thậm chí cả đặc điểm về thời gian,về khoảng cách....vậy làm thế nào để ngời học làm tốt đợc điều này, có lẽ đây cũng chính là điều tôi trăn trở, rút kinh nghiệm qua nhiều năm giảng dạy m
Trang 1đề tài sáng kiến kinh nghiệm
“Dạy cỏc tớnh từ so sỏnh lớp 6 - Dạng tớnh từ ngắn cú quy tắc.”
Bố cục của đề tài
A.Đặt vấn đề.
B Nội dung nghiên cứu.
I Mục tiêu chung
II Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giờ dạy
1.Khái niệm về tính từ ngắn
2.Cấu tạo của tính từ so sánh- Dạng ngắn, có quy tắc
3.Sử dụng các tính từ so sánh- Dạng ngắn, có quy tắc trong câu
4 Một số bài tập ngữ pháp áp dụng cho các tính từ so sánh- Dạng ngắn, có quy tắc
III Kết quả
IV Những hạn chế của đề tài
V Bài học kinh nghiệm và những điều kiện để áp dụng đề tài
C Kết luận và kiến nghị.
Trang 2A đặt vấn đề
Ngày nay, việc dạy và học học tiếng Anh theo phơng pháp mới, phơng pháp tích cực đợc thực hiện triệt để trong mọi môi trờng giáo dục Có thể nói tiếng Anh là môn học đi đầu trong việc đổi mới phơng pháp.Với mục đích là giúp cho ngời học có đợc
kĩ năng giao tiếp tốt nhất và cũng để cho kết quả của các kì thi đợc cao hơn Nhng muốn làm đợc điều đó thì ngời học phải có đợc kiến thức ngôn ngữ phong phú, vững vàng, chỉ có vậy họ mơi tự tin sử dụng ngôn ngữ mình đang có Ví nh họ muốn miêu tả đặc điểm của nhiều ngời với nhau, miêu tả nhiều vật có những đặc điểm khác nhau:
Về hình thức, khối lợng, trọng lợng và màu sắc thậm chí cả đặc điểm về thời gian,về khoảng cách vậy làm thế nào để ngời học làm tốt đợc điều này, có lẽ đây cũng chính là điều tôi trăn trở, rút kinh nghiệm qua nhiều năm giảng dạy môn tiếng
Anh và cũng là lí do để tôi chọn sáng kiến về việc " Dạy các tính từ so sánh - Dạng
tính từ ngắn, có quy tắc".
Ngày nay, chúng ta đang thực hiện phơng pháp dạy học theo hớng tích cực, đòi hỏi mỗi giáo viên phải có kế có kế hoạch chuẩn bị chu đáo cho các hoạt động học Chỉ
có thế h/s mới có điều kiện và cơ hội luyện tập nhiều trong suốt quá trình bài học và
có thể nắm kiến thức một cách đầy đủ , rõ ràng và chỉ có vậy các em mới tự tin trong giao tiếp
Để đáp ứng điều này, hầu hết chúng ta, những ngời đứng lớp đều có ý thức tốt trong việc vận dụng chơng trình này, nhng đã có kết quả cao cha thì đó vẫn là một câu hỏi lớn cần đợc mỗi ngời đứng lớp chúng ta trăn trở tìm lời giải đáp thích đáng Rằng mỗi chúng ta phải chuẩn bị những gì cho giờ dạy, cho từng bớc lên lớp, đồng nghĩa với việc h/s cần làm gì trong mỗi bớc dạy đó để đạt hiệu quả cao nhất đáp ứng mục tiêu bài dạy Có lẽ, đây cũng là cơ sở để tôi quyết định đi tơi nghiên cứu và viết sáng kiến này Tôi cũng không tham vọng nhiều mà chỉ mong giải quyết phần lớn những bức xúc trên, những điều không chỉ mình tôi trăn trở
Với lí do trên, tôi chỉ giới hạn đối tợng nghiên cứu là h/s lớp 6 không chuyên,
đang học tập theo phơng pháp đổi mới theo hớng tích cực, cụ thể đối với phân môn tiếng anh 6 Tuy nhiên vơi sáng kiến này ta vẫn có thể vận dụng đợc cho việc dạy các tính từ so sánh ở lớp 7,8 nhng do giới hạn của sáng kiến là chỉ áp dụng với các tính từ
so sánh - Dạng ngắn, có quy tắc , nên tôi xin phép không đi sâu thêm ở đây
Trang 3Và một điều tôi muốn nhấn mạnh ở đây là sáng kiến chỉ đề cập chủ yếu đến các
giải pháp hợp lí, tối u, đảm bảo tính khoa học để áp dụng cho các tiết học về các tính
từ kể trên chứ không phải là tiến trình của một bài học có các tính từ đó.
Đề cập đến phơng pháp nghiên cứu tôi đã thực hiện một số hình thức chủ yếu
nh sau:
1 Điều tra:
Tôi đã điều tra chơng trình tiếng Anh 6, tình hình giáo viên dạy và học sinh học tiếng Anh 6 Bên cạnh đó, tôi còn điều tra mức độ tiếp thu của học sinh khi học những bài học về các tính từ so sánh - Dạng ngắn có quy tắc Tôi đã phỏng vấn và kiểm tra lại một số học sinh về vấn đề này, thì có tới 60% các em cha phân biệt đợc rõ các loại tính từ so sánh có quy tắc, cha sử dụng chúng trong giao tiếp cũng nh trong các bài tập ngữ pháp tơng ứng Kể cả các em học tốt cũng không mấy tự tin khi sử dụng những tính từ này
2 Thu thập tài liệu:
Việc thu thập tài liệu cũng là một vấn đề rất quan trọng nó liên quan đến nhiều bớc trong quá trình dạy học, đó chính là các t liệu liên quan đến các tính từ ngắn có quy tắc nh các tranh ảnh minh hoạ, vật thật và các r liệu ngữ pháp khác, thậm chí phải tập
vẽ để sử dụng cho một số thao tác nhanh trên lớp, chon lập danh sách những học sinh
có những hình dạng, kích thớc phù hợp với bài dạy
3 Quan sát: Qua dự giờ thăm lớp tôi thấy rằng, nhiều đồng nghiệp cha giúp h/s hiểu rõ các tính từ so sánh, đăc biệt sử dụng chúng trong các tình huống giao tiếp cũng
nh trong các dạng bài tập áp dụng
Từ xuất phát và những căn cứ trên, tôi quyết định chon sáng kiến "Dạy các tính từ so
sánh dạng ngắn, có quy tắc".
B Nội dung.
I Mục tiêu chung.
Đề cập đến sáng kiến này, tôi chỉ có mục đích duy nhất là nâng cao chất lợng
bài học về các tính từ so sánh dạng ngắn, có quy tắc Tuy nhiên, để đạt mục tiêu
trên, qua bài học h/s phải hiểu rõ thế nào là tính từ ngắn có quy tắc, cấu tạo, cách dùng và một số baì tập ngữ pháp áp dụng tơng ứng
Nói đến tính từ so sánh là nói đến một loại hình có sự kết hợp từ vựng và ngữ pháp, bởi nó cũng là một mảng ngữ pháp lớn trong các tài liệu ngữ pháp.,và đ ợc nhắc
đến không chỉ ở sách giáo khoa lớp 6 mà còn có cả trong chơng trình sách lớp 7,8;
Trang 4nhng nó có tính nâng cao và mở rộng hơn, lợng bài tập áp dụng đa dạng và phong phú hơn.Chính vì vậy trong các hoạt động học tập học sinh cần phải giúp các em phân biệt
rõ các loại tính từ so sánh- Dạng ngắn, có quy tắc; đồng thời h/s cũng phải nắm đợc mẫu câu căn bản của loại hình này và vận dụng chúng một cách hợp lí vào các tình huống giao tiếp cũng nh một số dạng bài tập ngữ pháp tiêu biểu
Ii Một số giải pháp nhằm nâng cao giờ dạy
1/ Khái niệm về tính từ ngắn.
- Mục tiêu của phần này là giúp h/s phân biệt đợc thế nào là tính từ ngắn và có mấy loại tính từ ngắn
- Bằng phơng pháp tích hợp ta giúp h/s ôn lại các tính từ đã học, trong đó có cả tính từ ngắn và dài, quy tắc và bất quy tắc, ở đây tôi dùng kĩ thuật NETWORK cho h/s thảo luận nhóm để tìm ra tất cả những tính từ mà các em tích luỹ đợc từ những bài học trớc, trong khoảng thời gian nhất định Sau đó chỉ cho các em thấy sự xuất hiện các
âm tiết trong các tính từ tiêu biểu mà tôi chọn ra, đó chính là những tính từ vừa đảm bảo điều kiện ngắn, vừa đảm bảo tính quy tắc
Tôi chỉ cho h/s thấy tính từ ngắn là những tính từ thờng có một âm tiết, ví dụ nh: hot, cold,cheap, tall Đồng thời tôi cũng chỉ ra cho các em thấy đợc một số tính
từ có 2 âm tiết nhng vẫn đợc coi là ngắn, đó là những tính từ kết thúc bằng đuôi
"Y"nhng trớc dó là phụ âm.Ví dụ nh: easy, busy, happy, prety (ở đây tôi không đa
ra các trờng hợp khác vì giới hạn, của chơng trình SGK lớp 6) Thực chất đây là phần
mở rộng kiến thức , giúp h/s hiểu thêm để áp dụng cho những bài tập mở rộng sau này
- Eg
Adjectives
tall
good
cold
big
late
hot
Trang 5- Sau khi h/s thảo luận, đa ra kết quả, tôi nhận xét, bổ sung và đa ra NETWORK
nh trên và yêu cầu h/s chỉ ra những tính từ dài và tính từ ngắn.( ở đây h/s có thể nhầm gia các tính từ ngắn một âm tiết với tính từ ngắn hai âm tiết nh : happy, easy ) nhng tôi sẽ sửa và nhấn mạnh thêm cho h/s điểm này và bổ sung thêm cho các em với những
từ khác cùng loại nh: prety,busy, noisy, empty, hungy Đồng thời nhóm luôn các tính
từ ngắn( ngoại trừ tính từ "good" là một trong số ít tính từ bất quy tắc chúng ta đã học
mà hình thức so sánh của nó sẽ đợc tìm hiểu trong các chơng trình lớp 7,8 )
Các tính từ ngắn dạng có quy tắc( có bổ sung ), cụ thể là: small,tall, cold, big, thin, big, hot, late, wide, large Và tôi cũng đã sử dụng chính các tính từ này để đặt vấn đề, dẫn dắt cho các hoạt động tiếp theo
2/Cấu tạo các tính từ so sánh - Dạng ngắn, có quy
- Mục tiêu cần đạt của phần này là học sinh phải phân biệt đợc cấu tạo của các tính từ so sánh- Dạng ngắn, có quy tắc, tơng ứng với bốn quy tắc của nó, đồng thời luyện tập nó nh những từ vựng thông thờng
- Học sinh cũng nắm đợc hai loại so sánh của tính từ nói chung và tính từ dạng ngắn có quy tắc nói riêng Đó là : Các tính từ so sánh hơn và các tính từ so sánh hơn nhất
- Kĩ thuật đợc sử dụng chủ ở đây là trực quan sinh động, phơng tiện đợc dùng là những bức tranh vẽ cây cối hoặc các động vật có đặc điểm kích thớc, trong lợng khác nhau, một số loại quả có hình thức to nhỏ khác nhau, thậm chí tôi còn phải vẽ thêm một số hình phác hoạ đơn giản mà không kiếm đợc phơng tiện trực quan bên ngoài, thêm vào đó tôi còn phải sắp xếp, chọn một số em h/s có hình dạng béo gầy, cao thấp khác nhau, cho các em ngồi gần một chỗ để tiện cho việc luyện tập, mục đích là để các em quan sát đặc điểm một cách rõ nét, Ngoài ra tôi đã dùng các thẻ từ cho các tính
từ trừu tợng( Ví dụ nh tính từ: large, long, cold, hot ) Mục đích của việc sử dụng phong phú loại hình trực quan nh vậy là vì tôi muốn tạo màu sắc, không khí và sự hấp dẫn cho bài học
Tất cả những chuẩn bị này, tôi còn sử dụng cho các bớc hoạt động tiếp theo, đặc biệt là bớc 3
- ở bớc này , sau khi giới thiệu tất cả các tính từ cả ở dạng nguyên và hai dạng
so sánh một cách có chủ định theo đặc điểm của tranh, tôi đã cho học sinh nhóm tất cả các tính từ va giới thiệu thành các dạng so sánh riêng biệt Để làm tốt điều này, tôi đã
Trang 6cho các em thảo luận và hoàn thiện đợc một bảng theo 4 loại tính từ so sánh- Dạng ngắn, có quy tắc; tơng ứng với 3 dạng tính từ: Dạng nguyên, dạng so sánh hơn và dạng
so sánh hơn nhất
Theo giới hạn của sáng kiến, tôi cũng muốn đợc nhấn mạnh thêm là tất cả những bớc thông thờng tôi xin phép không nêu ra ở đây, mà tôi chỉ đề cập đến các kĩ thuật trực quan để giới thiệu cũng nh luyện tập cũng nh vận các tính từ kể trên mà thôi
-Eg
Tall : Với tính từ nay tôi đã chuẩn bị một bức tranh có ba cây thông có kích thớc khác nhau và đặt tên A,B,C cho chúng, trong đó tôi dự kiến (A-tall, B-taller, C-tallest) Tôi chỉ vào cây A và nói " A is tall" đơng nhiên h/s biết ngay phần tiếng việt của nó là " cao" , thực chất không chỉ tính từ này mà tất cả các tính từ có trong bài cũng nh các tính từ tôi bổ sung thêm , các em đều đã hiểu về phần tiếng việt ở dạng nguyên của nó Vấn đề làm các em lạ chính là sự xuất hiện các đuôi so sánh cấu thành các dạng so sánh mà thôi Vì vậy tôi chỉ cần đa ra giáo cụ trực quan phù hợp là các
em có thể dễ dàng đoán đợc phần tiếng việt của hai dạng từ so sánh tiếp theo Chính vì vậy tôi chỉ vào cây B trong bức tranh và noi "B is taller" h/s sẽ nói "taller" là " cao hơn" và tơng tự với tính từ "tallest" ( cao nhất )
Tiếp theo tôi chỉ vào một em có chiều cao bình thờng trong lớp và nói "Nam is tall", chỉ em tiếp theo có chiều cao khá hơn so với em trớc và nói lửng " Lâm is "
và các em sẽ nói " taller" và tơng tự với từ "tallest" với em h/s cao nhất Nh vậy các em vừa nhận biết đợc các dạng tính từ, đồng thời luyện tập dợc các tính từ ấy Thông qua việc nghe các mẫu câu gợi mở, dẫn dăt của tôi các em phần nào hiểu đợc cách dùng của chúng
Small : Với tính từ này, tôi đa ra ba quả cam có độ lớn nhỏ khác nhau và đa quả cam có kích thớc lớn nhất lên trớc lớp và nói" This orange is small" và đa ra quả cam có kích thớc trung bình và nói" This is smaller" khi đó h/s sẽ thấy ngay phần tiếng việt của "smaller"(nhỏ hơn) tơng tự với từ "smallest" đợc nói với quả cam nhỏ nhất Tôi cũng đã sử dụng một số h/s để các em luyện tập từ này, cách làm tơng tự với các dạng của từ "tall" nói trên, nhng ở đây tôi không nói hết câu mà để các em tự nói
ra các tính từ phù hợp: Eg Nam is , Lam is , Cờng is the
Trang 7Hot : Với từ này, tôi đã dùng ba thẻ từ có tên ba thành phố, đại diện cho ba miền khí hậu: Hà nội, Huế, Thành Phố Hồ Chí Minh sau đó ra đa ra thẻ mang tên "Hà nội" để nói " Hà Nội is hot" , tiếp tục đa ra thẻ về "Huế" và nói là " Huế is hotter",
t-ơng tự tôi đã làm với từ " hottest" với thẻ còn lại Tất nhiên qua hiểu biết, các em cũng
dễ dàng nhận ra nghĩa của hai từ so sánh này
Large : Với từ này, tôi đã vẽ ba thửa ruộng hình vuông có diện tích khác nhau lên bảng, ghi rõ số liệu về diện tích( Tợng chng: 1000 m2(A), 2000 m2(B), 3000 m2(C)) vào đó và chỉ vào hình vuông có số liệu nhỏ nhất nói"It is large" và hình có diện tích nhỏ hơn tôi nói" It is larger" tiếp với từ "largest"
wide : Với từ này, tôi sử dụng ba vật thật trong lớp học : Bàn học sinh , Bàn giáo viên, bảng ( Tôi đã quan sát thấy ba vật này có diện tích bề mặt khác nhau, trong đó Bàn học sinh hẹp nhất và Bảng rộng nhất) Tôi chỉ vào Bàn học sinh nói "This table is wide" và chỉ vào Bàn giáo viên nói"This is wider" , còn chỉ vào Bảng nói
"This is the widest" Tất nhiên khi chỉ vào các đồ vật này, tôi đã thẻ hiện để các em hiểu là tôi đang muốn chúng miêu tả bề mặt của các đồ vật đó Và bằng cách đó học sinh dễ dàng nhận ra phần tiếng việt của hai từ so sánh này
Big : Với từ này, tôi phóng to ba bức tranh trong sách để dạy Tôi đã chỉ vào bức tranh có khách sạn nhỏ nhất nói" This hotel is big", bức tranh có khách sạn lớn hơn nói" This hotel is bigger " và bức tranh có khách sạn lớn nhất nói "This hotel
is the biggest "
Với từ nay, tôi cũng dùng đối tợng học sinh phù hợp để các em luyện tập Tôi chỉ hình dáng to vừ phải để nói" He is big" , em to hơn nói" he is " và em có hình dạng to nhất tôi cũng nói " He is the " các em dễ dàng quan sát thấy và nói ra từ ở hai chỗ trống đó là: Bigger, biggest
Easy : Với từ này, tôi chuẩn bị ba thẻ có thể hiện ba phép tính đơn giản ( Thẻ A: 11+ 11=22, thẻ B: 11+1=12 và thẻ C: 1+1=2) Và tôi đa ra thẻ A để nói "It is easy" phép tính B nói " It is easier" và phép tính C thì nói" It is the easiest"
Thin : Với từ này, tôi đã vẽ ba bức tranh với ba ngời để trần, đều gầy ở mức độ khác nhau và đa ra(Có đặt tên tranh :A, B, C theo thứ tự diễn tả mức độ gầy tăng dần, để tiện cho việc thực hành mẫu câu ở bớc sau) Tôi chỉ bức tranh với hình
Trang 8ngời vừa phải-A nói" He is thin", hình gầy hơn-B nói" He is thinner" và hình còn lại-C nói" He is the thinnest"
Tiếp theo tôi chỉ vào một số em trong lớp có đặc điểm tơng tự và cho các em thực hành Bằng cách nói tiếp vào những câu nói lửng mà tôi đa ra: Eg Nam is , Lam is , Cờng is the
- Sau khi tôi đã giới thiệu tất cả các tính từ trên , các em đã nhận biết và thực hành với chúng Tôi nói: nh vậy các ẹm đã biết đợc hai dạng tính từ so sánh là hơn và tính từ so sánh hơn nhất Và yêu cầu các em nhóm ba dạng tính từ kể trên, tơng ứng với bốn quy tắc của chúng Để làm tốt điều này, tôi đã chuẩn bị phiếu học tập có sẵn bảng trống và cho các em hoàn thiện qua thảo luận nhóm nh sau:
( Tôi cũng lu ý vơi h/s là các em có thể bổ sung thêm những tính từ khác đã học, ngoài những tính từ kể trên.)
Q 2
Sau khi hoàn thiện bảng này, tôi đã nhận xét từng nhóm, chữa cho các em, nhất
là những từ các em bổ sung ở đây tôi không viết những từ đợc bổ sung lên bảng với mục đích phát huy khả năng sáng tạo của các em khác trong những luyện tập tiếp theo
có thể có liên quan với những từ đó
3/Cách dùng các tính từ so sánh - Dạng ngắn, có quy tắc trong câu.
- Mục đích của phần này là học sinh phải hiểu cách dùng thông qua các mẫu câu cũng nh biết vận dụng các tính từ so sánh kể trên vào các tình huống giao tiếp
Trang 9- Tôi đã chia ra hai loại mẫu câu chính cho các em vận dụng: Câu dùng các tính
từ so sánh khi không có đối tợng so sánh và câu sử dụng các tính từ so sánh có đối t-ợng so sánh
- Hình thức phat triển nh sau:
Tôi đã đa ra mẫu câu trớc( Mỗi mẫu câu tơng ứng với một ví dụ), cho các em
đọc mẫu câu đồng thanh rồi cho một vài cá nhân đọc trớc lớp Sau đó cho các em ghạch chân các tính từ so sánh xuất hiện, gạch chân đẵc điểm làm nên mẫu câu đó,
nh từ " than " xuất hiện trong câu so sánh hơn, mạo từ " the " và trạng ngữ chỉ cái chung : of us, of them, in my class, in our group là đặc điểm của câu so sánh hơn nhất
- Về phơng tiện giúp các em trong quá trình thực hành cũng là các phơng tiện
đã đợc sử dụng ở phần trên
Cần nhấn mạnh thêm là trong quá trình thực hành, tôi luôn cho các em bắt đầu bằng mẫu câu với tính từ dạng nguyên để làm nền cho các mẫu câu so sánh và mỗi tính từ khi đa ra thc hành đều đợc nói theo hai hình thức là đồng thanh và cá nhân trong đó đồng thanh thực hiện từng câu một theo chỉ dẫn của g/v, còn thực hiện cá nhân thì các em phải nói để tả cho cả ba đặc điểm của tranh hoặc vật
a/ Với mẫu câu không có đối tợng so sánh: Vớ loại mẫu câu này, tôi đồng
thời cho các em thực hành nói với hai dạng nhỏ khác: Một là dạng tính từ bổ nghĩa cho danh từ kế hợp vơi danh từ tạo thành cụm danh từ Hai là dạng tính từ bổ nghĩa cho chủ ngữ , đứng độc lập làm tân ngữ trong câu
Eg ( tall ) : Tôi vẫn sử dụng bức tranh dạy từ trên, với cách thức tơng tự, nhng ở đây tôi viết mẫu câu lên bảng làm ví dụ:
Pic 1: This tree is tall
Pic 2: This is a taller tree
Pic 3: This is the tallest tree
Or A is tall
B is taller
C is the tallest
Trong đó A là Pic 1, B là Pic 2 và C là Pic 3
Với các tình huống trong lớp, tôi cho ba học sinh phù hợp nh trong phần luyện
từ đứng trớc lớp và cho các em khác đứng lên thực hành
Eg Nam is tall
Trang 10Lâm is a taller student.
Cơng is the tallest student
Với cách thức tơng tự, tôi tiếp tục cho các em thực hành với các tính từ khác nh các mẫu câu sau:
Eg (small)
This is a small orange
This is a smaller orange
This is the smallest orange
Or This orange is small
This orange is smaller
This orange is smallest
Với từ này tôi cũng cho học sinh thực hành nh từ "Tall" , tôi cũng gọi một số
em có đặc điểm phù hợp đứng lên trớc lớp cho các em khác quan sát thực hành
Eg Nam is a small student
Lam is a smaller student
Cơng is the smallest student
Lam is smaller
Cơng is the smallest
Eg ( Big) Cũng với cách thức sử dụng tranh nh phần dạy từ, em đã thực hành từ này nh sau:
P 1( A): It is a big hotel
P 2(B) : It is a bigger hotel
P 3(C): It is the biggest hotel
Or A is big
B is bigger
C is the biggest
Với tình huống chọn học sinh, tôi cho ba học sinh có hình phù hợp đứng trớc lớp, các
em khác quan sát, thực hành theo mẫu
Eg Nam is a big student
Lam is a bigger student
Cờng is the biggest student