GIẢNG DẠY MÔI TRƯỜNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP PBL PROBLEM BASED LEARNING – LỢI ÍCH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CÒN TỒN TẠI ÁP DỤNG THỰC TẾ TRONG VIỆC GIẢNG DẠY MÔN HỌC CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT SẠCH HƠN TẠI TRƯỜN
Trang 1GIẢNG DẠY MÔI TRƯỜNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP PBL (PROBLEM BASED LEARNING) – LỢI ÍCH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CÒN TỒN TẠI
ÁP DỤNG THỰC TẾ TRONG VIỆC GIẢNG DẠY MÔN HỌC CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT SẠCH HƠN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP.HCM
Vũ Hải Yến*
Khoa Môi Trường và Công Nghệ Sinh Học, Đại học Kỹ Thuật Công Nghệ TP.HCM
Tóm tắt
“Người ta chỉ bảo vệ những gì mà họ yêu, chỉ yêu những gì mà họ hiểu, chỉ hiểu những gì mà họ được học” đó là một câu châm ngôn khôn ngoan trong lĩnh vực giáo dục, đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục môi trường Cốt lõi của vấn đề truyền thông, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường của sinh viên, học sinh đều nằm ở việc giáo dục tình yêu, lòng hăng hái, và trách nhiệm của giới trẻ đối với cuộc sống
Trong thời gian vừa qua, giáo dục đại học được xem như những kiến thức ở tầm vĩ
mô, xa rời thực tiễn, vì thế mà sinh viên khó có thể áp dụng vào thực tiễn Vài năm trở lại đây, giảng dạy đại học bằng phương pháp đặt vấn đề (Problem Based Learning) thường được nhắc tới như một phương pháp giáo dục kiểu mới đem lại nhiều hiệu quả Phương pháp này phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập, người học được rèn luyện các kỹ năng cần thiết, sớm tiếp cận những vấn đề thực tiễn và biết cách tổ chức vấn đề, bài học đồng thời được nhớ sâu hơn Phương pháp còn giúp giảng viên không ngừng vươn lên để học hỏi không ngừng Phương pháp đã giúp giảng dạy thành công các môn học kỹ thuật vốn khô khan từ trước đến nay, trong đó có các bộ môn Kỹ thuật Môi Trường Tuy nhiên, ngoài những lợi ích dễ dàng nhận thấy, phương pháp này vẫn có những bất cập nhất định Nội dung bài tham luận là tổng quát về những thuận lợi và khó khăn trong công việc giảng dạy các môn học môi trường
Trong các môn học trong chuyên ngành Môi Trường, môn học Công Nghệ Sản Xuất Sạch Hơn là môn học đòi hỏi kiến thức tổng hợp từ nhiều lĩnh vực, kiến thức chuyên môn nhiều nhất Môn học này bắt đầu được giảng dạy trong khoảng 10 năm trở lại đây Do vậy,
áp dụng PBL vào công tác giảng dạy môn học Công Nghệ Sản Xuất Sạch Hơn là điều thực
sự cần thiết Nhưng áp dụng nó như thế nào, những thuận lợi và khó khăn nào sẽ gặp phải khi sử dụng phương pháp này? Bài tham luận trình bày các lưu ý cần áp dụng trong việc giảng dạy môn học Công Nghệ Sản Xuất Sạch Hơn tại các trường Đại Học trong Thành phố
Hồ Chí Minh
Trang 2phương pháp đặt vấn đề (Problem Based
Learning) thường được nhắc tới như một
phương pháp giáo dục kiểu mới đem lại
nhiều hiệu quả Phương pháp này phát huy
tính tích cực, chủ động trong học tập,
người học được rèn luyện các kỹ năng cần
thiết, sớm tiếp cận những vấn đề thực tiễn
và biết cách tổ chức vấn đề, bài học đồng
thời được nhớ sâu hơn Phương pháp còn
giúp giảng viên không ngừng vươn lên để
học hỏi không ngừng Phương pháp đã
giúp giảng dạy thành công các môn học kỹ
thuật vốn khô khan từ trước đến nay, trong
đó có các bộ môn Kỹ thuật Môi Trường
Tuy nhiên, ngoài những lợi ích dễ dàng
nhận thấy, phương pháp này vẫn có những
bất cập nhất định
Trong các môn học trong chuyên
ngành Môi Trường, môn học Công Nghệ
Sản Xuất Sạch Hơn là môn học đòi hỏi
kiến thức tổng hợp từ nhiều lĩnh vực, kiến
thức chuyên môn nhiều nhất Môn học này
bắt đầu được giảng dạy trong khoảng 10
năm trở lại đây Do vậy, áp dụng PBL vào
công tác giảng dạy môn học Công Nghệ
Sản Xuất Sạch Hơn là điều thực sự cần
thiết Nhưng áp dụng nó như thế nào,
những thuận lợi và khó khăn nào sẽ gặp
phải khi sử dụng phương pháp này?
II Mục đích nghiên cứu
Đề tài tập trung vào các vấn đề như
sau:
-Phương pháp giảng dạy đặt vấn
đề: mục đích, phương pháp, lợi ích, ý
nghĩa, phạm vi áp dụng, những thuận lợi
và khó khăn trong việc giảng dạy bằng
phương pháp này
- Áp dụng trong giảng dạy bộ môn Công Nghệ Sản Xuất Sạch Hơn: đặc điểm môn học, áp dụng việc giảng dạy bằng phương pháp đặt vấn đề vào cách giảng dạy môn học này
- Rút ra những thuận lợi và khó khăn khi sử dụng phương pháp này để giảng dạy môn học Công Nghệ Sản Xuất Sạch Hơn
III Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu tập trung vào 2 hướng như sau:
+ Tìm hiểu phương pháp giảng dạy đặt vấn đề (Problem based learning): định nghĩa, mục đích, phương pháp, lợi ích, ý nghĩa, phạm vi áp dụng, những thuận lợi
và khó khăn trong việc giảng dạy bằng phương pháp này
+ Áp dụng phương pháp giảng dạy này vào giảng dạy môn học Công Nghệ Sản xuất sạch hơn:
-Tìm hiểu yêu cầu của môn học trong từng ngành học, thời lượng dành cho môn học
-Chọn cấp độ giảng dạy -Từ số lượng sinh viên, chọn phương pháp giảng dạy
-Phân bố thời gian, chọn những chuyên đề phù hợp với sinh viên
-Chọn lựa phương pháp phù hợp -Những thuận lợi và khó khăn -Bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn
Trang 3IV Giảng dạy bằng phương pháp
đặt vấn đề
4.1 Định nghĩa
Dạy học dựa trên vấn đề (PBL:
Problem based learning) là một cách tiếp
cận tổng thể trong giáo dục, ở góc độ
chương trình học lẫn quá trình học:
chương trình học bao gồm những vấn đề
được lựa chọn và thiết kế cẩn thận nhằm
giúp người học tiếp nhận tri thức một cách
có phê phán, tăng cường kỹ năng giải
quyết vấn đề, khả năng tự học và kỹ năng
làm việc nhóm; quá trình học có tính hệ
thống như quá trình giải quyết vấn đề hoặc
thử thách có thể gặp trong đời sống Dạy
học dựa trên vấn đề là phương pháp dạy
học nhằm giúp người học tiếp nhận tri
thức và kỹ năng thông qua một quá trình
học hỏi được thiết kế dựa trên những câu
hỏi, những vấn đề và những nhiệm vụ thực
tiễn đã được xây dựng
4.2 Mục tiêu
- Về nhận thức: giúp người học có
cơ hội nắm chắc kiến thức theo chiều rộng
lẫn chiều sâu
- Về kỹ năng: giúp người học phát
triển năng lực đọc tài liệu, kỹ năng nghiên
cứu khoa học, kỹ năng giải quyết vấn đề,
các kỹ năng xã hội như: làm việc nhóm,
thuyết trình, tranh luận, thương lượng, …
- Về thái độ: giúp người học cảm
thấy gắn bó và yêu thích môn học và sự
học, thấy được những giá trị của hoạt động
nhóm đối với bản thân
4.3 Những đặc điểm của phương pháp dạy học dựa trên vấn đề
4.3.1 Bối cảnh trung tâm của hoạt động dạy và học
Thay vì thông tin được trình bày từ thấp đến cao, người học sẽ chỉ được tiếp cận với một vấn đề cần được lý giải một khi họ đã được trang bị đầy đủ những kiến thức cần thiết Người học được tiếp cận
với vấn đề ngay ở giai đoạn đầu của một đơn vị bài giảng Vấn đề có thể là một hiện
tượng của tự nhiên hoặc là một sự kiện/tình huống đã, đang hoặc có thể sẽ diễn ra trong thực tế và chứa đựng những điều cần được lý giải
4.3.2 Người học tự tìm tòi để xác định những nguồn thông tin giúp giải quyết vấn đề
Trên cơ sở vấn đề được nêu ra, chính người học phải chủ động tìm kiếm thông tin thích hợp để giải quyết vấn đề Nói cách khác, chính người học gần như phải tự trang bị cho mình phần “lý thuyết” nhằm có đủ kiến thức để tiếp cận và giải quyết vấn đề
4.3.3 Thảo luận nhóm là hoạt động cốt lõi
Thông qua thảo luận ở nhóm nhỏ, người học chia sẻ nguồn thông tin và cùng nhau hình thành các giả thuyết giúp giải quyết vấn đề, kiểm tra giả thuyết và đi đến kết luận
Trang 44.3.4 Vai trò của GV mang tính hỗ trợ
GV đóng vai trò định hướng (chỉ ra
những điều cần được lý giải của vấn đề),
trợ giúp (chỉ ra nguồn thông tin, giải đáp
thắc mắc,…), đánh giá (kiểm tra các giả
thuyết và kết luận của người học), hệ
thống hóa kiến thức, khái quát hóa các kết
luận
4.4 Ưu nhược điểm của phương pháp
dạy học dựa trên vấn đề
4.4.1 Ưu điểm
- Phát huy tính tích cực, chủ động
trong học tập
- Người học được rèn luyện các kỹ
năng cần thiết: thói quen/kỹ năng đọc tài
liệu, phương pháp tư duy khoa học, tranh
luận khoa học, làm việc tập thể…
- Người học được sớm tiếp cận
những vấn đề thực tiễn: Giáo dục đại học
thường bị phê phán là xa rời thực tiễn
Phương pháp này giúp người học tiếp cận
sớm với những vấn đề đang diễn ra trong
thực tế, đồng thời họ cũng được trang bị
những kiến thức, kỹ năng để giải quyết
những vấn đề đó
- Bài học được tiếp thu vừa rộng
vừa sâu, được lưu giữ lâu trong trí nhớ
người học
- Đòi hỏi GV không ngừng vươn
lên
4.4.2 Nhược điểm
- Khó vận dụng ở những môn học
có tính trừu tượng cao: Phương pháp này
không cho kết quả như nhau đối với tất cả
các môn học, mặc dù nó có thể được áp
dụng một cách rộng rãi Thực tế cho thấy những môn học gắn bó càng nhiều với thực tiễn thì càng dễ xây dựng vấn đề, và
vì vậy khả năng ứng dụng của phương pháp càng cao
- Khó vận dụng cho lớp đông: Lớp càng đông thì càng có nhiều nhóm nhỏ vì vậy việc tổ chức, quản lý sẽ càng phức tạp Một GV rất khó theo dõi và hướng dẫn thảo luận cho cả chục nhóm người học Trong trường hợp này, vai trò trợ giảng sẽ rất cần thiết
V Đặc điểm của môn học sản xuất sạch hơn (sxsh)
5.1 Mục tiêu của môn học
- Kiến thức:
Mục tiêu của học phần là giới thiệu cho sinh viên (SV) một phương pháp, một cách tiếp cận mới vừa có tính phòng ngừa
ô nhiễm môi trường cao Cách tiếp cận này không những giúp các nhà sản xuất và cung cấp dịch vụ giảm được lượng và độc tính chất thải ngay trong quá trình sản xuất lại vừa mang lại tính hiệu quả kinh tế cao
- Kỹ năng: thực hiện được các dự án SXSH cho các ngành nghề sản xuất
- Thái độ, chuyên cần: cần có thái độ học tập nghiêm túc, chuyên cần Môi trường công nghiệp luôn đòi hỏi tác phong nghiêm túc, trách nhiệm và cầu tiến
5.2 Nội dung môn học
Chương trình giảng dạy môn SXSH được thiết kế nhằm cung cấp cho sinh viên khoa Môi trường các kiến thức
cơ bản về công nghệ SXSH, kỹ năng thực hiện sản xuất sạch hơn, các giải pháp kỹ
Trang 5thuật nhằm giảm lượng chất thải cũng như
độc tính của chất thải ngay tại nguồn và
lồng ghép thực hiện sử dụng năng lượng
có hiệu quả trong SXSH, thái độ cần phải
có khi thực hiện SXSH
Phần 1: Giới thiệu về Sản Xuất Sạch
Hơn: a) Tổng quan về công tác bảo vệ
môi trường; b) Các khái niệm: Sản Xuất
Sạch Hơn; Năng Suất Sinh Thái; Phòng
Ngừa Ô Nhiễm; Công nghệ Sạch; c) Sự
giống nhau và khác nhau trong các khái
niệm, cách tiếp cận; d) Mục đích, ý nghĩa
của áp dụng SXSH; e) Khó khăn và thuận
lợi trong việc áp dụng SXSH ở Việt Nam
và trên thế giới; f)Thực tế áp dụng SXSH
tại Tp HCM từ năm 1996 đến nay
Phần 2: Kỹ thuật thực hiện SXSH hay
các bước và nhiệm vụ trong thực hiện
SXSH: a) Thành lập nhóm SXSH; b) Liệt
kê các công đoạn sản xuất; c) Xác định
mức tiêu tốn nguyên nhiên liệu và chọn
trọng tâm kiểm toán; d) Xây dựng sơ đồ
dòng cho trọng tâm kiểm toán; e) Tính
toán cân bằng nguyên nhiên vật liệu (cân
bằng vật chất): f) Xác định mất mát bằng
tiền do lãng phí trong sản xuất; g) Phân
tích và xác định nguyên nhân phát thải,
lãng phí…; h) Đề xuất và lựa chọn các cơ
hội SXSH; i) Sàng lọc và phân tích tính
khả thi của các cơ hội; j) Lựa chọn các cơ
hội và lập kế hoạch thực hiện; k) Duy trì
và lựa chọn các trọng tâm kiểm toán mới;
l) Mục tiêu, ý nghĩa của việc lồng ghép sử
dụng hiệu quả năng lượng trong SXSH;
m) Khái niệm về kiểm toán năng lượng, các dạng kiểm toán năng lượng; n) Phương pháp thực hiện sử dụng hiệu quả năng lượng; o) Phân tích, đánh giá các cơ hội sử dụng hiệu quả năng lượng trong sử dụng lò hơi ở một số ngành công nghiệp; p) Phân tích, đánh giá các cơ hội tiết kiệm
năng lượng điện trong các cơ sở sản xuất
5 chuyên đề trong chương trình:
Chuyên đề 1: Phương pháp luận SXSH – Áp dụng SXSH Cho 1 ngành Công Nghiệp điển hình (Thuộc Da, Dệt Nhuộm, Luyện Kim, Thực phẩm, Giấy, Nhựa…)
Chuyên đề 2: Kiểm toán năng lượng phục vụ cho SXSH
Chuyên đề 3: Tái chế và tái sử dụng phế phẩm trong nhà máy
Chuyên đề 4: Thiết kế sản phẩm vì mục tiêu phát triển bền vững (D4S)
Chuyên đề 5: Sản xuất sạch và Cơ chế Phát Triển Sạch: CP và CDM
Phần 3: Xây dựng hệ thống dữ liệu quan trắc sản xuất sạch hơn - Đề cương, mẫu báo cáo đánh giá SXSH
- Xây dựng hệ thống dữ liệu quan trắc SXSH
- Đề cương báo cáo đánh giá
SXSH
- Trình bày mẫu báo cáo đánh giá SXSH do VNCPC đề xướng
Trang 65.3 Các phương pháp áp dụng theo chương trình học
Bảng 1 Đề cương môn học và phương pháp áp dụng
Số
tiết
Tên các đề mục & chương theo đề cương giảng
dạy
6 Giới thiệu môn học
Phần 1: Tổng quan và Phương pháp luận tiếp cận
Sản Xuất Sạch Hơn (6 bước, 18 nhiệm vụ)
Lý thuyết:
Đặt vấn đề: ô nhiễm môi trường và các cấp độ quản lý môi trường Phương pháp thuyết trình + Minh họa + Đặt câu hỏi
3 Phần 2: Kỹ thuật thực hiện Sản Xuất Sạch Hơn
- Quản lý nội vi trong nhà máy
- Thay đổi nguyên liệu đầu vào
- Cải tiến công nghệ sản xuất
- Sử dụng hiệu quả năng lượng
- Thay đổi, thiết kế lại sản phẩm
- Tái chế, tái sử dụng trong nhà máy
- Tận dụng các phế phẩm thành các nguyên liệu hữu ích
Lý thuyết Thuyết trình + Ví dụ minh họa + Đặt câu hỏi
3 Chuyên đề 1: Phương pháp luận SXSH cho Công
Nghiệp Thuộc Da
Bai tập lớn: Cân bằng vật chất trong SXSH
Trình diễn kinh nghiệm thực tế Đặt vấn đề
3 Chuyên đề 2: Kiểm toán năng lượng
Bài tập lớn: Tính toán hiệu suất năng lượng Đặt vấn đề Đặt câu hỏi Làm bài tập
3 Chuyên đề 3: Tái chế và tái sử dụng
Bài tập lớn: Tính toán lượng chất thải và đề xuất các
khả năng tái chế, tái sử dụng chất thải trong nhà
máy
Đặt vấn đề Đặt câu hỏi Thảo luận tìm giải pháp tái chế, tái
sử dụng các loại chất thải
4 Chuyên đề 4: Thiết kế sản phẩm vì mục tiêu phát
triển bền vững
Đặt vấn đề
Sử dụng các sản phẩm minh họa Sinh viên chia nhóm thảo luận Giải quyết được vấn đề Hệ thống hóa
3 Chuyên đề 5: Sản xuất sạch và Cơ chế Phát Triển
Sạch: CP và CDM Đặt vấn đề Thảo luận tìm hướng giải quyết
5 Phần 3: Xây dựng số liệu quan trắc sản xuất sạch
hơn - Các phần cần trình bày của một báo cáo Sản
Xuất Sạch Hơn
Lý thuyết Thuyết trình
5.4 Các vấn đề bài học đưa ra
Bảng 2 Các vấn đề bài học SXSH đưa ra trong các học phần
Nội dung Vấn đề
Phần 1: Phương
pháp luận SXSH
- Các doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường chưa nhận thức được vai trò của bảo vệ môi trường song song với phát triển kinh tế Có cách nhìn chưa toàn diện
về mối liên hệ giữa môi trường và kinh tế
- Có 5 cách tiếp cận trong quản lý môi trường: không tiếp cận, tiếp cận theo hướng thụ động, chủ động thấp, chủ động và chủ động cao Vậy ở Việt Nam đang tồn tại cách tiếp cận nào, ưu và khuyết điểm của nó Tiếp cận về môi trường nên tiếp cận theo hướng nào?Nếu là một đất nước đang phát triển, có nên tiếp cận theo hướng thụ động (xử lý cuối đường ống) không?
Trang 7Nội dung Vấn đề
Phần 2: Kỹ thuật
thực hiện Sản
Xuất Sạch Hơn
- Công ty Tungkuang :”Không xử lý nước thải, giảm được chi phí 90 – 100 triệu đồng, dùng để phục hồi khủng hoảng kinh tế.” Có phải muốn bảo vệ kinh tế thì phải hy sinh môi trường? Thực ra, chi phí xử lý chất thải chỉ là tảng băng nổi của vấn đề, lãng phí trong sản xuất mới là nguồn gốc “đốt tiền” của doanh nghiệp
- Giải quyết lãng phí từ đâu? Chính là việc xem xét chuỗi giá trị của sản phẩm:
từ việc giảm lãng phí nguyên vật liệu, năng lượng đến việc giảm độ độc hại, giảm sự lãng phí trong sản phẩm,…
Chuyên đề 1:
Điển hình SXSH
cho doanh nghiệp
- Ngành thuộc da là ngành gây ô nhiễm nghiêm trọng Vấn đề phát sinh từ đâu? Phân tích nguyên nhân Giải pháp
Chuyên đề 2:
Kiểm toán năng
lượng
- Vấn đề đặt ra: Sử dụng lò hơi lâu ngày không vệ sinh chùi rửa, cặn bám thành
lò hơi, tốn nhiệt lượng nhiều hơn để đun nóng nước? Vậy tiết kiệm năng lượng bằng cách nào?
-Nhìn từ bên ngoài, có vẻ đốt than tiết kiệm hơn đốt dầu? Sự thật có phải như vậy không? Cần có phân tích gì để biết được hiệu suất sử dụng năng lượng? -Chúng ta nói công nghệ này phát triển hơn công nghệ kia, trình độ công nghệ nước này cao hơn nước kia, thực ra là nói đến cái gì? Làm sao để có được chỉ số cường độ tiêu hao năng lượng (GDP/TOE)
Chuyên đề 3: Tái
chế và tái sử dụng
-Các bãi chôn lấp chất thải càng lúc càng xuất hiện nhiều loại chất thải liên quan đến bao bì, các phế phẩm công nghiệp? Châu Âu đánh thuế 60% trên bao bì? Nếu sản xuất ra sản phẩm mà không thu hồi được bao bì, để bao bì ra bãi chôn lấp thì đó có phải là lãng phí không? Nên tái chế, tái sử dụng như thế nào? Chuyên đề 4:
Thiết kế sản
phẩm vì mục tiêu
phát triển bền
vững (Design for
Sustainability)
-Đánh giá các khía cạnh môi trường của áo sơ mi: từ việc sản xuất ra bông vải, dệt, nhuộm, hồ vải, may áo, carton và nhựa để làm cứng áo, bao gói áo, còn là lúc sử dụng: ủi áo, giặt áo những tác động môi trường đến từ sản phẩm không
hề nhỏ
-Câu chuyện 1: Một công ty sản xuất bàn ghế xuất khẩu 60% hàng bị trả về vì
bị hư hỏng trên đường đi Đó có phải là lãng phí không, lỗi của ai? Giải quyết như thế nào?
-Câu chuyện 2: Gốm Bát Tràng là sản phẩm văn hóa truyền thống của Việt Nam, nhưng không xuất khẩu được, tại sao? Khâu nào đã không được chú ý? -Câu chuyện 3:”Nóng trong người…”:Vai trò của các hình thức marketing sản phẩm như thế nào?
-Câu chuyện 4: “Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dung” Bao gói có tác dụng gì trong sản phẩm?
Chuyên đề 5: CP
và CDM
-Việt Nam là một đất nước lúa và nước, bởi vì nước mặn từ biển đang xâm nhập vào đất liền
-Nhật Bản sẽ không thể tự hào vì “mùa xuân sang có hoa anh đào” nữa, vì biến đổi khí hậu khiến mùa nào cũng ấm áp Nghị định thư Kyoto cho phép các nước trao đổi quyền phát thải
-Năm 2004, Việt Nam có dự án đầu tiên về CDM, nhưng tại sao không thành hiện thực? Còn những khó khăn gì?
Trang 85.5 Phản hồi từ phía giảng viên và sinh viên về phương pháp đặt vấn đề cho môn học Sản Xuất Sạch Hơn
Bảng 3 Khảo sát ý kiến của sinh viên đang theo học môn học SXSH về
phương pháp PBL
Tốt Đạt yêu cầu Cần khắc
phục một số điểm
Không có ý kiến
Cung cấp được tổng quan về kiến thức 68 32 0 0
Kiến thức môn học được cập nhật hiện
đại
Nội dung bài giảng được truyền tải dễ
Phương pháp phát huy tính tích cực 36 41 23 0
Tạo cơ hội cho SV tham gia vào giờ học 36 45 18 0
Nguồn: Phòng Khảo Thí và Kiểm Định Chất Lượng, ĐH Kỹ Thuật Công Nghệ TpHCM, 2010
Bảng 4 Khảo sát ý kiến của sinh viên về các phương pháp giảng dạy môn học SXSH
Phương pháp giảng dạy sử
dụng nhiều nhất
Diễn giảng 41% Dạy học theo phương pháp
đặt vấn đề: 59%
Thời gian dành cho seminar 30% thời gian: 50% 20% thời gian: 50%
Thời gian tổ chức thảo luận,
học nhóm
Luôn luôn: 41% Thường xuyên: 59%
Tác dụng của phương pháp
dạy học
Rất tốt: 50% Đạt yêu cầu: 50%
Loại hình thức thi áp dụng 50% báo cáo 50% vấn đáp
Nguồn: Phòng Khảo Thí và Kiểm Định Chất Lượng, ĐH Kỹ Thuật Công Nghệ TpHCM, 2010
VI Những kinh nghiệm giảng dạy
rút ra
6.1 Cách tổ chức lớp học như thế nào?
• Nêu rõ mục tiêu cần phải đạt được
khi học xong môn học/bài giảng này
• Đưa một vấn đề thực tế trước bài
giảng, và nêu những khó khăn của vấn đề
trong điều kiện hiện tại
• Hỏi sinh viên cách giải quyết
• Đưa ra các phương án giải quyết
khác nhau theo trình tự
• Lập kế hoạch giải quyết vấn đề
• Đặt tình huống khó khăn cho sinh viên giải quyết
• Thảo luận nhóm để nắm vấn đề
• Giao đề tài tiểu luận cho sinh viên/nhóm sinh viên
Ví dụ: Trong chuyên đề 4 về Thiết
kế sản phẩm phục vụ mục tiêu phát triển bền vững: sau khi nêu vấn đề cho sinh viên chuẩn bị một số sản phẩm cho sinh viên phân tích ưu nhược điểm của sản phẩm về: ý tưởng thiết kế, cách sản xuất,
Trang 9bao bì, chất lượng sản phẩm, cách phân
phối, marketing? Từ việc phân tích một
sản phẩm, sinh viên sẽ nắm được quy trình
đánh giá vòng đời sản phẩm, nếu hạn chế tác động môi trường trong suốt vòng đời sản phẩm thì phải làm sao?
Hình 1 Một số sản phẩm hàng tiêu dùng được sử dụng cho SV phân tích
6.2 Phân loại cấp độ giảng dạy trước
khi giảng dạy
Bằng cách giải quyết vấn đề, SV sẽ
thực hiện được kỹ năng: a) Tham khảo,
thu thập được tài liệu; b) Liên kết các
nhóm tài liệu để rút ra tri thức; c)Tổng
hợp tài liệu; d) Lập kế hoạch, lịch trình
làm việc; e) Thảo luận, làm việc nhóm ; f)
Động não và tư duy; f) Đề xuất được giải
pháp; g) Đánh giá tính khả thi về kỹ
thuật/kinh tế của giải pháp; h) Sử dụng tốt
các công nghệ; i) Rèn luyện kỹ năng trình bày trước đám đông, bảo vệ những quan điểm đã có của mình
Trước khi chuẩn bị bài giảng, giảng viên đã xác định mục đích bài giảng và cấp độ giảng dạy mà giảng viên mong muốn ở sinh viên.Những điều giảng viên mong muốn ở sinh viên là những kỹ năng
mà sinh viên đạt được sau khi hoàn thành môn học
Cấp
độ
Nội dung
Tri
thức
Khi học về sản xuất sạch hơn, sinh viên phải học thuộc lòng các diễn đạt, định nghĩa và số liệu, vv… Họ phải có khả năng nhớ hoặc nhận định thông tin Có thể chỉ cần học mà không cần hiểu, không cần phải suy nghĩ Đây là cấp độ tri thức thấp Khi giảng về sản xuất sạch hơn ở cấp độ này sinh viên phải học, biết và áp dụng những diễn đạt nhất định mà không cần phải suy nghĩ
Hiểu Ở cấp độ này, chúng ta trông chờ ở sinh viên sự nắm bắt các vấn đề đang học sâu hơn Khi
bàn về một vấn đề SXSH cụ thể, sinh viên phải có khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ của mình Nếu một người có khả năng định nghĩa một diễn đạt cụ thể anh ta chắc hẳn phải hiểu vấn đề đó
Ứng
dụng
Học viên có khả năng ứng dụng tri thức Chẳng hạn, họ biết xử lý một chiếc máy như thế nào Ví dụ: học viên biết cách sử dụng máy tính hoặc biết cách sử dụng một công cụ ra sao
để giải quyết một vấn đề SXSH cụ thể
Phân
tích
Học viên sẽ phân tách các khái niệm hay thông tin phức tạp thành các phần nhỏ hơn Họ sẽ tìm ra những bộ phận liên quan đơn giản hơn và hiểu cách thức chúng kết hợp với nhau như thế nào Ví dụ: Họ có thể tách một chiếc đồng hồ thành các bộ phận riêng rời
Trang 10Cấp
độ
Nội dung
hợp hệ giữa các yếu tố khác nhau Nếu có thể tháo rời cái đồng hồ thì họ cũng có thể tái thiết lại
Trong SXSH việc tái thiết rất quan trọng Ví dụ: phân tích một dây chuyền sản xuất Một bộ phận trong dây chuyền sản sinh ra quá nhiều rác thải nên phải thay thế Khi đó, phương án cải tạo phải được đưa ra một cách chính xác
Đánh
giá
Đây là cấp độ cao nhất Học viên có khả năng phán quyết Tất nhiên, để làm được như vậy
họ cần phải quen với cấp độ trên Trong SXSH chúng ta phải đánh giá dây chuyền sản phẩm hiện tại Chúng ta cần phải đánh giá việc sử dụng năng lượng và các nguồn lực, chất thải và các tác động của nó đến với môi trường
Độ phức tạp của các cấp độ tăng
dần từ 1 đến 6 Trong bộ môn SXSH cần
cho sinh viên luyện cách suy nghĩ ở cấp độ
cao hơn chẳng hạn như 4,5 và 6 Do vậy,
trong phần 1 về phương pháp luận SXSH
và phần 2 về Kỹ thuật SXSH, giảng viên chỉ nói và yêu cầu sinh viên sao chép Phần này chỉ yêu cầu ở cấp độ 1-3 Nhưng đến khi thực hiện các chuyên đề, sinh viên cần phải có kỹ năng 4-6
6.3 Xây dựng mục tiêu giảng dạy tốt
Việc xây dựng mục tiêu giảng dạy
là một điều kiện nếu bạn muốn đạt được
một mục đích cụ thể Nếu bạn không biết
bạn sẽ đi đâu, bạn sẽ không bao giờ đạt
được một mục đích Những giảng viên
giỏi thường có những điểm chung, nhưng
không phải ở kỹ thuật, phương thức hay
phong cách giảng dạy Chính những gì họ
đã hoàn thành, chứ không phải cách họ
hoàn thành đã tạo nên sự khác biệt này
Trong giảng dạy SXSH, người giảng viên
cần bám sát vào 3 mục tiêu để giảng dạy:
Ý tưởng chung
Tại sao sử dụng bài giảng này?
Nó có ích gì? Ở đây chúng ta xây dựng phần khung chung cho bài giảng của mình Công việc này sẽ giúp chúng ta thấy
rõ nội dung nào nên đưa vào bài giảng và nội dung nào không Có thể gồm một phân tích, một phản ánh và chỉ ra nhu cầu cần sử dụng các phương pháp giảng
Sử dụng các mục tiêu giảng
Phần này chỉ ra những gì sinh viên biết rõ hơn sau khi được nghe giảng nói đến kết quả Đó
có thể là một nhận thức mới, các chiến lược mới hay sử
Tri thức
(Liệt kê, định nghĩa, nhớ,
xác định, gọi tên, sao chép,
ai, cái gì, ở đâu, khi nào?)
Hiểu
(Mô tả, xác định, so sánh, đối lập, tự viết, viết lại câu)
Ứng dụng
(Ứng dụng, sử dụng, chọn, chỉ ra, trình diễn, làm, lập biểu, bản đồ, dung, phân loại, giải quyết, dịch, minh họa)
Phân tích
(Xác định động lực hay
nguyên nhân, đưa ra kết
luận, xác định các bằng
chứng, hỗ trợ, phân tích, tại
sao, so sánh/đối lập, phân
loại, điều tra)
Tổng hợp
(Dự đoán, tạo ra, viết, thiết
kế, phát triển, tổng hợp, xây dựng, chúng ta có thể cải thiện bằng cách nào, điều gì
sẽ xảy ra nếu, chúng ta giải quyết, tạo ra, hình dung, giả thuyết, kết hợp và ước tính)
Đánh giá
(Phán đoán, lập luận, quyết định, đánh giá, cho biết ý kiến của bạn, bạn có đồng ý không, liệu có tốt hơn không, xác nhận, mức độ chọn lựa, khuyến nghị, kết luận)