVH trên địa bàn Hà Nội đã có hiệu quả nhất định, song chưa phát huy hết tiềm năng giàu có của nguồn tài nguyên nhân văn vô cùng lớn này của Hà Nội Mặc dù các DTLSVH trên địa bàn Hà Nội đều đặt dưới sự quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước nhưng việc TCQL các DVDL chưa có hệ thống, chưa thống nhất và chưa thực sự phong phú, nhiều dịch vụ được thực hiện tự phát, nhằm đáp ứng nhu cầu đột xuất của khách tham quan hay tổ chức du lịch Tại nhiều di tích, nhiều DVDL lại do tư nhân,

cá thể không thuộc cơ quan quản lý thực hiện nên chất lượng dịch vụ thấp, không phù hợp với giá trị di tích, trùng lặp ở nhiều di tích nên không đáp ứng được nhu cầu của du khách, thậm chí còn gây phản cảm, ấn tượng xấu cho du khách sau chuyến tham quan, khiến cho việc quảng bá, thu hút khách cũng như hiệu quả kinh tế trong việc phát huy di tích bị hạn chế Chính vì thế, để phát huy tiềm năng du lịch của Hà Nội, tăng cường hơn tính hấp dẫn của tài nguyên du lịch nhân văn của thủ đô, cần phải nhanh chóng xây dựng được mô

Trang 9

hình TCQL các DVDL tại các DTLSVH sao cho có hiệu quả cao, để trước mắt áp dụng thí điểm với một số điểm di tích tiêu biểu rồi từ đó rút kinh nghiệm và nhân rộng ra các điểm di tích khác

Đáp ứng yêu cầu đó, học viên chọn đề tài: Tổ chức và quản lý dịch vụ

du lịch tại các di tích lịch sử-văn hoá trên địa bàn Hà Nội (Nghiên cứu trường hợp Di tích Văn Miếu-Quốc Tử Giám, Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long, Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch) cho luận văn Thạc sĩ khoa học du lịch, với mục đích vừa là đề tài tốt nghiệp, vừa mong muốn có được đóng góp thiết thực cho việc phát triển du lịch văn hoá trên địa bàn Hà Nội

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, liên quan đến nhiều ngành nghề khác nhau và có tiềm năng kinh tế rất lớn Chính vì thế, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về du lịch, về các DVDL Các công trình nghiên

cứu như: Tourism: A New perspective của Peter Burns, Andrew Holden do NXB Prentice Hall, New Jersey xuất bản năm 1995; Tourism: Principles and

practice của Cooper C., Fletcher J., Gibbert D do NXB Longman, New York

xuất bản năm 2000 hay Marketing tourism places của Gregory Ashworth &

Brian Goodall do NXB Routledge, New York xuất bản năm 1990 đã chỉ rõ những nhân tố tạo nên nhu cầu của du khách khi đi du lịch, các dịch vụ đáp ứng cho du khách từ đó làm cơ sở cho việc tổ chức các dịch vụ cho du khách

ở các điểm đến Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào đề cập cụ thể đến việc TCQL các DVDL tại các DTLSVH

Ở Việt Nam, ngành du lịch phát triển muộn hơn nhưng đã có những công trình nghiên cứu liên quan đến nhu cầu và khả năng đáp ứng nhu cầu của du khách của từng vùng, miền cụ thể trên đất nước, từ đó đề ra các loại hình dịch vụ phục vụ du khách Các công trình nghiên liên quan đến đề tài

Trang 10

như: Luận án tiên sĩ của Lê Đức Thắng (1996) với đề tài: Quy hoạch các điểm

du lịch với việc khai thác di sản kiến trúc văn hóa - lịch sử khu vực Hà Nội

[26]; Luận án tiến sĩ (1996) của Bùi Thị Nga với đề tài: Những giải pháp chủ

yếu để phát triển du lịch trên địa bàn Hà Nội [19]; Luận án tiến sĩ của Từ

Mạnh Lương (2003) với đề tài: Một số chính sách và giải pháp kinh tế - xã

hội chủ yếu nhằm bảo tồn, tôn tạo và nâng cao hiệu quả khai thác di tích lịch

sử - văn hoá của dân tộc giai đoạn phát triển mới của đất nước [16]; Giáo trình quản lý di sản văn hoá với phát triển du lịch [17] của Lê Hồng Lý (chủ

biên), Dương Văn Sáu, Đặng Hòa Thu (2010); Các công trình này chỉ ra các

nguyên tắc bảo tồn, và phát huy DTLSVH để phát triển du lịch trên khía cạnh

là điểm tham quan, là tài nguyên du lịch nhân văn Một số công trình như Tổ

chức phục vụ các dịch vụ du lịch [18] của Trần Văn Mậu (2001), Nhu cầu của

du khách trong quá trình du lịch [6] của Đinh Thị Vân Chi (2004)… đã đề

cập đến các nguyên tắc tổ chức DVDL trong các cơ sở du lịch như nhà hàng, khách sạn, khu vui chơi giải trí, và các dịch vụ bổ sung ở đó trên cơ sở các nhu cầu của du khách khi đi tham quan, du lịch Năm 2006, Viện Nghiên cứu

Phát triển Du lịch (Tổng cục Du lịch) đã thực hiện đề án: Tổ chức, khai thác

không gian kiến trúc cảnh quan tại các khu DTLSVH thuộc thành phố Hà Nội

và phụ cận nhằm phục vụ cho chiến lược phát triển du lịch thủ đô [38] Đề án

này đã đề xuất một số nguyên tắc sử dụng kiến trúc và cảnh quan di tích để tổ chức DVDL tại các DTLSVH, đề xuất việc quy hoạch cảnh quan, kiến trúc một số di tích trong việc tổ chức dịch vụ du lịch Ngoài ra, trong các tham luận hội thảo khoa học về việc bảo tồn, phát huy giá trị DTLSVH, hoặc các báo cáo tổng kết năm của các BQL di tích, việc tổ chức các dịch vụ thường được đề cập đến ở khía cạnh biểu dương hoặc phê phán những mặt chưa được hoặc tập trung vào việc đánh giá dịch vụ có phù hợp với di tích, có quảng bá cho văn hóa không Một số văn bản pháp luật về quản lý DTLS đã đề cập đến việc quản lý các DVDL tại các DTLSVH ở Hà Nội Không dừng lại ở việc kế

Trang 11

thừa những nghiên cứu về biện pháp quản lý và phát huy giá trị DTLSVH phục

vụ cho du lịch, luận văn đề xuất nguyên tắc tổ chức các DVDL tại các DTLSVH và đưa ra mô hình cụ thể cho các di tích, áp dụng mô hình đó cho 3

di tích cụ thể là VM-QTG, HTTL, DTPCT

3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu: Xây dựng nguyên tắc, mô hình TCQL các DVDL

tại các DTLSVH nhằm góp phần tích cực vào việc khai thác tối đa tiềm năng của các di tích của Hà Nội với vai trò là một nguồn tài nguyên du lịch nhân văn cho phát triển bền vững du lịch thủ đô và cả nước nói chung

Nhiệm vụ nghiên cứu: - Xác định giá trị của các DTLSVH của Hà Nội

đối với phát triển du lịch, đánh giá mức độ thu hút khách của các di tích của

Hà Nội nói chung và của 3 di tích được đề cập cụ thể trong luận văn

- Tiến hành khảo sát thực tiễn việc TCQL các DVDL tại các DTLSVH trên địa bàn Hà Nội Trên cơ sở các nguyên tắc về TCQL văn hóa và kinh doanh đánh giá mặt tích cực và hạn chế của hoạt động dịch vụ hiện có

- Đề xuất các nguyên tắc TCQL DVDL và đưa ra mô hình, định hướng việc TCQL DVDL nói chung và áp dụng vào 3 di tích tiêu biểu của thủ đô Hà Nội

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

DVDL tại các DTLSVH là tất cả những hoạt động nhằm tạo điều kiện cho du khách tham quan di tích thuận lợi và thỏa mãn những nhu cầu chính đáng của du khách tại các DTLSVH Tổ chức và quản lý DVDL là việc cung ứng những dịch vụ này cho du khách tại DTLSVH theo những cách thức nhất định nhằm đạt được mục tiêu đã định một cách tốt nhất Như vậy đối tượng nghiên cứu của luận văn là các hoạt động phục vụ cho khách tham quan tại di

Trang 12

tích và cách thức cung ứng, thực hiện những hoạt động này tại các DTLSVH trên địa bàn Hà Nội nói chung, và cụ thể là 3 DTLSVH tiêu biểu của Hà Nội

là VM-QTG, HTTL, DTPCT

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn chỉ nghiên cứu DVDL và việc TCQL những dịch vụ này tại các DTLSVH trên địa bàn Hà Nội nói chung, trên cơ sở đó đi sâu nghiên cứu tại 3 di tích tiêu biểu thuộc 3 loại hình: Di tích kiến trúc-văn hóa, di tích Lịch

sử - khảo cổ học và di tích Danh nhân, lịch sử - cách mạng trên địa bàn Hà Nội là VM-QTG, HTTL, DTPCT

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp tiếp cận hệ thống: Nghiên cứu các DVDL tại một

DTLSVH cụ thể phải đặt di tích vào trong hệ thống các DTLSVH trong địa bàn nghiên cứu Xây dựng nguyên tắc, mô hình TCQL các DVDL cho từng di tích phải tính đến mối tương quan, ảnh hưởng của dịch vụ ở đó với các di tích khác trên cùng tuyến du lịch tại địa bàn và khu vực Ngoài ra, mô hình TCQL các DVDL phải được xây dựng trên cơ sở hệ thống hóa các DTLSVH trên địa bàn và toàn quốc

- Phương pháp khảo sát thực địa và thu thập tài liệu: + Điều tra, khảo

sát thực tế các di tích, phỏng vấn các cán bộ chuyên trách quản lý di tích tại các phòng Văn hóa, thông tin quận, huyện Hà Nội, các nhân viên trực tiếp quản lý di tích

+ Thu thập nguồn dữ liệu thứ cấp từ các kết quả nghiên cứu, sách báo tạp chí, các trang web điện tử, các tài liệu, báo cáo của cơ quan quản lý và BQL di tích

- Phương pháp phân tích tổng hợp: Phân tích mối quan hệ giữa nhu cầu

của du khách và DVDL, tổng hợp các nguyên tắc bảo tồn, tôn tạo, phát huy

Trang 13

giá trị, so sánh với việc TCQL một số DVDL ở các di tích khách trên thế giới

từ đó đề ra nguyên tắc xây dựng mô hình TCQL DVDL tại di tích

- Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến từ các báo cáo của các

chuyên gia về bảo tồn, tôn tạo di tích phục vụ du lịch Tư vấn các chuyên gia, các nhà kinh doanh và phục vụ du lịch nhằm tránh được những đề xuất giáo điều, lý thuyết

6 Đóng góp của luận văn

Nguyên tắc xây dựng mô hình và các mô hình TCQL DVDL tại DTLSVH cụ thể trên địa bàn Hà Nội có thể làm cơ sở cho các nhà quản lý vĩ

mô đưa ra những văn bản quản lý phù hợp để phát triển du lịch vùng, các BQL DTLSVH khác trên địa bàn áp dụng để TCQL hiệu quả tài nguyên của mình Mô hình TCQL tại 3 di tích được đề cập trong luận văn là cơ sở thực tiễn, khoa học cho những di tích chưa có các họat động du lịch khởi lập, tổ chức dịch vụ nhằm phát huy hiệu quả giá trị di tích

Kết quả nghiên cứu của luận văn còn giúp cho các doanh nghiệp du lịch nghiên cứu, tổ chức các tuyến du lịch đặc thù, tạo ra chương trình du lịch mới, tăng thêm sức cạnh tranh cho doanh nghiệp lữ hành

Mô hình TCQL này có thể áp dụng cho các DTLSVH ở các địa phương khác trong toàn quốc tùy theo điều kiện cụ thể của mình

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Di tích lịch sử, văn hóa – nguồn tài nguyên du lịch nhân văn hàng đầu của Hà Nội

Chương 2: Thực trạng tổ chức và quản lý DVDL tại các DTLSVH trên địa bàn Hà Nội

Trang 14

Chương 3: Định hướng mô hình TCQL các DVDL tại các DTLSVH trên địa bàn Hà Nội (thử áp dụng cho các điểm: VM-QTG, HTTL, DTPCT)

Trang 15

CHƯƠNG 1

DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HOÁ - NGUỒN TÀI NGUYÊN DU LỊCH

NHÂN VĂN HÀNG ĐẦU CỦA HÀ NỘI 1.1 Mối quan hệ giữa di tích lịch sử, văn hóa và du lịch

“DTLSVH là một không gian vật chất cụ thể, khách quan, nó không những kết tinh giá trị lao động do con người trong lịch sử tạo ra mà còn chứa đựng những giá trị điển hình về lịch sử, văn hóa, khoa học” [16, tr 13] Như vậy có thể thấy, DTLSVH là những di tích do con người tạo ra tại một địa điểm cụ thể có giá trị điển hình, có ý nghĩa về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học DTLSVH là tài sản quý giá của nhân loại, của mỗi quốc gia, dân tộc, địa phương DTLSVH bao gồm những nơi chứa đựng một bộ phận giá trị văn hóa khảo cổ học, dân tộc học; những nơi diễn ra những sự kiện lịch sử, chính trị trọng đại, những công trình kiến trúc, nghệ thuật có giá trị cao, những nơi lưu niệm, ghi dấu về những danh nhân, anh hùng dân tộc…

1.1.1.2 Phân loại di tích lịch sử văn hóa

Theo nội dung của di tích, có thể phân thành các loại như sau:

Trang 16

- Di tích văn hóa khảo cổ: là những địa điểm chứa đựng, ẩn dấu một bộ

phận giá trị văn hóa thuộc về thời kỳ lịch sử xã hội loài người thời kỳ cổ đại hoặc trước đó

- Di tích lịch sử: là những di tích ghi dấu lại những đặc điểm lịch sử

riêng của mỗi quốc gia, dân tộc Loại hình này bao gồm các di tích ghi dấu về dân tộc học, về sự kiện chính trị trọng đại, tiêu biểu có ý nghĩa quyết định đến

sự phát triển của đất nước, địa phương hoặc những chiến công chống xâm lược, những thành tựu trong lao động sản xuất…

- Di tích văn hóa nghệ thuật: những di tích gắn với các công trình kiến

trúc có giá trị đặc biệt về văn hóa, xã hội, tình thần

- Danh lam thắng cảnh: những di tích gắn với những cảnh đẹp tự nhiên,

có giá trị văn hóa

Theo mức độ quan trọng của DTLSVH, ở Việt Nam, có các loại di tích:

- Di tích cấp quốc gia đặc biệt

- Di tích cấp quốc gia

- Di tích cấp tỉnh, thành phố

- Di tích chưa xếp hạng

1.1.2 Di tích lịch sử văn hóa – nguồn tài nguyên du lịch nhân văn

Di tích lịch sử văn hóa là bằng chứng trung thành, xác thực, cụ thể nhất

về đặc điểm văn hóa của mỗi dân tộc, đất nước Di tích chứa đựng tất cả những gì thuộc về truyền thống tốt đẹp, tinh hoa, trí tuệ, tài năng, giá trị văn hóa, nghệ thuật của mỗi quốc gia Di tích lịch sử, văn hóa thu hút con người tới khám phá, tìm hiểu Đó là cơ sở để DTLSVH trở thành nguồn tài nguyên

du lịch nhân văn

Tuy nhiên, để DTLSVH trở thành tài nguyên du lịch thì, DTLSVH đó phải có giá trị cao, có sức hấp dẫn mạnh đối với khách du lịch và có khả năng,

Trang 17

điều kiện vật chất để khai thác cho du lịch Các nhà nghiên cứu đánh giá giá trị tài nguyên du lịch của DTLSVH trên cở sở:

- Mật độ và chất lượng di tích: thể hiện ở số lượng di tích trên một đơn

vị diện tích và cấp độ xếp hạng của di tích Mật độ, hạng di tích càng cao thì khả năng khai thác cho du lịch càng lớn, tài nguyên du lịch càng có gía trị

- Hạ tầng cơ sở: Di tích càng ở nơi dễ tiếp cận, các di tích ở gần nhau thì chất lượng tài nguyên du lịch càng cao

1.1.3 Du lịch góp phần bảo tồn, tôn tạo và nâng cao giá trị của di tích lịch

sử văn hóa

Di tích lịch sử văn hóa là tài sản văn hóa Nếu DTLSVH không được khai thác thì mãi mãi chỉ là di tích Ngược lại, khai thác di tích phục vụ du lịch văn hóa sẽ góp phần bảo tồn, tôn tạo di tích Các giá trị lịch sử, văn hóa trong di tích trở thành hàng hóa đặc biệt phục vụ nhu cầu khách tham quan, chúng không mất đi mà có dịp để bảo tồn, gìn giữ Phong tục, tập quán, sự kiện lịch sử sẽ được sống lại, tái hiện lại khi khai thác phục vụ du lịch

Hơn nữa, khai thác DTLSVH cho du lịch đem lại hiệu quả kinh tế, xã hội: tăng thu nhập, tạo thêm việc làm, giải quyết công ăn việc làm cho cộng đồng địa phương Khi thu nhập tăng lên, di tích có điều kiện được tôn tạo, công đồng địa phương tăng nhận thức, đánh giá cao giá trị di tích, có ý thức bảo vệ, bảo tồn di tích

Khai thác DTLSVH cho du lịch còn góp phần làm tăng trưởng kinh tế, thay đổi cơ cấu kinh tế vùng, ngành…

Tuy nhiên, khai thác di tích cũng sẽ tạo tác động xấu đến tuổi thọ và giá trị di tích nếu không tuân thủ nghiêm ngặt những yêu cầu về bảo tồn, tôn tạo

và phát huy giá trị: như khai thác quá mức di tích, bóp méo, làm sai lệch giá trị vốn có của di tích, thương mại hóa, làm ô nhiễm di tích…

Trang 18

1.2 Hệ thống di tích lịch sử, văn hóa trên địa bàn Hà Nội

1.2.1 Khái quát về Hà Nội

Hà Nội là Thủ đô của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Hà Nội nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc bộ, ở phía hữu ngạn sông Đà

và hai bên sông Hồng, phía Bắc tiếp giáp với các tỉnh: Thái Nguyên, Vĩnh Phúc; phía Nam giáp Hà Nam và Hoà Bình; phía Đông giáp Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên; phía Tây giáp Hoà Bình và Phú Thọ

Với diện tích hiện nay là 3.324,92km², dân số tính đến ngày 30/10/2010

là 6.913 triệu người, Hà Nội là thành phố đứng đầu Việt Nam về diện tích tự nhiên, đứng thứ hai về quy mô dân số sau Thành phố Hồ Chí Minh Hiện nay

Hà Nội có 10 quận, 18 huyện và một thị xã, đó là: các quận Hoàn Kiếm, Ba Ðình, Ðống Ða, Hai Bà Trưng, Tây Hồ, Thanh Xuân, Cầu Giấy, Long Biên, Hoàng Mai, Hà Đông; các huyện Ðông Anh, Sóc Sơn, Thanh Trì, Từ Liêm, Gia Lâm, Ba Vì, Chương Mỹ, Đan Phượng, Hoài Đức, Mỹ Đức, Phú Xuyên, Phúc Thọ, Quốc Oai, Thạch Thất, Thanh Oai, Thường Tín, Ứng Hòa và Mê Linh và thị xã Sơn Tây

Cư dân Hà Nội chủ yếu là người dân tộc Việt (Kinh) chiếm tỷ lệ 99,1%; các dân tộc khác: Dao, Mường, Tày chiếm 0,9%; cư dân đô thị chiếm

tỷ lệ 41,1% và cư dân nông thôn là 58,9%; tỷ lệ nữ chiếm 50,7% và nam là 49,3% Pháp lệnh Thủ đô đã xác định Hà Nội là trung tâm chính trị-hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hoá, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch của cả nước, nơi diễn ra các hoạt động đối nội, đối ngoại quan trọng nhất của đất nước [23]

Hà Nội nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm 24°C, độ ẩm trung bình 80 - 82%, lượng mưa trung bình 1.800mm/năm

và mỗi nǎm có khoảng 114 ngày mưa Từ tháng 5 đến tháng 9 là mùa nóng và mưa Nhiệt độ trung bình là 29ºC, từ tháng 11 đến tháng 3 nǎm sau là mùa đông lạnh và khô ráo, nhiệt độ trung bình là 15ºC Giữa hai mùa đó lại có hai

Trang 19

thời kỳ chuyển tiếp (tháng 4 và tháng 10) cho nên Hà Nội có đủ bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Ðông, mùa nào Hà Nội cũng có vẻ đẹp riêng Dù có hình thái địa hình khác nhau giữa các khu vực của Hà Nội hiện nay, nhưng sự khác biệt thời tiết và chênh lệch về nhiệt độ giữa các địa phương của Hà Nội không lớn

Hà Nội có cả đồng bằng, đồi núi và rừng, đồng bằng chiếm khoảng 3/4 diện tích tự nhiên, nằm bên hữu ngạn sông Đà, hai bên sông Hồng và chi lưu các sông Địa hình đồi núi thuộc địa phận các huyện Sóc Sơn, Ba Vì, Quốc Oai, Mỹ Đức, trong đó có một số đỉnh núi cao như: Ba Vì 1.281m; Gia Dê 707m; Chân Chim 462m; Thanh Lanh 427m; Thiên Trù 378m; Bà Tượng 334m; Sóc Sơn 308m; Núi Bộc 245m; Dục Linh 294m…

Hà Nội nằm cạnh hai con sông lớn là sông Đà và sông Hồng Ðoạn sông Hồng qua Hà Nội dài khoảng 163km Ngoài ra, Hà Nội còn có các sông: Đuống, Cầu, Cà Lồ, Đáy, Nhuệ, Tô Lịch, Kim Ngưu, …

Hà Nội có nhiều hồ, đầm, nổi tiếng như hồ Tây, Trúc Bạch, Hoàn Kiếm, Thiền Quang, Bảy Mẫu, Ngải Sơn - Đồng Mô, Suối Hai, Mèo Gù, Xuân Khanh, Tuy Lai, Quan Sơn

Từ thủ đô Hà Nội, có thể đi khắp mọi miền đất nước, ra nước ngoài bằng các loại phương tiện giao thông khác nhau như đường không, đường bộ, đường sắt, đường thủy

Đường không: Du khách từ nước ngoài có thể đến Hà Nội qua sân bay quốc tế Nội Bài cách trung tâm Hà Nội khoảng 35km Sân bay Gia Lâm - sân bay trực thăng phục vụ bay dịch vụ, trong đó có dịch vụ du lịch

Đường bộ: Xe ô tô khách liên tỉnh xuất phát từ các bến xe Phía Nam, Gia Lâm, Lương Yên, Nước Ngầm, Mỹ Đình theo quốc lộ 1A xuyên Bắc – Nam, quốc lộ 2 đi Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Tuyên Quang, Hà Giang; quốc

lộ 3 đi Thái Nguyên, Cao Bằng; Quốc lộ 5 đi Hải Phòng, Quảng Ninh; Quốc

lộ 6 đi Hoà Bình, Sơn La, Lai Châu…

Trang 20

Hà Nội là đầu mối giao thông của 5 tuyến đường sắt trong nước Có đường sắt liên vận sang Bắc Kinh (Trung Quốc) Hà Nội cũng là đầu mối giao thông quan trọng bằng đường thủy với bến Phà Đen, bến Hàm Tử Quan đi Hưng Yên, Nam Định, Thái Bình, Việt Trì, Phả Lại…

Là trung tâm của vùng Bắc Bộ, là đầu mối giao thông quan trọng đi các tỉnh và là thủ đô của cả nước, Hà Nội có khả năng to lớn để thu hút các nguồn lực của cả nước, của nước ngoài cho sự phát triển của mình Đồng thời, sự phát triển của Hà Nội có vai trò to lớn thúc đẩy sự phát triển của cả vùng, cũng như cả nước; sự phát triển của thủ đô Hà Nội là niềm tự hào của người dân Hà Nội, đồng thời cũng là niềm tự hào của đất nước, của dân tộc

1.2.2 Hà Nội - vùng đất ngàn năm văn vật

Thủ đô Hà Nội có lịch sử hàng ngàn năm, khởi đầu bằng sự kiện xảy ra vào năm 255 TCN, khi An Dương Vương Thục Phán thống nhất hai bộ lạc: Âu Việt và Lạc Việt lập nên nước Âu Lạc, đóng đô ở Phong Khê và cho xây Loa Thành (Cổ Loa) [39, tr 135] Cổ Loa nay thuộc huyện Đông Anh, Hà Nội

Năm 208 TCN, Âu Lạc bị Triệu Đà (Trung Quốc) thôn tính Cổ Loa (Hà Nội) nằm dưới ách thống trị của Trung Hoa suốt nghìn năm Trong thời

kỳ này, có nhiều cuộc nổi dậy chống lại ách đô hộ phương Bắc như cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng xảy ra ở Mê Linh (40-43), của Lý Nam Đế, lập nên nhà Tiền Lý (541-547), Dưới thời nhà Đường, thành Tống Bình là trung tâm của An Nam đô hộ phủ, sau đó đổi tên là Đại La thành, cũng gọi là Long

Đỗ thành Năm 938, Ngô Quyền chiến thắng quân Nam Hán, kết thúc thời kỳ

đô hộ trên 1000 năm của phương Bắc, đóng đô tại thành Cổ Loa

Dưới thời Đinh, Tiền Lê, Đại La là vùng đất đô hội, nơi gặp gỡ của nhiều con đường thương mại

Trang 21

Năm 1010, vua Lý Thái Tổ ban Chiếu dời đô để về thành Đại La và lấy tên kinh đô mới là Thăng Long

Từ đó đến nay, trải qua nghìn năm với nhiều thăng trầm của lịch sử, Thăng Long, rồi Đông Đô, Đông quan, Hà Nội luôn biết tiếp nhận tất cả những gì tinh tuý nhất của mọi vùng miền đất nước và xa hơn, của bạn bè quốc tế, đã nhân lên những điều hay, xoá đi cái dở, làm nên một nền văn hoá

có bản sắc riêng và đầy quyến rũ - văn hóa Tràng An

Trải qua hơn hai ngàn năm lịch sử, vùng đất nay là thủ đô Hà Nội mang trong mình một hệ thống di sản văn hoá vật thể và phi vật thể phong phú, đa dạng và mang đậm bản sắc của người Tràng An, trở thành một biểu tượng của văn hoá Việt Nam

- Về văn hóa vật thể: Hà Nội đứng đầu cả nước về số lượng di tích và danh thắng (DT&DT): Tính đến tháng 6/2009, Hà Nội có 5.175 di tích, trong

đó hàng trăm đền, chùa, công trình kiến trúc, danh thắng nổi tiếng đã được nhà nước xếp hạng cấp thành phố và cấp quốc gia [30, tr.11] Hà Nội đứng đầu cả nước về số lượng nhà bảo tàng, thư viện, nhà văn hóa, câu lạc bộ, rạp hát, rạp chiếu bóng, hiệu sách…Những DT&DT tiêu biểu như:

Khu phố cổ - nơi lưu giữ dấu ấn của một "Hà Nội 36 phố phường" thủa xưa không chỉ là một trung tâm thương mại mà còn là một trung tâm văn hoá

đa dạng, đặc biệt là văn hoá ẩm thực rất phong phú

Hoàng thành Thăng Long (HTTL) vừa mới phát lộ trong cuộc khai quật khảo cổ những năm đầu thế kỷ XXI này Di tích HTTL là minh chứng sống động của một kinh đô được xây dựng cách đây hàng ngàn năm, là di tích duy nhất mang tính biểu tượng cho cộng đồng người dân Hà Nội, có giá trị lịch sử vượt thời gian, không gian, lớn về quy mô, độc đáo về kiến trúc và nghệ thuật Năm 2010, HTTL chính thức được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa thế giới

Trang 22

Cổ Loa: Một trong những toà thành cổ nhất ở Đông Nam Á, là minh chứng về một nhà nước Âu Lạc hùng mạnh, độc đáo về kỹ thuật quân sự của dân tộc Việt cách đây hơn 2000 năm, đồng thời cũng là bài học về bảo mật quốc gia, tinh thần cảnh giác

Chùa Một Cột khởi lập vào thế kỷ XI với hình tượng đoá sen, là điểm độc đáo trong kiến trúc Khối kiến trúc gỗ, đá được phù trợ bởi cảnh quan, có

ao, có cây cối đã tạo nên sự gần gũi, tinh khiết mà vẫn thanh lịch

Văn Miếu-Quốc Tử Giám khởi lập vào năm 1070, thờ Khổng Tử, các bậc Hiền triết của Nho giáo và là trung tâm giáo dục cấp cao nhất của Việt Nam trong suốt các thế kỷ XI-XVIII Đây là biểu tượng của trí tuệ và văn hóa Việt, truyền thống hiếu học, thái độ trân trọng, tôn vinh người hiền tài của dân tộc

Quảng trường Ba Đình, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ Cộng Hoà ngày 2/9/1945 lịch sử; Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Khu DTPCT là di tích ghi dấu về người con ưu

tú, anh hùng của dân tộc, danh nhân văn hóa nhân loại Hồ Chí Minh

Hồ Tây từ nghìn năm xa xưa đã là danh thắng của Hà Nội với cung Thúy Hoa thời Lý, điện Hàm Nguyên thời Trần, sau đến là chùa Trấn Quốc, chùa Kim Liên

Hồ Gươm với cầu Thê Húc, Tháp Bút, Đài nghiên, đền Ngọc Sơn soi bóng nước là điểm nhấn văn hóa, biểu trưng của Thủ đô Hệ thống chùa, đình, cổng làng, các công trình mang nét kiến trúc của các triều đại xưa đã tạo nên một quần thể các di sản văn hoá vật thể đặc sắc của Hà nội

Nghề và làng nghề thủ công của Hà Nội vốn nổi tiếng từ xưa như nghề gốm sứ Bát Tràng, nghề làm tranh dân gian Hàng Trống, nghề đúc đồng Ngũ

Xá, trạm khảm Vân Hà, lụa Hà Đông… Trong hàng ngàn năm, Hà Nội là nơi tập trung những tinh hoa văn hóa của miền Bắc và cả Việt Nam, nơi quy tụ của những nhân vật ưu tú, những thương nhân, những nghệ nhân, những thợ

Trang 23

thủ công lành nghề Họ tới đây lập nghiệp, mang theo những phong tục, tập quán địa phương và Hà Nội trở thành mảnh đất tiêu biểu cho nền văn hóa của

cả Việt Nam Môi trường cạnh tranh của đất kinh thành khiến những thương nhân, thợ thủ công trụ vững lại Hà Nội phải là những người xuất sắc, tài năng

Vì thế, những sản phẩm của họ là những sản phẩm tiêu biểu, chất lượng cao nhất Hiện nay ở Hà Nội còn khoảng 30 làng nghề, phố nghề còn khả năng sản xuất và tiêu thụ có hiệu quả [4, tr.61]

Tinh hoa văn hoá của Hà Nội còn là những di sản văn hoá phi vật thể phản ánh một cách phong phú, đa dạng và chân thực truyền thống sinh hoạt văn hoá của người Hà Nội Văn hoá phi vật thể Hà Nội là tổng hoà các yếu tố giao lưu, hội nhập, dung hoà, tiếp biến cởi mở, linh hoạt, để tạo nên bản sắc Thăng Long - Hà Nội Đó là hệ thống các lễ hội dân gian cổ truyền của người

Hà Nội Lễ hội cổ truyền Hà Nội mang đậm màu sắc lịch sử, bởi Hà Nội là trung tâm, là nơi tập trung các nhân vật lịch sử và những sự kiện lịch sử, những dấu ấn lịch sử của môi trường văn hoá đô thành Đó là những tục lệ, hương ước của những làng cổ ở chốn kinh kỳ xưa Hà Nội tuy là Kinh Đô, là

đô thị lớn nhất của cả nước nhưng ở đó vẫn có các thôn làng, phố phường đan xen và cùng nhau tồn tại Gắn với mỗi làng xã là những tục lệ, hương ước riêng rất tiêu biểu và đặc trưng cho mỗi nơi, góp phần sâu sắc để định hình nên bản sắc văn hoá Hà Nội, phong vị Hà Nội Những món ăn như Phở Hà nội, Nem, Bún chả, Giò chả Ước Lễ, Chả cá Lã Vọng, Xôi lúa Tương Mai, cốm Vòng, Bánh cuốn Thanh Trì, rượu Mơ, dưa La, cà Láng với hương vị quyến rũ riêng không nơi nào bắt chước nổi đã làm nên nghệ thuật ẩm thực cái tinh tế của văn hoá và con người Hà Nội

Những danh nhân, nhân cách lớn đã làm rạng danh cho Hà Nội và dân tộc Đó là Lý Công Uẩn - vị Vua anh minh đã chọn vùng đất này làm nơi định

đô cho muôn đời con cháu; đó là những con người như Lý Thường Kiệt, Chu Văn An, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu,

Trang 24

Văn Cao, Nguyễn Đình Thi Có người sinh ra ở Hà Nội, cũng có người không sinh ra ở Hà Nội, song tên tuổi, sự nghiệp của họ mãi bất tử với Hà Nội, trở thành những di sản văn hoá thiêng liêng của văn hiến Thăng Long-

Hà Nội

1.2.3 Di tích lịch sử, văn hoá - nguồn tài nguyên du lịch của Hà Nội

1.2.3.1 Giá trị của các di tích lịch sử, văn hóa ở Hà Nội đối với du lịch

Thủ đô Hà Nội - mảnh đất tồn tại hàng ngàn năm song hành cùng với lịch sử đất nước, từ những năm trước công nguyên, đã chứng kiến, đồng thời ghi dấu lại những trang sử oai hùng của dân tộc Việt Nam trong công cuộc dựng nước và giữ nước Những sự kiện đó đã góp phần làm nên truyền thống

vẻ vang, quý báu của dân tộc Việt Nam, đó là truyền thống yêu nước nồng nàn, không khuất phục trước mọi kẻ thù; đó là truyền thống cần cù lao động, chống lại mọi thế lực siêu nhiên để tạo nên một thủ đô với đặc điểm riêng biệt của đất nước ở khu vực Đông Nam Á Công cuộc đấu tranh giữ nước và xây dựng đất nước đó đã gắn kết cộng đồng, tôi luyện nên một dân tộc với những nét văn hóa rất riêng của mình, đó là bản sắc văn hóa của người Việt cùng những dân tộc anh em sinh sống trên mảnh đất này

Hệ thống DTLSVH trên địa bàn Hà Nội ghi lại những câu chuyện chiến đấu oanh liệt chống lại giặc ngoại xâm và thiên nhiên, phản ảnh đời sống văn hóa, tư tưởng của người dân Hà Nội trong cuộc sống thường ngày, trong cuộc đấu tranh sinh tồn, đồng thời cũng là những minh chứng cho nét độc đáo văn hóa của cư dân nơi đây Chính vì vậy, mỗi một di tích là một câu chuyện lịch

sử, một huyền thoại thể hiện ước vọng, nguyện vọng của nhân dân, phản ảnh một nét đặc trưng cho nền văn hóa của thủ đô

Di tích lịch sử văn hóa là những dấu ấn phản ánh phong cách nghệ thuật, đặc điểm nghệ thuật kiến trúc của con người thủ đô trong tiến trình lịch

Trang 25

sử tồn tại và phát triển Những đặc điểm kiến trúc, nghệ thuật của thủ đô đặc trưng, tiêu biểu cho sự phát triển về nghệ thuật, kiến trúc của dân tộc trong từng thời điểm, song hành cùng sự phát triển của văn hóa rất riêng của dân tộc Những công trình kiến trúc phản ảnh tâm tư, nguyện vọng, khát vọng của con người Hà Nội trong từng giai đoạn lịch sử xây dựng và bảo vệ tổ quốc, như Chùa Một Cột với lối kiến trúc độc đáo thể hiện tài năng kiến trúc của thời Lý, Điện Đại thành của Văn Miếu với những nét chạm khắc tinh vi, tiêu biểu của kiến trúc thời Lê, Nhà hát lớn, Phủ Chủ tịch là kiến trúc thời Pháp thuộc…

Hà Nội, với vị trí ở trung tâm, là thủ đô của đất nước, nên lịch sử của đất nước, văn hóa của dân tộc luôn tồn tại và được phản ảnh trong lịch sử, nét văn hóa của thủ đô Từ những sự kiện hào hùng như xây thành Cổ Loa, đến những cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông, chiến thắng giặc Minh,

từ những nét văn hóa được thể hiện qua các lễ hội tại các di tích, qua các làng nghề truyền thống, qua phong cách ăn mặc…đều là những nét đặc trưng nhất của văn hóa Việt

Du lịch với mục đích là thẩm nhận, trải nghiệm sự khác biệt sẽ được đáp ứng tối đa khi được trải nghiệm những gì có trong hệ thống DTLSVH của

Hà Nội Những gì mà DTLSVH của Hà Nội đem lại chính là những gì mà du khách muốn tìm hiểu, khám phá đất nước ngàn năm lịch sử, văn hiến này

Di tích lịch sử, văn hóa Hà Nội đa dạng, phong phú với đầy đủ các cấp bậc, giá trị bao gồm di sản văn hóa thế giới, di tích lịch sử cấp quốc gia, cấp thành phố Có thể nói, DTLSVH Hà Nội mang đặc điểm tiêu biểu, phát ảnh rõ nét nền văn hóa, truyền thống lâu đời của người và vùng đất Hà Nội nói riêng

và của cả Việt Nam

Số liệu tổng kết của cơ quan du lịch Hà Nội cho thấy lượng khách du lịch tới Thủ đô trong những năm gần đây thường xuyên tăng, từ 5,34 triệu

Trang 26

năm 2005 đến gần 12 triệu lượt khách năm 2010, điều đó thể hiện sức thu hút của nguồn tài nguyên du lịch của Hà Nội nói chung, của hệ thống DTLSVH trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng ngày càng mạnh mẽ

Bảng số 1.1: Bảng số lượng lượt khách tham quan Hà Nội từ 2005-2010

Hà Nội có số lượng và mật độ DTLSVH lớn nhất cả nước: Theo thống

kê đến hết tháng 6/2009, trên địa bàn Hà Nội có 5.175 di tích trong đó có 2.095 di tích đã được nhà nước xếp hạng, 1.164 di tích cấp quốc gia, 931 di tích cấp thành phố [4, tr 11] Nếu so với số lượng trên 40.000 di tích trong đó

có trên 9.100 di tích được xếp hạng trên toàn quốc hiện nay [5] thì Hà Nội đứng đầu các tỉnh, thành phố trong cả nước về số lượng DTLSVH (chiếm trên 12% về số lượng di tích và trên 20% về số lượng di tích được xếp hạng) Với

số lượng 5.175 di tích so với tổng diện tích 3.324,92km², Hà Nội cũng là vùng đất có mật độ di tích lớn nhất cả nước Hơn nữa DTLSVH của Hà Nội phân

bổ tương đối tập trung ở vùng trung tâm và những vùng núi có cảnh quan đẹp,

vì thế có giá trị lớn đối với du lịch

Trang 27

Di tích lịch sử, văn hóa Hà Nội đa dạng, phong phú, nhiều loại hình, có niên đại dài Nếu xét theo tính chất của di tích, Hà Nội có đầy đủ các loại hình DTLSVH cuốn hút du lịch, như di tích khảo cổ học, di tích lịch sử, di tích văn hóa nghệ thuật, danh lam thắng cảnh chứa đựng DTLSVH Về di tích khảo cổ học phải kể đến như Di tích Cổ Loa và vùng phụ cận ở huyện Đông Anh, các dấu tích khảo cổ học ở các huyện Ba Vì, Sơn Tây, Phú Xuyên Di chỉ Khảo

cổ học Gò Dền ở Huyện Mê Linh; Di tích khảo cổ ở 18 Hoàng Diệu thuộc khu di tích Trung tâm HTTL Về di tích lịch sử có những di tích có giá trị đặc biệt như Gò Đống đa, Quảng trường Ba Đình, DTPCT; di tích văn hóa, nghệ thuật như VM-QTG, Nhà hát lớn, chùa Kim Liên, chùa Thầy, chùa Trấn Quốc, đền Ngọc Sơn…

Xét theo giá trị, cấp bậc, Hà Nội có đầy đủ các cấp bậc DTLSVH Hà Nội có 2/10 di tích cấp quốc gia đặc biệt (Khu trung tâm HTTL và Khu DTPCT), có 1.162 di tích cấp quốc gia và 931 di tích cấp thành phố, và nhiều

di tích chưa được xếp hạng, đang trong quá trình làm hồ sơ xếp hạng di tích cấp tỉnh, thành phố hoặc xét nâng cấp di tích cấp quốc gia Đặc biệt, Hà Nội

có di tích Khu Trung tâm HTTL được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới, và di tích VM-QTG có di sản tư liệu đặc biệt (Bia Tiến sĩ ) được ghi vào danh mục Ký ức thế giới của UNESCO

Di tích lịch sử văn hóa Hà Nội có niên đại dài, có di tích ngàn năm tuổi như di tích thành Cổ Loa, có di tích song hành cùng sự ra đời và phát triển của Thăng Long- Hà Nội như VM-QTG, Chùa Trấn Quốc, Đền Quan Thánh,…

Di tích lịch sử, văn hóa Hà Nội chuyển tải, ghi dấu sự hình thành và phát triển của lịch sử, văn hóa của Hà Nội nói riêng, Việt Nam nói chung, như

di tích Cổ Loa cho biết lịch sử của Việt Nam và lịch sử của Thủ đô Hà Nội, di tích Trung tâm HTTL cho biết lịch sử của các triều đại phong kiến Lý, Trần,

Trang 28

Hồ, Lê, Mạc, Lê Trung Hưng, Nguyễn, cũng là lịch sử kinh đô của nước Đại Việt…di tích VM–QTG cho biết lịch sử phát triển giáo dục, thi cử cùng những truyền thống văn hóa của người dân thủ đô nói riêng, của Việt Nam nói chung; hệ thống chùa, đình, miếu cho biết về lịch sử tư tưởng, tôn giáo tín ngưỡng của dân tộc Việt Nam, của người Hà Nội, các công trình kiến trúc cho biết lịch sử phát triển kinh tế, khoa học, kỹ thuật, mỹ thuật

Là trung tâm của văn minh sông Hồng trước đây, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục của cả nước hiện nay, Hà Nội là đô thị phát triển của đất nước, vì thế lợi thế của Hà Nội chính là những tài nguyên du lịch nhân văn Trong số tài nguyên du lịch nhân văn của Hà Nội, hệ thống DTLSVH với

số lượng lớn, giá trị vật thể và phi vật thể cao, đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển du lịch của Thủ đô

1.2.3.2 Các di tích lịch sử, văn hoá tiêu biểu

a Văn Miếu-Quốc Tử Giám

- Khái quát lịch sử Văn Miếu-Quốc Tử Giám

Năm 1070 vua Lý Thánh Tông cho dựng Văn Miếu ở phía Nam thành Thăng Long để thờ Khổng Tử (551-479 TCN) - ông tổ của Nho giáo cùng các

vị Tiên hiền Nho học, đồng thời cho Hoàng thái tử Lý Càn Đức đến đây học [39, tr 275] Như vậy, Văn Miếu ngoài chức năng thờ các bậc Tiên thánh, Tiên sư của đạo Nho, còn mang chức năng trường học của Hoàng gia Học trò đầu tiên là Thái tử Lý Càn Đức, con trai vua Lý Thánh Tông

Tháng 4 năm Bính Thìn niên hiệu Anh Vũ Chiêu Thắng thứ nhất (1076) vua Lý Nhân Tông cho lập Quốc Tử Giám ở phía sau của Văn Miếu

để làm nơi học tập cho con em của nhà vua và các vị quan đại thần ở Kinh đô Thăng Long Từ đó khu vực này trở thành nơi quan trọng của Hoàng gia, gồm hai phần: Miếu và trường

Trang 29

Thời Lý, quy mô của VM–QTG còn khiêm tốn bởi lúc đó Phật giáo vẫn còn thịnh hành ở Việt Nam, nhưng xu thế phát triển của Nho giáo đã thể hiện

rõ qua việc lựa chọn quan chức bằng các kì thi Nho học tam trường và đãi ngộ của Hoàng gia

Đến thời Trần, dù phật giáo vẫn còn phát triển mạnh, nhưng các Vua Trần vẫn quan tâm đến VM–QTG và việc giáo dục Nho học, thể hiện qua việc cho tu sửa Quốc Tử Giám vào năm 1243, lập Quốc Học viện vào năm 1253, xuống chiếu vời Nho sĩ trong nước đến giảng Tứ thư, Lục kinh và lấy Phạm Ứng Thần giữ chức Thượng thư kiêm Đề điệu Quốc Tử viện Việc lập Quốc

Tử Viện (giám (trường) được đổi thành Viện) làm nơi học tập cho quan viên biết chữ ở các địa phương và con em nhà vua, quan đại thần ở kinh đô đánh dấu sự trưởng thành cũng như vai trò to lớn của VM-QTG trong thời kỳ này Văn Miếu thời Trần đã được tu sửa khang trang đẹp đẽ

Văn Miếu-Quốc Tử Giám và nền giáo dục Nho học phát triển rực rỡ vào thời nhà Lê Chế độ giáo dục, thi cử Nho học dần đi vào nề nếp với những quy chế, quy định rõ ràng: đặt ra quy chế 3 năm một kỳ thi, quy chế thi Hương, thi Hội, thi Đình…việc đãi ngộ những người thi đỗ thật nồng hậu để kén chọn người tài

Văn Miếu-Quốc Tử Giám thời kì này được quan tâm đặc biệt Xuân thu nhị kỳ đích thân nhà Vua đến Văn Miếu tế, làm chủ tế Văn Miếu được tu sửa lớn vào năm 1483, khang trang to đẹp gồm có điện Đại Thành để thờ Tiên Thánh, Đông vũ và Tây vũ thờ các Tiên hiền, Tiên nho; điện Canh Phục để làm nơi túc yết, kho chứa đồ tế khí và nhà bếp; cửa Thái học vào khu trường học gồm nhà Minh luân, Giảng đường phía đông và giảng đường phía tây, kho Bí thư để chứa ván gỗ đã khắc thành sách; bên đông, bên tây

có nhà cho học sinh nghỉ ngơi, mỗi bên ba dãy, mỗi dãy 25 [40, tr 492]

Quy chế lựa chọn Giám sinh (học sinh trường Giám) chặt chẽ, rõ ràng Đặc biệt, cho phép tuyển lựa cả con em dân thường có tài (đỗ thi Hương, các

Trang 30

trường của kỳ thi Hội), có triển vọng vào học để làm nguồn bổ sung cho bộ máy quản lý đất nước Năm 1484, Vua Lê Thánh Tông (1442-1497) cho dựng bia đá ghi lại lịch sử của các khoa thi từ 1442 đến 1484 và tên, quê quán của những người đỗ tiến sĩ Đây là sự kiện đặc biệt, khởi đầu cho lệ dựng bia tiến

sĩ tại Văn Miếu, đề cao những người hiền tài Chính vì thế mà sự nghiệp giáo dục của Việt Nam thời kỳ này phát triển cực thịnh

Thời nhà Mạc, VM-QTG vẫn là trung tâm giáo dục lớn của đất nước Năm Bính Thân niên hiệu Nguyên Hòa thứ 4 (1536), Mạc Đăng Doanh đã cho trùng tu Quốc Tử Giám và mùa xuân năm sau, đích thân Mạc Đăng Doanh đến dâng hương ở Văn Miếu và thăm Quốc Tử Giám

Thời Lê Trung hưng, VM-QTG vẫn được quan tâm nhiều thể hiện qua các đợt trùng tu năm 1662, 1760, 1762 Quy mô VM-QTG to lớn gồm Cửa Đại Thành, nhà Bái đường, Điện Đại thành, Đông vu và Tây vu điện Canh phục ở phía sau nhà bếp, Kho tế khí, cửa Thái học, Nhà bia phía đông và phía tây, Kho để ván khắc in sách, cổng bên đông và tây, Nhà Minh luân, 2 Cửa nhỏ bên trái, phải, 2 dãy nhà giảng dạy ở phía đông và phía tây, 3 dãy Phòng của học sinh ở phía đông và phía tây, mỗi dãy 25 gian [7, tr 185]

Thời Nguyễn, VM–QTG Thăng Long-Hà Nội không còn vai trò to lớn nhưng vẫn được các nhà Nho quan tâm và phát triển Các cuộc tế lễ vẫn diễn

ra đều đặn 2 lần/năm Đặc biệt, năm 1805, Tổng trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành đã cho xây một lầu gác thể hiện vẻ đẹp của sao Khuê: Khuê Văn các Quốc Tử Giám trở thành trường học của Phủ Hoài Đức, sau thành điện Khải Thánh thờ cha, mẹ của Khổng Tử Thực dân Pháp đánh chiếm Bắc kỳ, có lúc chúng đã dùng VM–QTG làm trại lính, huỷ hoại một số công trình kiến trúc của VM–QTG Khu điện Khải Thánh và một vài kiến trúc của Văn Miếu đã bị phá huỷ trong thời kỳ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp

Trang 31

Năm 1962, Bộ Văn hoá đã ra quyết định xếp hạng VM-QTG là di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia

- Di tích Văn Miếu-Quốc Tử Giám hiện nay

Văn Miếu-Quốc Tử Giám là di tích lịch sử, văn hóa cấp quốc gia tiểu biểu của Thủ đô Hà Nội và cả nước Trải qua hơn 900 năm thăng trầm của lịch sử, qua nhiều triều đại, nhiều sự kiện, di tích lịch sử VM–QTG vẫn còn giữ được dáng vẻ cổ kính, các loại hình kiến trúc của triều đại Lê, Nguyễn Tại di tích còn lưu giữ nhiều hiện vật quý, chứng tích của nền văn hoá, giáo dục, thi cử của các triều đại phong kiến Việt Nam, thể hiện nét truyền thống, trí tuệ, triết học của con người Việt Nam Di tích lịch sử văn hoá VM–QTG hiện nay có tổng diện tích 55.023 m2, bao gồm 3 khu vực: Hồ Văn, Vườn Giám và khu Nội Tự

Trang 33

b Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long

Khu di tích Trung tâm HTTL là quần thể di tích gắn với lịch sử kinh thành Thăng Long - Hà Nội từ thời tiền Thăng Long (thế kỷ VII) qua thời Đinh - Tiền Lê, phát triển mạnh dưới thời Lý, Trần, Hậu Lê và thành Hà Nội dưới triều Nguyễn Đây là công trình kiến trúc đồ sộ, được các triều vua xây dựng trong nhiều giai đoạn lịch sử và trở thành di tích quan trọng bậc nhất trong hệ thống các di tích Việt Nam Ngày 1/8/2010, Ủy ban Di sản thế giới

đã thông qua nghị quyết công nhận khu Trung tâm HTTL - Hà Nội là Di sản văn hóa thế giới

- Lịch sử Hoàng Thành Thăng Long

+ Thăng Long thời tiền Thăng Long

Thời kỳ Nhà Đường (Thế kỷ VII), An Nam đô hộ phủ (Việt Nam) được chia thành 12 châu với 50 huyện Tống Bình - vùng đất sau là kinh thành Thăng Long là trung tâm của An Nam đô hộ phủ Năm 866, Tiết độ sứ của

An Nam phủ (khi đó gọi là Tĩnh Hải quân) Cao Biền xây dựng lại Tống Bình

và đổi tên thành Đại La

Cuộc khởi nghĩa của Hào trưởng Khúc Thừa Dụ năm 907 được dân chúng ủng hộ, đã tiến ra chiếm đóng phủ thành Đại La, tự xưng là Tiết độ sứ Ông đã cho xây dựng chính quyền dựa trên danh xưng của chính quyền đô hộ nhà Đường, nhưng thực chất là một chính quyền độc lập và do người Việt quản lý Năm 923, Nhà Nam Hán đánh thắng Khúc Thừa Mỹ, con của Khúc Thừa Dụ và cho Lý Tiến làm An Nam Thứ sử Năm 931, Dương Đình Nghệ đem quân từ Ái châu ra giải phóng thành Đại La giành quyền tự chủ cho đất nước Dương Đình Nghệ tự xưng là Tiết độ sứ được 6 năm thì bị Kiều Công Tiễn giết hại Năm 938, Ngô Quyền, một tướng của Đình Nghệ hạ thành Đại

La, tiêu diệt Kiều Công Tiễn, đánh bại quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng Mùa xuân năm 939, ông xưng là Ngô Vương, đóng đô ở Cổ Loa Dưới các

Trang 34

triều đại Đinh, Tiền Lê (968-1009), Đại La lúc này là một thành lớn, được Đô

hộ phủ sĩ sư Lưu Cơ tu sửa quay về hướng nam (hướng về kinh đô Hoa Lư)

và cai quản cho đến năm 1010, khi Lý Công Uẩn định đô và đổi tên thành Thăng Long

+ Thăng Long dưới triều đại Lý - Trần

Tháng 8 năm 1010, vua Lý Thái Tổ ban chiếu dời đô về thành Đại La

và đổi tên kinh thành này là Thăng Long Lý Thái Tổ đã gấp rút xây dựng những công trình cơ bản của Kinh thành Thăng Long Kinh thành Thăng Long được xây dựng gồm ba vòng thành: vòng ngoài cùng gọi là La thành, vòng thứ hai là Hoàng Thành, giữa hai lớp thành này là nơi sinh sống của cư dân, lớp trong cùng là Cấm thành, là nơi ở của nhà vua Ngay từ năm 1010,

Lý Thái Tổ đã khởi công xây dựng Hoàng Thành và hàng loạt cung điện ở trong Hoàng Thành Hoàng thành đắp bằng đất, phía ngoài có hào, mở 4 cửa: Tường Phù ở phía đông, mở ra phía đền Bạch Mã hiện nay, Quảng Phúc ở phía tây, mở ra phía chùa Một Cột hiện nay, Đại Hưng ở phía nam, ở khoảng gần Cửa Nam hiện nay Diệu Đức ở phía bắc nhìn ra trước sông Tô Lịch, khoảng đường Phan Đình Phùng hiện nay Phía trong Hoàng thành, Lý Thái

Tổ cho xây điện Càn Nguyên là nơi thiết triều, đằng sau là điện Long An và điện Long Thụy làm nơi nhà vua nghỉ ngơi Khu vực này được bảo vệ đặc biệt, gọi là Cấm thành Hai bên tả hữu điện Càn Nguyên là điện Tập Hiền và điện Giảng Võ Một số cung điện được xây dựng sau đó như bên trái Cấm thành mở cửa Phi Long thông với cung Nghinh Xuân, bên phải mở cửa Đan Phượng thông với cửa Uy Viễn, chính Bắc dựng điện Cao Minh Thềm các quan chầu vua gọi là Long Trì có hành lang chạy xung quanh Bên trái xây điện Nhật Quang, bên phải xây điện Nguyệt Minh, đằng sau là cung Thúy Hoa là nơi ở của các phi tần

Trang 35

Năm 1029, Lý Thái Tông xây dựng lại toàn bộ khu Cấm thành: dựng điện Thiên An làm nơi thiết triều trên nền cũ điện Càn Nguyên Hai bên tả hữu là điện Tuyên Đức và điện Thiên Phúc Phía trước điện Thiên An là sân Rồng có đặt một quả chuông lớn Hai bên tả hữu sân rồng có đặt gác chuông Phía đông, tây sân Rồng là điện Văn Minh và điện Quảng Vũ, phía trước sân rồng là là điện Phụng Tiên, trên Điện có lầu Chính Dương là nơi báo canh báo khắc Sau điện Thiên An là điện Thiên Khánh, sau điện Thiên Khánh là điện Trường Xuân, có gác Đồ Long Từ điện Thiên Khánh nối với điện Thiên An ở phía sau đều có bắc cầu gọi là cầu Phượng Hoàng [39, tr.232]

Dưới thời Lý, Trần, kinh đô Thăng Long còn được tu sửa nhiều lần, được mở rộng với nhiều cung điện, và nhiều công trình phục vụ tín ngưỡng khác như đền Quán Thánh, chùa Chân Giáo (nơi vua Lý Huệ Tông đã tu hành), nhiều vườn ngự cũng được dựng nên trong Hoàng thành Thời Trần một số cung điện được xây dựng như Cung Quan Triều là nơi vua ở, cung Thánh Từ là nơi thượng hoàng ở, Điện Diên Hồng …

+ Thăng Long dưới thời Lê - Mạc từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII

Sau khi chiến thắng giặc Minh, Lê Lợi vẫn đóng đô ở Thăng Long nhưng đổi tên là Đông Đô rồi Đông Kinh Về cơ bản Đông Đô thời Lê không khác nhiều Thăng Long đời Lý-Trần-Hồ Năm 1428 Lê Thái Tổ cho dựng Điện Kính Thiên làm nơi thiết triều, dựng điện Vạn thọ, điện Cần Chính Từ năm 1490 cho đến thế kỷ XVI kinh thành mới được tu sửa, mở rộng nhiều Năm 1490, Lê Thánh Tông cho xây lại Hoàng Thành mở rộng thêm 8 dặm nữa Trong Hoàng Thành, Lê Thánh Tông cũng cho xây thêm cung điện và lập vườn Thượng lâm để nuôi bách thú Năm 1512, Lê Tương Dực khởi công cho dựng hơn 100 nóc cung điện, làm Cửu Trùng Đài Năm 1514, cho mở rộng Hoàng Thành Dưới triều Mạc (1516 – 1527) hầu hết các cung điện, kho tàng, đền chùa cũng như phường phố của kinh thành Thăng Long bị thiêu đốt

Trang 36

tàn phá nhiều lần Trong nửa cuối thế kỷ 16, Thăng Long ngày một điêu tàn

do cuộc chiến tranh giữa nhà Mạc và nhà Lê-Trịnh Đến năm 1585 một đợt xây dựng đại quy mô được khởi động Năm 1599, Chúa Trịnh Tùng thu phục được Thăng Long và cho tu sửa Hoàng Thành Sau đó, trong khoảng 250 năm Hoàng thành không được tu sửa gì thêm

+ Thăng Long thời Lê Trung hưng- Nguyễn

Năm 1788, nhà Thanh đem 29 vạn quân sang chiếm Thăng Long theo lời mời của Lê Chiêu Thống Để trả thù họ Trịnh, Lê Chiêu Thống cho đốt hết những gì liên quan đến chúa Trịnh ở Thăng Long Kinh thành lại một lần nữa

ra tro Đầu năm 1789, sau khi đánh tan quân Thanh, Quang Trung định đô ở Phú Xuân Thăng Long chỉ còn là trung tâm, một trấn của Bắc Thành Năm

1802, Nguyễn Ánh lên ngôi Hoàng Đế, định đô ở Phú Xuân, cho đổi Thăng Long vốn nghĩa là “rồng bay lên” thành “thịnh vượng” đồng thời dần chuyển những gì còn sót lại của Hoàng Thành vào Phú Xuân để xây dưng kinh thành mới Chỉ có điện Kính Thiên và Hậu Lâu được giữ lại làm hành cung cho các vua Nguyễn mỗi khi ngự giá Bắc thành

Năm 1805, Gia Long cho phá bỏ tường của Hoàng Thành, cho xây dựng thành mới theo kiểu Vauban của Pháp Thành hình vuông mỗi cạnh chừng 1km, xung quanh có hào nước sâu Bốn bức tường thành tương ứng với bốn con phố hiện nay là: phố Phan Đình Phùng ở phía Bắc, phố Lý Nam Đế ở phía Đông, phố Trần Phú ở phía Nam, đường Hùng Vương ở phía Tây

Tường thành xây bằng gạch hộp, chân thành xây bằng đá xanh và đá ong, có 5 cửa là: cửa Đông (phía phố cửa Đông hiện nay), cửa Tây (phố Bắc Sơn hiện nay), cửa Bắc (của Bắc hiện nay), cửa Tây Nam (đoạn giao phố Chu Văn An và Nguyễn Thái Học hiện nay), cửa Đông Nam (đoạn giao phố Điện Biên Phủ và Nguyễn Thái Học hiện nay) Trên mỗi cửa có lầu canh, đường vào cửa xây vòm xuyên qua tường thành dài 23m, xung quanh tường thành là

Trang 37

một dải đất rộng 6-7m rồi đến một con hào rộng 15-16m, sâu 5m thông với sông Tô Lịch và sông Hồng Hào lúc nào cũng có nước nhưng thường chỉ cao khoảng 1m Phía ngoài các cổng thành có xây một hàng tường đắp liền trên

bờ hào gọi là Dương mã thành Các Dương mã thành đều có một cửa bên gọi

là Nhân Môn Từ ngoài thành đi vào đều phải đi qua Nhân Môn rồi mới đến cổng thành Phía trong thành được bố trí như sau: Chính giữa là điện Kính Thiên, phía đông thành là phủ của Tổng trấn Bắc thành; Phía tây là kho thóc, kho tiền, và dinh của viên quan phụ trách những kho ấy Năm 1812 dựng Cột

cờ Hà Nội ở phía nam thành

Năm 1835, vua Minh Mạng cho xén bớt thành Hà Nội chỉ còn cao chừng 5m Năm 1831, vua Minh Mạng đã cho đổi tên Thăng Long thành tỉnh

Hà Nội, đến năm 1888 tỉnh Hà Nội trở thành thành phố Thành Hà Nội bị Pháp phá đi hoàn toàn ngoại trừ cửa Bắc và Cột cờ

- Khu di tích Trung tâm Hoàng thành Thăng Long

Hoàng thành Thăng Long có diện tích khoảng 140ha, nhưng khu Trung tâm HTTL được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa thế giới có diện tích 20ha, gồm khu khảo cổ ở số 18 đường Hoàng Diệu và khu vực được giới hạn bởi 4 tuyến đường Điện Biên Phủ, Nguyễn Tri Phương, Phan Đình Phùng và Hoàng Diệu Khu di tích Trung tâm HTTL là một quần thể di tích rộng lớn, bao gồm nhiều loại hình di tích khác nhau như di tích lịch sử, di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích khảo cổ, di tích cách mạng Các di tích tiêu biểu của khu di tích bao gồm: (i) Khu khảo cổ 18 Hoàng Diệu; (ii) Điện Kính Thiên; (iii) Đoan Môn; (iv) Cột cờ Hà Nội (v) Hậu Lâu; (vi) Cửa Bắc và (vii) Nhà D67-

Di tích Cách mạng

Trang 38

Sơ đồ 1.2: Sơ đồ kiến trúc Khu di tích Trung tâm HTTL

Trang 39

Di tích Khu Trung tâm HTTL - Hà Nội là một trong 10 Di tích quốc gia đặc biệt quan trọng được Thủ tướng chính phủ xếp hạng năm 2009 Đây cũng

là di tích có vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu nhiều lĩnh vực của nhân lọai Di tích là minh chứng tiêu biểu về quá trình giao lưu văn hóa lâu dài, có nhiều ảnh hưởng văn hóa từ bên ngoài, nhiều học thuyết, tư tưởng có giá trị toàn cầu của văn minh nhân loại như Phật giáo, Nho giáo, thuyết phong thủy,

mô hình vương thành phương Đông, mô hình kiến trúc quân sự phương Tây (thành Vauban), đến từ Trung Hoa, Champa, Pháp… sự giao lưu, tiếp nhận này đã tạo nên những nét độc đáo, sáng tạo trong nghệ thuật kiến trúc và trang trí cung đình với diễn biến văn hóa đa dạng qua các thời kỳ lịch sử của một Trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của một quốc gia vùng châu thổ sông Hồng Khu Trung tâm HTTL - Hà Nội còn là minh chứng duy nhất về truyền thống văn hóa lâu đời của người Việt ở châu thổ sông Hồng trong suốt lịch sử liên tục 13 thế kỷ trước cho đến ngày nay Di sản tại di tích phản ánh một chuỗi lịch sử nối tiếp nhau liên tục trên các mặt tư tưởng, chính trị, hành chính, luật pháp, kinh tế và văn hoá trong gần một ngàn năm

Khu Trung tâm HTTL - Hà Nội là minh chứng rõ nét về một di sản có liên hệ trực tiếp với nhiều sự kiện trọng đại của lịch sử của một quốc gia dân tộc vùng Đông Nam Á trong mối quan hệ khu vực và thế giới

Trang 40

c Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch

Sơ đồ 1.3: Sơ đồ kiến trúc khu DTPCT

Ngày đăng: 31/03/2015, 14:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch (2009), Báo cáo tổng kết công tác năm 2010 và phương hướng nhiệm vụ năm 2011, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác năm 2010 và phương hướng nhiệm vụ năm 2011
Tác giả: Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch
Năm: 2009
14. Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch (2009), Báo cáo tổng kết 40 năm hoạt động của Khu di tích, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết 40 năm hoạt động của Khu di tích
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2009
15. Nguyễn Quang Lộc, Phạm Thúy Hằng (2010), Văn Miếu-Quốc Tử Giám Thăng Long-Hà Nội, Trung tâm Hoạt động VHKH VMQTG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn Miếu-Quốc Tử Giám Thăng Long-Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Quang Lộc, Phạm Thúy Hằng
Nhà XB: Trung tâm Hoạt động VHKH VMQTG
Năm: 2010
16. Từ Mạnh Lương (2003), Một số chính sách và giải pháp kinh tế - xã hội chủ yếu nhằm bảo tồn, tôn tạo và nâng cao hiệu quả khai thác di tích lịch sử - văn hoá của dân tộc giai đoạn phát triển mới của đất nước, Viện kinh tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chính sách và giải pháp kinh tế - xã hội chủ yếu nhằm bảo tồn, tôn tạo và nâng cao hiệu quả khai thác di tích lịch sử - văn hoá của dân tộc giai đoạn phát triển mới của đất nước
Tác giả: Từ Mạnh Lương
Nhà XB: Viện kinh tế
Năm: 2003
17. Lê Hồng Lý (Ch.b) Dương Văn Sáu, Đặng Hoài Thu (2010), Giáo trình quản lý di sản văn hoá với phát triển du lịch, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý di sản văn hoá với phát triển du lịch
Tác giả: Lê Hồng Lý, Dương Văn Sáu, Đặng Hoài Thu
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2010
18. Trần Văn Mậu (2001), Tổ chức phục vụ các dịch vụ du lịch. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức phục vụ các dịch vụ du lịch
Tác giả: Trần Văn Mậu
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
19. Bùi Thị Nga (1996), Những giải pháp chủ yếu để phát triển du lịch trên địa bàn Hà Nội. LATS Trường Đại học kinh tế quốc dân. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giải pháp chủ yếu để phát triển du lịch trên địa bàn Hà Nội
Tác giả: Bùi Thị Nga
Nhà XB: LATS Trường Đại học kinh tế quốc dân
Năm: 1996
20. Phùng Hữu Phú (Chủ biên) (2010), Phát huy tiềm lực tự nhiên, kinh tế, xã hội và giá trị lịch sử-văn hóa phát triển bền vững thủ đô Hà Nội đến năm 2020, NXB Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy tiềm lực tự nhiên, kinh tế, xã hội và giá trị lịch sử-văn hóa phát triển bền vững thủ đô Hà Nội đến năm 2020
Tác giả: Phùng Hữu Phú
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2010
21. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2001) Luật Di sản văn hóa, NXB Chính trị quốc gia (2010), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Di sản văn hóa
Tác giả: Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2001) Luật Di sản văn hóa, NXB Chính trị quốc gia
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia (2010)
Năm: 2010
22. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2005), Luật Du lịch, NXB Chính trị Quốc Gia (2009), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Du lịch
Tác giả: Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2005), Luật Du lịch, NXB Chính trị Quốc Gia
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc Gia (2009)
Năm: 2009
23. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2000), Pháp lệnh thủ đô Hà Nội, NXB Chính trị quốc gia (2004). Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệnh thủ đô Hà Nội
Tác giả: Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2000
24. Sở VHTT&DL Hà Nội (2009), Báo cáo kết quả công tác năm 2009 và phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả công tác năm 2009 và phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 2010
Tác giả: Sở VHTT&DL Hà Nội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2009
25. Sở VHTT&DL Hà Nội (2010), Báo cáo kết quả công tác năm 2010 và phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 2011, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả công tác năm 2010 và phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 2011
Tác giả: Sở VHTT&DL Hà Nội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2010
26. Lê Đức Thắng (1996), Quy hoạch các điểm du lịch với việc khai thác di sản kiến trúc văn hóa - lịch sử khu vực Hà Nội, LATS Trường Đại học sư phạm 1, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch các điểm du lịch với việc khai thác di sản kiến trúc văn hóa - lịch sử khu vực Hà Nội
Tác giả: Lê Đức Thắng
Năm: 1996
27. Trần Đức Thanh (2005), Nhập môn khoa học du lịch, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn khoa học du lịch
Tác giả: Trần Đức Thanh
Năm: 2005
28. Thành ủy Hà Nội (2007), Đề án phát triển du lịch Hà Nội giai đoạn 2007-2015, Số 19/ĐA-TU, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án phát triển du lịch Hà Nội giai đoạn 2007-2015
Tác giả: Thành ủy Hà Nội
Năm: 2007
29. Tổng cục Du lịch (2002), Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch trung tâm du lịch Hà Nội và phụ cận, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch trung tâm du lịch Hà Nội và phụ cận
Tác giả: Tổng cục Du lịch
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2002
30. Lưu Minh Trị (ch.b) (2010), Hà Nội danh thắng và di tích, Tập 1, NXB Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Nội danh thắng và di tích
Tác giả: Lưu Minh Trị
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2010
31. Lưu Minh Trị (ch.b) (2010), Hà Nội danh thắng và di tích, Tập 2, NXB Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Nội danh thắng và di tích
Tác giả: Lưu Minh Trị
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2010
32. Trung tâm Bảo tồn di tích Cổ Loa-Thành cổ Hà Nội (2010), Báo cáo tổng kết công tác năm 2010 và phương hướng nhiệm vụ năm 2011, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác năm 2010 và phương hướng nhiệm vụ năm 2011
Tác giả: Trung tâm Bảo tồn di tích Cổ Loa-Thành cổ Hà Nội
Năm: 2010

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng số 1.1: Bảng số lượng lượt khách tham quan Hà Nội từ 2005-2010 - Tổ chức và quản lý dịch vụ phục vụ du lịch tại các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn Hà Nội ( Nghiên cứu trường hợp  Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hoàng Thành Thăng Long
Bảng s ố 1.1: Bảng số lượng lượt khách tham quan Hà Nội từ 2005-2010 (Trang 26)
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ kiến trúc di tích VM-QTG - Tổ chức và quản lý dịch vụ phục vụ du lịch tại các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn Hà Nội ( Nghiên cứu trường hợp  Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hoàng Thành Thăng Long
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ kiến trúc di tích VM-QTG (Trang 32)
Sơ đồ 1.2: Sơ đồ kiến trúc Khu di tích Trung tâm HTTL - Tổ chức và quản lý dịch vụ phục vụ du lịch tại các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn Hà Nội ( Nghiên cứu trường hợp  Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hoàng Thành Thăng Long
Sơ đồ 1.2 Sơ đồ kiến trúc Khu di tích Trung tâm HTTL (Trang 38)
Sơ đồ 1.3: Sơ đồ kiến trúc khu DTPCT - Tổ chức và quản lý dịch vụ phục vụ du lịch tại các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn Hà Nội ( Nghiên cứu trường hợp  Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hoàng Thành Thăng Long
Sơ đồ 1.3 Sơ đồ kiến trúc khu DTPCT (Trang 40)
Sơ đồ 2.1: Mô hình quản lý di tích trên địa bàn Hà Nội - Tổ chức và quản lý dịch vụ phục vụ du lịch tại các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn Hà Nội ( Nghiên cứu trường hợp  Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hoàng Thành Thăng Long
Sơ đồ 2.1 Mô hình quản lý di tích trên địa bàn Hà Nội (Trang 48)
Bảng 2.1: Số lượt khách đến tham quan tại các di tích tiêu biểu - Tổ chức và quản lý dịch vụ phục vụ du lịch tại các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn Hà Nội ( Nghiên cứu trường hợp  Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hoàng Thành Thăng Long
Bảng 2.1 Số lượt khách đến tham quan tại các di tích tiêu biểu (Trang 79)
Sơ đồ 3.1: Mô hình Cơ cấu bộ máy tổ chức, quản lý DTLSVH - Tổ chức và quản lý dịch vụ phục vụ du lịch tại các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn Hà Nội ( Nghiên cứu trường hợp  Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hoàng Thành Thăng Long
Sơ đồ 3.1 Mô hình Cơ cấu bộ máy tổ chức, quản lý DTLSVH (Trang 95)
Phụ lục 3. Hình ảnh một số dịch vụ phục vụ du lịch tại di tích - Tổ chức và quản lý dịch vụ phục vụ du lịch tại các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn Hà Nội ( Nghiên cứu trường hợp  Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hoàng Thành Thăng Long
h ụ lục 3. Hình ảnh một số dịch vụ phục vụ du lịch tại di tích (Trang 158)
Phụ lục 4. Bảng kê số lượng DTLSVH trên địa bàn Hà Nội (đến 10/2011) - Tổ chức và quản lý dịch vụ phục vụ du lịch tại các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn Hà Nội ( Nghiên cứu trường hợp  Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hoàng Thành Thăng Long
h ụ lục 4. Bảng kê số lượng DTLSVH trên địa bàn Hà Nội (đến 10/2011) (Trang 161)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w