1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng đô thị hóa tỉnh Bình Thuận giai đoạn 1999 - 2013

43 1,1K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 4,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quá trình này bao gồm sự thay đổi trong nhiều lĩnh vực như cơ cấu kinh tế, cơ sở hạ tầng, phân bố lực lượng sản xuất, phân bố dân cư, dân số, kết cấu nghề nghiệp, lối sống văn hóa, v.v…Đ

Trang 1

BÀI TIỂU LUẬN MÔN

Trang 2

BÀI TIỂU LUẬN MÔN

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Đô thị hóa là một phạm trù kinh tế - xã hội, là quá trình chuyển hóa và vận động phức tạp mang tính quy luật, là quá trình phổ biến diễn ra trên quy mô toàn cầu, mang tính chất đặc trưng nhất của sự phát triển kinh tế - xã hội trong thời hiện đại Quá trình này bao gồm sự thay đổi trong nhiều lĩnh vực như cơ cấu kinh tế, cơ sở hạ tầng, phân bố lực lượng sản xuất, phân bố dân cư, dân số, kết cấu nghề nghiệp, lối sống văn hóa, v.v…Đô thị hóa chính là quá trình tập trung dân cư vào các đô thị, phát triển quy mô, số lượng đô thị, phổ biến lối sống thành thị và không ngừng hiện đại hóa cơ sở vật chất, hạ tầng kĩ thuật đô thị

Đó chính là một quá trình biến đổi, phân bố lại lực lượng sản xuất và các hình thức tổ chức kinh tế - xã hội, cùng sự mở rộng không gian đô thị

Bình Thuận là tỉnh cực Nam Trung Bộ, được tái lập từ năm 1992 Trong thời gian qua, Bình Thuận đã vượt khó, vươn lên và từng bước rút ngắn chênh lệch về trình độ phát triển với các tỉnh khu vực duyên hải miền Trung và miền Đông Nam bộ Song song với quá trình phát triển kinh tế, đặc biệt là quá trình Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa tron tỉnh, quá trình đô thị hóa tại Bình Thuận trong thời gian qua đã phát triển khá mạnh mẽ, khoảng cách giữa quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa ngày càng được thu hẹp Dù vậy, quá trình đô thị hóa ở Bình Thuận trong những năm qua vẫn còn khá nhiều bất cập và hạn chế cần khắc phục

Trước yêu cầu của thực tiễn phải đẩy nhanh quá trình đô thị hóa tỉnh Bình Thuận nhằm đem lại thế và lực mới cho phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian sắp tới, dựa trên

cơ sở lí luận về đô thị hóa, tác giả xin chọn đề tài “Thực trạng đô thị hóa tỉnh Bình Thuận giai đoạn 1999 - 2013” làm tiểu luận môn “Địa lí Đô thị” của mình với mong muốn đóng góp chút gì đó cho sự nghiệp phát triển đô thị của quê hương

2 Mục tiêu, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu đề tài

 Nghiên cứu thực trạng và quá trình đô thị hóa của tỉnh Bình Thuận giai đoạn 1999 – 2013

Trang 5

 Định hướng quá trình đô thị hóa tỉnh Bình Thuận đến 2020 dựa trên những cơ sở khoa học.

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

 Làm rõ khái niệm “đô thị hóa” cũng những biểu hiện của nó, lựa chọn hệ thống các chỉ tiêu định lượngquá trình đô thị hóa

 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình đô thị hóa tỉnh Bình Thuận

 Nghiên cứu quá trình đô thị hóa tỉnh Bình Thuận giai đoạn 1999 – 2013

 Kiến nghị một số giải pháp để quá trình đô thị hóa ở Bình Thuận diễn ra một cách hợp lí, đúng hướng và bền vững

2.3 Phạm vi nghiên cứu

Mặc dù đã cố gắng, nỗ lực, song do nhiều yếu tố khách quan (thiếu nguồn số liệu, tài liệu, thời gian nghiên cứu), và chủ quan (năng lực nhận thức vấn đề của bản thân) nên tiểu luận chỉ giới hạn ở một số vấn đề sau:

Về nội dung nghiên cứu: Tiểu luận tập trung nghiên cứu chủ yếu quá trình đô thị

hóa của Bình Thuận

Về không gian lãnh thổ nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu quá trình đô thị

hóa trên toàn địa bàn tỉnh Bình Thuận, bao gồm cả đảo Phú Quý với tổng diện tích 781.292

ha, dân số 1,18 triệu người (năm 2011)

Về thời gian nghiên cứu: Khóa luận tập trung nghiên cứu sự quá trình đô thị hóa

tỉnh Bình Thuận qua 15 năm của giai đoạn 1999 – 2013

3 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Vấn đề đô thị hóa từ lâu đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các nhà Địa lý trên thế giới, nhưng ở Việt Nam quá trình nghiên cứu vấn đề này gần đây mới được chú ý đến Theo GS Đàm Trung Phường cho rằng: “cho đến giữa thập niên 90 vẫn chưa có ai viết sách

và tiếp cận có hệ thống” Năm 1995 cuốn "Đô thị Việt Nam” tập I, tập II của GS Đàm

Trung Phường ra đời và đã được tái bản lần thứ nhất vào năm 2005, tác giả tập trung giải quyết 2 vấn đề cơ bản là:

Trang 6

+ Đánh giá thực trạng mạng lưới đô thị Việt Nam và nghiên cứu những định hướng phát triển trong bối cảnh đô thị hóa thế giới và tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của thời kỳ đổi mới nước ta.

+ Mở rộng những khái niệm về đô thị học có quan hệ với những tiến bộ của thế giới, cập nhật những thông tin liên quan đến đô thị trong nước để tham khảo cho giáo trình giảng dạy sinh viên đại học và chủ yếu là sau đại học

Chính vì vậy, có thể xem cuốn sách “Đô thị Việt Nam tập I, tập II ” của GS Đàm Trung Phường là một trong những công trình quan trọng để tiếp cận các vấn đề lý luận về

đô thị nói chung cũng như đại cương về đô thị hóa ở Việt Nam nói riêng Tuy nhiên, như chính tác giả của công trình thừa nhận “quyển đô thị Việt Nam chưa có điều kiện đi sâu vào từng đô thị mà chỉ mới dừng lại ở cấp vĩ mô (macro) và trung mô (mezo)”

Bên cạnh đó còn hàng loạt công trình đề cập đến đô thị hóa và những vấn đề liên

quan đến nó như: “Dự án quy hoạch tồng thể vùng phát triển kinh tế trọng điểm phía Nam” của Trung tâm nghiên cứu kinh tế miền Nam (1996); “Đô thị hóa và chỉnh sách phát triển

đô thị trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam” của Trần Văn Chữ, Trần Ngọc Hiên

(Đồng chủ biên) (Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội 1998); “Định hướng quy hoạch tổng thể

phát triển đô thị Việt Nam đển năm 2020” của Bộ Xây dựng (1999); “Dân sổ học đô thị”

của Trần Hùng (NXB Xây dựng - Hà Nội, 2001); “Những con đường về thành phố - Di dân

đến Thành phố Hồ Chí Minh từ một vùng Đằng bằng sông Cửu Long” của Vũ Thị Hồng,

Patrick Gubry, Lê Văn Thành (NXB TP.HCM 2003); “Quản lý đô thị thời kỳ chuyển đổi” của TS Võ Kim Cương (NXB Xây dựng - Hà Nội, 2004); “Địa lý đô thị”của Phạm Thị

Xuân Thọ (NXB Giáo dục 2008), v.v… Ngoài các công trình kể trên còn có bài viết của một

số tác giả được đăng trên các tạp chí hoặc báo cáo tại các hội thảo khoa học

Đối với địa bàn nghiên cứu là tỉnh Bình Thuận, hiện chưa có bất kì công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về quá trình đô thị hóa tại đây, có chăng cũng chỉ đề cập một cách phổ

quát nhất như “Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Bình Thuận đến 2030” của Sở Xây dựng

Bình Thuận (2010) Đây vẫn còn là một “vùng đất mới” của kiến thức Do vậy, tác giả rất mong muốn tìm hiểu một cách chi tiết vấn đề này

Trang 7

4 Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu

4.1 Quan điểm nghiên cứu

4.1.1 Quan điểm hệ thống

Đô thị hóa là một phạm trù kinh tế xã hội, là quá trình chuyển hóa và vận động phức tạp mang tính qui luật Đô thị hóa diễn ra trong mối quan hệ chặt chẽ với sự phát triển của cách mạng khoa học kĩ thuật, làm thay đổi mạnh mẽ sự phân bố lực lượng sản xuất và phân

bố dân cư, thay đổi cơ cấu nghề nghiệp, văn hóa, xã hội, kết cấu giới tính lứa tuổi của dân

cư và môi trường sống Nghiên cứu tác động của quá trình đô thị hóa đến kinh tế - xã hội cần được xem xét trên quan điểm hệ thống thuộc hệ thống kinh tế - xã hội hoàn chỉnh, luôn vận động và phát triển không ngừng

4.1.2 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ

Đây là quan điểm cơ bản, truyền thống của Địa lý học Trong thực tế các sự vật hiện tượng địa lý luôn có sự phân hóa không gian làm cho chúng có sự khác biệt giữa nơi này với nơi khác Do đó, khi nghiên cứu quá trình đô thị hóa tỉnh Bình Thuận, phải tìm hiểu mối quan hệ bên trong lãnh thổ và mối quan hệ giữa lãnh thổ nghiên cứu với các lãnh thổ lân cận , đó chính là mối quan hệ không gian tương tác của đối tượng nghiên cứu

4.1.3 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh

Quá trình phát triển của đô thị trong quá khứ ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh

tế - xã hội hiện tại và tương lai Do đó, cần phải nghiên cứu quá trình đô thị hóa của Bình Thuận trong mối liên hệ với quá khứ, hiện tại và tương lai Từ đó thấy rõ bản chất của vấn

đề đô thị hóa theo thời gian, đảm bảo được tính logic, khoa học và chính xác khi nghiên cứu

4.1.4 Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững

Quá trình phát triển kinh tế và quá trình đô thị hóa có những tác động tích cực và tiêu cực đến môi trường tự nhiên Để phát triển đô thị, kinh tế - xã hội bền vững phải chú ý sử dụng hợp lí, bảo vệ và tái tạo tài nguyên thiên nhiên Đồng thời phải chống ô nhiễm môi trường, kết hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế với công bằng xã hội nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống người dân Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên là việc làm rất cần thiết Do vậy,

Trang 8

nghiên cứu tác động của quá trình đô thị hóa phải dựa trên quan điểm sinh thái và phát triển bền vững.

4.2 Các phương pháp nghiên cứu

4.2.1 Phương pháp thống kê

Trong luận văn đã sử dụng và phân tích cơ sở số liệu thống kê của Tổng cục thống

kê, Cục thống kê Bình Thuận Nhờ đó, chúng tôi đã có cơ sở để đánh giá một cách định lượng quá trình đô thị hóa tỉnh Bình Thuận

4.2.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp

Từ các tài liệu thu thập được, chúng tôi sắp xếp, phân loại và phân tích các thông tin,

so sánh, đối chiếu nhằm định lượng một cách tương đối chính xác mức độ và tốc độ đô thị hóa tại Bình Thuận

4.2.3 Phương pháp thực địa

Đây là phương pháp cần thiết đối với nghiên cứu để có thể xác định mức độ tin cậy của các tài liệu, số liệu đã thu thập được Tác giả đã điều tra thực tế một số nơi trên địa bàn, trực tiếp quan sát những thay đổi về kinh tế - xã hội, môi trường dưới sự tác động của quá trình

đô thị hóa Qua các thông tin và tìm hiểu thực địa, tác giả khẳng định lại mức độ tin cậy của

số liệu và những nhận định đã có

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ ĐÔ THỊ HÓA

1.1 Khái niệm về đô thị hóa

Đô thị hóa là một khái niệm đa chiều, đa diện về kinh tế - xã hội và môi trường, với những thay đổi mạnh mẽ trong sản xuất và đời sống, liên quan đến sự chuyển dịch kinh tế, văn hóa, xã hội sâu sắc Đô thị hóa là một phạm trù kinh tế - xã hội, là quá trình chuyển hóa

và vận động phức tạp mang tính quy luật, là quá trình phổ biến diễn ra trên quy mô toàn cầu, mang tính chất đặc trưng nhất của sự phát triển kinh tế - xã hội trong thời hiện đại Quá trình này bao gồm sự thay đổi trong nhiều lĩnh vực như cơ cấu kinh tế, cơ sở hạ tầng, phân

bố lực lượng sản xuất, phân bố dân cư, dân số, kết cấu nghề nghiệp, lối sống văn hóa,v.v

Trang 9

Từ điển Tiếng Việt cho rằng “Đô thị hóa là quá trình tập trung dân cư ngày càng đông vào các đô thị và làm nâng cao vai trò của thành thị đối với sự phát triển của xã hội”

Dù không đi sâu vào bản chất và hiện tượng của chuyển động đô thị hóa, nhưng khái niệm trên đã nói lên hai tính chất chung của ĐTH là sự tập trung dân số và vai trò phát triển của thành phố

Nhà đô thị học Đàm Trung Phường cho rằng: “Đô thị hóa là một quá trình diễn thế về kinh tế - xã hội - văn hóa - không gian gắn liền với những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong

đó diễn ra sự phát triển nghề nghiệp mới, sự chuyển dịch cơ cấu lao động, sự phát triển đời sống văn hóa, sự chuyển đổi lối sống và sự mở rộng phát triển không gian thành hệ thống

đô thị, song song với tổ chức bộ máy hành chính, quân sự” Theo khái niệm này, đô thị hóa

là quá trình chuyển đổi trên tất cả các lĩnh vực, từ kinh tế, xã hội, văn hóa đến khoa học kỹ thuật và cả không gian cư trú của con người

Một khái niệm khác của GS.TS Nguyễn Thế Bá cho rằng: “Đô thị hóa là quá trình tập trung dân số vào các đô thị, là sự hình thành nhanh chóng các điểm dân cư đô thị trên cơ

sở phát triển sản xuất và đời sống Quá trình đô thị hóa cũng là quá trình biến đổi sâu sắc

về cơ cấu sản xuất, cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu tổ chức sinh hoạt xã hội, cơ cấu tổ chức không gian kiến trúc xây dựng từ dạng nông thôn sang thành thị”

Dưới góc độ địa lý, đô thị hóa đồng nghĩa với sự gia tăng không gian, mật độ dân cư, thương mại, dịch vụ hoặc các hoạt động khác mang tính chất phi nông nghiệp trong một khu vực theo thời gian

Mặc dù còn nhiều cách nhìn khác nhau về đô thị hóa nhưng nhìn chung, cần nhận định rằng đô thị hóa là một vấn đề mang tính tất yếu khách quan và có tính phổ quát Đó là

sự chuyển đổi mạnh mẽ, sâu sắc và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, xã hội đến văn hóa, v.v là sự chuyển đổi từ nông thôn sang thành thị, từ nền sản xuất nông nghiệp sang sản xuất phi nông nghiệp với sự tập trung cao độ về sản xuất và dân cư Như vậy, tựu chung lại, có thể hiểu đô thị hóa theo 2 phạm vi sau:

Theo nghĩa hẹp, đô thị hóa là quá trình biến các điểm quần cư nông thôn thành quần

cư đô thị, sự phát triển thành phố và việc nâng cao vai trò của nó trong đời sống kinh tế - xã hội

Trang 10

Theo nghĩa rộng, đô thị hóa được hiểu là quá trình tập trung dân cư vào các đô thị, phát triển quy mô và số lượng đô thị, phổ biến lối sống thành thị và không ngừng hiện đại hóa cơ sở vật chất, hạ tầng kĩ thuật đô thị Đó chính là một quá trình biến đổi và phân bố lại lực lượng sản xuất và các hình thức tổ chức kinh tế, văn hóa, xã hội, v.v… và sự mở rộng không gian đô thị

1.2 Những biểu hiện cơ bản của Đô thị hóa

Ngày nay, khi tốc độ đô thị hóa ngày càng được nâng cao thì sự biểu hiện của nó ngày càng rõ rệt Có thể điểm qua những biểu hiện sau đây của đô thị hóa:

Dân số đô thị ngày càng tập trung đông vào các đô thị: Dân cư thế giới ngày càng

tập trung đông đúc vào các đô thị, làm cho số lượng đô thị trên thế giới ngày càng tăng lên nhanh chóng cả về số lượng thị dân lẫn quy mô dân số đô thị Những nước có tỉ lệ dân số đô thị cao thì mức độ đô thị hóa cao và ngược lại, các nước đang phát triển thường có tỉ lệ dân

số đô thị thấp

Quá trình tập trung dân sổ ngày càng đông vào các đô thị lớn và cực lớn: Sự gia

tăng các đô thị lớn và cực lớn là đặc điểm nổi bật của quá trình đô thị hóa ngày nay Dân số

đô thị ngày càng tăng lên trên phạm vi toàn cầu cả về số lượng tuyệt đối và tương đối làm cho tỉ lệ dân số đô thị ngày càng tăng lên Điều đó đồng nghĩa với số người sống trong các thành phố lớn tăng lên nhanh chóng

Lãnh thổ đô thị không ngừng mở rộng: Đô thị hóa càng cao, càng phát triển thì

diện tích đô thị càng được mở rộng, bởi nhu cầu về diện tích nhà ở, cây xanh, công viên, trường học, bệnh viện, ngày càng nhiều Quá trình mở rộng lãnh thổ đô thị cũng đồng nghĩa với việc chuyển một phần đất nông nghiệp thành đất đô thị, làm giảm diện tích gieo trồng và làm suy thoái môi trường Sự gia tăng diện tích đất đô thị cũng là một trong những nét đặc trưng của quá trình Đô thị hóa

Phổ biến rộng rãi lối sống đô thị vào nông thôn: Quá trình phổ biến lối sống đô thị

làm ảnh hưởng mạnh mẽ đến các hoạt động sinh hoạt và sản xuất ở nông thôn, làm cho các hoạt động của nông thôn xích lại gần với đô thị Quá trình Đô thị hóa đã ảnh hưởng đến nông thôn nhiều mặt, làm cho các vùng nông thôn có sự thay đổi mạnh mẽ cơ cấu lao động sản xuất, lao động trong ngành nông nghiệp giảm xuống, lao động trong ngành phi nông

Trang 11

nghiệp tăng lên nhanh chóng, khoa học kỹ thuật được áp dụng vào trong sản xuất, đời sống sinh hoạt của vùng nông thôn được nâng cao rõ rệt và có những biểu hiện của lối sống đô thị.

1.3 Các tiêu chí đánh giá mức độ Đô thị hóa

Mức độ đô thị hoá là mức độ đạt được về kinh tế - xã hội của đô thị tại một thời điểm hoặc trong một thời kỳ nhất định Đánh giá mức độ đô thị hoá là việc phân tích, so sánh đối chiếu nhằm biểu thị mức độ đạt được về kinh tế - xã hội của một đô thị tại một thời điểm hoặc trong một thời kỳ nhất định Việc phân tích, so sánh có thể thực hiện với các tiêu chuẩn nhất định hoặc với những mức độ đã đạt được trong quá khứ Việc so sánh với những tiêu chuẩn nhất định cho ta nhận thức về trình độ và chất lượng đô thị hoá, những vấn đề bất hợp

lý trong quá trình đô thị hoá Việc so sánh với mức độ đã đạt được trong quá khứ cho ta nhận thức về tốc độ đô thị hoá

Tác giả Trần Thị Bích Huyền trong luận văn thạc sĩ của mình đã chọn các tiêu chí

sau để đánh giá mức độ đô thị hóa: tỉ lệ dân thành thị, mức tăng tỉ lệ lao động phi nông nghiệp, mật độ dân số đô thị và nhịp độ đô thị

Trong luận án tiến sĩ của mình, tác giả Nguyễn Hữu Đoàn đã sử dụng phương pháp

đánh giá đa tiêu chí để đánh giá mức độ đô thị hóa của một vùng lãnh thổ, với 16 tiêu chí được chia thành 4 nhóm Phương pháp đánh giá đa tiêu chí được đề xuất bởi tác giả Nguyễn Hữu Đoàn tuy đánh giá được toàn diện và chi tiết quá trình đô thị hóa của một vùng lãnh thổ, nhưng lại phải cần một lượng lớn và chi tiết của các số liệu đầu vào để xử lý, cùng với

đó là công việc xử lý một lượng thông tin quá lớn, đôi khi cần thiết phải thu thập các thông tin bằng các cuộc điều tra xã hội học với chi phí cao

Hai tác giả Phạm Đỗ Văn Trung và Huỳnh Phẩm Dũng Phát trong một bài báo

khoa học cũng đã đề xuất xây dựng hệ thống tiêu chí theo thang bậc để xác định và đánh giá quá trình đô thị hóa ở Việt Nam với 26 tiêu chí, được tựu chung lại trong 3 lĩnh vực: kinh tế

- xã hội, cơ sở hạ tầng và dân số đô thị Hệ thống tiêu chí này được xác định thông qua phương pháp chấm điểm theo trọng số với đầy đủ các nội dung tiêu chí phản ánh tính chi tiết, chuyên sâu khi đánh giá mức độ đô thị hóa của một địa phương

Trang 12

Căn cứ vào những đặc điểm riêng biệt trong quá trình đô thị hóa của địa phương cũng như mức độ kiến thức, tính chất và dung lượng của tiểu luận, qua tham khảo các hệ tiêu chí đánh giá mức độ đô thị hóa được đề xuất bởi các tác giả khác, tác giả tiểu luận xin được sử dụng một phần phương pháp đánh giá đa tiêu chí của tác giả Nguyễn Hữu Đoàn, kết hợp với một số tiêu chí trong tổng số 26 tiêu chí đánh giá của 2 tác giả Phạm Đỗ Văn Trung và Huỳnh Phẩm Dũng Phát Các tiêu chí đánh giá mức độ đô thị hóa được phân làm 3 nhóm, bao gồm:

Nhóm 1: Tiêu chí về dân số đô thị Nhóm tiêu chí này bao gồm các chỉ tiêu sau:

quy mô dân số đô thị, tỉ lệ dân số đô thị, mật độ dân số đô thị, tốc độ đô thị hóa, nhịp độ đô thị hóa

Quy mô dân số đô thị bao gồm dân số thường trú và dân số tạm trú đã quy đổi khu

vực nội thị và khu vực ngoại thị, được tính theo công thức sau:

N = N1 + N2

Trong đó: N: Dân số toàn đô thị (người)

N1: Dân số của khu vực nội thị (người);

N2: Dân số của khu vực ngoại thị (người)

Tỉ lệ dân số đô thị là chỉ tiêu cơ bản xác định mức độ đô thị hóa Tỉ lệ dân số đô thị

cao và tăng nhanh, quá trình đô thị hóa càng hiệu quả Đô thị hóa tạo ra lực hút đối với dân

cư từ nơi khác và tạo quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp, nâng cao hiệu quả sản xuất Tỉ lệ dân số đô thị được tính bằng công thức:

Trong đó: U : tỉ lệ dân số đô thị (%)

Pu : dân số đô thị (người)

Pt : tổng dân số (người)

Mật độ dân số đô thị phản ánh tốc độ phát triển của đô thị Các đô thị có mật độ dân

số đô thị cao chứng tỏ quá trình đô thị hóa ở khu vực đó diễn ra mạnh mẽ Mật độ dân số đô thị được tính bằng công thức:

Trang 13

Trong đó: M: Mật độ dân số đô thị (người/km2)

Pu: Dân số đô thị (người)

S : Diện tích đô thị (km2)

Tốc độ đô thị hóa là chỉ tiêu thể hiện sự tăng trưởng của đô thị thông qua các chỉ

tiêu về dân số đô thị hoặc đất đai đô thị theo thời gian (1 năm hoặc một khoảng thời gian nhất định) Theo quy định tại Thông tư số 34/2009/TT-BXD của Bộ Xây dựng, tỉ lệ đô thị hóa được xác định thông qua chỉ tiêu về dân số đô thị, do vậy tốc độ đô thị hóa theo chỉ tiêu dân số đô thị được tính bằng công thức:

1 1

Trong đó: TD: Tốc độ đô thị hóa (%)

P ui: Dân số đô thị năm cần tính toán

P ui−1: Dân số đô thị ở năm liền kề trước với năm cần tính toán.

Nhịp độ đô thị hóa được tính bằng công thức:

Trong đó: T : nhịp độ đô thị hóa (%/năm)

U2 : tỉ lệ dân đô thị năm sau (%)

U1 : tỉ lệ dân đô thị năm trước (%)

t: khoảng cách giữa năm sau và năm trước

Nhóm 2: Tiêu chí về lao động đô thị Nhóm tiêu chí này bao gồm: tỉ lệ lao động phi

nông nghiệp, tỉ lệ thất nghiệp

Trang 14

Gia tăng tỉ lệ lao động phi nông nghiệp là chỉ tiêu quan trọng xác định mức độ đô thị hóa Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp được tính bằng công thức:

N A

N A

L L

− là tỉ trọng lao động hoạt động trong khu vực phi nông nghiệp

L N A− là tổng số lao động hoạt động khu vực phi nông nghiệp.

L là tổng số lao động của toàn bộ nền kinh tế trong tỉnh

Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp tăng do sản xuất công nghiệp - dịch vụ phát triển mạnh, làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế: giảm tỉ trọng ngành nông nghiệp và tăng tỉ trọng ngành công nghiệp - dịch vụ Như vậy, tỉ lệ lao động phi nông nghiệp ngày càng tăng thể hiện quá trình đô thị hóa diễn ra ngày càng nhanh

Tỷ lệ thất nghiệp là chỉ tiêu biểu hiện tỷ lệ so sánh số người thất nghiệp với lực lượng lao động (tổng dân số hoạt động kinh tế) trong kỳ và được tính như sau:

Nhóm 3: Tiêu chí về kinh tế đô thị Nhóm tiêu chí này bao gồm: tốc độ tăng trưởng

GDP, tỉ trọng phi nông nghiệp trong GDP, tổng thu ngân sách trên địa bàn, tỉ lệ hộ nghèo.Tốc độ tăng trưởng GDP cũng là một tiêu chí quan trọng để đánh giá kinh tế đô thị Đây

là tiêu chí tương đối phản ánh nhịp điệu tăng, giảm của kinh tế qua thời gian và biểu hiện

Trang 15

bằng số lần hoặc số phần trăm Trong tiểu luận này, cần lưu ý rằng, tốc độ tăng trưởng kinh

tế là tốc độ tăng trưởng liên hoàn và được tính theo công thức:

* 100%

Trong đó: ii là tốc độ tăng GDP liên hoàn

δi là lượng tăng GDP tuyệt đối liên hoàn

yi là mức độ chỉ tiêu GDP của kỳ nghiên cứu

yi-1 là mức độ chỉ tiêu GDP của kỳ trước kỳ nghiên cứu

Tỉ trọng GDP phi nông nghiệp cũng được xem là một trong những tiêu chí quan trọng để xác định mức độ đô thị hóa Chỉ tiêu này được tính bằng công thức:

GDP : Tỉ trọng GDP phi nông nghiệp

GDP N A− : Tổng GDP phi nông nghiệp

GDP : Tổng GDP của địa phương

Tỉ lệ hộ nghèo số phần trăm về số hộ có mức thu nhập (hoặc chi tiêu) bình quân đầu

người thấp hơn chuẩn nghèo trong tổng số người hoặc số hộ được nghiên cứu, được tính bằng công thức:

i i i

y y

y y

Trang 16

Fp

: Số hộ nghèo trong địa phương cần tính toán

P: Tổng dân số trong địa phương cần tính toán.

Chương 2 THỰC TRẠNG ĐÔ THỊ HÓA Ở TỈNH BÌNH THUẬN GIAI ĐOẠN

1999 – 2013

2.1 Khái quát về tỉnh Bình Thuận

Bình Thuận là tỉnh thuộc vùng cực Nam Trung bộ, bao gồm 8 huyện, 1 thị xã và 1 thành phố Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh Bình Thuận là 781.282 ha Dân số của tỉnh Bình Thuận hiện có khoảng 1,2 triệu người (năm 2013), mật độ dân số toàn tỉnh là 154 người/km2 với 31 dân tộc anh em

Trước thập niên 90 của thế kỷ XX, Bình Thuận là một trong những tỉnh còn nhiều khó khăn, nền kinh tế tăng trưởng còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh, tỉ lệ thị dân còn thấp, mật độ đô thị thưa thớt, mang nặng chức năng hành chính, trình độ đô thị hóa còn rất thấp, thu nhập và đời sống nhân dân, đặc biệt là thị dân còn thấp Kể từ sau khi tái lập tỉnh đến nay (ngày 01/04/1992), Bình Thuận đã vượt khó, vươn lên, nền kinh tế tăng trưởng khá, đặc biệt là kinh tế đô thị, quy mô và tỉ lệ thị dân đã tăng khá, trình độ đô thị hóa đang trên đà tăng, thu nhập và đời sống nhân dân, đặc biệt là thị dân đã được cải thiện Những bước phát triển gần đây với các nhân tố mới đã và đang từng bước đưa Bình Thuận trở thành một cực phát triển mới của Nam Trung Bộ

2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình đô thị hóa tỉnh Bình Thuận giai đoạn 1999 – 2013

2.2.1 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên

Bình Thuận là tỉnh cực Nam của Duyên hải miền Trung, có vị trí cầu nối với vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên, có độ địa lý từ 10033’42’’đến 11033’18’’vĩ độ Bắc và từ

107023’41’’ đến 108052’42’’kinh độ Đông

Tính đến 2013, Bình Thuận có 10 đơn vị hành chính, bao gồm 1 thành phố cấp II (T.P Phan Thiết), 1 thị xã (Thị xã La Gi) và 8 huyện (Tuy Phong, Bắc Bình, Hàm Thuận Bắc, Hàm Thuận Nam, Tánh Linh, Đức Linh, Hàm Tân và huyện đảo Phú Quý)

Trang 17

Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Bình Thuận.

Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh là 7.830 km2 Phía Bắc và Đông Bắc của tỉnh giáp Ninh Thuận, phía Bắc và Tây Bắc giáp Lâm Đồng, phía Tây giáp Đồng Nai, phía Tây Nam giáp Bà Rịa - Vũng Tàu và phía Đông và Đông Nam giáp Biển Đông với 192 km đường bờ biển Bình Thuận nằm cách TP Hồ Chí Minh 200 km, cách TP Nha Trang khoảng 250 km

và TP Buôn Ma Thuột khoảng 270km [4, 20]

Trang 18

Hình 2.2 Sơ đồ thể hiện vị trí địa lí Bình Thuận trong mối quan hệ vùng.

Với vị trí địa lí như vậy, Bình Thuận chính là nơi tụ hội của các luồng di dân từ Đồng bằng Sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ về phương Nam lập nghiệp và luồng di dân từ Tây Nguyên xuống đồng bằng nhỏ hẹp ven biển Chính điều đó đã góp phần tạo nên quá trình đô thị hóa trong tỉnh Bình Thuận Không phải ngẫu nhiên mà vùng đất Phan Thiết - tỉnh lỵ của Bình Thuận - trong lịch sử đã từng là nơi dừng chân tụ hội của các chí sĩ, nhà Nho yêu nước (Nguyễn Thông, Nguyễn Tất Thành dừng chân dạy học tại Dục Thanh, Nguyễn Trọng Lội, Phan Châu Trinh) Yếu tố vị trí địa lí chính là tiền đề, tạo nền cho quá trình đô thị hóa diễn ra tại Bình Thuận Tuy nhiên, do khoảng cách địa lí không xa

TP Hồ Chí Minh – đô thị mang tầm vóc quốc gia – đã làm giảm bớt sức hút về kinh tế, dân

cư của Bình Thuận

Về địa hình, tỉnh Bình Thuận trải dài dọc biển Đông theo hướng Đông Bắc – Tây Nam khoảng 160km, chiều rộng 95km, nơi hẹp nhất 32km Đại bộ phận lãnh thổ là đồi núi thấp, đồng bằng ven biển nhỏ hẹp, địa hình hẹp ngang Phía Bắc giáp sườn núi cuối cùng của dãy Trường Sơn, phía Nam có dải đồi cát (động cát) chạy dài

Hình 2.3 Sơ đồ thể hiện địa hình Bình Thuận.

Toàn tỉnh chia ra làm 4 dạng địa hình với những giá trị kinh tế và những khó khăn riêng biệt trong quá trình phát triển kinh tế:

Trang 19

- Dạng địa hình đầu tiên là địa hình đồi cát và cồn cát ven biển (cao trình từ 50 m đến dưới 200m) chiếm 18,22% diện tích tự nhiên, có dạng gò đồi lượn sóng, độ dốc chủ yếu dưới 30 phân bố dọc ven biển từ Tuy Phong đến Hàm Tân.

- Dạng địa hình thứ 2 là đồng bằng phù sa (cao khoảng 5 – 10m) chiếm 9,43% diện tích tự nhiên, nhỏ hẹp, trong đó có 3 vùng lớn: Vùng Phan Rí – Phan Thiết (khoảng 24.000 ha), vùng Hàm Thuận Bắc (khoảng 26.000 ha) và vùng thung lũng sông La Ngà (khoảng 25.000 ha) Với đặc điểm bằng phẳng, đất đai màu mỡ nên rất thuận lợi đối với phát triển sản xuất nông nghiệp và xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật

- Dạng địa hình thứ 3 là vùng đồi gò và núi thấp (cao độ từ 60 – 500m) chiếm 40,7% diện tích, kéo dài theo hướng Đông Bắc Tây Nam từ Tuy Phong đến Đức Linh Trừ một số vùng núi thấp có độ dốc trên 150 ít thích hợp với sản xuất nông nghiệp, diện tích còn lại là vùng đồi gò tương đối thuận lợi cho sản xuất phát triển nông – lâm nghiệp, xây dựng hạ tầng cơ sở, khu công nghiệp

- Dạng địa hình cuối cùng là vùng núi trung bình (trên 500m) chiếm 31,65% diện tích,

độ dốc lớn (chủ yếu trên 200), chia cắt mạnh, cấu trúc địa hình phức tạp, chủ yếu tập trung ở phía Bắc và Tây Bắc Đây là những dãy núi của khối Trường Sơn chạy theo hướng Đông Bắc – Tây Nam từ phía Bắc huyện Bắc Bình đến Đông Bắc huyện Đức Linh Dạng địa hình này không thuận lợi với sản xuất nông nghiệp và xây dựng hạ tầng

Với sự phân hóa địa hình như vậy, dân cư tập trung chủ yếu ở dải địa hình đồng bằng phù sa ven biển, đặc biệt là khu vực TP Phan Thiết, khu vực phía nam huyện Hàm Thuận Bắc và phía đông nam huyện Hàm Thuận Nam Những khu vực khác, đặc biệt là dạng địa

hình gò đồi, núi thấp và núi trung bình, dân cư tập trung thưa thớt Như vậy, chính sự phân

hóa địa hình đã góp phần quy định tính định hướng của các luồng di dân trong tỉnh Bình Thuận, góp phần tạo động lực cho quá trình đô thị hóa diễn ra trong tỉnh Bình Thuận.

Trang 20

Hình 2.4 Sơ đồ mật độ dân số tỉnh Bình Thuận năm 2009.

Về khí hậu, Bình Thuận nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình nhiều nắng, nhiều gió, không có mùa đông lạnh Do ảnh hưởng của dãy Kon Tum và hướng địa hình song song với hướng gió nên khí hậu của tỉnh Bình Thuận trở nên khô nóng nhất nhì cả nước Nhiệt độ trung bình năm cao, từ 260 - 270C Tổng nhiệt trung bình năm lớn (trên

90000C/năm) Tổng lượng bức xạ đạt 140 – 150 Kcal/cm2 Khí hậu Bình Thuận có 2 mùa rõ

rệt: Gió mùa Đông Bắc (từ tháng 11 - tháng 4) và gió mùa Tây Nam (tháng 5 - tháng 10)

Lượng mưa trung bình năm khoảng 1.500mm Mùa mưa tập trung vào thời gian gió mùa Tây Nam với lượng mưa trung bình từ 800 - 1.600 mm/năm Mùa mưa từ 3 - 6 tháng, chiếm 90% tổng lượng mưa năm Mùa khô từ 6 - 9 tháng, lượng mưa bằng 10% tổng lượng mưa năm

Như vậy, qua đặc điểm chung về khí hậu của tỉnh Bình Thuận, có thể thấy khí hậu

trong tỉnh không được thuận lợi để dân cư sinh sống so với các tỉnh, thành phố phía Nam

Chính yếu tố này cũng làm hạn chế sự tập trung dân cư trong tỉnh, dẫn đến sự chênh lệch

về trình độ và mức độ đô thị hóa của Bình Thuận so với các tỉnh, thành phố phía Nam – nơi

có điều kiện khí hậu tạo thuận lợi cho sự sinh sống của cư dân.

Trang 21

2.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Trình độ phát triển kinh tế - xã hội là nhân tố quyết định đến diễn biến, mức độ và

trình độ đô thị hóa tại Bình Thuận

Bảng 2 Tốc độ tăng GDP của kinh tế Bình Thuận giai đoạn 2000 – 2011.

Năm

Tốc độ tăng GDP của nền kinh tế (%).

Tốc độ tăng trưởng GDP của từng khu vực.

Nông - Lâm - Thủy sản (%).

Công nghiệp - Xây dựng (%) Dịch vụ (%).

(Nguồn: Tác giả tổng hợp và xử lí số liệu)

Nền kinh tế tỉnh Bình Thuận có dấu hiệu khởi sắc kể từ năm 2000 đến nay và liên tục giữ được tốc độ tăng trưởng khá cao Trong giai đoạn 2000 – 2011, tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh theo giá so sánh năm 1994 tăng từ 2.171,3 tỉ đồng (năm 2000) lên đến 4.234,9 tỉ đồng (năm 2005) và đạt 8.447,3 tỉ đồng vào năm 2011 (cả nước đạt 584073 tỉ đồng, chiếm 1,4%), tốc độ tăng trưởng bình quân toàn giai đoạn đạt 13,1%, cao hơn 1,84 lần so với cả nước (đạt 7,1%)

Tổng sản phẩm trên địa bàn toàn tỉnh tính theo giá thực tế, tăng từ 3.101,3 tỉ đồng (năm 2000) lên đến 8106,7 (năm 2005) và đạt 31.426,4 tỉ đồng vào năm 2011 GDP bình quân đầu người (giá thực tế) tăng từ 2,9 triệu đồng/người (năm 2000) lên 26,6 triệu đồng/người (năm 2011) Nền kinh tế của tỉnh đã có những bước phát triển mới góp phần

nâng cao mức sống của người dân và tác động mạnh vào quá trình đô thị hóa tại đây Chính

yếu tố kinh tế đã tạo nên những luồng di dân từ những nơi khác có nền kinh tế kém phát triển hơn đổ về Bình Thuận, đạc biệt là khu vực đô thị, góp phần tạo nên quá trình đô thị hóa trong tỉnh.

Ngày đăng: 31/03/2015, 12:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Cục Thống kê Bình Thuận (2006), Niên giám thống kê Bình Thuận 2005, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê Bình Thuận 2005
Tác giả: Cục Thống kê Bình Thuận
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2006
4. Cục Thống kê Bình Thuận (2014), Niên giám thống kê Bình Thuận 2013, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê Bình Thuận 2013
Tác giả: Cục Thống kê Bình Thuận
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2014
5. Cục thống kê Bình Thuận (2010), Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Bình Thuận năm 1999, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Bình Thuận năm 1999
Tác giả: Cục thống kê Bình Thuận
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2010
6. Cục thống kê Bình Thuận (2010), Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Bình Thuận năm 2009, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Bình Thuận năm 2009
Tác giả: Cục thống kê Bình Thuận
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2010
7. Võ Kim Cương (2004), Quản lý đô thị thời kì chuyển đổi, NXB Xây dựng – Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý đô thị thời kì chuyển đổi
Tác giả: Võ Kim Cương
Nhà XB: NXB Xây dựng – Hà Nội
Năm: 2004
9. Trần Thị Bích Huyền (2009), Quá trình đô thị hóa quận 2 – TP. Hồ Chí Minh và những tác động đối với Kinh tế - Xã hội, Luận văn Thạc sĩ Địa lí học, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình đô thị hóa quận 2 – TP. Hồ Chí Minh và những tác động đối với Kinh tế - Xã hội
Tác giả: Trần Thị Bích Huyền
Năm: 2009
10. Đàm Trung Phường (2005), Đô thị Việt Nam, NXB Xây dựng – Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đô thị Việt Nam
Tác giả: Đàm Trung Phường
Nhà XB: NXB Xây dựng – Hà Nội
Năm: 2005
13. Huỳnh Thị Thu Tâm (2009), Tác động của quá trình đô thị hóa TP. Hồ Chí Minh đến huyện Cần Giuộc, Cần Đước tỉnh Long An dưới góc độ Địa lí Kinh tế - Xã hội, Luận văn Thạc sĩ Địa lí học, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của quá trình đô thị hóa TP. Hồ Chí Minh đến huyện Cần Giuộc, Cần Đước tỉnh Long An dưới góc độ Địa lí Kinh tế - Xã hội
Tác giả: Huỳnh Thị Thu Tâm
Nhà XB: Trường ĐH Sư phạm TP.HCM
Năm: 2009
15. Phạm Thị Xuân Thọ (2009), Địa lí Đô thị, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lí Đô thị
Tác giả: Phạm Thị Xuân Thọ
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2009
16. Tổng Cục Thống kê (2004), Một số thuật ngữ thống kê thông dụng, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số thuật ngữ thống kê thông dụng
Tác giả: Tổng Cục Thống kê
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2004
17. Phạm Đỗ Văn Trung, Huỳnh Phẩm Dũng Phát (2012), Xây dựng hệ thống tiêu chí theo thang bậc để xác định và đánh giá quá trình đô thị hóa ở Việt Nam , Tạp chí Khoa học trường ĐH Sư phạm TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng hệ thống tiêu chí theo thang bậc để xác định và đánh giá quá trình đô thị hóa ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Đỗ Văn Trung, Huỳnh Phẩm Dũng Phát
Năm: 2012
18. Nguyễn Minh Tuệ - Nguyễn Viết Thịnh (2008), Địa lí Kinh tế - xã hội Đại cương, NXB ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lí Kinh tế - xã hội Đại cương
Tác giả: Nguyễn Minh Tuệ - Nguyễn Viết Thịnh
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2008
11. Sở Kế hoạch & Đầu tư Bình Thuận (2005), Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Thuận đến 2020 Khác
12. Sở Xây dựng Bình Thuận (2010), Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Bình Thuận đến 2030 Khác
14. Tỉnh Ủy Bình Thuận (2010), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ Tỉnh (Khóa XI) trình Đại hội Đại biểu Đảng bộ Tỉnh Bình Thuận lần thứ XII (nhiệm kì 2010 – 2015) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Bản đồ hành chính tỉnh Bình Thuận. - Thực trạng đô thị hóa tỉnh Bình Thuận giai đoạn 1999 - 2013
Hình 2.1. Bản đồ hành chính tỉnh Bình Thuận (Trang 17)
Hình 2.2. Sơ đồ thể hiện vị trí địa lí Bình Thuận trong mối quan hệ vùng. - Thực trạng đô thị hóa tỉnh Bình Thuận giai đoạn 1999 - 2013
Hình 2.2. Sơ đồ thể hiện vị trí địa lí Bình Thuận trong mối quan hệ vùng (Trang 18)
Hình 2.4. Sơ đồ mật độ dân số tỉnh Bình Thuận năm 2009. - Thực trạng đô thị hóa tỉnh Bình Thuận giai đoạn 1999 - 2013
Hình 2.4. Sơ đồ mật độ dân số tỉnh Bình Thuận năm 2009 (Trang 20)
Bảng  2.. Tốc độ tăng GDP của kinh tế Bình Thuận giai đoạn 2000 – 2011. - Thực trạng đô thị hóa tỉnh Bình Thuận giai đoạn 1999 - 2013
ng 2.. Tốc độ tăng GDP của kinh tế Bình Thuận giai đoạn 2000 – 2011 (Trang 21)
Hình 2.5. Sơ đồ hiện trạng hệ thống đô thị tỉnh Bình Thuận - Thực trạng đô thị hóa tỉnh Bình Thuận giai đoạn 1999 - 2013
Hình 2.5. Sơ đồ hiện trạng hệ thống đô thị tỉnh Bình Thuận (Trang 26)
Bảng 2.4. Nhịp độ đô thị hóa tỉnh Bình Thuận giai đoạn 1999 – 2013. - Thực trạng đô thị hóa tỉnh Bình Thuận giai đoạn 1999 - 2013
Bảng 2.4. Nhịp độ đô thị hóa tỉnh Bình Thuận giai đoạn 1999 – 2013 (Trang 29)
Bảng 2.5. Quy mô và tỉ lệ lao động phi nông nghiệp trong tỉnh Bình Thuận - Thực trạng đô thị hóa tỉnh Bình Thuận giai đoạn 1999 - 2013
Bảng 2.5. Quy mô và tỉ lệ lao động phi nông nghiệp trong tỉnh Bình Thuận (Trang 31)
Bảng 2.8. Tỉ lệ hộ nghèo khu vực đô thị tỉnh Bình Thuận giai đoạn 2001 – 2013. - Thực trạng đô thị hóa tỉnh Bình Thuận giai đoạn 1999 - 2013
Bảng 2.8. Tỉ lệ hộ nghèo khu vực đô thị tỉnh Bình Thuận giai đoạn 2001 – 2013 (Trang 34)
Hình 3.1. Sơ đồ phân bố hệ thống đô thị đến 2030. - Thực trạng đô thị hóa tỉnh Bình Thuận giai đoạn 1999 - 2013
Hình 3.1. Sơ đồ phân bố hệ thống đô thị đến 2030 (Trang 36)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w