Ai trong chúng ta cũng đều biết nước là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quí giá, không có nước thì không thể có sự sống. Cách đây hàng trăm triệu năm, sự sống đầu tiên, hạt coaxecva đã hình thành trên đại dương. Đối với con người, không một yếu tố nào quan trọng hơn là nước. Chúng ta có thể khó khăn khổ sở do thiếu năng lượng, vận tải, chỗ ở, thậm chí cả thức ăn… nhưng không thể tồn tại được nếu thiếu nước. Chẳng thế mà nước lại chiếm trên 80% trọng lượng cơ thể. Trên bề mặt địa cầu nước chiếm 75% diện tích, với một lượng khổng lồ khoảng 1,4 tỉ km3 (1 400 triệu tỉ m3), tưởng có thể đủ cho con người trên thế giới dùng mãi mãi, nhưng cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật từ thời kỳ Công nghiệp cho tới nay là mặt trái của nó với vô số những hậu quả, trong đó ô nhiễm nước đang là một vấn đề thời sự, một thực trạng đáng lo ngại nhất, vừa là nguyên nhân, vừa là hệ quả của sự hủy hoại môi trường tự nhiên, hủy hoại con người. Khủng hoảng về nước đang diễn biến hết sức phức tạp trên cả hành tinh chúng ta, ở Việt Nam và đặc biệt là các thành phố lớn như thành phố Hồ Chí Minh. Những hoạt động phát triển kinh tế một cách ồ ạt và chưa đồng bộ đã dẫn đến nguồn nước đang bị suy thoái nặng nề. Từ thực trang trên tôi thấy việc tìm hiểu về ô nhiễm nước, về thực trạng, nguyên nhân, hậu quả của nó thực sự cần thiết để từ đó có thể đề ra những biện pháp thích hợp nhằm giảm thiểu tiến tới giải quyết triệt để vấn đề này. Đó là lí do tôi chọn đề tài “ Vấn đề ô nhiễm môi trường nước tại thành phố Hồ Chí Minh”
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ai trong chúng ta cũng đều biết nước là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quí giá,không có nước thì không thể có sự sống Cách đây hàng trăm triệu năm, sự sống đầutiên, hạt coaxecva đã hình thành trên đại dương Đối với con người, không một yếu tốnào quan trọng hơn là nước Chúng ta có thể khó khăn khổ sở do thiếu năng lượng,vận tải, chỗ ở, thậm chí cả thức ăn… nhưng không thể tồn tại được nếu thiếu nước.Chẳng thế mà nước lại chiếm trên 80% trọng lượng cơ thể Trên bề mặt địa cầu nướcchiếm 75% diện tích, với một lượng khổng lồ khoảng 1,4 tỉ km3 (1 400 triệu tỉ m3),tưởng có thể đủ cho con người trên thế giới dùng mãi mãi, nhưng cùng với sự pháttriển như vũ bão của khoa học kỹ thuật từ thời kỳ Công nghiệp cho tới nay là mặt tráicủa nó với vô số những hậu quả, trong đó ô nhiễm nước đang là một vấn đề thời sự,một thực trạng đáng lo ngại nhất, vừa là nguyên nhân, vừa là hệ quả của sự hủy hoạimôi trường tự nhiên, hủy hoại con người Khủng hoảng về nước đang diễn biến hếtsức phức tạp trên cả hành tinh chúng ta, ở Việt Nam và đặc biệt là các thành phố lớnnhư thành phố Hồ Chí Minh Những hoạt động phát triển kinh tế một cách ồ ạt và chưađồng bộ đã dẫn đến nguồn nước đang bị suy thoái nặng nề Từ thực trang trên tôi thấyviệc tìm hiểu về ô nhiễm nước, về thực trạng, nguyên nhân, hậu quả của nó thực sựcần thiết để từ đó có thể đề ra những biện pháp thích hợp nhằm giảm thiểu tiến tới giải
quyết triệt để vấn đề này Đó là lí do tôi chọn đề tài “ Vấn đề ô nhiễm môi trường nước tại thành phố Hồ Chí Minh”
Trang 22 Mục đích nghiên cứu.
- Đánh giá hiện trạng môi trường nước tại các con sông và kênh rạch trên địa bànthành phố Hồ Chí Minh
- Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần giảm thiểu ô nhiễm và cải thiện môi trườngnước mặt của thành phố trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: môi trường nước mặt thành phố Hồ Chí Minh
- Phạm vi nghiên cứu: thành phố Hồ Chí Minh
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập số liệu
- Tham khảo ý kiến chuyên gia môi trường
- Phương pháp điều tra và khảo sát thực địa
- Phương pháp phân tích các chỉ tiêu về môi trường nước mặt
5 Nội dung của đề tài bao gồm:
- Lời nói đầu
- Phần I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về ô nhiễm môi trường nước
- Phần II: Thực trạng ô nhiễm môi trường nước mặt trên địa bàn TP Hồ Chí Minh
- Phần III: Giải pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường nước mặt tại TP Hồ ChíMinh
- Kết luận
Trang 3PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
1 Khái niệm về ô nhiễm nước
Vấn đề ô nhiễm nước là một trong những thực trạng đáng ngại nhất của sự hủyhoại môi trường tự tự nhiên do nền văn minh đương thời Môi trường nước rất dễ bị ônhiễm, các ô nhiễm từ đất, không khí đều có thể làm ô nhiễm nước, ảnh hưởng lớn đếnđời sống của người và các sinh vật khác
Do sự đồng nhất của môi trường nước, các chất gây ô nhiễm gây tác động lêntoàn bộ sinh vật ở dưới dòng, đôi khi cả đến vùng ven bờ và vùng khơi của biển
2 Dấu hiệu nước bị ô nhiễm
Môi trường nước mặt bao gồm nước hồ, ao, đồng ruộng, nước các sông suối,kênh rạch Nguồn nước các sông, kênh tải nước thải, các hồ khu vực đô thị, KCN vàđồng ruộng lúa nước là những nơi thường có mức độ ô nhiễm cao Nguồn gây ra ônhiễm nước mặt là các khu dân cư tập trung, các hoạt động công nghiệp, giao thôngthuỷ và sản xuất nông nghiệp
Nguồn nước bị ô nhiễm có các dấu hiêu đặc trưng sau:
Có xuất hiện các chất nổi trên bề mặt nước và các cặn lắng chìm xuống đáynguồn
Thay đổi tính chất lý học (độ trong, màu, mùi, nhiệt độ,…)
Thay đổi thành phần hoá học (pH, hàm lượng các chất hữu cơ và vô cơ, xuấthiện các chất độc hại,…)
Lượng oxy hoà tan (DO) trong nước giảm do các quá trình sinh hoá để oxyhoá các chất bẩn hữu cơ vừa mới thải vào
Các vi sinh vật thay đổi về loài và số lượng Có xuất hiện các vi trùng gâybệnh
3 Nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước
Có rất nhiều nguyên nhân gây ô nhiễm nước nhưng có thể khái quát ở 2 nội dung lớn: ô nhiễm do tự nhiên và ô nhiễm do nhân tạo
3.1 Ô nhiễm do tự nhiên
Sự ô nhiễm nước do tự nhiên có thể do các quá trình vận động của vỏ quả đấthay các thiên tai: núi lửa phun, động đất, sóng thần,… gây ra, có thể do các sự cố tràndầu tự nhiên ngoài biển, do sự phân hủy một lượng lớn xác động, thực vật chết Tuy
Trang 4nhiên tất cả những nguyên nhân đó đều được điều hòa bởi các quy luật tự nhiên vàkhông gây ảnh hưởng quá lớn.
3.2 Ô nhiễm do nhân tạo
- Ô nhiễm do Công nghiệp: ngày càng tăng lên cùng sự phát triển của khoa học kĩthuật Nền công nghiệp hiện đại với đa dạng ngành nghề, từ luyện kim, cơ khí, hóachất của công nghiệp nặng đến sản xuất đồ may mặc, hàng tiêu dùng,… đã xả ra môitrường đủ các hợp chất từ hữu cơ, vô cơ, các kim loại nặng, hợp chất của phenol, …vào môi trường nước chưa kể đến những rủi ro trong quá trình hoạt động Như asen,berili, cadimi, xyanua, crôm, thủy ngân, chì, antimoan, vanadi chỉ tồn tại trong nướcvới một hàm lượng rất nhỏ cũng đủ gây độc hại đến tính mạng con người, thậm chígây tử vong Một nhà máy trung bình làm nhiễm bẩn nước tương đương với một thànhphố 500.000 dân Theo một báo cáo mới nhất của các chuyên gia Môi trường hàng đầu
thế giới các địa danh như Kabu (Bắc Ấn Độ), Bhopal (Ấn Độ), Cubatao (Brazil), hay dòng sông Huai (Trung Quốc) là những nơi ô nhiễm nhất trên thế giới do Công
nghiệp
- Ô nhiễm do Nông nghiệp: chủ yếu là do việc sử dụng thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ …
và phân bón hóa học một cách tràn lan, không đúng phương pháp Như ô nhiễm củavùng bờ biển Thái Bình Dương của Hoa Kỳ, vịnh Californie, bởi hãng MontroseChemicals do sự sản xuất nông dược Hãng này sản xuất từ đầu năm 1970, 2/3 sốlượng DDT toàn cầu làm ô nhiễm một diện tích 10.000 km2 (Mc Gregor, 1976)
- Ô nhiễm do Rác thải sinh hoạt: đây cũng là một nguồn gây ô nhiễm quan trọng Rác
và nước thải chưa qua xử lý được thải một cách vô tư xuống các con sông Dân số thếgiới thì đang tăng lên với tốc độ chóng mặt và mới bắt đầu có dấu hiệu chững lại Vớilượng nước thải của hơn 8 tỉ người đổ ra hàng ngày thực sự quá khả năng tự làm sạchcủa các nguồn nước Chưa có một giải pháp cụ thể nào cho vấn đề này Ảnh minh họa
Trang 53.3 Ô nhiễm do các nguyên nhân khác:
+ Do GTVT đường sông, đường biển: Hoạt động vận tải trên biển là một trong cácnguyên nhân quan trọng gây ô nhiễm biển Rò rỉ dầu, sự cố tràn dầu của các tàu thuyềntrên biển thường chiếm 50% nguồn ô nhiễm dầu trên biển Các tai nạn đắm tàu thuyềnđưa vào biển nhiều hàng hoá, phương tiện và hoá chất độc hại
+ Do tác động của ô nhiễm không khí: các khí thải nhà máy đã mang theo CO, CO2,
SO2, NO2,… làm ô nhiễm nguồn không khí, kết hợp với hơi nước bốc lên gây mưaaxit, làm giảm độ pH của nước sông hồ, làm chết các loài thủy sinh Nhiều chất độchại và bụi kim loại nặng cũng được không khí mang ra biển Sự gia tăng nhiệt độ củakhí quyển trái đất do hiệu ứng nhà kính sẽ kéo theo sự dâng cao mực nước biển vàthay đổi môi trường sinh thái biển
+ Do các hoạt động quốc phòng, chiến tranh: Một lượng lớn các chất thải phóng xạcủa các quốc gia trên thế giới được bí mật đổ ra biển Riêng Mỹ năm 1961 có 4.087 và
1962 có 6.120 thùng phóng xạ được đổ chôn xuống biển Việc nhấn chìm các loại đạndược, bom mìn, nhiên liệu tên lửa của Mỹ đã được tiến hành từ hơn 50 năm nay Riêngnăm 1963 có 40.000 tấn thuốc nổ và dụng cụ chiến tranh được hải quân Mỹ đổ ra biển.+ Do công tác đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản ven bờ:
4 Hậu quả của ô nhiễm nguồn nước
Nước – Những con số thống kê
Mỗi năm có khoảng 3.575 triệu người chết do các bệnh liên quan đến nước:
Trong đó:
* 43% số ca chết do tiêu chảy
Trang 6* 84% số người chết là trẻ em (từ 0-14 tuổi)
* 98% số ca chết tập trung ở các nước đang phát triển
“Số người chết do nước ô nhiễm và vệ sinh kém an toàn gây ra còn nhiều hơn số người chết bởi súng đạn trong bất cứ một cuộc chiến tranh nào”
5 Phân loại ô nhiễm nước mặt
5.1 Ô nhiễm chất hữu cơ:
Đó là sự có mặt của các chất tiêu thụ ôxy trong nước Các chỉ tiêu để đánh giá ônhiễm chất hữu cơ là: DO, BOD, COD
5.2.Ô nhiễm các chất vô cơ:
Là có nhiều chất vô cơ gây ô nhiễm nước, tuy nhiên có một số nhóm điển hìnhnhư: các loại phân bón chất vô cơ (là các hợp chất vô cơ mà thành phần chủ yếu làcacbon, hydro và oxy, ngoài ra chúng còn chứa các nguyên tố như N, P, K cùng cácnguyên tố vi lượng khác), các khoáng axit, cặn, các nguyên tố vết
5.3 Ô nhiễm các chất phú dưỡng:
Phú dưỡng là sự gia tăng hàm lượng Nito, Photpho trong nước nhập vào cácthuỷ vực dẫn đến sự tăng trưởng của các thực vật bậc thấp (rong, tảo,…) Nó tạo ranhững biến đổi lớn trong hệ sinh thái nước, làm giảm oxy trong nước Do đó làm chấtlượng nước bị suy giảm và ô nhiễm
5.4 Ô nhiễm do kim loại nặng và các hoá chất khác:
Thường gặp trong các thuỷ vực gần khu công nghiệp, khu vực khai khoáng, cácthành phố lớn Ô nhiễm kim loại nặng và các chất nguy hại khác có tác động rất trầmtrọng tới hoạt động sống của con người và sinh vật Chúng chậm phân huỷ và sẽ tíchluỹ theo chuỗi thức ăn vào cơ thể động vật và con người
5.5 Ô nhiễm vi sinh vật:
Thường gặp ở các thuỷ vực nhận nước thải sinh hoạt, đặc biệt là nước thảibệnh viện Các loại vi khuẩn, ký sinh trùng, sinh vật gây bệnh sẽ theo nguồn nước lantruyền bệnh cho người và động vật
5.6 Ô nhiễm nguồn nước mặt bởi dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hoá học:
Trong quá trình sử dụng, một lượng lớn thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóahọc bị đẩy vào vực nước ruộng, ao, hồ, đầm,… Chúng sẽ lan truyền và tích luỹ trong
Trang 7môi trường đất, nước và các sản phẩm nông nghiệp thâm nhập vào cơ thể người vàđộng vật theo chuỗi thức ăn.
6 Phương hướng và nhiệm vụ phát triển tài nguyên nước đến năm 2020
Nước là tài nguyên đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu của sự sống vàmôi trường, quyết định sự tồn tại, phát triển bền vững của đất nước, mặt khác nướccũng có thể gây ra những tai hoạ cho con người và môi trường Do vậy việc quản lý tàinguyên nước đòi hỏi một hệ thống các văn bản trong bảo vệ và khai thác nguồn nướcnhằm tạo cơ sở pháp lý cho công tác này Các biện pháp mang tính chất pháp lý, thiếtchế và hành chính này được áp dụng cho việc sử dụng và phân phối tài nguyên nước,đảm bảo phát triển bền vững tài nguyên nước
Hiện nay, việc phân cấp quản lý nhà nước về tài nguyên nước nằm ở 2 bộ là bộ
TN & MT và bộ NN & PTNT Các văn bản mang tính pháp lý trong quản lý tài ngyênnước đang có hiệu lực:
- Các văn bản mang tính Quốc gia:
Luật bảo vệ môi trường nước CHXHCN Việt Nam do Quốc hội thông qua ngày29/11/2005 và chính thức có hiệu lực từ ngày 1/07/2006 Luật tài ngyên nước do Quốchội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 20/05/1998
Hệ thống Tiêu chuẩn Việt Nam-các tiêu chuẩn chất lượng nước sông, hồ (banhành 1995, sửa đổi năm 2001 và 2005)
Nghị định 80/ NĐ-CP ngày 09/08/2006 của chính phủ về việc qui định chi tiếthướng dẫn thi hành một số điều cả Luật Bảo vệ môi trường
Nghị dịnh 81/ NĐ-CP ngày 09/08/2006 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hànhchính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Thông tư 08/2006 TT-BTNMT ngày 08/09/2006 của Bộ tài nguyên và môitrường hường dẫn về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường vàcam kết bảo vệ môi trường
Luật tài nguyên nước do Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày20/5/1998
Nghị định của chính phủ số 175/1999/NĐ-CP quy định việc thi hành Luật tàinguyên nước
Kế hoạch phát triển tài nguyên nước đến năm 2000 và Dự kiến kế hoạch pháttriển tài nguyên nước đến năm 2020 (Bộ NN & PTNT, 06/1998)
Trang 8Nghị định của Chính phủ số 149/2004/NĐ – CP ngày 27/07/2004 quy định cụthể về việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng Tài nguyên nước, xả nước thải vàonguồn Thông tư số 02/2005/TT – BTNMT ngày 24/06/2005 hướng dẫn thi hành Nghịđịnh này.
- Chiến lược Quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
- Các văn bản pháp lý quản lý tài nguyên nước trong lưu vực và địa phương:
Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay chưa có được chính sách và chiến lược PTBV vàquản lý tổng hợp tài nguyên nước Việc phân công quyền hạn, trách nhiệm và phốihợp các đầu mối quản lý và sử dụng tài nguyên nước còn nhiều tồn tại Như trong nghịđịnh 91/2003/NĐ – CP lại giao cho Bộ NN & PTNT quản lý vật thể chứa nước gây rakhó khăn cho việc quản lý thống nhất tài nguyên nước
7 Thực trạng ô nhiễm nguồn nước trên Thế giới và ở Việt Nam
7.1 Ô nhiễm môi trường nước trên Thế giới
Để đánh giá được một cách đúng mức tình trạng ô nhiễm nước, đầu tiên ta phảinhìn nhận vấn đề ô nhiễm nước trên qui mô toàn cầu
- Trong thập niên 60, ô nhiễm nước lục địa và đại dương gia tăng với nhịp độ đáng longại Tốc độ ô nhiễm nước phản ánh một cách chân thực tốc độ phát triển kinh tế củacác quốc gia Xã hội càng phát triển thì càng xuất hiện nhiều nguy cơ Ta có thể kể rađây vài ví dụ tiêu biểu
Từ các đại dương lớn trên thế giới, nơi chứa đựng hầu hết lượng nước trên trái đất,nước luôn được lưu thông thường xuyên và sự ô nhiễm nếu xảy ra cũng rất chỉ mang tính chấtnhỏ bé nhưng nay cũng đang hứng chịu sự ô nhiễm nặng nề, tùy từng đại dương mà mức độ ônhiễm lại khác nhau Nhiều vùng biển trên thế giới đang bị ô nhiễm nghiêm trọng, đe dọa đến
sự sống của các loài động vật biển mà chủ yếu là nguồn ô nhiễm từ đất liền và giao thông vậntải biển gây nên
Trang 9Bờ biển Barrow, Alaska trở thành một nơi chứa rác.
Ô nhiễm nước ngọt lại càng trầm trọng
- Ở nước Anh : Ðầu thế kỷ 19, sông Tamise rất sạch Đến giữa thế kỷ 20 nó trởthành ống cống lộ thiên Các sông khác cũng có tình trạng tương tự trước khi người tađưa ra các biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt
- Ở Hoa Kỳ tình trạng thảm thương do ô nhiễm nước cũng xảy ra ở bờ phíađông, cũng như nhiều vùng khác Vùng Ðại Hồ bị ô nhiễm nặng, trong đó hồ Erie,Ontario ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng
- Ở ngay tại Trung Quốc, hàng năm lượng chất thải và nước thải công nghiệpthải ra ở các thành phố và thị trấn của Trung Quốc tăng từ 23,9 tỷ m3 trong năm 1980lên 73,1 tỷ m3 trong năm 2006 Một lượng lớn nước thải chưa qua xử lí vẫn được thảivào các sông Hậu quả là, hầu hết nước ở các sông, hồ ngày càng trở nên ô nhiễm Dựatrên việc đánh giá 140.000 km sông dọc đất nước Trung Quốc trong năm 2006, chấtlượng nước của 41,7% chiều dài sông xếp ở loại 4 hoặc thậm chí thấp hơn và 21,8%dưới loại 5
7.2 Ô nhiễm môi trường nước ở Việt Nam
Nước ta có nền công nghiệp chưa phát triển mạnh, các khu công nghiệp và các
đô thị chưa đông lắm nhưng tình trạng ô nhiễm nước đã xảy ra ở nhiều nơi với cácmức độ nghiêm trọng khác nhau
Trang 10+ Nông nghiệp là ngành sử dụng nhiều nước nhất, dùng để tưới lúa và hoa màu,chủ yếu là ở đồng bằng sông Cửu Long và sông Hồng Việc sử dụng nông dược vàphân bón hoá học càng góp thêm phần ô nhiễm môi trường nông thôn.
+ Công nghiệp là ngành làm ô nhiễm nước quan trọng, mỗi ngành có một loạinước thải khác nhau Khu công nghiệp Thái Nguyên thải nước biến Sông Cầu thànhmàu đen, mặt nước sủi bọt trên chiều dài hàng chục cây số Khu công nghiệp Việt Trì
xả mỗi ngày hàng ngàn mét khối nước thải của nhà máy hoá chất, thuốc trừ sâu, giấy,dệt… xuống Sông Hồng làm nước bị nhiễm bẩn đáng kể Khu công nghiệp Biên Hoà
và TP.HCM tạo ra nguồn nước thải công nghiệp và sinh hoạt rất lớn, làm nhiễm bẩntất cả các sông rạch ở đây và cả vùng phụ cận
+ Nước dùng trong sinh hoạt của dân cư ngày càng tăng nhanh do tăng dân số
và các đô thị Nước cống từ nước thải sinh hoạt cộng với nước thải của các cơ sở tiểuthủ công nghiệp trong khu dân cư là đặc trưng ô nhiễm của các đô thị ở nước ta
+ Nước ngầm cũng bị ô nhiễm, do nước sinh hoạt hay công nghiệp và nôngnghiệp việc khai thác tràn lan nước ngầm làm cho hiện tượng nhiễm mặn và nhiễmphèn xảy ra ở những vùng ven biển Sông Hồng, sông Thái Bình, sông Cửu Long, venbiển miền Trung…
Trang 11Phần II: THỰC TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT TẠI TP
HỒ CHÍ MINH
1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội TP HCM
1.1 Đặc điểm tự nhiên
1.1.1 Vị trí
- TP.Hồ Chí Minh nằm trong toạ độ địa lý khoảng 10 0 10’ – 10 0 38 vĩ độ bắc và 106
0 22’ – 106 054 ’ kinh độ đông Phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnhTây Ninh , Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa -VũngTàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang
- TP.Hồ Chí Minh cách thủ đô Hà Nội gần 1.730km đường bộ, nằm ở ngã tư quốc tếgiữa các con đường hàng hải từ Bắc xuống Nam, từ Ðông sang Tây, là tâm điểm củakhu vực Đông Nam Á Trung tâm thành phố cách bờ biển Đông 50 km đường chimbay Đây là đầu mối giao thông nối liền các tỉnh trong vùng và là cửa ngõ quốc tế Với
hệ thống cảng và sân bay lớn nhất cả nước, cảng Sài Gòn với năng lực hoạt động 10triệu tấn /năm Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất với hàng chục đường bay chỉ cách trungtâm thành phố 7km
1.1.2 Địa hình
Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Ðông Nam bộ vàđồng bằng sông Cửu Long Ðịa hình tổng quát có dạng thấp dần từ Bắc xuống Nam và
từ Ðông sang Tây Nó có thể chia thành 3 tiểu vùng địa hình
- Vùng cao nằm ở phía Bắc - Ðông Bắc và một phần Tây Bắc (thuộc bắc huyện CủChi, đông bắc quận Thủ Ðức và quận 9), với dạng địa hình lượn sóng, độ cao trungbình 10-25 m và xen kẽ có những đồi gò độ cao cao nhất tới 32m, như đồi Long Bình(quận 9)
- Vùng thấp trũng ở phía Nam-Tây Nam và Ðông Nam thành phố (thuộc các quận 9,8,7 và các huyện Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ) Vùng này có độ cao trung bình trêndưới 1m và cao nhất 2m, thấp nhất 0,5m
- Vùng trung bình, phân bố ở khu vực Trung tâm Thành phố, gồm phần lớn nội thành
cũ, một phần các quận 2, Thủ Ðức, toàn bộ quận 12 và huyện Hóc Môn Vùng này có
độ cao trung bình 5-10m
Trang 12Nhìn chung, địa hình Thành phố Hồ Chí Minh không phức tạp, song cũng khá đadạng, có điều kiện để phát triển nhiều mặt.
1.1.3 Khí hậu và thời tiết
- Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo Cũng nhưcác tỉnh ở Nam bộ, đặc điểm chung của khí hậu-thời tiết TPHCM là nhiệt độ cao đềutrong năm và có hai mùa mưa - khô rõ ràng làm tác động chi phối môi trường cảnhquan sâu sắc Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 nămsau Theo tài liệu quan trắc nhiều năm của trạm Tân Sơn Nhất, qua các yếu tố khítượng chủ yếu; cho thấy những đặc trưng khí hậu Thành Phố Hồ Chí Minh như sau:
- Lượng bức xạ dồi dào, trung bình khoảng 140 Kcal/cm2/năm Số giờ nắng trungbình/tháng 160-270 giờ Nhiệt độ không khí trung bình 270C Nhiệt độ cao tuyệt đối400C, nhiệt độ thấp tuyệt đối 13,80C Tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất là tháng 4(28,80C), tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất là khoảng giữa tháng 12 và tháng 1(25,70C) Hàng năm có tới trên 330 ngày có nhiệt độ trung bình 25-280C Ðiều kiệnnhiệt độ và ánh sáng thuận lợi cho sự phát triển các chủng loại cây trồng và vật nuôiđạt năng suất sinh học cao; đồng thời đẩy nhanh quá trình phân hủy chất hữu cơ chứatrong các chất thải, góp phần làm giảm ô nhiễm môi trường đô thị
- Lượng mưa cao, bình quân/năm 1.949 mm Năm cao nhất 2.718 mm (1908) và nămnhỏ nhất 1.392 mm (1958) Số ngày mưa trung bình/năm là 159 ngày Khoảng 90%lượng mưa hàng năm tập trung vào các tháng mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11; trong
đó hai tháng 6 và 9 thường có lượng mưa cao nhất Các tháng 1,2,3 mưa rất ít, lượngmưa không đáng kể Trên phạm vi không gian thành phố, lượng mưa phân bố khôngđều, có khuynh hướng tăng dần theo trục Tây Nam - Ðông Bắc Ðại bộ phận các quậnnội thành và các huyện phía Bắc thường có lượng mưa cao hơn các quận huyện phíaNam và Tây Nam
- Ðộ ẩm tương đối của không khí bình quân/năm 79,5%; bình quân mùa mưa 80% vàtrị số cao tuyệt đối tới 100%; bình quân mùa khô 74,5% và mức thấp tuyệt đối xuốngtới 20%
- Về gió, Thành phố Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng bởi hai hướng gió chính và chủ yếu
là gió mùa Tây - Tây Nam và Bắc - Ðông Bắc Gió Tây -Tây Nam từ Ấn Ðộ Dươngthổi vào trong mùa mưa, khoảng từ tháng 6 đến tháng 10, tốc độ trung bình 3,6m/s vàgió thổi mạnh nhất vào tháng 8, tốc độ trung bình 4,5 m/s Gió Bắc- Ðông Bắc từ biển
Trang 13Đông thổi vào trong mùa khô, khoảng từ tháng 11 đến tháng 2, tốc độ trung bình 2,4m/s Ngoài ra có gió tín phong, hướng Nam - Ðông Nam, khoảng từ tháng 3 đến tháng
5 tốc độ trung bình 3,7 m/s Về cơ bản TPHCM thuộc vùng không có gió bão Năm
1997, do biến động bởi hiện tượng El-Nino gây nên cơn bão số 5, chỉ một phần huyệnCần Giờ bị ảnh hưởng ở mức độ nhẹ
1.1.4 Địa chất, đất đai
Ðất đai Thành phố Hồ Chí Minh được hình thành trên hai tướng trầm tích-trầmtích Pleieixtoxen và trầm tích Holoxen
- Trầm tích Pleixtoxen (trầm tích phù sa cổ): chiếm hầu hết phần phía Bắc, Tây Bắc
và Ðông Bắc thành phố, gồm phần lớn các huyện Củ Chi, Hóc môn, Bắc Bình Chánh,quận Thủ Ðức, Bắc-Ðông Bắc quận 9 và đại bộ phận khu vực nội thành cũ Ðiểmchung của tướng trầm tích này, thường là địa hình đồi gò hoặc lượn sóng, cao từ 20-25m và xuống tới 3-4m, mặt nghiêng về hướng Ðông Nam Dưới tác động tổng hợpcủa nhiều yếu tố tự nhiên như sinh vật, khí hậu, thời gian và hoạt động của con người,qua quá trình xói mòn và rữa trôi , trầm tích phù sa cổ đã phát triển thành nhóm đấtmang những đặc trưng riêng Nhóm đất xám, với qui mô hơn 45.000 ha, tức chiếm tỷ
lệ 23,4% diện tích đất thành phố
- Ở thành phố Hồ Chí Minh, đất xám có ba loại: đất xám cao, có nơi bị bạc màu; đấtxám có tầng loang lổ đỏ vàng và đất xám gley; trong đó, hai loại đầu chiếm phần lớndiện tích Ð?t xám nói chung có thành phần cơ giới chủ yếu là cát pha đến thịt nhẹ,khả năng giữ nước kém; mực nước ngầm tùy nơi và tùy mùa biến động sâu từ 1-2mđến 15m Ðất chua, độ pH khoảng 4,0-5,0 Ðất xám tuy nghèo dinh dưỡng, nhưng đất
có tầng dày, nên thích hợp cho sự phát triển của nhiều loại cây trồng nông lâm nghiệp,
có khả năng cho năng suất và hiệu qủa kinh tế cao, nếu áp dụng biện pháp luân canh,thâm canh tốt Nền đất xám, phù hợp đối với sử dụng bố trí các công trình xây dựng cơbản
- Trầm tích Holoxen (trầm tích phù sa trẻ): tại thành phố Hồ Chí Minh, trầm tích này
có nhiều nguồn gốc-ven biển, vũng vịnh, sông biển, aluvi lòng sông và bãi bồi nên
đã hình thành nhiều loại đất khác nhau: nhóm đất phù sa có diện tích 15.100 ha(7,8%), nhóm đất phèn 40.800 ha (21,2%) và đất phèn mặn (45.500 ha (23,6) Ngoài ra
có một diện tích nhỏ khoảng hơn 400 ha (0,2%) là "giồng" cát gần biển và đất feralitevàng nâu bị xói mòn trơ sỏi đá ở vùng đồi gò
Trang 141.1.5 Nguồn nước và thủy văn
Về nguồn nước, Tp Hồ Chí Minh có mạng lưới sông ngòi kênh rạch rất phát triển
- Sông Ðồng Nai bắt nguồn từ cao nguyên Langbiang (Ðà Lạt) và hợp lưu bởi nhiềusông khác, như sông La Ngà, sông Bé, nên có lưu vực lớn, khoảng 45.000 km2 Nó cólưu lượng bình quân 20-500 m3/s và lưu lượng cao nhất trong mùa lũ lên tới 10.000m3/s, hàng năm cung cấp 15 tỷ m3 nước và là nguồn nước ngọt chính của thành phố
Hồ Chí Minh Sông Sài Gòn bắt nguồn từ vùng Hớn Quản, chảy qua Thủ Dầu Một đếnthành phố với chiều dài 200 km và chảy dọc trên địa phận thành phố dài 80 km Hệthống các chi lưu của sông Sài Gòn rất nhiều và có lưu lượng trung bình vào khoảng
54 m3/s
- Bề rộng của sông Sài Gòn tại Thành phố thay đổi từ 225m đến 370m và độ sâu tới20m Sông Ðồng Nai nối thông qua sông Sài Gòn ở phần nội thành mở rộng, bởi hệthống kênh Rạch Chiếc Sông Nhà Bè hình thành từ chỗ hợp lưu của sông Ðồng Nai
và sông Sài Gòn, các trung tâm thành phố khoảng 5km về phía Ðông Nam Nó chảy rabiển Ðông bằng hai ngả chính -ngả Soài Rạp dài 59km, bề rộng trung bình 2km, lòngsông cạn, tốc độ dòng chảy chậm; ngả Lòng Tàu đổ ra vịnh Gành Rái, dài 56km, bềrộng trung bình 0,5km, lòng sông sâu, là đường thủy chính cho tàu bè ra vào bến cảngSài Gòn
- Ngoài trục các sông chính kể trên ra, thành phố còn có mạng lưới kênh rạch chằngchịt, như ở hệ thống sông Sài Gòn có các rạch Láng The, Bàu Nông, rạch Tra, BếnCát, An Hạ, Tham Lương, Cầu Bông, Nhiêu Lộc-Thị Nghè, Bến Nghé, Lò Gốm, Kênh
Tẻ, Tàu Hũ, Kênh Ðôi và ở phần phía Nam Thành phố thuộc địa bàn các huyện Nhà
Bè, Cần Giờ mật độ kênh rạch dày đặc; cùng với hệ thống kênh cấp 3-4 của kênhÐông-Củ Chi và các kênh đào An Hạ, kênh Xáng, Bình Chánh đã giúp cho việc tướitiêu kết quả, giao lưu thuận lợi và đang dần dần từng bước thực hiện các dự án giảitỏa, nạo vét kênh rạch, chỉnh trang ven bờ, tô điểm vẻ đẹp cảnh quan sông nước, pháthuy lợi thế hiếm có đối với một đô thị lớn
- Nước ngầm ở Thành phố Hồ Chí Minh, nhìn chung khá phong phú tập trung ở vùngnửa phần phía Bắc-trên trầm tích Pleixtoxen; càng xuống phía Nam (Nam Bình Chánh,quận 7, Nhà Bè, Cần Giờ)-trên trầm tích Holoxen, nước ngầm thường bị nhiễm phèn,nhiễm mặn