Vì vậy, trong quá trình giảng dạy thực tế tơi đã tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra một số biện pháp khắc phục để giúp học sinh học tốt phân mơn chính tả , một trong những biện pháp tích cực
Trang 1KINH NHIỆM VỀ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT PHÂN MÔN
CHÍNH TẢÛ Ở LỚP 3
I ĐẶT VẤN ĐỀ :
Chữ viết hiện nay của người Việt là chữ viết ghi lại theo phát âm Do đĩ việc viết đúng phải dựa trên đọc đúng, đọc đúng là cơ sử viết đúng Tuy nhiên do yếu tố vùng miền, cách phát âm mỗi nơi cĩ khác nhau Mặc dù những qui tắc, qui ước về Chính tả đã được thống nhất theo ngữ pháp chung Nhưng việc “viết đúng Chính tả” trong học sinh hiện nay nĩi chung vẫn cịn nhiều khĩ khăn, tồn tại
Trong khi trong thực tế lớp tơi , hiện tượng khơng đồng nhất trong phát
âm là khá phổ biến Do tình hình kinh tế xã hội chung, hầu như bất kỳ địa phương nào trong cả nước cũng cĩ sự pha trộn, giao thoa của nhiều vùng miền Từ giáo viên đến học sinh, “Cơ Bắc- trị Nam; Cơ Trung - trị Bắc ”
“Nghe và hiểu” được tiếng nĩi của nhau quả là khơng đơn giản Trong khi
“chuẩn chính tả” của Ngữ pháp Việt Nam căn cứ vào phát âm của khu vực
Hà Nội thì với các vùng miền khác Vì vậy phát âm chuẩn khơng hề đơn giản Một số ví dụ tiêu biểu như: Phát âm của một số vùng Bắc Bộ (Hưng Yên) thì “nĩi và làm” thành ra “lĩi và nàm”, khu vực Trung Bộ (khu vực Bình Trị Thiên, Nghệ Tỉnh) hầu như khơng phân biệt nỗi các dấu thanh “sắc-nặng-hỏi - ngã” như “nĩi” lại thành “nọi” Đặc biệt vùng Đồng bằng Nam
bộ cịn cĩ phát âm như ngọng “Con cá rơ bỏ vơ rổ giãy rột rột” thành “ Con
cá gơ bỏ vơ gổ dảy gột gột” “đàng hồng” thành “đàng quàng” Nhưng
“vùng nào hiểu theo vùng nấy” nên thật ra trong từng địa phương cĩ kiểu phát âm như vậy đã thành “quen tai” nên khơng cĩ gì đáng nĩi Cĩ điều là hiện nay, sự sống chung pha trộn trong các vùng cả nước hiện nay là phổ biến nên khĩ khăn trong việc “nghe và viết” sao cho đúng là một vấn đề lớn đối với Chính tả là rất rõ nét
Chính vì vậy, học sinh hiện nay mắc lỗi chính tả rất nhiều Điều này ảnh hưởng tới kết quả học tập của các em ở mơn Tiếng Việt nĩi chung cũng như các mơn học khác Vì vậy, trong quá trình giảng dạy thực tế tơi
đã tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra một số biện pháp khắc phục để giúp học sinh học tốt phân mơn chính tả , một trong những biện pháp tích cực
giúp học sinh học tốt mơn Tiếng Việt và các mơn học khác trong chương trình Bởi trên thực tế, nếu người nĩi “khơng chuẩn phát âm” khơng thể làm người nghe hiểu mình muốn gì thì “viết khơng đúng” cũng khơng thể
Trang 2diễn đạt được ý tưởng của mình cho người khác hiểu Đặc biệt là trong chương trình phổ thông, môn Tiếng Việt lại là môn “chủ lực và trung tâm”
để có thể khai thác các môn học khác một cách tốt nhất
II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
1 Một số tồn tại trong thực tế:
Qua quá trình giảng dạy và theo dõi chất lượng bộ môn, tôi thấy học sinh thường mắc phải các loại lỗi sau:
a Lỗi về dấu thanh:
Tiếng Việt có 6 thanh (ngang, huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng) thì nhiều học sinh không phân biệt được 2 thanh hỏi, ngã.Số lượng tiếng mang 2
thanh này không ít và rất phổ biến - kể cả những người có trình độ văn hoá cao
Ví dụ: Sữa xe đạp, hướng dẩn, giử gìn, dổ dành, lẩn lộn,…
b Lỗi phụ âm đầu:
- Học sinh viết lẫn lộn một số chữ cái ghi các âm đầu sau đây:
+ c/k: Céo co… +ng/qu: ông quại (ngoại), bên quài(ngoài) + g/gh: Con ghà , gê gớm… +h/qu: quảng hốt (hoảng hốt), phá quại (phá
hoại)
+ ng/ngh: Ngỉ ngơi, nge nhạc, nghành nghề…
+ ch/tr: Cây che, chiến chanh…
+ s/x: Cây xả , xa mạc…
c.Lỗi âm cuối, vần:
- Học sinh thường viết lẫn lộn chữ ghi âm cuối trong các vần sau đây:
+ at/ac- ăt/ăc - ât/âc: mác mẻ, lường gạc, gặc lúa, nổi bậc, lấc phấc…
+ an/ang- ân/âng: cây bàn, bàng bạc, khoai lan, hụt hẫn, tần lầu
+âu/ôi : ông Nậu (nội), cái gấu (gối)
+ ên/ênh: bấp bên, nhẹ tên, ghập ghền, khấp khển…
+ư/ươi: con ngừ , hai mư
2 Nguyên nhân chủ yếu:
a/ Lỗi về dấu thanh:
Trang 3Thực tế qua ngôn ngữ nói, Nghệ An trở vào không phát âm phân biệt
được những thanh hỏi, ngã Nói cách khác trong phương ngữ khu vực miền Trung và miền Nam không có thanh ngã Trong khi số lượng từ
mang 2 thanh này khá lớn Do đó đây là lỗi rất phổ biến trong học sinh
b/ Lỗi khi viết âm đầu:
Trong phương ngữ Bắc và Nam có sự lẫn lộn giữa các chữ ghi âm
đầu
ch /tr ,d/gi , s/x Mặt khác, trong khi một số vùng miền Bắc thường
lẫn lộn các âm đầu l/n thì người Miền Nam thường lẫn lộnv/d, r/
g Ngoài ra, trong quy ước về chữ quốc ngữ, một âm ghi bằng 2 hoặc 3
dạng (ví dụ: âm “cờ” ghi bằng 3 chữ cái
c/k,/qu , âm “ngờ” ghi bằng ng/ngh, âm “gờ” ghi bằng g/gh…) dù có
những quy định riêng cho mỗi dạng khi ghép chữ, nhưng đối với học sinh tiểu học thì rất dễ lẫn lộn
c/ Lỗi khi viết âm cuối:
Đối với người Miền Nam, có thể nói việc phát âm hoàn toàn không phân biệt các vần có âm cuối n/ng và t/c Mà số từ mang các vần này
không nhỏ Mặt khác hai bán âm cuối i/u lại được ghi bằng 4 con chữ i/
y (trong: lai/lây), u/o (trong: sau/sao), ư/ươi (trong : tư/tươi) do đó lỗi về
âm cuối là lỗi khó khắc phục đối với học sinh các tỉnh phía Nam nói chung
và tại địa phương nói riêng
3.Một số biện pháp khắc phục lỗi:
a Tích cực luyện phát âm đúng:
Muốn học sinh viết đúng chính tả, giáo viên phải là người phát âm rõ tiếng, đúng chuẩn, Việc rèn phát âm bắt đầu phải được thực hiện
trong tiết Tập đọc và được thực hiện thường xuyên, liên tục, lâu dài trong tất cả các tiết học như Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn…
b Phân biệt chính tả bằng phân tích, so sánh:
Song song với việc phát âm, giáo viên có thể áp dụng biện pháp phân tích cấu tạo tiếng, so sánh với những tiếng dễ lẫn lộn, phát hiện những điểm khác nhau để học sinh lưu ý và ghi nhớ
Ví dụ: Khi viết tiếng “đàng” học sinh dễ lẫn lộn với tiếng “đàn”, giáo viên yêu cầu học sinh phân tích cấu tạo hai tiếng này:
Trang 4- đàng = đ + ang + thanh huyền
- đàn = đ + an + thanh huyền
- So sánh để thấy sự khác nhau: Tiếng “đàng” có âm cuối là “ng”,
tiếng “đàn ” có âm cuối là “n” Học sinh ghi nhớ điều này, khi viết, các em
sẽ không viết sai
c.Phân biệt bằng nghĩa từ:
Một biện pháp khác để khắc phục lỗi chính tả cho học sinh là giúp học sinh hiểu nghĩa chính xác của từ Việc giải nghĩa từ thường được thực hiện trong tiết Tập đọc, Luyện từ và câu…nhưng trong tiết Chính tả cũng
là một biện pháp tích cực, khi học sinh không thể phân biệt từ khó dựa vào phát âm hoặc phân tích cấu tạo tiếng
Ví dụ: Phân biệt bàn và bàng (trong từ đơn): Bàn= cái bàn – bàng =cây bàng hoặc phân biệt Bác và bát :bác=anh của ba, Bác Hồ -bát = đồ dùng ăn cơm (-bát đũa)
Với những từ nhiều tiếng, từ nhiều nghĩa giáo viên phải đặt từ đó trong văn cảnh cụ thể để gợi lại nghĩa từ hoặc giúp học sinh giải nghĩa từ
d Ghi nhớ một số mẹo luật chính tả:
Một số hiện tượng chính tả mang tính quy luật đối với hàng loạt từ
có thể giúp cho học sinh khắc phục lỗi chính tả một cách rất hữu hiệu Ngay từ lớp 1, các em đã được làm quen với luật chính tả đơn giản
như: các âm đầu k, gh, ngh chỉ kết hợp với các nguyên âm i, e, ê, iê, ie Luật bổng - trầm: Qui luật về dấu hỏi, ngã trong các từ láy (mát mẻ,
vui vẻ sạch sẽ ) Trong các từ láy điệp âm đầu, thanh (hay dấu) của 2 yếu
tố ở cùng một hệ bổng (ngang/sắc/hỏi) hoặc trầm (huyền/ngã/nặng) Để
nhớ được 2 nhóm này, giáo viên chỉ cần dạy cho học sinh thuộc nguyên
tắc : Ngang- sắc = hỏi/ Huyền- nặng = ngã
Nghĩa là đa số các từ láy âm đầu, nếu yếu tố đứng trước mang thanh huyền, nặng, ngã thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh ngã, nếu yếu tố đứng trước mang thanh ngang, sắc, hỏi thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh hỏi (hoặc ngược lại)
Ví dụ:
Ngang + hỏi: Nhỏ nhoi, trẻ trung, vui vẻ , …
Sắc + hỏi: Mát mẻ, sắc sảo, vắng vẻ ,…
Hỏi + hỏi: Thỏ thẻ, hổn hển, rủ rỉ, rỉ rả …
Trang 5 Huyền + ngã: Mỡ màng, lững lờ, vồn vã …
Nặng + ngã: Đẹp đẽ, mạnh mẽ, vật vã…
Ngã + ngã: Dễ dãi, nghễnh ngãng, nhõng nhẽo, …
Ngoài ra, giáo viên có thể cung cấp thêm cho học sinh một số mẹo luật khác như:+ Để phân biệt âm đầu tr/ch: Đa số các từ chỉ đồ vật trong
nhà và tên con vật đều bắt đầu bằng ch, ví dụ: chăn, chiếu, chảo, chổi, chai, chày, chén, chum, chạn, chõ, chĩnh, chuông, chiêng, choé,… chồn, chí, chuột, chó, chuồn chuồn, châu chấu, chào mào, chiền chiện, chẫu chàng, chèo bẻo, chìa vôi…
+ Để phân biệt âm đầu s/x: Đa số các từ chỉ tên cây và tên con vật
đều bắt đầu bằng s: Sả, si, sồi, sứ, sung, sắn, sim, sao, su su, sầu đâu, sa nhân, sơn trà, sặt, sậy, sấu, sến, săng lẻ, sầu riêng, so đũa… sam, sán, sáo, sâu, sên, sếu, sò, sóc, sói, sứa, sáo sậu, săn sắt, sư tử, sơn dương, san hô…
+ Để phân biệt các vần dễ lẫn lộn:
Đa số từ chỉ trạng thái bấp bênh, không vững chắc có vần ênh: Gập
ghềnh, khấp khểnh, chông chênh, lênh đênh, bập bềnh, chếnh choáng, chệnh choạng, lênh khênh, bấp bênh, công kênh…
Hầu hết các từ tận cùng là ng hoặc nh là từ tượng thanh: oang oang,
đùng đoàng, loảng xoảng, đoàng đoàng, sang sảng, rổn rảng, ùng oàng, quang quác, pằng pằng, eng éc, beng beng, chập cheng, leng keng, lẻng kẻng, đùng đùng, thùng thùng, bình bịch, thình thịch, rập rình, xập xình, huỳnh huỵch…
Vần uyu chỉ xuất hiện trong các từ tượng hình: khuỷu tay, khúc khuỷu, ngã khuỵu, khuỵu chân; vần oeo chỉ xuất hiện trong các từ ngoằn
ngoèo, khoèo chân
e Vận dụng củng cố bằng các bài tập chính tả:
Giáo viên nên cho học sinh thực hiện các dạng bài tập chính tả khác nhau để giúp học sinh tập vận dụng các kiến thức đã học, làm quen với việc sử dụng từ trong văn cảnh cụ thể Sau mỗi bài tập, giáo viên giúp học sinh rút ra các quy tắc chính tả để các em ghi nhớ
Ngoài ra, việc kiểm tra “viết đúng chính tả” của giáo viên đối với học
sinh không chỉ ở môn Chính tả mà cũng cần lưu ý nhắc nhở học sinh trong tất cả các môn học khác trong chương trình, đặc biệt là môn Tập
Trang 6làm văn Việc này phải được tiến hành kiên trì và liên tục để giúp học sinh
dần cĩ ý thức rèn kỹ năng “viết đúng” trong mọi tình huống
Phát hiện lỗi chính tả, đưa ra các biện pháp khắc phục kịp thời là rất
cần thiết, khơng thể thiếu trong quá trình dạy - học Nhưng khơng phải chỉ
đưa ra các biện pháp khắc phục là cĩ thể thực hiện một cách cĩ hiệu quả
Sửa chữa, khắc phục lỗi chính tả là cả một quá trình lâu dài, địi hỏi người
giáo viên phải kiên trì, bền bỉ Giáo viên nên hướng dẫn các em thật tỉ mỉ
về các quy tắc chính tả, quy tắc kết hợp từ, quy tắc ghi âm chữ quốc ngữ…
Trong quá trình giảng dạy, giáo viên luơn quan sát, kiểm tra, … từ đĩ phát
hiện ra những khĩ khăn, vướng mắc, hoặc những lỗi mà học sinh hay mắc
phải để kịp thời sửa chữa, uốn nắn
Giáo viên cần phải khơng ngừng học hỏi, tự tìm hiểu, nghiên cứu để
nâng cao trình độ, chuyên mơn nghiệp vụ Cĩ nắm chắc kiến thức, giáo
viên mới cĩ thể giúp học sinh học tập một cách cĩ hiệu quả
III.KẾT QUẢ ỨNG DỤNG PHỔ BIẾN :
Trong quá trình giảng dạy, với việc áp dụng các biện pháp trên tơi
nhận thấy học sinh đã cĩ tiến bộ khá rõ rệt Tuy rằng đây mới chỉ là kết
quả hết sức khiêm tốn và việc “giúp học sinh học tốt mơn chính tả” là một
quá trình lâu dài song với những kết quả bước đầu như trên, nếu tiếp tục
rèn luyện sang lớp trên các em sẽ cĩ kỹ năng viết đúng đạt yêu cầu Cụ thể
qua bảng so sánh chất lượng sau của lớp:
Ở năm học 2009-2010, tổng số học sinh lớp tơi phụ trách là 29 em; kết
quả kiểm tra đọc qua các kì kiểm tra định kì là :
Điểm
Lần KT
Điểm 9,10 Điểm 7,8 Điểm 5,6
Điểm dưới TB
Giũa kì I 3 10,34 6 20,68 16 55,17 4 - 13,79 % Cuối kì I 6 20,68 10 34.48 11 37.93 2- 6,89 % Giữa kì II 8 27.58 12 41,37 9 31,03
Cuối kì II 9 32,03 11 37,93 9 31,03
Một số học sinh yếu kém vào đầu năm học như: Bùi Minh Lý , Lâm Thị
Như Huỳnh, Trần Quốc Cường, Nguyễn Tuyết Trinh thường sai từ 8 đến 10
lỗi trở lên trong 1 bài đến cuối HKII số lỗi đã giảm xuống cịn 2- 4 lỗi/mỗi
bài
Trang 7IV KẾT LUẬN:
Trên đây là một số kinh nghiệm mà tôi đã nghiên cứu và vận dụng trong quá trình giảng dạy thực tế của lớp mình Tuy kết quả bước đầu chưa cao lắm, nhưng với nhiệt tình và nổ lực theo khả năng, tôi cũng đã tích lũy được một số bài học thực tiễn Rất mong được nhận ý kiến đóng góp của Ban giám hiệu cùng các bạn đồng nghiệp, để việc giảng dạy bộ môn Chính tả trong nhà trường ngày càng nâng cao chất lượng, giúp học sinh học tốt hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Năm Căn ngày 22 tháng 9 năm 2010
Nguyễn Thị Phương
<<= | <= | =>
Trang 8Phần thứ nhất ĐẶT VẤN ĐỀ
Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai Chúng ta luôn phải đào tạo được những lớp người kế tục xã hội có trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến Do đó con người phải có cơ sở kiến thức là toán học Toán học là chìa khóa mở đường cho con người đi vào tất cả các lĩnh vực khoa học khác Giáo dục tiểu học ở nước ta đang thực hiện đồng bộ những đổi mới toàn diện, góp phần phổ cập giáo dục có chất lượng Trong những đổi mới về giáo dục và đào tạo thì đổi mới về “Phương pháp dạy học” có vị trí đặc biệt quan trọng, vì hoạt động dạy học là hoạt động chủ yếu ở trường học, để góp phần đào tạo những con người “ lao động tự chủ và sáng tạo” có khả năng thích ứng với những đổi mới diễn ra hàng ngày
Để đảm bảo về chất lượng dạy và học hiện nay, phải cụ thể hóa việc dạy học để phát hiện những năng lực tiềm ẩn của mỗi học sinh và phát triển cho học sinh những tri thức và kỹ năng cơ bản thiết thực với đời sống cộng đồng, phương pháp suy nghĩ về học tập, lòng tự tin, sự năng động và linh hoạt, cách ứng xử đúng mức, hợp đạo lý Tăng cường sức lực và ý chí mơ ước, đem sức mình góp phần làm cho cuộc sống bản thân, gia đình, đất nước trở nên giàu có, lành mạnh và hạnh phúc Đây là những tri thức, kỹ năng vừa đáp ứng cho học tập tiến lên, học tập thường xuyên của con người trong thời đại khoa học công nghệ, vừa đáp ứng cho ứng dụng thiết thực trong cuộc sống cộng đồng
Đầu năm học 2009 - 2010, tôi được phân công giảng dạy lớp 5B, tôi nhận thấy tình hình học tập của học sinh trong lớp có một số em được sự quan tâm của gia đình và với ý thức học tập tốt do vậy đạt được kết quả cao, nhất là môn Toán Là giáo viên dạy lớp 5, đa số học sinh ở vùng sông nước, địa bàn đi lại tương đối khó khăn, đối tượng học sinh không đồng đều về tuổi tác và trình
độ nhận thức Chính vì vậy nên từ đầu năm học tôi đã chú trọng đến việc đổi mới phương pháp học môn Toán 5 sao cho phù hợp với đối tượng học sinh của mình Để học sinh tiếp thu tri thức có hệ thống, đó là việc rất quan trọng và cần thiết của người giáo viên hiện nay nhằm phát triển trí tuệ, óc thông minh, sáng tạo Sau này để các em trở thành những người có ích cho xã hội
Chính vì vậy mà tôi chọn vấn đề nghiên cứu “Một số kinh nghiệm giảng dạy môn Toán lớp 5 hiệu quả”
Phần thứ hai GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Nói đến hoạt động dạy và học thì không thể không nói đến phương pháp
dạy và phương pháp học, hai hoạt động đó diễn ra song song Nếu chỉ chú ý tới việc truyền thụ tri thức cho học sinh mà không chú ý đến việc tiếp thu và hình thành kỹ năng kỹ xảo như thế nào thì quá trình dạy học sẽ không thể mang lại
Trang 9kết quả cao “Chữ thầy lại trả cho thầy” Khi học sinh không tiếp thu được tri thức khoa học, ắt sẽ không hình thành được những kỹ năng, kỹ xảo Từ đó không thể có hành động đúng đắn, đáp ứng yêu cầu thực tế khi xảy ra những tình huống mà không biết xử lý Cho dù người giáo viên có những phương pháp giảng dạy tốt đến đâu đi chăng nữa, mà người học sinh lại không có phương pháp học tập khoa học thì cũng không giải quyết được nhiệm vụ dạy học
Môn Toán là môn học tự nhiên rất trừu tượng, lôgic và hoàn toàn gắn với
thực tiễn cuộc sống hàng ngày Vì thế, nếu học sinh không có phương pháp học đúng thì sẽ không nắm được những kiến thức cơ bản về toán học và việc học các môn học khác cũng như việc nhận thức thế giới xung quanh rất khó khăn Môn Toán là bộ môn quan trọng trong tất cả các môn học khác Nó là chìa khoá để học các môn học khác, đồng thời môn Toán còn có khả năng như phát triển tư duy lôgic, những thao tác trí tuệ cần thiết giúp con người trong hoạt động thực tiễn đạt hiệu quả như mong muốn
Trong giờ Toán, bên cạnh việc tìm và sáng tạo phương pháp giảng dạy phù hợp với yêu cầu bài học và đối tượng học sinh, chúng ta cần phải giúp các
em có phương pháp lĩnh hội tri thức toán học, làm cho các em chủ động hơn trong việc lĩnh hội tri thức toán học Học sinh có phương pháp học toán phù hợp với từng dạng bài thì kết quả học Toán cũng sẽ cao, hiểu bài sâu Điều đó kích thích tinh thần học tập ngày càng hăng say
Còn những em có kết quả học tập chưa cao là do chưa có ý thức được
việc học, gia đình chưa thực sự quan tâm đến việc học tập của con em mình Nhưng lý do chính là các em chưa có một phương pháp học phù hợp với từng dạng toán Hay cùng một đề bài có nhiều có nhiều cách giải khác nhau Các em chưa tự tìm ra cho mình một phương pháp giải ngắn gọn và nhanh nhất Tất cả những điều đó thôi thúc tôi tìm hiểu, nghiên cứu đưa ra một số biện pháp nhằm mục đích nâng cao chất lượng dạy học môn Toán
I NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TOÁN 5
- Căn cứ vào trình độ nhận thức của từng đối tượng học sinh
- Căn cứ vào sự chuẩn bị ở nhà, khả năng áp dụng kiến thức đã học vào việc giải toán
- Các kiến thức học sinh cần học:
+ Hệ thống hóa toàn bộ kiến thức toán học, các em đã học ở lớp dưới + Nắm được các kiến thức sau:
* Số học:
- Nắm được khái niệm Phân số và Số thập phân, biết đọc và viết các số
đó, biết cách rút gọn và quy đồng mẫu số các phân số, biết so sánh các phân số
và số thập phân
- Biết thực hiện các phép cộng, trừ, nhân, chia, các phân số, số thập phân
và tính được giá trị của biểu thức số Biết đổi đơn vị các số đo thời gian, biết thực hiện cộng trừ, nhân chia số đo thời gian trong những trường hợp đơn giản
* Hình học:
Trang 10- Học sinh biết vẽ các hình đã học Nắm tên gọi các hình đã học, nắm được đặc điểm của các hình đó Từ đó rút ra quay tắc và công thức tính chu vi, diện tích, … các hình đã học
* Đại số:
- Học sinh biết giải một số phương trình và bất phương trình đơn giản và
số thập phân
* Các đại lượng: Nắm tên gọi, ký hiệu và cách sử dụng các đơn vị đại
lượng Nắm được mối quan hệ giữa chúng
* Giải toán có lời văn: Biết tóm tắt bài toán bằng ngôn ngữ hoặc sơ đồ,
…, biết cách giải và trình bày theo các bài toán đơn và toán hợp với phân số, số thập phân Biết giải các bài toán đơn giản về chuyển động đều
II CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC TOÁN.
Trước hết giáo viên cần nắm đựợc trình độ của các đối tượng học sinh trong lớp Khi giảng dạy, giáo viên coi học sinh là nhân vật trung tâm trong quá trình dạy học Trong đó giáo viên là người tổ chức và hướng dẫn mọi hoạt động của học sinh Giáo viên không còn là người chỉ truyền đạt thông tin mà là người tổ chức và định hướng hoạt động của học sinh, huy động vốn hiểu biết về kinh nghiệm của bản thân các em để các em tự chiếm lĩnh tri thức mới Trong giờ dạy, giáo viên nói ít, làm mẫu ít nhưng thường xuyên làm việc với cá nhân học sinh hoặc nhóm học sinh Từ đó giáo viên nắm được khả năng học của từng học sinh, phát triển năng lực và sở trường của cá nhân Mọi học sinh đều phải hoạt động, độc lập suy nghĩ và làm việc theo hướng dẫn của giáo viên Học sinh có nhiều cơ hội để bộc lộ khả năng của cá nhân Dạy học như vậy tạo cho học sinh thói quen làm việc tự giác, chủ động, biết tự đánh giá kết quả học tập của bản thân và của các bạn Tạo cho học sinh niềm tin, niềm vui trong học tập
Từ đó các em có hứng thú trong học tập, tự tin vào khả năng của bản thân và dần hình thành phương pháp tự học, tự nghiên cứu độc lập và sáng tạo, tự phát hiện ra các tình huống có vấn đề trong học tập và trong cuộc sống Việc lập kế hoạch và chọn kế hoạch hợp lý nhất để giải quyết vấn đề
Giáo viên kết hợp với gia đình các em để tổ chức việc học ở nhà được tốt Tùy từng nội dung bài học mà giáo viên có thể sử dụng nhiều phương pháp, song phần lớn trong tiết học dành cho học sinh thực hành làm bài tập trong sách giáo khoa Đối với học sinh khá giỏi cần khuyến khích cho học sinh giải bài toán bằng nhiều cách khác nhau và chọn cách giải hay nhất để ghi vào vở
Thường xuyên đi sâu đi sát những học sinh yếu để có những biện pháp giúp đỡ kịp thời
Giáo viên sử dụng các hình thức học tập theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học toán
* Học cá nhân ( ở trên lớp).
- Học sinh hoạt động theo hướng dẫn của giáo viên
- Học sinh tự học với tài liệu, đồ dùng học toán để chiếm lĩnh tri thức mới, luyện tập thực hành theo khả năng của học sinh Trong khi học cá nhân,