1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định của tòa án nước ngoài.

18 1,4K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Công Nhận Và Cho Thi Hành Tại Việt Nam Bản Án, Quyết Định Của Tòa Án Nước Ngoài
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Quốc Tế
Thể loại Bài Luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 190 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định của tòa án nước ngoài.

Trang 1

I Cơ sở lý luận cho việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định của tòa án nước ngoài.

1 Khái niệm và bản chất công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của tòa

án nước ngoài.

Theo từ điển Tiếng việt “công nhận” là sự thừa nhận trước mọi người một điều gì

đó là phù hợp với sự thật, với lẽ phải hoặc với thể lệ, luật pháp Còn “thi hành” là việc làm cho điều gì đó trở thành có hiệu lực (được thực hiện trên thực tế)

Hai thuật ngữ “công nhận” và “thi hành” bản án, quyết định cuả tòa án nước ngoài thường được sử dụng cùng nhau, tuy nhiên trên thực tế chúng có thể sử dụng một cách riêng rẽ Hai thuật ngữ này mặc dù có sự gắn bó phụ thuộc lẫn nhau nhưng cũng có thể được sử dụng với những hàm ý khác nhau Trong trường hợp bản án, quyết định của tòa án được tự nguyện thi hành thì nó có thể có trường hợp nó chỉ cần công nhận mà không cần thi hành Trong khi đó nếu một bản án, quyết định của tòa án đã được thi hành có nghĩa là nó đã được công nhận Việc thi hành bản án quyết định của tòa án không chỉ là việc công nhận hiệu lực của bản án, quyết định

mà bao gồm cả việc đưa bản án, quyết định vào cuộc sống Do đó có thể hiểu khái niệm công nhận và cho thi hành bản án quyết định của tòa án nước ngoài theo nghĩa tổng thể (bao gồm cả công nhận và thi hành), nhưng cũng có thể hiểu theo nghĩa tách biệt (khái niệm công nhận và khái niệm thi hành)

Để hiểu rõ khái niệm “công nhận” và cho thi hành bản án quyết định của tòa án nước ngoài cần làm rõ mục đích và bản chất của hoạt động đó Đối với công nhận mục đích ở đây thể hiện ở chỗ, sự công nhận được sử dụng nhằm ngăn ngừa trường hợp nguyên đơn hoặc bị đơn tiếp tục khởi kiện về vụ việc đã được tòa án giải quyết Trong khi đó việc thi hành lại đóng vai trò như một công cụ hữu hiệu để buộc bên bị thi hành phải thực hiện những hành vi bất lợi cho mình mà bên đó đã không tự nguyện thi hành

Việc xác định khái niệm công nhận và cho thi hành bản án quyết định của tòa án nước ngoài cho thấy bản chất của của việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của tòa án nước ngoài là việc Nhà nước thừa nhận hiệu lực pháp lý của bản án, quyết định của tòa án nước ngoài trên lãnh thổ của quốc gia mình, thừa nhận sự phát sinh các quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên đương sự trong bản án, quyết định này giống như bản án, quyết định của của toàn án nước mình tuyên Công nhận và cho thi hành bản án quyết định của tòa án nước ngoài là một giai đoạn của

tố tụng dân sự quốc tế Bởi trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, bên cạnh việc giải quyết các tranh chấp dân sự theo thủ tục tố tụng thông thường và đưa ra bản án quyết định dân sự hợp pháp, thì cần có hoạt động công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài nữa Do đó, việc công nhận và cho

Trang 2

thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài chính là giai đoạn được tiếp nối của tố tụng dân sự thông thường

2 Khái niệm bản án, quyết định của tòa án nước ngoài theo pháp luật VN.

Về khái niệm bản án quyết định dân sự của tòa án nước ngoài, điều 1 PL công nhạn

và thi hành tại VN bản án quyết định dân sự của tòa án nước ngoài quy định: Theo khoản 1 điều 342 BL TTDS năm 2004, bản án quyết định dân sự của tòa án nước ngoài là bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của tòa án nước ngoài và bản án quyết định khác của tòa án nước ngoài mà theo pháp luật VN nó đc coi là bản án quyết định dân sự

Theo 2 khái niệm trên ta có thể xác định được đối tượng, phạm vi của việc công nhận và cho thi hành tại việt nam các bản án quyết định dân sự của tòa án nước ngoài bao gồm các bản án, quyết định dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động, quyết định về tài sản trong bản án quyết định hình sự, hành chính và cuối cùng là bản án khác do pháp luật quy định

3.Sự cần thiết của việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân

sự của tòa án nước ngoài.

Xét về bản chất một bản án, Một mặt, nó là phán quyết của cơ quan công

quyền nên mang tính chất công (public); mặt khác, nó nhằm giảI quyết quyền lợi giữa các bên đương sự, vì vậy mang tính chất tư (private) CHính Vì bản án là phán

quyết của cơ quan công quyền nên chỉ có hiệu lực pháp lý trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia đó Nguyên tắc chủ quyền quốc gia không cho phép một bản án của Toà án nước ngoài có hiệu lực trực tiếp trên quốc gia mình Ngoài ra, các quốc gia cũng e dè về tính công minh; về cơ sở quyền tài phán, thủ tục tố tụng và cách thức Toà án nước ngoài xét xử vụ việc Bên cạnh đó tính chất tư của Bản án nhằm giải quyết quyền lợi của các bên đương sự do đó nó đòi hỏi việc công nhận và thi hành tại một quốc gia khác Hơn nữa, việc công nhận tránh được việc xét xử trùng lắp (cùng một sự việc, giữa cùng các đương sự) giữa các Toà án , giảm tốn kém cho việc xét xử và tránh xảy ra việc tranh chấp không có hồi kết thúc

Trong sự hợp tác quốc tế mở rộng giữa Việt Nam và thế giới hiện nay, sự công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài tại VN trg những đkiện phù hợp là hết sức cần thiết và có ý nghĩa kte, chính trị và pháp lý rất quan trọng Có thể thấy điều này qua một số phân tích sau:

+ Trước tiên nếu không thực hiện công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân

sự của tòa án nước ngoài thì có nguy cơ lợi ích chính đáng của các bên không được bảo vệ, những hành vi vi phạm pháp luật không làm phát sinh hậu quả bất lợi cho các chủ thể thực hiện hành vi đó Sự bất an toàn về pháp lý này sẽ kìm hãm các quan hệ mang tính chất dân sự có yếu tố nước ngoài phát triển Bên cạnh đó việc

Trang 3

công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài còn góp phần thúc đẩy quan hệ hợp tác bình đẳng tự nguyện giữa các cá nhân và pháp nhân của các quốc gia

+ Trong khi đó việc Công nhân thi hành bản án nước ngoài sẽ bảo vệ lợi ích của bên thắng kiện dựa trên cơ sở sự công bằng cho bên thắng kiện, bởi vì sẽ thật bất công khi buộc bên thẳng kiện phải khởi đầu lại quá trình xét xử vụ việc đó lần nữa mà lần này có thể sẽ khó khăn khi họ phải taaph hợp tại vaath chứng, nhân chứng mà đôi khi ko thể tâp hợp lại đc Công nhận …còn tạo ra môi trg pháp

lý ổn định và dự đoán đc, từ đó thúc đẩy sự phát triển của thương mại quốc tế Bởi

Sự phát triển của của thương mại quốc tế luôn đi kèm với tranh chấp tuhwong mại gia tăng Các nhà kinh doanh đều chỉ quan tâm deens sự an toàn và dự đoán đc trg các giao dịch thương mại quốc tế các quốc gia có thể nhận thức rằng nếu họ muốn xúc tiến thương mại quốc tế họ cần đáp ưng mong đợi này của nhà kinh doanh

+… cũng Sẽ hạn chế chi phí tư pháp của quốc gia được yêu cầu công nhận

và chi phí của các bên tranh chấp Bởi nếu 1 bản án nước ngoài ko đc công nhận vụ việc sẽ phải xem xét lại, điều này gây tốn kém và thêm công việc cho tòa án của nc

đc yêu cầu công nhân, tốn kém cho các bên tranh chấp và hây trì hoãn việc kết thúc

vụ tranh chấp

+ Việc công nhận còn Giúp tăng cường hợp tác quốc tế về tư pháp Bởi việc…sẽ tránh đc tình huống khi luật của của quốc gia A dẫn chiếu đến quyền tài phá của quốc gia B nhưng sau đó quốc gia A lại từ chối việc công nhận và cho thi hành bản

án đó cuả toàn án nc ngaoi vì thiếu cơ sở pháp lý vì dụ như ko có DƯQT mà luật quốc gia cũng ko quy định

- Còn xét trên phương diện chính trị, việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài có ý nghĩa quan trọng, nó sẽ thúc đẩy quan hệ hữu nghị hợp tác và xây dựng giữa nước ta với các quốc gia hữu quan Rõ ràng trong quan hệ hợp tác giữa các quốc gia phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau trong đó có vấn đề công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án được tuyên tại lãnh thổ quốc gia này ở quốc gia khác Nếu như một quốc gia nào đó

từ chối công nhận và cho thi hành trong mọi trường hợp thì lợi ích của cá nhân và pháp nhân đó không thể được bảo vệ trong trường hợp tương tự ở quốc gia khác vì các quốc gia đều áp dụng nguyên tắc có đi có lại Và như vậy ánh hưởng ko nhỏ đến qua hệ bang giao giữa các các quốc gia thực hiện chính sách đó với quốc gia nước ngoài trên Không những vậy, Sự công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài ở các quốc gia khác khẳng định chủ quyền và vị trí của quốc gia đó trên đời sống quốc tế Các quốc gia cần bảo vệ lợi ích không chỉ của các cá nhân, pháp nhân quốc gia mình mà còn cả lợi ích của các cá nhân và pháp nhân nước ngoài Điều này rõ ràng thúc đẩy quan hệ hữu nghị hợp tác giữa

Trang 4

các quốc gia công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài góp phần thực hiện chủ trương của Nhà nước ta – thực hiện quan hệ hợp tác hữu nghị với tất cả các nước trên thế giới Việc ban hành các văn bản pháp luật, tham gia các ĐƯQT, hiệp định tương trợ tư pháp về vđề này của nc ta trg tgian qua

là việc làm thiết thực tạo tâm lý an toàn cho các nhà kinh doanh trên thế giới trong quan hệ với doanh nghiệp VN và cũng làm hài lòng các quốc gia muốn bảo vệ lợi ích chính đáng của các nhà kinh doanh, công dân nước họ Việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài là phù hợp với xu hướng văn minh tiến bộ trên thế giới hiện nay Do đó chính sách này sẽ được ủng hộ rộng rãi trên thế giới

- Còn xét trên phương diện kinh tế, sự công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài sẽ góp phần thúc đẩy quan hệ kinh té giữa nước

ta với các quốc gia hữu quan phát triển Bởi vì, về nguyên tắc các quốc gia phải tạo các điều kiện thuận lợi sau”

+ Tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế cạnh tranh lành mạnh

+ Có môi trường pháp lý thuận lợi đảm bảo cho việc cạnh tranh đó

+ có cơ chế giải quyết tranh chấp thuận lợi

+ có biện pháp bảo đảm cho các ản án quyết định của tòa án, trọng tài được công nhận và thực thi một cách có hiệu quả

Như vậy, việc công nhận và cho thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài

là một trong những điều kiện rất quan trọng để thúc đẩy sự hợp tác kinh tế Bên cạnh đó, công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoà

có ý nghĩa quan trọng trg phát triển kinh tế đối ngoại ở nước ta hiện nay Điều này thể hiện ở chỗ nếu như bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài không được công nhận và cho thi hành tại VN sẽ làm giảm bớt sự đầu tư, giảm bớt cơ hội tham gia quan hệ kinh tế với nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam dưới các hình thức khác nhau vì lo ngại rằng trong t/h có tranh chấp phát sinh và đc giải quyết bằng tòa án nước ngoài mà bên thua kiện là VN và tài sản liên quan đến tranh chấp ở VN Điều đó sẽ làm giảm bớt hào hứng đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào

Vn và cơ hội tham gia các hợp đồng kte với thương nhân nước ngoài của thương nhân Vn cũng giảm xuống

Ngoài ra việc bảo vệ lợi ích của cá nhân, pháp nhân nước ngoài cũng chính là việc bảo vệ lợi ích kinh tế của cá nhân và pháp nhân nước nước ta Thể hiện: nó thúc đẩy quan hệ kinh tế giữa cá nhân, pháp nhân nc ta với cá nhân, pháp nhân nc ngoài

Đó cũng là cơ sở khác công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của tòa án nước ta tại nước ngoài, theo đó sẽ đảm bảo quyền lợi cho CD VN

- Cuối cùng, trên phương diện pháp luật: việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài góp phần khắc phục những khiếm khuyết

Trang 5

của pháp luật điều chỉnh những quan hệ mang tính chất dân sự có yếu tố nước ngoài

4 Cơ sở pháp lý của việc công nhận và cho thi hành tại VN bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài.

Xuất phát từ sự cần thiết của việc công nhận và cho thi hành tại việt Nam bản án quyết định dân sự có yếu tố nước ngoài, ngày 17/6/1993 UBTVQH đã ban hành pháp lệnh công nhận và thi hành tại Việt nam bản án quyết định dân sự của tòa án nước ngoài, Pháp lệnh thi hành án dân sự ngày 29/8/1989, Nghị định số 117/CP về

án phí, lệ phí Tòa án trong đó có quy định về mức lệ phí mà người giữ đơn yêu cầu công nhận bản án quyết định của tòa án nước ngoài phải nộng và một số các văn bản quy phạm khác có liên quan do các bộ ban ngành hữu quan ban hành để hướng dẫn thi hành các pháp lệnh đó

Sau một thời gian thực hiện, nhằm đáp ứng của công cuộc hội nhập vào khu vực và

cả thế giới, ngày 15/6/04 BLTTDS ra đời, trong có vấn đề công nhận và cho thi hành bản án quyết định dân sự của tòa án nước ngoài được quy định cụ thể tại phần thứ 6 bao gồm các chương 26,27,28 của bộ luật SỰ ra đời của BLTTDS với việc

bổ sung nguyên tắc có đi có lại vào việc công nhận và cho thi hành bản án quyết định dân sự của tòa án nc ngoài là những bước tiến mới, là việc làm cần thiết và có

ý nghĩa quan trọng trong vấn đề tạo cơ sở pháp lý cho việc công nhận và cho thi hành, những quy định trong BL TTDS đã góp phần khắc phục những hạn chế trong pháp lệnh công nhận và các văn bản hướng dẫn trước đây, thúc đẩy sự phát triển của hoạt động công nhận và cho thi hành bản án quyết định dân sự của tòa án nước ngoài

Bên cạnh những văn bản PL trg nước, nhà nước ta còn quan tâm đến việc ký kết các ĐƯQT và trực tiếp nhất là các hiệp định tương trợ tư pháp đó có quy định về vấn đề công nhận, thi hành bản án của hai nước mà VN ký với các quốc gia như: Tiệp Khắc (ngày 12/10/1982) ngày nay cả Czeck và Slovak đều thừa kế Hiệp định này; với Cu ba ngày 30/11/1984); với Hungary ngày 18/1/1985; với Bulgaria ngày 3/10/1986 với Balan ngày 23/3/1993; với Nga ngày 25/8/1998; với lào ngày 6/7/1998, với Tquoc ngày 19/10/1998; với pháp (24/2/1998); Ukraine 6/4/2000; Mông cổ 7/4/2000; Belarus 14/9/2000…và mới đây là việc tham gia đàm phán cong ước quốc tế đa phương The Hague về công nhận bản án nước ngoài…

II Thực trạng của việc công nhận và cho thi hành tại VN bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài

1 Thực trạng pháp luật:

Thứ nhất, Các quy định về công nhận và thi hành tại VN bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài được ghi nhận trong cả các điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia Những quy định này đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc công nhận

Trang 6

và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án nước nước ngoài tại việt Nam Cụ thể:

Trước hết, Việt Nam đã tham gia Công ước về công nhận và thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài ngày 10/6.1958 (Công ước NewYork năm 1958) – Các quy định về Việc công nhận và thi hành các quyết định của Trọng tài nước ngoài

theo công ước này hiện nay được hầu hết các nước áp dụng Trong các Hiệp định tương trợ tư pháp mà nước ta ký thời gian gần đây (Hiệp định với Nga, Trung Quốc, Pháp) cũng quy định đối với việc công nhận và thi hành các quyết định của Trọng tài thực hiện theo các quy định của Công ước này Nội dung Công ước New York quy định các nước thành viên phải công nhận các phán quyết Trọng tài được đưa ra ngoài lãnh thổ của họ và các phán quyết không được coi là phán quyết trong nước của các nước thành viên Các phán quyết Trọng tài nước ngoài sẽ được thi hành như những quyết định của Toà án địa phương và hệ thống các cơ quan tư pháp của Nhà nước có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế để thi hành phán quyết

Tiếp theo là việc tham gia Các Hiệp định song phương về tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và các nước về lính vực công nhận và cho thi hành tại VN bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài Cho đến nay, Việt Nam đã ký kết với 14 nước

Hiệp định song phương về tương trợ tư pháp, bao gồm: Liên bang Nga, Séc, Xlôvakia, Ba Lan, Hungari, Bungari, CuBa, CHDCND Lào, Trung Quốc, CHDCND Triều Tiên, Ucraina, Belarut, Pháp, Mông Cổ Tất cả các Hiệp định song phương này đều có quy định về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân

sự của toà án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài Ngoài ra các ĐƯQT song phương khác như lãnh sự, thương mại con nuôi cũng đóng vai trò quan trọng trg giải quyết quan hệ tố tụng nói chung và vấn đền công nhận, cho thi hành bản án quyết định dân sự của tòa án nước ngoài nói riêng Ví dụ như trog HĐ hợp tác về nuôi con nuôi giữa VN và CH pháp được ký ngày 15/12/1999 cũng đã quy định về việc công nhận các quyết định cụ thể, như theo điều 15 của HĐ này quy định “ quyết định về nuôi con nuôi của cơ quan có thẩm quyền của mỗi nước có hiệu lực trên lãnh thổ nước ký kết kia…Việc công nhận quyết định về nuôi con nôi bao gồm

cả sự công nhận đầy đủ các hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi theo pháp luật của nước ký kết ra quyết định”

Tiếp theo nữa phải kể đến là việc ghi nhận việc cong nhận và cho thì hành ại

VN bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài theo Pháp luật trong nước.

Vấn đề công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Toà

án nước ngoài hiện đã được điều chỉnh trong Bộ Luật tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2004 Bộ luật đã luật hoá hai Pháp lệnh trước đây điều chỉnh về vấn đề này là Pháp lệnh công nhận và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Toà

Trang 7

án nước ngoài được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 17/4/1993 và Pháp lệnh công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 14/9/1995 Bên cạnh đó Phần thứ sáu của Bộ luật tố tụng dân sự “Thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài” với 31 điều (từ Điều 342 đến Điều 373) quy định một cách chi tiết không chỉ về thủ tục, trình tự xét công nhận và cho thi hành mà cả các quy định mang tính nguyên tắc cơ bản của việc công nhận và cho thi hành

Thứ hai, Nhìn chung các hiệp định tương trợ tư pháp giữa các nước với nhau đều

có nội dung tương tự và không khác nhiều so với các ĐƯQT đa phương trên thế giới về vđề này Tuy nhiên, về thể thức công nhận, trình tự thủ tục, nguyên tắc điều kiện công nhận và từ chối công nhận ở các ĐƯQT song phương được quy định một cách đầy đủ, chi tiết hơn và có tính đến mối quan hệ thân thiện giữa các nước

và thông lệ quốc tế Những nội dung cơ bản trong các hiệp định tương trợ rư pháp

về vấn đề này bao gồm những ý sau:

a/ Phạm vi công nhận và thi hành: các bản án, quyết định của nước ngoài được

công nhận và cho thi hành bao gồm: bản án, quyết định dân sự; phần dân sự trong bản án hình sự; các quyết định của Trọng tài thương mại Đặc biệt trong một số các Hiệp định tương trợ tư pháp ký với các nước còn phân biệt các bản án, quyết định dân sự có tính chất tài sản và bản án, quyết định không mang tính chất tài sản trong việc công nhận và cho thi hành Điều 51 Hiệp định với Nga quy định đối với các bản án, quyết định dân sự không mang tính tài sản của Bên ký kết này được công nhận trên lãnh thổ của Bên ký kết kia mà không phải qua một thủ tục đặc biệt nào Như vậy, ở đây có thể hiểu việc Toà án xem xét công nhận và cho thi hành chủ yếu đặt ra đối với các bản án, quyết định có tính chất tài sản và trong tương lai sẽ phải

áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành nếu người phải thi hành án không tự nguyệnthi hành

b/ Điều kiện công nhận và thi hành: các Hiệp định đều quy định rất cụ thể các điều

kiện đặt ra đối với một bản án, quyết định để có thể được công nhận và cho thi hành Tựu chung lại có 3 điều kiện chính:

Thứ nhất, bản án, quyết định phải có hiệu lực pháp luật trên lãnh thổ nước tuyên

bản án, quyết định đó

Thứ hai, bản án, quyết định được cơ quan có thẩm quyền tuyên

Thứ ba, các thủ tục tố tụng (liên quan đến luật hình thức) phải được đảm bảo c/ Đơn yêu cầu: việc công nhận và cho thi hành chỉ đặt ra khi có yêu cầu Các

nước sẽ chỉ đặt ra việc xem xét công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của nước ngoài tại nước mình nếu có yêu cầu của đương sự có liên quan hoặc cơ quan

Trang 8

có thẩm quyền của nước đã ra bản án, quyết định đó Theo các Hiệp định tương trợ

tư pháp, đơn yêu cầu có thể gửi qua hai kênh:

- Qua kênh ngoại giao hoặc qua cơ quan tư pháp có thẩm quyền: theo đó, các cơ quan tư pháp đã tuyên bản án, quyết định có thể trực tiếp hoặc thông qua cơ quan trung ương chuyển đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành cho cơ quan có thẩm quyền của Bên ký kết kia (Hiệp định tương trợ tư pháp với Hungary, Bunggary…)

- Các đương sự trực tiếp gửi đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành

d/ Thủ tục xem xét đơn công nhận và thi hành: tất cả các Hiệp định đều quy định

Toà án là cơ quan xem xét và ra quyết định công nhận và thi hành bản án, quyết định của nước ngoài Ở đây, Toà án không xem xét lại nội dung bản án, quyết định Thẩm quyền tài phán của Toà án, trọng tài đã tuyên bản án, quyết định được tôn trọng và bảo đảm Thủ tục công nhận chỉ nhằm xem xét tính khánh quan của quá trình ra bản án, quyết định đó

e/ Các vấn đề về thi hành bản án, quyết định: Các Hiệp định tương trợ tư pháp chủ

yếu chỉ đề cập đến trình tự, thủ tục, điều kiện công nhận và thi hành bản án, quyết định của các Bên ký kết Tuy vậy, một phần quan trọng không kém là khi đã được công nhận và cho thi hành thì cơ chế để thi hành như thế nào? Hầu hết các Hiệp định chỉ quy định việc chuyển tiền và tài sản thi hành bản án, quyết định ra nước ngoài Các nội dung liên quan đến việc cưỡng chế thi hành bản án, quyết định được hiểu là do pháp luật của nước thi hành bản án, quyết định đó quy định

Thứ 3, VN tham gia các ĐƯQT về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài, tuy nhiên việc tham gia này được tiến hành trên cơ

sở đảm bảo phù hợp với điều kiện cũng như quy định của pháp luật VN, cụ thể khi tham gia Công ước NewYork năm 1958, Nhà nước ta đã tuyên bố 3 điểm bảo lưu:

1/ Chỉ áp dụng Công ước đối với việc công nhận và thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài được tuyên tại lãnh thổ của các quốc gia thành viên của Công ước; đối với quyết định của Trọng tài nước ngoài tuyên tại lãnh thổ của quốc gia chưa ký kết hoặc tham gia Công ước, Công ước được áp dụng tại Việt Nam theo nguyên tắc có đi có lại

2/ Chỉ áp dụng Công ước đối với tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật thương mại

3/ Mọi sự giải thích Công ước trước Toà án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác của Việt Nam phải tuân theo các quy định của Hiến pháp và pháp luật Việt Nam

Thứ tư, các quy định trong pháp luật quốc gia về vấn đề này được quy định trên cơ

sở phù hợp với các điều ước quốc tế và hiệp đinh tương TP mà VN tham gia, nhưng cụ thể hơn, chi tiết hơn và phù hợp với điều điện thực tế của VN Những quy định đó đã góp phần thuận lợi cho thực hiện việc công nhận và cho thì hành các bản án…tránh được các xung đột pháp luật, cũng như giải quyết được nhiều xung

Trang 9

đột đảm bảo quyền lợi của các chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật có yếu tố nước ngoài Những nội dung cơ bản về các quy định của pháp luật trong nước về vấn đề ày sẽ làm rõ điều này:

*.Pháp luật trong nước quy định cụ thể Về nguyên tắc công nhận và cho thi hành Ngay tại Điều 343 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 Theo đó thì Toà án

Việt Nam xem xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài và quyết định của Trọng tài nước ngoài theo 2 nguyên tắc cơ bản:

- Thứ nhất,dựa trên cơ sở điều ước quốc tế: “a) Bản án, quyết định dân sự của Toà

án của nước mà Việt Nam và nước đó đã ký kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế về vấn đề này;” (Điểm a, Khoản 1 Điều 343 BLTTDS); “Toà án Việt Nam xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài trong trường hợp quyết định được tuyên tại nước hoặc của Trọng tài của nước mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế về vấn đề này.” (Khoản 2 Điều 343 BLTTDS)

- Thứ hai, dựa trên nguyên tắc có đi có lại: “Bản án, quyết định dân sự của Toà án

nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài cũng có thể được Toà án Việt Nam xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam trên cơ sở có đi có lại mà không đòi hỏi Việt Nam và nước đó phải ký kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế về vấn đề đó (Khoản 3, Điều 343 BLTTDS) Đây là nguyên tắc mới đối với việc công nhận và cho thi hành các bản án, quyết định của Toà án nước ngoài Trước đây, nguyên tắc có đi có lại mới chỉ đặt ra cho việc công nhận và cho thi hành các quyết định dân sự của Trọng tài nước ngoài

* Về thủ tục và trình tự xem đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài cũng được quy định cụ thể tại 10 điều chương 27 BLTTDS 2004 Theo đó trình tự này gồm các bước sau:

Bước 1 Xét đơn yêu cầu

Theo quy định tại Điều 350 BLTTDS thì Bộ Tư pháp là cơ quan đầu mối trong việc tiếp nhận các hồ sơ giấy tờ yêu cầu công nhận và thi hành bản án, quyết định dân

sự của Toà án nước ngoài sau đó kiểm tra tính hợp pháp, hợp thức của các giấy tờ,

hồ sơ, chuyển hồ sơ đến Toà án có thẩm quyền giải quyết, thông báo kết quả giải quyết đơn yêu cầu, đơn kháng cáo Trong đơn yêu cầu phải ghi rõ họ tên, địa chỉ nơi thường trú hoặc nơi làm việc của người đc thi hành, người đại diện hợp pháp của người đó, họ tên, địa chỉ, nơi cư trú, nơi làm việc của người phải thi hành, nêu người đc thi hành là cơ quan tổ chức thì phải ghi rõ đầy đủ tên, địa chỉ trụ sở chính của cơ quan đó.Việc nhận đơn chỉ được tiến hành trong trường hợp người phải thi hành đang cư trú hoặc làm việc tại Việt Nam, hay người đó có tài sản liên quan đến việc thi hành tại Việt Nam vào thời điểm gửi đơn

Trang 10

Bước 2: Chuyển Hồ sơ cho tòa án

Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận đơn yêu cầu và các giấy tờ hợp lệ kèm theo, Bộ Tư pháp phải chuyển đơn cho Toà án có thẩm quyền Về thẩm quyền xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài, theo quy định tại Điều 352 BLTTDS là Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi người phải thi hành án cư trú, làm việc hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành

Bước ba, thụ lý hồ sơ:

Trg 3 ngày làm việc từ ngày nhận đc hồ sơ do Bộ tư pháp chuyển đến tòa án có thẩm quyền phải thụ lý và thông báo cho VKS cùng cấp biết Trong giai đoạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành, nếu Toà án thấy có vấn đề gì chưa rõ trong bản án, quyết định của Toà án , thì Toà án có quyền yêu cầu Toà án, trọng tài đã ra bản án, quyết định đó giải thích, Và Bộ tư pháp sẽ trả lời lại cho Tòa sau 7 ngày kể từ ngày nhận đc đơn yêu cầu giải thích

Bước 4 Chuẩn bị xét đơn yêu cầu:

Sau 4 tháng kể từ ngày thụ lý, Toà án phải ra quyết định mở phiên toà xét đơn yêu cầu nếu không có căn cứ tạm đình chỉ, đình chỉ Trong giai đoạn này ngoài việc xem xét, nghiên cứu hồ sơ vụ việc, Toà án còn phải tiến hành một số công việc khác như: xác minh về nơi cư trú của người phải thi hành, tài sản liên quan đến việc thi hành

Bước 5 Phiên họp Xét đơn yêu cầu

Theo quy định tại Điều 355 BLTTDS, việc xét đơn yêu cầu đc tiến hành tại phiên họp do một Hội đồng gồm ba thẩm phán tiến hành, trong đó có một thẩm phán do chánh án chỉ định làm chủ toạ Trong phiên họp phải có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp, người có nghĩa vụ phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của người đó Trường hợp kiểm sát viên vắng mặt, thì phải hoãn phiên toà Việc xét đơn yêu cầu vẫn được tiến hành nếu người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của người đó yêu cầu Toà án xét đơn vắng mặt không có lý do chính đáng

Sau khi xem xét đơn và các giấy tờ kèm theo, nghe ý kiến của người triệu tập, của kiểm sát viên, Hội đồng xét đơn yêu cầu thảo luận và quyết định (theo đa số) công nhận và cho thi hành hoặc quyết định không công nhận bản án, quyết định của nước ngoài Sau phiên toà sơ thẩm, quyền kháng cáo của đương sự được đảm bảo theo quy định của pháp luật Việt Nam Các đơn kháng cáo, kháng nghị sẽ được Toà

án nhân dân tối cao xem xét lại theo thủ tục phúc thẩm

Điểm đặc biệt lưu ý là theo quy định tại Khoản 4 Điều 355 BTTDS là khi xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Toà án, quyết định của Trọng tài nước ngoài, Toà án Việt Nam không được xét xử lại vụ kiện mà

Ngày đăng: 03/04/2013, 09:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w