1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề xuất phương án quy hoạch phát triển sản xuất lâm nghiệp nhằm thúc đẩy sự phát triển lâm nghiệp cho xã quảng sơn, huyện quảng trạch, tỉnh quảng bình giai đoạn 2013 2020

43 516 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 103,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở nghiên cứu và áp dụng những thành tựu đã đạt được trên thế giới vào thực tiễn của nước ta, trong lĩnh vực quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch phát triển sản xuất nông lâm nghiệ

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Rừng đã và đang giữ vai trò to lớn cho phòng hộ, chống xói mòn và bảo vệmôi trường sinh thái của nước ta.Trong những năm qua, mặc dầu điều kiện cònnhiều khó khăn, nguồn lực đầu tư còn hạn chế, cơ chế chính sách chưa đồng bộ,nhưng lâm nghiệp nước ta vẫn đạt được những thành tựu đáng ghi nhận Diện tíchrừng tăng nhanh qua các năm, lợi ích kinh tế từ rừng được khẳng định, giá trị sảnxuất và xuất khẩu tăng nhanh Công tác bảo vệ, phát triển rừng ngày càng được xãhội hóa, giải quyết việc làm cho hàng vạn lao động, góp phần xóa đói, giảm nghèo,tăng trưởng kinh tế

Tuy vậy công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng vẫn bộc lộ nhiều vấn đềhạn chế; rừng vẫn tiếp tục bị khai thác trái phép và diễn biến phức tạp, chất lượngrừng tự nhiên ngày càng suy giảm; công tác giao, khoán rừng, đất rừng còn nhiềubất cập; hiệu quả sản xuất lâm nghiệp vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thếcủa nước ta; việc sắp xếp tổ chức sản xuất và quản lý bảo vệ rừng còn chưa hợplý

Với tình hình thực trạng hiện nay, đòi hỏi sự chuyển biến mới cho hoạt độnglâm nghiệp của nước ta tại các vùng miền có tiềm năng lâm nghiệp song chưa cóđiều kiện phát triển nhằm đóng góp nhiều hơn nữa cho phát triển kinh tế, xã hội vàphòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái

Quảng Sơn là một trong những xã miền núi nằm ở phía Tây của huyệnQuảng Trạch, tỉnh Quảng Bình có điều kiện tự nhiên hết sức thuận lợi trong việcphát triển kinh tế đặc biệt là phát triển lâm nghiệp và kinh tế vườn Với địa hìnhđược chia thành 3 phần rõ rệt: Vùng núi, bán sơn địa và vùng đồng bằng Phần lớndiện tích là lâm nghiệp và một phần nhỏ là đồng bằng nằm ven sông Gianh

Tuy có địa hình và giao thông thuận lợi cả về đường sông, đường sắt vàđường bộ song Quảng Sơn lại có quá trình đổi mới công nghệ trong lâm nghiệpdiễn ra rất chậm, lao động chân tay và dựa vào sức kéo vẫn còn phổ biến Kinh tếcòn gặp nhiều khó khăn, sản xuất còn phụ thuộc rất nhiều vào đất đai, thời tiết, khíhậu Do vậy dù có nhiều mặt thuận lợi nhưng Quảng Sơn vẫn là một trong những

xã nghèo của huyện Quảng Trạch

Vậy vấn đề đặt ra là cần khắc phục những khó khăn đó, để phát huy lợi thếnhằm đưa nền kinh tế - xã hội của vùng phát triển một cách bền vững và góp phầnbảo vệ môi trường sinh thái Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn chúng tôi tiến

nghiên cứu đề tài: “Đề xuất phương án quy hoạch phát triển sản xuất lâm nghiệp nhằm thúc đẩy sự phát triển lâm nghiệp cho xã Quảng Sơn, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2013-2020”

Trang 2

Chương 1

SƠ LƯỢC VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Trên thế giới

Lịch sử phát triển của quy hoạch lâm nghiệp gắn liền với sự phát triển kinh

tế Tư bản chủ nghĩa Do công nghiệp phát triển, cơ sở hạ tầng được đầu tư nên việc khai thác và vận chuyển gỗ trở nên dễ dàng hơn, đòi hỏi nhu cầu về thị trường cũng được tăng cao Ngành sản xuất gỗ đã tách khỏi nền kinh tế địa phương của phong kiến và bước vào thời đại hàng hóa Tư bản chủ nghĩa Thực

tế sản xuất đã không còn bó hẹp trong sản xuất gỗ đơn thuần mà cần có ngay lýluận và biện pháp nhằm đảm bảo thu hoạch lợi dụng tài nguyên rừng một cách bền vững đem lại lợ nhuận cao và lâu dài Chính vì vậy mà hệ thống hoàn chỉnh về mặt lí luận quy hoạch lâm nghiệp và điều chế rừng đã được hình thành

Quy hoạch lâm nghiệp được xác định như một chuyên ngành bắt đầu bằng việc quy hoạch vùng từ thế kỷ XVII theo Orschowy vào thời gian này quy hoạch quản lý rừng và lâm sinh ở Châu Âu phát triển ở mức cao trên cơ sở quy hoạch sử dụng

Đầu thế kỷ XVIII, phạm vi quy hoạch lâm nghiệp mới chỉ dừng lại ở giải quyết việc “ khoanh khu chặt luân chuyển” có nghĩa là đem trữ lượng hoặc diện tích tài nguyên rừng chia đều cho từng năm của chu kì khai thác và tiến hành khoanh khu chặt luân chuyển theo trữ lượng hoặc theo diện tích Phương thức này phục vụ cho phương thức kinh doanh rừng chồi, chu kì khai thác ngắn

Vào thế kỷ XIX, sau cuộc cách mạng công nghiệp phương thức kinh doanh rừng chồi được thay bằng kinh doanh rừng hạt với chu kì khai thác dài Và phương thức kinh doanh “khoanh khu chặt luân chuyển” nhường chỗ cho phương thức “chia đều” và trên cơ sở đó khống chế lượng chặt hàng năm Đến năm 1816 xuất hiện phương pháp “phân kỳ lợi dụng” của H.cotta chia chu kỳ khai thác thành 20 thời kỳ lợi dụng và cũng lấy nó lượng chặt hàng năm

Trang 3

Phương pháp “bình quân thu hoạch” và sau đây là phương pháp “cấp tuổi” chịu ảnh hưởng của “lí luận rừng tiêu chuẩn”, có nghĩa là yêu cầu rừng phải có kết cấu tiêu chuẩn về tuổi cũng như về diện tích và trữ lượng, vị trí và đưa các cấp tuổi cao vào diện tích khai thác Hiện nay biện pháp kinh doanh rừng này được dùng phổ biến ở các nước có tài nguyên rừng phong phú Còn phương pháp “lâm phần kinh tế” và hiện nay là phương pháp “lâm phần” không căn cứ vào tuổi rừng mà dựa vào đặc điểm cụ thể của mỗi lâm phần tiến hành phân tích xác định sản lượng và biện pháp kinh doanh, phương thức điều chế rừng cũng từ phương pháp này còn phát triển thành “phương pháp kinh doanh lô” và

“phương pháp kiểm tra”

Quy hoạch lâm nghiệp và điều chế rừng hình thành môn học đầu tiên ở nướcĐức, Áo và mãi đến thế kỷ XVIII mới trở thành môn học hoàn chỉnh và độc lập.Thời kỳ đầu môn học quy hoạch lâm nghiệp lấy việc xác định sản lượng rừng làm nhiệm vụ duy nhất nên gọi là môn học “ Tính thu hoạch rừng” Sau nội dung quy hoạch lâm nghiệp chuyển sang bàn về việc lợi dụng bền vững nênmôn học được đổi thành môn “Quy ước thu hoạch rừng” Sau này nội dung môn học chuyển sang nghiên cứu về điều kiện sản xuất và tổ chức kinh doanh rừng, tổ chức rừng và chi phối về giá cả, lợi nhuận và môn học có tên là “Quy ước kinh doanh rừng”

Hiện nay tùy theo mục đích, nhiệm vụ của quy hoạch lâm nghiệp phải đảm nhiệm trong từng nước, từng địa phương và trong từng điều kiện hoàn cảnh cụ thể mà môn học có tên gọi và nội dung khác nhau Ở các nước thuộ Liên Xô cũ

có tên là “Quy hoạch rừng” Các nước có trình độ kinh doanh cao hơn và công tác quy hoạch yêu cầu tỉ mỉ hơn ( Đức, Áo, Thụy Điển,…) môn học có tên là

“Thiết kế rừng” Các nước phương Tây như Anh, Mỹ, Canada,… gọi tên môn học là “Quản lý rừng”

1.2 Trong nước

Quy hoạch lâm nghiệp đã được áp dụng ở nước ta thời kí Pháp thuộc Như việc xây dựng phương án sản xuất rừng chồi, sản xuất củi Năm 1955 – 1957, tiến hành sơ thám và mô tả ước lượng tài nguyên rừng Năm 1958 – 1959, tiến hành thống kê trữ lượng rừng miền Bắc và những năm 1960 – 1964, công tác quy hoạch lâm nghiệp mới được áp dụng ở miền Bắc

Từ năm 1965 đến nay lực lượng quy hoạch lâm nghiệp ngày càng được tăng cường và mở rộng Viện điều tra quy hoạch rừng kết hợp chặt chẽ với lực lượng điều tra quy hoạch của Sở lâm nghiệp không ngừng cải tiến phương pháp điều tra, quy hoạch lâm nghiệp của các nước cho phù hợp với điều kiện

và tài nguyên rừng nước ta Tuy nhiên so với lịch sử phát triển các nước thì quyhoạch lâm nghiệp nước ta hình thành và phát triển muộn hơn nhiều Vì vậy, những nghiên cứu cơ bản về cơ sở kinh tế, xã hội, kỹ thuật và tài nguyên rừng

Trang 4

làm cơ sở cho công tác quy hoạch lâm nghiệp chưa được giải quyết nên công tác này ở nước ta đang trong giai đoạn vừa tiến hành vừa nghiên cứu áp dụng.Song song với việc tiến hành và áp dụng công tác quy hoạch lâm nghiệp trong thực tiễn sản xuất, môn học quy hoạch lâm nghiệp cũng được đưa vào giảng dạy ở một số trường đại học Trước năm 1975 bài giảng của môn học này

ở miền Bắc chủ yếu dựa vào giáo trình quy hoạch rừng còn ở miền Năm dựa vào giáo trình Điều chế rừng của nước ngoài Nội dung của giáo trình này chủ yếu là phục vụ cho việc tổ chức kinh doanh và tổ chức rừng đồng tuổi, ít loài cây chưa phù hợp với điều kiện tài nguyên rừng nước ta, có một bộ phận rất lớn rừng tự nhiên khác tuổi, nhiều loài cây Đồng thời mới chỉ dừng lại ở tổ chức kinh doanh rừng mà chưa giải quyết sâu sắc về tổ chức rừng Để đáp ứng yêu cầu đổi mới trong thực tiễn sản xuất lâm nghiệp, môn học quy hoạch lâm nghiệp cũng cần được thay đổi một các phù hợp hơn

Trên cơ sở nghiên cứu và áp dụng những thành tựu đã đạt được trên thế giới vào thực tiễn của nước ta, trong lĩnh vực quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch phát triển sản xuất nông lâm nghiệp đã có nhiều chương trình, chiến lược, chính sách của nhà nước, các công trình, dự án của các tổ chức cá nhân, được tiến hành ở nhiều vùng miền, địa phương trên cả nước…

Năm 1993, nghiên cứu và thí điểm đầu tiên về quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp cấp xã do Dự án đổi mới chiến lược phát triển lâm nghiệp thực hiện tại các xã Pà Cò, Hang Kìa, Tử Nê thuộc tỉnh Hòa Bình Một trong những bài học kinh nghiệm rút ra được qua việc thực thi dự án là quy hoạch sử dụng đất phải được coi là một nội dung chính và cần được thực hiện trước khi giao đất trên

cơ sở tôn trọng tập quán nương rẫy cố định, lấy cấp xã làm đơn vị để lập kế hoạch và giao đất, có sự tham gia tích cực của người dân, già làng, trưởng bản

và chính quyền xã

Từ năm 1996 – 2001, chương trình hợp tác phát triển nông thôn miền núi Việt nam – Thụy Điển trên phạm vi 5 tỉnh Lào Cai, Bắc Giang, Hà Giang, Phú Thọ và Tuyên Quang đã tiến hành thử nghiệm công tác quy hoạch phát triển nông thôn lâm nghiệp cấp xã trên cơ sở kế hoạch phát triển lâm nghiệp cấp thôn bản và hộ gia đình

1.3 Đặc thù của công tác quy hoạch lâm nghiệp

Lâm nghiệp là 1 ngành quan trọng của nền kinh tế quốc dân Đối tượng sản xuất, kinh doanh của lâm nghiệp là tài nguyên rừng, bao gồm rừng và đất rừng tác dụng của lâm nghiệp đối với nền kinh tế có nhiều mặt, không chỉ cung cấp lâm, đặc sản rừng mà còn có tác dụng giữ đất, giữ nước và phòng hộ Rừng nước ta phân bố không đều, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội rất khác nhau và nhu cầu của các địa phương và các ngành kinh tế khác đối với lâm nghiệp cũng không giống nhau Vì vậy cần phải tiến hành quy hoạch lâm nghiệp nhằm bố cục hợp lý về mặt không gian tài nguyên rừng và bố trí cân đối các hạng mục

Trang 5

sản xuất kinh doanh theo các cấp quản lý lãnh thổ và quản lý sản xuất khác nhau, làm cơ sở cho việc lập kế hoạch, định hướng cho sản xuất kinh doanh lâmnghiệp đáp ứng nhu cầu lâm sản cho nền kinh tế quốc dân, cho kinh tế địa phương, cho xuất khẩu và cho đời sống nhân dân, đồng thời phát huy những tácdụng có lợi khác của rừng.

- Địa bàn quy hoạch lâm nghiệp rất đa dạng, phức tạp (bao gồm cả vùng ven biển trung du, núi cao và biên giới, hải đảo), thường có địa hình cao, dốc, chia cắt phức tạp, giao thông đi lại khó khăn và có nhiều ngành kinh

tế hoạt động

- Là địa bàn cư trú của đồng bào các dân tộc ít người, trình độ dân trí thấp, kinh tế xã hội chậm phát triển, đời sống vật chất và tinh thần còn gặp nhiều khó khăn Đối tượng của công tác quy hoạch lâm nghiệp là rừng vàđất lâm nghiệp, từ bao đời nay là “của chung” của đồng bào dân tộc, nhưng thực chất là vô chủ

- Cây lâm nghiệp có chu kỳ kinh doanh dài (ngắn 8 – 10 năm, dài 40 – 100năm) Người dân chỉ tự giác bỏ vốn tham gia trồng rừng nếu biết chắc chắn sẽ có lợi

- Mục tiêu của quy hoạch lâm nghiệp cũng rất đa dạng : Quy hoạch rừng phòng hộ ( phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven biển, phòng hộ môi

trường); Quy hoạch rừng đặc dụng (các vườn Quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên, các khu di tích văn hóa – lịch sử - danh thắng) và quy hoạch phát triển các loại rừng sản xuất

- Quy mô của công tác quy hoạch lâm nghiệp bao gồm cả tầm vĩ mô và vi mô: Quy hoạch toàn quốc, từng vùng lãnh thổ, từng tỉnh, huyện, xí

nghiệp, lâm trường, quy hoạch phát triển lâm nghiệp xã và làng lâm nghiệp

- Lực lượng tham gia làm công tác quy hoạch lâm nghiệp thường luôn phảilưu động, điều kiện sinh hoạt khó khăn, cơ sở vật chất thiếu thốn về mọi mặt Đội ngũ cán bộ xây dựng phương án quy hoạch cũng rất đa dạng, bao gồm cả lực lượng của Trung ương và địa phương, thậm chí các ngành khác cũng tham gia làm quy hoạch lâm nghiệp (nông nghiệp, công

an, quân đội,….); Trong đó, có một bộ phận được đào tạo bài bản qua cáctrường lớp, song phần lớn chỉ dụa vào kinh nghiệm hoạt động lâu năm trong ngành lâm nghiệp

** Những yêu cầu của công tác quy hoạch lâm nghiệp phục vụ chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp nông thôn.

Trang 6

Công tác quy hoạch lâm nghiệp được triển khai dựa trên những chủ trương, chính sách và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước và chính quyền các cấp trên từng địa bàn cụ thể Với mỗi phương án quy hoạch lâm nghiệp phải đạt được:

- Hoạch định rõ ranh giới đất nông – đất lâm nghiệp và đất do các ngành khác

sử dụng; Trong đó, đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp được quan tâm hàng đầu vì là hai ngành chính sử dụng đất đai

- Trên phần đất lâm nghiệp đã đươc xác định, tiến hành hoạch định 3 loại rừng (phòng hộ, đặc dụng và sản xuất) Từ đó xác định các giải pháp lâm sinh thích hợp với từng loại rừng và đất rừng (bảo vệ, làm giàu rừng, khoanhnuôi phục hồi rừng, trồng rừng mới, nuôi dưỡng rừng, nông lâm kết hợp… khai thác lợi dụng rừng)

- Tính toán nhu cầu đầu tư (chủ yếu nhu cầu lao động, vật tư thiết bị và nhu cầu vốn) Vì là phương án quy hoạch nên việc tính toán nhu cầu đầu tư chỉ mang tính khái quát, phục vụ cho việc lập kế hoạch sản xuất ở những bước tiếp theo

- Xác định một số giải pháp đảm bảo thực hiện những nội dung quy hoạch (giải pháp lâm sinh, khoa học công nghệ, cơ chế chính sách, giải pháp về vốn, lao động,…)

- Đổi mới một số phương án quy hoạch có quy mô lớn (cấp toàn quốc, vùng, tỉnh) còn đề xuất các chương trình, dự án cần ưu tiên để triển khai bước tiếp theo là lập Dự án đầu tư hoặc báo cáo nghiên cứu khả thi

1.4 Các văn bản chính sách Nhà nước liên quan đến quy hoạch lâm nghiệp.

- Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 nêu:

“Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảmbảo sử dụng đúng mục đích và hiệu quả Nhà nước giao đất cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài”

- Luật Đất đai năm 2003 quy định rõ 3 loại đất (đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp, đất chưa sử dụng) và 6 quyền sử dụng (được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất; hưởng các lợi ích do công trình của Nhà nước về bảo vệ, cải tạo đất nông nghiệp, đượcNhà nước hướng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi bổ đất nông nghiệp, được Nhà nước bảo hộ khi bị người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợppháp của mình; khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai)

Trang 7

- Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 có phân định rõ 3 loại rừng (rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất) làm cơ sở cho quy hoạch lâm nghiệp.

- Quy chế quản lý rừng năm 2006 quy định về việc tổ chức quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất, bao gồm diện tích có rừng và diện tích không có rừng đã được Nhà nước giao, cho thêu hoặc quy hoạch cho lâm nghiệp

- Năm 2005, Quyết định 61 về quy định tiêu chí phân cấp rừng phòng hộ và Quyết định số 62 quy định về tiêu chí phân loại rừng đặc dụng

Từ trước đến nay, công tác quy hoạch lâm nghiệp đã được triển khai trên toàn quốc ở nhiều cấp độ, quy mô khác nhau phục vụ cho mục tiêu phát triển ngành Song căn cứ vào yêu cầu, trong mỗi giai đoạn cụ thể, trong từng thời điểm, căn cứ vào nguồn vốn được cấp và yêu cầu mức độ kỹ thuật khác nhau

mà nội dung các phương án quy hoạch, dự án đầu tư cũng được điều chỉnh cho phù hợp

 Từ kết quả nghiên cứu sự hình thành và phát triển quy hoạch lâm nghiệp quacác thời kì có thể rút ra đươc một số kết luận sau đây:

- Các phương án quy hoạch còn có nhiều điểm chưa được thông suốt và được vận dụng rất khác nhau ở từng chương trình, dự án

- Phương pháp quy hoạch có sự tham gia của người dân phần nào cho thấy được sự thành công, cần được áp dụng rộng rãi đặc biệt là nông thôn

- Tuy đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, nhiều dự án được thực hiện quy hoạch sử dụng đất nhưng những thử nghiệm này chưa được tổng kết, đánh giá, phát triển thành phương pháp luận

- Việc quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch lâm nghiệp chưa được tách biệt rõràng do vậy hay dễ nhầm lẫn từ người dân

Từ những bàn luận ở trên cho thấy vấn đề quy hoạch sử dụng đất ở nước ta cần nghiên cứu sâu hơn và phát triển thành lý luận để được áp dụng một cách dễ dàng hơn và hiệu quả hơn

Trang 8

Chương 2MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1 Mục tiêu tổng quát

Đề xuất phương án quy hoạch phát triển sản xuất lâm nghiệp nhằm thúc đẩy sựphát triển lâm nghiệp nói riêng và phát triển kinh tế xã hội nói chung cho xã QuảngSơn, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2013 – 2022

2.2 Nội dung nghiên cứu

2.2.1 Điều tra phân tích điều kiện cơ bản của xã Quảng Sơn

2.2.1.1 Điều tra điều kiện sản xuất lâm nghiệp

a Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

b Điều tra tình hình sản xuất kinh doanh lâm nghiệp của xã từ trước đếnhiện nay

2.2.1.2 Hiện trạng sử dụng đất đai, tài nguyên rừng

2.2.1.3 Đánh giá, phân tích thuận lợi, khó khăn của điều kiện cơ bản đến pháttriển sản xuất lâm nghiệp

2.2.2 Quy hoạch phát triển sản xuất lâm nghiệp

2.2.2.1 Những căn cứ lập phương án quy hoạch

2.2.2.2 Xác định phương hướng, mục tiêu phát triển sản xuất lâm nghiệp

2.2.2.3 Quy hoạch sử dụng đất

2.2.2.4 Quy hoạch các biện pháp phát triển sản xuất lâm nghiệp

Trang 9

- Quy hoạch biện pháp trồng rừng

- Quy hoạch biện pháp chăm sóc rừng

- Quy hoạch biện pháp bảo vệ rừng

- Quy hoạch các biện pháp khai thác lâm sản

2.2.2.5 Ước tính vốn đầu tư và hiệu quả vốn đầu tư.

- Ước tính vốn đầu tư

- Hiệu quả vốn đầu tư

2.2.2.6 Đề xuất giải pháp tổ chức thực hiện

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu

Thu thập số liệu từ các văn bản, dự án, báo cáo tổng kết hàng năm của xã,các phương án phát triển kinh tế xã hội của địa phương Thu thập bản đồ số, bản đồgiấy của địa phương làm cơ sở quy hoạch đất đai Tìm hiểu thêm một số chuyên đề

có liên quan và phỏng vấn thêm người dân xung quanh các vấn đề có liên quan đếnvấn đề nghiên cứu

2.3.1.1 Phương pháp kế thừa.

Phương pháp này dùng để thu thập và kế thừa có chọn lọc các tài liệu sẵn cótrên địa bàn nghiên cứu hoặc những tài liệu có liên quan tới các vấn đề về pháttriển sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn nghiên cứu từ trước tới nay còn mang tínhthời sự

- Điều kiện cơ bản:

+ Tài liệu về điều kiện tự nhiên

+ Tài liệu về điều kiện kinh tế - xã hội

+ Tài liệu về phát triển sản xuất của xã

+ Tài liệu về hiện trạng rừng

- Thu thập hệ thống bản đồ số và bản đồ giấy

- Phương pháp phỏng vấn

Trang 10

Phỏng vấn các cán bộ và người dân xung quanh khu cực nghiên cứu bằngphương pháp PRA.

- Phương pháp điều tra chuyên đề

Tiến hành điều tra chuyên đề nhằm bổ sung các thông tin cần thiết như đất

và lập địa, tái sinh rừng, sâu bệnh hại, đặc sản và lâm sản phụ, khảo sát đường vậnchuyển

2.3.1.2 Phương pháp điều tra ngoài thực địa.

Phương pháp này dùng để kiểm tra tính kế thừa có chọn lọc các số liệu cósẵn đồng thời bổ sung các tính chất thúc đẩy, đầy đủ hoặc các tính chất chưa đượccập nhật

+ Điều tra thực địa về các loại hình rừng, đất rừng

+ Điều tra thực địa về diện tích và trữ lượng các loại rừng trên địa bàn xã vớiphương pháp lập OTC điển hình

2.3.2 Phương pháp xử lý số liệu.

Tổng hợp, phân tích số liệu từ đó làm cơ sở đánh giá tiềm năng đất đai, tàinguyên rừng và nhu cầu sản xuất lâm nghiệp để xây dựng phương án quy hoạchsản xuất lâm nghiệp cho xã Xử lý bằng 2 phương pháp sau:

2.3.2.1 Phương pháp tĩnh

Coi các yếu tố chi phí và các kết quả độc lập tương đối, không chịu tác độngcủa các nhân tố thời gian

Tổng lợi nhuận: P = TN – CP

Tỷ xuất lợi nhuận: PCP = P/CP

Trong đó: - P là tổng lợi nhuận

- TN là tổng thu nhập

- CP là tổng chi phí sản xuất kinh doanh

2.3.2.2 Phương pháp động

Trang 11

Sử dụng phương pháp phân tích chi phí lợi nhuận CBA (Cost BenefitAnalyis) để phân tích hiểu quả kinh tế các mô hình sản xuất Các số liệu được tổnghợp và phân tích bằng các hàm kinh tế trong chương trình Excel trên máy tính Cácchỉ tiêu kinh tế để đánh giá gồm: Lãi ròng (NPV), Tỷ xuất thu hồi nội bộ (IRR), tỷ

số giữa giá trị hiện tại chưa thu nhập và chi phí (BCR)

*** Tính giá trị hiện tại của thu nhập và chi phí thực hiện các hoạt động sảnxuất sau khi đã tính chiết khấu để quy về thời điểm hiện tại

- NPV là giá trị hiện tại của thu nhập ròng (đồng)

- Bt là giá trị thu nhập năm thứ t (đồng)

- Ct là giá trị chi phí ở năm thứ t (đồng)

- t là thời gian thực hiện các hoạt động sản xuất (năm)

*** Tính tỷ xuất giữa thu nhập và chi phí

BCR là hệ số sinh lãi thực tế, nó phản ánh chất lượng đầu tư và cho biết mứcthu nhập trên một đơn vị chi phí sản xuất

- BCR là tỷ xuất giữa thu nhập và chi phí

- BPV là giá trị hiện tại của thu nhập

- CPV là giá trị hiện tái của chi phí

Trang 12

Nếu hoạt động sản xuất nào có BCR càng lớn thì hiểu quả kinh tế càng cao,

cụ thể BCR >1 thì sản xuất có lãi, BCR = 1 thì hoà vốn, BCR <1 thì sản xuất lỗ

*** Tỷ xuất hồi nội bộ:

IRR là chỉ tiêu thể hiện xuất lợi nhuận thực tế của một chương trình đầu tư,tức là nếu vay vốn với lãi suất bằng chỉ tiêu này thì chương trình đầu tư hoà vốn.IRR thể hiện lãi suất thực hiện của một chương trình đầu tư, lãi suất này gồm 2 bộphận: Trang trải lãi ngân hàng, phần lãi của nhà đầu tư

- NPV là giá trị hiện tại thuần của thu nhập ròng (đồng)

- Bt là giá trị thu nhập năm thứ t (đồng)

- Ct là giá trị chi phí năm thứ t (đồng)

- T là thời gian thực hiện các hoạt động sản xuất

IRR thể hiện mức lãi suất vay vốn tối đa mà chương trình đầu tư có thểchấp nhận được mà không bị lỗ vốn IRR được tinh theo tỷ lệ %, đây là chỉ tiêuđánh giá khả năng thu hồi vốn đầu tư có kể đến yếu tố thời gian thông qua tínhchiết khấu IRR càng lớn thì hiệu quả càng cao, khả năng thu hồi vốn càng nhanh.Nếu IRR > r là có lãi, IRR < r là lỗ, IRR = r là hoà vốn

Trang 13

Chương 3

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Điều kiện cơ bản của xã Quảng Sơn

3.1.1 Điều kiện sản xuất lâm nghiệp

3.1.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Quảng Sơn

a Vị trí địa lý

Xã Quảng Sơn thuộc huyện Quảng Trạch, cách trung tâm huyện 15 km vềphía Tây Nam có tọa độ địa lý nằm trong khoảng 17o38’ đến 17o45’ vĩ Bắc,

106o15’ đến 106o23’ kinh Đông

- Phía Đông giáp xã Quảng Hòa, Quảng Minh

- Phía Tây giáp xã Cao Quảng, xã Văn hóa huyện Tuyên Hóa

- Phía Nam giáp xã Lâm Trạch, xã Xuân Trạch huyện Bố Trạch

- Phía Bắc giáp xã Quảng Thủy

b Địa hình, địa mạo

Địa hình đất đai của Quảng Sơn chiếm 90,13% là đất nông nghiệp, đất phinông nghiệp chiếm 4,57% và đất bằng chưa sử dụng 5,3% Phần lớn diện tích làlâm nghiệp và một phần nhỏ là đồng bằng nằm ven sông Gianh

Trang 14

- Nhiệt độ: Tổng tích nhiệt năm là 91300 Tháng nóng nhất là tháng 6, nhiệt

độ trung bình cao nhất trong mùa nóng là 350C, những tháng có gió Lào nhiệt độ

có khi tăng lên 400C Mùa đông tháng lạnh nhất là tháng 2, nhiệt độ trung bìnhtrong mùa lạnh là 15,30C

- Lượng mưa: Tổng lượng mưa 2178 mm/năm, mùa mưa bắt đầu từ tháng 8

đến tháng 12 Ngày mưa lớn nhất là 763,5 mm Mưa cực đại vào tháng 9, 10

- Độ ẩm: Độ ẩm trung bình 77%, độ ẩm tương đối nhỏ nhất 72%, độ ẩm

tương đối lớn nhất 81%

- Thời kì ẩm: Kéo dài từ tháng 9 đến tháng 4 năm sau trùng với mùa mưa và

hoạt động của không khí lạnh cực đới biến tính Trong thời gian này, độ ẩm khôngkhí tương đối trung bình đạt 83-88%

- Thời kì khô: Kéo dài từ tháng 5 đến tháng 8 Những tháng giữa mùa hạ độ

ẩm không khí tương đối trung bình từ 68-72%

- Chế độ gió: Gió Đông Bắc hoạt động vào mùa Đông: Thời gian hoạt động

từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau Đây là loại gió khô lạnh Mỗi đợt gió mùa về làmcho nhiệt độ giảm thấp gây nên giá lạnh có hại cho sinh trưởng và phát triển củathực vật gây nên sương muối làm chết nhiều loại cây trồng hoặc làm giảm năngsuất của cây Gió Lào hoạt động vào mùa Hè: Thời gian hoạt động vào tháng 4 đếntháng 9 mạnh nhất vào tháng 6, 7 Đây là loại gió khô nóng làm nhiệt độ không khílên rất cao và độ ẩm không khí giảm xuống thấp, nước bốc hơi mạnh dễ gây ra hạnhán vụ hè thu Tốc độ gió 20-22m/s

ii Chế độ thủy văn

Xã Quảng Sơn có sông Gianh chạy dài trong địa bàn xã Xã có nguồn nướcngầm phong phú

- Nguồn nước mặt: Tuy lượng nước sông Gianh khá lớn nhưng việc sử dụngphục vụ cho nông nghiệp và sinh hoạt còn bị hạn chế do bị khô hạn và nhiễm mặn

ở hạ lưu vào mùa khô và bị ngập lụt vào mùa mưa,

- Nguồn nước ngầm: Nguồn nước ngầm của Quảng Sơn khá phong phú tuyphân bố không đều và mức độ nông hay sâu thay đổi phụ thuộc vào địa hình vàlượng mưa trong mùa Về chất lượng nước ở Quảng Sơn nhìn chung khá tốt, rấtthích hợp với sinh trưởng và phát triển của cây trồng cũng như sinh hoạt Riêng đốivới khu vực sông Gianh thường bị nhiễm mặn do thủy triều lên gây khó khăn chosản xuất và đời sống nhân dân

3.1.1.2 Điều kiện dân sinh, kinh tế - xã hội

a Lao động, việc làm

Trang 15

Năm 2010 toàn xã có 1615 hộ 7620 khẩu Dưới sự chỉ đạo của cấp ủy Đảng,chính quyền xã công tác kế hoạch hóa gia đình được quan tâm và có hiệu quả Tỷ

lệ phát triển dân số tự nhiên là 7%, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên chiếm 25,5%

Theo thống kê, tính đến năm 2010 toàn xã có 3557 lao động Nền kinh tếQuảng Sơn chủ yếu dựa vào nông nghiệp bên cạnh đó ngành nghề dịch vụ và tiểu thủcông nghiệp cũng được chú trọng Xã đã từng bước khôi phục nghề truyền thống nên

về cơ bản đã giải quyết được việc làm cho lực lượng lao động của xã

- Mức sống và thu nhập:Kinh tế của xã có những bước phát triền khá Nông

nghiệp đã từng bước phát triển trên lĩnh vực nông, lâm, chăn nuôi, lập vườn trangtrại, ngành nghề đã thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn, đời sống vật chất, tinhthần của nhân dân được cải thiện Năng suất lúa từ 43 đến 46 tạ/ha Thu nhập bìnhquân đầu người là 491000đ/người/tháng

- Thu nhập bình quân đầu người: 491.000đ/ người / tháng

-Tổng lương thực 2.327,85 tấn đạt 90,1% kế hoạch, bình quân 327kg/người/năm

- Về thu, chi ngân sách: Tổng thu ngân sách: 4.136.545.808đ năm Tổngchi ngân sách: 2.734.721.289 đ năm

- Tổng kinh phí xây dựng cơ sở hạ tầng trên địa bàn xã là 1.684.729.000 đồng

- Bốn trường giữ vừng đơn vị văn hóa cấp huyện, trường tiểu học số 1 và số

2 giữ vững trường chuẩn Quốc gia

- Hộ nghèo toàn xã tăng 0,4% so với cùng kỳ năm 2009

- Gia đình văn hóa có 828 hộ chiếm tỷ lệ 52% đạt 74% kế hoạch năm tăng

21 hộ so với năm 2009

- Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên là 7% giảm 2% so với cùng kỳ năm 2009

Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên chiếm 25,5% số cháu sinh ra giảm 2,5% so với cùng kỳnăm 2009

Trang 16

- Về quốc phòng: Công tác huấn luyện quân sự đạt 100% yêu cầu, trong đó

có 75% khá giỏi Khám tuyển nghĩa vụ quân sự đạt 113%, thanh niên lên đườngnhập ngũ đạt 100% kế hoạch huyện giao

- Về ANTT- ATXH trên địa bàn xảy ra 22 vụ vi phạm pháp luật, giảm 6 vụ

so với năm 2009 Ban công an đã xử lý 15 vụ, chuyển huyện 6 vụ còn 1 vụ đangtiến hành giải quyết

c Y tế, Giáo dục - đào tạo, văn hóa thông tin

* Về Y tế

Tiếp tục thực hiện tốt chương trình y tế quốc gia về: Phòng chống các bệnh

xã hội, chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ và trẻ em, chương trình tiêm chủng mở rộng,công tác dân số kế hoạch hóa gia đình Năm 2010 trạm đã khám chữa bệnh cho

4452 lượt người, cấp phát thuốc và khám chữa bệnh miễn phí cho 1040 ngườinghèo và trẻ em dưới 6 tuổi

Về công tác trẻ em cũng được quan tâm đúng mức, đã tổ chức cấp mới 111thẻ BHYT cho các cháu dưới 6 tuổi Tổ chức thăm tặng quà cho 10 cháu có hoàncảnh đặc biệt khó khăn trong dịp tết nguyên đán và thăm hỏi động viên 32 cháu bịtàn tật nhân ngày Quốc tế thiếu nhi, với tổng trị giá 820000 đồng Tổ chức vui tếttrung thu cho 2403 cháu

* Về Giáo dục

Ngay từ đầu năm học Ban giám hiệu các trường đã chủ động xây dựng kếhoạch sát đúng với thực tế của mỗi trường, tích cực bằng nhiều biện pháp nâng caodạy và học nên trong năm học 2009-2010 có 13 giáo viên đạt chiến sĩ thi đua cấphuyện, 6 em đoạt giải cấp tỉnh, 20 em đạt giải cấp huyện Các trường chú trọngnâng cao chất lượng đại trà và mũi nhọn

Kết quả cụ thể của các trường như sau:

Trường THCS tỷ lệ học sinh tốt nghiệp đạt 99.3% tỷ lệ lên lớp đạt 93,1%.Học sinh giỏi đạt 6,6%, khá 28,5 %, trung bình 58%, yếu 6,9%

Trường tiểu học số 1 tỷ lệ học sinh lên lớp đạt 94,3%, học sinh giỏi đạt24,1%, khá 44,8%, trung bình 25,4%

Trường tiểu học số 2 tỷ lệ học sinh lên lớp đạt 99,1%, học sinh giỏiđạt19,1%, khá 35,7%, trung bình 44,4%, yếu 0,75%

Trường mầm non có tổng số học sinh 304 cháu, trong đó có 265 cháu bántrú, các cháu được chăm sóc chu đáo, chất lượng dạy và học ngày một tốt hơn

* Về văn hóa-thông tin-TDTT:

Trang 17

Các hoạt động VHTT đã tập trung tuyên truyền các chủ trương của Đảng,pháp luật Nhà nước, nhiệm vụ chính trị, kinh tế xã hội, phong trào toàn dân đoànkết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư.

Đã giao chỉ tiêu cho 8 thôn thực hiện kế hoạch về xây dựng đơn vị văn hóa,làng văn hóa, gia đình văn hóa, cụm dân cư tiên tiến Năm 2010 có 828 hộ gia đìnhvăn hóa, chiếm tỷ lệ 52%, có 4 cụm dân cư tiên tiến

d Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng

* Về giao thông thủy lợi: Làm tốt công tác tuyên truyền nên nhìn chung đãhạn chế và làm giảm đáng kể việc lấn chiếm lòng lề đường gây cản trở giao thông.Giao thông nội đồng và hệ thống kênh mương được cải tạo và nâng cấp đáp ứngđược tưới tiêu phục vụ sản xuất

- Hệ thống các công trình giao thông, thủy lợi nội đồng phục vụ cho sản xuấtnông lâm nghiệp được cải tạo và nâng cấp do đó đáp ứng được tưới tiêu phục vụsản xuất

e Tình hình sản xuất lâm, nông nghiệp và các nghành kinh tế khác

* Tình hình sản xuất nông nghiệp

i Về trồng trọt

Ngay từ đầu vụ UBND xã đã chủ động tổ chức hội nghị cốt cán chỉ đạoxuống giống đúng lịch thời vụ, cơ cấu giống phù hợp, công tác chỉ đạo dự tính dựbáo và hướng dẫn các biện pháp phòng trừ sâu bệnh kịp thời, tưới tiêu hợp lý

- Vụ Đông Xuân: gieo trồng được 238,7 ha đạt 99,8% diện tích Trong đó lúagieo cấy 206 ha năng suất 43 tạ/ha; Ngô 15 ha năng suất 61 tạ/ha; Khoai lang 4 hanăng suất 90 tạ/ha; Lạc 9 ha, năng suất 18 tạ/ha; Hoa màu các loại 4,7 ha

- Sản xuất vụ Hè thu: thực hiện gieo cấy được 206 ha, năng suất bình quân

46 tạ/ha

ii Về chăn nuôi

Tổng đàn trâu bò có 1486 con đạt 94,6 % kế hoạch; Đàn lợn có 3000 con53% kế hoạch giảm 2350 con so với năm 2009; Đàn gia cầm có 4500 con đạt 43%

kế hoạch giảm 5250 con so với năm 2009; Đàn dê có 300 con đạt 94% kế hoạchtăng 27con so với năm 2009

- Về nuôi trồng thủy sản: UBND xã xây dựng kế hoạch giao cho Hội nôngdân hướng dẫn kỷ thuật cho các hộ nuôi trồng vệ sinh, xử lý ao hồ, tư vấn giống cáđảm bảo chất lượng, nuôi thả cá giống đúng lịch thời vụ với 51000 con cá giốngtrên diện tích 5,8 ha phát triển tốt

Trang 18

Công tác chỉ đạo vệ sinh môi trường, tiêm phòng và phòng chống dịch bệnhcho đàn gia súc gia cầm đảm bảo nên trong năm không xảy ra dịch bệnh lớn lây lantrên diện rộng.

* Tình hình sản xuất lâm nghiệp

Công tác tuyên truyền bảo vệ phòng chống cháy rừng luôn được quan tâmđúng mức, chủ động phối kết hợp chặt chẽ với 2 trạm kiểm lâm, lâm trường trongcông tác bảo vệ và phòng chống cháy rừng, phát hiện và xử lý nghiêm các trườnghợp tự ý phát đốt rừng Trong năm đã xảy ra 7 vụ cháy rừng nhưng đã kịp thời dậptắt không gây thiệt hại lớn về kinh tế

* Tình hình sản xuất tiểu thủ công nghiệp:

Đảng ủy và nhân dân trong xã thực hiện tốt chủ trương chính sách của ĐảngNhà nước về phát triển các ngành nghề truyền thống, dịch vụ buôn bán kinh doanhđược nhân rộng và phát triển, nghề đan tre truyền thống ở thôn Diên Trường đượcgiữ vững do đó đã giải quyết việc làm ổn định cho nhiều lao động với mức thunhập bình quân từ 900.000 đồng đến 1500000 đồng/người/tháng

3.1.2 Hiện trạng đất đai, tài nguyên rừng xã Quảng Sơn

Trang 19

2.2.4.3 Đất công trình năng lượng DNL 0,03 0,00

2.4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa NTD 6,48 0,12

2.5 Đất sông suối và mặt nước chuyên

3.2 Đất đồi núi chưa sử dụng DCS 141,21 2,61

Qua bảng số liệu ta thấy hiện trạng sử dụng đất của xã tương đối phù hợp, có sựphân nhóm sử dụng đất:

- Đất sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, chiếm phần lớn diện tích so với 2nhóm đất còn lại

+ Đất sản xuất nông nghiệp 4951,28ha chiếm 91,39% diện tích, trong đó đấtsản xuất phát triển lâm nghiệp là 4698,12ha chiếm 86,72% diện tích

+ Đất phi nông nghiệp 260,22ha chiếm 4,8% diện tích

Trang 20

+ Đất chưa sử dụng còn ít với 206,17ha chiếm 3,81%

- Là một xã có diện tích đất nông nghiệp còn lớn nên tạo điều kiện để pháttriển kinh tế đồng thời phát triển các loại hình sản xuất lâm nghiệp đa dạng.Tuy nhiên hệ thống phân bố sử dụng chưa được hợp lý, cần tăng diện tíchtrồng các loại cây lâu năm, mở rộng quy mô sản xuất cây nông nghiệp (lúanước ).Đồng thời tăng cường trồng thêm diện tích rừng phòng hộ, rừng sản xuất

và phát triển nguồn thức ăn cho gia súc

3.1.2.2 Thống kê diện tích và trữ lượng các loại rừng

Bảng 3.2: Diện tích, trữ lượng rừng phân theo 3 loại rừng

b, Thị trường lâm sản

Lâm sản chủ yếu của địa phương là gỗ keo các loại và bạch đàn một số ít lànhựa thông, sản phẩm khai thác được chủ yếu dùng để bán cho công ty cổ phầngiấy Quảng Bình làm nguyên liệu giấy, làm đồ mộc dân dụng, các mặt hàng trang

Trang 21

trí nội thất và gỗ xẽ xây dựng cơ bản Các sản phẩm ngoài gỗ người dân chủ yếudùng trong gia đình không xuất hiện trên thị trường.

3.1.3 Đánh giá chung

Qua quá trình nghiên cứu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tình hình sản xuấtkinh doanh và hiện trạng tài nguyên rừng của xã có thể đưa ra một số đánh giá vềnhững điều kiện thuận lợi và khó khăn của việc phát triển sản xuất lâm nghiệp của

xã như sau:

3.1.3.1 Thuận lợi

a Điều kiện tự nhiên

- Vị trí địa lý của xã giáp ranh với nhiều xã trong huyện thuận lợi cho giao lưuvăn hóa, kinh tế - xã hội và lưu thông hàng hóa

- Địa hình của xã trải dài theo theo dãy núi phía tây và nằm ở phía tả ngạn songGianh nên điều kiện tự nhiên hết sức thuận lợi cho phát triển kinh tế đặc biệt

là phát triển lâm nghiệp và kinh tế vườn

- Tổng diện tích đất tự nhiên khá lớn, trong đó đất lâm nghiệp chiếm chủ yếu.Với sự đa dạng về thành phần đất đai nên có thể áp dụng nhiều loại cây trồngkhác nhau, tạo nên đa dạng về phương thức sản xuất và cũng như sự phóngphú về sản phẩm đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn

- Thuận lợi cho phát triển sản xuất lâm nghiệp với tính chất đặc trưng gió mùa

ẩm, và lượng nhiệt độ phân bố hằng năm tương đối đồng đều Lượng mưaphân bố cao với 2178 mm/năm.độ ẩm tương đối lớn chiếm 81% Có hệ thốngthủy văn dồi dào gồm có nguồn nước ngầm và hệ thống sông Gianh

b Điều kiện kinh tế - xã hội

- Là một xã có nguồn lao động dồi dào cùng với diện tích đất lâm nghiệp khálớn đã thu hút nhiều nhà đầu tư, nguồn vốn phát triển kinh tế rừng

3.1.3.2 Khó khăn

Ngoài những thuận lợi trên thì xã gặp không ít những khó khăn:

a Điều kiện tự nhiên

- Địa hình bị chia cắt mạnh làm ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tếcũng như trong sản xuất lâm nghiệp

- Là xã bị gánh chịu những hậu quả thiên tai: như lũ lụt vào mùa mưa và hạnhán vào mùa khô vì nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa với đặctrưng của khí hậu miền bắc và miền trung Mùa đông rất lạnh ảnh hưởng bởigió mùa Đông Bắc, mùa hè rất nóng ảnh hưởng bởi gió Lào nên khí hậu

Ngày đăng: 31/03/2015, 11:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Ngô Quang Đê – Nguyễn Hữu Vinh (1977), Giáo trình trồng rừng, NXB Nông nghiệp Hà Nộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình trồng rừng
Tác giả: Ngô Quang Đê, Nguyễn Hữu Vinh
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1977
6. GS Vũ Tiến Hinh, TS Phạm Ngọc Giao (1997), Giáo trình Điều tra rừng, NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Điều tra rừng
Tác giả: GS Vũ Tiến Hinh, TS Phạm Ngọc Giao
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1997
7. Lê Sỹ Việt – Trần Hữu Viên (1999), Giáo trình Quy hoạch lâm nghiệp, NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quy hoạch lâm nghiệp
Tác giả: Lê Sỹ Việt, Trần Hữu Viên
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1999
8. TS Nguyễn Trọng Bình (2003 – 2004), Biểu thể tích cây đứng có vỏ cho loài Keo lai Khác
9. Một số chuyên đề, khóa luận tốt nghiệp của các khóa trước Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất xã Quảng Sơn - Đề xuất phương án quy hoạch phát triển sản xuất lâm nghiệp nhằm thúc đẩy sự phát triển lâm nghiệp cho xã quảng sơn, huyện quảng trạch, tỉnh quảng bình giai đoạn 2013 2020
Bảng 3.1 Hiện trạng sử dụng đất xã Quảng Sơn (Trang 18)
Bảng 3.2: Diện tích, trữ lượng rừng phân theo 3 loại rừng - Đề xuất phương án quy hoạch phát triển sản xuất lâm nghiệp nhằm thúc đẩy sự phát triển lâm nghiệp cho xã quảng sơn, huyện quảng trạch, tỉnh quảng bình giai đoạn 2013 2020
Bảng 3.2 Diện tích, trữ lượng rừng phân theo 3 loại rừng (Trang 20)
Bảng 3.10: Tổng hợp vốn đầu tư cho các hoạt động sản xuất kinh - Đề xuất phương án quy hoạch phát triển sản xuất lâm nghiệp nhằm thúc đẩy sự phát triển lâm nghiệp cho xã quảng sơn, huyện quảng trạch, tỉnh quảng bình giai đoạn 2013 2020
Bảng 3.10 Tổng hợp vốn đầu tư cho các hoạt động sản xuất kinh (Trang 36)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w