Trong kết luận của báo cáo tổng quan có một số nhận định như sau: - Nghị định về dân chủ cơ sở là một khuôn khổ pháp lý mới để hỗ trợ và tăng cường sự tham gia trực tiếp của người dân và
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Ở XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN HIỆN NAY
(Nghiên cứu trường hợp phường Phú Lương - quận Hà Đông
và xã Hoàng Diệu-huyện Chương Mỹ-Thành phố Hà Nội)
LUẬN VĂN THẠC SỸ XÃ HỘI HỌC
1
Hà Nội, 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN ĐÌNH TỨ
DƯ LUẬN XÃ HỘI VỀ PHÁP LỆNH THỰC HIỆN DÂN CHỦ
Ở XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN HIỆN NAY
(Nghiên cứu trường hợp phường Phú Lương - quận Hà Đông
và xã Hoàng Diệu-huyện Chương Mỹ-Thành phố Hà Nội)
Mã số: 60.31.30
LUẬN VĂN THẠC SỸ XÃ HỘI HỌC Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Vũ Hào Quang
Hà Nội, 2013
Trang 3MỤC LỤC
A PHẦN MỞ ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Câu hỏi nghiên cứu 7
3 Tổng quan nghiên cứu của đề tài 7
4 Đóng góp của luận văn 13
5 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 13
6 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 14
7 Giả thuyết nghiên cứu 14
8 Phương pháp nghiên cứu 14
9 Khung lý thuyết 16
B PHẦN NỘI DUNG 17
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 17
1.1 Các lý thuyết sử dụng để nghiên cứu 17
1.1.1 Lý thuyết xã hội học về dư luận xã hội 17
1.1.2 Lý thuyết vòng xoáy im lặng 20
1.2 Các khái niệm cơ bản 20
1.2.1 Dư luận xã hội 20
1.2.2 Cơ sở (xã, phường, thị trấn) 27
1.2.3 Dân chủ và dân chủ cơ sở 28
Trang 41.2.4 Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn 30
1.3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 30
1.3.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội phường Phú Lương 30
1.3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội xã Hoàng Diệu 31
CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ CỦA NGƯỜI VỀ PHÁP LỆNH THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở PHƯỜNG PHÚ LƯƠNG VÀ XÃ HOÀNG DIỆU 33
2.1 Sự hình thành dư luận xã hội về Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở phường Phú Lương và xã Hoàng Diệu 33
2.1.1 Các giai đoạn trong quá trình hình thành của dư luận xã hội 33
2.1.2 Các yếu tố tác động đến quá trình hình thành dư luận xã hội 34
2.2 Sự quan tâm, mức độ nắm rõ và thái độ của người dân phường Phú Lương và xã Hoàng Diệu đối với Pháp lệnh thực hiện dân chủ 36
2.2.1 Sự quan tâm của người dân đối với Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn 36
2.2.2 Mức độ nắm rõ của người dân về pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn 38
2.2.3 Mức độ đồng tình của người dân đối với pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn 43
2.3 Đánh giá của người dân về Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã,phường, thị trấn 48 2.3.1 Đánh giá của người dân về thực hiện nội dung dân biết 48
2.3.2 Đánh giá của người dân về thực hiện nội dung dân bàn bạc và góp ý kiến 59
2.3.3 Đánh giá của người dân về thực hện nội dung dân kiểm tra, giám sát 69
2.3.4 Đánh giá của người dân về những lợi ích cụ thể nhận được khi thực hiện Pháp lệnh dân chủ ở xã, phường, thị trấn 77
Trang 52.4 Ý kiến của nhân dân phường Phú Lương và xã Hoàng Diệu về các yếu tố
ảnh hưởng đến Pháp lệnh thực hiện dân chủ 84
2.4.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện nội dung dân biết 84
2.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện nội dung dân bàn, góp ý 87
2.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác thực hiện nội dung dân kiểm tra, giám sát 90
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LỆNH DÂN CHỦ Ở PHƯỜNG PHÚ LƯƠNG VÀ XÃ HOÀNG DIỆU 93
3.1 Tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền về Pháp lệnh thực hiện dân chủ nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm của cán bộ và nhân dân trong triển khai và thực hiện 93
3.2 Đảm bảo và tăng cường công tác công khai, minh bạch, kiểm tra, giám sát 95
3.3 Nâng cao vai trò lãnh đạo, sự đoàn kết, thống nhất của các cấp ủy Đảng, trách nhiệm của chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội trong thực hiện Pháp lệnh dân chủ 97
3.4 Gắn thực hiện pháp lệnh dân chủ ở cơ sở với nâng cao dân trí và phát triển toàn diện đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội, đảm bảo lợi ích chính đáng của nhân dân 99
3.5 Tăng cường công tác nắm bắt dư luận xã hội trong quá trình thực hiện Pháp lệnh dân chủ ở xã, phường, thị trấn 101
C PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 102
1 Kết luận 102
2 Khuyến nghị 105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 7A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân là mục tiêu, đồng thời là động lực bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng, của công cuộc đổi mới QCDC ở cơ sở (nay là PLTHDC ở XPT và dưới đây có chỗ xin gọi là PLDC) và việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân có ý nghĩa và tầm quan trọng to lớn để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh tại địa phương
Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách, văn bản pháp luật đổi mới về kinh tế, chính trị, xã hội nhằm phát huy một bước quyền làm chủ của nhân dân trong đó có việc ban hành Chỉ thị số 30-CT/TW của
Bộ Chính trị, Chỉ thị số 10-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương, Pháp lệnh 34/2007/PL-UBTVQH của UBTVQH và các nghị định của Chính phủ về xây dựng và thực hiện PLDC ở cơ sở PLTHDC ở XPT đã được các cấp ủy đảng, chính quyền, thủ trưởng các cơ quan, đơn vị và doanh nghiệp triển khai thực hiện có hiệu quả, đồng bộ
Bản Pháp lệnh đã từng bước đi vào cuộc sống Những nội dung công khai theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra” được cấp ủy, chính quyền các địa phương thực hiện có hiệu quả, quyền làm chủ của nhân dân được phát huy trên tất
cả các lĩnh vực của đời sống; việc xây dựng quy ước làng, khu phố, gia đình văn hóa, quy định mức đóng góp xây dựng, lấy phiếu tín nhiệm các chức danh chủ chốt của cấp xã đều được đưa ra lấy ý kiến để nhân dân bàn và quyết định trực tiếp Các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, kế hoạch vay vốn, mức huy động các khoản đóng góp của nhân dân, quy trình, thủ tục hành chính, các chương trình, dự án, … đều được chính quyền cơ sở thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, họp thôn, tổ dân phố, tiếp xúc cử tri, niêm yết công khai Việc triển khai thực hiện PLTHDC ở XPT đã
có tác dụng thúc đẩy công tác xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân
Trang 8Tuy nhiên, nhìn chung, việc xây dựng và thực hiện PLDC ở cơ sở còn nhiều khuyết điểm, yếu kém, chưa đạt yêu cầu Phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" chưa được cụ thể hoá và thể chế hoá thành luật pháp, chậm đi vào cuộc sống “Việc xây dựng và thực hiện các quy chế, quy ước, hương ước không ít nơi còn hình thức, chất lượng chưa cao, chưa thành nền nếp Một số XPT chưa làm tốt việc công khai, dân chủ về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, giá cả đền bù khi chuyển mục đích sử dụng đất, chính sách tái định cư… Một số nơi nội bộ lãnh đạo cấp ủy, chính quyền mất đoàn kết; tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực chưa được ngăn chặn kịp thời; … ảnh hưởng không nhỏ đến lòng tin của nhân dân đối với cấp ủy, chính quyền….Nhận thức về dân chủ và trách nhiệm thực hiện QCDC ở cơ
sở, phát huy quyền làm chủ của nhân dân của một số cấp ủy, chính quyền, cán bộ, công chức chưa đầy đủ, … mất dân chủ, thiếu tôn trọng dân còn khá phổ biến …” [1] Trong dân lại thường chỉ thấy mặt quyền lợi nhiều hơn là làm tốt nghĩa vụ công dân, có cả hiện tượng lợi dụng dân chủ và dân chủ quá trớn.Và thực hiện PLDC hiện nay đang là một trong những vẫn đề được dư luận rất quan tâm
Để nâng cao việc thực hiện PLDC tại các XPT được tốt hơn, thực chất hơn thì DLXH có vai trò to lớn Nhờ có cơ chế vận động của các hệ thống tâm lý
xã hội và ý chí của cộng đồng, nên dư luận lúc đầu là sự bàn tán, sau đó chuyển hoá thành hành động của công chúng, sức mạnh và áp lực của DLXH trở thành
có sức mạnh trong đời sống thực tế hàng ngày Vì vậy, vai trò của DLXH trong thực tế điều hành, quản lý xã hội, thực hiện PLDC ở cơ sở là rất quan trọng DLXH thể hiện những chức năng cơ bản như: đánh giá, điều tiết các mối quan
hệ xã hội, giáo dục, giám sát, tư vấn, phản biện, và giải tỏa tâm lý - xã hội Ở đây, luận văn chỉ đề cập đến việc đánh giá của cán bộ, người dân đối với PLTHDC ở XPT Trên cơ sở đó, có những phương hướng, giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả thực hiện PLDC ở cơ sở hiện nay
Như vậy, để việc triển khai PLTHDC ở XPT đạt hiệu quả tốt hơn trong thời gian tới, thiết nghĩ các cấp uỷ, chính quyền cũng cần biết đến suy nghĩ, tâm trạng của người dân khi thực hiện bản PLDC của Đảng và Nhà nước; thái độ, hành vi và đánh
Trang 9giá của người dân đối với việc thực hiện bản Pháp lệnh; sự khác nhau giữa các loại hình cơ sở trong việc thực hiện và đánh giá thực hiện Pháp lệnh
Điều tra DLXH về PLDC ở XPT sẽ góp phần trả lời được những băn khoăn
kể trên; đồng thời, kết quả điều tra cũng sẽ giúp cấp uỷ, chính quyền các cấp nhất là cấp cơ sở nắm bắt được tâm tư, đánh giá của người dân về bản Pháp lệnh, từ đó có những động thái phù hợp cho việc thực hiện chủ trương này ngày càng đi vào thực tế cuộc sống Do đó tác giả chọn tên đề tài luận văn là “Dư luận xã hội về Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn hiện nay” Tuy nhiên, do phạm vi luận văn
có hạn, trong khi đó, việc điều tra DLXH về PLTHDC lại rất rộng nên tác giả chỉ nghiên cứu dư luận (tập trung vào những thái độ, hành vi và đánh giá của dư luận) đối với việc thực hiện bản Pháp lệnh ở hai địa bàn chọn mẫu
2 Câu hỏi nghiên cứu
- Người dân có suy nghĩ, tâm trạng ra sao khi tiếp nhận thông tin về việc triển khai PLTHDC ở XPT của Đảng và Nhà nước?
- Thái độ, hành vi và đánh giá của người dân như thế nào đối với việc thực hiện bản Pháp lệnh?
- Các loại hình cơ sở khác nhau thì việc thực hiện và đánh giá việc thực hiện Pháp lệnh có gì khác nhau không?
- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện PLDC ở phường Phú Lương và xã Hoàng Diệu?
3 Tổng quan nghiên cứu của đề tài
Đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu vấn đề này, ở nhiều góc độ khác nhau được đăng tải trên sách, báo, tạp chí Trong đó có một số công trình, bài viết như:
- Bài viết “Vai trò của Dư luận xã hội trong cơ chế dân biết, dân bàn,
dân làm, dân kiểm tra” của PGS.TS Mai Quỳnh Nam đăng trên tạp chí Tâm lý
học, số 2, năm 2000 Bài viết là một công trình nghiên cứu khoa học có giá trị lớn, tập trung làm rõ vai trò của DLXH trong cơ chế dân biết, dân bàn, dân kiểm tra đồng thời chỉ ra con đường hình thành, điều kiện, môi trường chính trị, xã hội khách quan cho sự hình thành DLXH ở Việt Nam hiện nay Ở đây, tác giả đã
Trang 10“cho thấy vai trò của hoạt động trao đổi, thảo luận trong quá trình phát triển
biện chứng của ý kiến đối với sự hình thành DLXH” [22, tr.51] Việc cung cấp
đầy đủ các thông tin cho nhân dân (thực hiện nội dung dân biết) mới là cách để
sự đánh giá của DLXH phản ánh đúng tình trạng xã hội về những vấn đề đang tạo nên mối quan tâm chung DLXH phản ánh ý kiến của số đông nên việc dân bàn bạc, góp ý về các thông tin mà họ tiếp nhận được là một khâu quan trọng nhằm nhân rộng tỷ trọng các ý kiến hợp lý đã được thảo luận Xét về phương diện nhận thức, DLXH là một cấu trúc tinh thần - thực tế, nên nó không chỉ là ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội mà thông qua sự đánh giá xã hội về các hiện tượng, các sự kiện, nó trở thành tiền đề cho hành động thực tiễn để phát huy hay hạn chế một hiện tượng, một sự kiện xã hội nào đó theo chiều hướng phù hợp với lợi ích của đa số cộng đồng người Dân làm là sự biểu hiện hành động xã hội của các nhóm dân cư, các tầng lớp xã hội trên cơ sở họ đã được cung cấp thông tin và đánh giá tình hình thông qua sự thảo luận và bàn bạc tập thể Kiểm tra là hoạt động tất yếu của một xã hội có tổ chức, để quản lý xã hội Chức năng kiểm soát của DLXH có ý nghĩa tích cực trong hoạt động này DLXH được hình thành chịu
sự chi phối của các giá trị, chuẩn mực xã hội nhưng khi đã hình thành nó lại tác động đến các chuẩn mực, giá trị xã hội Thanh tra nhân dân có vai trò to lớn trong việc tăng cường hiệu quả của hoạt động thanh tra nhà nước nhằm duy trì các giá trị, chuẩn mực xã hội được quy định thành pháp luật hay đã trở thành các phong tục, tập quán tốt đẹp trong đời sống cộng đồng [22, tr.51, 52] Bên cạnh đó, bài viết còn chỉ ra vai trò của các phương tiện truyền thông đại chúng trong việc hình thành, thể hiện DLXH và thông qua DLXH tác động đến cơ chế “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” và các quy luật hình thành DLXH nói chung và về cơ chế trên nói riêng ở Việt Nam Tuy nhiên, bài viết chưa đi vào phân tích những đánh giá của người dân về việc thực hiện cơ chế “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”
- Cuốn sách “Tâm lý học xã hội trong quá trình thực hiện quy chế dân chủ ở
cơ sở” cũng là một công trình nghiên cứu công phu và có ý nghĩa lý luận và thực
tiễn lớn do Khoa Tâm lý học - Học viện Chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí
Trang 11Minh chủ trì, PGS.TS Trần Ngọc Khuê chủ nhiệm Cuốn sách đã tập trung làm rõ sự tác động qua lại của một số yếu tố tâm lý xã hội cơ bản như nhân cách, uy tín, nhận thức của cán bộ cơ sở, phong cách của người lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở, mối quan
hệ nhu cầu, lợi ích, tâm lý làng xã, tâm lý phụ nữ nông thôn, tâm lý tôn giáo,… đối với việc thực hiện QCDC ở cơ sở hiện nay Đánh giá thực trạng và nguyên nhân từ góc độ tâm lý xã hội của việc thực hiện QCDC ở cơ sở hiện nay và đề xuất một số biện pháp cơ bản nhằm thực hiện có hiệu quả QCDC ở cơ sở trong thời kỳ mới
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, chủ nhiệm đề tài PGS TSKH Bùi
Quang Dũng năm 2006: Dân chủ cơ sở nông thôn Việt Nam: thực trạng và giải pháp
Đề tài nghiên cứu nhằm mục đích tổng kết thực tiễn 2 năm thực hiện QCDC cơ sở tại nông thôn nước ta hiện nay và khuyến nghị những giải pháp nhằm đẩy mạnh quá trình thực hiện dân chủ tại nông thôn Nội dung nghiên cứu của đề tài đã tập trung vào các vấn đề: Thực trạng “dân chủ cơ sở” hiện nay ở nông thôn Việt Nam sau 2 năm thực hiện QCDC cơ sở - những đặc điểm chủ yếu, vấn đề và nguyên nhân; Phân tích các nhân tố tác động đến “dân chủ cơ sở” nông thôn với tư cách là một quá trình
xã hội; Đề xuất giải pháp nhằm thực hiện tốt dân chủ cơ sở tại nông thôn hiện nay Trong kết luận của báo cáo tổng quan có một số nhận định như sau:
- Nghị định về dân chủ cơ sở là một khuôn khổ pháp lý mới để hỗ trợ và tăng cường sự tham gia trực tiếp của người dân vào quá trình phát triển tại địa phương, một số văn bản pháp lý liên quan cũng được ban hành… đều đang góp phần tạo thành những khuôn khổ pháp lý cho sự tham gia nhiều hơn của đông đảo nhân dân vào sự phát triển của Việt Nam hiện nay theo hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá
+ HĐND đóng vai trò then chốt trong đời sống chính trị ở cấp địa phương của Việt Nam Việc thông qua luật tổ chức HĐND và UBND năm 1986 (được sửa đổi vào năm 1994) đã dẫn tới quá trình hiện đại hoá thể chế này
+ Các phân tích cho thấy là cả BGSĐTCĐ lẫn BTTND đều còn yếu, nhiệm
vụ chưa rõ ràng Thiếu thốn nguồn lực là một trong những nguyên nhân khiến cho hoạt động của các đơn vị này trở nên hạn chế Thành viên của các BTTND,
Trang 12BGSĐTCĐ cũng có vấn đề, không ít trường hợp thành viên của các ban lại do chỉ định chứ không phải do bầu… Khả năng của người dân tiếp cận hệ thống tư pháp có tầm quan trọng trong việc thực hiện QCDC cơ sở trong khi đó, nhận thức và mối quan tâm của người dân đối với các tổ chức này tương đối yếu
Trên cơ sở những phân tích về thực trạng dân chủ cơ sở ở nông thôn vào thời điểm khảo sát, báo cáo tổng quan cũng trình bày một số giải pháp trong đó có đề cập đến việc tăng cường hơn nữa các cơ chế đảm bảo sự tiếp xúc cử tri với đại biểu HĐND, tăng cường hơn nữa công tác truyền thông pháp luật; bên cạnh đó cần nâng cao năng lực giám sát cho các tổ chức chính trị - xã hội tại địa phương như hội phụ
nữ, cựu chiến binh, nông dân,… và cuối cùng là việc đề xuất tăng cường các thảo luận tại địa phương về việc đề cử, ứng cử viên tham gia tranh cử
- Những năm đầu tiên của thập kỷ thứ hai, thế kỷ 21(2001), một chương trình
quy mô lớn do Viện xã hội học thực hiện có chủ đề: Hệ thống chính trị cơ sở ở nông
thông qua ý kiến của người dân Mục tiêu nghiên cứu của chương trình là nhận diện
và đánh giá hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở (cấp xã) theo yêu cầu của Nghị định 29 (ban hành ngày 11/5/1998) về quy chế thực hiện dân chủ ở xã
Cuộc khảo sát được tiến hành tại 15 xã thuộc các tỉnh Yên Bái, Nam Định, Đắc Lắc, Bình Định và Cần Thơ với số lượng mẫu tương đối lớn (1500 hộ gia đình) nhằm thu thập thông tin của người dân đối với việc đánh giá hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở theo các tiêu chí sau:
- Việc cung cấp thông tin cho người dân về các vấn đề kinh tế - xã hội tại cộng đồng, về lịch tiếp dân
- Về đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị, những hiểu biết về pháp luật, năng lực, gương mẫu, đoàn kết, trách nhiệm và sự quan tâm đến đời sống của người dân
- Việc phản ánh ý kiến, nguyện vọng của đa số người dân đối với các quyết định quan trọng của hệ thống chính trị cấp xã
- Các đoàn thể xã hội đã thực sự tham gia vào việc đề ra các quyết định quan trọng của xã
Trang 13- Người dân trong xã biết tên và trách nhiệm của phần lớn các thành viên của đảng uỷ, HĐND, UBND
Kết quả nghiên cứu cho thấy có những khác biệt nhất định trong các ý kiến nhận định, đánh giá của người dân về hệ thống chính trị cơ sở ở nông thôn hiện nay
Rõ nhất là sự phân biệt giữa hai nhóm dân cư; một bên là những người có ý kiến mang tính tích cực cao, hài lòng với hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở hiện nay
và một bên là các nhóm bày tỏ ý kiến, thái độ và đánh giá kém tích cực hơn và mang nhiều nét phê phán đối với hệ thống chính trị cơ sở
Cùng với nhận định như đã trình bày ở trên, nhóm tác giả cũng đưa ra một
số đề xuất, giải pháp cho việc thực hiện QCDC có hiệu quả hơn, đó là việc áp dụng cách tiếp cận có sự tham gia của cộng đồng và người dân trên cơ sở năng lực
tự quản của họ trong các hoạt động cộng đồng Cần có sự kết hợp chặt chẽ việc thực hiện dân chủ cơ sở với việc áp dụng cách tiếp cận có sự tham gia của cộng đồng và của người dân trên cơ sở năng lực tự quản của họ Tránh tư duy “bao cấp” tiếp cận “từ trên xuống” trong thực hiện dân chủ Nên áp dụng tư duy “dựa trên nhu cầu”, tiếp cận từ dưới lên Tương tự như triết lý “cho cần câu tốt hơn cho xâu cá” trong hoạt động xoá đói giảm nghèo, trong việc thực hiện dân chủ cơ sở, hoặc cũng có thể nói: “trang bị cho người dân kiến thức và kỹ năng tham gia tốt hơn là đưa ra những khái niệm và QCDC chung chung
- Đề tài “QCDC cơ sở và sự tham gia của người dân” - nghiên cứu
trường hợp tại xã Yên Thường, Gia Lâm, Hà Nội (2002) của Phòng tổ chức cán
bộ và đào tạo Viện Xã hội học thực hiện nhằm nhận diện và xác định khả năng tham gia của người dân vào các hoạt động kinh tế - chính trị - xã hội tại một cộng đồng làng xã ở nông thôn Bắc Bộ để từ đó xem xét và đánh giá hiệu quả của quy chế tại cộng đồng dân cư Phương pháp nghiên cứu của đề tài là sử dụng các phỏng vấn 20 hộ gia đình thuộc các nhóm nghề nghiệp khác nhau như nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, buôn bán, dịch vụ Báo cáo kết quả nghiên cứu cho thấy việc thực hiện QCDC tại địa bàn nghiên cứu chưa thực sự có hiệu lực mà nặng về hình thức Bằng chứng để khẳng định cho nhận xét này là: phần lớn các
ý kiến trong mẫu khảo sát là không biết, không quan tâm
Trang 14QCDC cơ sở vẫn chưa có sức hấp dẫn đối với người dân và còn xa lạ đối với
họ khi thực tế hàng ngày họ phải đối mặt với những hoạt động kiếm sống cho bản thân và gia đình; những lo ngại về diện tích canh tác bình quân đầu người thấp trong nhóm người chỉ trông chờ vào những thu nhập từ nông nghiệp Các nhóm khác thì cũng thấy bấp bênh khi công việc không ổn định và nguy cơ không có việc làm luôn rình rập và đe dọa cuộc sống của họ Những khó khăn của cuộc sống như vậy đã hướng sự quan tâm của người dân vào những nhu cầu thiết yếu hàng ngày và thờ ơ với các giá trị mà ở đó có thể mở ra những khả năng phát triển tốt hơn cho cuộc sống của họ Dường như việc thực hiện QCDC cơ sở là việc của mấy ông lãnh đạo địa phương, là việc của chính quyền, của nhà nước Những quan niệm ấy đã làm cho quá trình tham gia của người dân bị hạn chế rất nhiều, và nhận định của nhóm nghiên cứu là: cái công cụ mà nhà nước muốn trao cho người dân thì vẫn nằm trong tay nhà nước”
- Đề tài “Một số nhân tố hạn chế sự tham gia của người dân trong quá
trình thực hiện QCDC cơ sở” do Phòng Nông thôn Viện Xã hội học thực hiện
(2003) đã đi sâu tìm hiểu những hạn chế sự tham gia của người dân trong quá trình triển khai thực hiện QCDC cơ sở tại xã Phúc Lâm - huyện Chương Mỹ -Hà Nội và thị trấn Tế Tiêu cũng thuộc huyện Chương Mỹ Kết quả nghiên cứu đã chỉ
ra phân tích và khẳng định các nhóm nhân tố hạn chế sự tham gia của người dân trong việc thực hiện QCDC cơ sở gồm 4 nhân tố: từ phía tổ chức, từ phía thể chế chính trị, cơ chế và chính sách cán bộ, từ phía người dân và từ phía cơ sở vật chất,
kỹ thuật Tuy nhiên có một khẳng định chưa có sức thuyết phục khi cho rằng: yêu cầu của QCDC cơ sở là quá cao so với mặt bằng dân trí của địa phương Thực tế các điều khoản trong QCDC là những quy định rất cụ thể và gần gũi với người dân, không có gì khó hiểu và phức tạp Hạn chế chính là ở chỗ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở có thực hiện hay không?
Ngoài các nghiên cứu như đã trình bày ở phần trên, còn có các chương
trình nghiên cứu khác như đề tài: “Về thực hiện QCDC ở xã” (năm 2004) do Hội nhà báo Việt Nam và tổ chức SIDA thực hiện Đề tài cấp bộ: “Thể chế dân chủ
và phát triển nông thôn hiện nay” (2005) do nhóm tác giả Hà Văn Thông và
Nguyễn Văn Sáu thực hiện; các Luận văn Thạc sỹ như: “Thực hiện quy chế dân
Trang 15chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Ninh Bình hiện nay”, “Thực hiện quy chế dân chủ ở
xã trên địa bàn huyện Bắc Quang - tỉnh Hà Giang”,…
Có thể nói rằng chưa có công trình khoa học nào đề cập trực tiếp về chủ
4.2 Đóng góp về mặt thực tiễn
Việc thăm dò, nghiên cứu DLXH về việc thực hiện PLDC ở XPT có ý nghĩa trong việc tạo thêm một kênh đánh giá, giúp các cấp uỷ, chính quyền tham khảo các ý kiến của dư luận quần chúng nhân dân nhằm triển khai thực hiện dân chủ ở cơ sở trong thời gian tới có hiệu quả hơn và đáp ứng thiết thực nhu cầu, mong mỏi của người dân
5 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu DLXH đối với việc thực hiện PLDC ở các xã, phường được nghiên cứu Trên cơ sở đó, luận văn đề xuất một số giải pháp tham mưu cho cấp
uỷ, chính quyền cơ sở trong việc tổ chức triển khai và thực hiện PLDC ở các XPT trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay
5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận của DLXH về thực hiện PLDC ở XPT
Trang 16- Nghiên cứu DLXH về việc thực hiện PLDC ở XPT trên địa bàn phường Phú Lương - quận Hà Đông và xã Hoàng Diệu - huyện Chương Mỹ - thành phố Hà Nội hiện nay
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong việc tổ chức thực hiện PLDC ở XPT hiện nay
6 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
6.1 Đối tượng nghiên cứu
DLXH về thực hiện PLDC ở các xã Hoàng Diệu, phường Phú Lương
6.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: DLXH về thực hiện PLDC ở XPT
- Không gian: phường Phú Lương - Quận Hà Đông và huyện Chương
Mỹ – thành phố Hà Nội
- Thời gian: năm 2013
7 Giả thuyết nghiên cứu
- Dư luận đánh giá kết quả thực hiện PLDC tại phường Phú Lương và xã Hoàng Diệu ở mức tốt
- Dư luận đánh giá việc thực hiện PLDC ở phường Phú Lương đạt kết quả tốt hơn so với công tác này ở xã Hoàng Diệu
- Mức độ đồng tình của người dân đối với việc triển khai thực hiện PLDC là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến DLXH về PLTHDC
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp nghiên cứu định lượng
Đây là phương pháp thu thập thông tin chính của luận văn Bảng hỏi được phát đến những đối tượng trong vùng đã được chọn mẫu Nội dung của bảng hỏi tập trung vào mức độ hiểu biết, quan tâm cũng như thái độ, nhận định, đánh giá của cán bộ, người dân đối với việc thực hiện công khai, phổ biến những nội dung, hoạt động của cấp xã, thôn, việc thực hiện công tác dân bàn, kiểm tra, giám sát, dân được hưởng; tìm hiểu ý kiến của các tầng lớp nhân dân về những yếu tố ảnh hưởng đến việc triển khai PLTHDC trên hai địa bàn mẫu trường hợp
Trang 17Trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc thực hiện Pháp lệnh trong thời gian tới
Luận văn chọn mỗi địa bàn 300 chủ hộ gia đình và sai số là 10%, tổng cộng là 330 chủ hộ gia đình hoặc thành viên trong gia đình biết về PLTHDC là những người được chọn để hỏi toàn bộ nội dung của bảng hỏi
- Tiêu chí chọn mẫu: những hộ được lựa chọn là những hộ gia đình nằm trong danh sách được UBND phường, xã thường xuyên cập nhật và quản lý Ở phường Phú Lương là 5115 hộ và ở xã Hoàng Diệu là 2512 hộ Có sự phân biệt giữa chủ hộ thực tế và chủ hộ danh nghĩa (là người đứng tên chủ hộ trên giấy tờ)
Đề tài chọn phỏng vấn với những chủ hộ thực tế nghĩa là những người thực sự quyết định và cân nhắc đến mọi vấn đề của gia đình và thường xuyên tham dự các cuộc họp do cấp xã, thôn tổ chức Tuy nhiên có những trường hợp người thường xuyên đi dự họp và biết đến PLTHDC lại không phải là chủ hộ thì người được chọn
là thành viên gia đình thường xuyên đi dự họp và biết đến PLTHDC
- Cách chọn mẫu được sơ đồ hóa như sau: Ở cơ sở sẽ cung cấp cho tác giả danh sách tất cả các chủ hộ gia đình Dung lượng mẫu cho phép đối với hai địa bàn là
330 chủ hộ gia đình/thành viên gia đình trên mỗi địa bàn phường, xã Như vậy, ở phường Phú Lương, 5115 hộ gia đình trong danh sách mẫu sẽ được đánh số thứ tự từ
1 đến 5115, thực hiện bước nhảy k =15 theo công thức k=N/n (trong đó, N: kích thước tổng thể, n: dung lượng mẫu) Sau khi chọn ngẫu nhiên bằng cách bốc thăm một mẫu bất kỳ từ trong nhóm số với bước nhảy cụ thể là cách 15 người chọn 1 người, sẽ tìm ra được danh sách mẫu cần được xin ý kiến trong cuộc điều tra là 330 người đại diện cho 330 hộ gia đình Tương tự như trên, ở xã Hoàng Diệu với k = 7, cũng chọn được 330 hộ gia đình
8.2 Phương pháp nghiên cứu định tính
Phương pháp được thực hiện với 10 cán bộ cấp thôn, xã và 10 người dân nhằm giúp tác giả khẳng định thêm mức độ quan tâm và sự đồng tình, phấn khởi,
Trang 18hiểu sâu về thái độ, nhận định, đánh giá của người dân về việc thực hiện PLDC ở
xã Hoàng Diệu và phường Phú Lương
8.3 Phương pháp phân tích tài liệu
Đây là một trong những phương pháp nghiên cứu cơ bản của luận văn Tác giả sử dụng các tài liệu xung quanh vấn đề dân chủ, dân chủ cơ sở, DLXH, các quan điểm của Đảng về thực hiện dân chủ, dân chủ cơ sở, công tác nghiên cứu DLXH, các văn bản pháp luật liên quan đến PLTHDC ở XPT Từ đó góp phần làm cơ sở và căn
cứ cho việc nghiên cứu các vấn đề của luận văn Bên cạnh đó, luận văn còn tham khảo, vận dụng các tài liệu giáo trình, các công trình nghiên cứu, luận văn trước đó về các vấn đề như dân chủ, dân chủ cơ sở, hệ thống chính trị cấp cơ sở, DLXH,
Dư luận xã hội về thực hiện Pháp lệnh dân chủ
ở xã Hoàng Diệu và phường Phú Lương
Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện các nội dung, quy định của PLDC ở XPT Thực hiện
nội dung dân bàn bạc, góp ý
Giải pháp nâng cao thực hiện PLDC ở xã Hoàng Diệu và phường Phú Lương
Lợi ích thụ hưởng từ PLDC LDC
Bối cảnh kinh tế kinh tế - xã hội
xã Hoàng Diệu, phường Phú Lương
Trang 19B PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Các lý thuyết sử dụng để nghiên cứu
1.1.1 Lý thuyết xã hội học về dư luận xã hội
Nhâ ̣n thức về DLXH của con người rất khác nhau do các nhà nghiên cứu về nó theo các quan điểm lý luâ ̣n , thế giới quan và các thời kỳ khác nhau Có ý kiến cho rằng DLXH là mô ̣t hiê ̣n tượng xã hô ̣i phức ta ̣p , đa diê ̣n Có ý kiến lại
coi DLXH là khách thể nghiên cứu của nhiều ngành khoa ho ̣c
J.Rút – xô, nhà khai sáng Pháp thế kỷ 18, rất coi trọng vai trò của DLXH
và ý thức dân chúng Trong tác phẩm “Khế ước xã hô ̣i” ông nhâ ̣n đi ̣nh: các điều luật của nhà nước phải phù hợp với nguyê ̣n vo ̣ng và ý chí của nhân dân lao đô ̣ng Quyền lực thiêng liêng và vô ha ̣n của vua chúa đối lập với viê ̣c khẳng đi ̣nh chủ quyền của nhân dân, trong đó các quyền và các lợi ích của người dân phải được đảm bảo
J Habermas cho rằng chủ thể của DLXH không phải là toàn bộ công chúng, không phải là toàn bộ nhân dân mà được hình thành từ những người có thể tập hợp tại các cuộc hội họp, biểu tình, mit tinh DLXH là sự phán xét của công chúng thì trước hết nó cần phải bảo vệ sự thống trị của giai cấp tư sản, bào chữa cho pháp luật và chính trị cũng như sự tồn tại của giai cấp tư sản.[32, tr.89]
Luhmann bác bỏ mọi chủ thể của DLXH, ý kiến cá nhân, nhóm xã hội đều
có ý nghĩa như nhau Trong hoạt động của DLXH, vấn đề quan trọng là các chủ đề của DLXH hay những vẫn đề mà DLXH đề cập đến Chủ đề nào được chú ý nhiều hơn của xã hội sẽ trở thành nội dung của DLXH Nếu không có sự chú ý, vấn đề sẽ
bị bỏ qua [32, tr.90]
Những luận điểm chính của quan điểm Mac xít về DLXH tập trung vào việc khẳng định DLXH là một dạng đặc trưng của ý thức xã hội DLXH thuộc thượng tầng kiến trúc vừa có bị chi phối vừa có tính độc lập tương đối với hạ tầng
cơ sở nên nó có thể là động lực tạo ra những động lực tạo ra những chuyển biến của xã hội Sức mạnh vật chất DLXH được quyết định bởi tiếng nói của nhân dân
Trang 20được tăng cường DLXH cũng có tính giai cấp, bảo vệ cho những lợi ích của chủ thể, [32, tr.98, 99]
Tại Việt Nam, Hồ Chủ tịch là người rất chú trọng tiếng nói của nhân dân Người cho rằng quần chúng nhân dân có vai trò to lớn trong việc giải quyết các vấn
đề xã hội
Về bản chất của DLXH: Theo cấu trúc tâm lý, DLXH là mô ̣t kết cấu tinh thần - thực tế, là sự thống nhất của nhận thức, tình cảm và ý chí của nhóm và của nhân dân Điều này lý giải cho một thực tế : DLXH luôn gắn liền với hành đô ̣ng
xã hội của công chúng, mang trong mình nguồn sức ma ̣nh to lớn ảnh hưởng đến nhịp độ phát triển xã hội
Theo khía ca ̣nh nhâ ̣n thức , DLXH không đồng nhất với t ri thức và lẽ phải, nó thường có cái đúng và có cái sai Con đường ta ̣o ra DLXH bất chấp các quy trình,quy tắc bắt buô ̣c để ta ̣o ra tri thức DLXH phụ thuộc trực tiếp vào các nhân tố chủ quan đă ̣c thù như : nhu cầu, tình cảm, nguyê ̣n vo ̣ng riêng tư… của các nhóm xã h ội, tâ ̣p thể, cá nhân Vì vậy có thể nói DLXH là một trong những chỉ báo về mặt tinh thần tư tưởng của xã hội , mô ̣t dân tô ̣c nói chung , cũng như của các nhóm xã hội khác nhau trong một cộng đồng lớn
Về khách thể và chủ thể của DLXH Khách thể của DLXH có thể là những sự kiê ̣n hết sức khác nhau trong đời sống xã hô ̣i Cần nhận thấy rằng , trong mối quan hê ̣ với ý thức, lợi ích có thể tồn ta ̣i ở ngoài DLXH, chẳng ha ̣n, lợi ích được phản ánh dưới dạng các học thuyết , các cương lĩnh , nhưng chính bản thân DLXH lại chỉ tồn tại trên cơ sở lợi ích chung Lơ ̣i ích chung là cơ sở để xuất hiê ̣n các tranh luâ ̣n tâ ̣p thể Dấu hiê ̣u thứ hai để xem xét khách thể của DLXH là tranh luâ ̣n, những tranh luâ ̣n này gắn với lợi ích xã hô ̣i được mo ̣i người có nhu cầu quan tâm [23, tr.5]
Chủ thể của DLXH là toàn thể xã hội nói chung, là quần chúng nhân dân,
là các tổ chức đảng hoặc các tổ chức đoàn thể xã hội Lâ ̣p trường giai cấp được xem là cơ sở để xác đi ̣nh chủ thể của DLXH , vì giai cấp là vật mang của DLXH
Trang 21đươ ̣c hình thành với những lợi ích và mu ̣c đích giai cấp Do đó , khi xem xét DLXH, ngườ i ta không chỉ đă ̣t nó trong cấu trúc các quan hê ̣ xã hô ̣i , vì bản chất của DLXH phản ánh vị thế xã hội trong sự tương tác với các cá nhân trong nhóm
xã hội được tạo nên bởi các quan hê ̣ xã hô ̣i và các lợi ích của ho ̣ Đặc tính này chi phối những khác biê ̣t trong đô ̣ng cơ nghiên cứu DLXH
Do DLXH là mô ̣t hình thức biểu hiê ̣n tra ̣ng thái ý thức xã hô ̣i nên các
mă ̣t tư tưởng, cảm xúc và ý chí , xem xét trên khía ca ̣nh nhãn thức , trong DLXH luôn có cái đúng và cái sai , lẽ phải và sự nhầm lẫn , vì quá trình nhận thức được phản ánh trong DLXH không hoàn toàn tuân theo các qui tắc nghiêm ngă ̣t của nhâ ̣n thức chân lý Hêghen có lý do khi ông cho rằng: trong DLXH có cả cái thật
và cái giả Tính chất này tạo nên đặc điểm dễ thay đổi của DLXH và thể hiện tính biện chứng của nó Tựu chung la ̣i, các yếu tố nói trên cho thấy DLXH có các
đă ̣c điểm sau: thứ nhất, nó có tính chất công chúng thứ hai, nó liên hệ chặt chẽ với quyền lơ ̣i của các cá nhân và các nhóm xã hô ̣i, thứ ba, nó dễ thay đổi [23, tr.5]
Quá trình hình thành DLXH tr ải qua các bước : hình thành, thể hiê ̣n và hiê ̣n thực hóa trong thực tế
DLXH có các chức năng sau: điều hòa các mối quan hê ̣ xã hô ̣i, giáo dục, kiểm soát, khuyên bảo
Tính chất, quy mô của các hiê ̣n tượng, các quá trình xã hội, trong đó có tính chất lơ ̣i ích và tính chất công chúng; hệ tư tưởng, trình độ hiểu biết, năng lực văn hóa; những nhân tố tâm lý như không khí đa ̣o đức trong tâ ̣p thể lao đô ̣ng, thói quen, tâm trạng, ý chí của các cộng đồng; sự tham gia của quần chúng đối với các sinh hoa ̣t chính trị;… đều là những nhân tố có tác động đến sự hình thành DLXH
Vận dụng vào lý thuyết xã hội học về DLXH giúp tác giả giải thích được
sự hình thành của DLXH về việc thực hiện PLDC ở phường Phú Lương, xã Hoàng Diệu đồng thời nhận biết được các luồng ý kiến, đánh giá, nhận xét của người dân đối với việc thực hiện được các nội dung của PLDC
1.1.2 Lý thuyết vòng xoáy im lặng
Trang 22Lý thuyết vòng xoáy im lặng gắn liền với tên tuổi của
E.Noelle-Neumann Đây là một mô hình dùng để giải thích tại sao các cá nhân không sẵn sàng thể hiện công khai ý kiến của họ nếu như họ có cảm nhận rằng ý kiến/cách suy nghĩ của họ thuộc nhóm thiểu số
Mô hình này được xây dựng dựa trên 3 định đề chính:1 Mỗi cá nhân đều có khả năng đọc được luồng DLXH đang phổ biến mà không cần tiến hành trưng cầu ý kiến; 2 Các cá nhân sợ bị cô lập, đồng thời họ cũng biết rõ ý kiến, thái độ như thế nào sẽ bị cô lập; 3 Nỗi sợ hãi bị cô lập khiến cho các cá nhân
không dám thể hiện những ý kiến khác biệt Hiện tượng vòng xoáy im lặng khá
phổ biến trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị Điều này phụ thuộc vào hai yếu tố: phong cách lãnh đạo thiếu dân chủ tại cơ quan, đơn vị, tổ chức đó và chủ nghĩa
cơ hội hay là “nỗi sợ hãi bị cô lập xã hội” [32]
Sử dụng lý thuyết này, luận văn có điều kiện tìm hiểu và nghiên cứu được các dòng DLXH thực sự, nhận diện được đâu là những ý kiến của dư luận vẫn chưa được bộc lộ, đâu là ý kiến của nhóm dư luận theo số đông và dư luận
đã được định hướng trước Trên sơ sở đó, có những đánh giá đa dạng, nhiều
chiều cho vấn đề nghiên cứu
1.2 Các khái niệm cơ bản
1.2.1 Dư luận xã hội
DLXH là một hình thức đặc biệt của ý thức xã hội, hiện diện trong các hình thái ý thức xã hội khác nhau Nó là một hiện tượng được nảy sinh từ hiện thực xã hội
và mang bản chất xã hội DLXH luôn luôn thu hút được sự quan tâm của các nhà quản lý và nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau DLXH là một hiện tượng xã hội phức tạp, do đó đã có rất nhiều các định nghĩa khác nhau
Phần đông các nhà nghiên cứu DLXH Liên-xô trước đây (cũ) định nghĩa DLXH là sự phán xét, đánh giá của các giai cấp, tầng lớp, cộng đồng xã hội đối với các vấn đề mà họ quan tâm
Trang 23F Hêghen đã đưa ra mô ̣t quan niê ̣m tương đối mở rô ̣ng về DLXH Trong công trình “Triết ho ̣c pháp quyền”, ông đã thể hiê ̣n sự đối lâ ̣p giữa “ tâm tư chính trị của quốc gia” với “DLXH của nhân dân”, F Hêghen chỉ ra rằng DLXH có sức mạnh trong mọi thời đại bởi nó mở ra cho con người khả năng thổ lộ và bảo vệ ý kiến chủ quan của mình đối với cái chung
Nhà nghiên cứu DLXH B.K Phaderin quan niệm: “DLXH là tổng thể các ý
kiến, trong đó chủ yếu là các ý kiến thể hiện sự phán xét, đánh giá, sự nhận định (bằng lời hoặc không bằng lời), phản ánh ý nghĩa của các thực tế, quá trình hiện tượng, sự kiện đối với các thể chế, giai cấp xã hội nói chung và thái độ công khai hoặc che đậy của các nhóm xã hội lớn, nhỏ đối với các vấn đề của cuộc sống xã hội
có động chạm đến các lợi ích chung của họ” [33, tr.21-22]
Còn theo A.K.Ulê đốp, DLXH là “sự phán xét thể hiện sự đánh giá và thái
độ của mọi người đối với các hiện tượng của đời sống xã hội” [32, tr.132]
Trong cuốn từ điển xã hội học tóm tắt (Maxtcova 1989): DLXH là trạng thái ý thức của công chúng, hàm chứa trong đó là thái độ minh bạch hoặc ẩn dấu của các cộng đồng xã hội khác nhau đối với những vấn đề, sự kiện và yếu tố của hiện thực
Các nhà nghiên cứu thuộc trường phái Mỹ thường sử dụng khái niệm
“công luận” thay cho khái niệm DLXH và cũng nêu ra những định nghĩa tương
tự Chẳng hạn “công luận là sự phán xét đánh giá của các cộng đồng xã hội đối
với những vấn đề có tầm quan trọng được hình thành sau khi có sự tranh luận công khai” (Young, 1923) hoặc định nghĩa giản đơn hơn “Công luận là sự tập hợp ý kiến cá nhân ở bất kỳ nơi đâu mà chúng ta có thể tìm được” [34, tr.115]
Ở nước ta cũng đã có một số công trình nghiên cứu về DLXH, trong đó các tác giả đều đưa ra định nghĩa về DLXH Theo Viện nghiên cứu DLXH - Ban Tuyên giáo Trung ương: “DLXH là tập hợp các luồng ý kiến cá nhân trước các vấn đề, sự kiện, hiện tượng có tính thời sự, có liên quan đến lợi ích, các mối quan tâm của công chúng” [13, tr.6 - 7] Hoặc một định nghĩa khác: “DLXH là sự biểu hiện trạng thái ý thức xã
Trang 24hội của một cộng đồng người nào đó, là sự phán xét, đánh giá của đại đa số trong cộng đồng người đối với các sự kiện, hiện tượng, quá trình xã hội có liên quan đến nhu cầu, lợi ích của họ trong thời điểm nhất định” [19, tr.14]
PGS TS Mai Quỳnh Nam trong một công trình nghiên cứu về vai trò của
DLXH trong cơ chế dân biết, dân bàn, dân kiểm tra đã khẳng định “DLXH là sự thể
hiện tâm trạng xã hội, phản ánh sự đánh giá của các nhóm xã hội lớn, của nhân dân nói chung về các hiện tượng đại diện cho lợi ích xã hội cấp bách trên cơ sở các quan hệ đang tồn tại,… xuất phát từ sự đánh giá tình hình, người ta sẽ xác định hành vi nào cho phù hợp Do tính đặc thù này của bản chất DLXH nên DLXH không chỉ thuần túy tinh thần mà là một cấu trúc tinh thần - thực tế Vì thế DLXH được xem là một hiện tượng tâm lý xã hội, là cầu nối giữa ý thức xã hội và hành động xã hội” [22, tr.50, 51]
Ngọ Văn Nhân trong một công trình nghiên cứu của ông cũng đưa ra
một định nghĩa như sau về DLXH: “DLXH là tập hợp ý kiến, thái độ có tính chất
phán xét, đánh giá của các nhóm xã hội hay của xã hội nói chung trước những vấn đề mang tính thời sự, có liên quan tới lợi ích chung, thu hút được sự quan tâm của nhiều người và được thể hiện trong các nhận định hoặc hành động thực tiễn của họ” [25, tr.22]
Có thể thấy rằng, hầu hết các định nghĩa được nêu trên đều đề cập đến những nội dung chính của khái niệm DLXH, bao gồm:
Thứ nhất, DLXH là tập hợp những ý kiến, quan điểm thái độ có tính chất phán xét, đánh giá của các nhóm xã hội, các giai cấp, cộng đồng người trước một thực tế xã hội nhất định
Thứ hai, sự phán xét, đánh giá đó chỉ nảy sinh khi trong xã hội có những vấn đề xã hội, những sự kiện, hiện tượng xã hội mang tính thời sự, có liên quan đến lợi ích chung của các nhóm xã hội, cộng đồng xã hội hay của toàn xã hội nói chung
Thứ ba, vấn đề, sự kiện xã hội mang tính thời sự đó phải thu hút được sự quan tâm, chú ý của nhiều người, của đa số các thành viên trong xã hội
Trang 25Tuy nhiên có một điểm vẫn còn gây tranh luận giữa các nhà nghiên cứu liên quan đến vấn đề chủ thể của DLXH, đó là: có phải chỉ có ý kiến của đa số mới được gọi là DLXH không? Đa phần các nhà khoa học ở nhiều nước trên thế giới và ở nước ta hiện nay đều nhận định chỉ có ý kiến của đa số mới được coi là DLXH Tuy nhiên hầu hết các nhà nghiên cứu ở các nước tư bản lại cho rằng DLXH bao gồm các ý kiến không chỉ của đa số mà còn cả của thiểu số Về mặt ngôn ngữ, không có cơ sở để nói rằng DLXH là ý kiến của đa số Thuật ngữ "xã hội" không đồng nhất với thuật ngữ "đa số" Về mặt lý luận, cũng không có cơ sở nào để coi trọng dư luận của đa số hơn dư luận của thiểu số, đến mức phải loại bỏ
dư luận của thiểu số ra khỏi phạm trù "DLXH" Về mặt thực tiễn, quan điểm coi DLXH chỉ là ý kiến của đa số lại càng tỏ ra không chuẩn xác Bởi không phải lúc nào ý kiến của đa số đã là đúng đắn, vì rất có thể nó đã được định hướng bởi chính trị hay những ý kiến trái chiều đã không được phản ánh khi nó là những ý kiến về cái mới, vấn đề, sự kiện mới hoặc do thói quen, nếp nghĩ nói và làm theo số đông
Bên cạnh đó, DLXH không phải chỉ là những lời nói suông, không gắn với hành động của chủ thể (công chúng) mà nó là một tổng thể nhận thức, tình cảm, ý chí
và hành động Những phán xét của một nhóm hay các nhóm xã hội hoặc của cả xã
hội khi trở thành DLXH sẽ chứa đựng một sức mạnh to lớn “…Sự ủng hộ của
DLXH đối với một chủ trương nào đó của chính quyền có thể sẽ chuyển hoá thành các phong trào thi đua sôi nổi, thực hiện thắng lợi chủ trương đó Những tâm tư, thắc mắc của quần chúng, thể hiện qua dư luận, nếu không được quan tâm giải quyết có thể chuyển hoá thành các cuộc "phản ứng tập thể" hoặc dưới các hình thức rất phức tạp khác”.[27, tr.24 - 25]
Về hình thức ngôn ngữ, DLXH không chỉ là những phán xét, đánh giá của công chúng mà theo đại đa số các nhà nghiên cứu đã khẳng định, DLXH là các phát ngôn thể hiện tâm tư, nguyện vọng, đề xuất, kiến nghị, lời khuyên can của công chúng đối với một chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
Trang 26Về khả năng phản ánh chân lý, lẽ phải thì DLXH không phải là các kết luận khoa học tuy nhiên ít nhiều đều có khả năng phản ánh chân lý, lẽ phải DLXH có thể đúng nhiều, đúng ít Trong những yếu tố đúng đắn của DLXH khi nó phản ánh chân thực các hiện thực xã hội vẫn có những hạn chế Trong những lệch lạc của DLXH khi nó phản ánh sai hiện thực thì DLXH vẫn chứa đựng những hạt nhân hợp
lý Chính vì thế, một mặt không nên tuyệt đối hoá khả năng nhận thức của DLXH song cũng không thể coi thường, bỏ qua Đồng thời chân lý của DLXH không phụ thuộc vào tính chất phổ biến của nó Không phải lúc nào dư luận của đa số cũng đúng, dư luận của thiểu số cũng sai
DLXH được hình thành qua việc thông tin, trao đổi, bày tỏ, thảo luận ý kiến Nhưng chỉ có các luồng ý kiến được hình thành theo con đường tự phát mới được gọi là DLXH Tuy nhiên DLXH không phải là một phép cộng thuần tuý, không phải tổng hợp các ý kiến cá nhân rời rạc, không có mối quan hệ gì với nhau DLXH là các luồng ý kiến cá nhân, tự phát, nhưng có mối quan hệ hữu cơ với nhau, cộng hưởng với nhau Nó thể hiện nhận thức, tình cảm, ý chí của các lực lượng xã hội nhất định
Từ những định nghĩa và phân tích trên ta có thể hiểu DLXH được hàm chứa những vấn đề sau :
- Thông qua sự phán xét, đánh giá, DLXH là một phương thức để thể hiện tâm trạng, tư tưởng của công chúng
- DLXH có thể bao gồm nhiều luồng ý kiến, mỗi luồng ý kiến là tập hợp các ý kiến cá nhân giống nhau, khác nhau hoặc đối lập nhau
- Luồng ý kiến của dư luận có thể rộng (tuyệt đại đa số, nhiều ý kiến…) hoặc hẹp (một số ý kiến, ý kiến cá biệt…)
- DLXH là tập hợp các ý kiến cá nhân, tự phát, chứ không phải là ý kiến của một tổ chức được hình thành theo con đường định sẵn (hội nghị, hội thảo…)
và bản thân DLXH không phải là một phép cộng các ý kiến cá nhân đơn thuần
Trang 27mà là một chỉnh thể tinh thần xã hội thể hiện nhận thức, tình cảm, ý chí của một lực lượng xã hội nhất định
- Chỉ những sự kiện, hiện tượng, vấn đề xã hội có tính thời sự, các mối quan tâm của nhiều người có liên quan đến lợi ích của giai cấp, của cộng đồng thì mới có khả năng hình thành DLXH [27]
Sự phân tích DLXH với tư cách là một hiện tượng xã hội cho thấy:
Thứ nhất, trong DLXH có sự hiện diện của các ý kiến cá nhân, quan điểm, tư tưởng, tâm lý, tình cảm của các cá nhân với tư cách là những thành viên của xã hội Những cá nhân này tham gia tích cực vào quá trình bàn bạc, thảo luận, bày tỏ ý kiến, thái độ của mình về một sự việc, sự kiện hay hiện tượng xã hội nào đó mà họ quan tâm
Thứ hai, DLXH không phải là tổng số máy móc các ý kiến cá nhân, mà
nó là sự tích hợp, đại diện, đặc trưng của các ý kiến đó DLXH trong trạng thái toàn vẹn không còn là ý kiến cá nhân nữa, mà nó đã là ý kiến, quan điểm, thái độ chung của nhiều người, được đông đảo mọi người tán thành, ủng hộ
Tin đồn chỉ là một tin tức về một sự việc, sự kiện, hay một hiện tượng có thể
có thật, không có thật hoặc chỉ có một phần sự thật được lan truyền từ người này sang người khác chủ yếu bằng con đường truyền miệng
Tin đồn có thể xuất hiện từ một sự việc, sự kiện có thật, nhưng khi đi qua lăng kính của các chủ thể truyền tin thì nó bị méo mó, sai lệch đi ít nhiều một cách có chủ ý, có thể xuất hiện từ những tin tức hoàn toàn do tưởng tượng ra, được nhào nặn sao cho hấp dẫn, lôi cuốn nhất Tin đồn không phải lúc nào cũng sai nhưng nó là dạng thông tin không chính thức, chưa được kiểm chứng về tính trung thực và do vậy, chủ thể của tin đồn thường không xác định một cách rõ ràng Tin đồn thường là
sự bịa đặt (phao tin, đồn nhảm) Trong quá trình lan truyền từ người này sang người khác luôn có sự thêu dệt, hư cấu, xuyên tạc hoặc thổi phồng một cách quá đáng Tin đồn loang càng xa thì nội dung của nó càng khác với nội dung lúc ban đầu tùy thuộc
Trang 28vào mục đích và lợi ích của chủ thể truyền tin Chính vì thế, tin đồn mang nặng màu sắc chủ quan, định kiến của chủ thể truyền tin
DLXH ngược lại hình thành từ sự việc, hiện tượng có thật thông qua quá trình trao đổi, tranh luận để đi đến ý kiến chung, là sản phẩm của tư duy phán xét của chủ thể mang nó DLXH thể hiện quan điểm, thái độ của chủ thể trước các sự kiện, hiện tượng mà chủ thể đó quan tâm DLXH lúc đầu có thể bao gồm nhiều luồng ý kiến khác nhau nhưng khi làn càng rộng thì càng rõ xu hướng thống nhất về nội dung phán xét hoặc tích tụ lại thành một vài hướng cơ bản
Tin đồn có thể chuyển hóa thành DLXH khi trên cơ sở của tin đồn người
ta đưa ra các phán xét đánh giá bày tỏ ý kiến thái độ của mình, khi thông tin về
sự kiện, hiện tượng mà tin đồn nêu lên được kiểm chứng và các nhóm xã hội có thể tiếp cận với một nguồn tin, trao đổi, bày tỏ ý kiến của mình thông qua con đường tranh luận công khai [27]
Chuẩn mực xã hội là quy tắc điều chỉnh, là thước đo hành vi của cá
nhân và nhóm mà được xã hội chia sẻ Chuẩn mực xã hội chỉ là căn cứ để DLXH đưa ra những đánh giá của mình Còn DLXH chỉ là thái độ xã hội đánh giá về vấn đề xã hội nào đó căn cứ vào các chuẩn mực xã hội Không thể đánh giá, phán xét chỉ dựa trên DLXH song DLXH tạo ra các chuẩn mực xã hội mới và loại bỏ những chuẩn mực đã lỗi thời Như vậy, mỗi khi xuất hiện bất kỳ một hành vi nào khác với những chuẩn mực đang có thì trong xã hội sẽ xuất hiện những ý kiến khác nhau Những ý kiến này căn cứ vào nhận thức của xã hội về
xu thế phát triển, về tính tất yếu của hành vi này DLXH tập hợp các chuẩn mực
xã hội vào thành một hệ thống tạo ra chúng một khuynh hướng tác động mới, nhưng chuẩn mực xã hội thường ổn định hơn so với DLXH Thông thường khi vấn đề xã hội đã được giải quyết thì DLXH sẽ tự mất đi, trong khi đó chuẩn mực
xã hội mà DLXH căn cứ vào đó để đưa ra những đánh giá, nhận xét tồn tại rất lâu và không dễ gì thay đổi [32, tr.75]
Trang 29Dư luận của xã hội là mọi ý kiến khác nhau xuất hiện khi có những vấn
đề xã hội mới nảy sinh Lý do của hiện tượng này là trong mỗi xã hội bao giờ cũng cơ cấu xã hội phức tạp, cơ cấu đó được hình thành bởi các giai cấp, các nhóm tầng lớp khác nhau với những hệ giá trị chuẩn mực đặc thù có thể phù hợp, có thể khác biệt với các giá trị, chuẩn mực chung Tính đa dạng của cơ cấu
xã hội sẽ làm cho dư luận của xã hội càng đa dạng hơn, nghĩa là xã hội càng đa dạng thì càng có nhiều ý kiến về một vấn đề hơn Dư luận của xã hội có được coi
là DLXH hay không tùy theo quan điểm tiếp cận về chủ thể của DLXH Nếu tiếp cận về chủ thể DLXH từ cấp độ nhóm, khi đó hiển nhiên dư luận của xã hội cũng chính là DLXH Ngược lại nếu nhìn DLXH từ cấp độ hệ thống, thậm chí từ cấp
độ các giai, tầng lớn trong xã hội thì có nguy cơ bỏ qua các ý kiến khác nhau của
xã hội Về nguyên tắc dư luận của xã hội có thể phát triển thành DLXH thông qua quá trình ý kiến của các nhóm tương tác với nhau tạo thành một xu hướng ý
kiến chung cho xã hội
1.2.2 Cơ sở (xã, phường, thị trấn)
Theo nghĩa rộng, cơ sở là các đơn vị xã hội nhỏ nhất mà nhân dân tổ chức nên Con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội nên có thể coi gia đình là một tế bào nhỏ nhất của xã hội Đó là cơ sở của xã hội Các cộng đồng dân cư với số lượng người, số lượng gia đình nhiều, ít khác nhau cùng sống trên một phạm vi lãnh thổ nhất định có các tên gọi khác nhau như: làng, xóm, ấp, thôn, bản được coi là tổ chức
cơ sở của xã hội Các cấp cuối cùng, nhỏ nhất của một hệ thống cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội đều được coi là tổ chức cơ sở Theo nghĩa rộng của từ này, có thể hiểu các tổ chức, cơ quan, đơn vị nhất định nào đó có tư cách pháp nhân đầy đủ thì đều là tổ chức cơ sở Theo nghĩa hẹp, cơ sở là cấp chính quyền cuối cùng trong hệ thống chính quyền nhà nước, các pháp nhân công quyền, các pháp nhân kinh tế, bệnh viện, trường học, viện nghiên cứu,… [22, tr.398]
Cơ sở và chính quyền cơ sở có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống chính trị nước ta Qua quá trình đổi mới, Đảng ta ngày càng nhận thức mới về cơ
Trang 30sở, coi cơ sở là hình ảnh tập trung của chế độ dân chủ Cơ sở là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước, là nơi tập trung quyền dân chủ của nhân dân một cách trực tiếp và rộng rãi nhất Chính quyền cơ sở (XPT) là nền tảng của nền hành chính, sát dân, gần dân nhất Cấp chính quyền này ở ngay trong lòng dân, là địa chỉ quan trọng nhất của đường lối, chính sách và pháp luật
1.2.3 Dân chủ và dân chủ cơ sở
Theo Từ điển Xã hội học (nhà xuất bản thế giới 1994) do Nguyễn Khắc Viện chủ biên, thì khái niệm dân chủ (democracy) có nghĩa là: trạng thái tổ chức
xã hội trong đó quyền lực thuộc về nhân dân Thông thường, dân chủ trước hết và chủ yếu là được xem xét về mặt chính trị và pháp luật, nhưng nó dần dần mang ý nghĩa xã hội học, vì dân chủ không chỉ giới hạn vào lĩnh vực chính trị mà còn thể hiện ở các lĩnh vực đời sống xã hội khác (gia đình dân chủ, kinh tế dân chủ, lối sống dân chủ, ) vì dân chủ có liên quan với tất cả các nhóm xã hội.Theo Từ điển Bách khoa mở Wikipedia thì dân chủ là một hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội, trong đó thừa nhận dân là nguồn gốc của quyền lực thông qua một hệ thống bầu cử tự do
Từ khi tư tưởng Mác - Lênin ra đời và phong trào cách mạng vô sản nổi lên tạo ra ý thức hệ đối lập với chủ nghĩa tư bản thì khái niệm dân chủ cũng được chia thành hai thể loại chính: những người ủng hộ cho chủ nghĩa xã hội thường gọi hệ thống dân chủ của các nước thuộc hệ thống tư bản chủ nghĩa là dân chủ tư sản Theo quan niệm này dân chủ thực chất dành cho giai cấp tư sản Còn những người ủng hộ cho khuynh hướng tư bản chủ nghĩa thì phủ nhận cái gọi là dân chủ xã hội chủ nghĩa
Từ điển Triết học, nhà xuất bản Tiến bộ Matxcova (1986) định nghĩa dân chủ như sau: “Dân chủ là một trong những hình thức chính quyền mà điểm đặc trưng là việc tuyên bố chính thức nguyên tắc thiểu số phải phục tùng đa số”
Trang 31Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm dân chủ như dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, dân chủ cộng hòa,… nhưng chúng đều phụ thuộc vào khuynh hướng chính trị và những hoàn cảnh lịch sử cụ thể của các quốc gia Tuy nhiên có hai nguyên tắc mà bất kỳ một định nghĩa dân chủ nào cũng phải dựa vào: Nguyên tắc thứ nhất: tất cả mọi thành viên của xã hội (công dân) đều có quyền tiếp cận quyền lực một cách bình đẳng Nguyên tắc thứ hai: tất cả mọi thành viên (công dân) đều được hưởng các quyền tự do được công nhận rộng rãi trong xã hội
Như vậy, khái niệm dân chủ, tự nó đã bao hàm quyền tự do và bình đẳng, quyền được tham gia vào các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội… hay nói theo một cách khác, dân chủ có nghĩa là quyền lực thuộc về nhân dân thông qua đại diện là nhà nước
Dân chủ cơ sở không phải là hình thức dân chủ mà là cấp độ thực hiện dân chủ thông qua hai hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp [22, tr.399] Phương châm “dân biết, dàn bàn, dân làm, dân kiểm tra” phải được cụ thể hóa ở các cấp độ: trung ương, địa phương và cơ sở
Thực hiện dân chủ cơ sở là việc thừa nhận và thực hiện thường xuyên các quyền làm chủ của công dân; tăng cường tính cộng đồng trách nhiệm giữa Nhà nước và công dân nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của công dân ở cơ
sở [22,tr.399, 400]
Thực hiện dân chủ cơ sở là khâu quan trọng và cấp bách trước mắt cũng như lâu dài ở nước ta Như Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương khóa VIII (6-1997) đã nhấn mạnh: lúc này để giữ vững và phát huy được bản chất tốt đẹp của Nhà nước ta, phải phát huy quyền làm chủ của dân, thu hút nhân dân tham gia quản lý nhà nước, tham gia kiểm kê, kiểm soát, khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, mất dân chủ và nạn tham nhũng
Trang 321.2.4 Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn
Pháp luật về thực hiện dân chủ ở Việt Nam đã hình thành rất sớm ngay từ Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Tuy nhiên pháp luật về dân chủ cơ sở thì ra đời sau Chỉ thị số 30-CT/TW ngày 18/12/1998 của Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam và đây là một bước tiến mới của quá trình mở rộng và phát huy dân chủ của nhân dân Ngày 30/7/1998, Chính phủ
đã ban hành các Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan, doanh nghiệp nhà nước và ở cấp xã Riêng Quy chế thực hiện dân chủ ở xã đã được UBTVQH hội nâng lên thành PLTHDC ở XPT ngày 20/4/2007 Và trong phạm vi luận văn, tác giả chọn nghiên cứu DLXH về thực hiện PLTHDC ở XPT
Điều 1 bản PLTHDC ở XPT quy định những nội dung phải công khai để nhân dân biết; những nội dung nhân dân bàn và quyết định; những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định; những nội dung nhân dân giám sát; trách nhiệm của chính quyền, cán bộ, công chức cấp xã, thôn
và của nhân dân trong việc thực hiện dân chủ ở XPT
Điều 2 quy định những nguyên tắc thực hiện PLDC : 1 Bảo đảm trật tự, kỷ cương, trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật 2 Bảo đảm quyền của nhân dân được biết, tham gia ý kiến, quyết định, thực hiện và giám sát việc thực hiện dân chủ
ở cấp xã 3 Bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân 4 Công khai, minh bạch trong quá trình thực hiện dân chủ ở cấp xã 5 Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước PLTHDC ở XPT bao gồm 6 chương 28 điều quy định về việc dân biết, dân bàn, dân kiểm tra
1.3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
1.3.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội phường Phú Lương
Phú Lương trước đây là một xã thuần nông nghèo thuộc huyện Thanh Oai - tỉnh Hà Tây, được xem là vùng sâu, vùng xa của huyện này Từ năm 1997 đến 2008, khi thị xã Hà Đông được mở rộng và nâng cấp thành thành phố loại ba đến khi hợp nhất Hà Nội và Hà Tây, Thành phố Hà Đông trở thành quận, Phú
Trang 33Lương được nâng lên thành phường Từ một xã thuần nông, Phú Lương được sáp nhập vào khu vực đô thị và có triển vọng thành một địa bàn có tầm chiến lược của Hà Đông cũng như Hà Nội Phú Lương có tích đất tự nhiên rộng với gần 671,5 ha, tổng số hộ gia đình là 5115 (2012) Tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình đạt từ 12.5%/2012, thu nhập bình quân đầu người 16 triệu đồng/người/năm [10]
Là một phường nội thị, việc chuyển đổi mạnh mẽ cơ cấu nền kinh tế theo hướng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ là chủ trương đúng đắn của phường Phú Lương Điều đó đã dẫn đến quá trình đô thị hóa
đã và đang diễn ra ngày một tăng, đặc biệt là những năm gần đây khi nơi đây có nhiều công trình, dự án Trung ương và địa phương về cắm biển
Khi chọn Phú Lương là địa bàn nghiên cứu, tác giả đã xác định đây là một nghiên cứu trường hợp Vì vậy, lý do chọn Phú Lương là địa bàn nghiên cứu không phải xuất phát từ quan điểm cho rằng Phú Lương là phường đại diện cho các đô thị miền Bắc mà vì đây là địa bàn tương đối thuận lợi và phù hợp với điều kiện của tác giả Đây còn là quê hương của tác giả nên đó là điều kiện tốt nhất để nắm bắt và hiểu rõ được tình hình của phường cũng như những nguyện vọng của nhân dân hơn
cả Một lý do khác nữa, Phú Lương đang trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ, có những thay đổi lớn trong chủ trương kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, chuyển đổi mục đích sử dụng đất,… đều là những nội dung liên quan trực tiếp đến cuộc sống của người dân và cần phải có sự bàn bạc dân chủ đưa đến sự đồng thuận cao giữa chính quyền với người dân và trong nội bộ nhân dân với nhau Điều
đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi để hình thành những luồng ý kiến, đánh giá khác nhau
về thực hiện PLTHDC ở phường Đây cũng là địa bàn được coi là có kết quả thực hiện PLDC ở mức trung bình
1.3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội xã Hoàng Diệu
Xã Hoàng Diệu, huyện Chương Mỹ là một xã thuần nông nghèo nằm bên dòng sông Đáy Phía Tây giáp xã Quảng Bị, phía Nam giáp xã Thượng Vực, phía
Trang 34Bắc giáp xã Lam Điền, phía Đông giáp xã Thanh Mai của huyện Thanh Oai Hoàng Diệu là địa bàn rộng, diện tích đất tự nhiên 805,36 héc ta với tổng dân số hộ gia đình là 2512 hộ (2012) với tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm trung bình đạt 10% Tổng giá trị GDP năm 2012 đạt 136.795.000.000 tỷ đồng, thu nhập bình quân đầu người 12,8 triệu đồng/người/năm Hoàng Diệu cũng là xã còn tỷ lệ hộ nghèo tương đối cao, đến ngày 25/12013, toàn xã có 150 hộ nghèo chiếm 6,4%, số hộ cận nghèo
là 116 chiếm 4,94% [12]
Xã gồm có 2 thôn 5 xóm: thôn Bài Trượng, xóm An Vọng, xóm Trại Hiền, thôn Cốc Thượng, xóm Trung Hạ, xóm Trại Hạ, xóm Trại Trung Được bao bọc bởi các xã cũng thuần nông lại nằm cách biệt với các tuyến đường quốc lộ, Hoàng Diệu vẫn giữ được những nét bình yên, êm ả của một làng quê thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng, chưa chịu nhiều tác động của quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá Tuy nhiên, Hoàng Diệu và các làng xã của Chương Mỹ đang dần chuyển mình với
sự nghiệp xây dựng nông thôn mới
Khi chọn Hoàng Diệu là địa bàn nghiên cứu, giống như Phú Lương, tác giả xác định đây là một nghiên cứu trường hợp Vì vậy, lý do chọn Hoàng Diệu là địa bàn nghiên cứu không phải bởi Hoàng Diệu là xã đại diện cho các làng xã thuộc châu thổ Sông Hồng mà vì đây là địa bàn tương đối thuận lợi với điều kiện của tác giả Thêm vào đó, Hoàng Diệu đang trong quá trình xây dựng nông thôn mới, cũng
có những thay đổi lớn trong chủ trương kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, dồn điền đổi thửa, chia lại và giao ruộng đất cho nông dân,… đều là những nội dung liên quan trực tiếp đến cuộc sống của người dân và cũng cần phải có sự bàn bạc dân chủ, sự đồng thuận cao giữa chính quyền với người dân và trong nội bộ nhân dân với nhau Điều đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi để hình thành những luồng ý kiến, đánh giá khác nhau về việc thực hiện PLTHDC ở xã
Trang 35CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ CỦA NGƯỜI VỀ THỰC HIỆN PHÁP LỆNH DÂN CHỦ Ở PHƯỜNG PHÚ LƯƠNG VÀ XÃ HOÀNG DIỆU
2.1 Sự hình thành dư luận xã hội về Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở phường Phú Lương và xã Hoàng Diệu
2.1.1 Các giai đoạn trong quá trình hình thành của dư luận xã hội
Để trở thành DLXH, các hiện tượng, các sự kiện xã hội phải trải qua một số giai đoạn Có thể hình dung con đường này như sau: khi một sự kiện xã hội nào đó xuất hiện và tác động đến số đông thì mỗi người trong số đông đưa ra ý kiến riêng nói lên sự đánh giá của mình, bên tỏng các nhóm xã hội nhỏ nhất hiện các ý kiến tập thể do sự tương tác giữa các ý kiến cá nhân, sau đó chuyển thành DLXH trong các nhóm xã hội lớn Quá trình này gồm các bước:
- Bướ c thứ nhất: các cá nhân, các nhóm xã hội tiếp xúc, làm quen tạo nên cảm giác ban đầu và trao đổi thông tin về các hiện tượng, sự viê ̣c đó
- Bướ c thứ hai: trao đổi, bàn luận về các ý kiến xung quanh đối tượng của
dư luâ ̣n, tại đây ý kiến cá nhân chuyển từ ý thức cá nhân sang ý thức xã hội
- Bướ c thứ ba: các ý kiến khác nhau được thống nhất lại trên những quan điểm cơ bản đề hình thành sự đánh giá chung về các hiê ̣n tượng , các quá trình xã hôi, những đánh giá này thỏa mãn được sự nhâ ̣n đi ̣nh của đa số cô ̣ng đồng người
- Bướ c thứ tư: từ viê ̣c đánh giá dẫn đến sự phán xét về hành đô ̣ng và rút
ra những kiến nghi ̣ trong hoa ̣t đô ̣ng thực tiễn [23, tr.5 - 6]
Các bước đó cho thấy ba giai đoạn phát triển của DLXH như sau: 1) hình thành, 2) thể hiê ̣n, 3) hiê ̣n thực hóa trong thực tế
Trong giai đoạn đầu, thông tin về PLTHDC ở XPT, theo con đường phát, nhận và trả lời bảng hỏi, được truyền đạt đến các cá nhân Trong giai đoạn thứ 2, trên cơ sở nhận thức của mình, các cá nhân bắt đầu đưa ra các ý kiến phán xét, đánh giá có thể rất khác nhau, thậm chí đối lập nhau về PLDC Thông thường, sự trao đổi, cọ sát ý kiến giữa các cá nhân trong giai đoạn 3 sẽ dẫn tới sự hình thành các luồng ý kiến đánh giá chung Trên cơ sở đó dẫn đến những nhận xét về việc
Trang 36thực hiện PLDC và rút ra những giải pháp, kiến nghị trong thực tiễn hay nói cách khác, đó là DLXH
Tuy nhiên, theo các nhà tâm lý học, cơ chế hình thành DLXH về PLTHDC qua cách trên diễn ra rất nhanh Khi tiếp nhận các thông tin từ bảng hỏi, các phán xét giống nhau ở mọi người được “bật ra” hầu như cùng một lúc, không cần giai đoạn tranh luận, trao đổi thông tin Nền tảng của các phản ứng này là các khuôn mẫu tư duy xã hội về thực hiện dân chủ ở cơ sở đã được định hình, tồn tại trong tiềm thức và gắn kết với tâm thế xã hội
Việc hình thành và thể hiện DLXH nói chung và DLXH về PLTHDC ở XPT
ở Việt Nam hiện nay gắn liền với công cuộc đổi mới đất nước Không khí dân chủ trong sinh hoạt chính trị và trong hoạt động quản lý xã hội phản ánh vào tình trạng của DLXH, tạo nên tính năng động của DLXH đối với thực tiễn đời sống Co chế
“dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” là một cách tốt, nhằm tăng cường sự tham gia của quần chúng nhân dân vào đời sống xã hội và phát huy vai trò của DLXH trong công cuộc đổi mới [22,tr.53]
2.1.2 Các yếu tố tác động đến quá trình hình thành dư luận xã hội
DLXH nói chung và DLXH về PLTHDC ở Phú Lương và Hoàng Diệu đươ ̣c hình thành dựa vào tính chất , quy mô của các hiê ̣n tượng , các quá trình x ã
hô ̣i trong đó có tính chất lợi ích và tính chất công chúng là quan tro ̣ng nhất PLTHDC ở XPT là một trong những văn bản quy định đến những quyền, lợi ích trực tiếp, sát sườn của nhân dân, vì thế được nhân dân rất quan tâm
Hê ̣ tư tưởng, trình đô ̣ hiểu biết, năng lực văn hóa có vi ̣ trí quan tro ̣ng đối với viê ̣c hình thành DLXH về thực hiện PLDC ở phường Phú Lương và xã Hoàng Diệu Ở đây, hệ tư tưởng giữ vai trò nổi bâ ̣t Trong nghiên cứu của luận văn, đảng tịch là một trong những yếu tố có tác động mạnh tới những đánh giá, phán xét của người dân tới việc thực hiện PLDC Trình độ hiểu biết của công chúng, nhóm xã hội cũng là yếu tố tác động đến nội dung và sắc thái của DLXH trên Sự hiểu biết nhiều hay ít, sâu sắc hay không sâu sắc của công chúng, nhóm xã hội đối với PLDC quyết định sự đánh giá đúng hay sai của công chúng, nhóm xã hội đối với bản Pháp
Trang 37lệnh Một trong những yếu tố nhận thức có ảnh hưởng khá phổ biến đến sự phán xét của DLXH, đó là khuôn mẫu tư duy xã hội
Mọi định nghĩa giản đơn, ngắn gọn, phổ cập về PLDC đều có thể được coi là khuôn mẫu tư duy Sự tồn tại của các khuôn mẫu tư duy là cần thiết, không
có nó sẽ không có hành động xã hội Chỉ có các khái quát, phán xét, suy lý phổ biến trong xã hội (hoặc trong một cộng đồng, nhóm xã hội) mới có thể trở thành khuôn mẫu tư duy xã hội DLXH là phương thức tồn tại của khuôn mẫu tư duy
xã hội Để chủ động hình thành DLXH trước hết phải hình thành các khuôn mẫu
tư duy xã hội Khi đã có khuôn mẫu tư duy xã hội, DLXH mà chúng ta muốn có
sẽ tự khắc bật ra khi gặp bối cảnh tương ứng
Sự tham gia c ủa quần chúng đối với các sinh hoa ̣t chính tri ̣ xã hô ̣i , thái
đô ̣ cởi mở, tinh thần dân chủ trong các sinh hoa ̣t này được coi là những tác nhân kích thích tính tích cực của quần chúng để thể hiê ̣n DLXH
Những nhân tố tâm lý như không khí đa ̣o đức trong tâ ̣p thể lao đô ̣ng, thói quen, tâm trạng, ý chí, thái độ đồng tình hay phản đối của các cộng đồng người đều có tác động đến sự hình thành dư luâ ̣n xã hô ̣i [21,tr.6]
Các phương tiện truyền thông đại chúng chứng tỏ rõ ưu thế trong việc hình thành, thể hiện DLXH và thông qua DLXH tác động đến cơ chế “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra” [22, tr.53] Hiệu quả của truyền thông đến quá trình hình thành DLXH phụ thuộc vào nhiều yếu tố như uy tín của nguồn thông tin; thời điểm phát tin Các thông tin về việc PLDC và thực hiện PLDC qua các phương tiện truyền thông đã có tác động đến các ý kiến, đánh giá của người dân đối với thực hiện PLDC Bảng hỏi tác giả đưa đến người dân hai địa bàn nghiên cứu là một “cú huých” để họ bộc lộ các đánh giá, nhận xét,…về việc thực hiện PLDC ở XPT
Trang 382.2 Sự quan tâm, mức độ nắm rõ và thái độ của người dân phường Phú Lương và xã Hoàng Diệu đối với Pháp lệnh thực hiện dân chủ
2.2.1 Sự quan tâm của người dân phường Phú Lương và xã Hoàng Diệu đối với Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn
QCDC cơ sở là một khái niệm được hình thành từ thực tế hoạt động kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội ở cơ sở trong thập niên 90 của thế kỷ 20 tại Việt Nam Đến năm 2007, QCDC cơ sở được nâng lên thành PLTHDC ở XPT Người dân vẫn thường nhắc đến bản Quy chế hay Pháp lệnh với cụm từ “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” Kết quả điều tra cho thấy tuyệt đại đa số người được hỏi của phường Phú Lương và xã Hoàng Diệu (chiếm tỷ lệ 85.5%) trả lời có biết về PLTHDC ở XPT Chỉ có 11.2% số người trả lời không biết
Biểu đồ 2.1 Tỷ lệ người biết về PLTHDC ở XPT (%)
88.5
11.5
Có biết về PLTHDC
ở XPT Không biết về PLTHDC ở XPT
(Nguồn: Kết quả xử lý bảng hỏi)
Các số liệu trên cho thấy, công tác TT, PB về PLTHDC ở XPT đã được triển khai tương đối rộng rãi Bản Pháp lệnh được ban hành là công cụ hữu hiệu để người dân thực hiện quyền làm chủ của mình đối với các hoạt động và công việc của chính quyền cấp cơ sở Đó đồng thời vừa là quyền, nghĩa vụ và lợi ích sát sườn của chính người dân Vì thế, PLTHDC ở XPT đã nhận được sự quan tâm của đông đảo tầng lớp nhân dân Kết quả điều tra cho thấy, có tới 94.1% số người biết đến bản Pháp lệnh trả lời có quan tâm đến các nội dung của Pháp lệnh
Trang 39Tuy nhiên sự quan tâm của người dân đến từng nội dung cụ thể của bản
Pháp lệnh lại có sự cao thấp khác nhau Đối với nội dung công khai, phổ biến các
công việc, hoạt động chung nhận được sự quan tâm của nhiều người dân nhất
(52.7% số người tỏ thái độ Rất quan tâm) Tiếp đến là nội dung Nhân dân tham
gia bàn bạc, góp ý đối với các công việc, hoạt động chung với 49.1% số người Rất
quan tâm Thứ ba là nhân dân tham gia kiểm tra, giám sát các công việc, hoạt
động chung của cấp xã, thôn (39.1%) Nhân dân tham gia thực hiện các công việc, hoạt động chung của cấp thôn, xã là nội dung được ít người quan tâm nhất
(chỉ có 34% số người rất quan tâm)
Biểu đồ 2.2 Thực trạng về sự quan tâm của người dân đến các nội dung của PLTHDC
(Nguồn: Kết quả xử lý bảng hỏi)
Các con số trên đã thể hiện nhu cầu thông tin về hoạt động, công việc ở cấp thôn, xã của người dân là rất lớn Chúng cũng khẳng định, người dân đã có sự tham gia đóng góp ý kiến xây dựng và quản lý đối với chính quyền ở cơ sở Song, việc nhân dân thực hiện các công việc, hoạt động mà họ đã được biết, được bàn bạc lại chưa được đông đảo người dân quan tâm Điều này có nhiều nguyên nhân, một trong số đó, có thể xuất phát từ nhận thức và tính tích cực của mỗi người dân Tuy nhiên, những công việc, một khi người dân đã được biết, và người dân lại tham gia bàn bạc, góp ý thì việc họ chưa quan tâm nhiều đến thực hiện những công việc ấy cần phải xem xét đến công tác tổ chức cho người dân thực hiện
Trang 40Khi xem xét sự quan tâm đến nội dung nhân dân tham gia thực hiện các
công việc, hoạt động chung của cấp thôn, xã với trình độ học vấn của người dân, với
hệ số p = 0.519 >0.05 tác giả nhận thấy, không có mối tương quan nào, nghĩa là trình
độ nhận thức của người dân không ảnh hưởng đến sự quan tâm của họ đến việc tham gia thực hiện các công việc, hoạt động chung
Khi xem xét mức độ tương quan giữa tính tích cực tham gia các công việc chung của người dân với sự quan tâm đến việc tham gia các công việc ấy, hệ số p = 0.234 >0.05 cho kết quả, tính tích cực của người dân không ảnh hưởng đến việc họ
có quan tâm đến việc có tham gia vào các công việc, hoạt động chung hay không Điều đó, có nghĩa là, cho dù người dân có hay không tích cực tham gia vào thực hiện các công việc của cấp xã và cộng đồng dân cư thì họ vẫn có thể quan tâm đến nội dung trên của Pháp lệnh
Như vậy có thể thấy, việc chưa có nhiều người dân quan tâm đến nội dung
“dân làm” trước hết có nguyên nhân xuất phát không phải từ phía người dân
2.2.2 Mức độ nắm rõ của người dân phường Phú Lương và xã Hoàng Diệu
về Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn
Một vấn đề đặt ra là bản Pháp lệnh đã được đại đa số người dân biết và quan tâm đến nhưng thái độ và mức độ nắm rõ nội dung bản Pháp lệnh của họ đến đâu mới là điều cần phải quan tâm
PLTHDC ở XPT đã thu hút được đông đảo tầng lớp nhân dân quan tâm, nên có 47.8% người biết về bản Pháp lệnh trả lời “đã nắm rõ” và chỉ có 7% nói rằng
“hầu như chưa rõ” Tuy nhiên cũng có tới 45% số người cho biết họ chỉ nắm được một phần nội dung của Pháp lệnh Trong số nắm rõ thì tập trung vào những người là cán bộ ở cấp thôn, xã; hưu trí; đảng viên, có độ tuổi và trình độ học vấn cao Tỷ lệ này ở xã Hoàng Diệu cao hơn phường Phú Lương