1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển. Nghiên cứu thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam

46 756 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 257,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thêm vào đó, hiện tượng FDI đầu tư mạnh vàocác lĩnh vực bất động sản, sân golf và các dự án công nghiệp nặng có nguy cơ ô nhiễm cao đang dấy lên làn sóng cần phải xem xét lại vai trò của

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU

Phần I MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ FDI 1

1/ Quan niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài 1

1.1Quan niệm quốc tế 1

1.2 Quan niệm của Việt Nam 1

2/ Các hình thức FDI: 2

PHẦN II VAI TRÒ CỦA NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN 3

1/ Vai trò của nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển 3

2/ Những tác động tiêu cực của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến các nước đang phát triển: 5

PHẦN III THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 7

TẠI VIỆT NAM 7

1/ Đôi nét về cơ sở pháp lý cho hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 7

2/ Kết quả thu hút và sử dụng vốn FDI tại Việt Nam 8

2.1 Tình hình thu hút vốn ĐTNN đăng ký từ 1988-2007: 8

2.1.1 Cấp phép đầu tư từ 1988 đến 2007: 8

2.1.2 Tình hình tăng vốn đầu tư (1988-2007): 10

2.1.3 Quy mô dự án : 11

2.1.4 Cơ cấu vốn ĐTNN từ 1988 đến 2007: 11

2.2 Tình hình triển khai hoạt động sản xuất kinh doanh của các dự án ĐTNN 20

2.2.1 Vốn giải ngân ĐTNN từ 1988 đến 2007: 20

2.2.2 Triển khai hoạt động sản xuất-kinh doanh của dự án ĐTNN : 21

2.2.3 Rút Giấy phép đầu tư, giải thể trước thời hạn: 23

Trang 2

3/ Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến Việt Nam 24

3.1 Mặt tích cực: 24

3.2 Mặt hạn chế: 30

4/ Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế của khu vực ĐTNN 32

4.1 Nguyên nhân của những thành tựu: 32

4.2 Về nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 33

5/ Bài học kinh nghiệm: 34

6/ Các giải pháp chủ yếu: 36

KẾT LUẬN 41

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 42

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Bất kỳ một nền kinh tế nào, muốn phát triển, tăng trưởng nhanh chóng

và bền vững, trước hết phải đáp ứng nhu cầu về vốn Chính vì lẽ đó, người tacho rằng, vốn có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, không chỉ đóng vai trò như là yếu

tố mở đầu, yếu tố tham gia, yếu tố điều chỉnh mà còn là yếu tố quyết định đốivới mọi quá trình sản xuất từ hình thái kinh tế đơn giản nhất đến hình tháikinh tế hiện đại, tinh vi và phức hợp nhất Điều đó không chỉ đúng đối với cácnước phát triển mà còn đúng đối với các nước đang phát triển

Từng nguồn vốn cho phát triển đều được hình thành từ nguồn vốn trongnước, tức từ bản thân nền kinh tế tạo ra và huy động được, và nguồn vốn từbên ngoài, thông qua các hình thức vay nợ và viện trợ, đầu tư trực tiếp nướcngoài …

Nguồn vốn có từ trong nước là chủ yếu nhưng đồng thời nguồn vốn bênngoài là rất quan trọng, bên cạnh vốn bằng tiền còn có nguồn vốn về sức laođộng, đất đai và công nghệ … Hơn nữa, bất kỳ sự tăng trưởng cơ bản nào vẫnxuất phát từ nội lực, nhưng các nguồn tài chính nước ngoài đóng góp rấtnhiều cho tăng trưởng ở các nước đang phát triển, đặc biệt ở thời kỳ đầu cấtcánh Lợi ích mang lại của các nguồn tài chính nước ngoài không chỉ ở quy

mô về vốn thu nhận được mà chính là ở vai trò tác động lan tỏa của nó khichuyển giao và tiếp nhận công nghệ hiện đại, kể cả công nghệ vào thế hệ đờichót, nhằm thúc đẩy năng lực cạnh tranh trong nước, cải thiện cơ sở hạ tầng

và tạo sức ép cải thiện về thể chế

Cho đến nay, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã được nhìn nhận như

là một trong những “trụ cột” tăng trưởng kinh tế Việt Nam Vai trò của FDIđược thể hiện rất rõ qua việc đóng góp vào các yếu tố quan trọng của tăngtrưởng như bổ sung nguồn vốn đầu tư, đẩy mạnh xuất khẩu, chuyển giao côngnghệ, phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm,… Ngoài ra, FDI cũng đóng

Trang 4

góp tích cực vào tạo nguồn thu ngân sách và thúc đẩy Việt Nam hội nhập sâurộng vào nền kinh tế thế giới Nhờ có sự đóng góp quan trọng của FDI màViệt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong nhiều năm qua vàđược biết đến là quốc gia phát triển năng động, đổi mới, thu hút được sự quantâm của cộng đồng quốc tế.

Bên cạnh những đóng góp tích cực, FDI cũng đã và đang tạo nhiều vấn

đề ảnh hưởng tiêu cực đến tính bền vững của tăng trưởng và chất lượng cuộcsống của người dân Gần đây, đã xuất hiện hàng loạt vấn đề gây bức xúc dưluận xã hội, trong đó nổi bật là chất lượng FDI thấp, thiếu tính bền vững, ônhiễm môi trường trầm trọng Thêm vào đó, hiện tượng FDI đầu tư mạnh vàocác lĩnh vực bất động sản, sân golf và các dự án công nghiệp nặng có nguy cơ

ô nhiễm cao đang dấy lên làn sóng cần phải xem xét lại vai trò của FDI trongbối cành phát triển mới của Việt Nam Chính vì vậy Tôi đã mạnh dạn lựachọn đề tài: “Vai trò của nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với tăngtrưởng kinh tế ở các nước đang phát triển Nghiên cứu thực trạng đầu tư trựctiếp nước ngoài ở Việt Nam” làm đề tài tiểu luận môn học Kinh tế Phát triểnvới hy vọng góp phần giải quyết những hạn chế, vướng mắc trong quản lý, sửdụng nguồn vốn FDI ở Việt Nam đồng thời hướng tới việc tối đa hóa hiệu quả

sử dụng vốn trong đầu tư phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Trang 5

Phần I MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ FDI 1/ Quan niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.1 Quan niệm quốc tế

Quan niệm của IMF: FDI là một khoản đầu tư với những quan hệ lâu dài,theo đó một tổ chức trong một nền kinh tế thu được lợi ích lâu dài từ mộtdoanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác

Quan niệm của UNCTAD: FDI bao gồm vốn được cung cấp ( trực tiếphoặc thông qua các công ty liên quan khác) bởi nhà đầu tư trực tiếp nướcngoài cho các doanh nghiệp FDI, hoặc vốn mà nhà đầu tư trực tiếp nướcngoài nhận được từ doanh nghiệp FDI

Quan niệm của các nhà kinh tế quốc tế: FDI là người sở hữu tại nước nàymua hoặc kiểm soát một thực thể kinh tế của nước khác Đó là một khoản tiền

mà nhà đầu tư trả cho một thực thể kinh tế của nước ngoài để có ảnh hưởngquyết định đối với thực thể kinh tế ấy hoặc tăng thêm quyền kiểm soát trongthực thể kinh tế ấy

Quan niệm của OECD: Một doanh nghiệp đầu tư trực tiếp là một DN có

tư cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân trong đó nhà đầu tư trựctiếp sở hữu ít nhất 10% cổ phiếu thường hoặc có quyền biểu quyết Điểm mấuchốt của đầu tư trực tiếp là chủ định thực hiện quyền kiểm soát công ty

1.2 Quan niệm của Việt Nam

Sự thay đổi quan niệm về FDI của Việt Nam:

Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987: Đầu tư nước ngoài là việc tổ chức, cánhân nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tàisản nào được Chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ

sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100%vốn nước ngoài

Trang 6

Luật đầu tư nước ngoài năm 1996: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhàđầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào đểtiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật này.

Luật đầu tư năm 2005: Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoàiđưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hànhhoạt động đầu tư Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốnđầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư

Trang 7

PHẦN II VAI TRÒ CỦA NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở

CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN

Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong một vài thập kỷ trước đã đóng một vaitrò quan trọng đối với tăng trưởng thương mại và dòng vốn quốc tế Đầu tưtrực tiếp nước ngoài hầu hết là Bắc Mỹ, Châu Âu và Nhật Bản (Nhưng cũngđang ngày càng tăng từ các nước công nghiệp mới như Hàn Quốc, Đài Loan

và Brazil) mang đến cơ hội đặc biệt, nhưng có thể tạo ra những vấn đềnghiêm trọng cho nhiều nước đang phát triển nơi chúng hoạt động

1/ Vai trò của nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển.

Theo lý thuyết tân cổ điển truyền thống và lý thuyết tăng trưởng mới phântích những nhân tố tác động tới tăng trưởng kinh tế thì FDI được coi là cách

bù đắp thiếu hụt giữa nguồn cung sẵn có trong nước về tiết kiệm, ngoại tệ,nguồn thu của Chính phủ, và kỹ năng vốn nhân lực với nhu cầu cần thiết đểđạt mục tiêu tăng trưởng và phát triển Một ví dụ đơn giản của việc phân tích

“khoảng cách tiết kiệm - đầu tư”, mô hình tăng trưởgn cơ bản của Domar cho rằng có mối quan hệ trực tiếp giữa tỷ lệ tiết kiệm của một nước s,với tăng trưởng sản phẩm g, thông qua công thức g=s/k, trong đó k là hệ số tưbản-đầu ra Nếu tốc độ tăng trưởng sản lượng mong muốn là 7% hàng năm và

Harrod-hệ số tư bản - đầu ra là 3 thì tỷ lệ tiết kiệm cần thiết phải là 21% Nếu tiếtkiệm trong nước chỉ huy động được khoảng 16% GDP, thì khoảng cách tiếtkiệm” là 5% Nếu nước đó có thể bù đắp sự thiếu hụt này bằng nguồn tàichính nước ngoài (hoặc là tư nhân hoặc là công cộng) thì nó có khả năng đạtđược mục tiêu tăng trưởng kinh tế

Trang 8

Do đó, sự đóng góp đầu tiên và thường xuyên của đầu tư nước ngoài tưnhân cho sự phát triển đất nước là vai trò của nó trong việc bù đắp sự thiếuhụt giữa nhu cầu đầu tư và tiết kiệm có thể huy động trong nước.

Sự đóng góp thứ hai, cũng tương tự như thứ nhất, là sự đóng góp của nótrong việc bù đắp thiếu hụt giữa yêu cầu ngoại tệ để đạt mục tiêu và nguồnngoại tệ có được từ thu nhập xuất khẩu cộng với viện trợ nước ngoài Cái nàyđược gọi là ngoại tệ hoặc thiếu hụt thương mại Luồng vốn vào của tư nhânnước ngoài không chỉ làm giảm một phần hoặc toàn bộ thâm hụt cán cân tàikhoản vãng lai mà còn có thể hoạt động để loại bỏ thâm hụt theo thời giannếu các doanh nghiệp do nước ngoài sở hữu có thể tạo ra thu nhập dương từxuất khẩu

Thiếu hụt thứ ba được bù đắp bằng đầu tư nước ngoài là khoảng cách giữamục tiêu thu thuế của Chính phủ và thuế thu được từ trong nước Bằng việcđánh thuế lợi nhuận của các công ty đa quốc gia (MNC) và đóng góp tài chínhcho các hoạt động trong nước của họ, Chính phủ của các nước đang phát triểncho rằng có thể huy động nguồn lực tài chính cho các dự án phát triển

Thứ tư là khoảng cách về quản lý, tính doanh nghiệp, công nghệ và kỹnăng được giả định là có thể một phần hoặc toàn bộ bù đắp bởi sự hoạt độngcủa các công ty nước ngoài tại địa phương Các công ty đa quốc gia không chỉcung cấp nguồn tài chính và nhà máy mới cho các nước nghèo, mà họ còncung cấp “ một gói” các nguồn lực cần thiết, bao gồm kinh nghiệm quản lý,khả năng kinh doanh, kỹ năng công nghệ mà có thể chuyển giao cho các đốitác của họ tại địa phương thông qua các chương trình đào tạo và quá trình họcthông qua làm Hơn nữa, theo lý lẽ này, các công ty đa quốc gia có thể đào tạocác nhà quản lý địa phương về làm thế nào để thiết lập mối liên hệ với cácngân hàng nước ngoài, phân bổ các nguồn cung cấp khác nhau, đa dạng hóamạng lưới thị trường, và làm quen với các hoạt động marketing quốc tế Cuốicùng, các MNC mang đến những kiến thức công nghệ hiện đại nhất về quá

Trang 9

trình sản xuất trong khi chuyển giao thiết bị và máy móc hiện đại cho cácnước đang phát triển nghèo vốn Người ta giả thiết rằng một số kiến thức này

sẽ rò rỉ ra ngoài nơi các kỹ sư và nhà quản lý có thể bắt đầu các công ty riêngcủa họ Sự chuyển giao kiến thức, kỹ năng và công nghệ này được cho là điềumong muốn và hiệu quả cho các quốc gia nhận đầu tư

2/ Những tác động tiêu cực của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến các nước đang phát triển:

- Mặc dù đầu tư trực tiếp nước ngoài cung cấp về vốn, nhưng nó có thểlàm giảm tiết kiệm trong nước và tỷ lệ đầu tư bằng cách giảm cạnh tranhthông qua những hiệp định sản xuất độc quyền với Chính phủ nước nhận đầu

tư, không tái đầu tư nguồn lợi nhuận của họ, tạo ra thu nhập trong nước chonhững nhóm dân cư có xu hướng tiết kiệm thấp và cản trở việc mở rộngnhững công ty bản địa mà có thể cung cấp sản phẩm trung gian bằng cáchnhập khẩu những sản phẩm này từ các công ty con ở nước ngoài MNC còntăng tỷ lệ vốn trong nước tại các nước đang phát triển; và điều này có thể dẫntới làm giảm vốn đầu tư của các công ty trong nước

- Mặc dù tác động bên ngoài của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là làmtăng ngoai tệ của các quốc gia nhận đầu tư, nhưng tác động dài hạn có thể làmgiảm thu nhập ngoại tệ trên cả tài khoản vãng lai và tài khoản vốn Tài khoảnvãng lai có thể xấu đi do tình trạng nhập khẩu quá mức sản phẩm trung gian

và hang hóa vốn, và tài khoản vốn có thể bị xấu đi do việc mang lợi nhuận vềnước, trả lãi xuất tiền vay, trả tiền bản quyền, phí quản lý và các khoản khác

- Mặc dù vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng góp vào nguồn thu côngcộng dưới hình thức thuế kinh doanh, nhưng sự đóng góp của nó thấp hơnđáng kể so với đáng lẽ họ phải nộp do miễn giam rthuees, giá chuyển nhượng,chiết khấu đầu tư quá mức, trợ cấp công cộng trá hình và bảo hộ bằng thuế doChính phủ cho phép

Trang 10

- Quản lý, kỹ năng kinh doanh, ý tưởng, công nghệ và mối liên hệ vớinước ngoài do MNC cung cấp có thể có ít ảnh hưởng tới việc phát triển nhữngnguồn lực khan hiếm này và trên thực tế có thể cản trở sự phát triển củachúng do làm giảm sự phát triển các doanh nghiệp bản địa vì các MNC thốngtrị thị trường trong nước.

- Ảnh hưởng của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến sự phát triển làkhông đồng đều do nó có xu hướng khuyến khích lợi ích của nhóm nhỏ cácnhà quản lý doanh nghiệp địa phương và trả lương cao cho những công nhântrong khu vực hiện đại chống lại lợi ích của phần còn lại bằng cách gia tăng

sự khác biệt về tiền lương Họ chuyển các nguồn lực ra khỏi khu vực sản xuấtthực phẩm thiết yếu sang sản xuất các sản phẩm hiện đại phục vụ chủ yếu nhucầu của những tầng lớp trung lưu trong nước và người tiêu dung nước ngoài

Họ có xu hướng làm xấu đi sự mất cân đối giữa các cơ hội kinh tế nông thôn

và thành thị bằng cách đặt cơ sở sản xuất xuất khẩu tại các đô thị và gây tìnhtrạng di cư nông thôn – thành thị

- Các MNC thường sản xuất những sản phẩm không hợp lý (những sảnphẩm phục vụ nhu cầu của nhóm nhỏ người giàu tại địa phương), khuyếnkhích các loại tiêu dùng không hợp lý, sử dụng công nghệ không hợp lý (sửdụng nhiều vốn) do đó làm gia tăng vấn đề thất nghiệp ở các nước đang pháttriển, tạo ra sự phân hóa giầu nghèo ngày càng lớn và mất cân bằng nghiêmtrọng về cơ cấu kinh tế thành thị và nông thôn

- Cuối cùng ở khía cạnh chính trị, nỗi lo sợ thường là các công ty đa quốcgia lớn có thể gây ảnh hưởng đáng kể tới các quyết định chính sách tại tất cảcác cấp trong trường hợp đặc biệt họ có thể trực tiếp tham gia vào việc thahóa và tham nhũng của các quan chức Chính phủ ở cấp cao nhất, hoặc giántiếp đóng góp cho các đảng chính trị “thân thiện”, phá hoại nền chính trị củanước nhận đầu tư

Trang 11

PHẦN III THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

TẠI VIỆT NAM

1/ Đôi nét về cơ sở pháp lý cho hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Thực hiện đường lối đổi mới kinh tế của đại hội VI Ban chấp hànhTrung ương Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1986, nhiều chính sách kinh tếđược thay đối Việc hình thành các văn bản pháp lý đã thể chế hóa đường lốiđổi mới của Đảng Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành vàonăm 1987 là một trong những đạo luật khởi đầu cho thời kỳ đổi mới đã tạomôi trường pháp lý thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam Kể từ khiban hành năm 1987 đến nay, Luật đầu tư nước ngoài đã được sửa đổi, bổ sung

4 lần với các mức độ khác nhau vào các năm 1990, 1992, 1996, 2000 Trongbối cảnh toàn cầu hóa, Việt Nam ngày càng hội nhập sâu hơn vào nền kinh tếthế giới, để tạo ra một môi trường kinh doanh bình đẳng giữa các khu vựckinh tế , năm 2005 Quốc hội đã ban hành Luật đầu tư (có hiệu lực từ1/7/2006) thay thế Luật đầu tư nước ngoài và luật khuyến khích đầu tư trongnước Luật đầu tư ra đời nhằm cải thiện môi trường đầu tư, môi trường kinhdoanh, tạo sự thống nhất trong hệ thống pháp luật về đầu tư và tạo “ một sânchơi” bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư Luật đầu tư đãcải thiện môi trường đầu tư bằng việc đơn giản hóa thủ tục đầu tư, tạo điềukiện thuận lợi để thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư, đáp ứngyêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế Luật đầu tư năm 2005 đã thể hiện việc phâncấp mạnh cho các địa phương cụ thể là tăng quyền hạn cho Ủy ban Nhân dântỉnh và Ban quản lý khu công nghiệp , khu chế xuất, khu công nghệ cao vềcấp giấy chứng nhận đầu tư cũng như quản lý hoạt động đầu tư và giảm bớtnhững dự án phải trình Thủ tướng Chính phủ Thủ tướng chính phủ chỉ chấpthuận về nguyên tắc đối với một số dự án quan trọng chưa có trong quy

Trang 12

hoạch, hoặc chưa có quy hoạch, những dự án còn lại sẽ do UBND cấp tỉnh vàBan quản lý tự quyết định và cấp giấy phép đầu tư.

Khuôn khổ pháp lý từng bước được hoàn thiện cùng với cải cách côngtác quản lý nhà nước là những yếu tố quan trọng mang lại các kết quả tích cực

về thu hút đầu tư nước ngoài cũng như hoạt động đầu tư nước ngoài có hiệuquả, góp phần tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam

2/ Kết quả thu hút và sử dụng vốn FDI tại Việt Nam

2.1 Tình hình thu hút vốn ĐTNN đăng ký từ 1988-2007:

2.1.1 Cấp phép đầu tư từ 1988 đến 2007:

Tính đến cuối năm 2007, cả nước có hơn 9.500 dự án ĐTNN được cấpphép đầu tư với tổng vốn đăng ký khoảng 98 tỷ USD (kể cả vốn tăng thêm).Trừ các dự án đã hết thời hạn hoạt động và giải thể trước thời hạn, hiện có 8.590 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 83,1 tỷ USD Biểu đồ tìnhhình cấp chứng nhận đầu tư tại Việt Nam có sự biến động (xem tại Phụ lục)

Trong 3 năm 1988-1990, mới thực thi Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoàitại Việt Nam nên kết quả thu hút vốn ĐTNN còn ít (214 dự án với tổng vốnđăng ký cấp mới 1,6 tỷ USD), ĐTNN chưa tác động đến tình hình kinh tế-xãhội đất nước

Trong thời kỳ 1991-1995, vốn ĐTNN đã tăng lên (1.409 dự án với tổngvốn đăng ký cấp mới 18,3 tỷ USD) và có tác động tích cực đến tình hình kinhtế-xã hội đất nước Thời kỳ 1991-1996 được xem là thời kỳ “bùng nổ” ĐTNNtại Việt Nam (có thể coi như là “làn sóng ĐTNN” đầu tiên vào Việt Nam) với1.781 dự án được cấp phép có tổng vốn đăng ký (gồm cả vốn cấp mới và tăngvốn) 28,3 tỷ USD Đây là giai đoạn mà môi trường đầu tư-kinh doanh tại ViệtNam đã bắt đầu hấp dẫn nhà đầu tư do chi phí đầu tư-kinh doanh thấp so vớimột số nước trong khu vực; sẵn lực lượng lao động với giá nhân công rẻ, thịtrường mới, vì vậy, ĐTNN tăng trưởng nhanh chóng, có tác động lan tỏa tớicác thành phần kinh tế khác và đóng góp tích cực vào thực hiện các mục tiêu

Trang 13

kinh tế-xã hội của đất nước Năm 1995 thu hút được 6,6 tỷ USD vốn đăng ký,tăng gấp 5,5 lần năm 1991 (1,2 tỷ USD) Năm 1996 thu hút được 8,8 tỷ USDvốn đăng ký, tăng 45% so với năm trước

Trong 3 năm 1997-1999 có 961 dự án được cấp phép với tổng vốn đăng

ký hơn 13 tỷ USD; nhưng vốn đăng ký của năm sau ít hơn năm trước (năm

1998 chỉ bằng 81,8% năm 1997, năm 1999 chỉ bằng 46,8% năm 1998), chủyếu là các dự án có quy mô vốn vừa và nhỏ Cũng trong thời gian này nhiều

dự án ĐTNN được cấp phép trong những năm trước đã phải tạm dừng triểnkhai hoạt động do nhà đầu tư gặp khó khăn về tài chính (đa số từ Hàn Quốc,Hồng Kông)

Từ năm 2000 đến 2003, dòng vốn ĐTNN vào Việt Nam bắt đầu có dấuhiệu phục hồi chậm Vốn đăng ký cấp mới năm 2000 đạt 2,7 triệu USD, tăng21% so với năm 1999; năm 2001 tăng 18,2% so với năm 2000; năm 2002 vốnđăng ký giảm, chỉ bằng 91,6% so với năm 2001, năm 2003 (đạt 3,1 tỷ USD),tăng 6% so với năm 2002 Và có xu hướng tăng nhanh từ năm 2004 (đạt 4,5

tỷ USD) tăng 45,1% so với năm trước; năm 2005 tăng 50,8%; năm 2006 tăng75,4% và năm 2007 đạt mức kỷ lục trong 20 năm qua 20,3 tỷ USD, tăng 69%

so với năm 2006, và tăng hơn gấp đôi so với năm 1996, năm cao nhất của thời

kỳ trước khủng hoảng

Trong giai đoạn 2001-2005 thu hút vốn cấp mới (kể cả tăng vốn) đạt20,8 tỷ USD vượt 73% so với mục tiêu tại Nghị quyết 09/2001/NQ-CP ngày28/8/2001 của Chính phủ [2], vốn thực hiện đạt 14,3 tỷ USD tăng 30% so vớimục tiêu Nhìn chung trong 5 năm 2001-2005, vốn ĐTNN cấp mới đều tăngđạt mức năm sau cao hơn năm trước (tỷ trọng tăng trung bình 59,5%), nhưng

đa phần là các dự án có quy mô vừa và nhỏ Đặc biệt trong 2 năm 2006-2007,dòng vốn ĐTNN vào nước ta đã tăng đáng kể (32,3 tỷ USD) với sự xuất hiệncủa nhiều dự án quy mô lớn đầu tư chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp (sảnxuất thép, điện tử, sản phẩm công nghệ cao, ) và dịch vụ (cảng biển, bất

Trang 14

động sản, công nghệ thông tin, du lịch-dịch vụ cao cấp v.v.) Điều này chothấy dấu hiệu của “làn sóng ĐTNN” thứ hai vào Việt Nam

2.1.2 Tình hình tăng vốn đầu tư (1988-2007):

Cùng với việc thu hút các dự án đầu tư mới, nhiều dự án sau khi hoạtđộng có hiệu quả đã mở rộng quy mô sản xuất-kinh doanh, tăng thêm vốnđầu tư, nhất là từ năm 2001 trở lại đây Tính đến hết năm 2007 có gần 4.100lượt dự án tăng vốn đầu tư với tổng vốn tăng thêm hơn 18,9 tỷ USD, bằng23,8% tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới

Thời kỳ 1988-1990 việc tăng vốn đầu tư hầu như chưa có do số lượngdoanh nghiệp ĐTNN còn ít Từ số vốn đầu tư tăng thêm đạt 2,13 tỷ USDtrong 5 năm 1991-1995 thì ở giai đoạn 1996-2000 đã tăng gần gấp đôi so với

5 năm trước (4,17 tỷ USD) Giai đoạn 2001-2005 vốn đầu tư tăng thêm đạt7,08 tỷ USD (vượt 18% so dự kiến là 6 tỷ USD) tăng 69% so với 5 năm trước.Trong đó, lượng vốn đầu tư tăng thêm vượt con số 1 tỷ USD bắt đầu từ năm

2002 và từ năm 2004 đến 2007 vốn tăng thêm mỗi năm đạt trên 2 tỷ USD,mỗi năm trung bình tăng 35%

Vốn tăng thêm chủ yếu tập trung vào các dự án thuộc lĩnh vực sản xuấtcông nghiệp và xây dựng, đạt khoảng 40,6% trong giai đoạn 1991-1995 ;65,7% trong giai đoạn 1996-2000, khoảng 77,3% trong thời kỳ 2001-2005.Trong 2 năm 2006 và 2007 tỷ lệ tương ứng là 80,17% và 79,1% tổng vốntăng thêm

Do vốn đầu tư chủ yếu từ các nhà đầu tư châu Á (59%) nên trong sốvốn tăng thêm, vốn mở rộng của các nhà đầu tư châu Á cũng chiếm tỷ trọngcao nhất 66,8% trong giai đoạn 1991-1995, đạt 67% trong giai đoạn 1996-

2000, đạt 70,3% trong thời kỳ 2001-2005 Trong 2 năm 2006 và 2007 tỷ lệtương ứng là 72,1% và 80%

Việc tăng vốn đầu tư mở rộng sản xuất thực hiện chủ yếu tại các vùngkinh tế trọng điểm nơi tập trung nhiều dự án có vốn ĐTNN: Vùng trọng điểm

Trang 15

phía Nam chiếm 55,5% trong giai đoạn 1991-1995 ; đạt 68,1% trong thời kỳ1996-2000 và 71,5% trong giai đoạn 2001-2005 Trong 2 năm 2006 và 2007

tỷ lệ tương ứng là 71% và 65% Vùng trọng điểm phía Bắc có tỷ lệ tươngứng là 36,7%; 20,4% ; 21,1% ; 24% và 20%

Qua khảo sát của Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản -JETRO tạiViệt Nam có trên 70% doanh nghiệp ĐTNN được điều tra có kế hoạch tăngvốn, mở rộng sản xuất tại Việt Nam Điều này chứng tỏ sự tin tưởng và antâm của nhà ĐTNN vào môi trường đầu tư-kinh doanh tại Việt Nam

2.1.3 Quy mô dự án :

Qua các thời kỳ, quy mô dự án ĐTNN có sự biến động thể hiện khảnăng tài chính cũng như sự quan tâm của các nhà ĐTNN đối với môi trườngđầu tư Việt Nam Quy mô vốn đầu tư bình quân của một dự án ĐTNN tăngdần qua các giai đoạn, tuy có “trầm lắng” trong vài năm sau khủng hoảng tàichính khu vực 1997 Thời kỳ 1988-1990 quy mô vốn đầu tư đăng ký bìnhquân đạt 7,5 triệu USD/dự án/năm Từ mức quy mô vốn đăng ký bình quâncủa một dự án đạt 11,6 triệu USD trong giai đoạn 1991-1995 đã tăng lên 12,3triệu USD/dự án trong 5 năm 1996-2000 Điều này thể hiện số lượng các dự

án quy mô lớn được cấp phép trong giai đoạn 1996-2000 nhiều hơn trong 5năm trước Tuy nhiên, quy mô vốn đăng ký trên giảm xuống 3,4 triệu USD/dự

án trong thời kỳ 2001-2005 Điều này cho thấy đa phần các dự án cấp mớitrong giai đoạn 2001-2005 thuộc dự án có quy mô vừa và nhỏ Trong 2 năm

2006 và 2007, quy mô vốn đầu tư trung bình của một dự án đều ở mức 14,4triệu USD, cho thấy số dự án có quy mô lớn đã tăng lên so với thời kỳ trước,thể hiện qua sự quan tâm của một số tập đoàn đa quốc gia đầu tư vào một số

dự án lớn (Intel, Panasonic, Honhai, Compal, Piaggio )

2.1.4 Cơ cấu vốn ĐTNN từ 1988 đến 2007:

ĐTNN phân theo ngành nghề :

- Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng:

Trang 16

Từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987, Việt Nam đã chútrọng thu hút ĐTNN vào lĩnh vực công nghiệp-xây dựng Qua mỗi giai đoạncác lĩnh vực ưu tiên thu hút đầu tư, các sản phẩm cụ thể được xác định tạiDanh mục các lĩnh vực khuyến khích và đặc biệt khuyến khích đầu tư Trongnhững năm 90 thực hiện chủ trương thu hút ĐTNN, Chính phủ ban hànhchính sách ưu đãi, khuyến khích các dự án : (i) sản xuất sản phẩm thay thếhàng nhập khẩu, (ii) sản xuất hàng xuất khẩu (có tỷ lệ xuất khẩu 50% hoặc80% trở lên), (iii) sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước và có tỷ lệ nội địahoá cao.

Sau khi gia nhập và thực hiện cam kết với WTO (năm 2006), Việt Nam

đã bãi bỏ các quy định về ưu đãi đối với dự án có tỷ lệ xuất khẩu cao, khôngyêu cầu bắt buộc thực hiện tỷ lệ nội địa hoá và sử dụng nguyên liệu trongnước Qua các thời kỳ, định hướng thu hút ĐTNN lĩnh vực công nghiệp- xâydựng tuy có thay đổi về lĩnh vực, sản phẩm cụ thể nhưng cơ bản vẫn theo địnhhướng khuyến khích sản xuất vật liệu mới, sản phẩm công nghệ cao, côngnghệ thông tin, cơ khí chế tạo, thiết bị cơ khí chính xác, sản xuất sản phẩm vàlinh kiện điện tử Đây cũng chính là các dự án có khả năng tạo giá trị giatăng cao và Việt Nam có lợi thế so sánh khi thu hút ĐTNN Nhờ vậy, chođến nay các dự án ĐTNN thuộc các lĩnh vực nêu trên (thăm dò và khai thácdầu khí, sản xuất các sản phẩm công nghệ cao, sản phẩm điện và điện tử, sảnxuất sắt thép, sản xuất hàng dệt may ) vẫn giữ vai trò quan trọng đóng gópcho tăng trưởng kinh tế, xuất khẩu và tạo nhiều việc làm và nguồn thu nhập

ổn định cho hàng triệu lao động trực tiếp Cơ cấu đầu tư có chuyển biến tíchcực theo hướng gia tăng tỷ trọng đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao, lọc dầu

và công nghệ thông tin (IT) với sự có mặt của các tập đoàn đa quốc gia nổitiếng thế giới: Intel, Panasonic, Canon, Robotech.v.v Hầu hết các dự ánĐTNN này sử dụng thiết bị hiện đại xấp xỉ 100% và tự động hoá đạt 100%

Trang 17

cho sản lượng, năng suất, chất lượng cao, do đó có ảnh hưởng lớn đến các chỉtiêu giá trị của toàn ngành.

Tính đến hết năm 2007, lĩnh vực công nghiệp và xây dựng có tỷ trọnglớn nhất với 5.745 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký hơn 50 tỷ USD,chiếm 66,8% về số dự án, 61% tổng vốn đăng ký và 68,5% vốn thực hiện

Stt Chuyên ngành Số dự án Vốn đầu tư

vụ trong WTO, Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh thu hút ĐTNN, phát triển cácngành dịch vụ trực tiếp phục vụ sản xuất và xuất khẩu

Trong khu vực dịch vụ ĐTNN tập trung chủ yếu vào kinh doanh bấtđộng sản, bao gồm: xây dựng căn hộ, văn phòng, phát triển khu đô thị mới,kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp (42% tổng vốn ĐTNN trong khu vực

Trang 18

dịch vụ), du lịch-khách sạn (24%), giao thông vận tải-bưu điện (18%) (xembảng).

Stt Chuyên ngành Số dự án

Vốn đầu tư(triệu USD)

Đầu tư đã thựchiện(triệu USD)

1 Giao thông vận tải-Bưu

- ĐTNN trong lĩnh vực Nông-Lâm-Ngư :

Dành ưu đãi cho các dự án đầu tư vào lĩnh vực Nông Lâm ngư nghiệp

đã được chú trọng ngày từ khi có luật đầu tư nước ngoài 1987 Tuy nhiên đến

Trang 19

nay do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân rủi ro đầu tư cao tronglĩnh vực này, nên kết quả thu hút ĐTNN vào lĩnh vực Nông – Lâm ngư chưađược như mong muốn

Đến hết năm 2007, lĩnh vực Nông- Lâm- Ngư nghiệp có 933 dự án cònhiệu lực, tổng vốn đăng ký hơn 4,4 tỷ USD, đã thực hiện khoảng 2,02 tỷUSD; chiếm 10,8% về số dự án ; 5,37% tổng vốn đăng ký và 6,9% vốn thựchiện, (giảm từ 7,4% so với năm 2006) Trong đó, các dự án về chế biến nôngsản, thực phẩm chiếm tỷ trọng lớn nhất 53,71% tổng vốn đăng ký của ngành,trong đó, các dự án hoạt động có hiệu quả bao gồm chế biến mía đường, gạo,xay xát bột mì, sắn, rau Tiếp theo là các dự án trồng rừng và chế biến lâmsản, chiếm 24,67% tổng vốn đăng ký của ngành Rồi tới lĩnh vực chăn nuôi vàchế biến thức ăn gia súc chiếm 12,7% Cuối cùng là lĩnh vực trồng trọt, chỉchiếm gần 9% tổng số dự án Có 130 dự án thuỷ sản với vốn đăng ký là 450triệu USD,

Cho đến nay, đã có 50 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư trực tiếp vàongành nông-lâm-ngư nghiệp nước ta, trong đó, các nước châu Á ( Đài Loan,Nhật Bản, Trung Quốc, Hồng Kông, ) chiếm 60% tổng vốn đăng ký vàongành nông nghiệp (riêng Đài Loan là 28%) Các nước thuộc EU đầu tư vàoViệt Nam đáng kể nhất gồm có Pháp (8%), quần đảo British Virgin Islands(11%) Một số nước có ngành nông nghiệp phát triển mạnh (Hoa Kỳ,Canada, Australi)a vẫn chưa thực sự đầu tư vào ngành nông nghiệp nước ta

Các dự án ĐTNN trong ngành nông-lâm-ngư nghiệp tập trung chủ yếu

ở phía Nam Vùng Đông Nam Bộ chiếm 54% tổng vốn đăng ký của ngành,đồng bằng sông Cửu Long 13%, duyên hải Nam Trung Bộ 15% Miền Bắc

và khu vực miền Trung, lượng vốn đầu tư còn rất thấp, ngay như vùng đồngbằng sông Hồng lượng vốn đăng ký cũng chỉ đạt 5% so với tổng vốn đăng kýcủa cả nước

Trang 20

Nông, lâm nghiệp Số dự án Vốn đăng ký

(USD)

Vốn thực hiện (USD)

Vùng trọng điểm phía Bắc có 2.220 dự án còn hiệu lực với vốn đầu tưtrên 24 tỷ USD, chiếm 26% về số dự án, 27% tổng vốn đăng ký cả nước và24% tổng vốn thực hiện của cả nước; trong đó Hà Nội đứng đầu (987 dự ánvới tổng vốn đăng ký 12,4 tỷ USD) chiếm 51% vốn đăng ký và 50% vốn thựchiện cả vùng Tiếp theo thứ tự là Hải Phòng (268 dự án với tổng vốn đăng ký2,6 tỷ USD), Vĩnh Phúc (140 dự án với tổng vốn đăng ký 1,8 tỷ USD), HảiDương (271 dự án với tổng vốn đăng ký 1,7 tỷ USD), Hà Tây (74 dự án vớitổng vốn đăng ký 1,5 tỷ USD), Bắc Ninh (106 dự án với tổng vốn đăng ký0,93 tỷ USD) và Quảng Ninh (94 dự án với tổng vốn đăng ký 0,77 tỷ USD)

Vùng trọng điểm phía Nam thu hút 5.293 dự án với tổng vốn đầu tư44,87 tỷ USD, chiếm 54% tổng vốn đăng ký, trong đó, tp Hồ Chí Minh dẫnđầu cả nước (2.398 dự án với tổng vốn đăng ký 16,5 tỷ USD) chiếm 36,9%tổng vốn đăng ký của Vùng Tiếp theo thứ tự là Đồng Nai (918 dự án với tổngvốn đăng ký 11,6 tỷ USD) chiếm 25,9% vốn đăng ký của Vùng, Bình Dương(1.570 dự án với tổng vốn đăng ký 8,4 tỷ USD) chiếm 18,8% vốn đăng ký củaVùng; Bà Rịa-Vũng Tàu (159 dự án với tổng vốn đăng ký 6,1 tỷ USD) chiếm

Trang 21

13,6% vốn đăng ký của Vùng; Long An (188 dự án với tổng vốn đăng ký 1,8

tỷ USD) chiếm 4,1% vốn đăng ký của Vùng Điều này, minh chứng cho việctriển khai thực hiện Nghị quyết 09/2001/NQ-CP ngày 28/8/2001 của Chínhphủ và Chỉ thị 19/2001/CT-TTg ngày 28/8/2001 của Thủ tướng Chính phủ vềtăng cường thu hút và nâng cao hiệu quả ĐTNN thời kỳ 2001-2005 [3]

Chính vì vậy, ngoài một số địa phương vốn có ưu thế trong thu hút vốnĐTNN (Hà Nội, tp Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa-Vũng Tàu,Hải Phòng, Quảng Ninh) một số địa phương khác (Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, PhúYên, Hà Tây ) do yếu tố tích cực của chính quyền địa phương nên việc thuhút vốn ĐTNN đã chuyển biến mạnh, tác động tới cơ cấu kinh tế trên địa bàn.Năm 2004 công nghiệp có vốn ĐTNN chiếm 86% giá trị sản xuất côngnghiệp của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, 81% của tỉnh Vĩnh Phúc, 70% của tỉnhĐồng Nai, 65% của tỉnh Bình Dương, 46% của Thành phố Hải Phòng, 35%của Thành phố Hà Nội và 27% của thành phố Hồ Chí Minh Đối với Hà Nội

và thành phố Hồ Chí Minh đang chuyển dần sang trở thành trung tâm dịch vụcao cấp của cả vùng (bưu chính, viễn thông, tài chính, ngân hàng ) cũng nhưhướng thu hút vốn ĐTNN vào các ngành công nghệ cao thông qua một số khucông nghệ cao (Quang Trung, Hòa Lạc)

Vùng trọng điểm miền Trung thu hút được 491 dự án với tổng vốn đăng

ký 8,6 tỷ USD qua 20 năm thực hiện Luật Đầu tư, chiếm 6% tổng vốn đăng

ký của cả nước, trong đó: Phú Yên (39 dự án với tổng vốn đăng ký 1,9 tỷUSD) hiện đứng đầu các tỉnh miền Trung với dự án xây dựng nhà máy lọcdầu Vũng Rô có vốn đăng ký 1,7 tỷ USD Tiếp theo là Đà Nẵng (113 dự ánvới tổng vốn đăng ký 1,8 tỷ USD), Quảng Nam (15 dự án với tổng vốn đăng

ký 1,1 tỷ USD) đã có nhiều tiến bộ trong thu hút vốn ĐTNN, nhất là đầu tưvào xây dựng các khu du lịch, trung tâm nghỉ dưỡng, vui chơi đạt tiêu chuẩnquốc tế, bước đầu đã góp phần giảm tình trạng “cháy” buồng, phòng chokhách du lịch, nhưng nhìn chung vẫn còn dưới mức nhu cầu và tiềm năng của

Trang 22

vùng Tây Nguyên cũng ở trạng thái thu hút vốn ĐTNN còn khiêm tốn nhưvùng Đông Bắc và Tây Bắc, trong đó, tuy Lâm Đồng (93 dự án với tổng vốnđăng ký 318,4 triệu USD) đứng đầu các tỉnh khu vực Tây Nguyên nhưng chỉchiếm tỷ trọng 1% về số dự án Đồng bằng sông Cửu Long thu hút vốnĐTNN còn thấp so với các vùng khác, chiếm 3,6% về số dự án và 4,4% vềvốn đăng ký và 3,2% vốn thực hiện của cả nước.

Tuy Nhà nước đã có chính sách ưu đãi đặc biệt cho những vùng có điềukiện địa lý-kinh tế khó khăn nhưng việc thu hút ĐTNN phục vụ phát triểnkinh tế tại các địa bàn này còn rất thấp

ĐTNN phân theo hình thức đầu tư:

Tính đến hết năm 2007, chủ yếu các doanh nghiệp ĐTNN thực hiệntheo hình thức 100% vốn nước ngoài, có 6.685 dự án ĐTNN với tổng vốnđăng ký 51,2 tỷ USD, chiếm 77,2% về số dự án và 61,6% tổng vốn đăng ký.Theo hình thức liên doanh có 1.619 dự án với tổng vốn đăng ký 23,8 tỷ USD,chiếm 18,8% về số dự án và 28,7% tổng vốn đăng ký Theo hình thức Hợpđồng hợp tác kinh doanh có 221 dự án với tổng vốn đăng ký 4,5 tỷ USDchiếm 2,5% về số dự án và 5,5% tổng vốn đăng ký Số còn lại thuộc các hìnhthức khác như BOT, BT, BTO Có thể so sánh tỷ trọng dự án hoạt động theohình thức 100% vốn nước ngoài tính đến hết năm 2004 là 39,9%, theo hìnhthức liên doanh là 40,6% và theo hình thứuc hợp doanh là 19,5% để thấyđược hình thức 100% vốn nước ngoài được các nhà đầu tư lựa chọn hơn

ĐTNN phân theo đối tác đầu tư:

Thực hiện phương châm của Đảng và Chính phủ “đa phương hóa, đadạng hóa quan hệ hợp tác Việt Nam muốn làm bạn với các nước trong khuvực và thế giới ” được cụ thể hóa qua hệ thống pháp luật ĐTNN, qua 20 năm

đã có 81 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư tại Việt Nam với tổng vốn đăng kýtrên 83 tỷ đô la Mỹ Trong đó, các nước Châu Á chiếm 69%, trong đó khốiASEAN chiếm 19% tổng vốn đăng ký Các nước châu Âu chiếm 24%, trong

Trang 23

đó EU chiếm 10% Các nước Châu Mỹ chiếm 5%, riêng Hoa Kỳ chiếm 3,6%.Tuy nhiên, nếu tính cả số vốn đầu tư từ các chi nhánh tại nước thứ 3 của cácnhà đầu tư Hoa Kỳ thì vốn đầu tư của Hoa Kỳ tại Việt Nam sẽ đạt con số trên

3 tỷ USD, đứng vị trí thứ 5 trong tổng số 80 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu

tư tại Việt Nam, ví dụ Tập đoàn Intel không đầu tư thẳng từ Mỹ vào ViệtNam mà thông qua chi nhánh tại Hồng Kông Hai nước châu Úc (NewZealand và Australia) chỉ chiếm 1% tổng vốn đăng ký (xem biểu 4)

Hiện đã có 15 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vốn đăng ký cam kếttrên 1 tỷ USD tại Việt Nam (xem Phụ lục) Đứng đầu là Hàn Quốc vốn đăng

ký 13,5 tỷ USD, thứ 2 là Singapore 10,7 tỷ USD, thứ 3 là Đài loan 10,5 tỷUSD (đồng thời cũng đứng thứ 3 trong giải ngân vốn đạt 3,07 tỷ USD), thứ 4

là Nhật Bản 9,03 tỷ USD Nhưng nếu tính về vốn thực hiện thì Nhật Bảnđứng đầu với vốn giải ngân đạt gần 5 tỷ USD, tiếp theo là Singapore đứng thứ

2 đạt 3,8 tỷ USD Hàn Quốc đứng thứ 4 với vốn giải ngân đạt 2,7 tỷ USD

Trong nhưng năm đầu 90 thực hiện Luật Đầu tư, chủ yếu là dự án quy

mô nhỏ và từ các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc châu Á, như Hồng Kông,Hàn Quốc và Đài Loan Cho tới hết năm 2007, vốn ĐTNN vào Việt Nam vẫn

từ các nước châu Á mặc dù Đảng và Chính phủ đã có Nghị quyết 09 đã đề ra

Ngày đăng: 31/03/2015, 09:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w