1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài trên báo chí hiện nay (Khảo sát các tờ báo in Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ TP Hồ Chí Minh, Gia đình và Xã hội từ

130 1,2K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Tìm hiểu quan điểm của các cô dâu lấy chồng ngoại, của các nhà quản lý báo chí, của một số quan chức nhà nước về chất lượng tác phẩm báo chí truyền thông về vấn đề kết hôn với người nư

Trang 1

VẤN ĐỀ PHỤ NỮ VIỆT NAM KẾT HÔN VỚI NGƯỜI

NƯỚC NGOÀI TRÊN BÁO CHÍ HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ

Hà Nội - 2012

Trang 2

2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

ĐẶNG HƯƠNG GIANG

VẤN ĐỀ PHỤ NỮ VIỆT NAM KẾT HÔN VỚI NGƯỜI

NƯỚC NGOÀI TRÊN BÁO CHÍ HIỆN NAY

(Khảo sát các tờ báo in: Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ TP Hồ Chí Minh,

Gia đình và Xã hội từ năm 2007 đến năm 2011)

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Báo chí học

Mã số: 60.32.01

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Thoa

Hà Nội - 2012

Trang 3

4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 7

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ KẾT HÔN VỚI NGƯỜI NƯỚC NGOÀI 13

1.1 Các khái niệm 13

1.1.1 Kết hôn 13

1.1.2 Kết hôn có yếu tố nước ngoài 15

1.1.3 Kết hôn kiểu truyền thống 18

1.1.4 Kết hôn kiểu hiện đại 21

1.2 Đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, Hiến pháp, pháp luật quy định về kết hôn với người nước ngoài 23

1.3 Thực trạng hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam hiện nay 26

Tiểu kết chương 1 29

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ PHỤ NỮ VIỆT NAM KẾT HÔN VỚI NGƯỜI NƯỚC NGOÀI 30

2.1 Báo chí thông tin về vấn đề phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài 30

2.2 Giới thiệu về các báo khảo sát 32

2.2.1 Báo Phụ nữ Việt Nam 32

2.2.2 Báo Gia đình và Xã hội 33

2.2.3 Báo Phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh 33

2.3 Các hình thức kết hôn 35

2.3.1 Qua môi giới hôn nhân 35

2.3.2 Qua trao đổi mua- bán 42

2.3.3 Tự nguyện kết hôn 43

2.4 Thông tin dưới góc nhìn văn hóa 44

2.5 Thông tin dưới góc nhìn truyền thông 47

2.6 Thông tin dưới góc nhìn giới và phát triển 49

2.7 Thông tin dưới góc nhìn chính trị và xây dựng hình ảnh quốc gia 50

2.8 Thông tin về cuộc sống hạnh phúc của hôn nhân có yếu tố nước ngoài 54

2.9 Phản ánh về bi kịch trong các cuộc hôn nhân 58

2.9.1 Bị bạo hành 58

Trang 4

5

2.9.2 Bị giết 61

2.9.3 Bị bóc lột sức lao động và cưỡng bức mại dâm 63

2.9.4 Nguyên nhân dẫn đến những bi kịch trong các cuộc hôn nhân có yếu tố nước ngoài 66

2.10 Tác động của thông tin về vấn đề phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài đối với đời sống xã hội 70

2.10.1 Các cơ quan chức năng đã vào cuộc 71

2.10.2 Cảnh báo, ngăn chặn hành vi tiêu cực trong vấn đề kết hôn với người nước ngoài 79

2.10.3 Tạo ra dư luận xã hội 81

2.11 Hình thức thông tin 87

2.11.1 Theo dòng chảy của sự kiện 87

2.11.2 Theo kế hoạch tuyên truyền thường kỳ của cơ quan báo chí 88

2.11.3 Ngôn ngữ thể hiện 88

2.11.4 Thể loại 89

2.12 Đánh giá chung 91

Tiểu kết chương 2 93

CHƯƠNG 3 KINH NGHIỆM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BÁO CHÍ VỀ VẤN ĐỀ PHỤ NỮ VIỆT NAM KẾT HÔN VỚI NGƯỜI NƯỚC NGOÀI 93

3.1 Bài học kinh nghiệm nghề nghiệp rút ra từ việc nghiên cứu đề tài 93

3.2 Các giải pháp nâng cao chất lượng báo chí về vấn đề kết hôn với người nước ngoài của phụ nữ Việt Nam 97

3.2.1 Đối với cơ quan báo chí 97

3.2.2 Đối với các cơ quan chức năng 103

3.2.3 Sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng trong chiến dịch truyền thông 104

3.2.4 Bản thân đương sự và gia đình họ 107

Tiểu kết chương 3 110

KẾT LUẬN 111

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 114

Trang 5

6

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

DANH MỤC CÁC BẢNG:

Bảng 1.1: Số liệu thống kê hoạt động hộ tịch năm 2010 của Bộ Tư pháp 26

Bảng 2.1: Mức độ tiếp nhận báo chí của chị em có nhu cầu lấy chồng nước ngoài 68

Bảng 2.2: Nhu cầu tìm hiểu thông tin của phụ nữ kết hôn với người nước ngoài 69

Bảng 2.3: Nguyên nhân phụ nữ không quan tâm đọc báo 70

Bảng 2.4: Các chủ trương, việc làm mà cấp uỷ đảng địa phương đã làm về vấn đề phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài 77

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ: Biểu đồ 2.1: Cách thức kết hôn với người nước ngoài 37

Biểu đồ 2.2 34 38

Biểu đồ 2.3 34

Biểu đồ 2.4: Tương quan nhóm đối tượng - đã từng nghe thông tin và đã từng tham dự hoạt động TTGD về HNCYTNN 77

Biểu đồ 2.5: Mức độ đánh giá về sự quan tâm của cấp uỷ đảng địa phương về vấn đề phụ nữ lấy chồng nước ngoài 78

Trang 6

Tư pháp, từ 1995 đến hết năm 2010 vừa qua, đã có trên 270.000 công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài hoặc kết hôn với công dân Việt Nam định cư tại nước ngoài, trong đó, có trên 80% trường hợp là phụ nữ Việt Nam đã kết hôn với công dân của hơn 50 quốc gia và vùng lãnh thổ Nếu ở giai đoạn đầu, từ năm 1995- 1999, mỗi năm có khoảng vài ngàn phụ nữ lấy chồng ngoại, tuy con số này

có xu hướng tăng đều hàng năm nhưng chưa tạo ra “cơn sốt”, bắt đầu từ năm 2000 trở đi thì hiện tượng phụ nữ Việt Nam lấy chồng ngoại mới trở thành “cơn sốt” thực sự

Trên thực tế, việc phụ nữ lấy chồng ngoại không phải lúc nào cũng giống tưởng tượng của các cô như trong phim về cuộc sống tốt đẹp nơi chân trời mới, với người chồng mơ ước và bao dự định hoài bão về “miền đất hứa” Rất nhiều chuyện bất cập diễn ra xung quanh việc cô dâu Việt lấy chồng ngoại, như: bị môi giới lừa bán vào các ổ mại dâm, bị bóc lột sức lao động, lạm dụng tình dục, bị đánh đập và hành hạ dã man, thậm chí dẫn đến cái chết thương tâm nơi đất khách quê người

Ở Việt Nam, từ nhiều năm trước, dư luận xã hội và báo chí cũng đã nhiều lần lên tiếng và cảnh báo trước hiện tượng phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài ngày càng gia tăng Từ năm 1995 đến nay, hàng trăm bài báo ở Việt Nam đã điều tra các đường dây tuyển các thôn nữ đem về thành phố Hồ Chí Minh

“nuôi nhốt” trong những phòng trọ, cho những người đàn ông lớn tuổi, tật nguyền

từ Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, đến tuyển lựa Chưa kể hàng trăm bài báo

mô tả cảnh cô dâu Việt Nam ở Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc bị ngược đãi, làm vợ tập thể, phải trốn về nước Tuy nhiên, không chỉ dư luận xã hội trong nước mà dư luận xã hội ở nước ngoài cũng không tán đồng với những bài viết xúc phạm nhân phẩm các cô dâu Việt Nam lấy chồng nước ngoài

Các phương tiện truyền thông đại chúng không chỉ phản ánh thực trạng

Trang 7

8

đời sống hôn nhân có yếu tố nước ngoài, mà còn cho thấy quy trình của việc tuyển chọn “cô dâu” Bên cạnh đó, điểm nổi bật qua các bài viết trên phương tiện truyền thông đại chúng cũng cho thấy đã có sự biến đổi về quan niệm, về giá trị hôn nhân

có yếu tố nước ngoài

Hôn nhân với người nước ngoài là một xu thế tất yếu trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay Không thể duy ý chí trong việc muốn hay không muốn có hiện tượng kết hôn với người nước ngoài Đây là một vấn đề bình thường trong quá trình phát triển, giao lưu và hội nhập kinh tế, văn hoá Điều quan trọng là, làm thế nào để giảm thiểu những rủi ro cho những phụ nữ kết hôn với người nước ngoài? Vấn đề này phụ thuộc một phần không nhỏ vào vai trò của báo chí trong việc truyền thông giúp người dân (mà đặc biệt là đối tượng phụ nữ) có cái nhìn thấu đáo và sâu sắc bản chất của vấn đề trước khi đi đến những quyết định cho cuộc sống hôn nhân của mình

Từ những lý do nêu trên, chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu “ Vấn đề

phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài trên báo chí hiện nay” (Khảo

sát Báo Phụ nữ Việt Nam, Báo Phụ nữ TP Hồ Chí Minh, Báo Gia đình và Xã hội

từ năm 2007- 2011), với mong muốn nâng cao hơn nữa chất lượng tuyên truyền và

giáo dục cho phụ nữ về vấn đề kết hôn với người nước ngoài trên báo chí hiện nay

2 Lịch sử nghiên cứu

Hiện tượng phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài đã trở thành một vấn đề nóng của xã hội trong vài thập niên trở lại đây, cho nên đề tài này đã nhận được sự quan tâm, chú ý của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước Nhiều công trình nghiên cứu khoa học được công bố, nhiều tài liệu, sách báo cũng đã được xuất bản

Có thể khái quát lại thành các nhóm sau đây:

Một là, các luận án, luận văn: “Pháp luật về kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam, thực trạng và giải pháp” (luận văn thạc sĩ luật học của Nguyễn Thị

Hương năm 2004);“Hôn nhân có yếu tố nước ngoài nhìn từ khía cạnh văn hóa”

(luận án tiến sĩ sử học chuyên ngành dân tộc học của Ngô Văn Lệ năm 2006 );

“Pháp luật về hôn nhân giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài (khóa luận

tốt nghiệp cử nhân của Bùi Thị Tố Nga, 2000); Luận văn thạc sĩ luật học về Hôn nhân trái pháp luật - Căn cứ xác định và biện pháp xử lý (năm 1998) của Ngô Thị Hường; Luận văn thạc sĩ luật học về Chế định ly hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam (năm 1997) của Vũ Thị Hằng; Luận văn tốt nghiệp cử nhân luật về Vấn

Trang 8

9

đề ly hôn giữa công dân Việt Nam mà một bên đương sự ở nước ngoài (năm 2000) của Đinh Thị Luyến,… Các công trình khoa học chủ yếu tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam

Hai là, một số chuyên khảo, chuyên luận và sách nghiên cứu của các nhà

khoa học được đăng trên các báo, tạp chí đề cập đến vấn đề phụ nữ Việt Nam lấy

chồng ngoại như : Công trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước “Hiện tượng phụ

nữ Việt Nam lấy chồng Đài Loan” do PGS.TS Phan An chủ trì năm 2005 Công

trình đã kéo dài hơn 2 năm với nhiều khảo sát, phỏng vấn cũng như nghiên cứu từ thực trạng lấy chồng Đài Loan của các cô gái Việt Nam (chủ yếu là ở Đồng bằng sông Cửu Long và Tây Ninh) Trong công trình này, ông Phan An đã nhận định:

Do việc tổ chức chưa bài bản, chuyên nghiệp nên chuyện lấy chồng có yếu tố nước ngoài nảy sinh một số vấn đề tiêu cực: Thứ nhất là đã tạo ra một lực lượng môi giới bất hợp pháp, kiếm lợi nhuận cao từ việc môi giới hôn nhân với người nước ngoài Thứ hai là đã có những tổ chức trong và ngoài nước lợi dụng danh nghĩa này để buôn bán phụ nữ Việt Nam sang nước thứ 3 Điều này đòi hỏi cần phải có

sự quản lý chặt từ phía các cơ quan nhà nước; Cuốn sách có tựa đề “Chuyện kể về

Hôn nhân giữa hai nền văn hóa” được xuất bản vào tháng 8/2009 của Tiến sĩ

người Úc gốc Việt Nathalie Huỳnh Châu Nguyễn mô tả quan điểm và kinh nghiệm của những người phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài, đó là những cuộc hôn nhân giữa hai người đến từ hai nền văn hóa khác biệt nhau Những người phụ nữ này sẵn sàng phản đối lại những khuôn mẫu dập khuôn về văn hóa và không chỉ chọn người hôn phối là người ngoại quốc mà còn đưa ra những quyết định và lựa

chọn theo cách riêng của mình trong bối cảnh giao thoa văn hóa; Sách “Quan hệ

hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế” của Tiến sĩ Nông Quốc Bình, xuất bản năm 2006 cũng phân tích và đánh giá

rất kỹ lưỡng đặc trưng phổ biến của những cuộc hôn nhân có yếu tố nước ngoài trong giai đoạn hiện nay

Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam là một tổ chức chính trị xã hội đã có nhiều động thái tích cực nhằm ngăn ngừa các vi phạm và cải thiện tình hình kết hôn giữa phụ nữ Việt Nam với người nước ngoài Hội đã tiến hành một nghiên cứu về

“Thực trạng kết hôn giữa phụ nữ Việt Nam với người Đài Loan: tại các tỉnh

Trang 9

10

Tây Ninh, Đồng Tháp, An Giang năm 2004, tổ chức Hội thảo quốc gia về vấn đề

“Phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài” tại thành phố Hồ Chí Minh tháng 6/2006 nhằm tìm giải pháp về vấn đề phụ nữ kết hôn với người nước ngoài cùng nhiều hội thảo, diễn đàn cấp Trung ương và địa phương liên quan đến vấn đề kết hôn với người nước ngoài

Ba là, các bài viết đăng trên các báo, tạp chí : Số chuyên đề của Tạp chí

Dân chủ và pháp luật thuộc Bộ Tư pháp về Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; Giới thiệu nội dung cơ bản của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 do TS Đinh Trung Tụng là chủ biên, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2000; Một số bài viết của Thái Công Khanh như: vấn đề quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân, số 4/2000, hoặc Bàn về giám hộ trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, đăng trên Tạp chí Tòa án, số

12/2000; “Phụ nữ Việt Nam lấy chồng Hàn Quốc: những cuộc hôn nhân không

tình yêu và bao nỗi khó khăn”, Vietnamnet, thứ 5, 30/08/2007; “Để làm lành mạnh hóa quan hệ hôn nhân giữa cô dâu Việt Nam và chồng Hàn Quốc: Cần sự

nỗ lực từ hai phía” của Đỗ Hoa (Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, 22/05/2006);

“Nguyên nhân của phụ nữ đồng bằng sông Cửu Long kết hôn với người Đài Loan” của Trần Thị Kim Xuyến (Tạp chí Xã hội học số 1(89) 2005); “Trở lại chuyện phụ nữ Việt Nam lấy chồng Đài Loan” của Phan An (Tập san KHXH&N

V, số 39, tháng 6-2007); “Kết hôn có yếu tố nước ngoài lên bàn nghị sự”,

Vietnamnet, 2005; Đặc biệt trong tháng 4 đến tháng 6/2006, trên nhiều trang báo

đã nóng lên với những bài viết: “Bi kịch từ cơn sốt lấy chồng Đài Loan” (Báo Vietnamnet ngày 25/5/2006), phản ứng của một số tờ báo như Tuổi trẻ TP Hồ Chí Minh, Báo Phụ nữ Việt Nam về bài viết “Các cô Việt Nam đến Hàn Quốc – mảnh đất của hy vọng” đăng trên báo Chosun- Hàn Quốc tháng 4/2006, và trong tháng 12/2006,…

Phần lớn các công trình nghiên cứu và các bài viết này đều đề cập đến bức tranh toàn cảnh về thực trạng phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài nhìn từ nhiều góc độ khác nhau, nhưng chủ yếu vẫn là mặt trái của vấn đề Đó là những bi kịch đau lòng với nhiều câu chuyện thương tâm về số phận của những cô gái chưa chuẩn bị hành trang kỹ lưỡng cho những cuộc hôn nhân xuyên biên giới Các công trình nghiên cứu đó là nguồn tư liệu quý để tác giả tham khảo phục vụ cho quá trình nghiên cứu đề tài Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên

Trang 10

11

cứu hệ thống và riêng biệt về vấn đề phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài được phản ánh trên báo chí hiện nay, do đó đề tài của luận văn vẫn là một góc tiếp cận mới mẻ và có giá trị thực tiễn

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng vấn đề phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài trên báo in nhằm đưa ra một số giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng truyền thông về vấn đề này trên báo chí, góp phần thay đổi nhận thức

và hành vi cho những đối tượng phụ nữ có ý định kết hôn với người nước ngoài

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu tài liệu về những vấn đề lý luận, thực tiễn,….có liên quan đến đề tài

- Khảo sát các tác phẩm báo chí về thực trạng vấn đề phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài trên Báo Phụ nữ Việt Nam, Báo Phụ nữ TP Hồ Chí Minh, Báo Gia đình và Xã hội (từ 2007- 2011)

- Tìm hiểu quan điểm của các cô dâu lấy chồng ngoại, của các nhà quản lý báo chí, của một số quan chức nhà nước về chất lượng tác phẩm báo chí truyền thông về vấn đề kết hôn với người nước ngoài của phụ nữ Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

- Phỏng vấn công chúng báo chí, các cô dâu lấy chồng ngoại, các nhà quản

lý báo chí, các quan chức nhà nước

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác thông tin tuyên truyền về vấn đề phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài trên báo chí

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu về vấn đề phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài trên báo in

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Giới hạn vấn đề nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng vấn

đề phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài trên báo in thông qua:

- Khảo sát Báo Phụ nữ Việt Nam, Báo Phụ nữ TP Hồ Chí Minh, Báo Gia đình và Xã hội từ năm 2007- 2011

Trang 11

12

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu chủ yếu dựa trên những quan điểm của Nhà nước, pháp luật về vấn đề phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài, lý luận báo chí truyền thông và các kiến thức khoa học liên ngành

- Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

+ Phương pháp nghiên cứu, phân tích tài liệu có liên quan đến đề tài

+ Phương pháp khảo sát, thống kê phân loại, phân tích các tác phẩm báo chí + Phương pháp điều tra xã hội học

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

- Đề tài nghiên cứu tương đối có hệ thống về vấn đề phụ nữ Việt Nam kết

hôn với người nước ngoài trên báo in, có ý nghĩa đối với cơ quan báo chí trong việc xác lập kế hoạch và thủ pháp nghề nghiệp trong việc tuyên truyền vấn đề phụ

nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài

- Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho các nhà quản lí báo chí trong việc tuyên truyền vấn đề phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài trên báo chí, cho sinh viên báo chí và những người quan tâm tới đề tài này

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương nội dung chính:

Chương 1: Cơ sở lý luận về vấn đề kết hôn với người nước ngoài

Chương 2: Thực trạng vấn đề phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài Chương 3: Kinh nghiệm và giải pháp nâng cao chất lượng báo chí về vấn

đề phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài

Trang 12

lý, kết hôn trước hết là quyền con người và quyền được pháp luật bảo vệ trên cơ sở các quy định của pháp luật Để bảo vệ quyền kết hôn của con người, pháp luật về HNGĐ của hầu hết các nước trên thế giới đều ghi nhận quyền được kết hôn của mọi người khi có đầy đủ các điều kiện mà pháp luật quy định, đồng thời việc tiến hành kết hôn phải theo đúng các quy định của pháp luật

Kết hôn là quyền dân sự của cá nhân được quy định trong bộ Luật Dân sự năm 2005 (Điều 24, Điều 39) [2, tr.11], theo đó nam và nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật về HNGĐ có quyền tự do kết hôn, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào, không ai được cản trở hôn nhân tự nguyện tiến bộ hoặc cưỡng ép kết hôn Muốn kết hôn, hai bên nam nữ phải thể hiện ý chí của mình là mong muốn được xác lập quan hệ vợ chồng Sự bày tỏ ý chí thể hiện trong việc xin đăng ký kết hôn tại cơ quan đăng ký có thẩm quyền, trong đó thể hiện rõ ràng họ hoàn toàn mong muốn được kết hôn với nhau Cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn xem xét yêu cầu đăng ký kết hôn của nam nữ, nếu các bên chủ thể

có đủ điều kiện kết hôn thì tiến hành đăng ký việc kết hôn, ghi vào sổ kết hôn và cấp Giấy chứng nhận kết hôn cho nam nữ Giấy chứng nhận kết hôn là cơ sở pháp

lý ghi nhận rằng hai bên nam nữ đã phát sinh quyền và nghĩa vụ vợ chồng, đồng thời là cơ sở pháp lý để xác định chủ thể các quan hệ giữa vợ và chồng và là cơ sở

để xác định thời điểm phát sinh các quan hệ đó

Kết hôn là cơ sở, tiền đề cho việc tạo ra gia đình- tế bào của xã hội Pháp luật điều chỉnh kết hôn là tổng thể các quy phạm điều chỉnh việc liên kết giữa nam

và nữ và nhằm xác lập nên quan hệ vợ chồng Trong bất kỳ xã hội có giai cấp

Trang 13

14

nào, pháp luật cũng luôn là công cụ hữu hiệu điều chỉnh quan hệ kết hôn Mặc dù

có sự khác nhau trong nội dung của các quy phạm pháp luật của các nước về vấn

đề kết hôn nhưng nhìn chung pháp luật về kết hôn tập trung vào hai vấn đề pháp lý

cơ bản: điều kiện kết hôn và nghi thức kết hôn

Điều kiện kết hôn: Theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học thì “điều

kiện kết hôn” là điều kiện để Nhà nước công nhận việc kết hôn của các bên nam

nữ [81] Như vậy, điều kiện kết hôn được hiểu là những đòi hỏi của pháp luật đặt

ra đối với các chủ thể khi kết hôn và chỉ khi các chủ thể đáp ứng được đầy đủ các điều kiện đó thì việc kết hôn mới hợp pháp và được pháp luật bảo vệ Trong hệ thống pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới, việc xác định tính hợp pháp của các điều kiện kết hôn được đề cập tới các vấn đề: ý chí, tuổi tác, sức khỏe, tình trạng hôn nhân, quan hệ thân thuộc….của các bên

Nghi thức kết hôn: Nghi thức kết hôn là trình tự tiến hành chính thức nhằm

thiết lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật Tùy thuộc vào nền kinh tế, văn hóa và các điều kiện xã hội mà pháp luật các nước khác nhau quy định nghi thức kết hôn khác nhau: Nghi thức kết hôn tôn giáo, nghi thức kết hôn dân sự….Nghi thức kết hôn tôn giáo là hình thức kết hôn được tiến hành trước những người đại diện cho tôn giáo theo thủ tục và quy định của tôn giáo đó Nghi thức kết hôn dân sự là nghi thức được tiến hành trước cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước Khi các bên có đủ điều kiện kết hôn thì cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước sẽ cấp giấy đăng ký kết hôn cho các bên và ghi vào sổ đăng ký kết hôn Nếu các bên chủ thể khi đăng ký kết hôn không đáp ứng các yêu cầu về điều kiện kết hôn và nghi thức kết hôn thì không được pháp luật công nhận và bảo vệ

Trang 14

15

1.1.2 Kết hôn có yếu tố nước ngoài

1.1.2.1 Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

Theo quy định tại Điều 758 Bộ Luật Dân sự năm 2005 “Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài” [2, tr.216] Việc xác định đó là quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài là dựa vào yếu tố quốc tịch, sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi chấm dứt quan hệ hôn nhân

Như vậy, xét về mặt bản chất, quan hệ HNGĐ có yếu tố nước ngoài cũng là loại quan hệ dân sự, song, nó khác cơ bản với các quan hệ dân sự thông thường là luôn có yếu tố nước ngoài và khi phát sinh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài thường dẫn đến hiện tượng xung đột pháp luật Có thể thấy quan hệ HNGĐ có yếu

tố nước ngoài được quy định tại khoản 14 Điều 8 Luật HNGĐ năm 2000 là sự vận dụng Điều 758 Bộ LDS năm 2005 (Điều 826 của Bộ LDS năm 1996) và có thể hiểu: quan hệ HNGĐ có yếu tố nước ngoài là quan hệ HNGĐ phát sinh giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài hoặc giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam, hoặc giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó phát sinh ở nước ngoài, hoặc tài sản liên quan đến quan

hệ đó ở nước ngoài

Theo đó, quan hệ HNGĐ có yếu tố nước ngoài bao gồm các quan hệ:

- Quan hệ kết hôn, quan hệ giữa vợ và chồng có yếu tố nước ngoài

- Quan hệ giữa cha, mẹ con có yếu tố nước ngoài

- Quan hệ giám hộ có yếu tố nước ngoài

- Quan hệ cấp dưỡng có yếu tố nước ngoài

Yếu tố nước ngoài trong quan hệ hôn nhân và gia đình được hiểu:

Các bên chủ thể trong quan hệ hôn nhân có quốc tịch khác nhau (khoản 14a Điều 8 LHNGĐ năm 2000)

Các bên chủ thể cùng quốc tịch nhưng sự kiện pháp lý liên quan tới

Trang 15

16

quan hệ này xảy ra ở nước ngoài (khoản b Điều 8), Khoản 14c Điều 8

Tài sản liên quan đến quan hệ hôn nhân ở nước ngoài

Như vậy quan hệ HNGĐ có yếu tố nước ngoài mang một phạm vi rộng với nhiều nội dung, trong đó kết hôn có yếu tố nước ngoài là một nội dung trong quan

hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài

1.1.2.2 Kết hôn có yếu tố nước ngoài

Trong bối cảnh hiện hay, khi biên giới, chủ quyền quốc gia về mặt pháp lý ngày càng bị thu hẹp do xu hướng hội nhập, toàn cầu hóa phát triển mạnh mẽ thì các quan hệ về dân sự nói chung, kết hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng cũng diễn

ra ngày càng mạnh mẽ Điều này đặt ra nhu cầu cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực kết hôn có yếu tố nước ngoài

Theo quy định của Pháp luật Việt Nam, Điều 103 LHNGĐ năm 2000 về kết hôn có yếu tố nước ngoài:

“Trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn, nếu việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam phải tuân theo các quy định của LHNGĐ về điều kiện kết hôn”

*Thứ nhất, chủ thể trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài

Công dân Việt Nam khi tham gia vào quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài trước hết phải có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi theo pháp luật Việt Nam và năng lực này được xác định trên cơ sở pháp luật dân sự Việt Nam Năng lực pháp luật và năng lực hành vi là những thuộc tính pháp lý, là đặc trưng không thể thiếu của chủ thể pháp luật

Trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, ngoài chủ thể là công dân Việt Nam, chủ thể tham gia quan hệ này có ít nhất một bên là người nước ngoài Khái niệm người nước ngoài đã được tiếp cận khá sớm trong khoa học pháp lý ở nước

ta Trong Tuyên bố về chính sách của Chính phủ liên hiệp lâm thời ngày 1/1/1946,

Hồ Chủ tịch đã nêu rõ “Làm cho các nước công nhận nền độc lập của Việt Nam, thân thiện với kiều dân ngoại quốc, nhất là Hoa Kiều” Trong quyết định số 122/CP ngày 25/4/1977 của Hội đồng Chính phủ về chính sách đối với người nước ngoài cư trú, làm ăn sinh sống tại Việt Nam Điều 1 quy định: “Người nước ngoài (gọi tắt là ngoại kiều) là những người cư trú và làm ăn sinh sống tại Việt Nam,

Trang 16

17

có quốc tịch nước khác hoặc không có quốc tịch” Khái niệm người nước ngoài cũng đã được quy định trong các văn bản pháp luật tiếp theo, Điều 5 Luật Quốc tịch Việt Nam 28/6/1988, khoản 1 Điều 1 Pháp lệnh HNGĐ giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài [26] Tại Điều 9, Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 về quan hệ HNGĐ có yếu tố nước ngoài quy định “Người nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam, bao gồm công dân nước ngoài và người không quốc tịch” [7, tr 3] Như vậy, người nước ngoài trong trường hợp này phải được hiểu là người không có quốc tịch Việt Nam, bao gồm người có một hoặc nhiều quốc tịch nước ngoài nhưng không có quốc tịch của nước sở tại và người không quốc tịch Để tham gia vào quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, người nước ngoài phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự trước hết là theo pháp luật của nước mà người đó là công dân Khi xác lập quan hệ dân sự ở nước sở tại người có quốc tịch nước ngoài sẽ được pháp luật của nước mình mang quốc tịch bảo hộ về mặt ngoại giao Theo Điều 761 Bộ LDS Việt Nam năm 2005 thì người nước ngoài có năng lực pháp luật dân sự tại Việt Nam như công dân Việt Nam (trừ các trường hợp ngoại lệ) Tuy nhiên, để người nước ngoài tham gia trực tiếp vào quan hệ kết hôn thì họ phải có năng lực hành vi dân sự Ở Việt Nam, năng lực hành vi dân sự của người nước ngoài được quy định tại Điều 726 Bộ LDS Việt Nam

* Thứ hai, sự kiện pháp lý nhằm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ dân sự xảy ra ở nước ngoài

Trong trường hợp các chủ thể tham gia quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài đều là người Việt Nam nhưng căn cứ pháp lý làm phát sinh sự kiện này lại xảy ra ở nước ngoài Yếu tố này được áp dụng trong các trường hợp các bên có cùng quốc tịch nhưng kết hôn với nhau ở cơ quan có thẩm quyền của nước mà các bên không mang quốc tịch Ví dụ: hai công dân Việt nam lao động tại Hoa Kỳ và kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của Mỹ, trong trường hợp này, tính chất của yếu tố nước ngoài thể hiện ở sự xung đột pháp luật, việc xác định điều kiện kết hôn phải căn cứ vào pháp luật Việt Nam và pháp luật Hoa Kỳ Việc lựa chọn hệ thống pháp luật nào để giải quyết vấn đề này chính là việc giải quyết xung đột pháp luật trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài

Bên cạnh đó, một số quan hệ kết hôn tuy liên quan đến yếu tố nước

Trang 17

18

ngoài, nhưng thực chất lại không phải quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài xét dưới khía cạnh lý luận về giải quyết xung đột pháp luật Ví dụ, công dân Việt Nam công tác, học tập ở nước ngoài và tiến hành kết hôn với nhau tại Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài; công dân Việt Nam đi học tập, lao động ở nước ngoài trong thời gian dài nhưng chưa được định cư, về nước kết hôn với công dân Việt Nam trong nước, tuân theo các quy định của pháp luật Việt Nam về kết hôn Đây là các quan hệ hôn nhân giữa công dân Việt Nam với nhau, không thuộc khái niệm hôn nhân có yếu tố nước ngoài (theo khoản 14 Điều

8 của LHNGĐ năm 2000), bởi lẽ, trong các trường hợp đó không dẫn đến hiện tượng xung đột pháp luật mà luật áp dụng điều chỉnh quan hệ này là LHNGĐ Việt Nam

1.1.3 Kết hôn kiểu truyền thống

Ca dao dân ca Việt Nam có câu:

- Trâu ta ăn cỏ đồng ta,

- Ta về ta tắm ao ta

Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn

Quan niệm lấy chồng gần hơn lấy chồng xa được hình thành suốt hàng nghìn năm thời phong kiến đã đi vào ca dao dân ca của người Việt ta như vậy Người Việt trong quá khứ không muốn lấy chồng xứ lạ, cha mẹ không muốn gả con gái cho "thiên hạ", mà chỉ mong sum vầy trong cùng một lũy tre làng

Khi người Pháp vào Việt Nam, vấn đề hôn nhân không chỉ dừng lại ở gần hay xa trong một làng, một vùng miền, mà đã vượt ra ngoài lãnh thổ quốc gia, vượt

ra ngoài vấn đề dân tộc và quốc tịch Nhưng, với quan niệm phong kiến về lấy chồng gần xa, văn hoá và phong tục xưa khinh thị những người lấy chồng Tây, gọi những người lấy Tây là "me Tây" và thường không gần gũi với họ

Xã hội Việt Nam trong hàng ngàn năm là một xã hội nông nghiệp, nền văn hóa cũng là nền văn hóa nông nghiệp Trong xã hội ấy, gia đình, họ hàng, làng mạc tạo thành đơn vị xã hội cơ sở Điều này ấn định một nguyên tắc ngàn năm gần như bất di bất dịch – các giá trị gia đình và cộng đồng được đặt trên các giá trị cá nhân Gia đình là đơn vị duy nhất được xã hội thừa nhận và cho phép tạo ra những công dân mới cho xã hội Gia đình người Việt, trong đại đa số trường hợp là gia đình hạt nhân (bố mẹ và con cái chưa trưởng thành) Ngoài ra còn có hình thức gia

Trang 18

19

đình nhỏ (bố mẹ và gia đình một con trai, thường là con trai trưởng) Tuy vậy, trong từng làng, một “gia đình nhỏ” chỉ là thiểu số bên cạnh rất nhiều gia đình hạt nhân Do đó, hôn nhân của người Việt Nam truyền thống không phải là việc hai người lấy nhau, mà là việc “hai họ” dựng vợ gả chồng cho con cái

Việc hôn nhân tuy là của hai người nhưng lại kéo theo việc xác lập quan hệ giữa hai gia tộc Vì vậy, điều cần làm đầu tiên chưa phải là lựa chọn một cá nhân

cụ thể, mà lựa chọn một dòng họ, một gia đình, xem cửa nhà hai bên có tương xứng không, có môn đăng hộ đối không Tiếp theo, đối với cộng đồng gia tộc, hôn nhân là một công cụ duy nhất và thiêng liêng để duy trì dòng dõi và phát triển nguồn nhân lực Khi xem xét con người trong hôn nhân, người Việt Nam thường quan tâm trước hết đến năng lực sinh sản của họ Không chỉ duy trì dòng giống, người con tương lai còn phải có trách nhiệm làm lợi cho gia đình Con cái phải đảm đang tháo vát, đem lại nguồn lợi vật chất cho gia đình nhà chồng; con trai phải giỏi giang, đem lại nguồn lợi tinh thần cho gia đình nhà vợ Mối quan tâm hàng đầu của người Việt Nam là sự ổn định của làng xã Cũng nhằm tạo nên sự ổn định, đã hình thành quan niệm chọn vợ chồng cùng làng: "ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn" Thực tế này đã phản ánh tinh thần tự trị làng xã là khá đậm nét trong truyền thống và nếp nghĩ của người Việt trước đây

Trong thực tế trước đây, tại các làng xã Bắc Bộ, những người con gái của làng này không dám lấy chồng ở những làng khác Sở dĩ có tình trạng như vậy là vì mỗi làng xã ở đồng bằng sông Hồng là một “ốc đảo” có nếp sinh hoạt văn hóa khác biệt nhau, hình thành những sắc thái văn hóa làng, làm khó khăn trong quá trình hội nhập của những người từ nơi khác đến cư trú Khi xây dựng gia đình, nếu cả vợ cả chồng cùng là thành viên của một tộc người thì họ không gặp khó khăn trong cuộc sống thường ngày, vì với họ tất cả đều là quen thuộc từ nếp làm, nếp nghĩ, những người sống xung quanh, môi trường xã hội hầu như không có gì khác trước Với họ chỉ có một nét khác trước là vị trí xã hội cũng như trong gia đình sau hôn nhân đã có những thay đổi, nhưng những thay đổi này ít gây ra những biến cố lớn của đời sống

Nhìn chung, lịch sử hôn nhân Việt Nam luôn là lịch sử hôn nhân vì lợi ích của cộng đồng, tập thể: từ các cuộc hôn nhân vô danh của thường dân đến những cuộc hôn nhân nổi danh như công chúa Huyền Trân với vua Chàm Chế Mân, công chúa Ngọc Hân với Nguyễn Huệ…., vô số những cuộc hôn nhân của các con

Trang 19

20

vua chúa qua các triều đại được triều đình gả bán cho tù trưởng các miền biên ải nhằm củng cố đường biên giới quốc gia- tất cả đều là làm theo ý nguyện của các tập thể cộng đồng lớn nhỏ: gia đình, gia tộc, làng xã, đất nước Khi các quyền lợi của tập thể cộng đồng đã được tính đến và đáp ứng cả rồi, lúc ấy người ta mới lo đến những nhu cầu riêng tư

Trước hết là sự phù hợp của đôi trai gái xét một cách trừu tượng bằng việc hỏi tuổi, xem đôi trai gái có hợp tuổi nhau hay không, còn nếu xung khắc thì thôi

Để cho quan hệ vợ chồng được bền vững, khi cưới, đôi vợ chồng trẻ thường trao cho nhau nắm đất và gói muối: nắm đất tượng trưng cho lời nguyền gắn bó với đất đai- làng xóm; gói muối là lời chúc cho tình nghĩa giữa hai người mặn mà mà thủy chung (Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau) Sau này, thay cho đất và muối, trong lễ vật dẫn cưới luôn có một loại bánh đặc biệt rất có ý nghĩa là bánh su sê (tên đọc chệch đi của bánh phu thê): Bánh phu thê hình tròn bọc bằng hai khuôn hình vuông úp khít vào nhau Đó chính là biểu tượng của triết lí âm dương (vuông tròn) và ngũ hành (ruột dừa trắng nhân đậu vàng, rắc vừng đen, khuôn lá xanh, buộc lạt đỏ), biểu tượng cho sự vẹn toàn, hòa hợp của đất trời và của con người

Khi nhắc tới thân phận phụ nữ trong chế độ phong kiến, nhiều người

thường liên tưởng đến hình ảnh “con cò” đã được dân gian ví von như chính

số phận long đong của những người đàn bà thời xưa: “Cái cò lặn lội bờ sông Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non” Họ là những con người luôn phải chịu thiệt thòi trong cuộc sống và đối diện với nhiều bất công của xã hội chỉ vì họ mang phận gái mỏng manh dưới chế độ nam quyền Từ thuở sinh thời, họ không được phép đến trường học chữ nhưng phải thấm nhuần triết lý Nho giáo bao gồm “tam tòng” và

“tứ đức” Ở đây “tam tòng” là ba điều mà người phụ nữ cần phải theo: “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” (ở nhà theo cha, lấy chồng theo chồng, chồng chết theo con) Trong khi đó “tứ đức” là bốn đức tính căn bản mà mỗi một người con gái xưa cần phải có như công, dung, ngôn, hạnh (nghĩa là làm việc khéo léo, sắc diện hoà nhã, nói năng nhẹ nhàng, tính nết nhu mì) Đây là những chuẩn mực đạo đức mà cha ông ta luôn trân trọng và cố gắng phát huy Một người phụ nữ được người xưa đánh giá là đoan trang và ngoan hiền chỉ khi nào người ấy có đầy

đủ những phẩm hạnh trên Chính những nét đẹp này đã tạo nên hình tượng người con gái Việt Nam duyên dáng mà khi nhìn vào, các nước lân bang thời đó

Trang 20

21

phải thầm khen ngợi và nể phục

1.1.4 Kết hôn kiểu hiện đại

Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đặc biệt với bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, song song với việc phát triển kinh tế một cách mạnh

mẽ là sự xuất hiện của một số vấn đề xã hội đáng quan tâm, như xuất khẩu lao động, các đường dây buôn bán ma túy, mại dâm, buôn bán phụ nữ, trẻ em….trong

đó hiện tượng phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài đang thực sự là một vấn đề nóng bỏng và cấp bách được dư luận xã hội quan tâm chú ý

Hiện nay, quyền con người về hôn nhân và gia đình đã công nhận rộng rãi trên toàn thế giới như là bộ phận cấu thành cơ bản nhất trong nhóm quyền con người về dân sự nói riêng, quyền con người nói chung Tôn trọng, thực thi và bảo

vệ quyền con người về hôn nhân và gia đình đã thực sự là tiêu chí để đánh giá tiến

bộ xã hội không chỉ mang tính quốc gia mà còn mang tính toàn cầu Trên thực tế, Liên hợp quốc đã ban hành nhiều công ước trực tiếp hoặc gián tiếp về công nhận, thực thi và bảo vệ loại quyền con người này: Hiến chương Liên hợp quốc (1945), Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền (1948), Công ước quốc tế về các quyền dân sự

và chính trị (1966), Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (1966), Công ước chống phân biệt đối xử đối với phụ nữ (CEDAW)…

Trong sự giao lưu, hợp tác quốc tế thì hôn nhân nói chung và hôn nhân với người nước ngoài nói riêng là một vấn đề hết sức bình thường của mọi xã hội, luật pháp của mỗi quốc gia đều khẳng định: mỗi người đều có quyền lựa chọn, quyết định hạnh phúc và người bạn đời cho riêng mình Phụ nữ được bình đẳng hơn trước và có quyền tự quyết định tương lai cho riêng mình, vì bây giờ họ đã có thể theo đuổi mục tiêu của cuộc sống mà không bị ai ngăn cản Không ai phủ nhận được vị trí quan trọng của phụ nữ trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế, chính trị, xã hội cũng như ngoại giao của đất nước Việt Nam Nhưng điều quan trọng hơn nhất là họ có thể làm chủ hôn nhân của mình Người con gái có quyền yêu và lấy người cô ta thương mà không bị cha mẹ cấm đoán Đây là một điểm đáng mừng khi quan niệm cổ hủ “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó” đã hầu như không còn được áp dụng với lối sống tân thời Hiên tượng lấy chồng nước ngoài của những cô gái Việt Nam xảy ra trong bối cảnh nước ta mở rộng, giao lưu hợp tác kinh tế đã

có nhiều sự khác biệt so với chuyện lấy chồng ngoại trước đây Sự không bình

Trang 21

22

thường không chỉ về số lượng tăng ồ ạt trong thời gian ngắn, lại tập trung ở các tỉnh Nam Bộ, mà còn vì những hệ quả tiêu cực khác như: chuyện ngược đãi, lợi dụng phụ nữ Việt Nam với danh nghĩa hôn nhân, là sự hoạt động bất hợp pháp của một số người lừa đảo, kiếm chác, mà bản chất là sự kinh doanh về thể xác, tình cảm của phụ nữ…

“ Mai mối” là một tập tục truyền thống có từ lâu đời ở các nước châu Á Nhưng mai mối ở đây, đúng nghĩa là mai mối, chứ không bị lợi dụng như là một công cụ để ép duyên Ở đây đôi bên tự quyết định các bước tiếp theo sau khi bà mối mối lái cho cặp đôi nam và nữ Tuy nhiên, đó là cái thời xa xưa, hiện nay môi giới hôn nhân nói chung và môi giới kết hôn với người nước ngoài nói riêng luôn

có tính hai mặt Mặt tích cực là tạo điều kiện cho hai bên có điều kiện làm quen, tiếp xúc và tìm hiểu “nhân thân” của nhau Đó cũng là những yếu tố cần thiết để hình thành giai đoạn tiền hôn nhân, nhất là trong xã hội công nghiệp

Mặt trái của môi giới kết hôn với người nước ngoài là áp đặt, cung cấp những thông tin sai lệch cho khách hàng để kiếm lời Họ tìm mọi cách để thành công với mục đích kiếm được tiền, bất kể việc cung cấp thông tin sai, lừa dối đôi bên dẫn đến những hậu quả khôn lường, làm nhiều gia đình tan vỡ, trong đó người chịu ảnh hưởng nhiều nhất, thiệt thòi nhất là người phụ nữ Hoạt động của các loại hình công ty môi giới hôn nhân như vậy chính là cơ sở cho việc thiết lập các mối quan hệ đầu tiên dẫn đến nhiều quan hệ phức tạp khác do kiểu hôn nhân này đem lại

Quy mô trung bình của gia đình Việt Nam giảm từ 5,2 người/hộ (1997) xuống còn 4,5 người/hộ (1999) Tỉ lệ gia đình ly hôn, ly thân ngày càng gia tăng

Sự sùng bái đồng tiền đã phá hoại không ít những giá trị truyền thống tốt đẹp trong gia đình Sự giao lưu kinh tế thông qua xuất khẩu có khả năng làm năng động hoá các giá trị Việt Nam xưa vốn xem nặng tình nghĩa và nhẹ về lợi, tạo nên sự cạnh tranh mới trong cái hệ thống: dĩ hoà vi quý

Quá trình toàn cầu hoá cũng tạo ra những sự va đập giá trị, "sự đụng độ của những nền văn minh" Hội nhập kinh tế, văn hoá khiến cho gia đình giờ đây cũng biến thành một đối tác để hợp tác Những tư tưởng gia trưởng, phụ quyền giờ đây dần đã không tồn tại nữa thay vào đó là sự bình đẳng, dân chủ trong gia đình Sự tan rã của gia đình nhiều thế hệ, xuất hiện xung đột thế hệ, những rạn nứt

Trang 22

hệ dân sự có yếu tố nước ngoài phát triển mạnh mẽ

Nghiên cứu chính sách đối ngoại của Nhà nước ta từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đến nay cho thấy, chính sách và pháp luật về kết hôn

có yếu tố nước ngoài của Việt Nam đã có sự phát triển ngày càng phù hợp với sự phát triển của chính sách đối ngoại của Nhà nước qua các thời kỳ

Bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945 khẳng định sự ra đời của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Với đường lối đối ngoại hòa bình, chính sách pháp luật của Nhà nước dân chủ non trẻ đã thể hiện tư tưởng bảo vệ các quyền tự do dân chủ cơ bản của con người, vì vậy các quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài về nguyên tắc vẫn được Nhà nước bảo hộ Điều này được thể hiện tại Sắc lệnh số 53/SL ngày 20/10/1945, tại Điều 5 quy định “Đàn bàn ngoại quốc lấy chồng Việt Nam muốn trở nên công dân Việt Nam, thì lúc làm giá thú phải khai muốn như thế” Điều 6 quy định: Đàn bà Việt Nam lấy chồng ngoại quốc thì theo quốc tịch của người chồng Như vậy, đây là sự thừa nhận trên thực tế sự tồn tại của các quan

hệ HNGĐ giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài đã được xác lập từ trước Trong xu thế hội nhập, bên cạnh sự phát triển các mối quan hệ về chính trị, kinh tế, văn hoá, các quan hệ về hôn nhân và gia đình vượt ra khỏi biên giới quốc gia là một hệ quả tất yếu khách quan Nếu từ đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX trở về trước, các trường hợp kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài chỉ là những hiện tượng cá biệt, thì từ cuối thập kỷ 80 trở đi, việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài ngày càng phát triển, ở một số địa phương trong

cả nước đã trở nên phổ biến, thậm chí có nơi trở thành trào lưu Để điều chỉnh các quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, hướng các quan hệ này phù hợp với các chuẩn mực đạo đức, phong tục, tập quán và truyền thống tốt đẹp của dân tộc,

Trang 23

24

bảo đảm mục tiêu xây dựng gia đình bền vững, ổn định, tránh tình trạng lợi dụng việc kết hôn có yếu tố nước ngoài để buôn bán, bóc lột phụ nữ, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật để điều chỉnh các quan hệ này, trong đó phải kể đến Luật Hôn nhân và gia đình 2000, Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/2/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài; Nghị định số 69/2006/NĐ-CP ngày 21/7/2006 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/2/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 07/ 2002/TT-BTP ngày 16 tháng 12 năm 2002 Hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10 tháng 7 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

Luật Hôn nhân và gia đình nghiêm cấm việc kết hôn giả tạo, lừa dối để kết hôn, yêu sách của cải trong việc cưới hỏi (Điều 4); nghiêm cấm lợi dụng việc kết hôn có yếu tố nước ngoài để mua bán, bóc lột sức lao động của phụ nữ, xâm phạm tình dục hoặc vì mục đích trục lợi khác (Điều 103) Để ngăn ngừa việc lợi dụng kết hôn có yếu tố nước ngoài để mua bán phụ nữ, Luật Hôn nhân và gia đình và Nghị định 68/2002/NĐ-CP quy định khá cụ thể và chặt chẽ về điều kiện kết hôn, hồ sơ đăng ký kết hôn, thủ tục, trình tự giải quyết việc đăng ký kết hôn cũng như hoạt động hỗ trợ kết hôn

Để công khai hoá việc đăng ký kết hôn, tạo điều kiện phát hiện những trường hợp không đủ điều kiện kết hôn, Nghị định 68/2002/NĐ-CP quy định niêm yết việc kết hôn trong 07 ngày liên tục tại trụ sở Sở Tư pháp và tại Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi thường trú hoặc tạm trú có thời hạn của bên đương sự là công dân Việt Nam Trong thời hạn này, nếu có khiếu nại, tố cáo hoặc phát hiện có hành vi

vi phạm pháp luật về kết hôn thì Sở Tư pháp phải xác minh, giải quyết

Nghị định này cũng quy định các trường hợp từ chối đăng ký kết hôn, theo

đó, việc kết hôn bị từ chối trong các trường hợp không đủ các điều kiện kết hôn, vi phạm các trường hợp cấm kết hôn (Điều 18); việc đăng ký kết hôn cũng bị từ chối nếu kết quả thẩm tra, xác minh cho thấy việc kết hôn là giả tạo, không nhằm mục đích xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững; kết

Trang 24

25

hôn nhằm mục đích mua bán phụ nữ, xâm phạm tình dục, đối với phụ nữ hoặc vì mục đích trục lợi khác; kết hôn thông qua môi giới bất hợp pháp; kết hôn không phù hợp với thuần phong, mỹ tục của dân tộc

Với các quy định cụ thể của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và Nghị định số 68 của Chính phủ, việc xác lập quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài đã có nhiều chuyển biến tích cực, phù hợp với bối cảnh mở rộng quan hệ giữa Việt Nam với nước ngoài Tuy nhiên, việc kết hôn giữa phụ nữ Việt Nam với người nước ngoài vẫn còn một số tồn tại, xâm phạm nghiêm trọng đến thuần phong, mỹ tục của dân tộc, làm ảnh hưởng đến uy tín quốc gia, nhiều phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài không đăng ký kết hôn, chưa bảo đảm nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ trong hôn nhân, đặc biệt hoạt động kinh doanh môi giới kết hôn nhằm mục đích trục lợi của một số tổ chức,

cá nhân diễn ra dưới nhiều hình thức trá hình, tinh vi, gây mất trật tự xã hội … Do

đó, để khắc phục tình trạng trên và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị Số 03/2005/CT-TTg ngày 25 tháng 02 năm 2005 về tăng cường quản lý nhà nước đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ đã cụ thể trách nhiệm của từng Bộ, cơ quan ngang

Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp và sự phối hợp của các

bộ, ngành, các cấp trong việc quản lý quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

Nhà nước ta đã xây dựng được một hệ thống pháp luật tương đối hoàn chỉnh điều chỉnh hầu hết quan hệ HNGĐ phát sinh trên thực tế Hiệu lực của các văn bản pháp luật có giá trị cao Nếu như trước đây quan hệ HNGĐ có yếu tố nước ngoài chỉ được điều chỉnh bởi các văn bản dưới luật thì hiện nay các quan hệ đó được điều chỉnh bằng các văn bản có giá trị pháp lý rất cao (LHNGĐ năm 1986, năm 2000) Nghiên cứu nội dung của các văn bản này cho thấy, pháp luật nước ta không có sự phân biệt và hạn chế nào đối với người nước ngoài khi tham gia vào quan hệ hôn nhân (QHHN) nói chung và việc kết hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng Các điều ước quốc tế mà nước ta ký kết điều chỉnh QHHN có yếu tố nước ngoài ngày càng gia tăng về số lượng Các điều ước quốc tế và văn bản pháp luật trong nước đã tạo ra cơ sở pháp lý quan trọng cho việc điều chỉnh QHHN có

Trang 25

vụ lợi của hiện tượng này

Theo Báo cáo của Bộ Công an tổng hợp từ báo cáo của các địa phương trên toàn quốc, từ năm 1998 đến nay, cả nước có 272.000 phụ nữ Việt Nam kết hôn với công dân của trên 50 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó tập trung đông là các quốc gia: Trung Quốc chiếm 10,86%, Đài Loan chiếm 30%, , Mỹ chiếm 13,87%, Hàn Quốc 12,8%, … Chỉ tính riêng số lượng phụ nữ kết hôn với người nước ngoài thì năm 2005 có 21.771 người, năm 2006: 20.019 người, năm

2007 có 19.226 người, năm 2008 có 13.661 người

Theo số liệu thống kê hoạt động hộ tịch năm 2010 của Bộ Tư pháp số lượng khai sinh, đăng ký kết hôn và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ngày càng tăng,

cụ thể:

Bảng 1.1: Số liệu thống kê hoạt động hộ tịch năm 2010 của Bộ Tƣ pháp

Như vậy, với số lượng các cuộc hôn nhân có yếu tố nước ngoài và các quan

hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài khác ngày càng lớn và đa số là phụ

nữ Việt Nam lấy chồng người nước ngoài Các quan hệ này có những mặt tích cực, đồng thời cũng tiềm ẩn không ít những yếu tố tiêu cực

Theo báo cáo khảo sát năm 2011 của Viện Khoa học Lao động – Xã hội, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội tại 7 tỉnh, thành phố (Cần Thơ, Hậu Giang, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Tiền Giang, Bạc Liêu và Hải Phòng) thì đa số phụ nữ lấy chồng nước ngoài có cuộc sống ổn định Họ đã quảng bá được hình ảnh tốt đẹp

Trang 26

27

của phụ nữ Việt Nam, tạo nên sự đa dạng, phong phú về văn hóa gia đình, tạo nên mối quan hệ tốt đẹp giữa các quốc gia, quảng bá giá trị truyền thống đạo đức và phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam và hỗ trợ gia đình người thân, góp phần cải thiện đáng kể đời sống kinh tế cho gia đình ở Việt Nam, góp phần ổn định chung của xã hội, tăng sự đóng góp nguồn lực của công dân và kiều bào Việt Nam

ở nước ngoài vào việc phát triển kinh tế - xã hội trong nước, mở ra các cơ hội đầu

tư từ nước ngoài vào Việt Nam Có tới 83,6% cô dâu Việt Nam hài lòng với cuộc hôn nhân của mình (36, 3% hộ có mức sống giàu có hoặc khá giả, 54,7% hộ có mức sống trung bình, 8% hộ nghèo, thấp hơn tỷ lệ nghèo chung của dân cư cả nước năm 2010 - 9,45%)

Nhà nghiên cứu, Tiến sĩ Trần Mạnh Cát trong bài nghiên cứu "Hôn nhân

giữa phụ nữ Việt Nam và người Đài Loan" cũng cùng chung quan điểm nêu trên

Hàng loạt các bảng, biểu mang tính xã hội học mà Tiến sĩ Trần Mạnh Cát nêu ra đã làm sáng tỏ những ý kiến mang tính tích cực và tiêu cực để rồi đi đến kết luận:

"Hiện tượng các cô gái Việt lấy chồng ngoại không đến nỗi ảm đạm như báo chí

và các phương tiện thông tin đại chúng đăng tải Một số nghiên cứu khá nghiêm túc của các nhà khoa học Việt Nam cũng có nhận xét cần phải có cái nhìn khách quan rằng phần lớn các cuộc hôn nhân giữa phụ nữ Việt Nam với người nước ngoài là thành công, có cuộc sống ổn định, gia đình yên ấm và hoà hợp để có thể hướng tới hạnh phúc"

Kết quả khảo sát của Tiến sĩ Trần Mạnh Cát cũng chỉ rõ nguyên nhân những phụ nữ lấy chồng nước ngoài gặp thất bại trong hôn nhân phải quay về nước là do: mục đích hôn nhân không đúng đắn (kinh tế khó khăn, muốn có cuộc sống giàu sang hoặc muốn báo hiếu bố mẹ…); không hoà nhập được văn hoá, lối sống của gia đình chồng và cộng đồng ở nước sở tại (chịu sự quản lý của mẹ chồng, ở nhà nội trợ, phục vụ gia đình chồng…); sống phụ thuộc kinh tế; bị phân biệt đối xử trong gia đình, bị hắt hủi, đánh đập; thiếu kinh nghiệm sống…Trong các cuộc hôn nhân, nhiều trường hợp không đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của hai nước (gần 60% qua hệ thống môi giới tư nhân/hay bất hợp pháp); trình độ học vấn thấp, nhận thức của chị em còn nhiều hạn chế, 41,5% chị em trước khi kết hôn là đi làm thuê, 76,3% là lao động nông thôn, 33,1% hộ gia đình

có phụ nữ lấy chồng nước ngoài trước khi kết hôn có mức thu nhập không đủ

Trang 27

28

sống

Phụ nữ Việt Nam kết hụn với người Hàn Quốc chỉ mới phỏt sinh trong mấy năm gần đõy Ở phớa Bắc tập trung ở một số tỉnh/thành phố như Hải Phũng, Quảng Ninh, Hải Dương, cũn phớa Nam tập trung cỏc tỉnh Đồng bằng Sụng Cửu Long, TP

Hồ Chớ Minh, Tõy Ninh…Đến thỏng 5/2010, cú 35.000 phụ nữ Việt Nam đó lấy chồng Hàn Quốc (Theo bỏo cỏo của Bộ Tư phỏp) Phụ nữ Việt Nam kết hụn với người Trung Quốc đến 5/2010 khoảng 47.000 người, tập trung ở cỏc tỉnh cú đường biờn giới giỏp danh với Trung Quốc như Lào Cai, Lạng Sơn, Cao Bằng, hầu hết cỏc trường hợp này khụng đăng ký kết hụn/ghi chỳ kết hụn tại cơ quan cú thẩm quyền của Việt Nam và Trung Quốc Phụ nữ Việt Nam lấy chồng Đài Loan khởi nguồn từ năm 1995, đến thỏng 5/2010 cú 42.000 phụ nữ lấy chồng Đài Loan (Theo bỏo cỏo của Tổng Cục CSQLHC, Bộ Cụng an) Sau khi Luật HN&GĐ năm 2000

cú hiệu lực, số lượng phụ nữ cú đăng ký kết hụn/ghi chỳ kết hụn tăng lờn

Trên đây là số liệu về tình hình kết hôn giữa công dân Việt Nam (chủ yếu là phụ nữ) với công dân n-ớc ngoài ở các địa ph-ơng mà tác giả luận văn đã có dịp làm việc và trao đổi cũng nh- tham khảo báo cáo trong quá trình nghiên cứu Những số liệu trên tuy ch-a phản

ánh hết thực tế vốn rất đa dạng và phức tạp của kết hôn có yếu tố n-ớc ngoài, nh-ng tìm hiểu thực trạng vấn

đề này có thể nhận thấy một số điểm chung:

- Phần lớn các tr-ờng hợp kết hôn với ng-ời n-ớc ngoài là phụ nữ, tuổi từ 18- 32, nam giới chiếm tỷ lệ không đáng kể và kết hôn chủ yếu với công dân các n-ớc:Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, công dân các các n-ớc khác nh- Canađa, úc, Anh, Pháp, Hoa Kỳ hoặc Việt kiều định c- n-ớc ngoài chiếm tỷ lệ rất ít, chủ yếu là

ở các thành phố lớn ( Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Huế )

- Các địa ph-ơng giáp biên giới một số n-ớc trong khu vực và giáp các thành phố lớn có số phụ nữ kết hôn với ng-ời n-ớc ngoài chiếm tỷ lệ t-ơng đối cao

- Ngoài một số không đáng kể các tr-ờng hợp kết

Trang 28

29

hôn với ng-ời n-ớc ngoài làm đúng thủ tục đăng k‎ý theo quy định của pháp luật (Việt Nam và n-ớc có ng-ời n-ớc ngoài kết hôn), còn chủ yếu là không đúng thủ tục, không qua đăng k‎ý của cơ quan có thẩm quyền Việt Nam và n-ớc ngoài

- Các cô dâu Việt Nam đa số ở các vùng nông thôn và còn rất trẻ, kết hôn chủ yếu thông qua môi giới, bạn bè, ng-ời thân giới thiệu, thậm chí do gia đình ép gả nên rất thiếu thông tin về chú rể và gia đình chú rể cũng nh- văn hóa, phong tục, tập quán, luật pháp n-ớc mà mình sẽ

đến Thời gian quen biết và tìm hiểu giữa hai bên là rất

ít

- Hoạt động môi giới kết hôn, cò kết hôn ngày càng gia tăng, hoạt động bất hợp pháp, biến t-ớng d-ới nhiều hình thức tinh vi Các trung tâm giới thiệu kết hôn bất hợp pháp mọc lên ở nhiều địa ph-ơng, móc nối với các trung tâm kết hôn ở n-ớc ngoài để đ-a phụ nữ Việt Nam sang kết hôn kiếm lời

Tiểu kết chương 1

Chương 1 đó trỡnh bày những khỏi niệm liờn quan đến vấn đề phụ nữ kết hụn với người nước ngoài, cỏc quan điểm của Đảng và Nhà nước, Hiến phỏp, phỏp luật quy định về kết hụn với người nước ngoài; thực trạng tỡnh hỡnh về vấn đề kết hụn cú yếu tố nước ngoài ở Việt Nam Đõy chớnh là những cơ sở lý luận giỳp cho tỏc giả cú căn cứ triển khai việc khảo sỏt thực trạng vấn đề phụ nữ Việt Nam kết hụn với người nước ngoài trờn cỏc bỏo: Phụ nữ Việt Nam, Gia đỡnh và Xó hội, Phụ

nữ TP Hồ Chớ Minh Đồng thời, những cơ sở lý luận đú cũn giỳp tỏc giả cú thể đối chiếu, so sỏnh việc phản ỏnh vấn đề kết hụn với người nước ngoài trờn cỏc bỏo khảo sỏt đó bỏm sỏt đỳng đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước hay chưa, cỏc tờ bỏo khi tuyờn truyền về vấn đề này đó đỏp ứng được nhu cầu tiếp nhận thụng tin của cụng chỳng và thực hiện đỳng vai trũ và chức năng của bỏo chớ đối với việc phản ỏnh thụng tin hay khụng Nội dung đú được thể hiện cụ thể qua

Trang 29

30

việc khảo sát 3 tờ báo nói trên trong chương 2 của luận văn

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ PHỤ NỮ VIỆT NAM KẾT HÔN VỚI NGƯỜI NƯỚC NGOÀI

2.1 Báo chí thông tin về vấn đề phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài

Về báo chí in, tính đến tháng 3 năm 2012, cả nước có 786 cơ quan báo chí in

với 1.016 ấn phẩm Trong đó báo có 194 cơ quan ( gồm 81 báo chí Trung ương, 113 báo địa phương); tạp chí có 592 cơ quan (475 tạp chí Trung ương và 117 tạp chí địa

phương) (Nguồn: Báo cáo đánh giá công tác báo chí 2011 của Bộ Thông tin truyền

thông)

Hiện nay, một trong những vấn đề xã hội nóng bỏng được các phương tiện truyền thông đại chúng rất quan tâm, đó là vấn đề phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài Qua khảo sát một số báo in trong vòng những năm qua cho thấy, từ thực trạng sinh động và đa dạng của những câu chuyện có thật trong cuộc sống, báo chí đã phản ánh khá chân thực và khách quan vấn đề phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài Mỗi tác phẩm báo chí đều có tác dụng tuyên truyền sâu sắc, đề cập đến trách nhiệm của cộng đồng, xã hội về vấn đề này

Các tin, bài đăng tải trên báo chí thường tập trung vào các nội dung chính như: giới thiệu các văn bản pháp luật liên về quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài; Luật hôn nhân và gia đình, Luật phòng chống bạo lực gia đình, Luật bình đẳng giới; thông tin về thực trạng đời sống hôn nhân có yếu tố nước ngoài và đời sống hôn nhân của những cô dâu Việt Nam ở nước ngoài; những câu chuyện về các cuộc hôn nhân của các cô dâu Việt: hạnh phúc và bi kịch; văn hóa giữa các quốc gia; môi giới hôn nhân trái pháp luật; hành vi vi phạm trong công tác giải quyết đăng

ký kết hôn; hành vi bạo lực gia đình; giải đáp một số thắc mắc của người dân về thủ tục đăng ký kết hôn hiện hành với người nước ngoài những chính sách liên quan đến quyền lợi phụ nữ trẻ em; truyền thống tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam,…

Đa số các báo khi đăng tải vấn đề này thường xây dựng thành các chuyên

Trang 30

31

trang, chuyên mục như: Đời sống và pháp luật; An ninh xã hội; Quốc phòng – An

ninh; Câu chuyện pháp luật; Hôn nhân và gia đình; Vấn đề bạn trẻ quan tâm; Hỏi đáp pháp luật,… Một số tờ báo đã tập trung phản ánh và tuyên truyền về vấn đề phụ nữ kết hôn với người nước ngoài, đó là các báo như: Tuổi trẻ TP Hồ Chí Minh, Phụ nữ TP Hồ Chí Minh, Sài Gòn giải phóng, Gia đình và Xã hội, Phụ nữ Việt Nam,….Đặc biệt, vào những thời điểm có vấn đề “nóng” về thông tin của các dâu Việt lấy chồng nước ngoài như: cô dâu bị giết hại, bị hành hạ nhẫn tâm, bị xúc phạm nhân phẩm, bôi xấu danh dự,….thì số lượng các bài báo, số lượng các chuyên trang, chuyên mục của nhiều tờ báo tăng lên rõ rệt Các cơ quan báo chí đã tập trung phản ánh khá đậm nét, khai thác những khía cạnh đang được dư luận xã hội quan tâm nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người phụ nữ, đồng thời lên tiếng bảo vệ nhân phẩm cho các cô dâu Việt, bảo vệ hình ảnh tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam

Thông qua những câu chuyện có thật về số phận không may mắn của các cô dâu Việt lấy chồng nước ngoài; thông qua việc can thiệp của các cơ quan chức năng trong việc phát hiện, tố giác những đường dây môi giới và mua bán phụ nữ trái pháp luật; thông qua những diễn đàn trao đổi mang tính chiến đấu và phản biện sâu sắc, các bài báo đã có tác động tích cực đến nhận thức, ý thức tự giác, chủ động tìm hiểu pháp luật về hôn nhân gia đình, kết hôn có yếu tố nước ngoài trong nhân dân nhằm ngăn ngừa hành vi môi giới hôn nhân trái pháp luật, hành vi vi phạm trong công tác giải quyết đăng ký kết hôn; lên án những hành vi bạo lực gia đình góp phần nâng cao giá trị truyền thống văn hóa đạo đức tốt đẹp của dân tộc trong xây dựng hạnh phúc gia đình Bên cạnh đó, báo chí đã cổ vũ, động viên người dân cùng tham gia với các cơ quan chức năng trong việc ngăn ngừa và tố giác tội phạm, giữ gìn an ninh trật tự và ổn định xã hội, góp phần làm lành mạnh hóa mối quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa các dân tộc, các quốc gia trong khu vực và trên thế giới

Tuy nhiên, một điểm hạn chế nổi bật trong việc tuyên truyền vấn đề kết hôn với người nước ngoài trên báo chí, đó là, mặc dù báo chí tác động khá nhiều, tuyên truyền khá đậm nét về vấn đề này, nhưng số trường hợp phụ nữ lấy chồng nước ngoài vẫn tăng lên hàng năm chứ không hề có chiều thướng thuyên giảm Song song với số lượng tăng lên hàng năm là số các vụ việc tiêu cực, bất cập cũng

Trang 31

32

tăng dần, mỗi trường hợp, mỗi vụ việc, mỗi thời điểm lại có những câu chuyện đặc thù và diễn biến khác nhau Đáng chú ý là có những địa phương số chị em đi lấy chồng nước ngoài đã trở thành trào lưu rất phổ biến như xã Lập Lễ, huyện Thủy Nguyên, TP Hải Phòng; xã Tân Lập, huyện Thốt Nốt, TP Cần Thơ Như vậy, cách thông tin và tuyên truyền trên báo chí về vấn đề kết hôn với người nước ngoài đã thật sự hiệu quả hay chưa? Các cơ quan báo chí, các nhà quản lý báo chí rất cần tìm tòi, nghiên cứu để công tác tuyên truyền vấn đề kết hôn với người nước ngoài trên báo chí đem lại hiệu quả thiết thực cho người dân và xã hội

2.2 Giới thiệu về các báo khảo sát

2.2.1 Báo Phụ nữ Việt Nam

Năm 1946, tờ báo tiền thân của Phụ nữ Việt Nam ra đời do Ban liên lạc phụ

nữ Bắc Bộ sáng lập với tên gọi “Tiếng gọi phụ nữ” Năm 1948, Báo Phụ nữ Việt Nam chính thức được thành lập Báo Phụ nữ Việt Nam là cơ quan ngôn luận của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, tờ báo đại diện cho các tầng lớp phụ nữ của cả nước gửi gắm tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của mình để phản ánh trước công luận Báo Phụ nữ Việt Nam có nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục, động viên các tầng lớp phụ nữ phấn đấu thực hiện tốt các chính sách do Đảng và Nhà nước đề ra; tuyên truyền thành tích nổi bật của phong trào phụ nữ, các gương phụ nữ điển hình trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đồng thời, đấu tranh bảo vệ quyền lợi cho phụ nữ, bảo đảm thực hiện chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước đã ban hành đối với phụ nữ Báo được phát hành rộng rãi trên cả nước với các ấn phẩm: Phụ nữ Việt Nam, Thế giới Phụ nữ, Hạnh phúc gia đình, Phụ nữ Việt Nam cuối tuần Các

ấn phẩm của Báo Phụ nữ Việt Nam mang đậm tính nhân văn, đề cập đến những vấn đề của người phụ nữ nhưng lại là vấn đề chung của gia đình Việt Nam và của toàn xã hội Vì vậy, độc giả của Báo Phụ nữ Việt Nam không chỉ là phụ nữ mà còn rất nhiều nam giới cũng là bạn đọc trung thành của báo

Ở mảng đề tài tuyên truyền về vấn đề phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài, báo Phụ nữ Việt Nam là một trong những cơ quan báo chí đi đầu trong việc cung cấp và định hướng thông tin cho độc giả Báo thực sự là diễn đàn chung

để giải đáp các thắc mắc, vấn đề khó xử trong đời sống Báo là cơ quan ngôn luận bảo về quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho phụ nữ Khảo sát từ năm 2007 –

2011, báo có 124 tin, bài về vấn đề phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước

Trang 32

33

ngoài Thông qua các chuyên trang, chuyên mục như: Hôn nhân - gia đình; Gia đình bền vững; Xã hội; Thư tâm sự; Vấn đề bạn trẻ quan tâm; Hỏi đáp pháp luật,….báo tập trung tuyên truyền một số nội dung chính như: văn bản pháp luật liên quan đến hôn nhân có yếu tố nước ngoài, sự can thiệp của các cơ quan chức năng, một số vụ việc nổi cộm, các đường dây môi giới hôn nhân trái pháp luật, kinh nghiệm chia sẻ của những người trong cuộc và của các chuyên gia tư vấn, nghiên cứu về vấn đề hôn nhân có yếu tố nước ngoài,…Bằng cách tuyên truyền, phản ánh khá đa dạng và phong phú các nội dung về vấn đề hôn nhân có yếu tố nước ngoài, báo luôn là người bạn đồng hành và là địa chỉ tin cậy được nhiều bạn trẻ gửi gắm tâm sự, giải tỏa những khó khăn, vướng mắc trong cuộc sống, giúp nhiều bạn gái có được lựa chọn đúng đắn trong cuộc sống và hôn nhân

2.2.2 Báo Gia đình và Xã hội

Báo Gia đình và Xã hội là cơ quan ngôn luận của Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình thuộc Bộ Y tế Báo xuất bản số đầu tiên vào ngày 9/4/1999 Trong những năm qua, Báo Gia đình và Xã hội là công cụ truyền thông có hiệu quả đối với công tác Dân số- Kế hoạch hóa gia đình và công tác y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân; nâng cao chất lượng cuộc sống; giáo dục về sức khỏe sinh sản; giới thiệu các tấm gương sáng của ngành; cung cấp cho bạn đọc những thông tin

bổ ích về gia đình, xã hội và đời sống kinh tế, chính trị của đất nước Với 13 năm phát triển và trưởng thành, ngoài việc làm tốt các nhiệm vụ chính trị mà Đảng, Nhà nước và ngành giao phó, Báo Gia đình & Xã hội đã tổ chức được nhiều chương

trình xã hội - từ thiện có ý nghĩa thiết thực như Chương trình tặng quần áo cho trẻ

em vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn; Chương trình "Xe lăn cho người khuyết tật”

Báo đã có nhiều chiến lược đầu tư thích đáng cho kế hoạch truyền thông thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia Dân số- Kế hoạch hóa gia đình và một số mảng đề tài khác về gia đình và xã hội, trong đó có cả vấn đề về hôn nhân gia đình Báo phát hành 5 số/tuần và thu hút được sự quan tâm và chú ý của nhiều độc giả Khảo sát từ năm 2007- 2011, báo có 46 tin, bài về vấn đề phụ nữ kết hôn với người nước ngoài, trong đó báo tập trung tuyên truyền, phản ánh những vụ việc lớn về cô dâu Việt Nam bị giết hại, bị chà đạp nhân phẩm, bị bôi nhọ danh dự

2.2.3 Báo Phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh

Trang 33

34

Với vai trò là cơ quan ngôn luận của Hội Liên hiệp phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh, Báo Phụ nữ TP Hồ Chí Minh luôn bám sát tôn chủ mục đích đã xác định là tuyên truyền nâng cao nhận thức hiểu biết những chủ trương, chính sách của Đảng và luật pháp Nhà nước cho phụ nữ; phản ánh và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng của phụ nữ, trẻ em; tổ chưc diễn đàn của giới nữ trong việc định hướng những giá trị truyền thống tốt đẹp trong xây dựng, gìn giữ hạnh phúc gia đình; khẳng định vị trí, vai trò, trách nhiệm của người phụ nữ đối với gia đình- xã hội 36 năm trước, ngày 19/5/1975, kỷ niệm sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh, giữa những ngày tháng Năm rực lửa, Báo Phụ Nữ Sài Gòn- nay là báo Phụ

Nữ TP Hồ Chí Minh, đã ra mắt bạn đọc để đến hôm nay vẫn luôn trung thành với tôn chỉ, mục đích là bạn đường hạnh phúc của mọi người, mọi nhà Báo Phụ Nữ

TP Hồ Chí Minh tiếp tục chuyển tải những thông tin thời sự, bổ ích của cuộc sống liên quan đến gia đình, xã hội; đấu tranh bảo vệ nhân phẩm, lợi ích của phụ nữ và trẻ em; giáo dục giới tính, xây dựng người phụ nữ mới, văn minh và tiến bộ, góp phần xây dựng cuộc sống gia đình văn hóa, hạnh phúc 36 năm phấn đấu và phát triển, Báo Phụ Nữ TP Hồ Chí Minh đã khẳng định vị trí của mình trong ngành báo chí Việt Nam, trở thành món ăn tinh thần bổ ích của đông đảo bạn đọc Đáp lại sự tin cậy của bạn đọc, cùng với các ấn phẩm báo Phụ Nữ thứ Hai, thứ Tư, thứ Sáu, Chủ nhật và Trang tin điện tử Phụ Nữ Online(www.phunuonline.com.vn)

Tờ báo Phụ nữ TP Hồ Chí Minh đã trở thành người bạn tâm giao trong rất nhiều gia đình và đối tượng bạn đọc, đặc biệt là được các cấp Hội phụ nữ đánh giá như một loại tài liệu tuyên truyền sinh động, cung cấp kiến thức bổ ích cho các giới phụ nữ Do đó, trên các trang Tình yêu- Hôn nhân, Gia đình, Bạn gái, Khỏe và Đẹp, Thị trường- Tiêu dùng, Giáo dục….tính định hướng luôn được thể hiện rõ nét thông qua những gợi mở, hướng dẫn, tư vấn cụ thể, đúng đắn Các chuyên mục như Chuyện con gái, Duyên con gái, Hôn nhân gia đình, Hạnh phúc gia đình,…được báo đầu tư xây dựng kỹ lưỡng nhằm cung cấp những kiến thức tâm sinh lý cần thiết cho bạn gái, hành vi, lối sống, xây đắp giá trị văn hóa gia đình một cách bền vững của tuổi mới lớn, thông qua đó định hướng giá trị đạo đức, lối sống cho bạn trẻ nói chung Khảo sát năm 2007- 2011, báo có 130 tin, bài về vấn đề phụ

nữ kết hôn với người nước ngoài, đáp ứng được một số nhu cầu thiết yếu của công chúng về vấn đề khá phức tạp này

Trang 34

35

2.3 Các hình thức kết hôn

2.3.1 Qua môi giới hôn nhân

Môi giới kết hôn với người nước ngoài diễn ra khá phổ biến và phức tạp nhất là ở những địa phương có đông phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài Điều này xuất phát từ thực tế là những phụ nữ có nhu cầu lấy chồng ngoại thường thông qua môi giới để tìm chồng và làm các thủ tục pháp lý kết hôn Bên cạnh đó việc môi giới hôn nhân mang lại lợi nhuận cao nên ngày càng có nhiều người bất chấp các thủ đoạn, tìm cách dụ dỗ, lôi kéo phụ nữ ở các vùng nông thôn theo các đường dây môi giới kết hôn

Qua nghiên cứu các báo khảo sát cho thấy, có hai hình thức môi giới kết hôn chủ yếu, đó là môi giới bất hợp pháp và môi giới hợp pháp thông qua các Trung tâm hỗ trợ kết hôn có yếu tố nước ngoài

Đối với hình thức môi giới hôn nhân bất hợp pháp, báo chí trong nước đã có những loạt bài viết lên tiếng đấu tranh mạnh mẽ về vấn nạn này Trên số báo Phụ

nữ Việt Nam ra ngày 23/3/2009, tác giả Bảo Khánh đã có bài viết “Trăn trở đằng

sau vụ môi giới hôn nhân bất hợp pháp” bày tỏ quan điểm bức xúc của mình về

những cô gái trẻ sẵn sàng đánh đổi cuộc đời mình vào cuộc hôn nhân thông qua môi giới bất hợp pháp và phớt lờ những cảnh báo mà các phương tiện truyền thông

đã từng nói đến Bức xúc về vấn đề này, tác giả đã có đoạn viết: “Môi giới hôn

nhân trái phép đã trở thành một vấn nạn khá phổ biến trong nhiều năm qua Tình hình đặc biệt nóng bỏng ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long nơi hiện đang dẫn đầu cả nước về số lượng phụ nữ lấy chồng nước ngoài”

Báo chí không chỉ nêu hiện tượng môi giới bất hợp pháp diễn ra ở Việt Nam

mà ở các nước có cô dâu Việt Nam lấy chồng nước ngoài đến sinh sống, hiện tượng này cũng đang diễn biến như làn sóng ngầm hết sức phức tạp và khó lường

“Có loại được môi giới bất hợp pháp?”, đó là câu hỏi và cũng là tiêu đề của bài viết đăng trên Báo Gia đình và Xã hội số ra ngày 5/3/2009 Bài báo có đoạn viết

“Theo đại diện nhà chức trách một số địa phương ở Đài Loan, hoạt động mai mối

do một số cá nhân, tổ chức tiến hành ngoài tầm kiểm soát của chính quyền đã khiến cho tình hình xã hội xuất hiện nhiều phức tạp, bất ổn” Điều đáng nói ở đây

là đa số phụ nữ có mong muốn kết hôn với người nước ngoài đều thông qua môi giới bất hợp pháp Luật pháp Việt Nam không cho, hoặc nếu nói là chưa cho

Trang 35

36

phép các tổ chức, cá nhân thành lập trung tâm hoạt động môi giới hôn nhân, nhưng

do nhu cầu từ hai phía – Việc đàn ông Đài Loan, Hàn Quốc, từ nhiều lý do muốn lấy vợ các nước đang phát triển như Việt Nam, hoặc một số nước ở Đông Nam Á;

và phụ nữ nông thôn Việt Nam có nhu cầu, nguyện vọng kết hôn với người đàn ông nước ngoài Thực tế đó làm cho việc môi giới hôn nhân vẫn cứ phát triển, vẫn lén lút hoạt động, có thời điểm rất nóng, khó kiểm soát - vì lực lượng này đa dạng phong phú, kể cả môi giới chính là người thân, người nhà, hoặc là người đã từng một thời là nạn nhân của sự lừa đảo

Nhiều bài báo đã viết về những cuộc đột kích của cảnh sát phá các đường dây môi giới ở TP Hồ Chí Minh Những bài báo này miêu tả những mưu mẹo mà đường dây môi giới này sử dụng để kiếm tiền từ cả phía cô dâu và phía chú rể Đáng chú ý là hầu hết các bài báo này đều sử dụng ngôn ngữ kẻ cả và khinh miệt đối với phụ nữ Chẳng hạn như một trong những bài báo này đã lấy tiêu đề

“Đường dây “chăn gái” lấy chồng Đài Loan” (Báo Phụ nữ TP Hồ Chí Minh số tháng 6/2008), liên tục sử dụng từ “chăn dắt” để miêu tả đường dây này

Với tiêu đề “Thị trường vợ ở Đài Loan ngày nay như thế nào?” trên báo Phụ

nữ TP Hồ Chí Minh đăng ngày 4/3/2007 đã sử dụng cụm từ “thị trường vợ” lặp đi lặp lại để miêu tả các công ty môi giới ở TP Hồ Chí Minh Trong bài báo này, người phụ nữ trẻ được phác họa là mù chữ, thụ động, khờ khạo, chấp nhận bị lựa chọn như động vật

Báo chí đăng tải khá đậm nét các đường dây môi giới hôn nhân trái phép càng nở rộ và hoạt động ngày càng đa dạng Bài viết “Môi giới hôn nhân trái phép

- Phạt cứ phạt, phạm cứ phạm” đăng trên báo Phụ nữ TP Hồ Chí Minh số ra ngày 24/3/2009 đã thông tin về một đường dây môi giới trái phép ở TP Hồ Chí Minh

Đối tượng “cò” trong một lần bị bắt đã tỉnh bơ khai “Đây là lần thứ 10 tôi tổ chức

môi giới cho các cô gái Việt Nam lấy chồng Hàn Quốc Mấy lần trước trót lọt, chỉ tại lần này…xui!” Một loạt các bài viết khác như: “Ngăn chặn vụ trai Hàn xem

mặt 51 cô gái Việt” đăng trên báo Phụ nữ Việt Nam số ra ngày 8/7/2009, “Siết lại hoạt động của công ty môi giới” đăng trên báo Phụ nữ TP Hồ Chí Minh số ra ngày 24/10/2009, “5 đàn ông Hàn coi mắt 68 phụ nữ Việt” trên báo Phụ nữ TP Hồ Chí Minh năm 2010, “Nghiêm cấm môi giới kết hôn” đăng trên báo Gia đình- Xã hội

số tháng 9/2008 đều là những dẫn chứng cụ thể về hoạt động môi giới hôn nhân

Trang 36

37

bất hợp pháp

Nhìn chung, hoạt động môi giới được miêu tả là một hoạt động tội phạm biến phụ nữ thành hàng hóa và làm hại phụ nữ Hơn nữa, những bài viết về những cuộc tập kích, bắt giữ và hình phạt đã cho công chúng Việt Nam thấy rằng Chính phủ đang quan tâm đến những người phụ nữ bị lạm dụng và sẵn sàng trừng phạt mạnh tay những kẻ tham gia vào những hoạt động đáng xấu hổ và phạm pháp

Theo số liệu khảo sát của tác giả cùng nhóm nghiên cứu tại 8 xã thuộc 4 tỉnh: Bắc Giang, Hải Phòng, Cần Thơ, Vĩnh Long vào tháng 8/2010 cho thấy, trong số 63 người có người thân trong gia đình kết hôn với người nước ngoài,

55.5% thông qua người môi giới, 27% thông qua họ hàng, người thân giới thiệu, 12.7% thông qua bạn bè, 4.8% thông qua người khác (Biểu đồ 2.1) Trong số đó,

49.2% phải chi trả tiền để cho con hoặc người thân lấy chồng nước ngoài Điển hình nhất là 2 xã của thành phố Hải Phòng, trung bình mỗi gia đình phải trả từ 30-

40 triệu đồng cho người môi giới Nhiều gia đình sẵn sàng vay mượn để chi trả

Biểu đồ 2.1: Cách thức kết hôn với người nước ngoài

Người môi giới: 55.5%

Họ người thân:

tổ chức tại nơi khác (trên thành phố, nhà hàng…), 3.2% tổ chức tại cả gia đình và nơi khác, 3.2% không được tổ chức

Trang 37

38

Địa điểm tổ chức đám cưới

Không tổ chức: 3.2% Tại gia đình:

4.8%

Với câu hỏi “Theo anh/chị, khi có người thân kết hôn với người nước ngoài

cần những thông tin gì trên báo chí?”, kết quả cho thấy, trong số 63 người được

hỏi có người thân, có con lấy chồng nước ngoài, 63.5% đã liệt kê được các thông tin cần thiết như: điều kiện cuộc sống của gia đình nhà chồng, thủ tục pháp lý, đăng ký kết hôn, gặp mặt chú rể trước khi cưới, luật pháp và ngôn ngữ nước sở tại Tuy nhiên, 26.5% không biết là cần phải có những thông tin cụ thể nào nếu có người thân kết hôn với người nước ngoài

Nhìn chung, những người được hỏi chưa biết nhiều thông tin có liên quan tới vấn đề phụ nữ lấy chồng nước ngoài Nhiều người không biết là nếu có người thân lấy chồng nước ngoài thì phải cần có những thông tin gì, bởi vì 26.5% trong

số họ rất ít hoặc hiếm khi tiếp cận với các phương tiện truyền thông đại chúng, trong đó có những tờ báo luận văn khảo sát Một bộ phận người dân đã liệt kê được các rủi ro mà phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài gặp phải Mặc dù phần lớn các trường hợp lấy chồng nước ngoài được cho biết chủ yếu là nữ thanh niên, nhưng có nhiều gia đình đã định hướng cho con lấy chồng nước ngoài từ sớm và

có ảnh hưởng tới nhận thức của con, điển hình nhất là ở Hải Phòng Lý do kinh tế vẫn giữ vai trò quan trọng trong quyết định của người phụ nữ khi lấy chồng nước ngoài

- Hình thức môi giới kết hôn thứ hai là hình thức thông qua các Trung tâm

Hỗ trợ kết hôn có yếu tố nước ngoài của Hội LHPN các tỉnh/thành phố Đây là hình thức mang lại sự an toàn và tránh những rủi ro cho các cô dâu Việt Bài viết

“Hỗ trợ kết hôn vì hạnh phúc của cô dâu Việt” đăng trên báo Phụ nữ Việt Nam số

ra ngày 14/1/2011 đã giới thiệu sự ra đời của Trung tâm hỗ trợ kết hôn có yếu tố nước ngoài tại TP Cần Thơ Đây là Trung tâm đầu tiên được thành lập ở

Trang 38

39

khu vực đồng bằng sông Cửu Long, nhằm hỗ trợ, tư vấn và bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho phụ nữ trong khu vực khi lấy chồng có yếu tố nước ngoài Bài viết đã giúp độc giả nắm bắt được những dịch vụ hợp pháp mà họ được hỗ trợ, tránh được

những cạm bẫy khó lường thông qua các đường dây môi giới bất hợp pháp “Trung

tâm sẽ tư vấn trực tiếp cho mọi công dân Việt Nam có nhu cầu đăng ký kết hôn và thực hiện quyền kết hôn theo quy định của pháp luật; phối hợp với Hội Liên hiệp các tổ chức hữu nghị, các tổ chức quốc tế mở các lớp chuyên đề và cung cấp các thông tin cơ bản về ngôn ngữ, lịch sử, văn hóa, phong tục… của các quốc gia sở tại mà công dân Việt Nam đăng ký kết hôn”

Bài viết “Sau hai năm thí điểm hỗ trợ hôn nhân nước ngoài” đăng trên báo Phụ nữ Việt Nam số ra ngày 6/6/2011 giới thiệu Trung tâm Tư vấn hỗ trợ hôn nhân của Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Hải Dương Trong bài viết, tác giả giới thiệu đầy đủ quy trình hỗ trợ hôn nhân bao gồm 9 giai đoạn rất cụ thể và rõ ràng

Theo báo cáo của Hội LHPN Việt Nam, hiện nay Hội LHPN các tỉnh /thành phố đã thành lập được 18 Trung tâm, trong đó: 15 Trung tâm thành lập theo Nghị định 68, bao gồm Hội LHPN các tỉnh , thành: Hải Dương, Đà Nẵng, Quảng Nam, Lâm Đồng, Bình Phước, TP Hồ Chí Minh , An Giang, Đồng Tháp, Tây Ninh, Sóc Trăng, Cà Mau, Trà Vinh, Vĩnh Long, Cần Thơ và Long An; 01 Trung tâm thành lập theo Nghị định 77 về tư vấn pháp luật, trong đó các hoạt động chủ yếu tư vấn

về hôn nhân có yếu tố nước ngoài: Hội LHPN thành phố Hải Phòng; 02 Trung tâm thành lập theo Nghị định 77 và Nghị định 68: Hội LHPN thành phố Hà Nội và Hội LHPN tỉnh Thái Nguyên

Sau khi được thành lập, các Trung tâm đã tập trung tuyên truyền, phổ biến, giáo dục các nội dung liên quan đến hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài như: chính sách, luật pháp của Đảng và Nhà nước về hôn nhân gia đình; truyền thống, chuẩn mực, nhân phẩm của người phụ nữ Việt Nam, truyền thống tốt đẹp của phụ

nữ Việt Nam và định hướng hôn nhân theo hướng tự nguyện đúng quy định của pháp luật Việt Nam; pháp luật về hôn nhân gia đình, phòng, chống bạo lực gia đình và bình đẳng giới tới cộng đồng và chủ yếu tập trung ở các địa bàn có đông phụ nữ lấy chồng nước ngoài hoặc thông qua các Web, Tờ thông tin phụ nữ tỉnh/thành; Tư vấn cho những phụ nữ có nhu cầu kết hôn với người nước ngoài Theo báo cáo của 14/18 Trung tâm, từ khi thành lập đến nay đã tổ chức tư vấn

Trang 39

40

cho khoảng 6.500 trường hợp liên quan đến hôn nhân có yếu tố nước ngoài và tư

vấn thủ tục ghi chú kết hôn (chủ yếu với người Hàn Quốc) Sau khi được tư vấn, nhiều trường hợp đã xin rút hồ sơ, thay đổi ý định không lấy chồng người nước ngoài, điển hình như TP Hồ Chí Minh có 474/2.150 trường hợp

3 tờ báo khảo sát đã tập trung phản ánh hai hình thức môi giới kết hôn chủ yếu với người nước ngoài: hợp pháp và bất hợp pháp Đây là hai hình thức hoàn toàn khác biệt về cách thức tổ chức, tính chất pháp lý cũng như năng lực tư vấn, tham vấn Từ thực trạng đó, báo chí đã giúp người dân nhận thức cụ thể và toàn diện hơn về các hoạt động môi giới hôn nhân đang diễn biến phức tạp và đa dạng trong đời sống xã hội ở nhiều địa phương Tuy nhiên, một thưc tế đặt ra là báo chí

đã tập trung phản ánh những tiêu cực và những nguy cơ có thể xảy ra khi phụ nữ kết hôn với người nước ngoài qua môi giới hôn nhân bất hợp pháp, nhưng số trường hợp tìm đến loại hình dịch vụ này không ngừng tăng lên.Một chỉ số khảo sát của tác giả cùng nhóm nghiên cứu tiến hành tại 4 tỉnh: Hải Phòng, Bắc Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long cho thấy, 95% số lãnh đạo, chính quyền địa phương đều biết rằng đa số phụ nữ có nhu cầu lấy chồng nước ngoài ở địa phương của họ đều tìm đến kênh môi giới bất hợp pháp vì họ không cần thủ tục phức tạp, rườm rà, các quy trình được đáp ứng thuận tiện, nhanh gọn Câu hỏi dành cho đối tượng phụ nữ lấy chồng nước ngoài đã trở về địa phương vì nhiều lý do không may mắn với nội

dung: “Chị có biết về nguy cơ của môi giới hôn nhân bất hợp pháp không?” Đa số đều trả lời là “Có biết, nhưng em vẫn tìm đến loại dịch vụ này vì em nghĩ điều đó

xảy ra với ai đó không may mắn thôi, còn bản thân em chắc không rơi vào tình trạng như thế”

Như vậy, 3 tờ báo khảo sát mới nêu lên được thực trạng và hậu quả của hoạt động môi giới hôn nhân bất hợp pháp Loại hình hoạt động môi giới hợp pháp phản ánh còn mờ nhạt, mới chỉ có báo Phụ nữ Việt Nam và Báo Phụ nữ TP Hồ Chí Minh giới thiệu về loại hình này (Báo Phụ nữ Việt Nam: 6 bài/5 năm; Báo Phụ nữ

TP Hồ Chí Minh: 4 bài/5 năm) vì thực chất môi giới hôn nhân hợp pháp thông qua các Trung tâm Hỗ trợ kết hôn của Hội LHPN các tỉnh/thành phố mới được hình thành và phát triển trong 2-3 năm trở lại đây Vì thế, 3 tờ báo khảo sát cũng chưa thực sự chú ý tuyên truyền đến hình thức này, đồng thời cũng chưa phân tích kỹ các dịch vụ hỗ trợ, tư vấn, hiệu quả tác động của các Trung tâm hỗ trợ kết hôn

Trang 40

41

với người nước ngoài Vì vậy, 3 tờ báo nên tập trung tuyên truyền kỹ lưỡng hơn nữa về các Trung tâm này

Ngày đăng: 31/03/2015, 14:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Số liệu thống kê hoạt động hộ tịch năm 2010 của Bộ Tƣ pháp - Vấn đề phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài trên báo chí hiện nay (Khảo sát các tờ báo in  Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ TP Hồ Chí Minh, Gia đình và Xã hội từ
Bảng 1.1 Số liệu thống kê hoạt động hộ tịch năm 2010 của Bộ Tƣ pháp (Trang 25)
Bảng 2.1: Mức độ tiếp nhận báo chí của chị em có nhu cầu - Vấn đề phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài trên báo chí hiện nay (Khảo sát các tờ báo in  Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ TP Hồ Chí Minh, Gia đình và Xã hội từ
Bảng 2.1 Mức độ tiếp nhận báo chí của chị em có nhu cầu (Trang 67)
Bảng 2.3: Nguyên nhân phụ nữ không quan tâm đọc báo - Vấn đề phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài trên báo chí hiện nay (Khảo sát các tờ báo in  Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ TP Hồ Chí Minh, Gia đình và Xã hội từ
Bảng 2.3 Nguyên nhân phụ nữ không quan tâm đọc báo (Trang 69)
Bảng 2.4 cho thấy, những người được hỏi đã liệt kê được một số chủ trương - Vấn đề phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài trên báo chí hiện nay (Khảo sát các tờ báo in  Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ TP Hồ Chí Minh, Gia đình và Xã hội từ
Bảng 2.4 cho thấy, những người được hỏi đã liệt kê được một số chủ trương (Trang 76)
BẢNG HỎI - Vấn đề phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài trên báo chí hiện nay (Khảo sát các tờ báo in  Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ TP Hồ Chí Minh, Gia đình và Xã hội từ
BẢNG HỎI (Trang 118)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w