1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

77 2,8K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 508,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trung Quốc là một quốc gia láng giềng có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam về địa lý, lịch sử và chính trị - xã hội, đã tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong thời kì cả

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Với lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trongkhoa Quan Hệ Quốc Tế và chuyên nghành Kinh tế đối ngoại đã tận tình giảng dạy,truyền đạt, bồi dưỡng tri thức cho em trong quá trình học tập và rèn luyện tạitrường Đại học dân lập Đông Đô, đồng thời em cũng xin cảm ơn TS.Ngô Tất Tố,

cô Trần Thị Vân, cô Nguyễn Kim Phượng luôn bên dìu dắt chúng em trong quátrình học tập tại trường

Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn chân thành sâu sắc đến PGS.TS.Phạm TháiQuốc người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ em từ khi hình thành ý tưởng chođến khi hoàn thành khóa luận này

Vì thời gian có hạn và phạm vi nghiên cứu rộng cho nên em không trành khỏinhững thiếu sót trong khóa luận Em rất mong được sự góp ý của các thầy cô vàcác bạn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2011

Sinh viên

Đỗ Thị Thủy

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐIỀU KIỆN CỦA CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở TRUNG QUỐC 3

1.1 Cơ sở lý luận 3

1.1.1 Quan niệm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên thế giới 3

1.1.2 Quan điểm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong thời kì cải cách, mở cửa kinh tế của Trung Quốc 9

1.2 Bối cảnh và điều kiện của công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Trung Quốc 13

1.2.1 Bối cảnh Trung Quốc tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa 13

1.2.2 Những điều kiện của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Trung Quốc trong thời kì cải cách, mở cửa kinh tế 15

1.3 Mục tiêu và các nhiệm vụ cơ bản của công nghiệp hoá ở Trung Quốc 17

1.3.1 Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hóa 17

1.3.2 Các nhiệm vụ chủ yếu của công nghiệp hoá, hiện đại hóa 17

1.3.3 Các bước đi trong thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hóa 18

CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở TRUNG QUỐC TỪ NĂM 1980 ĐẾN NĂM 2010 20

2.1 Thực trạng quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Trung Quốc từ thập kỉ 80 của thế kỉ XX đến nay 20

2.1.1 Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Trung Quốc 20

2.1.2 Phát triển nhân lực, khoa học, công nghệ đặc biệt là công nghệ thông tin phục vụ cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa 22

2.1.3 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn 27

2.1.4 Thu hút vốn đầu tư nước ngoài và xây dựng các khu kinh tế mở 28

2.1.5 Chú trọng bảo vệ môi trường và phát triển bền vững 32

2.2 Thành tựu, hạn chế của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Trung Quốc 35

2.2.1 Những thành tựu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Trung Quốc 35

2.2.2 Những hạn chế của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Trung Quốc 45

CHƯƠNG 3: NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 52

Trang 3

3.1 Một số điểm tương đồng và khác biệt giữa Trung Quốc và Việt Nam

trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước 52

3.1.1 Một số điểm tương đồng 52 3.1.2 Một số khác biệt giữa Trung Quốc và Việt Nam trong công nghiệp hóa, hiện

đại hóa 54

3.2 Những bài học kinh nghiệm rút ra từ quá trình công nghiệp hoá, hiện đại

hoá ở Trung Quốc và định hướng vận dụng vào Việt Nam 56

3.2.1 Bài học về tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Sản đối với quá trình

công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước 56 3.2.2 Về xây dựng mô hình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và xác định nội dung của

từng giai đoạn phát triển phù hợp với điều kiện đất nước và quốc tế 57 3.2.3 Vấn đề phát huy lợi thế so sánh và tranh thủ các nguồn lực quốc tế phục vụ

quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá 59 3.2.4 Về công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn và phát triển công

nghiệp nông thôn 61 3.2.5 Bài học về khai thác lợi thế của các vùng lãnh thổ và xây dựng các khu kinh tế

mở 62 3.2.6 Đề cao nhân tố con người, chú trọng phát triển giáo dục và đào tạo 64 3.2.7 Bài học về thu hút và phát huy sức mạnh của lực lượng Việt kiều cho công

nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước 65

KẾT LUẬN 68 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1 ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á Association of Southeast Asia

Nations,

2 APEC Diễn đàn hợp tác Kinh tế châu Á -

Thái Bình Dương

Asia-Pacific Economic Cooperation

3 ASEM Diễn đàn hợp tác kinh tế Á – Âu Asia-Europe Meeting

7 FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài Foreign Direct Investment

10 R&D Nghiên cứu và Phát triển research & development

11 UNIDO Tổ chức Phát triển Công nghiệp

Liên Hiệp Quốc

United Nations Industrial Development Organization

15 WTO Tổ chức thương mại thế giới World Trade Organization

16 TBCN Tư bản chủ nghĩa

17 XHCN Xã hội chủ nghĩa

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Các ngành kinh tế chủ đạo qua một số giai đoạn 8

Bảng 2.1 : Tỉ trọng các ngành trong thu nhập quốc dân thời kì 1949 – 1978 20

Bảng 2.2 : Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc giai đoạn 1990-2007 .35

Bảng 2.3 : Cơ cấu GDP của Trung Quốc qua một số năm (%) 38

Bảng 2.4 : Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Trung Quốc giai đoạn 1979-2007 42

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng Cộng Sản Việt Nam – 12/1986 là

mốc son quan trọng của công cuộc đổi mới kinh tế đất nước, nhằm mục tiêu xây

dựng thành công CNXH ở Việt Nam.Trải qua nhiều năm thực hiện đổi mới chúng

ta đã thu được rất nhiều thành tựu to lớn, đất nước có những chuyển biến căn bản

Trong sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam, công nghiệp hoá, hiện đại hoá

được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta xác định là nhiệm vụ trung tâm trong suốt

thời kì quá độ lên CNXH, đặc biệt trong thời kì đổi mới, mở cửa phát triển kinh tế

Để thực hiện thành công nhiệm vụ trên, nhiều công việc, nhiều chương trình phát

triển kinh tế - xã hội cần được hoàn thành trong từng giai đoạn phát triển, phù hợp

với điều kiện cụ thể của đất nước và thế giới Ngoài ra, chúng ta phải nghiên cứu

những lý thuyết hiện đại về công nghiệp hoá, hiện đại hoá và kinh nghiệm của các

nước đã và đang tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhằm xây dựng mô hình

công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiệu quả và phù hợp với Việt Nam

Trung Quốc là một quốc gia láng giềng có nhiều điểm tương đồng với Việt

Nam về địa lý, lịch sử và chính trị - xã hội, đã tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại

hoá đất nước trong thời kì cải cách, mở cửa kinh tế với xuất phát điểm giống Việt

Nam như: sức sản xuất thấp, cơ chế kinh tế kế hoạch tập trung bao cấp…Và chỉ

trong một thời gian ngắn đã có những bước phát triển thần tốc, trở thành điểm sáng

về phát triển kinh tế trên thế giới

Do vậy, nghiên cứu mô hình công nghiệp hoá cũng như các chính sách, các

bước đi trong thực hiện và đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở

Trung Quốc sẽ giúp gợi mở cho Việt Nam những bài học kinh nghiệm cần thiết, có

ý nghĩa về cả lý luận lẫn thực tiễn để đẩy nhanh và thực hiện thắng lợi quá trình

công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên tôi đã mạnh dạn lựa chọn và đi sâu nghiên

cứu đề tài: “ Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và những bài học kinh

Trang 7

nghiệm cho Việt Nam’’ cho khóa luận tốt nghiệp của mình.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích nghiên cứu:

Từ việc phân tích, đánh giá một cách toàn diện về công nghiệp hoá, hiện đạihoá ở Trung Quốc, khoá luận rút ra những bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

* Nhiệm vụ nghiên cứu :

- Luận giải khoa học về công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Trung Quốc khi cảicách, mở cửa kinh tế, chuyển sang cơ chế thị trường

- Hệ thống hoá các chính sách, chủ trương, biện pháp thực hiện công nghiệphoá, hiện đại hoá ở Trung Quốc

- Từ thực trạng quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Trung Quốc luậnvăn nêu ra những thành công cũng như hạn chế của công nghiệp hoá, hiện đại hoá

ở Trung Quốc

- Đưa ra những gợi ý và định hướng vận dụng vào Việt Nam

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu :

Khóa luận tập trung nghiên cứu quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ởTrung Quốc

* Phạm vi nghiên cứu :

Khóa luận nghiên cứu các chính sách, chủ trương, biện pháp thực hiện côngnghiệp hoá, hiện đại hoá ở Trung Quốc từ năm 1980 dến năm 2010

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vậtbiện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Những phương pháp cụ thể được sử dụnglà: nghiên cứu tổng hợp các tài liệu lý luận khoa học, phân tích và tổng hợp, thống

kê, so sánh, đối chiếu…

Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khoá luậngồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và điều kiện của công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở

Trung Quốc

Chương 2: Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Trung Quốc từ năm

1980 đến năm 2010

Trang 8

Chương 3: Những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐIỀU KIỆN CỦA CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở TRUNG QUỐC

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Quan niệm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên thế giới

1.1.1.1 Khái niệm công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Công nghiệp hoá là một quá trình có tính tất yếu lịch sử, mỗi quốc gia đềuphải trải qua quá trình CNH để phát triển đất nước Vì CNH nhằm xóa bỏ nghèonàn, lạc hậu thay thế vào đó là những phương thức hiện đại, tiên tiến Công nghiệphóa tác động lên sự phát triển của các ngành khác, đồng thời chịu tác động từ côngnghiệp và tác động trở lại công nghiệp CNH tạo nền tảng cho sự tăng trưởng kinh

tế nhanh, ổn định, có hiệu quả cao và bền vững của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.Cho đến này có rất nhiều quân niệm khác nhau về CNH do đặc thù cuả từng quốcgia, và từng thời kỳ lịch sử khác nhau, có thể điểm qua một số quan niệm tiêu biểunhư sau:

Các nước XHCN ở Liên Xô và Đông Âu trước kia cho rằng: CNH là quá trìnhxây dựng nền đại công nghiệp cơ khí, đặc biệt là ưu tiên phát triển công nghiệpnặng với ngành trung tâm là chế tạo máy Xét theo thời điểm lịch sử lúc đó, quanniệm trên là tương đối hợp lý Trong điều kiện hiện nay, do có nhiều sự thay đổi,quan niệm về CNH nêu trên cần được bổ sung, hoàn chỉnh

Các nhà kinh tế ở các nước công nghiệp phát triển thì cho rằng CNH là đưamột đặc tính công nghiệp vào cho một hoạt động nào đó, hoặc trang bị các nhàmáy, các loại hình công nghiệp cho một vùng, một quốc gia Công nghiệp hóa baogồm việc phát triển công nghiệp Công nghiệp phát triển sẽ kéo theo sự thay đổi cơcấu ngành từ Nông nghiệp – Công nghiệp – Dịch vụ sang Công nghiệp – Nôngnghiệp – Dịch vụ và cuối cùng là Dịch vụ – Công nghiệp – Nông nghiệp

Đối với các nước đang phát triển thì CNH được coi là một quá trình bao gồm

ba nội dung cơ bản: phát triển nền công nghiệp; xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầngphục vụ nền công nghiệp đó; thiết lập một cơ chế hoạt động thích hợp cho hệ

Trang 9

thống công nghiệp Quan niệm trên xuất phát từ thực tế ở các nước đang phát triển

là cơ sở hạ tầng cũng như công tác quản lý chưa đáp ứng được một nền đại côngnghiệp có quy mô lớn

Năm 1963, Tổ chức Phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc đã đưa ra địnhnghĩa “công nghiệp hóa là một quá trình phát triển kinh tế, trong đó một bộ phậnngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân được động viên để phát triển cơ cấukinh tế đa ngành trong nước với kỹ thuật hiện đại Đặc điểm của cơ cấu kinh tế này

là một bộ phận chế biến luôn thay đổi để sản xuất ra tư liệu sản xuất và hàng tiêudùng, có khả năng bảo đảm cho toàn bộ nền kinh tế phát triển với nhịp độ cao, bảođảm đạt tới sự tiến bộ về kinh tế - xã hội” Công nghiệp hóa là một quá trìnhchuyển nền sản xuất từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng lao động

có kỹ thuật cùng với công nghệ tiên tiến tạo ra năng suất lao động xã hội ngàycàng cao; là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp và khai thác tàinguyên là chủ yếu sang cơ cấu mới mà ngành công nghiệp đóng vai trò chủ đạo, tỷtrọng công nghiệp trong GDP ngày càng tăng, tỷ trọng nông nghiệp ngày cànggiảm, thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển giữa thành thị và nông thôn trên

cơ sở khai thác hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và các lợi thế của từng vùng,từng miền và của quốc gia

Nguồn: Hoàng Xuân Long (2006), Tạp chí nghiên cứu Trung Quốc số 5(69)

Hiện đại hoá vừa là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một xã hội theohướng tăng dần các ngành có hàm lượng công nghệ cao vừa là quá trình đổi mớicách thức tổ chức sản xuất các ngành sẵn có của quốc gia theo hướng áp dụng ngàycàng nhiều các công nghệ sản xuất và quản lý tiên tiến Kết quả của HĐH là năngsuất lao động tăng, trình độ sản xuất nâng cao Hiện đại hóa là một quá trình lâudài, phức tạp, trong đó diễn ra các bước đi cải tiến một xã hội truyền thống thành

xã hội hiện đại, có trình độ văn minh cao hơn, thể hiện đầy đủ hơn những giá trịchung mà nhân loại vươn tới

Đây là quan điểm đầy đủ hơn cả về CNH, HĐH và qua các quan điểm trêncho chúng ta thấy CNH không chỉ là sự phát triển công nghiệp mà nó hàm chứanội dung khá rộng CNH thực chất là một phạm trù kinh tế - xã hội trong từng giaiđoạn phát triển nhất định của lịch sử Vì vậy khi tiếp cận phạm trù CNH, không

Trang 10

nên nhìn phiến diện vào một nhiệm vụ hay một mục tiêu mà phải có cái nhìn tổngthể Hơn nữa trong một thế giới đang toàn cầu hóa, nhất thể hóa kinh tế và các nềnkinh tế quốc gia đều theo mô hình kinh tế mở, hướng ngoại CNH khai thác tối đalợi thế tuyệt đối để nâng cao năng lực canh tranh trong nền kinh tế, gắn liền với sựphát triển nhanh chóng của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ Đặc biệt làcác lĩnh vực công nghệ mũ nhọn, công nghệ dựa trên tri thức

Hiện đại hoá là một quá trình mà nhờ đó các nước đang phát triển tìm cáchđạt được sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, tiến hành cải cách chính trị và củng

cố cơ cấu xã hội nhằm đạt tới một trình độ phát triển cao về khoa học công nghệ,

sự thịnh vượng kinh tế và công bằng xã hội Cũng giống như CNH, HĐH ở cácnước khác nhau với những thời điểm khác nhau sẽ phải tiến hành dưới những hìnhthức khác nhau để phù hợp với điều kiện phát triển của đất nước

1.1.1.2 Mối quan hệ giữa công nghiệp hóa và hiện đại hóa

Giữa CNH và HĐH trong nền kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ, CNH ngàynay được hiểu như một quá trình gắn liền với HĐH Bản thân khái niệm CNH đãbao hàm yêu cầu đạt tới trình độ phát triển kinh tế hiện đại nhất vào thời điểm tiếnhành nó Tạo nhiều cơ hội hơn để rút ngắn khoảng cách giữa các quốc gia nhờthành tựu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại Tuy nhiên việc đạt tớitrình độ hiện đại cũng là thách thức khó vượt qua đối với quá trình CNH ở cácnước đi sau, vì nếu không bắt kịp với sự phát triển của khoa học công nghệ thì sẽ

bị tụt hậu

Tóm lạ, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là một quá trình phát triển cânđối, hài hoà về kinh tế, chính trị, xã hội và văn hoá nhằm đảm bảo sự phát triểnnăng động, có hiệu quả và bền vững của nền kinh tế CNH là một quá trình tất yếu

có tính lịch sự nhằm tạo nên những chuyển biến căn bản về kinh tế - xã hội trên cơ

sở khai thác có hiệu quả các nguồn lực và lợi thế trong nước, mở rộng quan hệkinh tế quốc tế, xây dựng cơ cấu kinh tế đa ngành nghề với trình độ khoa học côngnghệ ngày càng cao Dưới áp lực khách quan của toàn cầu hoá và vai trò động lựccủa công nghiệp, mô hình và đặc trưng của CNH thay đổi nhanh chóng trong haithập kỷ gần đây Cơ sở lý thuyết về CNH được ứng dụng thành công trong chính

Trang 11

sách phát triển của các quốc gia và thậm chí trên giác độ của các công ty, do cạnhtranh ngày càng gay gắt buộc các nước phải tháo bỏ hàng rào bảo vệ và các hoạtđộng kinh doanh theo đúng trật tự và quy luật cuộc chơi trên quy mô toàn cầu.

1.1.1.3 Các mô hình công nghiệp hóa trong lịch sử

Trong lịch sử tùy thuộc vào điều kiện cụ thể khác nhau của mỗi quốc gia sẽtạo ra mô hình công nghệ hóa tương ứng với nó Cho đến nay lịch sử kinh tế thếgiới cho thấy có những mô hình CNH điển hình như sau:

Mô hình CNH cổ điển: diễn ra vào khoảng thời gian từ giữa thế kỷ XVIII đến

giữa thế kỷ XIX Mô hình CNH cổ điển mang những đặc trưng như sau: một là,

điểm khởi đầu cho sự xuất hiện và phát triển của cách mạng kỹ thuật (hay cách

mạng công nghiệp) là cuộc cách mạng trong lĩnh vực nông nghiệp; hai là, mô hình

CNH cổ điển diễn ra theo tiến trình: công nghiệp nhẹ, công nghiệp nặng, giao

thông vận tải, nông nghiệp, dịch vụ, và lưu thông; ba là, CNH theo mô hình cổ

điển diễn ra như một quá trình lịch sử tự nhiên, từ từ chậm chạp trong khoảng thờigian hàng trăm năm

Mô hình CNH theo cơ chế kế hoạch tập trung: CNH theo cơ chế kế hoạch tậptrung là mô hình diễn ra trong hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, mà đại diện làLiên xô (cũ) Mô hình CNH theo cơ chế kế hoạch tập trung có những đặc trưng

như sau: Thứ nhất, các nước CNH theo mô hình này ngay từ thời kỳ đầu coi công nghiệp nặng là cơ sở, là nền tảng Thứ hai, coi các chỉ tiêu hiện vật là cơ sở quan

trọng nhất để duy trì sự cân đối giữa các ngành của nền kinh tế Cơ chế chung của

mô hình này là nền kinh tế dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, nên loại

bỏ các quan hệ thị trường, quan hệ hàng hoá tiền tệ, quan hệ giá trị Tất cả các mốiquan hệ kinh tế được đưa vào kế hoạch đặt dưới sự chỉ huy của các cơ quan nhà

nước Thứ ba, các nước đi theo mô hình này thực hiện CNH trong điều kiện kinh tế

nông nghiệp lạc hậu, ên nguồn vốn đầu tư rất hạn hẹp, dựa vào tích luỹ trong nước

là chính và một phần dựa vào sự viện trợ của các nước anh em

Mô hình CNH thay thế nhập khẩu: Mô hình này có những đặc trưng sau đây:Một là, CNH thay thế nhập khẩu đặt ra mục tiêu là phát triển hầu hết mọi ngànhcông nghiệp thiết yếu tự đáp ứng các nhu cầu thay vì phải nhập khẩu Hai là, cácnước thực hiện mô hình này đều thực hiện nghiêm ngặt các chính sách bảo hộ thị

Trang 12

trường trong nước như cấm, hạn chế nhập khẩu, đưa ra biểu thuế quan cao… đểbảo vệ, nuôi dưỡng các ngành công nghiệp non trẻ trong nước, khiến các ngànhnày được độc quyền tiêu thụ hàng hoá trên thị trường nội địa Ba là, nhiều chínhsách kinh tế vĩ mô với sự can thiệp của Chính phủ được sử dụng để khuyến khíchphát triển công nghiệp Chính sách tỷ giá thường cố định hoặc xác lập trên cơ sởnâng cao giá trị cho đồng tiền nội địa Điều này thường đem lại lợi lớn cho các nhàsản xuất hàng công nghiệp tiêu dùng bán hàng trên thị trường nội địa Ngoài ra, cácchính sách khác như: trợ giá qua sử dụng lãi suất thấp, nhà nước kiểm soát chínhsách giá cả, thương mại, ngoại thương… cũng được áp dụng tương đối phổ biến

Mô hình CNH hướng về xuất khẩu Mô hình này mang một số đặc trưng nhưsau: Thứ nhất, thực hiện các chính sách khuyến khích xuất khẩu hàng hoá nhằmphát huy lợi thế so sánh, tham gia sâu rộng vào phân công lao động quốc tế, lấyngoại tệ từ xuất khẩu để nhập khẩu máy móc và kỹ thuật, thúc đẩy chuyển dịch cơcấu kinh tế theo hướng hiện đại hoá Thứ hai, khuyến khích thu hút các nguồn vốnnước ngoài (gồm vốn ODA, vốn FDI và các nguồn vốn đầu tư gián tiếp khác) phục

vụ xuất khẩu Thứ ba, là thành lập các đặc khu kinh tế, các khu chế xuất, các khumậu dịch tự do Khi thực hiện CNH hướng về xuất khẩu, các nước chậm phát triển,với nhiều quy định, thể chế lạc hậu, cơ sở hạ tầng yếu kém, không thể mở cửa toàn

bộ nền kinh tế, không thể tăng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng để thu hút đầu tư ởmọi nơi cùng một lúc Họ phải thực hiện từng việc, từng bước

Từ việc xem xét những yếu tố hợp lý của mỗi mô hình sẽ thúc đẩy quá trìnhCNH, HĐH nhanh, có hiệu quả cao là điều hết sức cần thiết và có ý nghĩa lớn

1.1.1.4 Tiêu chí công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Một số nghiên cứu quốc tế về tiêu chí công nghiệp hoá đều lấy GDP/ đầungười làm chỉ tiêu đầu tiên, nhưng ở mức cao hơn (khoảng hơn 3.000 USD)cùng với các chỉ tiêu khác, như: dân số thành phố, chất lượng cuộc sống, trình

độ phát triển giáo dục, khoa học công nghệ, tỷ trọng công nghiệp - dịch vụ trongtổng GDP

Tiêu chí mới nhất của thời kỳ hậu công nghiệp hoá, quá độ chuyển sang kỷnguyên thông tin - nền kinh tế tri thức là:

1, Trên 70% tổng sản phẩm trong nước (GDP) là do các ngành sản xuất vàdịch vụ ứng dụng công nghiệp công nghệ cao làm ra

Trang 13

2, Trong cơ cấu làm ra giá trị gia tăng thì lao động trí óc chiếm trên 70%.

3, Về cơ cấu lao động, trên 70% là những người làm việc trong các doanhnghiệp công nghệ cao

4, Yếu tố con người chiếm trên 70% trong cơ cấu tư bản của nền sản xuất(gồm các yếu tố như vốn, con người, tư liệu sản xuất )

Nguồn: Tạp chí thông tin và dự báo kinh tế Trung Quốc số 7-7/2006

Một trong những đặc thù cơ bản của nền kinh tế tri thức là sản xuất côngnghệ trở thành loại hình sản xuất quan trọng nhất, tiên tiến nhất và tiêu biểu nhất.Nền kinh tế tri thức phải dựa vào công nghệ mới để phát triển Theo nguồn tin từcác chuyên gia, nội dung công nghiệp hoá của thế kỷ XXI, thế kỷ XVIII-XIX và

XX rất khác nhau Kỹ thuật tin học đã và đang trở thành động lực to lớn và là vũkhí thúc đẩy sự tiến bộ của nền văn minh nhân loại, đây được coi là hiện thựckhách quan Lịch sử của thế giới trong 300 năm gần đây cho chúng ta thấy rằngtrình độ công nghiệp hoá quyết định giai đoạn phát triển của xã hội và mức sốngcủa người dân

Nguồn: Hoàng Xuân Hoà (2006), Tạp chí nghiên cứu Trung Quốc số 3(67)

Các nhà kinh tế quốc tế đưa ra các ngành kinh tế và kỹ thuật chủ yếu của 5chu kỳ (phát triển) dài, còn gọi là "lý luận sóng dài" lần đầu tiên vào đầu thế kỷ

XX, nó tác động mạnh mẽ đến tiến trình công nghiệp hoá và phản ánh mức độ hiệnđại hoá có tính tương đối theo thời gian như sau:

Bảng 1.1: Các ngành kinh tế chủ đạo qua một số giai đoạn Thời gian Ngành kinh tế chủ yếu Kỹ thuật mới chiếm chủ đạo

1770-1830 Máy phát điện bằng sức nước,

tàu thuyền, kênh đào

Thiết bị cơ khí, than, máy phátđiện chạy hơi nước

1830-1890 Than, đường sắt, máy phát điện

bằng hơi nước, cơ khí

Điện lực, động cơ đốt trong,điện báo, tàu thuỷ

1890-1935 Ôtô, xe vận tài, công nghiệp

hoá chất, gia công kim loại

Điện tử, kỹ thuật máy bay, vậntải đường không

1935-1985 Điện lực, dầu lửa, hàng không,

truyền hình

Kỹ thuật hạt nhân, máy tính,viến thông, khí gaz

1985-2040 Khí đốt, hạt nhân, viễn thông,

vệ tinh, công nghệ thông tin

Công nghệ sinh học, trí tuệnhân tạo, thông tin và vũ trụ

Nguồn: Niên giám thống kê Trung Quốc năm 2006

Trang 14

1.1.2 Quan điểm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong thời kì cải cách,

mở cửa kinh tế của Trung Quốc

1.1.2.1 Quan điểm của Trung Quốc về công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trung Quốc thường dùng thuật ngữ “hiện đại hóa” chứ ít dùng thuật ngữ

“công nghiệp hóa” Trải qua những giai đoạn lịch sử khác nhau và thực hiện các

chương trình phát triển kinh tế như: “ phấn đấu xây dựng nước ta thành một nướcXHCN giàu mạnh, dân chủ, văn minh” (văn kiện Đại hội Đảng XIII, XIV),chương trình “ba cải một hóa” những năm 1950, chương trình “bốn hiện đại hóa”(công nghiệp, nông nghiệp, khoa học kĩ thuật, quốc phòng) vào cuối những năm

1970, hội nghị công nghiệp và giao thông vận tải Thiên Tân năm 1981 với “sáu ưutiên cho công nghiệp nhẹ” nhưng về thực chất đó là những nội dung cơ bản củacông cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với nội dung ngày càng hoànthiện và rõ ràng hơn và là một tất yếu lịch sử mà các quốc gia cần thực hiện đểphát triển đất nước

Đến Đại hội XV Đảng Cộng Sản Trung Quốc (9/1997), những nội dung của

CNH được đề cập cụ thể và chi tiết hơn: “Giai đoạn đầu của công nghiệp hóa là giai đoạn lịch sử từng bước thoát khỏi tình trạng kém phát triển, cơ bản thực hiện hiện đại hóa XHCN, là giai đoạn lịch sử từ một nước nông nghiệp có dân số nông nghiệp chiếm tỉ trọng lớn và chủ yếu dựa vào lao động thủ công, từng bước chuyển thành nước công nghiệp hóa có tỉ lệ lớn dân phi nông nghiệp, có nền công nghiệp hiện đại và dịch vụ hiện đại ”

Trong báo cáo chính trị đọc tại Đại hội XVI Đảng Cộng sản Trung Quốc, ởphần IV (xây dựng kinh tế và cải cách thể chế kinh tế), cựu Tổng bí thư Giang

Trạch Dân đã khẳng định: “Trung Quốc đang đi trên con đường công nghiệp hoá mới và thực hiện công nghiệp hoá vẫn là nhiệm vụ lịch sử đầy khó khăn trong tiến trình hiện đại hoá nước ta" Con đường công nghiệp hoá mới ở đây được hiểu là

việc thực hiện quá trình công nghiệp hoá theo phương thức mới, theo mô hình mới,khác với các phương thức, các mô hình trước đây và mô hình công nghiệp hoá mớinày có những nét riêng, mang đậm dấu ấn, màu sắc Trung Quốc

Trang 15

1.1.2.2 Mô hình công nghiệp hoá ở Trung Quốc

Trên con đường thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện thếgiới đang chuyển từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức là vấn đề lớn đặt ra

đối với Trung Quốc Báo cáo của Đại hội Đảng XVI chỉ rõ “ Tin học hóa là sự lựa chọn tất yếu để nước ta nhanh chóng thực hiện công nghiệp hóa và hiện đại hóa Kiên trì lấy tin học hóa lôi kéo công nghiệp hóa, lấy công nghiệp hóa thúc đẩy tin học hóa, đi lên con đường công nghiệp hóa mới với hàm lượng khoa học kĩ thuật cao, hiệu quả kinh tế tốt, tiêu hao tài nguyên thấp, ô nhiễm môi trường giảm, ưu thế tài nguyên nhân lực phát huy dồi dào”

Nguồn: Văn kiện Đại biểu toàn toàn quốc Đảng Cộng Sản Trung Quốc lần thứ XVI, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, Hà Nội.

Đây là con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa kiểu mới mà Trung Quốcđưa ra là con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa được kết hợp đồng thời với quátrình tri thức hóa kinh tế, đó là công nghiệp hóa, hiện đại hóa vận dụng triệt để mọithành tựu khoa học công nghệ mới nhất, là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nâng caohiệu quả kinh tế và năng lực cạnh tranh thị trường, là công nghiệp hóa, hiện đạihóa đi theo con đường phát triển bền vững, là công nghiệp hóa, hiện đại hóa có thểphát huy ưu thế về nguồn nhân lực của Trung Quốc Đây là quyết sách quan trọngnhằm đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện công nghệ thông tinphát triển mạnh, nền kinh tế tri thức đang hình thành trên thế giới

Cách thức thực hiện chiến lược công nghiệp hoá mới:

Thứ nhất, phải dựa vào khoa học kỹ thuật Trước hết là phải phát triển côngnghệ thông tin: Tin học hoá là sự lựa chọn tất yếu để Trung Quốc nhanh chóngthực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá, kiểu mới với hàm lượng khoa học kỹthuật cao, hiệu quả kinh tế tốt, tiêu hao tài nguyên thấp, ô nhiễm môi trườnggiảm theo đúng quan niệm của thế giới về CNH

Bước vào thế kỷ XXI, nhận thức được tầm quan trọng của khoa học côngnghệ đối với phát triển kinh tế, an ninh và môi trường, Trung Quốc rất coi trọngphát triển khoa học công nghệ Chính vì vậy giới lãnh đạo Trung Quốc đã đưa ranguyên tắc cơ bản là: "xây dựng kinh tế phải dựa vào khoa học và công nghệ-khoa

Trang 16

học và công nghệ phải hướng vào phục vụ xây dựng kinh tế" Thu hút mạnh mẽ vàphổ biến các công nghệ tiến bộ mới và thích hợp của thế giới nhằm đẩy nhanh cảitạo kỹ thuật trong mọi ngành của nền kinh tế quốc dân.

Thực hiện chiến lược phát triển bền vững “đặt phát triển bền vững vào vị trínổi bật”, “gắn sinh đẻ có kế hoạch vào bảo vệ môi trường”; bảo vệ và khai tháchợp lý và tiết kiệm sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên; xây dựng ý thức bảo

vệ môi trường cho toàn dân, làm tốt việc bảo vệ và xây dựng môi trường sinh thái Khi đề cập đến việc "xây dựng chủ nghĩa xã hội mang mầu sắc Trung Quốc"với nhiều nhân tố đã được định hình từ lâu trong xã hội Trung Quốc Nhưng đến Đạihội XVI điều này mới được bàn đến một cách rõ ràng, cụ thể hơn, điều này cũng chochúng ta thấy việc xây dựng mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa mang đậm sắcthái Trung Quốc cũng trải qua một thời gian dài, với nhiều nội dung

1.1.2.3 Những nét mới trong mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Trung Quốc

Con đường công nghiệp hoá mới ở Trung Quốc phù hợp với các điều kiện vàtình hình mới Việc thực hiện công nghiệp hoá ở Trung Quốc hiện nay có nhữngđặc điểm như sau:

Xu hướng quốc tế hoá đời sống diễn ra mạnh mẽ Hiện nay, các nước dù muốnhay không cũng đều bị thu hút vào các quan hệ kinh tế quốc tế Các quan hệ này cóảnh hưởng quyết định đối với việc hình thành cơ cấu kinh tế và cách thức tiến hànhcông nghiệp hoá, cơ cấu các lực lượng, đặc biệt là sự thay đổi lực lượng của cáccông ty xuyên quốc gia khổng lồ, các tập đoàn lớn của tư nhân hoặc nhà nước

Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đã làm đảo ngược trình tự pháttriển của một số lĩnh vực Trước đây công nghiệp hoá diễn ra ở các nước có nềnkhoa học kỹ thuật phát triển theo trình tự: Khoa học ứng dụng, phổ cập kỹ thuậttiên tiến ở diện rộng Ngày nay, các nước đi sau đi theo trình tự khác, sử dụng kỹthuật và công nghệ tiên tiến nhập khẩu, phát triển khoa học ứng dụng và chỉ khi đạtđược trình độ phát triển kinh tế xã hội cao thì khoa học cơ bản mới đủ điều kiện đểphát triển mạnh Trước đây, kết cấu hạ tầng được phát triển sau cùng trong quátrình cách mạng công nghiệp, thì ngày nay việc xây dựng kết cấu hạ tầng hiện đại

Trang 17

được xem như một tiền đề cho sự thành công của quá trình công nghiệp hoá, hiệnđại hoá ở các nước

Quá trình công nghiệp hoá ngày nay không còn mang tính tự phát như đãtừng diễn ra ở các nước đi tiên phong trong quá trình công nghiệp hoá Ngày nay,Nhà nước có vai trò rất quan trọng thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá bằng cáccông cụ kinh tế vĩ mô: các chính sách tài chính tiền tệ Trong một số lĩnh vực Nhànước còn đặt ra các quy chế, quy tắc thông qua các chính sách cụ thể để điều hànhquá trình công nghiệp hoá

Ngoài ra, mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Trung Quốc còn có nhiềuđiểm khác với các mô hình khác cả về lý luận và thực tiễn Điều này thể hiện quanhững nội dung sau đây:

Sau nhiều năm tiến hành công nghiệp hoá theo mô hình kinh tế kế hoạch hoátập trung cao độ với nhiều hạn chế ràng buộc, chuyển sang kinh tế thị trường, thựchiện các nhiệm vụ cơ bản của công nghiệp hoá theo các bước đi tuần tự, TrungQuốc đã có những thay đổi lớn - có thể coi là những đột phá vè lý luận Những độtphá này là cơ sở cho những cải cách mới mẻ, mạnh bạo và được thấy rõ trong cácbáo cáo chính trị của các Đại hội XIII, Đại hội XIV và đặc biệt được phản ánh tậptrung trong báo cáo chính trị Đại hội XV, XVI Đảng cộng sản Trung Quốc Nhữngđột phá này được thể hiện ở những nội dung mới trong một loạt vấn đề như:

Lý luận về giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội mang mầusắc Trung Quốc

Lý luận về chế độ sở hữu và hình thức thực hiện chế độ sở hữu

Lý luận về chế độ cổ phần và chế độ hợp tác cổ phần

Lý luận về phân phối theo lao động và phân phối theo yếu tố sản xuất

Lý luận về công nhân viên chức rời cương vị và tái tạo việc làm

Các quan niệm truyền thống không phù hợp đều bị xoá bỏ và được thay bằngnhững quan niệm mới, phù hợp với tình hình và điều kiện thực tế ở Trung Quốc.Các quan niệm mới thích ứng các yêu cầu của cải cách và phát triển, do vậy đã gópphần thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá ở Trung Quốc tiến triển nhanh hơn

Trang 18

Dựa trên những lý luận và nội dung đã được đề cập trong Văn kiện đại hộiXVI Đảng Cộng sản Trung Quốc, có thể khẳng định mô hình công nghiệp hoá màTrung Quốc đã và đang theo đuổi là một mô hình mới mẻ, độc đáo, chưa có tiền lệ.

Đó là sự kết hợp các lợi thế sẵn có để sử dụng các nguồn lực bên trong và bênngoài, kết hợp giữa các chiến lược thay thế nhập khẩu (đáp ứng các nhu cầu khổng

lồ của thị trường trong nước) và hướng về xuất khẩu (ở các khu ven biển, các khuvực biên giới), giữa khai thác thị trường trong nước và thị trường quốc tế, giữacông nghiệp hoá đô thị và công nghiệp hoá nông thôn Tính mới mẻ, độc đáo, tínhchưa có tiền lệ còn được thể hiện ở công cuộc công nghiệp hoá trong một đất nướcTrung Quốc đang chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thịtrường, một nước Trung Quốc rộng lớn, đông dân, có nhiều vùng lãnh thổ đangtrên đường tiến tới thống nhất, có nhiều Hoa kiều luôn hướng về đất nước, mộtnước Trung Quốc đang chuyển mình với sự song song tồn tại hai chế độ xã hội chủnghĩa và tư bản chủ nghĩa Từ đó thấy rõ được mô hình công nghiệp hoá như trên

là rất mới mẻ và chưa từng có trong lịch sử thế giới

Nhiệm vụ đặt ra trong 20 năm đầu thế kỷ XXI với Trung Quốc là phải thựchiện về cơ bản các nhiệm vụ công nghiệp hoá

1.2 Bối cảnh và điều kiện của công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Trung Quốc

1.2.1 Bối cảnh Trung Quốc tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa

1.2.1.1 Bối cảnh trong nước

Tháng 10 năm 1949, nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa ra đời đã chấm dứtchế độ nửa thuộc địa, nửa phong kiến Chính phủ Trung Quốc ngay lập tức đã đưa

ra nhiều chính sách, biện pháp để khôi phục lại nền kinh tế Tuy nhiên, TrungQuốc đã có sai lầm trong vấn đề nhận thức và đường lối phát triển kinh tế tảkhuynh trong quá trình xây dựng CNXH khiến cho kinh tế Trung Quốc thời kỳtrước năm 1978 suy sụp nghiêm trọng Trong nông nghiệp, lao động thủ công làphổ biến, còn trong công nghiệp, nhiều ngành đã lạc hậu hàng trăm năm so với cácnước phương Tây Bên cạnh đó Trung Quốc cũng thừa nhận tình trạng đóng cửa

Trang 19

lâu ngày nền kinh tế cũng sẽ gây trì trệ cho sản xuất và dẫn đến tụt hậu trong pháttriển kinh tế.

Thời kỳ trước cải cách mở cửa (trước năm 1978), Trung Quốc xây dựng môhình kinh tế kế hoạch tập trung, kinh tế còn lạc hậu, mang nặng tính chất tự cấp, tựtúc Nhà nước trực tiếp quản lý mọi lĩnh vực, hoạt động kinh tế đều tiến hành trongphạm vi quy định Thời gian đầu thể chế này có tác dụng ngăn chặn lạm phát, ổnđịnh giá cả, phát triển giữa các ngành Tuy nhiên, do chính sách cải tạo, xoá bỏ chế

độ sở hữu tư nhân quá vội vàng, hình thành chế độ sở hữu toàn dân và tập thể đãlàm đảo lộn đời sống kinh tế của nhân dân

Ngoài ra, nhà nước can thiệp sâu vào các xí nghiệp sản xuất và chế độ phânphối đã làm cho các xí nghiệp hầu như không có quyền lực gì nên thể chế này đãbộc lộ nhiều hạn chế Năm 1952 chỉ có 55 loại vật tư do Nhà nước thống nhất phânphối đến năm 1957 lên tới 231 loại Hơn nữa phong trào “ba ngọn cờ hồng’’, đặcbiệt là cuộc “ đại cách mạng văn hoá vô sản’’ đã gây ra hàng loạt sự biến động tiêucực trong phát triển kinh tế -xã hội: sản xuất đình đốn, nạn thất nghiệp gia tăng vànạn đói tràn lan Các cơ quan nghiên cứu và trường học rơi vào tình trạng rối loạn

và lạc hậu vì bị cô lập trong “cách mạng văn hoá’’ làm cho nền kinh tế bị suy sụpnặng nề, xã hội rối loạn đẩy đất nước đến bờ vực thẳm

Năm 1976, thu nhập quốc dân, sản xuất công nghiệp và nông nghiệp giảm sovới trước lần lượt là -2,7% ; -2,4% ; -0,4% so với năm trước Thu nhập bình quânđầu người (tính theo sức mua tương đương) năm 1978 của nhóm các nước có thunhập thấp trên thế giới cao hơn gấp 1,9 lần của nhóm các nước có thu nhập trungbình thấp cao gấp 3,5 lần, của nhóm các nước có trung bình cao vừa phải cao gấp9,2 lần, và của nhóm nước có thu nhập cao gấp 24,1 lần Trung Quốc

Nguyên nhân chính dẫn đến khủng hoảng kinh tế xã hội thời kỳ này là doTrung Quốc áp dụng thể chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung không phù hợp với

sự phát triển của lực lượng sản xuất, không coi trọng quy luật kinh tế kháchquan Thêm vào đó việc hạn chế quan hệ kinh tế với nước ngoài trong một thờigian dài, không muốn học tập kinh nghiệm hiện đại hoá của nước ngoài, do vậy

đã bỏ lỡ nhiều cơ hội khi làn sóng khoa học kỹ thuật phát triển sôi động vào

Trang 20

những năm 1960 và 1970 khiến cho Trung Quốc càng tụt hậu hơn so với nhiềunước trên thế giới

1.2.1.2 Tình hình thế giới

Trong những năm 1960 và 1970, nhìn chung kinh tế các nước tư bản đã bước

vào thời kỳ phát triển tương đối ổn định Mặc dù các nước này chưa hoàn toàntránh khỏi những cuộc khủng hoảng kinh tế, song vẫn có tiềm lực lớn để phát triểnsản xuất và không ngừng nâng cao năng suất lao động Cuộc cách mạng khoa họckỹ thuật đã đem lại những thành tựu khả quan cho sự tăng trưởng kinh tế của cácnước tư bản chủ nghĩa thời gian này

Điều đáng kể là ở một số nước và vùng lãnh thổ ở khu vực Đông Á và ĐôngNam Á, từ đầu những năm 70 của thế kỷ XX, do lợi dụng được các nguồn vốn, kỹthuật cao và kịp thời thích ứng với sự phân công lao động quốc tế nên từ giữa thập

kỷ 60 và thập kỷ 70, nền kinh tế đã phát triển với tốc độ cao và đã nhanh chóng trởthành các nền kinh tế công nghiệp mới Thập kỷ 70, tốc độ tăng trưởng kinh tế hàngnăm của Hàn Quốc là 8,5%; Đài Loan: 10,2%; Singapo: 9,4%; Hồng Kông: 9,3%

Nguồn: Nguyễn Kim Bảo (2004), Điều chỉnh một số chính sách kinh tế ở Trung Quốc (1992-2010)

Đạt được tốc độ tăng trưởng này, các nước đã không ngừng điều chỉnh nền kinh

tế của mình, cải cách cơ cấu kinh tế, tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vàhội nhập kinh tế quốc tế Nguồn vốn FDI với tư cách là loại bỏ những bế tắc, khơithông dòng chảy của các nguồn lực kinh tế, phát triển hàng hoá để xuất khẩu cũng đãđóng góp tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hoá của những nước này

Tình hình thực tế của đất nước cùng với làn sóng cải cách kinh tế rộng khắp ởnhiều nước trên thế giới từ cuối thập kỷ 70 đã tạo nên áp lực mạnh mẽ cho côngcuộc cải cách mở cửa của Trung Quốc, buộc Trung Quốc phải xem lại công cuộccông nghiệp hóa, hiện đại hóa đang tiến hành, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đạihóa theo mô hình mới để phát triển đất nước, đuổi kịp với thế giới

1.2.2 Những điều kiện của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Trung Quốc trong thời kì cải cách, mở cửa kinh tế

1.2.2.1 Điều kiện về tài nguyên thiên nhiên

Trang 21

Trung Quốc nằm ở Đông và Bắc bán cầu, phía đông Châu Á, bờ tây TháiBình Dương, cách xích đạo khoảng 2000 km và cách Bắc Cực gần 4000 km, cóđường biên giới chung với Triều Tiên, Liên bang Nga, Mông Cổ; Kazakstan,Kyrgyzstan, Tajikistan, Afghanistan, Pakistan, Ấn Độ, Nepal, Bhutan; Myanmar,Lào, Việt Nam;

Diện tích: 9,6 triệu km2, diện tích lớn thứ ba trên thế giới sau Liên bang Nga

và Canada, chiếm 6,5% diện tích thế giới

Trung Quốc là nước có tài nguyên thiên nhiên phong phú Về năng lượng cóthan đá trữ lượng lớn khoảng 1.500 tỉ tấn, chất lượng tốt, than nâu trữ lượng 325 tỉtấn, dầu mỏ và khí đốt trữ lượng lớn tập trung ở vùng Hoa Bắc và Tân Cương, cácsông có tiềm năng thủy điện lớn khoảng 380 triệu KW Kim loại đen có quặng sắttrữ lượng 40 tỉ tấn, kim loại màu có đồng, chì, kẽm và nhiều loại quý hiếm khác,ngoài ra còn nhiều mỏ phi kim loại và vật liệu xây dựng Điều kiện tự nhiên củaTrung Quốc có nhiều thuận lợi với phát triển kinh tế, đặc biệt là nông nghiệp.Những thuận lợi về điều kiện tự nhiên và tài nguyên là yếu tố quan trọng liênquan đến các nguồn lực đầu vào cho sản xuất và đặc biệt là thị trường nội địakhổng lồ - cơ sở để có thể phát triển một cơ cấu kinh tế đa ngành hướng nội trongquá trình công nghiệp hoá

1.2.2.2.Điều kiện về cơ sở vật chất kĩ thuật và công nghệ

Cho đến đầu thập kỷ 80, Trung Quốc đã có 30 năm thực hiện công nghiệp hoátheo mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung, 30 năm này đã đem lại những thànhtựu nhất định, tạo cơ sở cho các bước đi tiếp theo, ví dụ theo thống kê năm 1980,Trung Quốc có 22 thành phố lớn trên 1 triệu dân, 14 hải cảng quốc tế lớn, 77 sânbay với 12 tuyến hàng không quốc tế, 50000 km đường xe lửa, 876.000 km đường

bộ tốt, 200 công trình công nghiệp nặng do Liên Xô và các nước XHCN việntrợ Đồng thời, nhìn lại chặng đường đã qua, Trung Quốc có thể đúc kết chomình những kinh nghiệm quý, những điều cần làm, những điều cần tránh trong quátrình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong tình hình mới

1.2.2.3 Điều kiện về vốn

Từ năm 1949 Trung Quốc đã thay đổi căn bản cục diện phân phối của cải,

Trang 22

do đó tỉ lệ tích lũy đã nâng cao dần, từ 20% đến 33% vào những năm 90 Ngoài ra,người Trung Hoa từ xưa đã có thói quen tiết kiệm, đó cũng là một nguyên nhânđảm bảo để tích lũy cao Trung Quốc cũng tích lũy được khối lượng tài sản cố địnhkhổng lồ Từ 1951 đến 1990 Trung Quốc đã tích lũy tài sản cố định khoảng 5500 tỉNDT, từ 1991 đến 2000 khoảng 6700 tỉ NDT, từ 2000 đến 2010 khoảng 15000 tỉNDT Điều này làm thay đổi cơ cấu thiết bị hạ tầng của Trung Quốc.

Trung Quốc có Hồng Công, Ma Cao, Đài Loan là những vùng lãnh thổ kháphát triển, có quan hệ chặt chẽ với đại lục

Trung Quốc là nước có số lượng Hoa kiều nhiều nhất thế giới Hiện nay cógần 60 triệu người Hoa và Hoa kiều sống ở nhiều nơi trên thế giới, chủ yếu tậptrung ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á Phần lớn những người này đều thànhđạt trong kinh doanh và cuộc sống

1.2.2.4 Điều kiện về sức lao động và thị trường

Trung Quốc là một nước lớn, có dân số đông nhất thế giới, tính đến nay dân

số Trung Quốc hơn 1,3 tỉ người, chiếm khoảng 21% tổng dân số toàn thế giới,trong đó người Hán chiếm 93% Trung Quốc có 55 dân tộc thiểu số như Choang,Mãn, Hồi, Tạng, Mông Cổ, Uigur… Số dân trong độ tuổi lao động chiếm khoảng57%, giá cả lao động ở Trung Quốc tương đối rẻ so với thế giới, lực lượng laođộng trẻ, khả năng nắm bắt, tiếp thu các thành tựu khoa học công nghệ nhanh Đây là nhân tố quan trọng liên quan đến các nguồn lực đầu vào cho sản xuất

và đặc biệt là thị trường nội địa khổng lồ – cơ sở để có thể phát triển một cơ cấukinh tế đa ngành hướng nội trong quá trình CNH, HĐH

1.3 Mục tiêu và các nhiệm vụ cơ bản của công nghiệp hoá ở Trung Quốc 1.3.1 Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hóa

Mục tiêu công nghiệp hoá của Trung Quốc đã được chỉ ra tại các Đại hội Đảngcộng sản Trung Quốc là biến Trung Quốc thành nước có tỷ lệ lớn dân phi nôngnghiệp, có nền công nghiệp hiện đại và ngành dịch vụ hiện đại Giá trị sản lượngbình quân đầu người đạt mức các nước phát triển trung bình (Đại hội XIII), đời sốngnhân dân tương đối sung túc (Đai hội XV) Đến Đại hội XVI là "xây dựng toàn diện

xã hội khá giả", Đại hội XVII phấn đấu xây dựng “xã hội hài hòa XHCN”

1.3.2 Các nhiệm vụ chủ yếu của công nghiệp hoá, hiện đại hóa

Trang 23

Công nghiệp hoá là một quá trình lâu dài được thực hiện trong nhiều năm vớicác nhiệm vụ sau đây:

Chuyển từ một nước nông nghiệp có dân số nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn

và chủ yếu dựa vào lao động thủ công thành nước công nghiệp hoá có tỷ lệ lớn dânphi nông nghiệp, có nền công nghiệp hiện đại và dịch vụ hiện đại

Chuyển từ nến kinh tế tự nhiên chiếm tỷ trọng lớn sang nền kinh tế thị trườngtương đối cao, phải hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa

Chuyển nền văn hoá giáo dục, khoa học kỹ thuật lạc hậu, chiếm tỷ trọng lớnsang nền văn hoá giáo dục khoa học kỹ thuật tương đối phát triển

Chuyển đa số dân nghèo đói, mức sống tương đối thấp sang xây dựng toàndiện xã hội khá giả ở trình độ cao hơn

Từng bước rút ngắn khoảng cách chênh lệch về kinh tế, văn hoá giữa các khuvực thông qua sự phát triển có thứ tự

Xây dựng và hoàn thiện thể chế chính trị dân chủ xã hội chủ nghĩa và các thểchế khác

Từng bước rút ngắn khoảng cách chênh lệch với trình độ tiên tiến trên thế giới

Nguồn: Đỗ Tiến Sâm (2006), Tạp chí nghiên cứu Trung Quốc số 3 (67)

1.3.3 Các bước đi trong thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hóa

Quá trình công nghiệp hoá như dự kiến sẽ cơ bản được thực hiện vào năm

2020 với nhiều bước đi, cụ thể là:

Bước 1: Trong 10 năm (1980-1990): Mục tiêu đặt ra là đến năm 1990 tănggấp đôi GDP so với mức năm 1980, đồng thời giải quyết về cơ bản vấn đề ăn nomặc ấm cho dân (mục tiêu này đã đạt được)

Bước 2: từ năm 1990 đến 2000: Mục tiêu đặt ra cho bước này là đến năm

2000 tăng gấp đôi GDP so với mức năm 1990, phấn đấu đời sống nhân dân đạtmức khá giả (năm 2000, GDP bình quân đầu người của Trung Quốc đạt 840 USD).Bước 3: từ năm 2000 đến năm 2020, với mục tiêu là đến năm 2020 tăng GDPgấp 4 lần mức năm 2000 Trong đó lại chia thành 2 bước cụ thể:

Từ năm 2000 đến năm 2010: mục tiêu đến năm 2010 tăng gấp đôi GDP so

Trang 24

với mức năm 2000, đưa cuộc sống của cư dân từ khá giả vươn lên mức sung túc,hình thành được thể chế kinh tế thực hiện tương đối hoàn chỉnh.

Từ năm 2010 đến năm 2020: Mục tiêu làm cho nền kinh tế quốc dân càngphát triển, các chế độ được hoàn thiện hơn Mục tiêu xây dựng thành công mộtnước xã hội chủ nghĩa giàu mạnh, dân chủ và văn minh, tức hoàn thành về cơ bảnquá trình công nghiệp hoá

“Báo cáo hiện đại hoá Trung Quốc-2005” chỉ rõ những mốc quan trọng về

sự phát triển công cuộc hiện đại hoá trong gần 100 năm từ 2005 tới 2100 Báo cáochia công cuộc hiện đại hoá thành bốn giai đoạn như sau:

Giai đoạn 2005-2020: Mục tiêu chủ yếu của giai đoạn này đưa Trung Quốc

từ nước kém phát triển thành nước phát triển bước đầu về kinh tế Chiến lược pháttriển trong giai đoạn này từ “mô hình quy mô” chuyển sang “mô hình tiến bộ chấtlượng”

Giai đoạn 2020-2050: Mục tiêu chủ yếu của giai đoạn này là đưa Trung Quốc

từ nước phát triển kinh tế ban đầu thành nước phát triển kinh tế trung bình trên thếgiới Chiến lược phát triển kinh tế giai đoạn này chuyển từ “mô hình tiến bộ chấtlượng” sang “mô hình tạo phúc lợi mới”

Giai đoạn 2050-2080: Mục tiêu đưa Trung Quốc từ nước phát triển trungbình thành nước kinh tế phát triển

Giai đoạn 2080 - 2100: Mục tiêu của giai đoạn này đưa Trung Quốc thànhnước phát triển hàng đầu thế giới

Trang 25

CHƯƠNG 2 QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

Ở TRUNG QUỐC TỪ NĂM 1980 ĐẾN NĂM 2010

2.1 Thực trạng quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Trung Quốc từ thập kỉ 80 của thế kỉ XX đến nay

2.1.1 Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Trung Quốc

2.1.1.1 Hiện trạng cơ cấu kinh tế của Trung Quốc trước cải cách, mở cửa kinh tế

Suốt 30 năm sau khi thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 1979), Trung Quốc đã thay đổi khá hoàn thiện về cơ cấu ngành Nhưng đặc trưngcủa nền kinh tế Trung Quốc là tập trung cao, hiệu quả kém, cơ cấu kinh tế lệch lạc.Theo con số thống kê của Cục thống kê Nhà nước Trung Quốc, mức tăng tổng sảnphẩm xã hội của Trung Quốc giai đoạn 1952 -1978 là 7,9% Sau 30 năm TrungQuốc đã thay đổi đáng kể về cơ cấu ngành, tương đối hoàn thiện

(1949-Bảng 2.1 : Tỉ trọng các ngành trong thu nhập quốc dân thời kì 1949 – 1978

Nguồn: Niên giám thống kê Trung Quốc 1978

Mặc dù có tốc độ tăng trưởng khá cao song không phản ánh thực tế sự pháttriển của đất nước Cơ cấu ngành thiên về sản xuất tư liệu sản xuất, ưu tiên pháttriển công nghiệp nặng, gây nên tình trạng khó khăn và kém hiệu quả, lạc hậutrong sản xuất, đời sống nhân dân gấp nhiều khó khăn

Vào cuối những năm 70, nền kinh tế Trung Quốc gần như rơi vào hỗn loạn,Đảng Cộng Sản và nhân dân Trung Quốc đã tìm mọi cách để thoát khỏi tình trạng

Trang 26

đó với chủ trương “4 hiện đại hóa” do Thủ tướng Chu Ân Lai đưa ra Nhưngkhông phù hợp với nền kinh tế trong giai đoạn đó làm cho cơ cấu nền kinh tếkhông có chuyển biến gì mới mẻ, mà ngược lại đẩy Trung Quốc có nguy cơ rơivào cuộc phiêu lưu mới

2.1.1.2 Các chính sách cơ bản của Trung Quốc nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại

Từ sau Hội nghị Trung ương 3 khóa XI năm 1978, Trung Quốc mới thực sựchuyển thứ tự ưu tiên phát triển từ “công nghiệp nặng – công nghiệp nhẹ – nôngnghiệp” sang thứ tự “nông nghiệp – công nghiệp nhẹ – công nghiệp nặng”

Để hiện đại hóa cơ cấu kinh tế Trung Quốc đưa ra một số chủ trương sau:Tăng cường việc lấy nông nghiệp làm cơ sở cho nền kinh tế quốc dân, tiếp tụchoàn thiện chính sách khoán hộ và ruộng đất, thúc đẩy việc cải tạo kỹ thuật trongnông nghiệp, tăng đầu tư cho nông nghiệp sớm đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn,hiện đại hóa, phù hợp với đặc điểm của nông thôn Trung Quốc

Phát triển công nghiệp nhẹ và đưa công nghiệp nhẹ vào vị trí quan trọng,thực hiện “sáu ưu tiên” đối với công nghiệp nhẹ Hàng hóa sản xuất ra phải pháttriển theo hướng: mới, tốt, rẻ, đẹp, đa dạng và vừa túi tiền nhân dân

Phải thực sự đưa công nghiệp nặng vào phục vụ việc cải tạo kỹ thuật nôngnghiệp, công nghiệp nhẹ và toàn bộ nền kinh tế quốc dân

Tăng cường đầu tư cho ngành dịch vụ, lấy sự phát triển công nghiệp, nôngnghiệp làm tiền đề để phát triển ngành dịch vụ, tránh sự phồn vinh giả tạo củangành dịch vụ

Chú trọng tới sự cân đối giữa sản xuất trong nước và xuất khẩu, thị trườngtrong nước và thị trường quốc tế

Để thực hiện sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, theo các nhàkinh tế Trung Quốc thì thực hiện chính sách ngành nghề nhằm thỏa mãn nhữngđiều kiện sau: tính toàn diện, tính thời gian và tính khả thi

Tính toàn diện nghĩa là thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải bao gồmchính sách cơ cấu ngành nghề, chính sách cơ cấu khu vực, chính sách kĩ thuật vàchính sách tổ chức trong cơ cấu kinh tế

Trang 27

+ Tính thời gian nghĩa là cần tiến hành nhịp nhàng với từng giai đoạn của quátrình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Trong quá trình định ra chính sách cần phải cótầm nhìn xa nhất định.

+ Tính khả thi nghĩa là cần phải lựa chọn phương tiện hướng dẫn ngành nghềthỏa đáng để có thể đạt được hiệu quả dự kiến

Trong thời gian tới Trung Quốc có định hướng cơ bản về chuyển dịch cơ cấu

kinh tế như sau: “Từ nay về sau phải ra sức tăng cường sản nghiệp một, điều chỉnh nâng cao sản nghiệp hai, tích cực phát triển sản nghiệp ba” Thúc đẩy ưu hóa và nâng cấp kết cấu ngành nghề, hình thành cục diện ngành nghề lấy kĩ thuật cao làm tiên phong, lấy ngành cơ bản và chế tạo máy làm trụ cột, phát triển toàn diện ngành dịch vụ Ưu tiên phát triển ngành tin học Tích cực phát triển ngành kĩ thuật cao có tác dụng thúc đẩy to lớn mang tính đột phá đối với sự tăng trưởng kinh tế chấn hưng mạnh mẽ ngành chế tạo trang thiết bị Tăng nhanh phát triển ngành dịch vụ hiện đại, nâng cao tỉ trọng ngành dịch vụ trong kinh tế quốc dân Xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa phát triển kĩ thuật cao và ngành truyền thống, ngành tập trung kỹ thuật-vốn và ngành tập trung sức lao động cao ” ” (văn kiện Đại hội Đảng Trung Quốc lần thứ XVI)

Nâng cấp tối ưu hóa cơ cấu ngành nghề Kết cấu ngành nghề, sản phẩm và tổchức xí nghiệp theo xu thế hợp lý Đến năm 2010, tỷ trọng giá trị gia tăng ngànhdịch vụ chiếm 43,3% GDP, tăng khoảng 3%, tỷ lệ việc làm ngành dịch vụ chiếm35,3%, tăng 4% Tăng cường năng lực tự chủ sáng tạo, tăng kinh phí nghiên cứu

và thí nghiệm phát triển lên 2%, tăng 0,7%; hình thành một loạt xí nghiệp ưu thế

có sở hữu trí tuệ tự chủ cao với thương hiệu hàng hóa nối tiếng và sức cạnh tranhquốc tế

2.1.2 Phát triển nhân lực, khoa học, công nghệ đặc biệt là công nghệ thông tin phục vụ cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa

2.1.2.1 Các chính sách cơ bản nhằm phát triển khoa học, công nghệ

Để phát triển khoa học, kĩ thuật, công nghệ, Trung Quốc đã thực hiện một sốchính sách sau:

Trang 28

Thời gian đầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa do trình độ khoa học, kĩthuật, công nghệ của Trung Quốc rất lạc hậu, Trung Quốc đã thực hiện chiến lược

chính là thu hút và nhập khẩu công nghệ của nước ngoài, theo tinh thần “từ không đến có”, “từ nhập khẩu đến việc phát triển công nghệ độc lập”, nội địa hóa công

nghệ và tiến tới chủ động và làm chủ công nghệ

Trung Quốc đã liên tục tiến hành cải cách thể quản lý nhà nước (QLNN) vềkhoa học và công nghệ nhằm khai thác tiềm năng trí tuệ đất nước như:

+ Cải cách quản lý kế hoạch, coi trọng cơ chế điều tiết của thị trường +Tiến hành cải cách đối với cơ quan nghiên cứu khoa học

+ Khuyến khích, thúc đẩy tiến bộ khoa học và công nghệ của các doanhnghiệp, xí nghiệp sản xuất dịch vụ; đẩy mạnh việc nghiên cứu, phát minh, ứngdụng khoa học công nghệ mới vào các đơn vị

+ Cải cách thể chế quản lý nhà nước về khoa học công nghệ ở nông thôn theochiều sâu

+ Cải cách thể chế quản lý cán bộ khoa học công nghệ mạnh mẽ, phù hợp vớinền kinh tế tri thức, hội nhập với thế giới

+ Xây dựng hệ thống điều chỉnh vĩ mô nhằm đáp ứng sự năng động, tăngcường tốc độ của sự tiến bộ khoa học công nghệ

Nghiêm chỉnh thực hiện chiến lược dùng khoa học kỹ thuật, giáo dục để chấnhưng đất nước và chiến lược phát triển bền vững liên tục Tăng đầu tư cho các lĩnhvực này, nắm chắc việc xây dựng và quá trình thực thi kế hoạch phát triển khoahọc công nghệ, giáo dục trung hạn, dài hạn Thu hút mạnh mẽ nhân tài, nhất lànhân tài khan hiếm, tạo điều kiện cho họ phát huy hết tài năng, trí tuệ và thànhcông trong công việc

Từ khi gia nhập WTO (11/12/2001) đến nay, Trung quốc càng đẩy mạnh việchội nhập, nhận thức rõ ràng rằng, khoa học - công nghệ, tri thức không chỉ đơnthuần có ở dạng tiềm năng, giữ ở dạng thô, sử dụng theo kiểu thời kinh tế bao cấptrước những năm 1980, mà phải được đưa vào sản xuất, kinh doanh, phục vụ đượcnhu cầu trong nước và nước ngoài, đồng thời vừa hình thành thị trường cho chínhkhoa học - công nghệ trong nước, vừa vươn ra thị trường bên ngoài Hiện nay,

Trang 29

Trung Quốc đang ra sức phát triển các ngành công nghệ cao, vừa nhập khẩu côngnghệ vừa xuất khẩu công nghệ.

Nhằm phát triển kinh tế - xã hội, Trung Quốc chú trọng phát triển xây dựngquy mô lớn các công trình thiết bị cơ sở hạ tầng hiện đại, để giải quyết việc làm, từ

đó kích thích tiêu dùng Đáp ứng những đòi hỏi mới của xã hội, tạo nên môi trườngmới, nhận thức mới, phương thức hoạt động mới, cách đánh giá mới, do đó bảnthân khoa học - công nghệ phát triển, gắn với thị trường, với kinh tế- xã hội và đờisống thực tiễn…

Tóm lại, các chính sách cơ bản để phát triển khoa học, công nghệ phục vụ chocông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của Trung Quốc gồm những nội dung cơbản là: Đề cao vai trò của khoa học - công nghệ trong phát triển kinh tế - xã hội đấtnước, đẩy mạnh nghiên cứu cơ bản, tăng cường đổi mới và ứng dụng tiến bộ KH-

CN trong doanh nghiệp, đẩy nhanh phát triển công nghệ cao, coi trọng hợp tácquốc tế về KH-CN, thúc đẩy cải cách hệ thống KH-CN như cải cách các tổ chứcnghiên cứu KH-CN, phát triển nhân lực KH-CN, tăng đầu tư nhà nước vào các quỹkhoa học, tăng cường truyền bá và phổ biến khoa học cho nhân dân, gắn khoa học

- công nghệ với phát triển bền vững Đại hội XVII Đảng Cộng sản Trung Quốc.Chính sách này đã thực sự trở thành kim chỉ nam cho mọi hoạt động của đất nướcđông dân nhất thế giới này

Cho đến nay, Trung Quốc đã xây dựng được một hệ thống văn bản pháp luậttương đối hoàn chỉnh nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển thị trường khoahọc – công nghệ, bao gồm các văn bản chủ yếu sau:

+ Luật thúc đẩy chuyển hóa thành quả khoa học và công nghệ (1996)

+ Điều lệ quản lý thị trường công nghệ (1996)

+ Biện pháp quản lý hội chợ giao dịch công nghệ (2000)

Trang 30

2.1.2.2 Phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Ngày 18 - 3 - 1978 trong lễ khai mạc hội nghị khoa học toàn quốc, ông Đặng

Tiểu Bình đã nhấn mạnh: “giáo dục là cơ sở để đào tạo nhân tài khoa học kĩ thuật, chúng ta phải thi hành đúng đắn phương châm giáo dục của Đảng, nắm vững phương hướng làm tốt thực sự cải cách giáo dục để cho sự nghiệp giáo dục có bước phát triển và nâng cao mạnh mẽ ”.

Cựu tổng bí thư Giang Trạch Dân cũng nhấn mạnh: “Cần phải tôn trọng lao động, tôn trọng tri thức, tôn trọng nhân tài, tôn trọng sáng tạo Phải tôn trọng và bảo vệ mọi lao động có ích cho nhân dân và xã hội Dù lao động chân tay hay lao động trí óc, lao động giản đơn hay lao động phức tạp, mọi lao động có đóng góp cho xây dựng hiện đại hóa của nước ta đều là vẻ vang, đều cần được thừa nhận và tôn trọng”

Nguồn: Cốc Nguyên Dương (2006), Tạp chí nghiên cứu Trung Quốc số 1 (65)

Trung Quốc đã có nhiều chính sách nhằm phát triển nguồn nhân lực, có thể kể

ra là:

Nghị quyết về cải cách thể chế giáo dục (27 - 5 - 1985), tập trung vào cácmục tiêu cơ bản sau: biến nhà trường thành đơn vị độc lập; xây dựng và phát triểnthị trường giáo dục; cải cách việc dạy học, cải cách hệ thống thi cử, tạo cơ sở vậtchất cho thực hiện cải cách, xây dựng chương trình, cải tiến nội dung sách giáokhoa

Luật giáo dục được thông qua tại kì họp thứ 3 Đại hội đại biểu nhân dân toànquốc khóa VIII (3 - 1995) Trong đó đưa ra các quy định ưu tiên giúp đỡ phát triển

sự nghiệp giáo dục, nâng cao tỉ lệ đầu tư cho giáo dục

Thực hiện nhiều chính sách cải cách giáo dục như thực hiện 9 năm giáo dụcbắt buộc, cho phép các trường tư thục phổ thông phát triển, đối với các trường đạihọc và cao hơn thì thực hiện cải cách mạnh mẽ, nhiều hình thức phát triển và hợptác mới giữa các trường đại học với các tổ chức sản xuất kinh tế đã thu được rất

Trang 31

nhiều thành công.

Tăng cường chi tiêu cho giáo dục, ngân sách nhà nước được đầu tư mạnh mẽ,cộng với nguồn chi tiêu ngoài ngân sách đã thúc đẩy giáo dục ở Trung Quốc pháttriển mạnh mẽ theo hướng hiện đại

Đào tạo, thu hút và sử dụng sinh viên, lực lượng Hoa kiều đang học tập vàcông tác ở nước ngoài, gửi sinh viên Trung Quốc ra nước ngoài học tập và cónhững chính sách để thu hút họ trở lại phục vụ cho đất nước theo nguyên tắc : “ủng

hộ sinh viên đi du học nước ngoài, cho phép và khuyến khích họ tự do trở về”.Nhằm đẩy nhanh hơn nữa công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vấn đềphát triển nguồn nhân lực được Trung Quốc chú trọng vào những điểm sau:

Thực thi chiến lược khoa học kĩ thuật hưng quốc và chiến lược cường quốcnhân tài là coi khoa học kĩ thuật tiến bộ và sáng tạo khoa học kĩ thuật là động lựcquan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, đặt phát triển giáo dục và bồi dưỡngtài đức con người tố chất cao vào vị trí chiến lược hàng đầu Nỗ lực xây dựng nhànước mô hình mới và cường quốc vốn nhân lực

Đẩy nhanh đổi mới và tạo bước nhảy vọt về sáng tạo khoa học kĩ thuật, thựcthi quy hoạch phát triển khoa học và kỹ thuật quốc gia trung dài hạn, nhanh chóngxây dựng hệ thống sáng tạo khoa học kĩ thuật quốc gia, nâng cao toàn diện thực lựctổng thể khoa học kĩ thuật và trình độ kỹ thuật ngành nghề, kỹ thuật hạt nhân Tăngcường xây dựng năng lực tự chủ sáng tạo, xây dựng cơ sở khoa học kĩ thuật quốcgia quy mô lớn, thực thi công trình sáng tạo tri thức và hệ thống nghiên cứu thínghiệm tổng hợp Xây dựng hệ thống trường đại học mô hình nghiên cứu đạt trình

độ tiên tiến thế giới, cơ sở nghiên cứu khoa học kĩ thuật và bồi dưỡng nhân tàitrình độ cao Tăng cường vai trò chủ thể sáng tạo kỹ thuật của xí nghiệp Tập trungbảo hộ sở hữu trí tuệ, xây dựng cơ chế cảnh báo về sở hữu trí tuệ Đi sâu cải cáchthể chế khoa học kĩ thuật, bố cục cơ sở nghiên cứu hợp lý, tập trung nghiên cứumang tính công ích xã hội

Ưu tiên phát triển giáo dục, thực thi toàn diện giáo dục tố chất, tập trung hoànthành 3 nhiệm vụ lớn “phổ cập, phát triển và nâng cao”, nhanh chóng điều chỉnhkết cấu giáo dục, thúc đẩy phát triển giáo dục toàn diện và hài hòa, xây dựng xã

Trang 32

hội mô hình học tập Phổ cập và củng cố giáo dục nghĩa vụ, trọng điểm là tăngcường giáo dục nghĩa vụ nông thôn Tập trung đầu tư cho giáo dục, từng bướcnâng cao kinh phí cho giáo dục chiếm khoảng 4% GDP Đi sâu cải cách thể chếgiáo dục, xác định rõ chức trách của chính quyền các địa phương đối với giáo dục,ủng hộ phát triển dân lập.

Thúc đẩy chiến lược cường quốc nhân tài, chuyển biến từ nước lớn về dân sốtrở thành cường quốc vốn nhân tài Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo Đảng vàchính quyền tố chất cao, trọng điềm là đào tạo nhân tài khoa học kĩ thuật quân sự,nhân tài khoa học kĩ thuật đầu ngành và nhà khoa học chiến lược Thực thi côngtrình đào tạo nhân tài kỹ năng cao và tăng cường đào tạo nhân tài phù hợp vớinông thôn Đi sâu cải cách chế độ nhân sự cán bộ, kiện toàn cơ chế đề bạt, khuyếnkhích và bãi miễn cán bộ

2.1.3 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

2.1.3.1 Các chính sách và biện pháp nhằm thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn từ 1978 đến nay

Nhằm công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, Trung Quốcthực hiện một số chủ trương, biện pháp sau:

Chế độ khoán sản phẩm đến hộ ở Trung Quốc Quá trình hoàn thiện chínhsách khoán của Trung Quốc được nâng cao dần, từ khoán việc đến khoán sảnlượng, từ khoán nhóm sản xuất đến khoán hộ gia đình, từ thời gian 3 năm đến 15,

20, 30 thậm chí 50 năm, từ không cho phép thuê nhân công đến cho phép, thậm chícho thuế nhiều, từ chỗ không cho phép nông dân rời bỏ ruộng đất đi buôn đến chophép nông dân “li điền bất li hương”, đến cho phép một bộ phận chuyển về thànhphố làm công việc khác, từ chỗ không cho phép buôn bán đường dài đến cho phépbuôn bán liên huyện, liên tỉnh Chế độ khoán đã tạo ra một sức sống mới chonông thôn Trung Quốc

Phát triển các xí nghiệp hương trấn Đây là một sáng tạo lớn của Trung Quốctrong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Trung

Quốc thực hiện chủ trương “Li điền bất li hương, nhập xưởng bất nhập thành”,

nên việc phát triển các xí nghiệp hương trấn đã thu hút được hàng trăm triệu nông

Trang 33

dân chuyển sang làm công nghiệp và dịch vụ, đẩy mạnh nhịp độ công nghiệp hóatrên phạm vi cả nước, giảm sự chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa côngnhân và nông dân Chính phủ Trung Quốc đã có nhiều chính sách để phát triển các

xí nghiệp hương trấn như: giảm thuế, miễn thuế, tạo các điều kiện để tham gia vàgia tăng các hoạt động xuất khẩu

Kinh doanh ngành nghề hóa trong nông nghiệp – sản nghiệp hóa nôngnghiệp Thực chất của vấn đề này là sự nhất thể hóa nông nghiệp – công nghiệp –thương nghiệp, nối liền các khâu sản xuất, gia công và tiêu thụ lại với nhau Đây là

“ con đường thực hiện hiện đại hóa nông nghiệp phù hợp với tình hình TrungQuốc” Trung Quốc đã thực hiện một loạt các chính sách, biện pháp để thúc đẩyngành nghề hóa nông nghiệp phát triển như: hỗ trợ về vốn, chính sách, hỗ trợ cácdịch vụ chủ yếu, hỗ trợ khoa học, kĩ thuật, xây dựng cơ sở hạ tầng, cải cách nhữngvấn đề có liên quan đến thể chế kinh tế

2.1.4 Thu hút vốn đầu tư nước ngoài và xây dựng các khu kinh tế mở 2.1.4.1 Các chính sách chủ yếu nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài

Hội nghị Trung ương 3 khoá XI của Đảng cộng sản Trung Quốc tháng 12năm 1978 đã thực hiện cải cách mở cửa, đẩy mạnh công cuộc hiện đại hoá XHCN

Đặng Tiểu Bình nhấn mạnh: “Nếu đóng cửa để phát triển thì không thể thành công được, sự phát triển của Trung Quốc không thể tách rời thế giới Cần mạnh dạn tiếp thu và học tập tất cả những thành quả và văn minh do nhân loại sáng tạo nên,

và cả những phương thức kinh doanh, phương thức quản lý tiên tiến phản ánh quy luật sản xuất hiện đại hoá xã hội Mở cửa đối ngoại là chính sách lâu dài cần phải tiếp tục mở cửa và mở cửa hơn nữa ” (Văn tuyển Đặng Tiểu Bình)

Quan điểm của Trung Quốc là tích cực thu hút nguồn vốn, kỹ thuật, nhân tài

và kinh nghiệm quản lý hiện đại từ bên ngoài, nhanh chóng phát triển sức sản xuất,tích cực tham gia hợp tác và cạnh tranh kinh tế quốc tế, phát huy đầy đủ lợi thế sosánh Điều này đã làm thay đổi nhận thức của nhân dân

Vào đầu những năm 1990, khi làn sóng toàn cầu hoá và hội nhập kinh tếquốc tế ngày càng phát triển mạnh mẽ thì khả năng cạnh tranh thu hút FDI đối vớimỗi nước ngày càng cao Các nhà lãnh đạo Trung Quốc cho rằng ngoài việc cảithiện môi trường đầu tư, Trung Quốc cần phải mở cửa, hội nhập hơn nữa vào nền

Trang 34

kinh tế thế giới cả về chiều rộng và chiều sâu thì mới có nhiều cơ hội thu hút FDI Năm 1992, Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Trung Quốc tiếp tục nhấn mạnhcông tác tăng cường mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế, coi thể chế kinh tế đốingoại là cách đặt vấn đề mới, là bộ phận cấu thành quan trọng của toàn bộ thể chếkinh tế Tại hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 9 khoá XIV,Thủ tướng Lý Bằng nhấn mạnh: Mở cửa đối ngoại, sử dụng đầy đủ hai nguồn lựcthị trường trong nước và quốc tế là điều kiện quan trọng nhằm thực hiện mục tiêuphấn đấu từ nay đến mười lăm năm sau.

Trung Quốc đã tiến hành mở cửa mạnh mẽ hơn trên các lĩnh vực: Quốc tế hoásản xuất và tiêu dùng; tự do hoá thương mại và đầu tư; thị trường hoá và quốc tếhoá thể chế kinh tế Đặc biệt mục tiêu của Trung Quốc thời gian này là thu hút FDIvào các lĩnh vực công nghệ cao và có định hướng xuất khẩu

Trung Quốc đã đạt được nhờ những kết quả quan trọng nhờ những nỗ lực cảicách theo hướng mở cửa, hội nhập vào nền kinh tế khu vực và toàn cầu là việc trởthành thành viên chính thức của WTO Việc gia nhập WTO vào cuối năm 2001 đãthể hiện quyết tâm mở cửa toàn diện nền kinh tế của Trung Quốc, là bước ngoặtquan trọng tạo ra nhiều cơ hội cho sự phát triển kinh tế nói chung và hoạt động củaFDI nói riêng, đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức cho Trung Quốc

Tiếp tục tăng cường hội nhập và mở rộng kinh tế đối ngoại, tại Đại hộiĐảng cộng sản Trung Quốc lần thứ XVI , các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã xácđịnh “kiên trì kết hợp mục tiêu “thu hút nguồn vào và mở rộng nguồn ra”, nâng caotoàn diện mức độ mở cửa đối ngoại” “Thu hút nguồn vào” nghĩa là thu hút nguồnlực từ bên ngoài vào như nguồn vốn, khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm quảnlý thông qua nguồn vốn FDI “Mở rộng nguồn ra” nghĩa là sự chuyển dịch lợi thế

so sánh của Trung Quốc ra nước ngoài thông qua FDI Kết hợp “thu hút nguồnvào” và “mở rộng nguồn ra” là con đường tất yếu để Trung Quốc nắm vững quyềnchủ động tham gia vào quá trình hợp tác, cạnh tranh kinh tế kỹ thuật trên phạm vilớn hơn, lĩnh vực rộng hơn và ở tầng thứ cao hơn Đây là bước phát triển quantrọng và mới mẻ của Trung Quốc trong thế kỷ XXI

Mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế là một chiến lược quan trọng, có quan hệ

Trang 35

sinh tồn đối với phát triển kinh tế đất nước và là quốc sách cơ bản lâu dài của

Trung Quốc Đúng như nhà lãnh đạo Đặng Tiểu Bình đã chỉ rõ: “Nếu như chính sách mở cửa đến 50 năm đầu của thế kỷ sau không thay đổi, vậy thì 50 năm tiếp theo đó, mối quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc với thế giới càng tăng thêm, mức độ dựa vào nhau càng tăng thêm, càng không thể tách rời, chính sách mở cửa càng không thể thay đổi Mở cửa đối ngoại của Trung Quốc không phải là mở cửa một phương diện, một lĩnh vực nào đó, mà là mở cửa đối ngoại toàn phương vị, nhiều tầng bậc, lĩnh vực rộng ”

Trung Quốc là một trong những quốc gia thành công trong thu hút FDI Dướiđây là một số chính sách và biện pháp nhằm tạo điều kiện thuân lợi cho hoạt độngthu hút FDI của Trung Quốc từ khi cải cách mở cửa:

+ Tạo môi trường pháp lý thuận lợi

+ Mở rộng địa bàn thu hút vốn đầu tư

+ Đa dạng hoá các hình thức đầu tư

+ Đa dạng nguồn vốn đầu tư

+ Chính sách ưu đãi thuế

+ Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư

+ Luật sở hữu trí tuệ

+ Cải tạo và nâng cấp cơ sở hạ tầng

+ Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Trong thời gian tới, khi thế giới có nhiều biến đổi và vị thế của Trung Quốc

đã có sự thay đổi mạnh mẽ, Trung Quốc xác định:

Kiên trì kết hợp “đầu vào” và “đầu ra”, nâng cao toàn diện mức độ mở cửađối ngoại Thích ứng với tình hình mới toàn cầu hóa kinh tế và gia nhập tổ chứcthương mại thế giới, tham vào hợp tác và cạnh tranh kĩ thuật quốc tế với phạm vilớn hơn, lĩnh vực rộng hơn, tầng thứ cao hơn, lợi dụng đầy đủ thị trường trong vàngoài nước, ưu hóa bố trí tài nguyên, mở rộng không gian phát triển, lấy mở cửa đểthúc đẩy cải cách và phát triển

Thực hiện chiến lược “hướng ra bên ngoài” là biện pháp quan trọng của giaiđoạn mới mở cửa đối ngoại Khuyến khích và ủng hộ các xí nghiệp tương đối có

ưu thế và có chế độ sở hữu khác nhau tiến hành đầu tư ra nước ngoài hình thành

Trang 36

một loạt xí nghiệp xuyên quốc gia có thực lực

Nâng cao chất lượng lợi dụng đầu tư nước ngoài, trọng điểm là thông qua lợidụng đầu tư nước ngoài để thu hút khoa học kĩ thuật tiên tiến, kinh nghiệm quản lý

và nhân tài tố chất cao của nước ngoài Hoàn thiện pháp luật pháp quy và chínhsách, hình thành môi trường chính sách ổn định, thể chế quản lý công bằng, minhbạch và có dự kiến trước Hướng dẫn đầu tư nước ngoài đầu tư vào ngành kỹ thuậtcao, ngành dịch vụ hiện đại, ngành chế tạo mũi nhọn, thiết bị cơ sở và bảo vệ môitrường, hướng đầu tư vào khu vực miền Tây và Đông Bắc Xúc tiến đa nguyên hóaphương thức lợi dụng đầu tư nước ngoài

2.1.4.2 Xây dựng và phát triển các khu kinh tế mở

Kể từ sau năm 1978 để nhanh chóng mở rộng giao lưu hợp tác với nước ngoài

và thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế đất nước, Chính phủ Trung Quốc đã coi trọngviệc xây dựng các đặc khu kinh tế và mở cửa các vùng ven biển Từ đó đề ranhững chính sách phát triển hợp lý cho từng vùng phụ thuộc vào trình độ phát triểnkhác nhau của các vùng đó Ngay từ đầu Trung Quốc có chủ trương mở cửa vùngven biển đây được coi là khu vực giao lưu buôn bán quan trọng với quốc tế và cótruyền thống kinh doanh lâu đời Hơn nữa nơi đây lại rất giàu tài nguyên và sức laođộng nên có nhiều thuận lợi để đi đầu trong chính sách mở cửa Từ việc mở cửaven biển sẽ có đà mở sâu vào nội địa Trung Quốc đã tiến hành mở cửa từng khuvực, bắt đầu từ 5 đặc khu kinh tế, tiếp đến là 14 thành phố mở cửa ven biển rồi đếnkhu vực “ ba ven” Mục đích là giảm sự chênh lệch giữa các vùng, các khu vực,đặc biệt là vùng Miền Tây và Miền Đông

Trung Quốc đã thực hiện chính sách mở cửa từng bước, khuyến khích đầu tưnước ngoài theo quy hoạch phát triển vùng lãnh thổ phù hợp với từng giai đoạnphát triển:

Năm 1979, Đảng Cộng Sản và Quốc vụ viện Trung Quốc đã quyết định haitỉnh Quảng Đông và Phúc Kiến thực hiện chính sách kinh tế đối ngoại đặc thù,nhằm tích cực thu hút nguồn vốn của Hoa Kiều và kinh nghiệm quản lý kỹ thuậttiên tiến của nước ngoài; Năm 1980, ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dânTrung Quốc thông qua “Điều lệ về Đặc khu kinh tế Quảng Đông” và quyết định

Trang 37

thành lập 3 Đặc khu kinh tế: Thẩm Quyến, Chu Hải, Sán Dầu, đồng thời quyếtđịnh cho tỉnh Phúc Kiến xây dựng Đặc khu kinh tế Hạ Môn; Năm 1984, TrungQuốc thành lập tỉnh đảo Hải Nam và toàn tỉnh thành lập khu kinh tế thứ 5 (Đặckhu kinh tế Hải Nam); Năm 1988, Trung Quốc mở cửa tiếp 14 thành phố ven biển(Thiên Tân, Thượng Hải, Đại Liên, Tân Hoàng Đảo ) với tổng diện tích 10 vạn

km2, dân số khoảng 45,38 triệu người, 14 thành phố này đều là nơi có nền kinh tếphát triển Bước sang thập kỷ 90 của thế kỷ XX, Trung Quốc đã đẩy nhanh tốc độcải cách nền kinh tế thị trường, tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư Chính sáchnày nhằm tận dụng nguồn vốn FDI, và khoa học tiên tiến trên thế giới vào TrungQuốc

Sự phát triển của các đặc khu kinh tế của Trung Quốc có tác dụng thúc đẩy

sự phát triển của cả nền kinh tế quốc dân, trình độ sản xuất kinh doanh trong cảnước đã ngang bằng với các đặc khu thì sẽ thực hiện việc hòa nhập Đặc khu sẽdần mất tính khép kín và vượt trội về ưu đãi, hòa nhập vào nền kinh tế và hiện đại,phồn vinh cùng cả nước

Các đặc khu kinh tế được chính phủ Trung Quốc chỉ đạo với các phươngchâm cơ bản: “làm tổ cho chim phượng hoàng vào đẻ trứng”, “chính phủ chỉ chochính sách, không cho tiền”, “mượn gà vào đẻ trứng” Trung Quốc đã ban hànhnhiều chính sách ưu đãi cho các đặc khu kinh tế như ưu đãi về thuế, đất đai, quản

lý ngoại hối, quản lý xuất nhập khẩu và xuất nhập cảnh, lao động và tiền lương,chính sách tiêu thụ sản phẩm

2.1.5 Chú trọng bảo vệ môi trường và phát triển bền vững

2.1.5.1 Các quan điểm của Trung Quốc về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững

Chính sách nhanh nhạy, sắc bén, biện pháp kiên quyết và kịp thời

Ưu tiên hàng đầu của Trung Quốc để bảo vệ môi trường là những chính sáchnhằm ngăn ngừa, khống chế ô nhiễm và hướng dẫn bảo vệ môi trường với phươngchâm: "Phòng bệnh hơn chữa bệnh" - nghĩa là coi ngăn ngừa ô nhiễm là biện pháp

ưu tiên hàng đầu; theo khu vực và lưu vực sông và hạn chế lượng phát thải theovùng, cấp phép phát thải vào môi trường, mua bán quyền gây ô nhiễm trong tổng

Trang 38

lượng phát thải cho phép).

Hệ thống chính sách bảo vệ môi trường được thực hiện theo hình thức cưỡngép bắt buộc Ví dụ trong 2 năm 1996-1997 Chính phủ Trung Quốc đã ép buộcđóng cửa khoảng 67 000 cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường vượt quá giới hạncho phép Đồng thời, Chính phủ cũng đã ban hành nhiều chính sách đồng bộ đểkhuyến khích các doanh nghiệp, nhà máy, các cơ sở sản xuất, kinh doanh ápdụng các biện pháp đổi mới kỹ thuật, sản xuất sạch, ít gây ô nhiễm hoặc khuyếnkhích các đơn vị sản xuất có thu hồi chất gây ô nhiễm, tái sử dụng chất thải (ví

dụ thu hồi xỉ than để sản xuất gạch xây dựng, thu hồi phế liệu để sản xuất giấy, bao

bì, túi nilon v.v ) Tất cả những chính sách mềm dẻo, sắc bén và biện pháp kiênquyết, cứng rắn đó đều nhằm mục tiêu bảo vệ môi trường

Động viên toàn xã hội tham gia quản lý môi trường, Chính phủ Trung Quốcthường xuyên thông báo chất lượng môi trường cho toàn cộng đồng trên cácphương tiện thông tin đại chúng, khuyến khích và trợ cấp, thưởng cho những người

có công phát hiện và báo cáo nơi gây ô nhiễm môi trường, có công trong việc giữgìn, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên (có thể coi đây là một khía cạnh của chính sách

xã hội hóa bảo vệ môi trường của Trung Quốc)

Đổi mới cơ cấu kinh tế theo hướng thân thiện với môi trường, và phương thức

sử dụng năng lượng theo hướng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên (tìm nguyên nhiênliệu để thay thế 70% lượng than đá đã dùng trước đây để chạy máy phát điện, sưởiấm ) Ngoài ra, Chính phủ còn có các chính sách ưu tiên nhằm huy động đượcnhiều nguồn vốn đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường

Để quản lý môi trường thống nhất và đồng bộ từ Trung ương đến địa phương

và các cơ sở, Chính phủ Trung Quốc đã hướng dẫn các địa phương xây dựng chínhsách quản lý môi trường riêng, ban hành các tiêu chuẩn môi trường địa phương chophù hợp với tình hình cụ thể của địa phương mình Để tạo điều kiện thuận lợi vànâng cao chất lượng quản lý môi trường của địa phương, Chính phủ đã áp dụngchính sách trợ giúp các tỉnh, huyện, thôn thiếu vốn và nhân tài Ngoài các chínhsách để huy động nguồn lực, động viên các lực lượng tham gia bảo vệ môi trường;nâng cao năng lực của cá cơ quan bảo vệ môi trường các cấp: Quốc gia, tỉnh,

Ngày đăng: 31/03/2015, 09:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lý Thiết Ánh (2002), Cải cách và mở cửa ở Trung Quốc, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách và mở cửa ở Trung Quốc
Tác giả: Lý Thiết Ánh
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 2002
2. Nguyễn Kim Bảo (2002), Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Trung Quốc từ 1979 - nay, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Trung Quốc từ 1979 - nay
Tác giả: Nguyễn Kim Bảo
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 2002
3. Nguyễn Kim Bảo (2004), Điều chỉnh một số chính sách kinh tế ở Trung Quốc (1992-2010). Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều chỉnh một số chính sách kinh tế ở Trung Quốc (1992-2010)
Tác giả: Nguyễn Kim Bảo
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 2004
4. Nguyễn Kim Bảo (2006), Gia nhập WTO Trung Quốc làm gì và được gì?, Nhà xuất bản thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia nhập WTO Trung Quốc làm gì và được gì
Tác giả: Nguyễn Kim Bảo
Nhà XB: Nhà xuất bản thế giới
Năm: 2006
7. CNXH và kinh tế thị trường– kinh nghiệm của Trung Quốc , kinh nghiệm của Việt Nam (2003), Hội thảo lý luận giữa Đảng Cộng Sản Trung Quốc vàĐảng Cộng Sản Việt Nam, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: CNXH và kinh tế thị trường– kinh nghiệm của Trung Quốc , kinh nghiệm của Việt Nam
Tác giả: CNXH và kinh tế thị trường– kinh nghiệm của Trung Quốc , kinh nghiệm của Việt Nam
Năm: 2003
8. Cốc Nguyên Dương (2006), Trung Quốc 10 năm đầu thế kỉ XXI: phát triển và hợp tác, Tạp chí nghiên cứu Trung Quốc số 1 (65) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc 10 năm đầu thế kỉ XXI: phát triển và hợp tác
Tác giả: Cốc Nguyên Dương
Năm: 2006
9. Nguyễn Minh Hằng (1995), Cải cách kinh tế ở Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách kinh tế ở Cộng hoà nhân dân Trung Hoa
Tác giả: Nguyễn Minh Hằng
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 1995
10. Nguyễn Minh Hằng (2003), Một số vấn đề về hiện đại hoá nông nghiệp Trung Quốc, Nhà xuất bản khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về hiện đại hoá nông nghiệp Trung Quốc
Tác giả: Nguyễn Minh Hằng
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học xã hội
Năm: 2003
11. Đỗ Kim Hoa (2005), Thu hút và sử dụng FDI ở Trung Quốc : cơ hội và thách thức, Tạp chí kinh tế châu Á Thái Bình Dương, số 52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thu hút và sử dụng FDI ở Trung Quốc : cơ hội và thách thức
Tác giả: Đỗ Kim Hoa
Năm: 2005
12. Hoàng Xuân Hoà (2006), Đầu tư ra nước ngoài, chính sách phát triển mới của Trung Quốc, Tạp chí nghiên cứu Trung Quốc số 3 (67) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư ra nước ngoài, chính sách phát triển mới của Trung Quốc
Tác giả: Hoàng Xuân Hoà
Năm: 2006
13. Nguyễn Văn Hồng (2003), Trung Quốc cải cách mở cửa- những bài học kinh nghiệm, Nhà xuất bản thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc cải cách mở cửa- những bài học kinh nghiệm
Tác giả: Nguyễn Văn Hồng
Nhà XB: Nhà xuất bản thế giới
Năm: 2003
14. Kinh tế Trung Quốc (2006), Giáo trình lịch sử kinh tế quốc dân, Nhà xuất bản Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Trung Quốc
Tác giả: Kinh tế Trung Quốc
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học kinh tế quốc dân
Năm: 2006
15. Võ Đại Lược (2004), Trung Quốc gia nhập tổ chức thương mại thế giới - thời cơ và thách thức, Nhà xuất bản khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc gia nhập tổ chức thương mại thế giới - thời cơ và thách thức
Tác giả: Võ Đại Lược
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học xã hội
Năm: 2004
16. Võ Đại Lược (2006), Trung Quốc sau khi gia nhập WTO- thành công và thách thức, Nhà xuất bản thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc sau khi gia nhập WTO- thành công và thách thức
Tác giả: Võ Đại Lược
Nhà XB: Nhà xuất bản thế giới
Năm: 2006
17. Hoàng Xuân Long (2006), Vấn đề gắn kết khoa học với sản xuất ở Trung Quốc , Tạp chí nghiên cứu Trung Quốc số 5 (69) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề gắn kết khoa học với sản xuất ở Trung Quốc
Tác giả: Hoàng Xuân Long
Năm: 2006
18. Jun-Ma (2002), Trung Quốc nhìn lại một chặng đường phát triển, Nhà xuất bản trẻ TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc nhìn lại một chặng đường phát triển
Tác giả: Jun-Ma
Năm: 2002
19. Nguyễn Anh Minh (2005), Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với xuất khẩu của Trung Quốc, Tạp chí nghiên cứu Trung Quốc số 4(62) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với xuất khẩu của Trung Quốc
Tác giả: Nguyễn Anh Minh
Năm: 2005
22. Đỗ Tiến Sâm (2004), Trung Quốc với việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa , Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc số 3(55) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc với việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa
Tác giả: Đỗ Tiến Sâm
Năm: 2004
23. Đỗ Tiến Sâm (2006), Trung Quốc với việc thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ X (2001-2005) và xây dựng quy hoạch 5 năm lần thứ XXI (2006-2010), Tạp chí nghiên cứu Trung Quốc số 3 (67) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc với việc thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ "X (2001-2005) và xây dựng quy hoạch 5 năm lần thứ XXI (2006-2010)
Tác giả: Đỗ Tiến Sâm
Năm: 2006
24. Lê Văn Sang (2003), Một sự lựa chọn mang tầm thời đại “Con đường công nghiệp hóa kiểu mới”, Tạp chí nghiên cứu Trung Quốc số 2 (48) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một sự lựa chọn mang tầm thời đại “Con đường công nghiệp hóa kiểu mới”
Tác giả: Lê Văn Sang
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w