1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vào Hoa KỳThực trạng và giải pháp

42 355 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 789 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

 Phạm vi nghiên cứu của đề tài là: Hoạt động xuất khẩu hàng thuỷ sản của Việt Nam. Kết cấu của đề tài gồm 3 phần: PhầnI: Cơ sở lí luận về hoạt động xuất khẩu Phần II: Thực trạng hoạt đ

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Trong điều kiện toàn cầu hóa và khu vực hóa của đời sống kinh tế thế giới của thế kỷ 21, không một quốc gia nào có thể phát triển nền kinh tế của mình mà không tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế và khu vực Điều đó không ngoại trừ đối với Việt Nam, để thực hiện nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng nền kinh tế, Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ VIII tiếp tục khẳng định đường lối đổi mới và mở cửa nền kinh tế, thực hiện chiến lược CNH-HĐH hướng mạnh vào xuất khẩu.

Để tăng xuất khẩu trong thời gian tới, Việt Nam chủ trương kết hợp xuất khẩu những mặt hàng mà đất nước có lợi thế tương đối (những mặt hàng xuất khẩu truyền thống: hàng nông lâm thủy sản, khoáng sản, hàng giầy dép và dệt may) và một số mặt hàng có hàm lượng kỹ thuật công nghệ cao bao gồm: ôtô, xe máy, hàng điện tử và dịch vụ phần mềm

Hàng thủy sản là mặt hàng xuất khẩu truyền thống của Việt Nam trong thời gian qua đã gặt hái được sự thành công rực rỡ Từ mức kim ngạch xuất khẩu là 550,6 triệu USD vào năm 1995, đã tăng lên mức 4.25 tỉ USD vào năm 2009, , chiếm khoảng 8% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam và là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn trong các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta trong nhiều năm vừa qua Thị trường xuất khẩu thủy sản đã và đang được mở rộng đáng kể, thủy sản của Việt Nam đã chiếm được vị trí quan trọng trong thị trường nhập khẩu thuỷ sản của thế giới.

Thị trường Hoa kỳ là thị trường quan trong trong việc xuất khẩu thủy sản của Việt Nam Tuy nhiên xuất khẩu thuỷ sản sang Hoa Kỳ trong thời gian qua còn nhiều bất cập và khó khăn Để góp phần giúp ngành thuỷ sản ngày càng phát triển

vươn xa ra các nước trên thế giới và tháo gỡ những khó khăn này: Đề tài “ Xuất

khẩu thuỷ sản của Việt Nam vào Hoa Kỳ:Thực trạng và giải pháp” đã được lựa

chọn làm đề tài nghiên cứu.

 Mục đích nghiên cứu của đề tài là: Thúc đẩy xuất khẩu hàng thuỷ sản của Việt Nam vào thị trường Mỹ.

Trang 3

 Phạm vi nghiên cứu của đề tài là: Hoạt động xuất khẩu hàng thuỷ sản của Việt Nam.

 Kết cấu của đề tài gồm 3 phần:

PhầnI: Cơ sở lí luận về hoạt động xuất khẩu

Phần II: Thực trạng hoạt động xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam vào Hoa Kỳ Phần III: Một số giải pháp nhăm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu thủy sản

Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ

Mặc dù đã có nhiều cố gắng song do trình độ còn hạn chế nên đề tài nghiên cứu này không thể tránh khỏi nhứng thiếu sót Vì vậy em mong nhận được sự chỉ bảo góp ý của thầy cô và bạn bè để em có thể hoàn thành tốt hơn.

Em xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Trần Việt Lâm đã nhiệt tình hướng dẫn em

để em hoàn thành đề tài này.

Trang 4

PHẦN I

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU THỦY SẢN

I-Hoạt động xuất khẩu thủy sản

1.Khái niệm và ý nghĩa

1.1.Khái niệm

Xuất khẩu là một trong những hình thức kinh doanh quan trọng nhất , nó phảnánh quan hệ thương mại , buôn bán giữa các quốc gia trong phạm vi khu vực và thếgiới Cùng với hình thức kinh doanh nhập khẩu , hình thức kinh doanh xuất khẩu làhoạt động kinh tế cơ bản của một quốc gia , nó là “chiếc chìa khoá” mở ra nhữnggiao dịch kinh tế quốc tế cho một quốc gia , tạo ra nguồn thu chi ngoại tệ chủ yếucủa một nước khi tham gia vào hoạt động kinh tế quốc tế

Kinh doanh xuất nhập khẩu cũng chính là một hoạt động kinh doanh quốc tếđầu tiên của một doanh nghiệp Hoạt động này được tiếp tục ngay cả khi doanhnghiệp đã đa dạng hoá các hoạt độnh kinh doanh của mình

Kinh doanh xuất nhập khẩu thường diễn ra các hình thức sau : Xuất khẩu hành hoáhữu hình , hàng hoá vô hình (dịch vụ) ; xuất khẩu trực tiếp do chính các doanh nghiệpsản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu đảm nhận ; xuất khẩu gián tiếp (hay uỷ thác) do cácdoanh nghiệp sản xuất kinh doanh , tổ chức kinh doanh trung gian đảm nhận Gắn liềnvới xuất khẩu hàng hoá hữu hình , ngày nay xuất khẩu dịch vụ rất phát triển

1.2 Ý nghĩa của xuất khẩu.

1.2.1 Ý nghĩa lý luận.

Xuất khẩu khai thác hiệu quả lợi thế tuỵêt đối , lợi thế tương đối của đất nước

và kích thích các ngành kinh tế phát triển , góp phần tăng tích luỹ vốn, mở rộng sảnxuất, tăng thu nhập cho nền kinh tế, cải thiện từng bước đời sống nhân dân

Xuất khẩu cho phép tập trung năng lực sản xuất cho những mặt hàng truyềnthống được thế giới ưa chuộng hay những mặt hàng tận dụng được những nguyênliệu có sẵn trong nước hay nước khác không làm được hoặc làm được nhưng giáthành cao Thông qua hoạt động xuất khẩu đã thúc đẩy phát triển quanhệ đối ngoại

Trang 5

với tất cả các nước nhất là với các nước trong khu vực Đông Nam á , nâng cao uytín của Việt Nam trên trường Quốc tế

Thông qua hoạt động xuất khẩu, ban bè trên thế giới biết đến hàng hoá củaViệt Nam

1.2.2 Ý nghĩa thực tiễn.

Xuất khẩu góp phần không nhỏ vào giải quyết công ăn việc làm mới chongười lao động đồng thời tác động tích cực đến trình độ tay nghề cũng như nhậnthức về công việc của công nhân làm hàng xuất khẩu

Xuất khẩu thúc đẩy các ngành kinh tế phát triển nhất là các ngành có tiềmnăng về xuất khẩu

Xuất khẩu làm tăng giữ trữ ngoại tệ cho Quốc gia, làm tăng tổng thu nhậpQuốc dân

Xuất khẩu cũng có thể cho các doanh nghiệp Việt Nam học hỏi được kinhnghiệm của quốc tế trong kinh doanh

2.Những nội dung chủ yếu

2.1.Một số lý luận cơ bản về thương mại hàng thủy sản

2.1.1 Mặt hàng thủy sản:

Mặt hàng thủy sản bao gồm các loại như: cá, tôm, cua, mực, sò huyết… chúngsống ở ao, hồ, biển, …và được dùng như một loại thực phẩm giàu chất dinh dưỡng.Mặt hàng thủy sản có những đặc điểm chung sau đây:

- Rất đa dạng về chủng loại: tôm, cá, mực…và có thể chế biến được nhiều loạithực phẩm có giá trị

- Có giá trị kinh tế cao

- Có giá trị dinh dưỡng cao

- Sinh trưởng và phát triển phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên

- Là mặt hàng khó bảo quản tươi sống, mau hỏng

- …

Ở mỗi nước, tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, nguồn lợi thủysản và những điều kiện cho phát triển sản xuất, chế biến, xuất khẩu hàng thủy sản

Trang 6

có những điểm riêng biệt Ở Việt Nam, những lợi thế này có thể kể đến như:

Việt Nam có điều kiện tự nhiên thuận lợi: diện tích biển, ao, hồ… lớn nên vềchủng loại thì mặt hàng thủy sản ở Việt Nam rất đa dạng và phong phú

Biển Việt Nam có khả năng tái tạo sinh học cao của vùng sinh thái nhiệt đới

và môi trường biển còn tương đối sạch do đó thủy sản được đánh giá là an toàn chosức khỏe

Thuỷ sản Việt Nam có nhiều lại có giá trị kinh tế cao như tôm hùm, sò huyết,

cá ngừ…

Tuy nhiên cũng có một số loài mang tính chất ven biển chiếm 65 %, sống rải rác,phân tán và có đặc điểm chung là kích cỡ nhỏ, cá tạp nhiều, và biến động theo mùa vụ.-Chu kỳ sinh sống của các loài cá biển Việt Nam tương đối ngắn, từ 3 đến 4 năm và cótốc độ sinh trưởng tương đối nhanh Chính vì vậy mà chiều dài các loài cá kinh tế ởbiển nước ta hầu hết chỉ dài khoảng 15 đến 20 cm, cỡ lớn nhất đạt 75 đến 80 cm

2.1.2 Đặc điểm thương mại hàng thủy sản

Với những đặc thù về hàng thủy sản, thương mại hàng thủy sản có những đặctrưng sau:

Số lượng hàng cho xuất khẩu thủy sản sang các quốc gia không phải tùy thuộcvào ý muốn của con người mà phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên (nguồn lợi tựnhiên, điều kiện thời tiết, khí hậu…) Điều kiện tự nhiên thuận lợi thì sản lượngthủy sản nuôi trồng, đánh bắt có thể gia tăng, từ đó tạo tiền đề gia tăng sản lượngthủy sản dành cho xuất khẩu

Việc nuôi trồng và chế biến thủy sản có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống củangười dân, đến những khía cạnh kinh tế, xã hội… do đó chính phủ các nuớc thương

có những chính sách tạo điều kiện thuận lợi để phát triển thương mại hàng thủy sản Thương mại ngành thủy sản không chỉ phải tuân thủ những quy định trongnước mà còn phải tuân thủ các quy định khác nhau từ các quốc gia khác nhau Vìvậy, trong điều kiện hiện nay, để gia tăng quy mô, kim ngạch xuất khẩu thì từ việcsản xuất đến chế biến thủy sản phải đảm bảo chất lượng

Trang 7

-Xuất khẩu thủy sản không chỉ phụ thuộc vào các sản phẩm có trong nước,những lợi thế về điều kiện tự nhiên mà còn phụ thuộc nhiều vào nhu cầu về thủy sảncủa nước ngoài.

- Xuât hàng ts khẩu hủy sản thế giới thời gian qua có tốc độ tăng trưởng cao donhu cầu và đòi hỏi ngày càng lớn từ các nước phát triển như EU, Mỹ, Nhật

- Ngoài rào cản về thuế quan thì thương mại hàng thủy sản còn chịu ảnh hưởngnhiều của các biện pháp phi thuế quan, các biện pháp liên quan đến vệ sinh an toànthực phẩm

2.2 Vai trò của ngành thủy sản trong nền kinh tế quốc dân

Thủy sản là một ngành kinh tế- kỹ thuật đặc trưng gồm có các lĩnh vực: khaithác, nuôi trồng, chế biến, cơ khí hậu cần, dịch vụ thương mại, là một trong nhữngngành kinh tế biển quan trọng của đất nước Sản xuất kinh doanh thủy sản dựa trênkhai thác có hiệu quả, lâu bền nguồn lợi thủy sinh, tiềm năng các vùng nước, do vậy

có mối liên ngành rất chặt chẽ với sản xuất nông nghiệp, vận tải, dầu khí, hải quan Xuất phát từ tiềm năng thiên nhiên to lớn, vai trò quan trọng của ngành thủysản trong sự phát triển kinh tế- xã hội, nhất là trong 20 năm qua, với tốc độ pháttriển kinh tế nhanh chóng về sản lượng và giá trị xuất khẩu Ngành kinh tế thủy sảnngày càng được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn và là một trong những hướng

ưu tiên của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay

Ngành thủy sản được xác định là giữ vai trò quan trọng trong sự phát triểnkinh tế- xã hội của đất nước, bởi vì nó khai thác và phát triển một trong nhữngnguồn tài nguyên có thể tái sinh của đất nước

2.2.1 Đóng góp của ngành thủy sản trong tổng sản phẩm quốc dân

Theo số liệu thống kê, GDP của Việt Nam năm 2008 ước tính khoảng1808.692 tỷ đồng Điều này tương ứng với mức GDP tính theo đầu người vàokhoảng gần 1000 đôla Mỹ

Nghề nuôi trồng thủy sản từ tự cung tự cấp đã đáp ứng được nhu cầu cho tiêudùng trong và ngoài nước, đáng kể là sản lượng tôm nuôi phục vụ xuất khẩu củanước ta đứng vào khoảng thứ 4 trên thế giới; thủy sản xuất khẩu cũng đã được xác

Trang 8

định là đối tượng chủ yếu để phát triển nuôi trồng.

Công nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu mà chủ yếu là công nghiệp đônglạnh thủy sản, với 164 cơ sở với tổng công suất là 760 tấn/ngày đã đóng vai trò tolớn hàng đầu về công nghiệp chế biến thực phẩm trong cả nước và thu hút nguyênliệu để sản xuất hàng hóa xuất khẩu

Sự đóng góp đáng kể của khoa học công nghệ, trước hết phải kể đến kỹ thuậtsinh sản nhân tạo để tạo nguồn tôm giống vào cuối những năm 80, cung cấp hơn 1

tỷ tôm giống các cỡ Trong công nghiệp đánh cá, dần dần tạo ra các công nghệ đểchuyển dịch cơ cấu nghề khai thác theo hướng hiệu quả cao, du nhập nghề mới từnước ngoài để có thể vươn ra khai thác xa bờ

Hoạt động hợp tác quốc tế trên cả ba mặt: thị trường xuất khẩu, nguồn vốnnước ngoài và chuyển giao công nghệ đều đạt những kết quả khích lệ Từ cơ chế “lấy phát triển xuất khẩu để tự cân đối, tự trang trải, tạo vốn đầu tư cho khai thác vànuôi trồng “, qua các thời kỳ, Nhà nước thực hiện chính sách mở cửa đến nay, sảnphẩm thủy sản nước ta đã có mặt tại hơn 134 nước và vùng lãnh thổ với một số sảnphẩm bắt đầu có uy tín trên các thị trường quốc tế

Dự tính toàn bộ sự đóng góp của ngành thủy sản đối với nền kinh tế quốc dân

sẽ tăng tư mức hiện nay lên 7,8tỉ USD vào năm 2020 Tỷ trọng tương ứng củangành thủy sản trong GDP sẻ giảm do có sự tăng trưởng mạnh trong các ngành kháccủa nền kinh tế Song sự đóng góp của ngành thủy sản đối với ổn định xã hội và antoàn quốc gia là quan trọng vì tiềm năng phân phối thu nhập của ngành thủy sản ởcác vùng nông thôn Một bộ phận dân cư ở nông thôn, thường là các vùng nghèovẫn tiếp tục sống dựa vào nghề cá và nuôi trồng thủy sản, bao gồm cả thiểu số ởvùng cao

2.2.2.Vai trò của ngành thủy sản đối với hoạt động xuất khẩu

Nếu trong GDP, ngành thủy sản đóng góp tương đối thì ngành đã có sự bùđắp lại bởi sự đóng góp mạnh mẽ vào kim ngạch xuất khẩu cả nước Kim ngạchxuất khẩu thủy sản nước ta qua các năm đã không ngừng tăng lên, điều đó thể hiện

rõ nét qua bảng số liệu sau:

Trang 9

Bảng 1: Kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam qua một số năm

Nguồn: Tổng cục Hải Quan.

Qua bảng số liệu trên đây ta thấy rằng: kim ngạch xuất khẩu thủy sản nước

ta đã tăng rất đáng kể qua các năm Từ năm 2005 đến 2009, giá trị xuất khẩu thủysản tăng 1511.3 triệu USD, hay tăng 65,04% đóng vai trò là một trong nhữngmặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong một số năm qua và trong nhiềunăm tiếp theo

Giá trị xuất khẩu thủy sản các năm qua đã đóng góp một phần không nhỏ vàotổng kim ngạch xuất khẩu cả nước Từ năm 2005 đến 2009, năm nào kim ngạchxuất khẩu thủy sản cũng tăng (ngoại trừ năm 2009 do ảnh hưởng của cuộc khủnghoảng hoảng suy thoái kinh tế)

2.2.3 Vai trò của ngành thủy sản trong việc tạo công ăn việc làm

Công nghiệp đánh bắt và nuôi trồng thủy sản đảm bảo việc làm thường xuyêncho khoảng 3 triệu lao động, đặc biệt là từ năm 2005, số lao động thủy sản là 3,03triệu người Khoảng 3,8 triệu người sống trong các hộ gia đình làm nghề đánh bắt

và nuôi trồng thủy sản Như vậy, khoảng 6,8 triệu người chiếm 8,7% dân số sốngphụ thuộc vào ngành thủy sản như một nguồn sinh sống

Tổng số lao động có thu nhập từ đánh bắt và nuôi trồng thủy sản cũng như từcác ngành và các hoạt động hỗ trợ thủy sản ước tính lên tới 8 triệu người Ngoài ra,đánh bắt và nuôi trồng thủy sản còn đảm bảo việc làm không thường xuyên và thunhập phụ cho hơn 20 triệu người

Theo dự tính, số lao động trong ngành thủy sản năm 2010 sẽ là 10 triệu người

Trang 10

(trong đó: khai thác hải sản khoảng 420.000 người, nuôi trồng thủy sản khoảng559.364 người, chế biến thủy sản: 58.768 người, lao động dịch vụ nghề cá khoảng1.991.868 người) Hơn nữa, thu nhập trực tiếp của những người lao động thườngxuyên trong nghề cá và nuôi trồng thủy sản dự tính sẽ tăng trung bình 16%/nămtrong thời gian nêu trên Trên 1,2 triệu người trong các hộ gia đình phụ thuộc vàonghề cá và nuôi trồng thủy sản sẽ có thêm thu nhập vào năm 2010 Điều đó cónghĩa là số dân được ngành thủy sản hỗ trợ sẽ tăng 3 triệu người.

3.Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu thủy sản

3.1 Yếu tố kinh tế:

Trong đó có yếu tố kinh tế vĩ mô và yếu tố kinh tế vi mô

Yếu tố kinh tế vĩ mô là tình trạng kinh tế của mỗi quốc gia, nếu nền kinh tếcủa một quốc gia đang ở trong giai đoạn suy thoái về kinh tế hoặc đang có lạm phátthì sẽ ảnh hởng đến quá trình mua sắm của ngời dân nước đó, chính sách kinh tế đốingoại của nhà nước, chính sách tài chính tiền tệ của nước đó cũng ảnh hởng rấtnhiều đến xuất nhập khẩu, khi chinh phủ duy trì tỷ giá hối đoái cao tức là hạ giáđồng tiền của nước mình xuống sẽ tạo ra một lực kích thích xuất khẩu và hạn chếnhập khẩu ngược lại nếu nhà nước áp dụng tỷ giá hối đoái thấp thì sẽ kích thíchhàng nhập khẩu nước ngoài vào thị trờng trong nước

Yếu tố kinh tế vi mô, đó là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp của các nướckhác nhau cùng kinh doanh trên thị trờng nước ngoài, mỗi quốc gia đều có nhữnglợi thế cạnh tranh khác nhau, dựa vào đó các doanh nghiệp sẽ sản xuất ra những mặthàng có khả năng cạnh tranh khác nhau

3.2 Địa lý và khí hậu:

Mỗi khu vục địa lý khác nhau có đặc điểm khí hậu khác nhau do vậy khôngthể đem những hàng hoá được tiêu dùng bình thường ở một nước nhiệt đới sangmột nướccó khí hậu ôn đới mà phải có kỹ thuật và công nghệ sản xuất ra những sảnphẩm phù hợp với điều kiện khí hậu nước mà ta muốn xuất khẩu hàng hoá sang.Khoảng cách địa lý quá xa cũng ảnh hưởng nhiều đến chi phí vận tải, chi phí này sẽlàm tăng giá hàng hoá lên từ đó có thể làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm thủy

Trang 11

sản xuất khẩu so với các nước có khoảng cách gần hơn.

3.3 Chính trị và pháp luật:

Quan hệ chính trị giữa hai quốc gia có ảnh hưởng quyết định đến hoạt độngxuất nhập khẩu giữa hai nước, nếu hai quốc gia có hiệp định song phơng thì việctrao đổi hàng hoá giữa hai nước sẽ đợc tiến hành thuận lợi hơn so với các nớc khác.Hơn nữa nếu nắm chắc được các quy định pháp luật của quốc gia mà mình xuấtkhẩu vào sẽ thuận lợi rất nhiều trong việc giải quyết các tranh chấp thương mại, cácdoanh nghiệp có thể dựa vào vốn hiểu biết của mình về pháp luật để kinh doanhmột cách hiệu quả nhất Mỗi quốc gia có hệ thống pháp luật riêng do đó sẽ cónhững điểm trái ngược nhau giữa nước này với nước kia trong các quy định của luậtpháp

3.4 Yếu tố văn hoá:

Khi kinh doanh trên thị trường quốc tế sẽ có nhiều điểm khác biệt về văn hoá,một hành động có thể nói là rất lịch sự ở nước này có thể là một hành động khiếmnhã ở nước khác, do vậy cần lưu ý vấn đề này đặc biệt là ở những nước có nền vănhoá đặc thù

Ngoài ra các yếu tố như công nghệ, hệ thống phân phối cũng ảnh hưởng khôngnhỏ đến thị trường xuất khẩu của một nước

II-Tổng quan về các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam

1.Những lợi thế của ngành thủy sản nước ta

Việt Nam có bờ biển dài 3260 km, 112 cửa sông lạch, vùng đặc quyền kinh tếrộng khoảng 1triệu km2 với 4000 hòn đảo lớn nhỏ tạo nên, nhiều eo, vịnh, vụng,đầm, phá và nhiều ngư trường, trữ lượng hải sản gần 3 triệu tấn Thềm lục địa nước

ta rộng hơn 1 triệu km2 (gấp 3 lần diện tích đất liền), diện tích mặt nước 1triệu km2,trong đó diện tích khai thác đạt 553.000 km, nhưng hiện tại mới chỉ khai thác đượckhoảng 65% nguồn lực hải sản cho phép

Tiềm năng phát triển nuôi trồng thủy sản nước ta rất lớn với 1,4 triệu ha mặtnước nội địa, 300.000 ha bãi triều, 400.000 ha hồ chứa, sông suối, 600.000 ha ao hồnhỏ ruộng trũng, có thể đưa vào sử dụng để nuôi trồng thủy sản Năng suất nuôi

Trang 12

trồng thủy sản mới chỉ bằng 10%- 25% năng suất của các nước trong khu vực.Theo Bộ Thủy sản, Việt Nam có trên 2000 loài cá, trong đó có khoảng 100 loài

có giá trị kinh tế cao Bước đầu đánh giá trữ lượng cá biển trong vùng thềm lục địakhoảng trên 4 triệu tấn Khả năng khai thác hàng năm khoảng 1,67 triệu/năm Tìnhhình cụ thể của các loài cá:

-Cá tầng đáy: 856.000 tấn, chiếm 51,3%

-Cá nổi nhỏ: 694.000 tấn, chiếm 41,5%

-Cá nổi đại dương (chủ yếu là cá ngừ): 120.000 tấn, chiếm 7,2%

Trong đó, phân bố trữ lượng và khả năng khai thác giữa các vùng như sau:-Vịnh Bắc Bộ: trữ lượng: 681.166 tấn, khả năng khai thác: 271.467 tấn (chiếm16,3%)

Biển Trung Bộ: trữ lượng: 606.399 tấn, khả năng khai thác 242.560 tấn(chiếm14,3%)

Biển Đông Nam Bộ: trữ lượng: 2.075.889 tấn, khả năng khai thác: 830.456 tấn(chiếm 49,3%)

Biển Tây Nam Bộ: trữ lượng: 506.679 tấn, khả năng khai thác: 202.272 tấn(chiếm 12,1%)

Nhìn chung khả năng phát triển ngành thủy sản nước ta rất lớn bởi mỗi vùng

có những tiềm năng đặc thù và sản vật đặc sắc riêng Việt nam có một số vùng sinhthái đất thấp, đặc biệt là đồng bằng song Cửu Long, ở mỗi và châu thổ sông Hồng,nơi có thể đưa nước mặn vào rất sâu tạo ra một vùng nuôi nước lợ hoặc nuôi trồngthuỷ hải sản kết hợp với trồng lúa và các hợp đồng canh tác nông nghiệp khác rộnglớn gần 1 triệu ha Trong hệ sinh thái này có thể tiến hành các hợp đồng nuôi trồngthuỷ hải sản vừa có chất lượng cao vừa có giá thành hạ mà các hệ thống canh táckhác không thể có những lợi thế cạnh tranh đó được Lợi thế này đặc biệt phát huythế mạnh trong cạnh tranh với hệ thống nuôi trồng công nghiệp khi giá cả thuỷ sảntrên thị trường thế giới ở mức thấp nhất là mặt hàng tôm

Việt Nam chưa phát triển nuôi trồng thuỷ sản công nghiệp nên còn nhiều tiềmnăng đất đai để phát triển nuôi mà không ảnh hưởng đến môi trường sinh thái Việc

Trang 13

đưa thành công kỹ thuật nuôi hải sản trên các vùng cát ven biển đã mở ra một tiềmnăng và triển vọng mới cho việc phát triển vùng nuôi tôm và các hải sản khác theophương thức nuôi công nghiệp.

Việt Nam có nhiều lao động và nguồn nhân lực còn ít được đào tạo, sẽ thíchhợp cho những lợi thế khởi điểm mang tính tĩnh khi dùng loại lao động này tronglĩnh vực phát triển nuôi trồng và chế biến thuỷ sản

Chính nhờ những lợi thế trên mà ngành thuỷ sản Việt nam trở thành một trongnhững ngành kinh tế mũi nhọn và thế mạnh của kinh tế nước ta Trong những nămqua ngành thuỷ sản đã đạt được tốc độ phát triển cao, ổn định và mức tăng tổng sảnlượng thuỷ sản bình quân hàng năm trên 4% , giá trị kim ngạch xuất khẩu bình quânchiếm 10% đến 15% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt nam hàng năm Xuấtkhẩu thuỷ sản không ngừng tăng lên hàng năm Mặt khác cơ cấu sản phẩm xuấtkhẩu rất phong phú: mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt nam là tôm các loại như:tôm hùm, tôm càng xanh, tôm sú, tôm bạc có giá trị xuất khẩu cao và chiếm hơnmột nửa tổng kim ngạch xuất khẩu, mực và cá chiếm 17% và 15,2% trong tổng kimngạch xuất khẩu Thị trường nhập khẩu thuỷ sản của Việt nam là các nước EU,Châu Á và Mỹ, trong đó Mỹ đang là thị trường mục tiêu mà chúng ta hướng vàonhất là sau khi hiệp định thương mại Việt- Mỹ được thông qua, cơ hội cho các ngànhxuất khẩu của Việt nam đưa hàng vào thị trường Mỹ trong đó có thuỷ sản ngày càngđược mở rộng Tuy nhiên Việt nam không phải là đối tác duy nhất của Mỹ, xuất khẩuthuỷ sản sang Mỹ có nhiều đối thủ cạnh tranh với ta như: Indonesia, Canada, TrungQuốc…thị phần thuỷ sản Việt nam trên thị trường Mỹ còn rất khiêm tốn Đó là mộtđòi hỏi, thách thức rất lớn đối với nhà hoạch định chiến lược của Việt nam

2.Sự phát triển của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam

2.1.Tổng quan về các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam

Trong mạng lưới các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam,Tổng công tythủy sản Việt Nam là doanh nghiệp hàng đầu với tổng doanh số 9867,5 tỉ dồngtrong đó xuất khẩu là 278 triệu USD chiếm 12,3% kim ngạch xuất khẩu toàn ngành

Trang 14

năm 2008.Trong số 14 đơn vị thành viên của tổng công ty tham gia xuất khẩu có4đơn vị đạt giá trị kim ngạch xuất khẩu cao la :Công ty xuất nhập khẩu thủy sảnMiền Trung :87 triêu USD,Công ty xuất nhập khẩu thủy sản dặc sản 58 triệu USD,công ty kinh doanh va xuất nhập khẩu thủy sản Minh Hải 45 triệu USD va công tyxuất nhập khẩu thủy sản Hà Nội 25 triệu USD.Đạt được kết quả khả quan trên cácđơn vị thành viên có nỗ lực rất lớn trong đầu tư đổi mới công nghệ tân dụng thời cơthị trường mùa vụ Mặt hàng chế biến của công ty đã có mặt ở trên 30 quốc gia trênthế giới đặc biệt ở thị trường Hoa Kỳ đạt tăng trưởng cao so với năm trước.Tổngsản lượng thủy sản xuất khẩu của Tổng công ty năm 2008 là 58000 tấn tăng 30%

so với cùng kì năm ngoái Với hàng chục mặt hàng mẫu mã đa dạng

Ngoài ra còn có 28 doanh nghiệp khác có kim ngạc xuất khẩu hơn 10triệuUSD trong đó có mười doanh nghiệp dẫn đầu

Như vậy ngoài Tổng công ty thủy sản Việt Nam và các đơn vị thành viên ,cáccông ty xuất nhập khẩu thủy sản lớn của Việt Nam la: công ty thủy sản XNK tổnghợp Sóc Trăng , Xị nghiệp chế biến thủy sản Cần Thơ….măc dù con nhiều vấn đềcần phải giải quyết nhưng các công ty đã cố gắng thích ứng dần với mội trườngquốc tế đạt được vị trí nhất định trên thị trường thủy sản thế giới Các công ty đã đạtđược điều đó bằng việc cung cấp các sản phẩm xuất khẩu thủy sản tương đối phongphú và đa dạng(hầu như mọi dạng sản phẩm thủy sản ) ra khắp thị trường thủy sảnlớn của thế giới như Nhật Bản , Hoa Kỳ, EU

Với sự chuyện dịch cơ cấu thị trường xuất khẩu thủy sản ,năm 2006 Việt Namđược công nhận vào danh sách 1 các nước xuất khẩu sang EU với 86 doanh nghiệpđồng thời cũng được EU công nhận vào danh sách 1 các nước xuất khẩu nhuyễn thể

2 mãnh vỏ Còn đối với thị trường Hoa Kỳ nước ta hiện có 182 doanh nghiệp đủdiều kiện xuất khẩu thủy sản vào thị trường này

2.2.Sự phát triển của doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản

Năm 1998, khi xuất khẩu gạo đạt 1 tỷ USD, thì tổng xuất khẩu tất cả các loạitôm, cá mới chỉ ở mức chưa được phân nửa Nhưng sự thay đổi đã diễn ra rấtnhanh trong những năm tiếp theo Đến 2008, riêng xuất khẩu cá đã lên đến gần 2 tỷ

Trang 15

USD, vượt xa các loại hàng hóa khác và đua với gạo

Theo báo cáo của Tổng cục Hải quan Việt Nam, 9 tháng đầu năm 2010, ViệtNam đã xuất khẩu trên 969.200 tấn thủy sản, đạt trên 3,5 tỷ USD, tăng 10,9% so vớicùng kỳ năm 2009 Với đà này, tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản 2010 có thể đạt4,5 tỷ USD như dự kiến, tăng so với mức 4,2 tỷ USD năm ngoái Các vụ kiện cáo,

áp thuế chống bán phá giá kéo dài nhiều năm tại các thị trường Âu, Mỹ, Nhật tuy gây bất lợi, nhưng nhờ kiên trì theo đuổi, đấu tranh nên xuất khẩu thủy sản vẫntăng trưởng

Năm nay, doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam gặp nhiều khó khăn từnguồn nguyên liệu, đến thị trường tiêu thụ nhưng xuất khẩu các mặt hàng chínhsang các thị trường đều tăng trưởng khá Ngoài các thị trường truyền thống, các thịtrường không truyền thống cũng đột ngột tăng mạnh, đáng kể là Nga, Trung Đông

và Nam Mỹ Việt Nam có được cơ hội vàng này là do một số nước xuất khẩu thủysản lớn như Ấn Độ, Thái Lan mất mùa và sự cố tràn dầu tại vịnh Mexico đã khiếnnhiều ngư trường tại khu vực này phải đóng cửa

Như vậy, chỉ trong vòng 9 năm (2000-2009), riêng xuất khẩu cá tra và ba sa đãtăng 930 lần về sản lượng và 560 lần về kim ngạch Diện tích nuôi năm 2008 là6.160ha, cung cấp sản lượng cá hơn 1,1 triệu tấn, xuất khẩu hơn 1,4 tỷ USD Tínhbình quân 1ha nuôi đạt sản lượng 183 tấn, cung cấp cho chế biến 103 tấn thànhphẩm và xuất khẩu đạt giá trị 234.000 USD Chưa có một ngành nào trong nôngnghiệp tạo ra được năng suất cao đến mức này và cũng không có ngành hàng xuấtkhẩu nào của Việt Nam đạt mức tăng trưởng cao như vậy liên tục trong nhiều năm.Chính lợi nhuận cao đã tạo nên cơn sốt đầu tư Sản lượng cá nuôi ở Đồng bằngsông Cửu Long năm 2008 tăng gấp 12 lần so với năm 1995 Chỉ 5 năm từ 2003 đến

2008, số nhà máy chế biến thủy sản tăng 2,3 lần, công suất thiết kế tăng 2,7 lần,hàng loạt dịch vụ phục vụ cho ngành cá khai trương, số nhà máy chế biến thức ăntăng 3,5 lần về số lượng và công suất

Trang 16

PHẦN II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU THỦY SẢN

VIỆT NAM VÀO THỊ TRƯỜNG HOA KỲ

I.Khái quát thị trường thủy sản Hoa Kỳ

1.1.Đặc điểm nhu cầu thủy sản của thị trường Hoa Kỳ

Thị trường Mỹ luôn là môt thị trường hấp dẫn không chỉ đối với các nước châu

Á (trong đó có Việt Nam) mà còn là mục tiêu của nhiều nước trong các châu lụckhác.Trong số các thị trường tiêu thụ sản phẩm thuỷ sản của Việt Nam thì Mỹ là thịtrường khá rộng lớn và giàu tiềm năng đứng thứ 3 trong số thị trường nhập khẩuthủy sản lớn nhất Việt Nam, chỉ đứng sau Nhật Bản, EU Nước Mỹ với hơn 300triệu dân, thu nhập bình quân đầu người vào loại cao nhất thế giới, đời sống vật chấtcủa người dân Mỹ ở mức rất cao nên nhu cầu về các loại thực phẩm là rất lớn cả về

số lượng và chất lượng, trong đó đặc biệt là nhu cầu về sản phẩm thuỷ sản Sức muacủa người dân Mỹ lớn, giá cả ổn định, mặt hàng chất lượng càng cao, càng đắt giáthì lại càng dễ tiêu thụ

Biểu 1 : Thị trường xuất khẩu thủy sản chính Việt Nam

Trang 17

1.1.1 Về nhu cầu thủy sản:

Khi đời sống lên cao thì nhu cầu về thủy sản của người dân Mỹ cũng tănglên Hàng năm, số lượng thủy sản mà người dân Mỹ tiêu thụ là rất lớn và rất nhiềuchủng loại khác nhau Tuy ngành thủy sản trong nước của Mỹ vẫn phát triển rấtmạnh mẽ nhưng vẫn chưa đủ để đáp ứng được nhu cầu của người dân trong nước,

do đó hàng năm Mỹ phải nhập khẩu thủy sản từ các quốc gia khác với số lượnglớn để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng trong nước Nghiên cứu sức mua hàng nămđược tiến hành với 1.170 người tiêu dùng ở Mỹ cho thấy, 28% người tiêu dùngthường xuyên mua thủy sản và 52% người tiêu dùng thỉnh thoảng mua thủy sản đểcải thiện thói quen ăn uống của mình Ngoài ra, ở độ tuổi khác nhau, người tiêudùng cũng có cái nhìn khác nhau về lợi ích của thủy sản 40% người tiêu dùng ở

độ tuổi 65 và trên 65 thích ăn thủy sản, trong khi đó chỉ có 16% người tiêu dùng ở

độ tuổi 18 đến 24 thích ăn thủy sản

Biểu 2

1.1.2.Yêu cầu về chủng loại thủy sản:

Nhu cầu thủy sản của người dân Mỹ là rất lớn, và họ đòi hỏi sự đa dạng củacác chủng loại thủy sản, một số loại thủy sản điển hình được người dân Mỹ ưachuộng và tiêu dùng nhiều nhất là tôm, cá phile, cá ngừ, cá basa, cá bơn lưỡingựa…trong đó tôm vẫn được tiêu dùng nhiều nhất

1.1.3.Yêu cầu về chất lượng thủy sản:

Thị trường Mỹ cũng là một thị trường khá khắt khe và khó tính trong nhập

Trang 18

khẩu thủy sản Một sản phẩm thuỷ sản phải đạt tiêu chuẩn về mẫu mã, chất lượng,

độ an toàn thực phẩm và hàm lượng chất dinh dưỡng thì mới có đủ khả năng xuấthiện và cạnh tranh trên thị trường Mỹ Nếu không có đủ tất cả các yêu cầu về chấtlượng, chủng loại thì sản phẩm đó sẽ bị các sản phẩm của các hãng khác cạnh tranhloại bỏ, hoặc bị chính người tiêu dùng Mỹ tẩy chay, khả năng tồn tại và phát triểncủa sản phẩm đó là rất khó khăn Đó là về phía những người tiêu dùng còn về phíaChính phủ Mỹ cũng có rất nhiều những qui định đặt ra cho các sản phẩm thuỷ sảnnhập khẩu Khi đưa sản phẩm thuỷ sản vào thị trường Mỹ, chúng ta phải quan tâm

và hiểu được hệ thống pháp luật của Mỹ Hệ thống luật của Mỹ khá phức tạp, chặtchẽ và mới lạ đối với các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam Vì vậy nếu khôngnghiên cứu tìm hiểu rõ thì các doanh nghiệp sẽ phải gánh chịu những thua thiệt

nặng nề trong kinh doanh Có thể đơn cử một số luật: i) Luật chống độc quyền đưa

ra các chế tài hình sự khá nặng đối với những hành vi độc quyền hoặc cạch tranhkhông lành mạnh trong kinh doanh, cụ thể là phạt tiền đến 1 triệu USD đối với các

công ty,100.000 USD hoặc tù 3 năm đối với cá nhân; ii) Luật về trách nhiệm đối với sản phẩm, theo đó người tiêu dùng bị thiệt hại có thể kiện nhà sản xuất về mức bồi thường thiệt hại quy định gấp nhiều lần thiệt hại thực tế; iii) Luật liên bang và các tiểu bang của Mỹ được áp dụng cùng một lúc trong lĩnh vực thuế kinh doanh

đòi hỏi ngoài việc nắm vững luật của tiểu bang mà các doanh nghiệp có quan hệkinh doanh còn phải nắm vững luật của Liên bang nữa Vì vậy có thể nói chưa có sựphù hợp cao giữa việc xuất khẩu hàng thuỷ sản Việt Nam với yêu cầu nhập khẩucủa thị trường Mỹ

1.2 Các thể chế của Mỹ đối với thuỷ sản nhập khẩu

Cơ quan thực phẩm và dược phẩm Hoa kỳ (FDA) là một cơ quan của Bộ Y tế

(DHHS) và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng (PHS) Tất cả các thực phẩm phải đượcsản xuất phù hợp với các tiêu chuẩn của Cơ quan thực phẩm và dược phẩm Hoa kỳ.FDA chịu trách nhiệm về an toàn thực phẩm (trừ thịt, thịt gia cầm, trứng sấy khô vàđông lạnh, các loại đồ uống có cồn, thuốc lá, mỹ phẩm, dược phẩm, các chế phẩmsinh học, các dụng cụ y tế và các sản phẩm X-quang) FDA có nhiệm vụ đảm bảo

Trang 19

rằng các thực phẩm nhập vào Mỹ phải là các sản phẩm an toàn, sạch, không độchại, đúng nhãn mác với đầy đủ các thông tin về sản phẩm FDA đã triển khai một sốchương trình an toàn thực phẩm Năm 1994, FDA đề xuất các quy định về Hệ thốngđiểm kiểm soát tới hạn và phân tích mối nguy (HACCP) ngành cá ở Mỹ và từ khi

có đạo luật về thị trường nông nghiệp năm 1946, NMFS cung cấp dịch vụ giámđịnh chuyên ngành tự nguyện Chương trình giám định sản phẩm thuỷ sản củaNMFS cung cấp một loạt các dịch vụ giám định chuyên ngành nhằm đảm bảo sựtuân thủ các quy định áp dụng đối với thực phẩm Hơn nữa, cơ quan này còn cungcấp các dịch vụ chứng thực, phân loại và đánh giá chất lượng sản phẩm

Ngoài ra còn có các quy định khác liên quan đến hàng thuỷ sản nhập khẩu:

Luật thực phẩm: Các thực phẩm nhập khẩu vào Mỹ không chỉ là đối tượng

chịu thuế nhập khẩu mà còn phảI đáp ứng các tiêu chuẩn về chất lượng và phẩm cấp

để đảm bảo cung cấp thực phẩm an toàn

Đạo luật chống khủng bố sinh học năm 2002 (BTA) Việc ban hành đạo luật

này tạo điều kiện cho FDA phản ứng nhanh chóng trước các nguy cơ khủng bố và

ra các báo hiệu khẩn cấp liên quan đến việc cung cấp thực phẩm Đạo luật này quyđịnh rằng FDA và Hải quan cửa khẩu (CBP) có thể cấm nhập các thực phẩm nhậpkhẩu không đăng ký theo quy định và các sản phẩm không có đủ những thông tincần thiết FDA và CBP đã ban hành hướng dẫn thực hiện trong đó giải thích các cơquan chức năng làm thế nào để thực thi các quy định này Theo bản hướng dẫn,trong tám tháng đầu thực hiện, các cơ quan chức năng tập trung vào việc đào tạohướng dẫn cho các bên có liên quan thay vì từ chối tiếp nhận các lô hàng không đạtyêu cầu Đạo luật bắt đầu có hiệu lực từ 12/8/2004 và được áp dụng rộng rãi

Luật về nhãn hiệu hàng hóa ở Mỹ tồn tại nhiều quy định do các cơ quan chức

năng khác nhau ban hành nhằm bảo vệ lợi ích của các chủ sở hữu về nhãn hiệu, tênthương mại, tác quyền và sáng chế Đạo luật về Nhãn hiệu năm 1946 cấm nhậpkhẩu những sản phẩm làm nhái theo những thương hiệu đã được đăng ký tại Hoa

kỳ, hoặc gây tương tự đến mức gây nhầm lẫn Đạo luật Thuế quan năm 1930 chophép các cơ quan hảI quan Mỹ cấm nhập các sản phẩm từ nước ngoàI mang nhãn

Trang 20

hiệu đã đựơc các tổ chức, công dân Mỹ đăng ký tại Hoa kỳ Các quy định của Mỹcũng cho phép các chủ sở hữu những đối tượng như nhãn hiệu hàng hóa và tác giảnộp đơn xin bảo hộ tại cơ quan có thẩm quyền và nộp phí đăng ký theo quy định.

Hệ thống đăng ký quốc gia Hoa kỳ Có hai đạo luật quy định về chức năng cơ

bản của hệ thống đăng ký quốc gia và phạm vi ban hành các quy phạm pháp luậtliên quan là Đạo luật về đăng ký toàn liên bang và Đạo luật về các thủ tục hànhchính Đạo luật về về các thủ tục hành chính ban hành năm 1934 thiết lập một hệthống đồng bộ các quy định cho các cơ quan quản lý hành chính, còn Đạo luật đăng

ký toàn liên bang ban hành năm 1946 đã bổ sung những yêu cầu quan trọng áp dụngcho Hệ thống đăng ký liên bang

Các yêu cầu về dán nhãn hàng hóa Về nguyên tắc, tất cả các sản phẩm phải

được kiểm tra và dán nhãn đáp ứng các quy định và điều luật tương thích Theo Đạoluật về Thực phẩm, Dược phẩm và Mỹ phẩm toàn liên bang (FD&C Act), mỗi nhãnhiệu thực phẩm phải chứa đựng các thông tin cụ thể, dễ nhận biết mà các kháchhàng bình thường cũng có thể đọc và hiểu theo những điều kiện thông thường khimua và sử dụng Tất cả các thực phẩm phải có nhãn hiệu bằng tiếng Anh, chứađựng các thông tin về thành phần, dinh dưỡng, cách sử dụng, giá trị chuẩn khi sửdụng hàng ngày, nước xuất xứ, tên và địa chỉ của nhà sản xuất hoặc nhà nhập khẩuv.v… bằng tiếng Anh

Các quy định về phụ gia thực phẩm Các phụ gia thực phẩm phải được kiểm

duyệt trước khi đưa ra thị trường Trước khi chào bán một loại thực phẩm hoặc phụgia tạo màu vào thị trường Mỹ, nhà sản xuất phải nộp đơn yêu cầu lên FDA để đượcphê duyệt Một đơn xin phê duyệt về thực phẩm hoặc phụ gia tạo màu phải có cácbằng chứng thuyết phục rằng chất phụ gia đó thực sự có tác dụng như dự kiến FDAsau đó dựa trên cơ sở tiến bộ khoa học hiện có sẽ quyết định chuẩn thuận nếu chấtphụ gia đó an toàn theo các điều kiện sử dụng đã được đề xuất

II.Thực trạng xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường Hoa kỳ

1.Cơ cấu mặt hàng thủy sản tại thị trường Hoa Kỳ

Cơ cấu mặt hàng thuỷ sản nhập khẩu vào Hoa Kỳ rất đa dạng bao gồm những

Trang 21

mặt hàng chủ yếu sau:

1.Tôm

Mặt hàng này được tiêu thụ với khối lượng lớn do dân chúng Hoa Kỳ ưa thíchnhất Từ năm 2000 đến năm 2009, nước này nhập khẩu khoảng 3,1 tỷ USD mỗinăm, 50% khối lượng được nhập từ châu Á

Nhập khẩu vào thị trường Hoa Kỳ tăng mạnh vào 6 tháng cuối năm

2 Cá nước ngọt, phi lê tươi và đông lạnh

Hoa Kỳ có nhu cầu lớn về cá da trơn nước ngọt trắng như cá Ba sa (Pangenushypoththalmus), cá tra (Pargasius bocunti) tương tự với loài cá nheo Hoa Kỳ gọi làCatfooh Cá ba sa và cá tra xuất khẩu sang Hoa Kỳ chủ yếu từ các quốc gia:Guyana, Braxin, Thái Lan, Canada và Việt Nam Trong đó nhập khẩu từ Việt Namchiếm 80%

3 Tôm hùm tươi sống và ướp lạnh

Hoa Kỳ là thị trường tiêu thụ tôm hùm lớn nhất thế giới Người dân hiện ưachuộng tôm hùm sống hoặc ướp đá, nhu cầu về mặt hàng này luôn ở mức cao

4 Cá ngừ nguyên con và ướp lạnh

Từ năm 1990 Hoa Kỳ phải nhập khẩu cá ngừ Năm 2008 Hoa Kỳ nhập khẩu530.000 tấn cá ngừ nguyên liệu trị giá 1305 triệu USD để cứu hàng loạt nhà máyđóng hộp cá ngừ khỏi nguy cơ phá sản

5 Cá ngừ đóng hộp

Mặc dù là nước có công nghệ đóng hộp cá ngừ mạnh nhất thế giới, nhưnghang nawm Hoa Kỳ vẫn phải nhập cá ngừ để đáp ứng nhu cầu trong nước

6 Cá hồi nguyên con tươi và ướp lạnh

Hoa Kỳ đứng thứ 2 thế giới về khai thác cá hồi với sản lượng 550 tấn nămnhưng người tiêu dùng trong nước rất ưa chuộng cá hồi Đại Tây Dương nuôi nhântạo ở Nauy, Canada và Chi Lê nên mỗi năm họ phải nhập khẩu 60.000 tấn cá hồi trịgiá 280 triệu USD

7 Điệp tươi và ướp lạnh

Hoa Kỳ là nước tiêu thụ điệp tươi lớn thứ 3 thế giới sau Trung Quốc và Nhật Bản

Ngày đăng: 31/03/2015, 10:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam qua một số năm - Xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vào Hoa KỳThực trạng và giải pháp
Bảng 1 Kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam qua một số năm (Trang 9)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w