1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÁO CÁO ĐỀ TÀI NHÁNHNGHIÊN CỨU BỆNH ĐỐM TRẮNG NỘI TẠNG CỦA CÁ CHIM VÂY VÀNG (Trachinotus blochii) NUÔI BẰNG LỒNG TẠI VŨNG NGÁN, NHA T

32 563 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 26,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giải phẫu trong ổ bụng đã quan sát được các hạt trắng nhỏ xuất hiện ở một số nội tạng như: thận, lách và gan cá bệnh.. Được sự hỗ trợ về kinh phí của đề tài do tỉnh Khánh Hòa quản lý , m

Trang 1

BÁO CÁO ĐỀ TÀI NHÁNH

NGHIÊN CỨU BỆNH ĐỐM TRẮNG NỘI TẠNG CỦA CÁ CHIM VÂY VÀNG (Trachinotus blochii) NUÔI BẰNG LỒNG TẠI

VŨNG NGÁN, NHA TRANG

Người thực hiện: PGS-TS Đỗ Thị Hòa Dương Văn Quý Bình Nguyễn Thị Thùy Giang Nguyễn Xuân Nguyên

Nha Trang, tháng 5/ 2011

1

Trang 2

MỞ ĐẦU

Cá chim vây vàng (Trachinotus blochii), có gía trị dinh dưỡng cao, tốc độ sinh

trưởng rất nhanh trong 3 năm đầu, rất thích hợp cho nuôi tăng sản [3] Cá chim vây vàng (CVV) là đối tượng nuôi đã đem lại lợi nhuận cao cho nhiều nước trong khu vực như Trung Quốc, Indonesia, Đài Loan, Nhật Bản… Năm 2006, loài cá này đã được nhập vào Việt Nam từ Trung Quốc bởi các nhà khoa học của Trường cao đẳng thủy sản Bắc Ninh Từ năm 2009, cá CVV đã và đang được thử nghiệm nuôi và cho

đẻ nhân tạo tại Trường Đại học Nha Trang Công trình thử nghiệm này bước đầu đã thu được những thành công trong sinh sản nhân tạo và nuôi thương phẩm loài cá này bằng lồng trên biển đặt tại Vịnh Nha Trang Con giống của cá CVV đã được cung cấp cho nhiều nông hộ nuôi thương phẩm tại các tỉnh Nam Trung bộ như Phú Yên, Ninh Thuận và đối tượng cá biển này đang nhận được sự quan tâm của nhiều người dân nuôi trồng thủy sản ven biển

Tuy nhiên, bệnh và tác hại của bệnh luôn là một vấn đề đã và đang gây ra những khó khăn cho nghề nuôi cá biển nói chung, đặc biệt là cá CVV, đối tượng nuôi mới ở Việt Nam Vào tháng 8 năm 2010, cá CVV cỡ 6-10cm đang nuôi trong các lồng tại Vịnh Nha Trang xuất hiện một dạng bệnh lạ với các dấu hiệu đặc trưng: các nốt phồng rộp nhỏ dưới da, sau đó vỡ tạo nên các điểm thương tổn nhỏ màu nâu Mang cá bệnh tiết nhiều dịch nhày với các vùng thương tổn và các hạt nhỏ màu trắng đục Một số khối u xuất hiện trên cột sống, khi khối u lớn làm cột sống bị cong, gây

dị dạng cho cá bệnh Giải phẫu trong ổ bụng đã quan sát được các hạt trắng nhỏ xuất hiện ở một số nội tạng như: thận, lách và gan cá bệnh Khi cá CVV bị bệnh này đã gây chết nhiều cá trong các lồng nuôi, tỷ lệ chết ở một số lồng lên tới 50% sau 15 ngày phát bệnh Cho đến năm 2010, vẫn chưa có một nghiên cứu nào về bệnh ở cá CVV ở Việt Nam được công bố

Được sự hỗ trợ về kinh phí của đề tài do tỉnh Khánh Hòa quản lý , mã số

…… , bệnh đốm trắng nội tạng ở cá chim vây vàng (Trachinotus blochii Lacepède,

1801) nuôi bằng bè ở Vũng Ngán (Vịnh Nha Trang) đã được nghiên cứu nhằm xác

định các dấu hiệu đặc trưng của bệnh và tác nhân gây ra bệnh này ở cá chim vây vàng nuôi tại Khánh Hòa

Trang 3

Mục tiêu củanghiên cứu: Xác định tác nhân gây bệnh đốm trắng ở nội tạng

cá chim vây vàng

Nội dung chính đã tập trung nghiên cứu:

1 Mô tả dấu hiệu chính của cá CVV bị bệnh đốm trắng nội tạng

2 Đặc điểm mô bệnh học của cá CVV bị bệnh đốm trắng nội tạng

3 Xác định tác nhân gây bệnh đốm trắng nội tạng ở cá CVV

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu này:

 Ý nghĩa khoa học: Cung cấp các tư liệu mới về bệnh ở cá CVV nuôi và bổ sung vào danh mục bệnh ở cá biển nuôi tại Việt Nam

 Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả của đề tài làm cơ sở cho các đề xuất phòng trị bệnh đốm trắng nội tạng của cá CVV nuôi ở Nha Trang, Khánh Hòa

3

Trang 4

Phần 1: TỔNG QUAN 1.1 Đặc điểm sinh học cá chim vây vàng

Loài : Trachinotus blochii Lacepède, 1801

Tên tiếng Anh: Snub-nose pompano

Tên tiếng Việt: Cá chim vây vàng

(Nguồn: trang web của FishBase)

Mép phía trước xương nắp mang có dạng hình cung tương đối lớn, mép sau cong Xương nắp mang phía sau trơn, màng nắp mang tách rời, mỗi tia mang có 8 – 9

tơ mang ngắn Đầu và thân có màu trắng bạc, đỉnh đầu có màu xanh xám Ở những cá thể trưởng thành thỉnh thoảng có màu vàng cam đặc biệt trên cơ thể nhất là vùng miệng và nửa sau của thân Phần đầu không có vảy, cơ thể có nhiều vảy nhỏ dính vào dưới da Công thức vây: D.V – VI, I + 18 – 19; A.II, I + 16 – 17; P.I + 17 – 18; G.R 6 – 7 + 8 – 9 Phía trước đường bên có hình cung khá lớn, trên đường bên vảy không có

gờ Vây lưng thứ 1 hướng về phía trước, gai bằng và có 5 – 6 gai ngắn Ở cá giống giữa các gai có màng liền nhau, cá trưởng thành màng thoái hóa thành những gai tách rời nhau Vây lưng thứ 2 có 1 gai và 19 – 20 tia vây, phần trước của vây kéo dài hình lưỡi liềm Tia vây dài nhất gấp chiều dài của đầu 1,2 – 1,3 lần Vây hậu môn có 1 gai

và 17 – 18 tia vây, phía trước có hai gai ngắn Vây hậu môn và vây lưng thứ 2 hình dạng giống nhau, màu cam sẫm Vây ngực tương đối ngắn, rộng, màu tối đen Đuôi

Trang 5

xẻ thùy, vây đuôi hình lưỡi liềm Lưng màu xanh xám, bụng trắng bạc, mình không

có vân đen, vây lưng màu ánh bạc, rìa vây màu tro đen, vây hậu môn hơi vàng, vây đuôi màu tro [21,30,39]

cá này (Bianchi, G., 1985) Cá chim vây vàng xuất xứ từ Carangida, sống tại những vùng đá ngầm với mực nước < 7 m (Potonetal, 1989)

Ở Việt Nam, loài cá CVV được tìm thấy ở vùng biển Vịnh Bắc Bộ, vùng biển miền Trung và Nam Trung Bộ (Ngô Trọng Lư và cộng sự) [3]

Cá CVV là loài cá nước ấm, có tập tính di cư, sống ở tầng giữa và tầng trên Ở giai đoạn cá giống, hàng năm sau mùa đông thường sống ở vùng vịnh cửa sông, sống theo đàn Cá trưởng thành bơi ra vùng biển sâu Là loài cá rộng muối, ngưỡng chịu đựng độ mặn trong khoảng 3 – 35 ‰, dưới 20 ‰ cá sinh trưởng nhanh, trong điều kiện độ mặn cao cá sinh trưởng chậm Khả năng chịu đựng nhiệt độ tương đối kém, nhiệt độ thích hợp từ 16 – 36°C, sinh trưởng tốt nhất ở 22 - 28°C Thông thường hàng năm cuối tháng 12 đến đầu tháng 3 năm sau là thời kỳ nhiệt độ thấp, cá không ăn thức ăn Nhiệt độ dưới 16°C cá chim ngừng bắt mồi, nhiệt độ thấp nhất mà cá chịu

5Hình 1.1: cá chim vây vàng

Hình 1.1: Cá chim vây vàng

Trang 6

đựng được là 14°C Nếu 2 ngày liên tục nhiệt độ xuống dưới 14°C cá sẽ chết Ngưỡng oxy hòa tan thấp mà cá chịu đựng được là 2,5 mg/l [39].

b Đặc điểm sinh thái:

Cá CVV được nhập vào Indonesia từ Đài Loan và Trung Quốc nhưng loài cá này vẫn được tìm thấy phân bố tự nhiên ở vùng biển Indonesia Cá có tốc độ sinh trưởng nhanh

và đem lại giá trị thương mại cao nên là một loài có tiềm năng lớn cho nghề nuôi trồng thủy sản ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (Anony Mous, 2007) [21.30]

1.2 Tình hình sản xuất giống và nuôi cá CVV trên thế giới và Việt Nam

1.2.1 Tình hình trên thế giới

Tại Đài Loan, Lâm Liệt Đường (1986) đã thu gom 126 con cá chim vây vàng loại nhỏ, loại vừa và lớn nuôi chung với nhau để tạo đàn cá bố mẹ Đến năm 1989, tác giả bắt đầu thử nghiệm cho sinh sản loài cá này trong điều kiện nhân tạo, trong 5 lần tiêm kích dục tố, thì có 4 lần cá CVV đã đẻ trứng và thụ tinh thành công, thu được trên 900 vạn trứng, tỷ lệ thụ tinh khoảng 56% Qua nhiều hình thức thực nghiệm ương nuôi, nhóm nghiên cứu đã thu được 38,6 vạn giống kích cỡ 2 – 3cm Đây là công trình đầu tiên cho cá CVV sinh sản nhân tạo thành công Đến năm 1991, quy trình sinh sản nhân tạo loài cá này đã khá hoàn thiện [3,39,30](Lê Phúc Tổ, 2005)

Năm 1993, Trung tâm chuyển giao công nghệ thuộc Trường Đại học Trung Sơn đã kết hợp với Trại Nghiên cứu giống Thủy sản Quảng Đông – Trung Quốc cho sinh sản nhân tạo thành công cá CVV ở quy mô nhỏ, ương nuôi cá bột trong các bể xi

Hình 1.2: Bản đồ phân bố cá chim vây vàng trên thế giới

(Phần chấm đỏ là khu vực cá phân bố) [3]

Trang 7

măng Năm 1998, trung tâm này đã kết hợp với Công ty trách nhiệm hữu hạn giống thủy sản Tháng Lợi – Hải Nam – Trung Quốc cho cá CVV sản xuất giống nhân tạo thành công trên quy mô lớn, ương nuôi cá bột trong các ao đất [21,30].

Tại Indonesia, Trung tâm phát triển nuôi biển ở Batam (Nur Muflich Juniyanto, Syamsul Akbat and Zakimi) đã thành công trong việc sản xuất giống nhân tạo cá chim vây vàng vào năm 2008 Việc con giống loài cá này được sản xuất nhân tạo đã làm giảm áp lực khai thác giống cá CVV ngoài tự nhiên Quy trình sản xuất giống cá CVV tại Indonesia đã đạt tỷ lệ đẻ 60% -70%; tỷ lệ nở đạt 65% - 75% và tỷ

lệ sống của ấu trùng đạt 20% - 25% [30]

Hsiang Pin Lan & ctv (2007), đã tiến hành thử nghiệm so sánh ảnh hưởng của

2 loại thức ăn có nguồn protein khác nhau đến tình trạng sức khỏe và tốc độ sinh trưởng của cá CVV nuôi trên biển, ở phía nam của đảo Hải Nam,Trung Quốc với mật

độ 96con/m3, trong các lồng 100m3 Kết quả thí nghiệm đã chứng minh rằng không

có sự khác biệt có ý nghĩa về sinh trưởng, tỷ lệ sống và hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) ở cá chim vây vàng khi nuôi bằng loại thức ăn có chứa 45% protein từ bột cá

và loại thức ăn có tỷ lệ protein tương đương nhưng chỉ có 16% từ bột cá, phần protein còn lại được bổ sung từ bột đậu nành Sau 3 tháng nuôi, cá đạt kích thước hơn 600 g/con, tỷ lệ sống 99% và hệ số FCR= 2,51-2,59 [30]

1.2.2 Tình hình ở Việt Nam

Năm 2006, Trại Nuôi trồng Thủy sản thực nghiệm của Trường Cao Đẳng Thủy sản Bắc Ninh tại Yên Hưng – Quảng Ninh đã nhập công nghệ sản xuất giống cá chim vây vàng từ Trung Quốc Việc di nhập đàn cá bố mẹ và cho đẻ tại Yên Hưng đã khá thành công: tỷ lệ cá đẻ trung bình giữa các đợt là 87,5%, tỷ lệ thụ tinh trung bình 60%, tỷ lệ nở trung bình 80%, tỷ lệ sống từ cá bột lên cá hương trung bình đạt 30%

và đã sản xuất được 65 nghìn con giống cỡ 4 – 6 cm [3]

Năm 2009, Khoa Nuôi trồng Thủy sản thuộc Trường Đại học Nha Trang bắt đầu thử nghiệm sản xuất giống nhân tạo loài cá CVV tại Nha Trang, Khánh Hòa Cá

bố mẹ được nuôi vỗ tại các lồng đặt tại cơ sở thực nghiệm ở Vũng Ngán, trên vịnh Nha Trang Tại đây, cá bố mẹ thành thục và đẻ trứng, sau đó trứng được thu về ấp

và ương cá giống trong các bể xi măng tại trại Sản xuất giống cá Biển, tại phường Vĩnh Hòa, Nha Trang

7

Trang 8

Mặc dù, đến nay đề tài sản xuất giống cá CVV của Khoa nuôi trồng Thủy sản chưa kết thúc, nhưng đã có một số lượng con giống là sản phẩm của đề tài này được nuôi trong lồng tại trại thực nghiệm Vũng Ngán và cung cấp cho một số hộ nuôi ở vùng ven biển từ Phú Yên đến Ninh thuận Cá CVV được các hộ nuôi dưới 2 hình thức là nuôi lồng ngoài biển và nuôi trong ao đất Theo phỏng vấn từ những người nuôi thì cá có tốc độ sinh trưởng và phát triển nhanh, tỷ lệ sống tương đối cao Tuy nhiên vào những tháng giao thời giữa mùa khô và mùa mưa (khoảng tháng 7-8 dương lịch) cá nuôi trong lồng ở Vũng Ngán, Đầm Môn và cá nuôi trong ao đất ở Cam Ranh bị chết rải rác với tỷ lệ chết tích lũy lên tới 80% Những con cá bị bệnh đã bộc

lộ các dấu hiệu bên ngoài như xuất hiện các nốt phồng nhỏ dưới da, sau đó các nốt phồng này vỡ ra, trên cột sống cũng xuất hiện các khối u, đôi khi làm cơ thể cá cong

dị dạng Tuy nhiên, cho đến năm 2010, lĩnh vực nghiên cứu về bệnh ở cá CVV của Việt Nam còn bỏ ngỏ

1.3 Những loại bệnh đã được phát hiện ở cá chim vây vàng (cá CVV) nuôi và các loại cá khác

Theo nghiên cứu của Main & ctv (2007), khi nghiên cứu trên cá bố mẹ và cá

giống nuôi ngoài tự nhiên của loài cá chim Trachinotus carolinus đã phát hiện một giống tiên mao trùng -Amyloodinium ký sinh ở mang của loài cá này và khi cảm

nhiễm với cường độ cao có thể gây chết nhiều cá

Kết quả nghiên cứu Johnson & ctv (1996), Neilson & ctv (1987) và Hewitt (1971) về các loài giáp xác ký sinh trên động vât thủy sản, cho thấy có nhiều loài giáp xác bậc thấp ký sinh dài ngày trên các ký chủ như cá và chúng tác động đến sinh trưởng, khả năng sinh sản và gây tỷ lệ chết cao của các loài cá nuôi Với sự phát triển của hệ thống nuôi bán thâm canh và thâm canh ở các vùng nước lợ và nuôi biển, những bệnh do tác nhân là giáp xác ký sinh trở càng lên nghiêm trọng

Ở Trung Quốc, phía nam Hàn Quốc và Đài Loàn, bệnh cá đã bùng phát do

một loài giáp xác ký sinh là Caligus spp trên cá măng biển (Chanos chanos), rô phi vằn (Oreochromis mossambicus) và cá mú nghệ (Epinephelus awoara), cá chẽm (Lates calcarifer) và cá chim vây vàng (Trachinotus blochii) [Lavinia, 1977; Jones,

1980; Lin and Ho, 1993, 1998; Lin & ctv 1994, 1996, 1997; Choi & ctv., 1995; Wu and Pan, 1997; Ho, 2000] Một số loài khác nhau của giống Caligus đã được tìm thấy

Trang 9

bao gồm Caligus acanthopagri, C epidemicus, C orientalis, C patulus, and C rotundigenitalis (Ho 2000) [20,40,42-47,60].

Năm 2010, Lee & ctv đã có báo cáo về tác nhân vi khuẩn gây bệnh phân lập từ

cá chim vây vàng (Trachinotus blochii) và nghiên cứu đến khả năng chống chịu với

hàm lượng kim loai nặng trong môi trường nước của loài cá này Nhiều loài môi trường vi sinh đã được dùng cho nghiên cứu này như: 5% of Horse Blood agar (HBA), Tryptic Soy Agar (TSA), Mac Conkey, Thiosulphate Citrate Bile Salt (TCBS), Eosin Methylene Blue (EMB), Glutamate Starch Pseudomonas (GSP), Xylose Lysine Deoxycholate (XLD) Các chủng vi khuẩn được phân lập được đã được xác định các phản ứng sinh hóa thông thường và có sử dụng thêm bộ kis để định danh vi khuẩn Đã có một số loài vi khuẩn được phân lập từ 50 mẫu cá chim vây

vàng (Trachinotus blochii) bị bệnh, như Streptococcus spp (n = 12), Escherichia coli (n = 30), Salmonella spp (n = 20), Pseudomonas spp (n = 36), and Vibrio spp (n =

50) [41]

Kỹ thuật kháng sinh đồ cũng đã được thực hiện với 21 loại kháng sinh trên các chủng vi khuẩn đã phân lập được bằng phương pháp khuyếch tán trên đĩa thạch Với

21 loại thuốc kháng sinh được dùng [41]

Lee & ctv cũng đã thử nghiệm tác dụng của các loại ion kim loại nặng lên các chủng vi khuẩn đã phân lập được bằng phương pháp pha loãng 2 lần trên đĩa thạch Kết quả thí nghiệm đã chứng minh rằng các loài vi khuẩn này đều kháng với hầu hết các kim loại nặng đã đưa vào thử nghiệm như: thủy ngân (Hg2+), cadimi (Cd2+), crom (Cr6+), nhưng lại nhạy cảm với đồng (Cu2+) [41]

Labrie & ctv, 2008 đã tổng hợp các nghiên cứu gần đây cho thấy, có một bệnh nhiễm vi khuẩn hệ thống rất thường xuất hiện và gây tác hại cho cá CVV và một số loài cá khác nuôi ở khu vực châu Á, đó là bệnh nhiễm khuẩn Nocardiosis (Bảng 1.1)

Bảng 1.1 Xác định và chẩn đoán hiện tượng nhiễm vi khuẩn Nocardia spp

ở cá nuôi tại một số quốc gia châu Á (Labrie &ctv, 2008)

Tên khoa học của cá Cơ quan đã phân lập lượng cá Khối

(g/con)

Thời gian NC

Malaysia 10 Cá chim

vây vàng

Trachinotus blochii

Thận, gan, não, lách

15-200

12/2001-10/20059

Trang 10

4 Cá hồng

đỏ eryhtropterus Lutjanus nt 25-180 10/2005

1 Cá hồng bạc

L.argentimac ulatus

Trachinotus blochii

Mang, thận, gan và lách

Epinephelus coicoides

Indonesia 4 Cá rô phi Oreochromiss

sp Gan, lách và thận 200-700g 2005-2006Nhóm nghiên cứu này đã nhận xét rằng, cá CVV là loài rất mẫn cảm với bệnh

Nocadiosis, bệnh này gây ra do một số loài khác nhau thuộc gống vi khuẩn Nocardia spp Vi khuẩn Nocardia spp được mô tả là trực khuẩn dạng sợi, phân nhánh, Gram(+)

và kháng acid Vi khuẩn này đã được phân lập từ não, mang, gan, lách và thận của cá CVV bị bệnh thu từ nhiều quốc gia khác nhau như: 10 mẫu ở Malaysia, 14 mẫu ở Trung Quốc và Singapore Bệnh Nocardiosis ở cá CVV và một số loài cá khác đã được mô tả các dấu hiệu chính như sau: Một số nốt thương tổn xuất hiện ở da, mang

và một số nội tạng như gan, lách và thận xuất hiện các hạt trắng làm bụng cá trướng

to

Hình 1.3: Cá hồng đỏ (Lutjanus erythopterus) bị bệnh nhiễm trùng hệ thống do vi

khuẩn Nocardia spp ( Ảnh của Labrie, 2008)

a Các hạt trắng tồn tại trong lách cá bị bệnh do vi khuẩn Nocardia;

b Phồng rộp và xuất huyết ở đuôi cá bị nhiễm Nocardia

Trang 11

Từ cá bị bệnh, các tiêu bản phết đã được thực hiện với bệnh phẩm thu từ mang

và nhiều nội tạng khác nhau của cá bệnh và một loại vi khuẩn dài, phân nhánh, gram dương, kháng acid đã được phát hiện trong mô của mang, gan, lách và thận cá bệnh Tuy nhiên, nhóm tác giả này cho biết chỉ có 55% trường hợp phân lập được vi khuẩn này mặc dù các dấu hiệu bệnh lý thường biểu hiện giống nhau ở tất cả những trường hợp Bằng phương pháp mô học truyền thống kết hợp với thực hiện các phản ứng sinh hóa, các tác giả đã xác định được tác nhân gây ra loài bệnh này ở nhiều loài cá

như cá CVV (Trachinotus blochii , cá hồng đỏ (Lutjanus erythopterus), cá mú là 2

loài vi khuẩn Nocardia seriolae và N asteriodes Bằng thí nghiệm cảm nhiễm chủng

vi khuẩn Norcadia seriolae vào cá đuôi vàng khỏe, các nhà khoa học đã chứng minh rằng Nocardia seriolae là tác nhân chính gây bệnh Nocardiosis ở các loài cá này

Theo nhóm tác giả này, cá CVV nuôi ở nhiều quốc gia thuộc khu vực châu Á như Trung Quốc, Malaysia, Singapore và Indonesia đều rất mẫn cảm với bệnh Nocardiosis [38]

Khi nghiên cứu về mô bệnh học ở các mẫu cá bị bệnh Nocardiosis, Kariya & ctv.(1968); Austin và Austin (1999) thông báo rằng, bệnh nhiễm trùng hệ thống do vi

khuẩn Nocardia spp đã được đặc trưng bởi việc hình thành các vùng áp-xe ở biểu bì

và u hạt tồn tại ở mang, gan, thận và lá lách của cá bệnh [38]

11

Hình 1.4 : A vi khuẩn N seriolae bắt mầu Gram (+) dạng sợi phân nhánh khi nhuộm Gram; B vi khuẩn N seriolae bắt mầu hồng khi nhuộm Ziehl-Neelsen.(1000X)

(Ảnh của Labrie, 2008)

Hình 1.5 Biến đổi mô bệnh học trong nội tạng ở cá chim vây vàng

(Trachinotus blochii) bị bệnh Nocardiosis (Nguồn Labrie, 2008)

a Thương tổn dạng u hạt trong thận của cá bệnh với thuốc nhuộm Modified Ziehl Neelsen (File Faraco-FF), lưu ý rằng vật chất kháng acid tập trung ở vùng trung tâm của u hạt (màu hồng)

b Các thương tổn dạng u hạt quan sát được trong mô tim của cá chim vây vàng

bị bệnh với thuốc nhuộm FF.

Trang 12

1.4 Tổng quan các loại bệnh khác ở cá đã được công bố có dấu hiệu chẩn đoán

là xuất hiện các hạt đốm trắng trong nội tạng của cá bệnh

1.4.1 Những nghiên cứu đã thông báo của thế giới.

Trong số các bệnh nhiễm khuẩn ở cá đã được công bố, có nhiều loại bệnh khác nhau nhưng có chung biểu hiện bệnh lý giống như các mô tả về bệnh đốm trắng xuất hiện trong nội tạng của cá CVV đã trình bày ở mục 1

Kudo & ctv.(1988) cho rằng bệnh Nocardiosis là một trong những bệnh quan

trọng nhất đã ảnh hưởng đến nghề nuôi cá đuôi vàng (Seriola quinqueradiata) ở Nhật Bản Tác nhân gây ra bệnh này là loài vi khuẩn Nocardia seriolae, một trực khuẩn

Gram dương, kháng axít và không di động [34]

Itano và Kawakami (2002), đã kiểm tra độ nhạy kháng sinh của chủng vi

khuẩn Nocadia seriolae gây bệnh ở cá đuôi vàng cho thấy, Erythromycin (EM) có độ

nhạy cao với loài vi khuẩn này Trong khi đó những kháng sinh khác như spiramycin (SPM), chloramphenicol (CP), oxolinic acid (OX), và sulfamonomethoxine (SMM) lại bị vi khuẩn này kháng [28,29]

Tuy nhiên, sự kiểm soát bệnh Nocardiosis ở cá nuôi vẫn có khả năng thực hiện được nếu như có một lại vaccine hiệu quả được phát triển, để chống lại vi khuẩn gây bệnh này Kusuda và Nakagawa (1978) đã thử nghiệm một loại vaccine chống lại sự

lây nhiễm của N seriolae Các tác giả này đã xem xét mức độ hình thành kháng thể

đặc hiệu trong huyết thanh thông qua khả năng gây ngưng kết của huyết tương cá đã

được chủng ngừa bởi các tế bào vi khuẩn N seriolae được bất hoạt bởi formalin

(FKC) hoặc được bất hoạt bởi nhiệt (HK) Kết quả cho thấy mức độ gây ngưng kết

Trang 13

của huyết thanh ở cá được chủng ngừa tăng hơn 1000 lần so với cá không chủng ngừa [36].

Mặt khác Shimahara & ctv (2005), đã công bố rằng, cá đuôi vàng được chủng ngừa với FKC hay hỗn hợp FKC với tá dược Freund không hoàn toàn (FKC-FIA) đã không cho thấy khả năng bảo vệ nào sau khi bị cảm nhiễm vi khuẩn Nocardia, mặc

dù họ đã quan sát được sự gia tăng của hàm lượng kháng thể trong huyết thanh [55]

Mới đây, Salonius & ctv (2005), đã xem xét tính hiệu quả của nhiều dòng Nocardia khác nhau như là vaccine sống, để chống là bệnh Nocardiosis gây ra ở cá đuôi vàng Thêm vào đó, tác giả cũng tìm hiểu khả năng sống sót của cá được tiêm

vaccine sống sau đó bị cảm nhiễm bởi vi khuẩn N seriolae [54].

Năm 2006, Itano & ctv đã nghiên cứu hiệu quả của vaccine sống từ các chủng

vi khuẩn N soli, N fluminea, N uniformis tiêm vào cá đuôi vàng (Seriola quinqueradiata Để chống lại bệnh do Nocarsia seriolae gây ra ở cá đuôi vàng Kết

quả cho thấy loại vaccine này có hiệu quả sinh ra các kháng thể chống lại bệnh do vi khuẩn Nocardia serolae gây ra [29]

Năm 2005, Wang & ctv đã nghiên cứu bệnh do loài vi khuẩn Nocardia sp gây

ra ở loài cá có tên khoa học là Larimichthys crocea, nuôi tại Trung Quốc Trong 16

tháng nghiên cứu từ tháng 8 năm 2003, tác giả đã bắt gặp hiện tượng chết ở loài cá

này (Larimichthys crocea), cá bệnh có kích thước 25 – 30 cm Các dấu hiệu bệnh lý

trên cá bệnh đã được mô tả là tương tự như dấu hiệu của bệnh Nocardiosis đã được

mô tả ở cá CVV Đó là: xuất hiện các vết lo loét trên da và có các hạt trắng trong nội tạng cá Các hạt trắng có kích thước từ 0,1 – 0,2 cm nằm ở các cơ quan như thận, lách, và gan Kết quả phân lập trên môi trường TSA và quan sát trên tiêu bản lam nhuộm Lowenstein–Jensen trên kính hiển vi quang học thấy vi khuẩn ở dạng sợi mảnh và phân nhánh Tiến hành thí nghiệm cảm nhiễm với chủng vi khuẩn đã phân lập được thấy tỷ lệ chết tích lũy là 100%, sau đó phân lập lại xác định đó chính là tác nhân gây bệnh ở loài cá này Khi tiến hành chạy giải trình tự DNA và làm các phản ứng sinh hóa thông thường, các tác giả đã xác định được vi khuẩn gây bệnh có trình

tự DNA giống với vi khuẩn Nocardia seriolae đến 99,9% Và đây cũng là báo cáo đầu tiên nghiên cứu bệnh Nocardiosis trên loài cá này (Larimichthys crocea) Hình

1.5 [57, 58]

13

Trang 14

Theo Wang & ctv (2007), một loại bệnh đã xảy ra ở cá lóc (Ophiocephalus argus Cantor) nuôi trong ao tại Trung Quốc Tác nhân gây bệnh được xác định là do

vi khuẩn Nocardia sp gây ra Bệnh này đã gây ra tỷ lệ chết tích lũy trong 30 ngày là

35% (180.000 trong tổng số 500.000 con) ở đàn cá đã ở kích cỡ lớn (30 – 35cm) và

đã nuôi được 18 tháng Nhiều u hạt trắng có đường kính từ 0,1 – 0,5cm đã được tìm thấy trong các nội quan của cá bệnh như: thận, lách và gan Bệnh phẩm đã được phân lập vi khuẩn trên môi trường Ogawa (môi trường trứng gà) và môi trường TSA ở nhiệt độ 260C sau 5-7 ngày khuẩn lạc của loại vi khuẩn dạng sợi, nhỏ dài, phân nhánh, Gram (+) đã được phát hiện Khi dùng chủng vi khuẩn này để cảm nhiễm ngược trở lại cá lóc khỏe đã gây chết cá sau một tuần cảm nhiễm Bằng kỹ thuật sinh học phân tử (PCR) các tác giả đã công bố rằng chủng vi khuẩn gây bệnh ở đàn cá lóc

Trang 15

này có cấu trúc gen tương tự (99,9%) như loài vi khuẩn Nocardia seriolae Đây là

thông báo đầu tiên về bệnh Nocardiosis ở cá lóc (hình 1.6) [58]

Theo kết quả nghiên cứu Sheppard & ctv (2010), khi cá bị bệnh Nocardiosis

đã thường xuất hiện các dấu hiệu bệnh lý như: các nốt phồng rộp rồi lở loét trên thân,

và các u xương dọc theo xương sống Một số cá xuất hiện các đốm trắng nhỏ trong nội tạng cá như gan, thận, lách và đường kính của hạt trắng dao động trong khoảng 1-

2 mm Các hạt trắng này đôi khi còn bắt gặp trên màng treo ruột và bóng hơi [56]

Trên cá hồi nuôi ở châu Âu, Bệnh Piscirickettsiosis gây ra bởi loài vi khuẩn Piscirickettsia salmonis, một vi khuẩn gram âm, ký sinh nội bào bắt buộc, không thể

nuôi cấy trên môi trường tổng hợp, là vi khuẩn có nhiều hình dạng như hình cầu, hình nhẫn, thường kết cặp Vi khuẩn này được xếp vào nhóm gamma – proteobacteria

thuộc họ Piscirickettsiaceae Bệnh này được thông báo xảy ra ở các loài cá thuộc họ

cá hồi (Samonideae) nuôi ở nhiều nơi trên thế giới như Chile, Ireland, Norway, Canada và có thể gây chết tích lũy 10-90% Cá hồi khi bị bệnh Piscirickettsiosis thường thể hiện một số dấu hiệu chính như: xuất hiện những vết loét nông có xuất

huyết hay một số điểm trắng trên da, bụng sưng, giải phẫu nội tạng cho thấy lá lách

và thận sưng to, gan có nhiều u hạt trắng Tuy nhiên, những u hạt màu trắng này không thấy được mô tả trên thận và lá lách [52, 54]

Bệnh viêm thận do vi khuẩn (Bacterial kidney disease) gây ra bởi

Renibacterium salmoninarum – một vi khuẩn hình que ngắn hơi tròn (Coccobacillus)

0,5-1µm, Gram (-), không sinh bào tử, không vận động, được xem là vi khuẩn có đời sống ký sinh bắt buộc nên rất khó nuôi cấy trên môi trường tổng hợp, sau 3 tuần nuôi cấy ở 15-18oC mới mọc thành khuẩn lạc màu trắng kem đường kính 2mm Bệnh này

đã xảy ra trên cả cá hồi nước ngọt và nước mặn (Oncorhynchus spp, Salmo sp) Các

hạt màu trắng, kem đã được phát hiện ở thận, đôi khi cả gan và lá lách có hiện tượng sưng ở cá bệnh [51]

Giống Mycobacterium spp là vi khuẩn Gram (+), hình que, kháng acid cũng

được thông báo là tác nhân gây bệnh cho 151 loài cá nước ngọt và nước mặn (Nigrelli và Volgel, 1963) Cá bị bệnh này cũng đã được mô tả với biểu hiện có các u dạng hạt trắng xám ở trong hoặc trên các nội tạng đã bị sưng to như gan, thận và lá lách [5]

15

Trang 16

Ngoài vi khuẩn, ký sinh trùng thuộc nhóm thích bào tử trùng (Myxobolidae)

khi ký sinh ở các cơ quan nội tạng như gan, thận, lá lách của cá cũng tạo nên những đốm trắng với nhiều kích thước khác nhau Những đốm trắng này khi ép vỡ sẽ chảy

ra dịch trắng sữa, kiểm tra bằng kính hiển vi đã cho thấy sự tồn tại dày đặc của các bào tử

Edwardsiella tarda là vi khuẩn gây bệnh Edwardsiellosis, đã gây bệnh ở nhiều

loài cá khác nhau Ở các loài cá khác nhau, bệnh này đã gây ra những dấu hiệu bệnh

lý không giống nhau Khi cá nheo Mỹ (Ictalurus sp) bị bệnh gây ra do Edwardsiella tarda có bộc lộ những đốm trắng nhỏ trên da ở phần đuôi, từ đó vết thương tổn có thể

tạo thành vết loét sâu vào trong cơ, kèm theo hiện tượng xuất huyết hoại tử lỏng với mùi hôi đặc trưng do vi khuẩn có khả năng sinh H2S tạo ra Tuy nhiên, ở cá trình nhật

bản (Anguilla japonica) khi bị bệnh này lại thường gây ra những u hạt sáng màu

trong các cơ quan nội tạng Những u hạt màu trắng chứa đầy vi khuẩn xuất hiện ở

mang, thận, gan, lá lách của loài cá striped bass do nhiễm khuẩn Edwardsiella tarda

cũng đã được mô tả [22]

Theo Liu P.C & ctv (2003), cá giò (Rachycentron canadum) với khối lượng

khoảng 3 kg/con nuôi tại Đài Loan đã xảy ra hiện tượng chết với tỷ lệ cao Cá bị bệnh

đã thể hiện các dấu hiệu chính là tồn tại các u hạt màu trắng ở thận, gan và lách, đặc

biệt gặp ở thận Vi khuẩn Photobacterium damsela,tlà một loài trực khuẩn, Gram (-),

không vận động đã được xác nhận là tác nhân gây ra bệnh Photobacteriosis mãn tính

ở cá giò gần trưởng thành và chủng vi khuẩn này có thể gây ra dạng bệnh cấp tính ở

cá giò giai đoạn còn nhỏ (< 1kg/con) Độc lực của loài Photobacterium damsela đối

với cá giò (cobia) đã được xác định với giá trị LD50=1,03x 104 cfu/ml [47]

Theo Kei Yuasa (2003), cá tra (Pangasius hypophthalmus) nuôi ở Indonesia

đã bị bệnh đốm trắng ở gan thận, bệnh xuất hiện lần đầu vào tháng 2/ 2002, tại 2 nông trại nuôi cá ở miền trung Sumatra, gây chết 50-100% cá nuôi trong 2 tuần Cá bệnh đã bộc lộ các dấu hiệu bệnh như: mang nhợt nhạt, bụng sưng to, xuất huyết ở gốc vây và xung quanh hậu môn, giải phẫu nội tạng cho thấy gan, lá lách và tiền thận

có nhiều đốm trắng với đường kính 1-2mm Từ gan, thận của cá bệnh người ta đã phân lập được một dạng vi khuẩn hình que, gram (-), kích thước thay đổi từ 1,2-15mm, có khả năng di động nhưng yếu ở 25oC, không di động ở 37oC Các phản ứng

Ngày đăng: 31/03/2015, 10:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Cá chim vây vàng - BÁO CÁO  ĐỀ TÀI NHÁNHNGHIÊN CỨU BỆNH ĐỐM TRẮNG NỘI TẠNG CỦA CÁ CHIM VÂY VÀNG (Trachinotus blochii) NUÔI BẰNG LỒNG TẠI VŨNG NGÁN, NHA T
Hình 1.1 Cá chim vây vàng (Trang 5)
Hình 1.2: Bản đồ phân bố cá chim vây vàng trên thế giới - BÁO CÁO  ĐỀ TÀI NHÁNHNGHIÊN CỨU BỆNH ĐỐM TRẮNG NỘI TẠNG CỦA CÁ CHIM VÂY VÀNG (Trachinotus blochii) NUÔI BẰNG LỒNG TẠI VŨNG NGÁN, NHA T
Hình 1.2 Bản đồ phân bố cá chim vây vàng trên thế giới (Trang 6)
Bảng 1.1. Xác định và chẩn đoán hiện tượng nhiễm vi khuẩn Nocardia  spp - BÁO CÁO  ĐỀ TÀI NHÁNHNGHIÊN CỨU BỆNH ĐỐM TRẮNG NỘI TẠNG CỦA CÁ CHIM VÂY VÀNG (Trachinotus blochii) NUÔI BẰNG LỒNG TẠI VŨNG NGÁN, NHA T
Bảng 1.1. Xác định và chẩn đoán hiện tượng nhiễm vi khuẩn Nocardia spp (Trang 9)
Hình 1.3: Cá hồng đỏ (Lutjanus erythopterus) bị bệnh nhiễm trùng hệ thống do vi - BÁO CÁO  ĐỀ TÀI NHÁNHNGHIÊN CỨU BỆNH ĐỐM TRẮNG NỘI TẠNG CỦA CÁ CHIM VÂY VÀNG (Trachinotus blochii) NUÔI BẰNG LỒNG TẠI VŨNG NGÁN, NHA T
Hình 1.3 Cá hồng đỏ (Lutjanus erythopterus) bị bệnh nhiễm trùng hệ thống do vi (Trang 10)
Hình 1.4 : A vi khuẩn N. seriolae bắt mầu Gram (+) dạng sợi phân nhánh khi nhuộm  Gram; B vi khuẩn N - BÁO CÁO  ĐỀ TÀI NHÁNHNGHIÊN CỨU BỆNH ĐỐM TRẮNG NỘI TẠNG CỦA CÁ CHIM VÂY VÀNG (Trachinotus blochii) NUÔI BẰNG LỒNG TẠI VŨNG NGÁN, NHA T
Hình 1.4 A vi khuẩn N. seriolae bắt mầu Gram (+) dạng sợi phân nhánh khi nhuộm Gram; B vi khuẩn N (Trang 11)
Hình 1.5. Biến đổi mô bệnh học trong nội tạng ở cá chim vây vàng - BÁO CÁO  ĐỀ TÀI NHÁNHNGHIÊN CỨU BỆNH ĐỐM TRẮNG NỘI TẠNG CỦA CÁ CHIM VÂY VÀNG (Trachinotus blochii) NUÔI BẰNG LỒNG TẠI VŨNG NGÁN, NHA T
Hình 1.5. Biến đổi mô bệnh học trong nội tạng ở cá chim vây vàng (Trang 11)
Hình 1.7: Cá lóc (Ophiocephalus - BÁO CÁO  ĐỀ TÀI NHÁNHNGHIÊN CỨU BỆNH ĐỐM TRẮNG NỘI TẠNG CỦA CÁ CHIM VÂY VÀNG (Trachinotus blochii) NUÔI BẰNG LỒNG TẠI VŨNG NGÁN, NHA T
Hình 1.7 Cá lóc (Ophiocephalus (Trang 14)
Hình 1.6: Loài cá Larimichthys crocea - BÁO CÁO  ĐỀ TÀI NHÁNHNGHIÊN CỨU BỆNH ĐỐM TRẮNG NỘI TẠNG CỦA CÁ CHIM VÂY VÀNG (Trachinotus blochii) NUÔI BẰNG LỒNG TẠI VŨNG NGÁN, NHA T
Hình 1.6 Loài cá Larimichthys crocea (Trang 14)
Hình 1.8: Mang bết dính và hạt - BÁO CÁO  ĐỀ TÀI NHÁNHNGHIÊN CỨU BỆNH ĐỐM TRẮNG NỘI TẠNG CỦA CÁ CHIM VÂY VÀNG (Trachinotus blochii) NUÔI BẰNG LỒNG TẠI VŨNG NGÁN, NHA T
Hình 1.8 Mang bết dính và hạt (Trang 14)
Hình 1.9: Các hạt trắng xuất hiện - BÁO CÁO  ĐỀ TÀI NHÁNHNGHIÊN CỨU BỆNH ĐỐM TRẮNG NỘI TẠNG CỦA CÁ CHIM VÂY VÀNG (Trachinotus blochii) NUÔI BẰNG LỒNG TẠI VŨNG NGÁN, NHA T
Hình 1.9 Các hạt trắng xuất hiện (Trang 14)
Hình 1.11. Vi khuẩn  Clostridium là trực khuẩn G(+),có nội bào tử (A); có tiên  mao (C); có xâm nhập nội bào (B) (Ảnh của Lý Thị Thanh Loan, 2007) - BÁO CÁO  ĐỀ TÀI NHÁNHNGHIÊN CỨU BỆNH ĐỐM TRẮNG NỘI TẠNG CỦA CÁ CHIM VÂY VÀNG (Trachinotus blochii) NUÔI BẰNG LỒNG TẠI VŨNG NGÁN, NHA T
Hình 1.11. Vi khuẩn Clostridium là trực khuẩn G(+),có nội bào tử (A); có tiên mao (C); có xâm nhập nội bào (B) (Ảnh của Lý Thị Thanh Loan, 2007) (Trang 18)
Hình 2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu của đề tài - BÁO CÁO  ĐỀ TÀI NHÁNHNGHIÊN CỨU BỆNH ĐỐM TRẮNG NỘI TẠNG CỦA CÁ CHIM VÂY VÀNG (Trachinotus blochii) NUÔI BẰNG LỒNG TẠI VŨNG NGÁN, NHA T
Hình 2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu của đề tài (Trang 22)
Hình  2.2 : Sơ đồ khối mô tả các bước thực hiện khi nghiên - BÁO CÁO  ĐỀ TÀI NHÁNHNGHIÊN CỨU BỆNH ĐỐM TRẮNG NỘI TẠNG CỦA CÁ CHIM VÂY VÀNG (Trachinotus blochii) NUÔI BẰNG LỒNG TẠI VŨNG NGÁN, NHA T
nh 2.2 : Sơ đồ khối mô tả các bước thực hiện khi nghiên (Trang 25)
Hình 2.3: Quy trình nghiên cứu mô bệnh học ở cá xương - BÁO CÁO  ĐỀ TÀI NHÁNHNGHIÊN CỨU BỆNH ĐỐM TRẮNG NỘI TẠNG CỦA CÁ CHIM VÂY VÀNG (Trachinotus blochii) NUÔI BẰNG LỒNG TẠI VŨNG NGÁN, NHA T
Hình 2.3 Quy trình nghiên cứu mô bệnh học ở cá xương (Trang 27)
Hình 2.4. Sơ đồ bố trí thí nghiệm cảm nhiễm ngược vào cá chim vây vàng khỏe đợt I - BÁO CÁO  ĐỀ TÀI NHÁNHNGHIÊN CỨU BỆNH ĐỐM TRẮNG NỘI TẠNG CỦA CÁ CHIM VÂY VÀNG (Trachinotus blochii) NUÔI BẰNG LỒNG TẠI VŨNG NGÁN, NHA T
Hình 2.4. Sơ đồ bố trí thí nghiệm cảm nhiễm ngược vào cá chim vây vàng khỏe đợt I (Trang 29)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w