1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của du lịch đến đời sống văn hóa - xã hội của người Thái ở Mai Châu - Hòa Bình và các giải pháp phát triển (nghiên cứu trường hợp 4 bản Bản Lác, bản P

139 1,5K 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 4,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG NHẰM GÓP PHẦN BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA-XÃ HỘI TỐT ĐẸP TRONG CỘNG ĐỒNG NGƯỜI THÁI Ở MAI CHÂU-HÒA BÌNH .... Sự tác động của du

Trang 2

(CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO THÍ ĐIỂM)

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS ĐINH TRUNG KIÊN

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 SƠ LƯỢC VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, VĂN HOÁ-XÃ HỘI CỦA NGƯỜI THÁI Ở MAI CHÂU - HOÀ BÌNH 9

1.1 Điều kiện tự nhiên của tỉnh Hoà Bình và huyện Mai Châu 9

1.1.1.Tỉnh Hoà Bình 9

1.1.2 Huyện Mai Châu 11

1.2 Sơ lược lịch sử, văn hoá-xã hội của người Thái ở Mai Châu 14

1.2.1 Sơ lược lịch sử hình thành người Thái Việt Nam và người Thái ở Mai Châu - Hoà Bình 14

1.2.2 Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển văn hoá-xã hội của người Thái ở Mai Châu 19

1.2.3 Sơ lược lịch sử phát triển kinh tế của người Thái ở Mai Châu 20

Chương 2 HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VÀ TÁC ĐỘNG CỦA DU LỊCH ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ-XÃ HỘI CỦA NGƯỜI THÁI Ở MAI CHÂU- HOÀ BÌNH 22

2.1 Văn hoá-xã hội truyền thống của người Thái ở Mai Châu 22

2.1.1 Nhà cửa 22

2.1.2 Trang phục 24

2.1.3 Ẩm thực 27

2.1.4 Văn hóa ứng xử của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình 30

2.1.5 Phong tục 33

2.1.6 Lễ hội 36

2.1.7 Văn học, nghệ thuật 39

2.2 Sự hình thành và phát triển du lịch ở Mai Châu- Hoà Bình 42

2.2.1 Tình hình phát triển du lịch ở tỉnh Hoà Bình 42

2.2.2 Sự hình thành và phát triển du lịch ở Mai Châu-Hòa Bình 44

2.2.3 Hoạt động kinh doanh du lịch ở Mai Châu-Hòa Bình 46

Trang 4

2.3 Tác động của du lịch đến đời sống văn hoá-xã hội của người

Thái ở Mai Châu-Hoà Bình 52

2.3.1 Tác động đến xây dựng, trang trí nhà cửa 53

2.3.2 Tác động đến trang phục 69

2.3.3 Tác động đến ẩm thực 84

2.3.4 Tác động đến các mối quan hệ trong gia đình, xã hội 90

2.3.5 Tác động đến văn hóa-nghệ thuật 94

2.3.6 Tác động đến cơ cấu kinh tế, phân công lao động 101

2.3.7 Tác động đến ngôn ngữ 104

Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG NHẰM GÓP PHẦN BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA-XÃ HỘI TỐT ĐẸP TRONG CỘNG ĐỒNG NGƯỜI THÁI Ở MAI CHÂU-HÒA BÌNH 108

3.1 Hiện trạng, tiềm năng phát triển du lịch của người Thái ở Mai Châu - Hòa Bình 108

3.2 Phương hướng phát triển du lịch của người Thái ở Mai Châu - Hòa Bình 110

3.3 Mục tiêu của các giải pháp phát triển du lịch bền vững nhằm bảo tồn bản sắc văn hóa-xã hội truyền thống của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình 112

3.4 Các giải pháp phát triển du lịch bền vững, hiện đại nhằm bảo tồn bản sắc văn hóa-xã hội truyền thống 114

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 122

TÀI LIỆU THAM KHẢO 125

DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ BIỂU ĐỒ 129

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong các thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới ở nước ta, các vùng dân tộc đã có rất nhiều tiến bộ về kinh tế, văn hóa-xã hội Một trong các yếu

tố quyết định đến sự tiến bộ của kinh tế, văn hóa-xã hội ở các vùng miền núi

là sự thay đổi cơ cấu trong phát triển kinh tế Kinh tế phát triển có thể bắt nguồn từ sự thay đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, phát triển ngành nghề truyền thống, phát triển du lịch.v.v., trong đó du lịch là một trong lợi thế mà các vùng cao đã và đang khai thác triệt để Ngành du lịch đã trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng của nhiều địa phương trên miền núi: Sa Pa (Lào Cai), Mai Châu (Hòa Bình), thị xã Điện Biên (Điện Biên), Phong Nha-

Kẻ Bàng (Quảng Bình), Tháp Chàm (Ninh Thuận), Buôn Đôn, Lắc (Đắc Lắc),

Bà Đen (Tây Ninh).v.v

Du lịch phát triển, tác động đến nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có đời sống văn hóa-xã hội Đời sống văn hóa-xã hội được cải thiện, nhưng các văn hóa ngoại lai cũng sẽ tác động đến các bản, làng các vùng dân tộc Ngôn ngữ, quan hệ con người với con người trong gia đình, trong từng bản, con người với con người giữa các bản cũng có sự thay đổi Sự thay đổi đó còn ảnh hưởng đến các sản phẩm của các làng nghề truyền thống, các lễ hội, các điệu múa, trang phục, văn hóa, nghệ thuật v.v

Sự tác động của du lịch đến đời sống văn hóa-xã hội ở các địa phương là không tránh khỏi, nhưng một trong yếu tố sống còn để phát triển du lịch là phải giữ gìn được giá trị văn hóa-xã hội truyền thống tốt đẹp, các bản sắc, sắc thái văn hóa riêng Chính vì vậy, để phát triển du lịch bền vững và đạt hiệu quả cao, một trong những yêu cầu bức thiết của các nhà quản lý và kinh doanh là phải biết được các tác động của du lịch đến đời sống văn hóa-xã hội

Trang 6

của địa phương-trước mắt cũng như lâu dài, từ đó có các giải pháp phát triển

du lịch một cách bền vững và đạt hiệu quả cao

Từ các yêu cầu của thực tiễn và lý luận trên, tôi đã chọn đề tài:

Tác động của du lịch đến đời sống văn hóa-xã hội của người Thái ở Mai

Châu-Hòa Bình và các giải pháp phát triển (Nghiên cứu trường hợp 4 bản: bản Lác, bản Pom Coọng, bản Văn, bản Nhót)

Du lịch mới được phát triển mạnh ở Mai Châu-Hòa Bình hơn thập kỷ gần đây (1993-2007) nhưng đã đem lại nhiều lợi ích cho nhân dân vùng này, đặc biệt đối với dân tộc Thái-chiếm đại đa số dân số ở Mai Châu-Hòa Bình Việc thực hiện đề tài sẽ góp phần thêm vào sự hiểu biết về thực trạng phát triển du lịch ở Mai Châu-Hòa Bình, các tác động của du lịch đến đời sống văn hóa-xã hội của đồng bào Thái tại Mai Châu-Hòa Bình; từ đó đề xuất một số giải pháp để du lịch phát triển nhưng vẫn đảm bảo tính bền vững và hiệu quả cao

Về vấn đề văn hóa-xã hội của người Thái, các học giả trên thế giới cũng như trong nước quan tâm nghiên cứu từ rất lâu Các tài liệu về văn hóa-xã hội của người Thái nói chung và người Thái ở Hòa Bình nói riêng có thể tìm thấy

ở các nguồn tài liệu:

Trang 7

- Các công trình nghiên cứu, sưu tầm được biên soạn dưới góc độ văn hóa học và du lịch

- Luận án tiến sĩ và luận văn tốt nghiệp ngành Dân tộc học, ngành Du lịch, ngành Văn hóa

- Một số tạp chí thuộc các lĩnh vực khoa học xã hội và văn hóa nghệ thuật, tạp chí Dân tộc học, tạp chí Văn hóa nghệ thuật, tạp chí Văn hóa dân gian, các tạp chí ngành Du lịch…

Ngay từ năm 1964, đã có tư liệu của Lã Văn Lô tìm hiểu về chế độ xã hội vùng Tày, Nùng, Thái dưới thời Pháp thuộc Tiếp sau đó là của một số tác giả như Đặng Nghiêm Vạn (1965, 1977), Đặng Thái Hoàng-Cầm Trọng (1980), Đức Văn Hoa (1984).v.v Đặc biệt trong thập kỷ chín mươi đã có nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa-xã hội của người Thái, được tập hợp trong Chương trình Thái học Việt Nam (1998)

Về văn hóa-xã hội của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình có một công trình của nhiều tác giả: Đặng Nghiêm Vạn, Hà Trọng Sinh, Hoàng Xuân Chinh, Nguyễn Hữu Thức, Hà Sủm, Đặng Văn Tu, Nguyễn Dấn, Kha Tiến,

Lò Cao Nhum (1988) Các tác giả đã đề cập đến khá nhiều vấn đề về văn

hóa-xã hội của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu khác của Nguyễn Hữu Thước (1988), Lâm Bá Hộ (1992).v.v

Những tài liệu trên là căn cứ quan trọng để chúng tôi hoàn thành luận văn này Tuy nhiên, vấn đề tác động của du lịch đến đời sống văn hóa-xã hội của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình hầu như chưa được nghiên cứu Vì thế tác giả đã lựa chọn đề tài này để nghiên cứu Các vấn đề của luận văn như sự hình thành và phát triển du lịch ở Mai Châu-Hòa Bình, ảnh hưởng của du lịch đến đời sống văn hóa-xã hội của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình, được thu thập chủ yếu qua các đợt thực địa, tìm hiểu thực tế và các số liệu ở các bản

Trang 8

người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình, ở các cơ quan quản lý về kinh tế, du lịch,

kế hoạch và đầu tư của huyện Mai Châu và tỉnh Hòa Bình

3 Mục đích và yêu cầu của đề tài

Luận văn được thực hiện với các mục đích và yêu cầu chính sau:

- Tìm hiểu và nắm bắt được lịch sử hình thành và phát triển văn hóa-xã hội của người Thái Mai Châu-Hòa Bình trước khi du lịch phát triển;

- Tìm hiểu và nắm bắt được quá trình hình thành và phát triển du lịch ở Mai Châu-Hòa Bình nói chung và ở bản Lác, bản Pom Coọng, bản Văn, bản Nhót nói riêng Xu hướng phát triển của du lịch ở Mai Châu-Hòa Bình trong tương lai

- Tìm hiểu và nắm bắt được các ảnh hưởng của du lịch đến đời sống văn hóa-xã hội của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình Các tác động của du lịch có thể ảnh hưởng đến đời sống văn hóa-xã hội của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình trong tương lai;

- Nghiên cứu, tìm hiểu và đề xuất các giải pháp phát triển du lịch bền vững và hiệu quả ở Mai Châu-Hòa Bình mà vẫn giữ gìn được bản sắc văn hóa-xã hội truyền thống tốt đẹp của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu chính của đề tài là văn hóa-xã hội của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình trước và sau khi có du lịch phát triển, ảnh hưởng của du lịch đến đời sống văn hóa-xã hội của họ trước kia, hiện tại và trong tương lai Bên cạnh đó, đề tài còn tiến hành tìm hiểu về quan điểm phát triển du lịch, định hướng qui hoạch, đầu tư phát triển du lịch của tỉnh Hòa Bình nói chung và của Mai Châu-Hòa Bình nói riêng để dự đoán được diễn

Trang 9

thế các ảnh hưởng đó đến đời sống văn hóa-xã hội của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình, từ đó đề xuất giải pháp phát triển du lịch bền vững

Từ các kết quả nghiên cứu những vấn đề trên, đề tài sẽ phân tích, tổng hợp, đánh giá những tác động của du lịch đến đời sống văn hóa-xã hội của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình trước kia, hiện nay và diễn thế trong tương lai Từ đó, đề tài sẽ đề xuất các biện pháp phát triển du lịch nhưng vẫn đảm bảo tính bền vững và hiệu quả cao

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

Luận văn được thực hiện bằng một số phương pháp nghiên cứu khác nhau, trong đó chủ yếu là các phương pháp:

1 Phương pháp thu thập và xử lý thông tin số liệu:

Trong quá trình thu thập tài liệu chúng tôi đã tìm hiểu, sưu tầm tài liệu tại: Thư viện Quốc gia Hà Nội, Bảo tàng Dân tộc học, Khoa Du lịch-trường Đại học văn hóa Hà Nội, Khoa Du lịch-trường Đại học Khoa học và Xã hội nhân văn, Sở Thương mại-Du lịch tỉnh Hòa Bình, Ban Dân tộc tỉnh Hòa Bình, Phòng văn hóa-xã hội huyện Mai Châu-Hòa Bình

2 Phương pháp khảo sát thực địa, điều tra xã hội học:

Thu thập ở thực địa các thông tin bằng phiếu điều tra, phỏng vấn, quan sát, chụp ảnh, ghi chép Để thu thập tư liệu cho luận văn chúng tôi đã khảo sát thực địa 04 đợt, vào tháng 3, tháng 5, tháng 8, tháng 10 năm 2007 Trong 04 đợt thực địa chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn và lấy thông tin cho các phiếu điều tra tại một số hộ gia đình người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình Các phiếu điều tra đều lấy thông tin 2 chiều (thông tin trước khi có phát triển du lịch ở Mai Châu-Hòa Bình; thông tin sau khi du lịch đã phát triển ở Mai Châu-Hòa Bình) Các phiếu điều tra nhằm lấy các thông tin về:

- Ẩm thực;

Trang 10

- Trang phục;

- Cư trú, nhà cửa;

- Quan hệ xã hội;

- Lễ hội, tín ngưỡng;

- Văn học, nghệ thuật, ngôn ngữ

Bên cạnh thu thập phiếu điều tra, phỏng vấn và ghi chép, chúng tôi còn thu thập một số tư liệu khác bằng cách quan sát, chụp ảnh

Các thông tin trên được phân tích, tổng hợp, đánh giá sẽ cho ta thấy những tác động của du lịch đến đời sống văn hóa-xã hội của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình và một phần nào đó diễn thế của các tác động đó trong tương lai

Mặt khác, để có được những đề xuất cho các giải pháp phát triển du lịch bền vững ở Mai Châu-Hòa Bình, học viên đã tiến hành tìm hiểu các định hướng phát triển, qui hoạch, định hướng đầu tư trong tương lai để phát triển

du lịch của tỉnh Hòa Bình nói chung và của ở Mai Châu nói riêng tại Sở Thương mại-Du lịch tỉnh Hòa Bình (Phòng Du lịch) và Sở Kế hoạch và Đầu

tư tỉnh Hòa Bình

3 Phân tích và tổng hợp tài liệu:

Dựa trên các nguồn tài liệu hiện thu thập được về đời sống văn hóa-xã hội của người Thái, về hoạt động du lịch trên địa bàn Mai Châu-Hòa Bình, luận văn tiến hành các phân tích và tổng hợp tư liệu, từ đó rút ra các kết quả nghiên cứu cho nội dung đề tài

6 Đóng góp của luận văn

Đề tài của luận văn đòi hỏi nhiều đến các tư liệu thực tiễn và khi viết sẽ

Trang 11

trình thực hiện đề tài, học viên đã chủ động học hỏi nhiều ở thầy cô và bạn bè-kết quả của luận văn là một phần thành quả sự giúp đỡ nhiệt tình, trách nhiệm cao của thầy hướng dẫn, cố PGS.TS Đinh Trung Kiên và đặc biệt là của PGS.TS Nguyễn Phạm Hùng Cũng bởi vậy, luận văn có tính lý luận và thực tiễn cao

Luận văn còn là một kết quả nghiên cứu trong chuyên ngành mà người thực hiện đứng trên quan điểm của cả một người nghiên cứu và một người quản lý, bảo tồn văn hóa-xã hội để nhìn nhận, nghiên cứu, đánh giá mối quan

hệ biện chứng giữa phát triển du lịch và việc bảo tồn, phát triển văn hóa-xã hội của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình

7 Bố cục luận văn

Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 3 chương chính:

Chương 1 Sơ lược về điều kiện tự nhiên, văn hóa-xã hội của người Thái ở

Mai Châu-Hòa Bình; 13 trang; gồm 2 phần:

1.1 Điều kiện tự nhiên của tỉnh Hòa Bình và huyện Mai Châu;

1.2 Sơ lược lịch sử văn hóa-xã hội của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình tỉnh Hòa Bình

Chương 2 Hoạt động du lịch và tác động của du lịch đến đời sống văn

hóa-xã hội người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình; 95 trang, gồm 3 phần: 2.1 Văn hóa-xã hội truyền thống của người Thái ở Mai Châu-Hòa

Bình tỉnh Hòa Bình;

2.2 Sự hình thành và phát triển du lịch ở Mai Châu-Hòa Bình;

2.3 Tác động của du lịch đến đời sống văn hóa-xã hội của người Thái

ở Mai Châu-Hòa Bình

Trang 12

Chương 3 Một số giải pháp phát triển du lịch bền vững nhằm góp phần bảo

tồn và phát triển các giá trị văn hóa-xã hội tốt đẹp trong cộng đồng người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình; 7 trang; gồm 3 phần:

3.1 Hiện trạng, tiềm năng phát triển du lịch của người Thái ở Mai

Châu-Hòa Bình;

3.2 Phương hướng phát triển du lịch của người Thái ở Mai Châu-Hòa

Bình;

3.3 Mục tiêu của các giải pháp phát triển du lịch bền vững nhằm bảo

tồn bản sắc văn hóa-xã hội truyền thống của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình

3.4 Các giải pháp phát triển du lịch bền vững, hiện đại mà vẫn bảo tồn

được bản sắc văn hoá-xã hội truyền thống

Trang 13

CHƯƠNG 1

SƠ LƯỢC ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, VĂN HÓA-XÃ HỘI

CỦA NGƯỜI THÁI Ở MAI CHÂU-HÒA BÌNH

1.1 Điều kiện tự nhiên của tỉnh Hòa Bình và huyện Mai Châu-Hòa Bình

1.1.1 Tỉnh Hòa Bình

Hòa Bình là một tỉnh miền núi, có tọa độ địa lý: phía bắc 21019’, phía nam 20020’, phía đông 20017’, phía tây 20039’, kinh tuyến đông 104040’, kinh tuyến tây 104048’; phía bắc giáp tỉnh Vĩnh Phúc và tỉnh Hà Tây, phía nam giáp tỉnh Ninh Bình và tỉnh Thanh Hóa, phía đông giáp tỉnh Hà Tây và tỉnh

Hà Nam, phía tây giáp tỉnh Sơn La Hòa Bình là cửa ngõ của tây bắc, cách thủ

đô Hà Nội 72 km về phía tây-theo đường quốc lộ số 6

Hòa Bình có địa hình núi cao, chia cắt phức tạp theo hướng tây bắc-đông nam, phân chia thành 2 vùng: vùng núi cao nằm ở phía tây bắc có độ cao trung bình 600-700 m, địa hình hiểm trở, diện tích 212.740 ha, chiếm 44,8% diện tích từng toàn tỉnh, cao nhất là huyện Đà Bắc-độ cao trung bình 660 m; vùng núi thấp ở phía đông nam, diện tích 262.202 ha, chiếm 55,2% diện tích toàn tỉnh, địa hình gồm các dãy núi thấp, chia cắt, độ dốc trung bình 200

-250,

độ cao trung bình 100-200 m, thấp nhất là thị xã Hòa Bình-độ cao trung bình

20 m Toàn tỉnh có 11 đỉnh núi cao trên 1.000 m so với mực nước biển (từ 1.011 mét đến 1.373 mét)

Diện tích tự nhiên của tỉnh Hòa Bình là 4.662.5km2

Hòa Bình có 1 thị xã

và 9 huyện: Đà Bắc, Mai Châu-Hòa Bình, Kỳ Sơn, Cao Phong, Lương Sơn, Kim Bôi, Tân Lạc, Lạc Sơn, Lạc Thuỷ, Yên Thuỷ Dân số tỉnh Hòa Bình 810.130 người (theo số liệu của năm 2005) Hòa Bình có 7 dân tộc sinh sống, trong đó có 6 dân tộc chủ yếu là: dân tộc Mường-dân số đông nhất, chiếm

Trang 14

60,3%, tập trung nhiều ở huyện Lạc Sơn (90,2% dân số của huyện), Tân Lạc (84%), các huyện lỵ khác, thị xã đều có người Mường; dân tộc Kinh-dân số đứng thứ hai, chiếm 31%, tập trung đông nhất ở thị xã Hòa Bình (81% dân số thị xã), huyện lạc Thuỷ (68,2% dân số của huyện), các huyện và thị tứ đều có dân tộc Kinh; người Thái-dân số đứng thứ ba, chiếm 4% dân số toàn tỉnh, tập trung ở huyện Mai Châu-Hòa Bình (60,2% dân số của huyện), dân tộc Tày-dân số đứng thứ hai, chiếm 2,6%, sống chủ yếu ở huyện Đà Bắc, dân tộc Dao-dân số đứng thứ năm, chiếm 1,5%, chủ yếu ở huyện Đà Bắc, Kim Bôi, ngoài

ra rải rác ở các huyện Kỳ Sơn, Luơng Sơn, Mai Châu, thị xã Hoà Bình Dân tộc H’Mông, có khoảng trên ba ngàn người, sống ở hai xã Hang Kia, Pà Cò thuộc huyện Mai Châu-Hòa Bình, giáp tỉnh Sơn La

Sáu dân tộc chính, tương ứng với sáu kiểu nhà ở, sáu kiểu làng bản, sáu loại y phục, sáu ngôn ngữ, sáu nền văn hóa dân gian, sáu hệ thống lễ hội, sáu nền văn hóa ẩm thực Các điệu múa ví Mường, hát khắp tua người Thái, hội xòe, ngủ nhà sàn, hàng thổ cẩm.v.v thực sự thu hút khách du lịch

Địa hình đồi núi trùng điệp, các động Thác Bờ, Hang Rết, động Hoa Tiên, vùng rừng nhiệt đới nguyên sinh Pù Noọc mở ra những tuyến du lịch mạo hiểm, kỳ thú, độc đáo như: leo núi, săn bắn, đi bộ, du lịch cảnh quan, du lịch sinh thái

Sức người, thiên nhiên và hồ thuỷ điện Hòa Bình tạo nên một hồ sông Đà thơ mộng, tạo nên một khu du lịch lòng hồ và ven hồ, với những vịnh, đảo, bán đảo, các lưu vật về quá trình xây dựng thuỷ điện, tượng đài Bác Hồ

Hòa Bình còn nổi tiếng ở các bãi tắm trên sông, nước khoáng Kim Bôi, những bài thuốc dân tộc nổi tiếng từ xa xưa

Hòa Bình có 173.000 ha đất rừng, chiếm 37% diện tích, đất nông nghiệp trên 65.000 ha, chiếm 14%, còn trên 170.000 ha chưa được khai thác Diện

Trang 15

tích rừng của Hòa Bình còn khá nhiều, độ che phủ rừng trên 41%, tương đương 194.308 ha, trong đó rừng tự nhiên là 146.477 ha

Về khoáng sản có một số khoáng sản, nhưng nhiều nhất là đá, nước khoáng, đất sét Nước khoáng tập trung chủ yếu ở huyện Kim Bôi và Lạc Sơn

Về kinh tế, Hòa Bình với địa thế tiếp giáp sông Hồng và rất gần thủ đô

Hà Nội, có điều kiện tự nhiên tài nguyên khoáng sản, văn hóa đa dạng và phong phú, đã tạo cho tỉnh nhiều lợi thế về phát triển kinh tế các ngành: công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng; công nghiệp chế biến nông thổ sản; công nghiệp chế biến điện tử, may mặc, giày da; và đặc biệt là phát triển du lịch Hòa Bình có cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, văn hóa, lịch sử đa dạng và phong phú, do vậy có thể phát triển du lịch với nhiều hình thức: du lịch văn hóa (hiện nay nổi tiếng là khu bản Lác ở Mai Châu-Hòa Bình); du lịch sinh thái; nghỉ ngơi và nghỉ dưỡng; du lịch mạo hiểm; thể thao leo núi.v.v

Là cửa ngõ tây bắc của thủ đô Hà Nội, Hòa Bình còn là nơi có thể phát triển nhiều loại hình du lịch như tổ chức hội thảo, hội nghị, nghỉ cuối tuần, kết nối các tour, các tuyến du lịch với các tỉnh lân cận và miền Bắc

1.1.2 Huyện Mai Châu-Hòa Bình

Huyện Mai Châu-Hòa Bình nằm ở phía tây bắc tỉnh Hòa Bình, có tọa độ địa lý 20o24’-20o45’ vĩ bắc và 104o31’-105o16’ kinh đông, phía bắc giáp huyện Mộc Châu (Sơn La), phía nam giáp huyện Quan Hóa (Thanh Hóa), phía đông giáp hai huyện Tân Lạc, Đà Bắc Mai Châu-Hòa Bình là cửa ngõ của tây bắc, núi đồi trùng điệp Địa hình núi, độ dốc lớn, chia cắt mạnh, có 1 đỉnh núi cao hơn 1000 m, núi Pai Linh cao 1.287 mét Sát nách Mai Châu-Hòa Bình là dòng sông Mã, sông Đà chạy dọc theo địa giới bắc Mai Châu-Hòa Bình cũng chỉ cách Lào 40 km, về phía tây Quốc lộ sáu chạy qua địa bàn

Trang 16

của huyện, qua các xã Tòng Đậu, Đồng Bảng, Tân Sơn Đi theo quốc lộ 6, qua thị xã Hòa Bình, qua dốc Cun là tới Mai Châu-Hòa Bình, Mai Châu-Hòa Bình cách Hà Nội khoảng 130 km Diện tích tự nhiên của Mai Châu-Hòa Bình là 518,6 km2, trong đó đất nông nghiệp 5.033,24 ha (chiếm 9,7%); diện tích đất lâm nghiệp 35.505,15 ha (chiếm 68,46%), phần còn lại 21,80% là núi

đá, sông, suối, đất chuyên dùng, đất chưa sử dụng

Địa hình Mai Châu-Hòa Bình khá phức tạp, bị chia cắt nhiều bởi hệ thống khe, suối và núi cao Theo địa hình, có thể chia thành hai vùng rõ rệt:

- Vùng thấp phân bố dọc theo suối Xia, suối Mùn và quốc lộ 15, diện tích gần 2.000 ha, địa hình tương đối bằng phẳng, đất đai màu mỡ

- Vùng cao giống như một vành đai bao quanh huyện, chiếm tới 400 km2, địa hình núi cao hiểm trở Độ dốc trung bình 30 đến 35o Nhìn tổng thể, địa hình Mai Châu-Hòa Bình thấp dần theo chiều từ tây bắc xuống đông nam Khí hậu của Mai Châu-Hòa Bình chịu ảnh hưởng của chế độ gió mùa tây bắc, chia thành hai mùa: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng

11 đến tháng tư năm sau, độ ẩm trung bình trong năm 82% Trong mùa mưa chịu ảnh hưởng nhiều của gió lốc và gió Lào, gió nam luôn bổ sung độ ẩm và cường độ gió khá mạnh Trong mùa khô độ ẩm thấp, biên độ trong ngày cao,

có ngày gió rét, sương muối hoặc mưa phùn giá rét

Mai Châu-Hòa Bình có hệ thống sông suối khá dày đặc Ngoài sông Đà, sông Mã, còn có 4 con suối lớn: suối Xia (40 km), suối Mùn (25 km), suối Bãi Sang (10 km), suối Cò Nào (14 km) Tuy nhiên, do địa hình có độ dốc lớn nên khả năng trữ nước của hệ thống sông, suối ở Mai Châu-Hòa Bình kém Vào mùa khô, một số xã trong huyện thường thiếu nước trầm trọng như Noong Luông, Thung Khe

Trang 17

Mai Châu-Hòa Bình có nguồn tài nguyên rừng khá phong phú, chủ yếu

là rừng tự nhiên với nhiều loài cây nhiệt đới Tuy nhiên, do quá trình khai thác rừng không có kế hoạch, thiếu quản lý tốt kéo dài nên nguồn tài nguyên rừng bị cạn kiệt nhanh chóng Quá trình phá rừng làm nương rẫy đã phá huỷ nhiều diện tích rừng, làm suy kiệt hệ động thực vật của thiên nhiên

Mai Châu-Hòa Bình được thiên nhiên ưu đãi với nói non hùng vĩ, nhiều thảm rừng xanh đẹp Mai Châu-Hòa Bình còn nổi tiếng với những di tích, danh lam nổi tiếng, thu hút nhiều khách du lịch như: hang Khoài, hang Láng, các làng người Thái (bản Lác, Pom Coọng, bản Bước), người H’Mông (xóm Hang Kia) Hang Khoài thuộc xã Xăm Khòe, là một di tích khảo cổ học, đã được Bộ Văn hóa-Thông tin cấp bằng công nhận năm 1996 Hang Láng nằm

ở núi Chua Luông, thuộc Bản Lác, xã Chiềng Châu, được phát hiện và khai quật năm 1976

Mai Châu gồm 1 thị trấn (Mai Châu là trung tâm của kinh tế, hành chính của huyện) và 21 xã, đó là các xã: Cun Pheo, Piềng Vế, Bao La, Xăm Khoè, Mai Hịch, Vạn Mai, Mai Hạ, Chiềng Châu, Nà Phòn, Nà Mèo, Tòng Đậu, Đồng Bảng, Phúc Sạn, Tân Sơn, Tân Mai, Ba Khan, Thung Khe, Noong Luông, Pù Bin, Hang Kia, Pà Cò Có 8 xã thuộc vùng khó khăn của Mai Châu-Hòa Bình (trong tổng số 60 xã khó khăn của tỉnh Hòa Bình): Noong Luông, Pù Bin, Cun Pheo, Tân Mai, Phúc Sạn, Pà Cò, Hang Kia, Ba Khan Dân số khoảng 48.570 người, gồm 7 dân tộc, trong đó chủ yếu là người Thái, Mường, Kinh Như vậy, trong tỉnh Hòa Bình, Mai Châu-Hòa Bình là huyện có diện tích lớn thứ tư của tỉnh (sau huyện Đà Bắc, huyện Kim Bôi, huyện Lạc Sơn; chiếm 11,1% diện tích toàn tỉnh) nhưng dân số lại là huyện

có dân số thấp nhất trong tỉnh Hòa Bình ( 6,2% dân số toàn tỉnh) Mật độ dân

số của Mai Châu-Hòa Bình cũng thuộc các huyện thấp nhất của tỉnh Hòa Bình (93 người/km2; chỉ hơn huyện Đà Bắc-59 người/km2)

Trang 18

1.2 Sơ lược lịch sử văn hóa-xã hội của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình

1.2.1 Sơ lược lịch sử hình thành của người Thái Việt Nam và người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình

Từ "Người Thái” (Quăm Tay) là để chỉ tộc danh Thái, nằm trong cộng đồng ngôn ngữ dòng Nam Á Người Thái trên thế giới có diện phân bố khá rộng: Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Thái Lan, Miến Điện

Tộc Thái ở Việt Nam hiện nay có khoảng 1,3 triệu người, tập trung chủ yếu ở các tỉnh vùng Tây Bắc, Nghệ An, Thanh Hóa, một bộ phận nhỏ sống ở Yên Bái, Lào Cai Ngoài ra, còn có một số rất ít người Thái đã di cư tự do vào một số tỉnh Tây Nguyên-giống như một bộ phận nhỏ của người H’Mông, người Tày vùng Đông Bắc Tộc Thái có hai ngành khởi đầu:

+ Ngành Thái đen (Tay đăm): cư trú chủ yếu ở các huyện của tỉnh Sơn

La, một phần ở Yên Bái (Văn Chấn), Điện Biên (Điện Biên, Tuần Giáo), tây nam Lào Cai Trong ngành Thái đen, có một nhóm gần gũi với văn hóa Lào,

đó là người Thái ở Nghệ An, Thanh Hóa

+ Ngành Thái trắng (Tay khao) tập trung ở Mường Lay, Mường Xo (Lai Châu), Quỳnh Nhai (Sơn La) Một bộ phận khác tự xưng là ngành Thái trắng nhưng có rất nhiều nét giống Thái đen, cư trú tại Phù Yên, Mộc Châu (Sơn La)

Thực ra sự phân chia giữa các ngành của tộc Thái chủ yếu chỉ ở trang phục và một số điểm nhỏ trong ngôn ngữ, tập quán Các tộc Thái giống nhau

cơ bản về ngôn ngữ, chữ viết, phong tục, tập quán Người Thái đều ăn cơm nếp, ở nhà sàn, đều có tục ở rể, tính tình chân tình, hào hiệp và mến khách Hình thái kinh tế của các tộc Thái cũng giống nhau, là nền kinh tế sản xuất

Trang 19

Nhiều nhà nghiên cứu dân tộc học và sử học Việt Nam (Trần Quốc Vượng, Cầm Trọng, Đặng Nghiêm Vạn, Nguyễn Văn Huy.v.v.) đã cho rằng các ngành Thái ở Việt Nam đều chung một gốc với các nhóm Thái ở Nam Trung Hoa, Lào, Thái Lan, Miến Điện

Tổ tiên người Thái bắt nguồn từ các nhóm Bách Việt, trong khối ngôn ngữ tiền Thái, sinh tụ ở Quảng Tây, Quảng Đông (đông nam Trung Quốc) Ngay ở thời kỳ này họ đã tiếp thu được sự thuần dưỡng cây lúa của tổ tiên người Tạng-Miến, thông qua tổ tiên người Môn-Khơ me Cũng do sự phát triển cây lúa nước, nên người Thái và một số dân tộc ở vùng này dần dần đã biết làm thuỷ lợi, cây lúa trở thành cây lương thực chính

Trong thiên niên kỷ thứ nhất trước công nguyên, do sức ép bành chướng thế lực thống trị của người Hán, một bộ phận tổ tiên người Thái cổ đã di cư nhiều đợt theo hướng tây nam, hướng nam vào tỉnh Vân Nam và miền tây Đông Dương-dọc theo các con sông lớn và các chi nhánh của chúng ở vùng Đông Nam Á Cùng thời điểm đó, một số cuộc thiên di của nhiều nhóm tổ tiên cư dân thuộc ngôn ngữ Tạng-Miến từ Trung Á, tây Trung Quốc cũng tràn xuống khu vực này

Vào những thế kỷ đầu của thiên kỷ thứ nhất sau công nguyên, người Thái

đã lập được một loạt tiểu vương quốc, dọc thượng lưu sông Mê Công, miền thượng Lào, tây bắc Việt Nam Các tiểu vương quốc này nối liền các cộng đồng của họ ở các miền Quỳ Châu, Quảng Tây, Quảng Đông, đông bắc Việt Nam Vào các thế kỷ đầu sau công nguyên, một bộ phận Thái ở đầu nguồn sông Đà, sông Nậm Na (thuộc Vân Nam-Trung Quốc) đã di cư xuống phía nam và cư trú tại một số địa điểm tại huyện Phong Thổ (Lai Châu) và Quỳnh Nhai (Sơn La) Cũng từ đây, trong nền văn hóa tộc Thái ở Việt Nam mới ghi được nhiều thông tin về lịch sử hình thành, tồn tại và phát triển của một số bản, mường người Thái ở nước ta

Trang 20

Đến các thế kỷ cuối của thiên niên kỷ thứ nhất và các thế kỷ của thiên niên kỷ thứ hai sau công nguyên, các nhóm tộc Thái ở Vân Nam lớn mạnh bắt đầu tràn xuống phía nam Ngành Thái trắng di cư và xuất hiện xuống phía nam sớm hơn ngành Thái đen Sau khi đánh chiếm, bình ổn vùng thượng lưu sông Đà (Lai Châu), người Thái trắng đã tràn xuống vùng Quỳnh Nhai (Sơn La), Mường Tè, Phong Thổ (Lai Châu), Phù Yên (Sơn La), một số bộ phận di

cư xuống Đà Bắc, Mai Châu-Hòa Bình (Hòa Bình), Mường Khoòng (Thanh Hóa)

Ngành Thái đen vào Việt Nam đông đảo nhất vào khoảng thế kỷ XI-XII Đến thế kỷ thứ XI, hai anh em Tạo Xuông-Tạo Ngần đã đưa ngành Thái đen (Tay đăm) xuất phát từ Vân Nam (Trung Quốc) dọc theo sông Hồng xuống Mường Lò (Lai Châu) Đây chính tổ tiên của người Thái đen ở Sơn La sau này Ngành Thái đen tập trung nhiều ở tỉnh Sơn La (hầu như ở tất cả các huyện trong tỉnh), một phần ở tỉnh Yên Bái, Điện Biên (thị xã Điện Biên, Tuần Giáo) và tây nam tỉnh Lào Cai

Qua nhiều thế kỷ phát triển, các nhóm tộc Thái dần dần có một số sắc thái địa phương khác nhau, đó là kết quả chủ yếu của quá trình hỗn huyết và tiếp thu văn hóa của các cư dân xunh quanh Một bộ phận chung sống với người Mường-chịu ảnh hưởng của văn hóa Mường, sống với người Tày-ảnh hưởng của người Tày; một số nhóm gốc tộc Thái hỗn huyết với nhau, hỗn huyết với các tộc khác.v.v

* * *

* *

Mai Châu-Hòa Bình trước kia còn được gọi là Mường Mùn, Mường Mai, được hình thành vào khoảng thế kỷ XIII Thời nhà Trần, Mường Mai thuộc lộ Đà Giang, trấn Gia Hưng, thuộc trấn Hưng Hóa Dưới thời nhà

Trang 21

Nguyễn, Mai Châu-Hòa Bình gồm tổng Thanh Mai và Bạch Mai Trong thời Pháp thuộc, Mai Châu-Hòa Bình thuộc phủ Chợ Bờ, tỉnh Hòa Bình Đến tháng 10 năm 1890, Mai Châu-Hòa Bình được hợp nhất với châu Đà Bắc, thành châu Mai Đà Sau một thời gian tồn tại, châu Mai Đà lại tách thành hai, đến năm 1941 lại được hợp nhất thành châu Mai Đà Năm 1956, Mai Châu-Hòa Bình và Đà Bắc được tách thành hai huyện từ huyện Mai Đà Mai Châu-Hòa Bình trở thành huyện của tỉnh Hà Sơn Bình (1976-1991) khi sát nhập ba tỉnh: Hòa Bình, Sơn Tây, Hà Đông Từ tháng 10 năm 1991 lại trở về địa danh của tỉnh Hoà Bình cho đến nay

Người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình có lai lịch khá rõ ràng nhờ các ghi chép trong một cuốn biên niên sử tìm thấy không lâu, nhờ công sưu tầm của

Sở văn hóa tỉnh Hòa Bình Tổ tiên người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình từ miền đầu sông Hồng, ở một vùng đất thuộc huyện Bắc Hà (Lai Châu) ngày nay đã

di cư dọc sông Hồng, rẽ sang sông Đà, rồi lập nghiệp ở vùng Mộc Châu (Sơn La), Mai Châu (Hòa Bình), Mường Khoòng (Thanh Hóa), khoảng 700 năm trước đây-tức vào khoảng đầu thế kỷ thứ XIV

Người lãnh đạo người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình lập nghiệp tại Mường Mùn là lang Bôn Lang Bôn là con cả của tạo Khà, nhưng là con vợ hai, nên khi lấy vợ được chia rất ít đất Vì lẽ đó, ông đã đưa gia quyến từ vùng Bắc Hà (Lai Châu) bỏ xuống vùng Bạch Hạc Ở Bạch Hạc ít lâu, thấy không thuận tiện, ông đã xuôi dòng sông Đà và đã lập cư tại Mai Châu-Hòa Bình

Nguồn gốc của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình có liên quan đến nhóm người Thái ở Mộc Châu và nhóm người Thái ở Mường Lầu, Mường Khoòng (Thanh Hóa) Sự liên quan đó đã được ghi lại thành truyền thuyết Truyền thuyết nói về 3 anh em nhà tạo (tạo thường chỉ con trai dòng dõi quí tộc của người Thái) ở vùng Bắc Hà (Lai Châu) vì thiếu đất và đất nhiều cỏ gianh nên

đã rủ nhau xuôi sông Hồng tìm đất lập mường mới Theo truyền thuyết, người

Trang 22

con thứ hai đã lập nghiệp ở Mai Châu-Hòa Bình, người con út ở vùng Thanh Hóa, người anh cả ở vùng Mộc Châu Chính vì vậy người Thái vùng Thanh Hóa gọi người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình là bác, người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình gọi họ là chú vì chúa đất xưa là em út

Người Thái đến Mường Mùn khai khẩn đất đai vất vả, kéo dài hàng chục đời người Lịch sử người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình đã ghi rõ:

Tới Bản Tẩu, lang Bôn thấy dấu vết người xưa ở đây, đã cho dân dừng lại tạo bản mới Khi đến bản Pướt được 2 năm thì Lang Bôn chết Về sau con của lang Bôn (cũng tên lang Bôn) đã cùng dân khai phá bản Pheo, bản Uống, bản Pao, bản Làu, bản Lồm…

Con của lang Bôn là lang Bắt mở mang bản Nghẹ, bản Củm, bản Lóng, bản Buốc, bản Noong Lang, bản Ngoã, bản Hiền

Lang Thượng (con lang Bắt) lập ra bản Uống

Lang Uôn (con lang Thượng) lập bản Bước, sinh ra lang Thanh

Tạo Kha Bằng (cháu nội lang Thanh) lập bản Púng, bản Pheo Nà Nóc Tạo Kha Bằng lấy nàng Ngăm, sinh ra lang Xôm Lang Xôm lấy vợ người Mường Khiển, sinh được 3 con trai Ba con trai của lang Xôm đã ra sức khai khẩn, kể cả vùng đất khó làm Tạo Khằm Bông (anh cả) ở vùng đất Mường Hạ, tạo Khằm Piềng ở vùng Mường Thượng, tạo Khằm Pành (con út)

ở vùng Mường Khoòng

Như vậy, lịch sử người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình đã trải qua khoảng 6 thế kỷ, trong đó kể từ thời lang Bôn đến thời 3 anh em con tạo Kha Bằng đã trải qua 9 đời chúa đất, với thời gian khoảng 200 năm mới cơ bản khai phá xong ruộng đồng của tổ tiên để tồn tại, sinh sống, phát triển đến ngày nay Người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình mang nhiều họ khác nhau, nhưng phổ biến nhất là họ Hà, sau đó là họ Lò, họ Hoàng, họ Ngần… Trong họ Hà, tộc

Trang 23

1.2.2 Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển văn hóa-xã hội của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình

Cũng như người Thái ở các vùng khác, người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình quần cư thành các bản, với số nóc nhà khoảng 30-100 gia đình Bản thường ở thung lũng nhỏ, trung bình, phẳng hoặc hình lòng chảo, có sông, suối chảy qua, đảm bảo nguồn nước cho sinh hoạt và một phần cho tưới tiêu trong nông nghiệp Vị trí của các bản được lựa chọn, tính toán tương đối kỹ, sao cho thuận tiện về nguồn nước, nhưng đảm bảo không bị ngập lụt khi mưa

to hay có lũ quét.v.v

Trong một bản, tuỳ thuộc vào số nóc nhà, lịch sử phát triển mà có thể

có ít hoặc nhiều dòng họ khác nhau, nhưng khởi thuỷ thường rất ít dòng họ Sau một thời gian phát triển, số dòng họ trong bản tăng lên nhưng không nhiều

Cũng như người Thái ở các vùng khác, người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình có chữ viết và tiếng nói riêng của mình-tiếng Thái, chữ Thái Tiếng Thái thuộc hệ ngôn ngữ Tày-Thái, là hệ ngôn ngữ phổ biến tương đối rộng rãi ở vùng Đông Nam Á Ở nước ta có 8 dân tộc có ngôn ngữ thuộc hệ Tày-Thái: Tày, Nùng, Sán Chay, Bố Y, Thái, Lự, Lào, Giấy Chữ viết thuộc hệ chữ tượng hình

Về ngôn ngữ, trước kia do nhu cầu giao dịch, giao lưu ít, vì người Thái chiếm tỉ lệ dân số rất lớn trong huyện nên họ hầu như không sử dụng ngôn ngữ nào khác ngoài tiếng Thái, chỉ có một số rất ít người biết tiếng Mường, hoặc tiếng Việt Về sau, do sự phát triển kinh tế, văn hóa-xã hội số người biết

và sử dụng tiếng Việt ngày càng tăng

Trang 24

Nền văn hóa của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình cũng như nền văn hóa của tộc Thái trên toàn quốc là mô hình văn hóa thung lũng, lấy cây lúa nước làm trụ cột, do đó cũng có thể gọi là văn hóa lúa nước Văn hóa thung lũng chính là sự hội nhập giữa văn hóa củ, bầu bí-cạn và văn hóa lúa-nước, có hai nguồn gốc đến với người nguyên thuỷ hoàn toàn khác nhau

Người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình cũng tập trung sống thành các bản, một số bản tập trung thành một mường, mường thường là tập trung một số bản nằm trên một vành đai thung lũng Trung tâm của các mường thường gọi

là chiềng, là nơi màu mỡ, trù phú nhất mường, vị trí địa lý thuận tiện (có thể

đi lại, tiếp xúc dễ dàng với xung quanh, gần sông suối, ruộng vườn) Có thể nói chiềng là nơi cư trú lý tưởng, do vậy thường là nơi ở của các dòng họ quí tộc, là nơi đóng đô của bộ máy thống trị của mường

Trong bản, mường trước kia đều có bộ máy thống trị, với quan điểm tất

cả đất đai, nương rẫy là của vua, của tạo Tạo là người đứng đầu bản, mường Còn quan châu (an nha) lại phân quyền, ban cấp các sản vật thiên nhiên cho các mường, các bản

1.2.3 Sơ lược lịch sử phát triển kinh tế của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình

Đời sống kinh tế của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình trước kia cũng như của người Thái ở vùng khác thường gắn liền với trồng trọt, săn bắt và hái lượm, việc dệt vải, may vá đều tự cung, tự chế Kinh tế mang nặng tính tự cung, tự cấp

Trước kia người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình chỉ trồng lúa nếp, cấy một

vụ trong năm, ngoài ra còn trồng một ít lúa tẻ trên nương rẫy Ngày nay, do sức ép dân số, do thay đổi trong thói quen ẩm thực và cũng do học được cách

Trang 25

trồng lúa tẻ là chính Với sự tăng vụ, năng suất lúa tẻ lại cao hơn rất nhiều so với lúa nếp, nên nhiều bản người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình về cơ bản đã đảm bảo được an toàn lương thực

Phương thức làm nương rẫy của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình là phá rừng, đốn cây, đốt cây, lấy đất, gieo trồng một vụ bằng cách chọc lỗ, tra hạt, luân canh, bỏ hóa trong vòng khép kín Trên nương, người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình trồng phổ biến nhất là cây ngô, sau đó là lúa nương, sắn, bông, cây thuốc phiện, cây chàm v.v Tuy vậy, diện tích nương rẫy của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình không lớn như của một số người Thái ở vùng khác Ngày nay, trên nương rẫy, bên cạnh các cây ngắn ngày, họ còn trồng một số cây lưu niên như cây hoa quả (cam, quýt, nhãn…), cây cảnh

Cũng do tính chất của một một nền kinh tế nhỏ, mang nặng tính tự cung,

tự cấp nên các gia đình người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình đều chăn nuôi theo qui mô nhỏ, chú trọng nhiều đến gia cầm, gia súc và một vài loại đại gia súc (chủ yếu cho lấy sức kéo) Mặt khác, các nghề phụ cũng đều do các thành viên trong gia đình đảm nhiệm, thường thì đàn ông đan nát, đánh chài, đi săn bắt, đi làm rẫy xa, đàn bà thì dệt vải, thêu thùa, nấu ăn

Phải khẳng định rằng, cuộc sống trước kia của người Thái ở Mai Hòa Bình phụ thuộc khá nhiều vào thiên nhiên, đó là cuộc sống liên quan trực tiếp rất nhiều các sản phẩm từ núi rừng, sông, suối Mặt khác, do kinh tế mang nặng tính tự cung tự cấp, ít giao tiếp, xa xôi về địa lý nên thiệt thòi về thông tin, càng làm cho họ có đời sống kinh tế, văn hóa-xã hội tương đối bảo thủ và phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên

Châu-Cũng do nền kinh tế sản xuất nhỏ, mang nhiều tính tự cung, tự cấp, do đó người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình ít chợ búa-việc trao đổi hàng hóa bị hạn chế, thường theo phương thức hàng đổi hàng Ngày nay, theo sự phát triển đi

Trang 26

lên của xã hội, người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình đã giảm dần tính tự cung, tự cấp trong đời sống kinh tế và văn hóa-xã hội

Trang 27

CHƯƠNG 2 HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VÀ TÁC ĐỘNG CỦA DU LỊCH

ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA-XÃ HỘI CỦA NGƯỜI THÁI

Ở MAI CHÂU-HÒA BÌNH 2.1 Văn hóa-xã hội truyền thống của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình

2.1.1 Nhà cửa

Người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình thường chọn nơi có địa thế đẹp, thuận tiện cho cuộc sống, quần cư thành bản, mường Nhà sàn thường được dựng ven thung lũng, nhìn ra cánh đồng hoặc sông, suối Ngôi nhà lý tưởng của họ

là “Vườn rau chân cầu thang, ao cá trước nhà, máng nước giội giữa sàn” Nhà sàn được dựng lên giữa vườn Vườn nhà của người Thái thường nghèo nàn về cây cối, không có qui hoạch cụ thể, đặc biệt là hầu như không bao giờ có cây cảnh Điều này là do thói quen lâu đời, mặt khác gia súc và gia cầm của tất cả các gia đình trong bản đều nuôi thả rông, do vậy việc qui hoạch, trồng vườn gặp nhiều khó khăn

Nhà sàn người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình có dáng dấp nhà sàn vùng Hoàng Liên Sơn, Lai Châu hơn là nhà sàn người Thái vùng Sơn La Nhà sàn người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình vẫn giữ được nét truyền thống, thoáng mát, hợp với cảnh thung lũng của vùng nhiệt đới

Nhà sàn người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình là kiểu nhà sàn bốn mái gồm hai mái chính và hai mái phụ ở hai đầu hồi vuông góc Mái nhà hiện nay đã được nâng cao, không hạ thấp che quá nửa tường vách như xưa Hai đầu hồi

là hai thang gỗ để lên sàn nhà, các thang gỗ có số bậc thang lẻ

Cột thường là cột tròn, gỗ tốt, không mọt, được chọn rất kỹ, qua nhiều năm mới đủ cột để làm nhà Mái thường lợp bằng cỏ tranh, sàn là cây tre mai

Trang 28

(mạy mai) được lột phẳng cả cây, ghép cây nọ nối cây kia, giàn trải trên cùng một mặt phẳng

Một điều đặc biệt của nhà sàn người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình cũng như của người Thái các vùng khác là dựng nhà họ chỉ dùng rìu để đẽo, chặt, làm các mộng-không dùng các loại chàng, đục của thợ mộc; sử dụng các móc gỗ-không hề sử dụng đinh, vít Tuy chỉ có vậy, nhưng nhà dựng nên rất chắc chắn-gió, lốc lớn cũng không bị sập nhà bao giờ (chỉ đôi khi bị tốc mái) Bước lên nhà sàn người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình sẽ thấy một không gian thoáng, mát, sáng sủa và rộng rãi Tầm nhìn không bị chắn bởi các vách ngăn nhà hoặc các hàng cột giữa bởi vì người Thái rất ít dùng vách ngăn trên sàn, không dùng cột giữa vì các xà ngang là gỗ to, tốt đủ sức đỡ mái nhà đồ

sộ

Bố cục trong nhà của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình phản ánh một trật tự xã hội mang tính phụ quyền thời xa xưa, đề cao người chủ gia đình cũng như đàn ông trong nhà, đồng thời cũng thể hiện tính hợp lý cao độ của một nền nông nghiệp trồng lúa Bố cục trong nhà không phụ thuộc vào số gian của nhà mà phụ thuộc vào qui định chặt chẽ theo luật lệ

Trong nhà thường chia thành hai phía: phía trên và phía dưới Phía trên là nơi để bàn thờ, nơi ở của các bậc cao niên, thường là ở phía cửa vào nhà, phụ

nữ ít được qua lại Phía dưới là nơi để các thứ vặt hàng ngày, nơi con cháu ở, phụ nữ có thể qua lại

Trong nhà cũng rất ít đồ đạc, không giường, không tủ, không bàn ghế Khách đến thường trải chiếu ngồi hoặc ngồi trên ghế mây

Trang 29

2.1.2 Trang phục

Trang phục thường là một trong những nét văn hóa đặc trưng cho từng dân tộc Người Thái có nền văn hóa hàng ngàn năm, có nền kinh tế mang nặng tính tự cung tự cấp, là một trong các dân tộc thiểu số đông nhất, do vậy

đã giúp họ giữ được nhiều nét đặc trưng trong trang phục

Người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình có các kỹ thuật rất độc đáo trong việc chế tạo màu để nhuộm, dệt, pha màu cho vải, sợi Các kỹ thuật đó gắn liền với các sản phẩm của thiên nhiên như màu đỏ từ cây tô mộc (mạy cô pha), màu vàng từ củ nghệ, màu đen từ cây chàm (mạy hoán), phối hợp màu cây tô mộc và cây chàm tạo màu xanh Họ còn giỏi về cả nghề cơ khí, kim hoàn, giỏi về nghệ thuật trang trí Tất cả các đồ trang sức đeo trên người từ vòng cổ, vòng tay, hoa tai, trâm cài đầu, xà tích, cúc áo đều do họ tự chế tác Trang phục của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình được phân biệt theo lứa tuổi, giới tính, trước kia còn phân biệt theo địa vị xã hội nhưng ngày nay không còn nữa Trang phục còn được chia ra trang phục ngày thường, trang phục ngày lễ

2.1.2.1.Trang phục nữ

Bộ trang phục của phụ nữ gồm: áo ngắn (xửa cóm), áo dài (xửa chái và xửa luống), váy (xỉn), khăn (khăn), nón (cúp), xà cạp (pe păn khạ) xà tích (xai xói), hoa tai (tòng liu), vòng tay (poọc khen) bằng bạc (hoặc đồng)

Áo ngắn (xửa cóm) là một trong nét khác biệt của người Thái, áo may bó

sát người, chỉ dài đến cạp váy, làm tôn các đường nét đẹp của người phụ nữ Vào ngày thường, phụ nữ Thái Mai Châu-Hòa Bình chỉ dùng áo ngắn màu chàm tết nút khuy vải Khi đi chơi đêm, hội hè họ thường mặc xửa cóm có màu đẹp, đính khuy bạc hình bướm, nhện hay hoa ở ngực áo

Trang 30

Phụ nữ người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình còn có hai loại áo dài: Xửa chải-loại áo dài kiểu 5 thân, cài cúc bên trái cổ, chỉ phụ nữ có chồng mới mặc

và chỉ mặc khi ở nhà chồng vào lúc hội hè, cưới xin

Váy (xỉn) của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình là loại váy ống (khâu

thành hình ống), váy trơn không có trang trí Khi mặc váy thường cuốn chặt thắt lưng Do mặc váy, nên người phụ nữ luôn thể hiện nét tinh tế trong cách ngồi và đi lại

Thắt lƣng (xai eo) thường bằng tơ tằm hoặc sợi bông màu xanh, tím

cẩm, giữ cho cạp váy quấn chặt eo Thường phụ nữ trẻ chọn thắt lưng màu xanh, người đứng tuổi chọn màu tím

Khăn (piêu) của phụ nữ Thái ở Mai Châu-Hòa Bình trước kia là không

thể thiếu được, nó như là chiếc nón của người Kinh Tuy vậy, người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình đã không sử dụng khăn piêu từ rất lâu vì do ảnh hưởng của văn hóa của người Mường Khăn piêu đã được thay thế bằng khăn quấn đầu màu trắng như người Mường cách đây vài thế kỷ Cùng với khăn, các loại trâm cài đầu cũng được đặc biệt chú ý

Người phụ nữ Thái rất chú ý đến mái tóc Mái tóc phụ nữ Thái dài, dày

và óng mượt, được cài trâm bạc để thõng tạo nên sự mềm mại Mái tóc, váy ngang đầu gối, áo ngắn bó sát người, tính tình nhẹ nhàng, ít nói, đi đứng khoan thai đã tạo cho người phụ nữ Thái luôn luôn có một sự dịu dàng, duyên dáng riêng biệt, nổi bật trong khung cảnh núi rừng, làng bản hùng vĩ và lên thơ-kể cả lúc họ đi làm hay trong ngày lễ hội

Bên cạnh các trang phục chủ yếu trên, người phụ nữ Thái Mai Châu-Hòa Bình còn sử dụng khá nhiều đồ trang sức bằng bạc, trong đó quan trọng nhất vòng tay, xà tích

Trang 31

Vào ngày lễ hội, người phụ nữ bao giờ cũng mặc đẹp nhất: khăn trắng,

áo ngắn trắng, váy đen ánh mịn đính cạp rồng, cạp phượng, thắt giải lưng màu xanh, cổ tay đeo 2-3 đôi vòng bạc, chùm dây xà tích bạc uốn lượn bên hông Các em bé gái cũng mặc áo cóm nhưng nhỏ hơn, màu sắc giản dị hơn, đeo vòng cổ, vòng tay, khuyên tai, mùa đông đội mũ vải theo hình đầu Phụ

nữ về già, thường ăn mặc giản dị hơn nhiều Phụ nữ có tuổi rất chịu khó trong việc dạy giỗ con cháu trong việc nội trợ, dệt vải, may vá, thêu thùa, cách ăn mặc, cư xử, đi đứng…

2.1.2.2 Trang phục nam giới

Trang phục của nam giới đơn giản, ít màu sắc, không diêm dúa như trang phục của phụ nữ và trẻ em Trang phục nam gồm: áo, quần, thắt lưng, khăn

Áo gồm hai loại: áo cánh ngắn và áo cánh dài Áo nam giới màu chàm,

nút khuy ở nách trái, thân dài chấm mông, tay áo nhỏ, 2 túi vạt trước, cổ đứng, tròn, cao khoảng 2 cm, nút áo bằng đồng hoặc vải

Quần dài, ống rộng, cạp quần hơi loe, khi mặc gấp lại một bên, thắt lưng

bằng sợi gai có khuy nút để giữ cho chắc Quần thường nhuộm màu xanh chàm hoặc màu nâu Khi có việc đi xa, hoặc dự lễ hội, nam giới thường thắt thêm giải lưng xanh (hoặc đỏ) nịt gọn áo, đầu có tua của dây để đằng trước Vào các dịp cưới xin, lễ hội, nam giới còn mặc áo dài may bằng chàm kiểu 5 thân (vì tà), có thân trong trắng Khi mặc áo này, bao giờ cũng có áo trong, màu trắng, áo dài ở ngoài màu chàm, để lộ cổ áo trắng bên trong tỏ vẻ trang trọng, kiểu cách

Nam giới thường sử dụng 2 loại khăn: khăn dài-quấn quanh đầu, giống khăn xếp, dùng trong ngày lễ, hội; khăn trọc ngắn-dùng trong lao động, quấn hình chữ V, ngược quanh đầu

Trang 32

Với các em trai nhỏ, trang phục thường là vải dệt carô, hoặc sọc đứng nét nhỏ, màu nâu đen, đen trắng Mùa đông, đội mũ trùm đầu, mũ gồm nhiều mảnh vải, màu sắc khác nhau, ghép lại thành mũ Đàn ông cao niên thường mặc áo dài, thắt dải lưng chàm hoặc tơ vàng, răng nhuộm đen

2.1.3 Ẩm thực

Người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình trước kia đời sống chủ yếu dựa vào trồng lúa nước, săn bắt, nuôi trồng và hái lượm Cũng chính vì vậy trong ẩm thực cũng phản ánh đúng thực trạng trên Các sản vật từ săn bắn và hái lượm đóng vai trò khá quan trọng trong bữa ăn hàng ngày: rau, củ, quả, măng, cá, tôm, ốc, chim, thú, nhuyễn thể dưới nước và trên cạn

2.1.3.1 Các món ăn từ lúa gạo và lương thực khác

Người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình cũng như các tộc Thái ở các vùng khác sử dụng gạo nếp là chính Gạo nếp được ngâm qua một đêm, vo sạch và

đồ bằng chõ đồ Sau khi xôi đồ chín, quạt nguội, đánh tơi, cho vào ép khẩu (đan bằng tre) hoặc quả bầu khô Người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình còn chế biến bánh tét, bánh gio, xôi màu, khẩu hang, khẩu lam (cơm lam)

Khẩu lam (cơm lam) là món được nhiều người ưa thích, được nấu bằng

thứ gạo nếp ngon nhất; gạo được cho vào ống tre (tre gai, ống vừa phải, không già và cũng không non, đốt tre không dài quá và cũng không ngắn quá), sau đó nướng bằng lửa Đây là món ăn không thể thiếu được trong các tết, lễ hội, đón khách quí

2.1.3.2 Các món ăn từ rau

Rau quả được chế biến thành các món ăn độc lập hoặc nấu với các nguồn thực phẩm khác như cá, thịt Rau đồ là món ăn thường ngày của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình, được đồ bằng hày Măng là loại rau rừng quan trọng của

Trang 33

người Thái, đặc biệt măng bương được họ ngâm chua, có thể sử dụng trong cả năm

Các chất béo có nguồn gốc từ thực vật cũng được dùng phổ biến và lâu đời Vừng, lạc, đậu tương, đậu xanh được người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình

sử dụng, chế biến thành các món ăn thường ngày Tương của người Thái khác với tương của người Kinh về cách chế biến và mùi vị

Người Thái sử dụng nhiều hoa quả thay cho gia vị hàng ngày: me, muỗm, sung, chuối xanh Họ ưa thích vị chua, ngọt, đắng, cay

2.1.3.3 Các món ăn chế biến từ thuỷ sản

Cá, các thuỷ sản khác là nguồn thực phẩm quan trọng của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình, vì trước kia, trong thiên nhiên nguồn thức phẩm này khá dồi dào Các món thuỷ sản được chế biến rất nhiều món, đa dạng, phong phú nhưng gần gũi nhất với họ là món cá (pa) nướng Cá nướng có nhiều loại, được chế biến khác nhau: pa pỉnh, pa pỉnh tộp, pa chí, pa óm, pa xổm.v.v Người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình cũng rất thích ăn cá gỏi (pa cỏi)

Người Thái Mai Châu-Hòa Bình còn chế biến nhiều loại cá lên men thành cá mắm (gọi là mẳm) Có 2 loại mẳm: mẳm đí: làm từ cá nhỏ, tép; mẳm pa: làm từ cá to Mẳm có thể để hàng năm, dùng ăn sống, chế biến các món khác

Pa xổm (cá chua) là món ăn được người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình

khá ưa chuộng, thường được làm từ cá to, cách thức làm giống mắm cá nhưng không cho nhiều ớt mà cho nhiều thính, một ít rượu để gây men cá Cá chua dùng được lâu ngày, ăn sống hoặc qua chế biến

2.1.3.4 Các món ăn chế biến từ thịt

Thịt được chế biến tương đối giống các món từ cá Ngoài thịt nướng, hong khói còn chế biến thành lạp xúc, nậm pịa, nhựa mịn, năng xốm, …

Trang 34

Nậm pịa (nước hỗn hợp phèo) là món ăn độc đáo, chế biến từ phần ruột

non tiếp giáp ruột già của các động vật nhai lại (trâu, bò, dê, hoẵng, nhím) Nậm pịa là món không thể thiếu được trong các ngày lễ hội lớn, đón khách quí

Nhựa mịn (thịt mủn): thịt để một thời gian cho thớ thịt có mùi nặng,

sau đó cắt nhỏ cho vào ống, bỏ gia vị, đốt cho thịt chín, dùng đũa chọc thành món canh nhuyễn, dùng ăn với xôi

Năng xốm (da chua) được chế biến như món nem chua của người

Kinh

Người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình thích sử dụng tiết sống và chín Khi cắt tiết trâu, bò người ta thường uống tiết sống bằng cách cho ống nứa đầu vót nhọn vào dòng tiết đang chảy hứng lấy máu và uống trực tiếp luôn Tiết hãm còn được dùng đánh tiết canh, luộc để ăn chín

2.1.3.5 Gia vị và khẩu vị

Người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình thường sử dụng các gia vị đặc biệt mạnh như cay, chua, đắng Họ ưa dùng tỏi, ớt, hành, nghệ, xả, gừng, riềng, rau thơm Họ thường xuyên sử dụng ớt trong các món ăn, ớt tươi, ớt nướng ròn và giã nhỏ cho vào thức ăn

Gia vị chua được dùng phổ biến hàng ngày, đặc biệt được dùng chế biến một số thực phẩm để lâu ngày như dưa, măng, cá, thịt Nhiều loại quả, lá chua được sử dụng thường xuyên làm món ăn hoặc làm gia vị Vị đắng cũng

là vị được ưa chuộng Đặc biệt người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình ưa dùng bột gạo để nấu canh tạo độ sền sệt Bột gạo vừa tạo độ ngọt và làm thức ăn sánh, tạo món ăn thích hợp với sử dụng đồ nếp

2.1.3.6 Đồ uống

Trang 35

Người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình cũng như đa số các dân tộc khác ít dùng đồ uống kết hợp với ăn hàng ngày, đồ uống thường chỉ dùng vào ngày

lễ, tết và tiếp khách Rượu có 2 loại, rượu cất và rượu cần

Rƣợu cần (lẩu xá) là loại rượu đặc biệt chỉ làm bằng gạo, ngô và lá

men rừng, được lên men kín trong các vại, chôn kín ít nhất 30 ngày Rượu cần thường được uống vào ngày lễ, đón khách quí, mọi người đều uống như nhau

và uống bằng cần trúc

Rƣợu cất của người Thái được cất chủ yếu từ gạo, sắn và men lá rừng

Có hai loại rượu cất: lẩu chôn và lẩu xơ

Lẩu xơ là rượu nặng, thường làm bằng gạo nương Mèo (giống lúa của người H’Mông) và men lá Họ chưng cất rượu, lấy rất ít, do vậy rượu rất nặng, uống ít nhưng đã say

Lẩu chôn là rượu nhẹ, thường làm bằng sắn, gạo, chưng cất lấy nhiều, rượu nhẹ, uống nhiều cũng khó say

2.1.3.7 Cơ cấu bữa ăn

Người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình thường ăn 3 bữa/ngày; bữa chính là bữa chiều Bữa phụ ăn đơn giản thường là xôi, bữa chính ngoài xôi, có thức

ăn như cá, thịt, rau, cơm tẻ, đồ uống Cơm xôi chiếm tỉ lệ lớn trong cơ cấu bữa ăn, thường chiếm 80-90% Trong ngày lễ thì số lượng và khối lượng thức

ăn tăng lên nhiều và luôn kèm đồ uống

Người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình thường ăn bốc, không chan canh vào cơm nếp Việc sắp xếp bày bàn, trang trí các món ăn cũng như trong bữa ăn rất đơn giản, không cầu kỳ

2.1.4 Văn hóa ứng xử của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình

2.1.4.1 Bố mẹ và con cái

Trang 36

Người Thái trước kia trong một gia đình thường nhiều thế hệ với rất nhiều thành viên nhưng luôn luôn sống hòa thuận, rất ít khi xảy ra va chạm hay xích mích Bố mẹ và con cái trong gia đình người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình ít khi to tiếng với nhau

Trong gia đình, bố mẹ coi con dâu, con rể như là con ruột Nhà không

có con trai, bố mẹ cưới rể về ở Chàng rể có bổn phận chăm sóc bố mẹ vợ như

bố mẹ mình Con dâu khi về nhà chồng vẫn có quyền đi lại gia đình mình và ở lại đó một thời gian dài Họ cũng không phân biệt con đẻ, con nuôi, con vợ lẽ, con vợ cả, con chung, con riêng-chỉ có phân biệt con trai và con gái, con trưởng và con thứ Khi chia của cải, người con trưởng thường được hơn Con gái tuy không được chia phần nhưng luôn được bố mẹ gây dựng vốn khi cưới chàng rể về nhà

Hôn nhân của con cái thường được cha mẹ tôn trọng Trai gái có quyền

đi lại thăm hỏi nhau, sau đó mới báo bố mẹ cũng được

2.1.4.2 Vợ chồng

Người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình có tục ở rể từ một đến ba năm Qui định này đã phần nào đó hạn chế quyền lực của chế độ phụ quyền, tạo cho cuộc sống vợ chồng bình đẳng hơn và có trách nhiệm hơn

Trong gia đình, sự lấn át của người chồng có thể hiện nhưng không mạnh, khi làm gì vợ-chồng thường bàn bạc với nhau Khách đến nhà chồng tiếp chuyện, vợ lo phục vụ Người chồng thường lo việc nặng hơn như cày, bừa, chài lưới, kiếm gỗ, dựng nhà Người vợ lo nội trợ, chăm sóc con, nương rẫy, cấy hái, dệt vải, chăn nuôi

Mặc dù khi là thanh niên, quan hệ yêu đương của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình tương đối mở, nhưng khi đã là vợ chồng thì lại có những luật

Trang 37

lệ rất khắt khe về trách nhiệm giữa người vợ-người chồng, đặc biệt là khi ốm đau

2.1.4.4 Quan hệ gia đình và khách

Người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình đặc biệt mến khách, khách đến chơi thăm hoặc nhờ vả đều được đón tiếp trọng thị, trong đó quí nhất là khách bên nhà vợ Khách đến nhà, bà chủ vận quần áo đẹp ra đón khách, trải chiếu đẹp cho khách và chồng ngồi trò truyện Khi có khách quí đến nhà-gia đình bắt gà chíp làm thịt sáo măng đãi khách, khách đại quí-thịt gà đang ấp đãi khách Họ quan niệm gà con đang lớn, gà mái đang ấp mà thịt đãi khách thì có nghĩa không còn tiếc khách điều gì nữa

Trước lúc ăn cơm, bao giờ cũng có chậu nước sạch, khăn mặt sạch để dành cho khách sử dụng Trong khi ăn cơm, khách và chủ không nói chuyện khích bác, mà thường nói chuyện vui, vợ và con gái người chủ thường xuyên tiếp nước, phục dịch khách

Trang 38

nghe rõ Trên thực tế, rất ít khi xảy ra xung đột lớn trong bản, sự xung đột này thường chỉ xảy ra giữa các bản với nhau Trong một bản, tính cộng đồng rất cao, có việc, vui, buồn cả bản đều giúp đỡ hoặc chia sẻ, kể cả không cùng dòng họ Điều này thể hiện rất rõ khi một gia đình làm nhà, rất nhiều người trong bản đến giúp-mặc dù làm nhà kéo dài hàng mấy tháng liền Ngày dựng nhà cả bản đến giúp, các phất tranh lợp mái được nhiều người trong bản mang góp tặng

Trong việc tang lễ, ma chay họ lại càng thể hiện rõ tính cộng đồng Khi trong bản có người già mất, không ai bảo ai, cả bản kéo đến, mỗi người một tay, cắt cử lo toan công việc Đặc biệt, dù không là họ hàng nhưng người trong bản đến lễ tang đều tự giác quấn khăn tang lên đầu

Người Thái lên án gay gắt những người lười biếng, trộm cắp Đặc biệt đối với việc trộm cắp có hình phạt rất nghiêm khắc Chính vì vậy, người Thái

có thể để lúa chín trên ruộng, nương, làm kho lúa ở ngoài đồng mà không lo

bị mất trộm Họ sống với nhau bằng lòng trung thực, căm ghét sự dối trá.Trong quan hệ trai gái, người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình khá mở khi còn yêu đương, nhưng họ không chấp nhận việc loạn luân hay ngoại tình Đây

là điều xã hội lên án gay gắt nhất và bị xử phạt nặng nhất

Trong xã hội cổ truyền của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình, mẫu người lý tưởng không phải là người trong đạo Khổng-không phải là người lắm tiền nhiều của, mà là người biết lo việc chung của bản, mường, sẵn sàng

xả thân giúp đỡ người khác

2.1.5 Phong tục

2.1.5.1 Tục lệ cưới xin

Người Thái theo chế độ một vợ-một chồng, rất hiếm trường hợp đa thê,

Trang 39

Do không bị ảnh hưởng của Nho giáo, nên thanh niên nam nữ có rất nhiều điều kiện để tìm hiểu nhau Thanh nam có thể tự do đến nhà thanh nữ tìm hiểu, trò chuyện thâu đêm tại trên nhà hoặc dưới sàn nhà của người thanh

nữ

Thủ tục cưới xin qua khá nhiều nghi lễ, sau đó chàng rể mới đón cô dâu

về nhà mình Ở nhà trai 3 ngày, chàng rể đưa cô dâu về nhà mẹ vợ; mang theo

lễ gà, rượu Nhà gái tổ chức bữa cơm đón rể, làm lễ nhập phòng cho phép vợ chồng chung chăn gối Người chồng ở rể từ 1-3 năm, nếu nhà vợ khó khăn có thể phải ở lâu hơn Tục lệ cưới xin của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình có

xu hướng tôn trọng vai trò của người phụ nữ

2.1.5.2 Tục lệ trong sinh nở

Người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình quan niệm sinh con là niềm vui của cả gia đình và là sự ban thưởng của trời đất, tạo hóa Chính vì vậy, sự ra đời của những đứa trẻ luôn là niềm mong ước và hạnh phúc gia đình

Cũng do quan niệm trên nên khi người phụ nữ mang thai và sau khi đẻ được chú ý và chăm sóc khá chu đáo Khi mang thai phụ nữ không phải làm việc nặng, thường chỉ làm việc nội trợ ở nhà Khi người phụ nữ trở dạ, được chuyển gần bếp lửa và sinh nở tại đó Bếp lửa xua tan giá rét, sưởi ấm cả mẹ

và con Trong vòng 6 tháng ròng sau khi sinh, người mẹ và đứa trẻ được ở gần bếp lửa, người mẹ được kiêng cữ rất kỹ

Một điều đặc biệt, người Thái có rất nhiều các bài thuốc dân gian để dưỡng thai, tăng sữa, thậm chí có cả các bài thuốc tránh thai trong một thời gian nhất định, khi nào không muốn tránh mà cần sinh nở thì vẫn sinh nở được Ngày nay các bài thuốc này vẫn được một số người Thái sử dụng

2.1.5.3 Tang lễ

Tang lễ của người Thái ở Mai Châu-Hòa Bình thực hiện qua 8 bước:

Trang 40

- Lễ tắm xác: Khi người chết vừa tắt thở, con cháu vuốt mắt, tắm rửa

bằng nước ấm, thơm, sau đó lau người, mặc đồ, trang điểm Bộ đồ niệm thường là trang phục ngày hội, may theo lối cổ Đồ trang sức cũng có thể đeo cho người chết, thường là đồ bằng bạc, rất kiêng chôn theo người chết các đồ bằng sắt, đồng

- Lễ niệm: Người chết được đặt trên chiếc đệm rộng 0,3-0,4 m, dài

1,8-2,0 m Dưới đệm là chiếu cói nhỏ, viền đỏ xung quanh Người nhà dùng chỉ buộc hai ngón tay cái, hai ngón chân cái vào nhau, dùng một miếng vải vuông buộc lấy cằm để tránh miệng há ra khi xác cứng dần lại Khi niệm xong, con cháu đặt một mâm cúng thịt gà, bát xôi, đôi đũa Lúc đó tang chủ mới đánh một hồi chiêng, chính thức báo cho dân làng biết về việc tang lễ

- Lễ nhập quan: Quan tài làm bằng gỗ tốt hình tròn, khoét theo lòng

thuyền, mép quan tài lắp mộng kín Trước khi nhập xác, người ta bỏ tro bếp, bông lau vào lòng quan tài, sau đó là lớp phên tre cứng, ngăn giữa tro và xác người

- Lễ tạ ơn cha mẹ: Thường con cháu giết một con lợn để cúng Thày mo

được mời đến, thay lời con cháu nói lên công lao nuôi nấng dạy dỗ của cha

mẹ, cầu mong cha mẹ che chở cho con cháu khỏi ốm đau, nghèo khó, làm ăn phát đạt…

- Lễ chính: Tang chủ giết lợn to làm lễ chính cúng bố mẹ, các con gái ra

ở riêng mỗi người góp một con lợn nhỏ hơn Họ, hàng, dân bản tuỳ gần xa, khả năng, tình cảm của mình mà giúp tiền, gạo, rượu, thực phẩm.v.v

- Lễ đưa tang: Quan tài được khiêng tay từ trên nhà sàn xuống sân, đặt

lên gác nghỉ để con cháu ngồi xổm khóc dưới quan tài Sau đó, dân làng mỗi giúp khiêng quan tài, thắp 4 ngọn nến ở bốn góc, chụp nhà xe bằng vải màu

Ngày đăng: 31/03/2015, 14:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Hoàng Lương, Hoa văn mặt phà (Thái) phong cách riêng trong kho vốn chung, Tạp chí Dân tộc học, Số 2, 1984 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoa văn mặt phà (Thái) phong cách riêng trong kho vốn chung
13. Hoàng Lương, Hoa văn Thái, NXB Dân tộc học, Hà Nội, 1988 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoa văn Thái
Nhà XB: NXB Dân tộc học
14. Hoàng Nam-Lê Ngọc Thắng, Nhà sàn Thái, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1984 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà sàn Thái
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
15. Juan Ovejero, Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch quy mô nhỏ - Cơ hội giúp xoá đói giảm nghèo, Tạp chí Du lịch Việt Nam, tháng 8 năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch quy mô nhỏ - Cơ hội giúp xoá đói giảm nghèo
16. Lã Văn Lôi, Bước đầu nghiên cứu về chế độ xã hội vùng Tày, Nùng, Thái dưới thời kỳ Pháp thuộc, Nghiên cứu lịch sử, 1964 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu nghiên cứu về chế độ xã hội vùng Tày, Nùng, Thái dưới thời kỳ Pháp thuộc
17. Lã Văn Lôi, Tìm hiểu về tôn giáo, tín ngưỡng ở vùng Tày-Nùng-Thái, Nghiên cứu lịch sử, Số 75, 1965 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu về tôn giáo, tín ngưỡng ở vùng Tày-Nùng-Thái
18. Lâm Bá Nam, Mối quan hệ Thái-Mường (lịch sử và hiện đại), Kỷ yếu Hội thảo Thái học lần thứ nhất, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ Thái-Mường
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
19. Lê Hải Đường, Xoá đói giảm nghèo ở các tỉnh miền núi phía bắc, vấn đề và giải pháp, Kỷ yếu hội thảo xoá đói giảm nghèo-vấn đề và giải pháp ở vùng dân tộc thiểu số phía bắc Việt Nam, Nhà xuất bản nông nghiệp, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xoá đói giảm nghèo ở các tỉnh miền núi phía bắc, vấn đề và giải pháp, Kỷ yếu hội thảo xoá đói giảm nghèo-vấn đề và giải pháp ở vùng dân tộc thiểu số phía bắc Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp
20. Lê Ngọc Thắng, Nghệ thuật trang phục Thái, Nhà xuất bản văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật trang phục Thái
Nhà XB: Nhà xuất bản văn hóa dân tộc
21. Lê Sỹ Giáo, Về bản chất và ý nghĩa tên gọi Thái trắng, Thái đen ở Việt Nam, Tạp chí Dân tộc học, số 2, 1988 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về bản chất và ý nghĩa tên gọi Thái trắng, Thái đen ở Việt Nam
22. Nguyễn Đình Hoè, Phát triển du lịch bền vững, Nxb Đại học Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển du lịch bền vững
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
24. Nguyễn Hữu Thức, Vài ảnh hưởng qua lại giữa văn hoá Thái (Mai Châu) và văn hoá Mường ở tỉnh Hoà Bình, (Chương trình Thái học Việt Nam:Văn hoá và lịch sử người Thái ở Việt Nam), Nhà xuất bản văn hoá dân tộc, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài ảnh hưởng qua lại giữa văn hoá Thái (Mai Châu) và văn hoá Mường ở tỉnh Hoà Bình
Nhà XB: Nhà xuất bản văn hoá dân tộc
27. Trần Nam Sơn, Lê Hải Anh, Những qui định về chính sách dân tộc, Nhà xuất bản lao động, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những qui định về chính sách dân tộc
Nhà XB: Nhà xuất bản lao động
28. Uỷ ban nhân dân huyện Mai Châu, Tình hình phát triển kinh tế-xã hội của huyện năm 2006, Báo cáo nội bộ, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình phát triển kinh tế-xã hội của huyện năm 2006
29. Uỷ ban nhân huyện Mai Châu, Tình hình phát triển thương mại-du lịch của huyện giai đoạn 2002-2006, Báo cáo nội bộ, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình phát triển thương mại-du lịch của huyện giai đoạn 2002-2006
30. Uỷ ban nhân dân tỉnh Hòa Bình, Tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng-an ninh năm 2006 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2007, Báo cáo của UBND tỉnh Hòa Bình với Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng-an ninh năm 2006 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2007
31. Uỷ ban nhân dân tỉnh Hòa Bình, Tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng-an ninh năm 2006 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2007, Báo cáo của UBND tỉnh Hòa Bình với Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Hoàng Tuấn Anh, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng-an ninh năm 2006 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2007
32. Uỷ ban nhân dân tỉnh Hòa Bình, Báo cáo công tác thương mại du lịch năm 2006 và phương hướng nhiệm vụ năm 2007, Báo cáo của Sở Thương mại- Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác thương mại du lịch năm 2006 và phương hướng nhiệm vụ năm 2007
26. Tập bản đồ hành chính Việt Nam, Nhà xuất bản bản đồ Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Số lƣợng, thành phần du khách đến Mai Châu-Hòa Bình - Tác động của du lịch đến đời sống văn hóa - xã hội của người Thái ở Mai Châu - Hòa Bình và các giải pháp phát triển (nghiên cứu trường hợp 4 bản  Bản Lác, bản P
Bảng 2.1. Số lƣợng, thành phần du khách đến Mai Châu-Hòa Bình (Trang 54)
Bảng 2.2. Một số tƣ liệu thống kê về nhà cửa của 4 bản - Tác động của du lịch đến đời sống văn hóa - xã hội của người Thái ở Mai Châu - Hòa Bình và các giải pháp phát triển (nghiên cứu trường hợp 4 bản  Bản Lác, bản P
Bảng 2.2. Một số tƣ liệu thống kê về nhà cửa của 4 bản (Trang 60)
Bảng 2.3. Kết quả điều tra ảnh hưởng của du lịch đến trang phục ở nam giới  Câu hỏi - Tác động của du lịch đến đời sống văn hóa - xã hội của người Thái ở Mai Châu - Hòa Bình và các giải pháp phát triển (nghiên cứu trường hợp 4 bản  Bản Lác, bản P
Bảng 2.3. Kết quả điều tra ảnh hưởng của du lịch đến trang phục ở nam giới Câu hỏi (Trang 79)
Bảng 2.4. Kết quả điều tra ảnh hưởng của du lịch đến trang phục phụ nữ - Tác động của du lịch đến đời sống văn hóa - xã hội của người Thái ở Mai Châu - Hòa Bình và các giải pháp phát triển (nghiên cứu trường hợp 4 bản  Bản Lác, bản P
Bảng 2.4. Kết quả điều tra ảnh hưởng của du lịch đến trang phục phụ nữ (Trang 80)
Bảng 2.5. Kết quả điều tra ảnh hưởng của du lịch đến ẩm thực - Tác động của du lịch đến đời sống văn hóa - xã hội của người Thái ở Mai Châu - Hòa Bình và các giải pháp phát triển (nghiên cứu trường hợp 4 bản  Bản Lác, bản P
Bảng 2.5. Kết quả điều tra ảnh hưởng của du lịch đến ẩm thực (Trang 96)
Bảng 2.6. Kết quả điều tra tác động của du lịch đến quan hệ gia đình, xã hội - Tác động của du lịch đến đời sống văn hóa - xã hội của người Thái ở Mai Châu - Hòa Bình và các giải pháp phát triển (nghiên cứu trường hợp 4 bản  Bản Lác, bản P
Bảng 2.6. Kết quả điều tra tác động của du lịch đến quan hệ gia đình, xã hội (Trang 101)
Bảng 2.9. Kết quả điều tra một số tác động của du lịch đến ngôn ngữ - Tác động của du lịch đến đời sống văn hóa - xã hội của người Thái ở Mai Châu - Hòa Bình và các giải pháp phát triển (nghiên cứu trường hợp 4 bản  Bản Lác, bản P
Bảng 2.9. Kết quả điều tra một số tác động của du lịch đến ngôn ngữ (Trang 116)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm